Truyện Cổ Phật Giáo
Tập 5
Thích Minh Chiếu
Sưu tập
---o0o---
Vậy sao???
↑
Thiền sư Hakuin là một Tăng sĩ được cư dân quanh vùng ca tụng và kính
trọng như một ông Phật sống.
Gần tịnh thất của sư có một thiếu nữ rất đẹp. Một hôm, cha mẹ mỹ nhân chợt
khám phá con mình có mang.
Qua biết bao là phiền phức, mỹ nhân thú thật rằng: Thiền sư chính là người
tình vụng trộm của mình. Bao nhiêu danh thơm tiếng tốt của sư đều đổ xuống
bùn nhơ cả. Bà mẹ dẫn cô gái đến gặp thiền sư. Đáp lại trận mưa ngôn ngữ
thịnh nộ của khách. Sư chỉ mở mắt hỏi:
- Vậy sao?
Khi đứa bé chào đời, nó được bà ngoại mang đến tịnh thất với những lời sỉ
vả cay đắng kèm theo. Từ dạo đó cư dân thường thấy thiền sư đi trì bình
với một đứa bé trên tay. Sư nuôi nấng đứa trẻ rất tử tế…chú bé lớn lên rất
bụ bẫm…chú tập bò, đứng và đi lẫm đẫm quanh chiếc thiền sàng của Sư. Chỉ
khi nào đứa bé ngủ sau, sư mới đi tọa thiền được.
Hơn một năm sau, mỹ nhân thú thực rằng: Cha chú bé không phải là thiền sư
Hakuin.
Sau bao nhiều lời sám hối dài dòng và phiền toái. Thiền sư trao đứa bé lại
cho bà ngoại chú, cũng với hai tiếng: “Vậy sao?”.
Ngôi tịnh thất im lìm trở lại, vắng bặt tiếng u ơ của trẻ thơ và thiền sư
đi trì bình chỉ vỏn vẹn cái bình bát.
Cư dân lại ca tụng và kính trọng sư như một ông Phật sống.
Như Thủy
Con ai đem bỏ chùa này?
Nam Mô Di Phật! Con thầy thầy nuôi!
Vết thương nặng nhất↑
Sau một
thời gian thương thuyết giữu bộ giao thương nước La Duyệt Kỳ với bộ giao
thương các nước phía nam La Duyệt Kỳ, con đường giao thông giữa các nước
đó được chính thức mở rộng. Thế là ước vọng từ lâu của nhân dân, nhất là
hạng thương gia được hoàn mãn.
Nhưng
than ôi! Con đường ấy ở cách thành La Duyệt Kỳ khoảng 200 dặm, nơi biên
giới của hai nước phải xuyên qua một dãy núi trùng điệp, chọc trời, lại
lắm hố hầm và hẻo lánh. Một lũ giặc cướp năm trăm tên đã nhiều phen lợi
dụng địa thế hiểm yếu đó chận người cướp của. Vì thế cho nên đa số khách
buôn mỗi khi ngang qua đó đều bị cướp sạch của cải, hàng hóa và đôi khi
còn không bảo toàn được tánh mạng nữa.
Đường hẻo
lánh càng lắm, tai biến càng nhiều, sự giao thông giữa các nước cơ hồ như
đến chỗ bế tắc! Quốc Vương La Duyệt Kỳ hay tin, đã đôi phen hạ lệnh phái
binh mã thiện chiến lùng xét nhưng vẫn bất lực trước những dãy núi ấy.
Bấy giờ,
với lòng từ vô hạn, đức Thế Tôn nghĩ: “Bọn giặc kia có mắt mà không thấy
sự thật, có tai mà không lúc nào nghe lẽ phải, phải chăng vì thế mà không
biết nhân quả, tội phước chi cả. Nếu ta không đến cứu độ thì tội ác của
chúng ngày càng nặng, rồi mai kia chúng sẽ không thoát khỏi đắm chìm trong
đau khổ. Như thế thì có khác gì tảng đá nặng chìm xuống đáy bể. Nghĩ vậy,
đức Thế Tôn liền đến núi ấy với một thân hình thanh niên vạm vỡ, phục sức
tuyệt mỹ, lưng mang kiếm báu, trên tay lại nắm cung tên và cưỡi trên ngựa
quý cũng trang sức bằng những vật vô giá.
Bốn vó
ngựa phi nhanh, cây cối hai bên đường nhấp nhô như tiễn người chiến sĩ lên
đường tranh đấu cho an bình của quần chúng. Ngựa chạy thâu đường, tiếng
reo của lục lạc bằng vàng như đánh thức sự chú ý của bọn giặc. Tên đầu
đảng đứng trên cao nhìn xuống, xa xa trông thấy chàng thanh niên trên vó
ngựa với vô số bạc vàng, châu ngọc lấp lánh dưới ánh nắng mai, lòng vô
cùng vui sướng vì sống với nghề ấy xưa nay mà chưa có dịp nào tốt như thế.
Ma tham dục hối thúc, tức thì anh ta xuống đồi ra lệnh cho toàn đảng bố
trí sẵn sàng…
Xung
phong! Xung phong! Tiếng la hét của bọn cướp long trời lở đất và tiếp theo
chúng phóng vô số dao tên bay về phía chàng thanh niên vùn vụt…
Nhanh như
chớp, chàng thanh niên ấy gương cung bắn trả, tức thì mỗi tên cướp đều bị
một mũi tên cắm sâu vào mình. Dù chúng ta đã lanh trí, rút tên cắm sâu vào
mình. Dù chúng đã lanh trí, rút tên ra để đắp vào thứ lá thuốc mà chúng
luôn phòng bị trong mình, nhưng tên rút không ra, thuốc vẫn vô hiệu quả.
Năm trăm tên cướp không chống cự được nữa đành thất vọng thả vũ khí trên
tay, ngã lăn xuống đất, rên la thảm thiết và cầu xin đầu hàng.
- Ngài là
thần thánh chăng mới có oai lực như thế. Chúng con hạng người ngu dại đảo
điên, xin ngài thương tình tha thứ và cứu vớt những sinh mạng bé nhỏ của
chúng con. Chúng con đau nhức lắm, không thể chịu nổi:
- Vết
thương ấy có đau gì mấy! Mũi tên kia có sâu bao nhiêu! Trong đời này chỉ
có vết thương tham lam ích kỷ mới sâu nhất và sự ngu si giết hại người mới
nặng nhất. Thế mà nay tham lam và ngu muội các ngươi còn giữ trong lòng,
ta e rằng vết thương kia không bao giờ lành được. Vả lại, một khi hai gốc
rễ ấy ăn sâu vào tâm địa thì dù sức mạnh như thần cũng không nhổ được mũi
tên ấy. Chỉ có khi nào các người biết theo đạo đức để sửa mình, hiểu rõ
chánh lý để tu tập may ra mới làm bật rễ được vết thương tham muốn và ngu
muội trong lòng. Có thế thì không những nhổ được mũi tên, lành được vết
thương mà còn an ổn dài lâu nữa. Vậy các ngươi hãy chế phục ngã mạn, sa
thải bớt dục vọng ngu si bằng cách: Cố gắng tích đức tu nhơn theo chánh
pháp của đấng Năng Nhơn Vô Thượng.
Nói mấy
lời đó xong, chàng thanh niên lại hiện nguyên hình đức Phật nói tiếp mấy
bài tụng:
Vết thương không thể hơn tham dục
Tên độc không thể hơn ngu si.
Tráng sĩ không tài gì nhổ được
Trừ chăng chỉ có sự tu hành.
Từ đây cũng như mù được thấy
Người si ám trở lại thông minh,
Ta giáo hóa mọi người ở đời
Như đem mắt cho người ở đời
Vậy các ngươi nên gấp trừ si ám
Và sa thải dục vọng kiêu sa
Tiến bước trên con đường chánh pháp
Mới là người tích đức tu nhơn.
Bấy giờ
năm trăm tên giặc cướp thấy tướng tốt của Phật, lại nghe được mấy bài tụng
ấy, đều cúi đều cảm mộ và ăn năn những tội ác ngày trước. Liền khi ấy, dao
tên trên mình chúng đều rơi rụng tất cả xuống đất, và những vết thương kia
bỗng chốc không còn thấy nữa. Sung sướng được thoát nạn và cảm mến ân giáo
hóa của đức Phật, năm trăm tên cướp không ai bảo ai mà tất cả đều quỳ
trước đức Phật mà cầu xin rằng:
- Kính
lạy Ngài, chúng con hôm nay nhờ ơn pháp nhũ của Ngài mà rõ sự thật…Vậy xin
Ngài cho chúng con quy y và trì năm giới.
Từ đấy
con đường giao thông phía nam nước La Duyệt Kỳ, người đi buôn bán càng tấp
nập hơn xưa, không còn nghe thấy kẻ đón đường giựt của nữa.
T.M.L
Ai lo lửng như thuyền nan không bến
Ai hận đời không một chút tình thương
Ai thấy mình sao lạnh lẽo thê lương
Mơ kiếp sống đượm mùi hương giải thoát.
Thì đây:
Mắt Thế Tôn nhìn xa ngoài muôn dặm
Lòng Thế Tôn như bể thẳm xanh màu
Tay hiền từ đốt đuốc giữa đêm thâu
Với pháp nhũ đầy vàng châu cảm mến.
Phục
hổ thu đồ đệ↑
Ở núi sau
Cửu Hoa Sơn có một nhà sư trẻ bước tới, người đó cưỡi con quái thú, đi men
theo con đường nhỏ dọc bờ sông, phía trước có một đôi chim bay lượn dẫn
đường. Đó là đôi gà vàng, sống đã được ngàn năm ở trên vách đá Cửu tử. Vị
Hòa Thượng này tên gọi Kim Kiều Giác, mười một tuổi đã xuất gia làm Tăng,
vốn là người có họ gần với quốc vương nước Tân La
.
Nghe nói người này là Địa Tạng giáng sinh, mới cưỡi quái vật qua đường
biển tới Cửu Hoa Sơn khai lập ra Địa Tạng Vương đạo tràng. Con quái thú đó
không phải con gì khác mà tên gọi là Độc Giác Thiểm Điện Thú. Con thú chớp
điện một sừng tục gọi là Tứ Bất Tượng
nhìn
được xa, chạy được nhanh, tất cả các loài dã thú đều phải sợ nó. Cho nên
cưỡi nó đi thường để phòng địch.
Hôm ấy,
Kim Địa Tạng theo Kim Kê (gà vàng), đến Cửu Tử Nhai, vừa nhìn đã thấy đây
quả là nơi tu hành rất tốt. Kim vừa đi vừa nhìn không ngớt lời khen ngợi.
Khi Kim vừa đặt chân lên một tảng đá lớn, còn chưa đứng vững đã nghe một
tiếng nổ vang trời, núi sụt lở xuống một nửa. Kim Kê sợ quá bay mất một
con, còn một con thì co đầu rụt lại không dám động đậy. Độc Giác thú rất
tinh nhanh, không chờ Kim Địa Tạng rơi xuống chân núi đã vội vàng chạy tới
trước mặt phò Kim Địa Tạng bay vút lên trời, trong nháy mắt đã tới Thiên
đài. Chưa đặt chân xuống đất đột nhiên gió yêu quái nổi dậy khắp bốn
phương mây đen cuồn cuộn, cát bay đá chạy, sương mù đen kịt từng lớp.
Chính trong lúc này, Kim Địa Tạng đã phát hiện ở trên vách đá có một hang
núi lóe sáng. Độc Giác thú liền chui vào trong hang đặt chân. Trong hang
có một chiếc đài đá, xán lạn đường hoàng, hang tuy không to nhưng quả là
nơi tránh gió trú mưa tốt. Người lấy từ trong túi quyển kinh, đặt ở trên
đài, rồi khoanh tay lại nhắm mắt đọc kinh.
- Cứu tôi
với! Cứu tôi với! - Đột nhiên từ nơi xa truyền lại tiếng kêu cứu. Liền
theo sau đó là tiếng gió thổi, hổ gào kinh thiên động địa.
Kim Địa
Tạng vội vàng ra khỏi động, nhìn về phía có tiếng hổ gào, thấy ở trên núi
trước mặt có một con mãnh hổ đuổi theo một đứa trẻ con. Người xuất gia làm
gì có đạo lý nhìn thấy người sắp chết mà không cứu! Nghĩ đến đây, Kim lập
tức cưỡi lên con thú một sừng, kẹp chặt hai chân vào lưng thú nói:
- Đuổi!
Thú một
sừng lập tức tung bốn vó bay lên trên không trung như người cưỡi mây đạp
sương mù, đuổi theo mãnh hổ. Lúc này, đứa trẻ chạy thục mạng ở phía trước,
mãnh hổ đuổi sát theo sau. Mắt nhìn, Kim thấy đứa trẻ sắp bị hổ ăn thịt,
Kim Địa Tạng liền từ trên thú một sừng nhảy xuống, nói:
- Bắt con
hổ dẫn lại gặp ta!
Thú một
sừng liền nhằm thẳng vào mãnh hổ xông tới, một người hai thú chạy thành
một sợi chỉ.
Đứa trẻ
bị mãnh hổ đuổi đến mức mê man, phải chuyển hướng, lại nhìn thấy con quái
thú một sừng cũng đuổi gấp, thật là sợ hết hồn hết vía. Chạy quanh mãi,
quanh mãi, bỗng trước mắt xuất hiện một bức tường đá, chận mất đường đi.
Mãnh hổ há hốc mồm to tướng đỏ lòm đầy máu chạy tới. Đứa trẻ sắp rơi vào
miệng hổ. Bỗng một luồng chớp sáng, Độc giác thú uốn mình, đứng thẳng.
Mãnh hổ vốn chẳng coi Độc Giác thú uốn mình, đứng thẳng. Mãnh hổ vốn chẳng
coi Độc giác thú là cái thá gì, miệng hoác rộng gào to lên một tiếng, xô
tới vồ. Độc giác thú hơi né mình sang một phía khiến cho hổ vồ hụt. Đứa bé
sợ đến mức không biết tiến lên hay lùi xuống, không biết nên tránh về
hướng nào. Lúc này, từ bức tường đá bỗng nhiên xuất hiện một cửa hang, đứa
trẻ vội vàng nấp vào trong đó. Mãnh hổ nhìn thấy, lại sợ mất miếng mồi đã
kề tận miệng, cũng lui vào trong hang theo đứa bé. Ai ngờ, không chui vào
hang thì thôi, vừa chi vào thì mãnh hổ đã sợ hãi. Chỉ nhìn thấy một luồng
ánh sáng vàng chiếu thẳng làm cho mãnh hổ không thể động đậy được nữa. Té
ra là Kim Địa Tạng đã chờ sẵn ở trong hang. Kim Địa Tạng phất áo cà sa,
nhìn vào mãnh hổ nói:
- Nghiệt
súc to gan! Cớ sao dám giết hại mạng người! Tiếng nói vừa buông, lại có
một đạo hào quang vàng chói chiếu thẳng vào mãnh hổ. Một tiếng thét lạ
lung, con mãnh hổ lông vằn vừa nhảy nhót hung dữ, bỗng chốc đã biến thành
một con hổ đá, vĩnh viễn không động đậy được nữa.
Đứa bé
nhìn thấy rõ ràng, hiểu rõ sự việc như thế nào, vội vã “lục cục” quỳ xuống
trước mặt Địa Tạng, vái lạy lia lịa.
Kim Địa
Tạng nhắm chặt đôi mắt, khoanh hai tay nói:
- A Di Đà
Phật! Về nhà đi thôi!
Đứa bé
nói:
- Thành
tâm tu hành, không kể lớn bé. Một ngày sư phụ không bằng lòng thì một ngày
đồ đệ con không dám đứng dậy.
Kim Địa
Tạng trả lời. Cứ xếp bằng ngồi trước mặt hổ đá, người chỉ nhắm mắt khoanh
tay, miệng đọc chân kinh. Đứa bé đã quỳ suốt ba ngày ba đêm, không một lời
kêu khổ. Kim Địa Tạng thấy đứa bé có tấm lòng thành mới mở miệng nói:
- Tuổi
nhỏ lòng thành, ta nhận làm học trò. Hãy đứng dậy!
Địa Tạng
nhìn thấy đứa bé mặt mày đoan chánh, đôi mắt có thần, cho nên đặt pháp
danh cho nó là Đạo Minh.
Đứa bé
vui mừng liền sụp lạy. Đứa bé này không phải ai khác đó chính là con trai
đại tài chủ Mẫn Công ở Cửu Hoa sơn. Đó là đồ đệ đầu tiên mà Kim Địa Tạng
thu nhận ở Cửu Hoa Sơn.
*
Sau khi
Kim Địa Tạng thu nhận Đạo Minh, thấy đồ đệ này rất nghe lời, trong lòng
rất vui mừng. Hôm đó, người căn dặn Đạo Minh không được ra ngoài, phải
trông coi ở trong hang, tĩnh tâm dưỡng tính. Bản thân người xuống núi hóa
duyên, chuẩn bị xây chùa.
Kim Địa
Tạng khoác áo cà sa vừa ra khỏi hang đá đang định xuống núi thì có một ông
lão bước thẳng tới, cong lưng vái lạy nói:
- Xin hỏi
sư phụ, có nhìn thấy một đứa bé mặt tròn, mắt to không?
Kim Địa
Tạng nhìn thấy ông lão mặc lụa đeo vàng, biết ngay là người giàu có liền
chắp tay trả lời:
- A Di Đà
Phật! Tìm nó có việc gì?
Ông lão
này chẳn phải ai khác, mà chính là đại tài chủ Mẫn Công ở Cửu Hoa Sơn. Mẫn
Công nói:
- Chẳng
phải là sư phụ đã nhìn thấy nó rồi ư? Nó là con trai của tôi. Mấy ngày rồi
nó chưa về, làm tôi lo sợ muốn chết. Xin hỏi sư phụ, hiện nay cháu ở đâu?
Kim Địa
Tạng nói:
- Đang ở
trong hang.
- Tại sao
không ra ngoài? -Mẫn công hỏi.
- Vì cháu
đã xuất gia theo bần Tăng rồi. –Kim nói.
- Xuất
gia ư? Mẫn Công nghe vậy vô cùng tức giận nói: Tôi chỉ có một đứa con
trai, chỉ dựa vào nó để kế truyền nòi giống, sao có thể xuất gia được?
Mong cầu sư phụ, hãy tha cho con trai tôi về -Mẫn Công nói rồi vái lạy
liền liền.
Kim Địa
Tạng nói:
- A Di Đà
Phật! Bây giờ ông bắt nó trở về sợ rằng nó cũng không trở về đâu!
Mẫn Công
vội “lục cục” quỳ xuống trước mặt Địa Tạng, van nài:
- Con tôi
còn bé, nó không thể xuất gia được. Tôi muốn con trai tôi trở về! -Sau đó
ông cụ hướng vào trong hang gọi to:
- Con ơi,
về nhà với cha đi! Đôi mắt của mẹ con khóc sắp mù rồi! Con ơi! Có lẽ nào
ngay đến cả gia đình con cũng không cần nữa. Cha van con, con hãy trở về
nhà cùng với cha!
Đạo Minh
ở trong hang nghe thế rất đau lòng, liền bước ra cửa hang quỳ xuống trước
mặt người cha, đem chuyện gặp hổ được sư phụ cứu thoát, trước sau kể hết
một lượt, lại nói rõ đã xuất gia rồi, quyết không về nhà nữa.
Mẫn Công
biết con trai mình là một người nói một không hai, liền lại quỳ xuống gập
đầu vái lạy Kim Địa Tạng nói:
- Đại ân
của sư phụ cứu sống con trai tôi, tôi quyết không dám quên. Cúi mong sư
phụ đại từ đại bi tha cho con trai tôi trở về nhà, sư phụ cần gì tôi xin
có nấy.
Kim Địa
Tạng nói:
- A Di Đà
Phật! Tôi đã là người tu hành, không cần cái gì cả, chỉ muốn mượn ở quý
sơn đây một miếng đất để dựng chùa, đã là mãn nguyện lắm rồi.
Mẫn Công
nói:
- Được!
Được! Được! Ơn cứu sống con trai tôi của ân sư, đang không biết đền đáp
như thế nào, đừng nói một miếng đất, dù có cần trăm miếng, ngàn miếng cũng
xin tùy tiện. Chín mươi chín ngọn núi này đều thuộc tôi quản lý. Ân sư
nhìn ưng chỗ nào, cần bao nhiêu tôi cho bấy nhiêu.
Kim Địa
Tạng nói:
- Tôi chỉ
cần một mảnh đất bằng chiếc áo cà sa thôi!
Mẫn Công
cảm thấy kỳ lạ nói:
- Mảnh
đất bằng chiếc cà sa thôi ư? Áo cà sa to được bao nhiêu? Ít ỏi quá! Để tôi
dẫn ân sư đi chọn.
- A Di Đà
Phật!
Kim Địa
Tạng đứng dậy định đi, trước mặt tự nhiên xuất hiện một luồng ánh sáng
thần. Người đi theo luồng ánh sáng thần ấy, Mẫn Công đi theo sau. Họ lên
tới đầu ngọn núi, nhìn thấy luồng ánh sáng thần vòng quanh đầu núi một
vòng, tiếp sau đó tỏa ánh sáng hào quang rực rỡ. Kim Địa Tạng cho rằng đây
là thần linh tái hiện, đó là mảnh đất quý báu, liền luôn miệng niệm “Nam
mô A Di Đà Phật” rồi hướng về bốn phương vái lạy liền liền.
Trái lại,
Mẫn Công không nhìn thấy gì hết, chỉ thấy Kim Địa Tạng vái lạy tứ phương,
cảm thấy rất kỳ quái, trong lòng nghĩ, có lẽ nào lão sư phụ nhìn thấy ở
đây có vẻ hơi nhỏ một tí chăng?
Tức thì
liền nói với Địa Tạng:
Thưa ân
sư, ngọn núi này hơi bé quá phải không?
- Không
bé! Không bé!
Kim Địa
Tạng lại hỏi:
- Nơi đây
tên gọi là gì?
Mẫn Công
nói:
- Nơi đây
núi hoang ngọn nhỏ, làm gì có tên.
Kim Địa
Tạng nói:
- Vừa ban
nãy tôi nhìn thấy một luồng ánh sáng thần, vậy đặt tên là “Thần Quang
Lĩnh” được không?
- Thần
Quang Lĩnh à?
Mẫn Công
nói:
- Được,
được, được! Thế nhưng ngọn núi nhỏ này đã mấy đời nay chúng tôi đều không
để ý tới, cũng chưa hề nhìn thấy thần quang, thế nhưng ở đây không được
rộng lắm, tôi nghĩ, có lẽ ân sư nên chọn mảnh đất khác thì tốt hơn.
Kim Địa
Tạng nói:
- Đây là
Thần Quang bảo địa, hay là thí chủ còn có chút luyến tiếc chăng?
Mẫn Công
vội nói:
- Ân sư
nói điều gì lạ thế chứ! Không phải là tôi luyến tiếc đâu, nếu trao ngọn
núi nhỏ bé này cho ân sư, quả thật là tôi rất áy náy. Những chỗ tốt đẹp
hơn nơi đây còn rất nhiều. Vì sao ân sư lại chỉ thích ở chỗ này? Có lẽ nào
ân sư thật lòng chỉ muốn một mảnh đất bằng một áo cà sa?
Kim Địa
Tạng nói:
- Bần
Tăng nói lời thật đó!
Mẫn Công
nói:
- Vâng
được! Vâng được! Xin tuân ý ân sư.
- Thí chủ
đã bằng long, chỉ cần mảnh đất bằng một áo cà sa, nhiều hơn một chú cũng
không cần.
Kim Địa
Tạng vừa nói vừa trải chiếc áo cà sa xuống, vặn mình một cái, áo bay lên
không. Cà sa lập tức biến thành cái võng trời, bỗng chốc chụp kín hết cả
chín mươi ngọn, lại còn chụp thêm cả một nửa thành Thanh Dương. Thành
Hoàng lão gia nhìn thấy ánh sáng thần chiếu tới, sợ quá phải chạy ra ngoài
thành. Cho nên miếu Thành Hoàng của Thanh Dương ở ngoại thành là vì lẽ đó.
Ngọn Thần Quang cũng thành tên từ đó.
Mẫn Công
nhìn thấy Kim Địa Tạng Phật pháp vô biên, vội vã sụp quỳ xuống đất vái lạy
nói:
- Ân sư
bề trên xin nhận của đồ đệ một vái. Khẩn cầu sư phụ thu nhận con làm đồ
đệ!
Và như
vậy Mẫn Công đã là đồ đệ thứ hai của Kim Địa Tạng. “Tiên tiến sơn môn vi
Trưởng lão”, (Ai đến cửa núi trước thì được làm Trưởng lão trước) cho nên
Mẫn Công đã gọi con trai là sư huynh để cho nó đứng bên tả. Mẫn Công là sư
đệ, đứng ở bên hữu Kim Địa Tạng.
Mẫn Công
không những đã đem hết gia sản cúng cho Kim Địa Tạng xây dựng chùa, mà còn
đến tất cả các đại tài thân cư sĩ ở Thanh Dương quyên cúng để hóa duyên
dựng chùa. Các cư sĩ lên núi gặp Kim Địa Tạng, thấy ngài ở hang đá, nuốt
đất trắng, ăn bột vàng, từ nơi xa xôi vạn dặm đến khổ tu ở Cửu Hoa Sơn, về
nhà cũng đem cúng hết vàng bạc cùng hợp lực với Mẫn Công xây nên chùa Hóa
Thành, mời Kim Địa Tạng dọn vào trong chùa ở. Bắt đầu từ đó Cửu Hoa Sơn đã
trở thành Địa Tạng đạo tràng, biến thành thánh địa của Phật giáo. Ở Cửu
Hoa Sơn chùa miếu mọc lên nhiều như cây rừng, Tăng Ni có hàng ngàn hàng
vạn, hương khói nghi ngút quanh năm không tắt, cho nên còn có tên gọi là
“Nước Phật Liên Hoa” – Hoa sen của nước Phật
Truyện Bồ Tát
Nhà xuất bản Văn Hóa
Địa ngục còn tội nhân
Ta thề chưa thành Phật.
Đóa
hoa vương quốc↑
Hôm ấy,
tại rừng cây mát mẻ gần thị trấn Desaka, nước Sumedha, trước hội chúng Tỳ
Kheo, đức Thế Tôn đã dạy như sau:
- Này chư
Tỳ Kheo! Ở đây là thị trấn Desaka, được nổi danh là trù phú, đẹp đẽ, thạnh
mầu. Đời sống vật chất ở đây thật là sung túc, thạnh mãn. Khắp cá đường
phố, người ta chưng bày hàng hoa tươi mắt, khêu gợi lòng tham. Sau các cửa
sổ có rèm lụa và trước cửa mọi nhà, những cô gái mỹ miều, duyên dáng được
phục sức và trang điểm bằng châu báu, hương thơm và tràng hoa. Các trò du
hí, hoan lạc với trống đánh và kèn thổi, những nhạc ca du dương trỗi lên
như sân khấu ở cõi trời.
- Này các
Tỳ Kheo! Thật là dễ dàng thay cho các thầy khi đi trì bình khất thực, với
cơm và bánh, với thức ăn cứng và mềm vừa đủ no lòng. Mà cũng thật là khó
khăn thay cho các thầy, khi phải thu thúc lục căn, trang nghiêm thân,
trang nghiêm giới, sống đời tiết độ, chánh hạnh mà không xao động, không
có rối loạn tâm, không có chao đảo trí.
Sau khi
giáo giới như vậy, đức Bổn Sư tiếp giọng Phạm âm, như tiếng sấm giọng giữa
hư không lúc trời mưa:
- Này các
thầy Tỳ Kheo! Hãy nghe đây! Đứng trên đỉnh cao ngàn trượng còn dễ dàng hơn
là thấy sắc đẹp của mỹ nhân mà không nhìn. Đứng trên bờ hố than hồng còn
dễ dàng hơn là trước âm thanh quyến rũ của tiên nữ mà không nghe! Suy ra,
mùi hương, vị ngon, xúc chạm êm ái đều là như vậy cả!
Này các
thầy! Các thầy nghĩ thế nào? Ví như có một cô gái đẹp với tấm xiêm lụa
mỏng như mây trời, được phô bày trọn vẹn thân vóc ngọc ngà với các đường
cong uốn lượn. Cô gái ấy đang múa một khúc điệu lả lơi gợi tình, hát một
giọng hát như bồ câu gọi bạn, như hoa gọi bướm… Nếu có một gã thanh niên
trẻ trung, khí huyết dư tràn, hai tay bưng hai bát dầu đầy có ngọn, buộc
phải đi qua chỗ cô gái ấy. Tên đao phủ của vua cầm kiếm đi sau, nói với
thanh niên rằng: “Này người kia! Không được nhắm mắt, không được bịt tai,
hãy đi qua chỗ mỹ nhân. Chỗ nào ngươi làm rơi một giọt dầu, chỗ ấy đầu của
ngươi sẽ lìa khỏi cổ. Nếu ngươi đi qua hết chỗ mỹ nhân, mà không có một
giọt dầu nào rơi ra ngoài, ngươi sẽ được một ngàn đồng tiền vàng”.
- Này các
thầy Tỳ Kheo! Các thầy nghĩ thế nào? Một ngàn đồng tiền vàng dễ dàng bỏ
vào túi hay khó bỏ và túi?
Được chư
Tăng trả lời là “Khó thay!”. Đức Phật tiếp:
- Này các
thầy! Thật dễ dàng thay là một ngàn đồng tiền vàng! Tại sao vậy? Vì người
thanh niên ấy sợ cây kiếm, sợ đầu rơi khỏi cổ, sợ mất tính mạng mình nên y
sẽ thận trọng, cố gắng tỉnh giác. Và do như vậy, y sẽ dễ dàng đi qua chỗ
mỹ nhân mà không hề làm rơi một giọt dầu nào!
Để cho
chư Tỳ Kheo lãnh hội sự thật đã được khéo giảng thuyết, khéo ví dụ. Đức
Thế Tôn lại tiếp:
- Này các
thầy Tỳ Kheo! Bậc hiền trí thuở xưa, không có cây gươm hăm dọa đi sau. Và
sự thử thách, cạm bẫy, cám dỗ không phải chỉ thời gian một hồi trống, mà
suốt bảy ngày bảy đêm trên đường trường, bất kỳ ở đâu, bất kỳ lúc nào. Sự
thử thách, cám dỗ, cạm bẫy, không phải chỉ một mỹ nhân, mà thật sự là
thiên sắc, thiên âm, thiên hương, thiên vị, thiên xúc! Thế mà bậc hiền trí
vẫn không phóng dật, an trú niệm, cột giữ các căn, suốt năm mươi do tuần,
đi đến nơi đến chốn, không chỉ đạt được một ngàn đồng tiền vàng mà đạt
được cả quốc độ.
Nói thế
xong, đức Thế Tôn im lặng. Sau khi chư Tỳ Kheo thưa thỉnh ba lần, Ngài mới
kể chuyện quá khứ đã quên vào dĩ vãng như sau:
- “Thưở
đức vua Brahmađatta trị vì vương quốc Ba La Nại, Ngài có một trăm người
con, và Bồ Tát là Hoàng tử trẻ nhất. Đức vua có nhiều từ tâm và giàu lòng
bố thí. Hằng ngày trong cung điện, bao giờ cũng có vị Độc Giác Phật từ Hy
Mã Lạp Sơn đến dùng cơm. Nhà vua cúng dường không mệt mỏi, không có thối
thất. Bồ Tát, tức Hoàng tử Út, hoan hỷ việc làm của vua cha, nên thành tâm
cung kính phục vụ các vị ấy không thiếu thứ gì.
Một hôm,
Hoàng tử suy nghĩ:
- Ta có
những chín mươi chín người anh, nhưng chỉ có một vương quốc. Bây giờ vua
cha còn tại thế, với tình thương đồng đều, ai cũng có chút ít của cải, tài
sản. Nhưng chẳng biết khi vua cho thăng hà, ta sẽ thế nào? Chốn vương vị,
lợi danh dễ đổ máu và dễ mê đắm long người! Nếu biết là chỗ nguy hiểm thì
ta nên tránh xa. Các vị Độc Giác Phật này có thần thông biết quá khứ, vị
lai. Vậy ta hãy đem điều đó hỏi quý Ngài.
Ngày sau,
khi các vị Độc Giác Phật đến, Hoàng tử đem lại bình tịnh thủy, lọc nước,
rửa chân cho các vị ấy, lau cho khô với khăn vải sạch, dâng cúng các món
ăn thượng vị. Sau khi các Ngài dùng xong, Hoàng tử dâng nước và tăm xỉa
răng, khăn trắng lau tay. Khi các Ngài đã ôm bát, Hoàng tử đến đảnh lễ,
ngồi xuống một bên và trình bày sự thắc mắc của mình:
- Thưa
các bậc ẩn sĩ thanh tịnh! Con ở chỗ cõi trần, mắt thịt tối tăm và dầy bụi,
thật khôn biết chỗ nào trong, chỗ nào đục; không biết chỗ nào tốt, chỗ nào
xấu, không biết chỗ nào nên ở, chỗ nào nên đi! Tương lai thật là mù mịt,
bấp bênh và vô định. Vậy xin các Ngài từ bi chỉ giáo cho con, việc nên làm
và việc không nên làm, để an lạc lâu dài cho con về sau!
Vị Trưởng
lão Độc Giác Phật chăm chú nhìn Hoàng tử một hồi rồi khẻ nói:
- Hoàng
tử có thể tưởng tượng được cái rộng lớn vô cùng của hư không và biển cả
chứ?
- Dạ! Con
tưởng tượng được.
- Những
tư duy, những vấn đề, những câu hỏi của Hoàng tử cũng thật là mênh mông,
rộng lớn như vậy. Đấy là những tìm kiếm một đời, hai đời, nhiều trăm ngàn
đời của những ẩn sĩ cô độc giữa rừng sâu, của những hiền triết, đạo nhân
từ ngàn xưa cho đến ngàn sau vậy. Ở đây, Hoàng tử đặt vấn đề có giới hạn
hay không có giới hạn?
Hoàng tử
chợt ngỡ ngàng, bối rối, lúng túng:
- Bạch!
Tâm trí con chưa đủ rộng lớn để đặt những vấn đề mênh mông, vô giới hạn. Ở
đây, thật nhỏ bé và tầm thường là tương lai và hạnh phúc của một đời
người. Tương lai và hạnh phúc của một đời người lại phải được giới hạn nơi
những nhu cầu tối thiểu, giản dị nhất. Con sẽ có thí dụ. Ví như một hạt
hoa nằm trong trái chín, đến thời kỳ vỏ sẽ nứt ra và hạt bung ra. Cái hạt
ấy cần phải nương gá vào một chỗ nào đủ đất, đủ nước, đủ không khí, đủ ánh
sáng, không sâu bọ, để nó có khả năng lớn lên, đón sương, đón gió, đón ánh
trăng, nắng ấm…mà sống đời an lạc và cho sắc, cho hương! Bạch các Ngài!
Con chỉ muốn như hạt hoa ấy. Là vấn đề giới hạn của con!
Vị Trưởng
lão Độc Giác Phật hoan hỷ mỉm cười:
- Thật
khiêm tốn thay là ước mơ của một vị Hoàng tử. Vì tâm đức của Hoàng tử nên
ta tiết lộ cho Hoàng tử hay:
- Cái hạt
hoa ấy không thể sống an lạc, cho sắc, cho hương ở trong quốc độ này. Nói
cụ thể hơn, Hoàng tử không thể được vương quốc.
- Phải
rồi! Hoàng tử nói. –Mà chính điều đó con cũng không muốn. Nếu vua cha mà
truyền ngôi cho con, con cũng không thể nhận. Bỏ trưởng mà lập thứ là mẩm
họa hại và loạn ly ở trong nước. Con muốn nói rằng: con có thể có một ít
của cải và tài sản để sống chung với các anh con một cách thuận hòa và tốt
đẹp chăng?
- Ngay
chút ít tài sản và của cải ấy cũng không có trong vương quốc này. Cái hạt
hoa ấy mà rơi xuống quốc độ này, nó sẽ không tồn tại, huống hồ cho sắc,
cho hương!
Sợ rằng
vị Hoàng tử hiền lương này sẽ đau khổ, Vị Trưởng lão Độc Giác Phật nói
them:
- Tuy
thế, nó sẽ có môi trường khác. Sức bung của hạt hoa ấy phải xa mạnh hơn
chút nữa, nó sẽ gặp môi trường thuận lợi. Không những nó sống mà còn tăng
trưởng mạnh, cho nhiều sắc hương, tươi thắm và nồng đượm!
Hoàng tử
như vịn được chiếc phao trong dòng biển lớn:
- Xin
Ngài từ bi chỉ dạy!
- Cách
đây rất xa, vị Trưởng lão Độc Giác Phật nói - tại nước Gandhara, thành phố
Takkasilà – Hoàng tử mà đi đến đó được trong vòng bảy ngày thì Hoàng tử sẽ
đạt vương quốc. Nhưng biết Hoàng tử có thể tới nơi tới chốn bình an được
chăng? Khi mà trên đường đi thật vô cùng nguy hiểm!
Hoàng tử
gật đầu mạnh mẽ:
- Con
thật không dám đại ngôn khi nói rằng: Chắc chắn con có thể tới được!
Vị Trưởng
lão Độc Giác Phật như đọc được ý chí và bản lãnh trong con người này, nên
tiếp:
- Có hai
con đường để đi đến vương quốc Gandhara. Một đường đi vòng quanh khu rừng,
ít nguy hiểm nhưng xa đến một trăm do tuần. Thời gian một tuần chẳng thể
đi kịp. Con đường thứ hai đi băng qua những khu rừng, chỉ năm mươi do
tuần, đi suốt ngày suốt đêm thì có thể đến kịp. Nhưng con đường ngắn này
vừa cheo leo hiểm trở, vừa độc trùng thú dữ, lại vừa bị sự thử thách, cám
dỗ của phi nhơn, ma quân. Hoàng tử thử liệu sức mình như thế nào? Muốn lấy
được vương quốc thật không dễ gì! Hay là thôi đi cái ý định ấy? Đến được
Gandhara mà vô sự, yên ổn còn khó khăn hơn là bằng hai tay mà bơi qua biển
lớn, Hoàng tử hãy nghĩ lại.
- Cái thế
của con là phải lấy đóa hoa ấy – Đóa Hoa Vương Quốc – Con lấy được!
- Vậy con
hãy lên đường ngay! Vị Độc Giác Phật ban lời dạy - Điều phải ghi nhớ nằm
lòng, đinh ninh như nhất, là dầu gặp hoàn cảnh nào cũng phải an trú chánh
niệm, thu thúc lục căn, giới hạnh trong sáng như trăng rằm, nhu cầu khổ
hạnh, bảy ngày bảy đêm tinh tấn, tỉnh thức, không một niệm biếng nhác,
thối thất hay dễ duôi. Và như thế, vương quốc sẽ ở trong tay Hoàng tử. Bây
giờ ta cho vật hộ thân. Nhưng nên nhớ, vật hộ thân này chỉ bảo vệ tốt
những kẻ không có tà khí!
Nói thế
xong. Ngài niệm chú một hồi rồi trao cho Hoàng tử một lá bùa bằng cát cùng
một sợi chỉ. Lại còn dặn:
- Bình
thường, để trên ngực, giữ chánh khí thì được an! Lúc cảm thấy nguy hiểm
nhất, lấy bùa này, lấy chỉ này, cột lên búi tóc, thì tất cả các loại phi
nhơn, từ sáu cõi trời dục giới trở xuống, chư Thiên thì giúp đỡ, hộ trì,
còn ma quân, Dạ xoa, A tu la thì không dám lại gần, huống nữa là xúc phạm!
Trao bùa
xong, tất cả các vị Độc Giác Phật biến mất giữa hư không mà về Hy Mã Lạp
Sơn.
*
Hoàng tử
đến từ giã vương phụ và mẫu hậu, từ giã những người thân tín, bằng hữu,
tay chân thuộc hạ rồi nói rõ ý định của mình. Có năm người trong chúng xin
đi theo.
Hoàng tử
khuyên:
- Không
được đâu! Ta tin vào ta nên ta đi. Còn các bạn, sợ rằng sự nguy hiểm, sự
cám dỗ sẽ lấy đi tánh mạng ở dọc đường. Đừng làm việc gì quá sức mình.
Năm người
tùy tùng đồng thanh nói rằng:
- Đi với
Hoàng tử làm sao chúng tôi dám sợ nguy hiểm và bị cám dỗ?
Chẳng
đừng được, Hoàng tử phải để cho họ đi theo với nhiều lần cẩn thận dặn bảo.
Họ khoác
hành trang lên đường khi trời đất còn mờ sương. Họ tiết giảm tối đa thời
gian nghỉ ngơi và ăn uống. Ngày thứ nhất, họ đến địa đầu khu rừng được an
toàn. Nghĩ đến lời dặn của vị Trưởng lão Độc Giác Phật, Hoàng tử nói với
thuộc hạ:
- Núi
rừng tươi đẹp, cây xanh mát mẻ, chúng ta sẽ bộ hành thoải mái, không mất
sức. Nhưng bắt đầu từ đây, ta phải cảnh giác, an trú niệm.
Vượt qua
khỏi cụm rừng đầu tiên thì bong chiều đã ngả, bóng cây xèo tán, sương mờ
huyền ảo. Một con suối sực nức mùi hương hiện ra trước tầm mắt như một
phép lạ! Một xóm nhỏ với lầu các, với những căn nhà nhỏ xinh xinh, rực rỡ
hoa treo và đèn kết, nằm thanh thản, bình yên trên nền đá trắng với những
cụm hoa vàng, hoa da cam, hoa màu tía nhạt. Cả đoàn bâng khuâng dừng lại.
Con đường mòn chạy viền bãi cỏ xanh như dải lụa bạch. Chiếc cầu đá lơ thơ
liễu rũ. Một cô gái đẹp như tiên nga bước qua bằng gót sen yểu điệu. Tay
vịn cành liễu, nụ cười đẹp mê hồn, cất giọng oanh vàng thỏ thẻ:
- Xin
Hoàng tử hãy tạm dừng gót phong vân! Đây là “Đào Nguyên phong nguyệt
quán”, nọ là “Nhất dạ mê hồn lâu” –Là chốn phong lưu, là non Bồng trên
trần thế. Trời đã tối, lộ trình còn xa, sao không ghé qua đêm cho chúng
thiếp được quạt hầu bên gối? Hoa nở chóng tàn, đêm xuân nào mấy khắc? Hãy
vui đi cho khỏi uổng phí ngày xanh!
Nói thế
xong, một đoàn tiên nữ vén mây bước ra, xiêm áo mỏng như làn sương, dáng
ngà uyển chuyển, vóc ngọc lồ lộ, ấp úng thẹn thùa, nụ cười gợi tình, da
môi run rẩy…
Năm người
tuỳ tùng tim đập bồi hồi, đôi chân như sụm xuống, không cất bước đi nổi
nữa. Hoàng tử một thoáng rung động, nhưng an trú niệm lại ngay, mắt nhìn
thẳng, chân bước đều, an nhiên hùng dũng như viên hổ tướng. Năm thuộc hạ
thấy thế như được hồi sinh, dẫu uể oải, tiếc rẻ nhưng cũng phải bước theo.
Bỗng một
người đi chậm lại.
Hoàng tử
nói:
- Sao
ngươi không đi kịp các bạn?
- Thưa Hoàng
tử! Chân tôi bị đau. Chỉ cần ngồi nghỉ nơi xóm này một lát, lấy lại sức,
tôi sẽ lên đường ngay!
Hoàng tử
nhăn mày:
- Ngươi
có biết rằng, chúng là phi nhơn, Dạ xoa. Chúng lấy sắc đẹp quyến dụ ngươi.
Rồi qua một đêm, ngươi chỉ còn là một đống xương trắng. Hãy nhớ lấy!
Người kia
cười lạt mà rằng:
- Dẫu sự
việc có là như vậy, tôi cũng không đi được nữa, thưa Hoàng tử.
Nhìn thần
sắc và nghe giọng nói, Hoàng tử biết khó mà lay chuyển được y, bèn thở dài
mà than:
“Ôi sắc
đẹp! Ngươi đã đánh thắng một người bạn của ta ngay chính nơi vương quốc
dịu dàng, mê hoặc của ngươi!
Ngươi là
mũi tên có tẩm độc, chập chờn hoa thắm hương thơm, bắn thẳng vào tim,
không nhức đau, chỉ là vết thương êm ái!
Nhưng ta
sẽ vĩnh viễn đánh bại ngươi!
Bằng an
trú niệm, bằng sự tỉnh thức miên tục, trường kỳ!”
Rồi xót
xa mà tiếp tục lên đường với bốn người còn lại.
Chàng
trai đắm sắc, sau một đêm với đám mỹ nhân, thịt và máu của chàng chưa đủ
một bữa tiệc đầy môi cho các Dạ xoa nữ.
Đêm thứ
hai, năm người như đi lạc vào một thế giới âm thanh mê hoặc và xao xuyến
lòng người. Đầu suối, triền non, lùm cây, thạch động…đâu đâu cũng vọng lại
giọng ca tiếng hát dặt dìu. Xen lẫn vào giọng ca, tiếng hát và lời thỏ thể
tình tự, là tiéng cười mời mọc, cả lơi… đôi khi như hờn yêu, nũng nịu…
Hoảng tử
tỉnh thức ngay:
- Đấy là
mật rót vào tai. Là lưỡi kiếm vô hình, vô ảnh xuyên ngọt vào trái tim của
ý chí, vào khối óc kiên cường không một dấu tích. Hãy an trú niệm đi các
bạn! Kẻ nào bạc nhược tâm hồn, sẽ nằm xuống vĩnh viễn nơi chiếc giường êm
ái của Ma vương và không còn ngồi dậy được nữa.
Trên ngọn
đồi thấp, một bầy tiên nữ ẩn hiện như hư như thực, như có như không. Một
tiên nữ hiện ra dưới vòm hoa, cất giọng mời gọi như ngọc thốt:
- Đêm
xuân nào mấy khắc. Chư lang quân hãy vào đây cùng chúng thiếp ôm đàn mà vỗ
một khúc “Đáo nhập Thiên Thai!”.
Một người
chợt đi chậm lại.
- Sao
vậy? Hoàng tử hỏi -Lại đau chân nữa ư?
- Không!
-Người kia lắc đầu –Tôi bị đau bụng?
Hoàng tử
thoáng nghe nhạc điệu như chợt thay đổi, thánh thót và mê ly đến cùng cực.
Thỉnh thoảng lại xen lẫn vài tiếng rên ư ử dâm dật, tiếng thốt khẽ như đau
đớn, như khoái lạc. Hoàng tử tỉnh thức cao độ mà trái tim vẫn rung động
mấy lần. Chàng cắn răng, kiên gan chờ đợi kẽ đồng hành của mình mà thầm
nghĩ: một khắc thất niệm của mình thì ở đây, ngày mai, sẽ là năm đống
xương trắng!
- Hoàng
tử hãy đi đi! -Người kia mê loạn nói –Tôi sẽ tình nguyện chết ở đây!
Hoàng tử
thở dài, lấy tất cả ý chí và sức bình sinh thốt lên một lời ca chưa từng
được nghe:
- Hỡi
thiên âm ma quân! Ngươi đã thắng!
Chiếc cầu
vồng ngũ sắc âm thanh của ngươi đã êm ái đưa linh hồn bạn ta đến chỗ khoái
lạc và tử vong!
Ta hát
lên, tán thán cái tài quyến dụ mê hoặc của ngươi, còn mạnh hơn thiên binh
vạn mã. Còn va động khủng khiếp hơn dao đá và kiếm sắt. Lời một thân chiến
tượng, làm cùn nhục ý chí và dõng lực kiên cường của một thần mã nòi giống
Sindhu tối thượng.
Nhưng,
chiếc lưới mịn màng và vô hình của ngươi không buộc được gót chân của đệ
tử bậc ẩn sĩ.
Lại một
lần nữa, đệ tử bậc ẩn sĩ đã đánh bại ngươi, hỡi thiên âm ma quân! Ta đánh
bại ngươi mà ngươi không tử thương, ngươi không tàn úa dẫu một cánh hoa.
Ta đánh bại ngươi bằng tâm niệm hòa bình, trung chính và an tĩnh. Vũ khí
duy nhất và tối hậu của ta là “an trú niệm, là sự tỉnh thức miên tục,
trường kỳ!”
Hát thế
xong, biển âm thanh của Dạ xoa nữ chợt ta mất trong hư không, Hoàng tử
cùng ba người còn lại tiếp tục lên đường. Nhưng kẻ còn lại, sáng mai chỉ
còn là một đống xương trắng.
Tuần tự
là như vậy, Hoàng tử vượt qua, vượt qua.
Nhưng,
đến khu rừng “thiên hương” kẻ mê đắm hương rớt lại. Đến chỗ khu rừng
“thiên vị” người mê đắm “vị” rớt lại. Đến chỗ khu rừng “thiên xúc” kẻ mê
đắm “xúc” rớt lại. Hoàng tử là chiến sĩ duy nhất và cuối cùng hiên ngang
bước qua năm cạm bẫy mà không cần lấy chỉ cột bùa cát lên búi tóc.
Chúa Dạ
xoa nữ bặm môi, trợn mày họp đoàn Dạ xoa lại:
- Các
ngươi là đồ ăn hại – Chúa Dạ xoa hét the thé, chỉ có sáu con mồi mà cũng
để cho vuột một con. Hãy chịu tội đi!
Đoàn Dạ
xoa đồng quỳ xuống:
- Xin
chúa tha tội!
Chúa Dạ
xoa gầm lên giận dữ:
- Oan
chăng?
Cả bọn
đồng thanh tâu:
- Chúng
con oan. Chúng con thất là hết khả năng. Làm sao chúng con lại đủ khả năng
đánh bại đệ tử của bậc ẩn sĩ?
Nghe nói
vậy, chúa Dạ xoa nữ dịu giọng:
- Thế à?
Nếu y đúng là đệ tử chơn truyền của các vị ẩn sĩ ở Tuyết Sơn thì ta tha
tội cho.
- Xin
chúa ra tay, và túm trái tim của nó – Chúng tâu.
Nữ chúa
Dạ xoa chợt hóa hình thành một con quỷ sáu đầu, mười hai tay, mười hai
chân, cất giọng cười ngạo mạn rúng động cả hư không:
- Ta mà
ra tay thì thầy của y, ta cũng quấn trong xiêm huống hồ là tên đệ tử! Rồi
vênh váo quát: Cho các ngươi lui! Khi nào có lệnh phải tụ họp đầy đủ trong
nháy mắt. Để phần tên trẻ ranh cứng đầu ấy cho ta!
Bèn hóa
hiện ngay dung sắc một Thiên nữ, đẹp đến chim sa cá lặn, dùng thần lực
theo sát sau lưng Hoàng tử.
*
Nhắc đến
Hoàng tử sau khi vượt thoát năm loại cám dỗ, bước ra khỏi khu rừng với đất
trời quang đãng, chàng tự nhủ:
- “Tuy ta
đã chiến thắng nhờ không phóng dật, nhờ an trú niệm và tỉnh thức cao độ -
nhưng đến đây chưa hẳn là an toàn. Ở cái nơi bình lặng của xóm làng, của
con người rộng rãi, chợ búa và thị trấn…biết đâu loài chúa của Dạ xoa vẫn
đặt sẵn cạm bẫy ở đâu đó?”.
Nghĩ vậy,
Hoàng tử tuyệt đối cảnh giác, đề phòng!
- Chàng
ơi! Đợi thiếp đi với!
Hoàng tử
cảm nghe rúng động, bồi hồi. Chưa kịp phản ứng gì thì một mùi hương kỳ lạ.
ngây ngất phủ trùm lấy chàng làm cho các đầu dây thần kinh choáng váng,
run bần bật. Chàng tỉnh thức, cắn lưỡi phun máu, mà âm thanh mê hoặc kia,
mùi hương quái ác nọ làm cho cả thân tâm chàng, như mê man, nửa tỉnh nửa
say, mất hết mọi khả năng phản kháng. Trong vô thức, chàng quay đầu nhìn
lại, thì ối trời! Suýt chút nữa chàng chết đứng! Dước trời đât này sao có
người đẹp đến thế? Cả con người nàng đều phát tiết ra, gợi lên, chưng bày
trọn vẹn, tuyệt hảo tất cả cái hoàn mỹ nhất của tạo hóa, kèm thêm cái no
đầy, tươi mát, tràn trề của khoái lạc nhục dục!
Hoàng tử
thấy mình hoàn toà kiệt sức, mọi ý chí phấn đấu đều đã tê liệt, mọi gọi
kêu của trí năng đều không còn vang vọng. Chàng không còn tuân theo khối
óc của nàng nữa. Một bản năng xác thịt và ham muốn từ vùng câm nín cuồn
cuộn trào vọt ra. Chàng đưa hai tay đồng lõa mời gọi, đắm đuối, run rẩy cả
thể xác. Và chờ đợi…
Nữ chúa
Dạ xoa không ngạc nhiên gì trước chiến thắng này. Chính những bậc ẩn sĩ,
những ông Bồ Tát cũng đã từng bị nàng hạ đo ván trên chiếc giường thất bảo
mê ly của nàng. Họa hiếm nàng mới thất bại. Đối với chàng trẻ tuổi này,
nàng có coi ra gì. Nàng bước tới, với khoé mắt, với nụ cười, với tiếng
nói, với mùi hương, với vòng tay mở rộng ân tình, với xiêm y mịn màng
trong suốt…
Hoàng tử
mê man bước lại. Nữ chúa Dạ xoa siết chặt vòng tay. Bỗng, nàng thối lui,
da mặt tái xanh, hốt hoảng…Một cái gì đó, chớp nhoáng như làn điện, buốt
ngọt như mũi tên nhọn hoắt xuyên vào ngực nàng, đau điến, toát mồ hôi! Một
cái gì đó nữa, như nhát dao, lia ngay…khi nàng sắp chạm vào thân thể Hoàng
tử.
Nữ chúa
Dạ xoa đứng ngây, kinh hoàng, hai mắt trợn trừng, ngạc nhiên không xiết
kể.
Về phần
Hoàng tử, sau phút giây đó, như từ vùng đen đặc tối tăm, một điểm sáng lóe
lên, lóe lên rồi dần dần lan rộng. Mọi cơ năng, cảm quan, ý chí từ từ hồi
phục. Hoàng tử đã hiểu mọi chuyện, cắn đứt một chút lưỡi, phun ra một bung
máu rồi chậm rãi bước đi.
Hoàng tử
hiểu. Hai tay chàng tự nhiên đưa lên ngực, ở đó có lá bùa cát. Nếu không
có vật hộ thân này, chàng đã vĩnh viễn nằm xuống. Nhờ uy lực của vị Trưởng
lão Độc Giác Phật, Nữ chúa Dạ xoa không thể xâm phạm đến Hoàng tử, mà phải
chịu thất bại đau đớn.
“Tuy thế,
vẫn còn…Nữ chúa Dạ xoa thầm nghĩ: -Cuộc chiến đấu thiên nan vạn nan đây.
Nhưng đối thủ xứng tay thì sự chiến thắng mới đáng hãnh diện. Ta còn có
“thiên vị” “thiên xúc”, đồng thời, lập đi lập lại mãi “thiên sắc” “thiên
âm”. Thỉnh thoảng, phải tung một loạt năm loại vũ khí tối thượng. Nhưng
cũng phải coi chừng! Vì dường như nơi ngực hắn ta có một cái gì rất đáng
ngại!
Từ lúc
đó, Nữ chúa Dạ xoa, như hình với bóng theo bên Hoàng tử. Khi bên phải, khi
bên trái, lúc đằng trước, lúc đằng sau, dùng đủ mọi cách để quyến rũ.
Nhưng bây giờ, sau phút lâm nguy sắp rơi vào vực thẳm. Hoàng tử đã lấy lại
sự tỉnh thức ban đầu, nên kiên định, vững vàng như đỉnh núi, khó có gì lay
chuyển nổi.
Trên
đường, có người hỏi:
- Này Mỹ
nhân! Người đi trước nàng là ai vậy?
Nữ chúa
Dạ xoa nhu mì đáp:
- Là
người chồng trẻ của tôi, thưa các ông?
- Này
bạn! Khi bạn có người vợ trẻ tuyệt sắc, mỹ miều, đẹp như bó hoa, tế nhị
như nhụy hoa, rực rỡ như vòng hoa. Nàng đã bỏ gia đình mà theo bạn, và đặt
lòng tin nơi bạn. Vậy sao không chậm chân một chút, để cùng đi với nhau,
tay trong tay, hoặc nữa là kề sát nhau hơn, nỡ nào lại lạnh lùng, vô tình
đến thế.
Hoàng tử
đáp mà không nhìn ngang nhìn ngửa:
- Các bác
hãy liệu chừng! Nó không là Nữ chúa Dạ xoa, cũng là “đầu nậu” Dạ xoa đấy!
Chẳng phải là vợ tôi đâu! Nó đã quyến dụ và ăn thịt năm người bạn đồng
hành của tôi.
Nữ chúa
Dạ xoa cười duyên dáng mà đáp:
- Ối!
Thưa các ông! Khi mà người đàn ông đã có lý do phẫn nộ, thì người vợ đầu
gối tay ấp cũng cho là Dạ xoa, là nữa quỷ hết!
Người ta
tin nàng.
Còn Hoàng
tử thì cứ một mực rảo bước, tất cả như thoảng ngoài tai. Nữ chúa Dạ xoa
bắt đầu tức tối, hậm hực. Khi thì hiện hình có mang. Khi thì hiện dáng đã
sanh con. Khi thì ẵm con bên nách. Đến mỗi trạm dừng chân, nữ chúa Dạ xoa
lại bày biện thức ăn đẹp mắt và ngát mùi hương. Chỉ nhìn và ngửi thôi cũng
đã thèm đến rỏ dãi. Vì đây là thiên hương và thiên vị. Nàng trang hoàng
chỗ nằm êm ái và khiêu gợi như chiếc giường của Dạ Ma phu nhân. Rồi trổ
tài nũng nịu, phô lưng, phô ngực, phô thịt da lồ lộ… Bằng trăm phương
nghìn kế cho Hoàng tử động tình gục ngã.
Nữ chúa
Dạ xoa đã lầm. Hoàng tử của chúng ta vĩnh viễn là kẻ chiến thắng mất rồi!
Chỉ còn
một đỗi đường nữa vào vương quốc Gandhàra, Hoàng tử ngang nhiên quay mặt,
mặt đối mặt với Nữ chúa Dạ xoa mỉm cười mà rằng:
- Nữ chúa
ma quân! Ngươi không còn là kẻ vô địch nữa!
Nữ chúa
Dạ xoa cũng mỉm cười, đáp lại:
- Ta
không tin như thế. Rồi có lúc ngươi cũng phải nằm xuống, trười tới mà liếm
gót chân của ta!
Hoàng tử
cười ha hả một hồi rồi nghiêm sắc mặt:
- Rồi có
lúc, ngươi cũng tan theo bóng tối!
Đến trước
cổng vào cung điện, Hoàng tử dừng chân ở nhà chiêm bái, nghĩ rằng “nếu có
nguy hiểm thì nguy hiểm vào khắc cuối cùng. Ta sẽ bảo vệ tuyệt đối an toàn
bằng lá bùa hộ mệnh!”. Bèn lấy sợi chỉ cột bùa lên búi tóc,cầm gươm và
đứng dậy.
Chiều
xuống và tối lại, Nữ chúa Dạ xoa hy vọng đêm nay sẽ đánh gục Hoàng tử bằng
một chiến thuật tối hậu. Nhưng vừa bước vào cửa, nàng lại thụt lùi, sợ
hãi. Hoàng tủ cầm gươm, đứng bất động như pho tượng La Hán, từ đó toát ra
một uy lực bất khả xâm phạm. Lâu lâu nàng lại nhìn vào, nhưng Hoàng tử vẫn
không đổi tư thế, thanh gươm chấp chóa ánh trăng, không hề lay động. Một
cái gì lạnh buốt va vào trán nàng, làm nàng run lẩy bẩy. Nữ chúa Dạ xoa
thở dài, tuy thế, nàng vẫn kiên gan đứng chờ.
Canh ba
về sáng, biết là giờ khắc quan trọng nếu không chiến thắng thì nàng sẽ
vĩnh viễn chiến bại. Nữ chúa Dạ xoa bèn huy động tất cả chiến thuật mê hồn
nhất của loài ma! Nàng hiện hình thành hàng chục vị thiên nữ đẹp đến mê
hồn lạc phách, trần truồng ẩn hiện nửa kín, nửa hở chập chờn xung quanh
Hoàng tử mà nỉ non, tình tự. Hương của cõi trời sực nức gian phòng. Tiếng
lời dâm loạn lẫn nhạc ca du dương như đưa người vào cuộc đắm say trường
lạc.
Suốt đêm
như thế. Nhưng nữ chúa Dạ xoa đã thất bại. Nàng vẫn chưa chịu bỏ cuộc mà
đi, lại hiện hình thành một thiếu nữ khuê các, trâm anh đứng tựa lưng bên
cửa.
Sáng tinh
mơ, đức vua Gandhàra ngự du hoàng thành, đến nhà “chiêm bái”, thấy cô gái,
tức tốc Ngài cho dừng voi lại. Vua rúng động, mồ hôi vã ra, tim nhảy loạn,
hơi thở dồn dập. Suốt đời là vị vua chí tôn, ông chưa làm chủ được một đóa
hoa thanh tân diễm lệ đa tình như thế.
Lâu lắm,
nhà vua mới cất tiếng hỏi không ra hơi:
- Nàng là
ai? Từ đâu đến? Có chồng hay chưa?
Nữ chúa
Dạ xoa đáp:
- Thiếp
là gái có chồng. Chồng thiếp đang nghỉ ở kia, trong nhà chiêm bái. Thiếp
phải đứng ngoài cửa hầu, mong bệ hạ lượng thứ.
Hoàng tử
nghe vậy, tâu với đức vua:
- Nó
không phải là vợ tôi. Nó là nữ chúa Dạ xoa, cám dỗ tôi. Nó đã ăn thịt năm
người đồng hành của chúng tôi. Xin bệ hạ hãy thận trọng.
Nữ chúa
Dạ xoa nói:
- Ôi! Tâu
Đạ Vương! Khi người đàn ông đã đổi dạ thì nó muốn nói gì mà chẳng được!
Đức vua
phân vân bất quyết, lại đưa mắt nhìn Hoàng tử:
- Quả
thật, ngươi không phải là chủ nhân của đóa hoa bằng xương bằng thịt kia
chứ?
Hoàng tử
nói:
- Đã
không phải là chủ, đã không phải quen biết, mà còn sợ nó ăn thịt nữa!
Đức vua
cười ha hả:
- Vậy thì
tốt. Hãy ăn thịt trẫm đi! Hỡi nữ chúa Dạ xoa! Trong vương quốc này, vật gì
không có chủ là thuộc phần ta.
Vua gọi
cô gái đến, ẵm nàng lên lưng voi, cho ngồi kề sát mình rồng, dạo khắp một
vòng rồi về cung, đặt lên ngôi vị Hoàng hậu.
Không mấy
chốc, việc này được đồn đãi khắp nơi. Kẻ hiếu kỳ đi nhìn cô gái. Kẻ tò mò
đi nhìn Hoàng tử. Ai cũng ngạc nhiên, sao Hoàng tử lại từ chối không nhận
vợ là một cô gái đẹp tuyệt trần? Một số quan lại, đại thần lão niên đến
gặp Hoàng tử để mong hiểu tường tận sự việc. Hoàng tử cứ thực tình kể lại
những cám dỗ của nữ chúa Dạ xoa suốt trên đường đi, đã ăn thịt năm người
bạn đồng hành của mình như thế nào!
Các vị
đại thần đứng dậy, nghiêng người xá lạy Hoàng tử rồi kính cẩn thốt lên:
- Vĩ đại
thay là chiến thắng này! Chiến thắng một vạn quân không bằng trong một
niệm chiến thắng dục vọng của mình. Ngài đúng là một bậc Đại Ẩn Sĩ Thanh
Tịnh!
Sau đó
lại than dài:
- Tại sao
quốc độ của chúng ta lại thiếu phước, không sản sanh được một đức vua, chỉ
cần bằng một phần mười sáu của vị Ẩn Sĩ này? Ôi! Mấy chục, mấy trăm người
vợ rồi mà cũng không thỏa cái bầu nhục dục vô độ đó ư? Nước nhà sẽ tan nát
vì cái con quỷ cái kia mất thôi!
Đêm ấy,
trên long sàn, nữ chúa Dạ xoa khóc thổn thức, vua ân cần han hỏi:
- Nàng có
điều gì không được vừa ý?
Nữ chúa
Dạ xoa nũng nịu đáp:
- Tâu Đại
Vương! Thiếp được Đại Vương thấy ở giữa đường, đem vào cung điện, đặt lên
ngôi vị Hoàng hậu. Ân mưa móc trời biển ấy, thiếp không dám quên. Nhưng
sống ở đây, giữa đám thứ phi, cung nga thể nữ, chắc hẳn họ sẽ coi thiếp
như thù địch. Đại vương có biết rồi họ sẽ nói như thế nào về thiếp chăng?
- Ái
khanh cứ nói!
- Tâu Đại
vương! –Nàng thỏ thẻ, rồi cất giọng thanh tao mà giận dữ -Cha ngươi là ai?
Mẹ ngươi là ai? Dòng họ thọ sanh của ngươi như thế nào? Ối! Họ sẽ nạt nộ
thiếp, sẽ nhục mạ thiếp, sẽ nói những câu ngu xuẩn như thế. Họ sẽ còn bĩu
môi biếm nhẽ mà rằng: Ngươi là cái thứ chi mà đến đây nhận ngôi vị Hoàng
hậu? Chỉ là kẻ được đức vua lượm lặt dọc đường dọc sá đấy thôi!
Đức vua
có vẻ trầm ngâm trước sự thực đó, nhưng đang đắm đuối bởi thiên sắc, thiên
hương và thiên xúc, nên nói:
- Vậy thì
trẫn có thể giúp đỡ gì được cho ái khanh không?
- Sao lại
không được? Nữ chúa Dạ xoa giận dỗi, hờn mát. Phải mà, đại vương có yêu gì
thiếp đâu! Phải mà, với quyền uy của đức vua chí tôn mà bảo là không biết
giúp đỡ được gì! Thôi, vậy thì chúng ta hãy tuyệt tình từ nay!
Nàng ngồi
bật dậy, quả quyết. Đức vua hoảng hốt níu nàng lại:
- Trẫm
yêu ái khanh nhất đời. Trẫm yêu ái khanh hơn cả cha cả mẹ, hơn cả sơn hà
xã tắc, hơn cả tông môn, thánh miếu, hơn cả ông trời ông đất…
- Vậy thì
gì nào? Khanh muốn gì nào?
Nữ chúa
Dạ xoa dịu giọng:
- Đại
vương chỉ cần cho thiếp sử dụng quyền uy và thế lực trên vương quốc này
thì thiếp sẽ bỏ ngoài tai tất cả những lời gièm pha kia.
Đức vua
rất khó xử.
- Này ái
khanh! Đức vua ngọt ngào, vỗ về -Dẫu là đức vua nhưng ta không có quyền uy
hay thế lực đối với đám lương dân vô tội. Ta chỉ có quyền uy và thế lực
đối với kẻ phạm pháp, kẻ làm điều sai quấy mà thôi. Vậy thì ta lấy quyền
uy và thế lực nào mà cho ái khanh?
Dạ xoa
ngẫm nghĩ một lát vì biết rằng mưu kế của mình đã thành rồi.
- Tâu đại
vương! –Nàng nói –Không thế lực cả vương quốc thì thế lực trong nội cung
cũng được vậy, vả chăng thiếp đã là Hoàng hậu thì thiếp có quyền uy như
vậy chứ?
Đức vua
đồng ý.
Thế là
hôm sau, nữ chúa Dạ xoa với đám thị nữ tùy tùng, lấy uy quyền của mình đi
kiểm soát tất cả cung phòng, cửa ngõ, đếm số người và kiểm soát họ một
cách nghiêm ngặt. Giữ tất cả các chìa khóa và lệnh không cho bất cứ ai đi
đâu cho đến khi có lệnh mới. Ai cũng căm giận nhưng chỉ biết cắn răng chịu
đựng vì quyền uy của nàng đã được đức vua đóng dấu có triện son!
Đêm sau,
trên long sàng, nữ chúa Dạ xoa đoạn lìa sanh mạng của đức vua, ăn tất cả
gân da, thịt và máu, chỉ để lại xương tóc. Sau đó, dùng thần lực gọi hàng
trăm nữ Dạ xoa thuộc hạ, trao cho các chìa khóa phòng, lần lượt ăn thịt
hết tất cả cung nga thế nữ, cho đến gà, chó…cũng không bỏ sót. Các loài
vật to lớn như voi ngựa thì chúng không thèm ăn, chỉ giết làm thú tiêu
khiển!
Mờ sáng,
nữ chúa Dạ xoa oai vệ phi ra cổng thành, theo sau là thuộc hạ, về trú xứ
của chúng, bỏ lại đằng sau cung điện rỗng không, lạnh ngắt…
*
Mặt trời
lên đã lâu mà cổng thành không ai mở, giờ canh không ai báo, lầu cao lầu
thấp im ỉm, cửa Đông cửa Tây váng hoe. Tốp binh ngoài thành sinh nghi, hô
hoán lên. Một số phá thành đập cửa mà vào. Đâu đâu cũng xương thịt máu me
vương vãi, không còn một ai sống sót.
Cả thành
phố rúng động, kéo nhau đến tận nơi để xem. Các vị lão đại thần cho họp bá
quan để xử lý mọi việc trên đống xương tàn.
Khi tất
cả mọi nơi đều đã được thu dọn sạch sẽ, một cuộc hội nghị khẩn cấp được
hình thành. Họ thảo luận vấn đề ngôi vua đang bị bỏ trống.
- Chuyện
người thanh niên nói về nữ chúa Dạ xoa là có thực. Còn nhà vua của chúng
ta vì đắm sắc mà bị mệnh chung. Nước chúng ta cần một đức vua đoan chính,
đạo đức để trăm họ được nhờ.
- Sao ta
không triệu thỉnh ngay chính thanh niên ấy? Y hiện đang ở nhà chiêm bái,
hai đêm một ngày cầm gươm chiến đấu với nữ chúa Dạ xoa, không cần ăn,
không cần uống. Thân bất động như tượng thần La Hán, khí sắc an nhiên trầm
tĩnh như hư không. Kẻ mà lục căn thanh tịnh đến độ vượt qua sáu loại cám
dỗ của ma quân, kiên trì và dõng lực an trú niệm để chiến thắng cả dục
vọng của chính mình. Lại không xứng đáng cho vương quốc này tôn thờ đến
ngàn sau, huống hồ chỉ làm vua kế vị!
Văn võ bá
quan nhất trí tung hô, vui tươi, hoan hỷ.
Thế là
cung điện lại treo đèn, hoa kết làm biếc những thảm cỏ xanh. Rải hương
xông hương các nơi máu tanh do uế. Làm sạch các vệt máu trên tường, nơi
cửa sổ, dưới nền hoa…Bá quan văn võ, nam phụ lão ấu kéo theo từng đoàn sau
lưng chiếc kiệu, rầm rộ đến nhà chiêm bái.
Trong khi
đó dân chúng khắp kinh thành hay chuyện, lại chưng bày bàn hương bái vọng,
nô nức vui cười, reo ca nhảy múa, bừng bừng cả trời hoan lạc và thanh
bình.
Hoàng tử
làm lễ quán đảnh lên ngôi vua, trị vì quốc độ đúng chánh pháp, làm các
công đức như bố thí…rồi đi theo nghiệp của mình.
*
Đức Phật
thuyết xong, im lặng như đất trời vào đại định. Cả hội chúng im lặng theo,
chìm lắng trong suy tư, không một tiếng ho, không một cử động của ngón
tay, không một hơi thở thô tháo. Họ kính trọng sự im lặng của đức Bổn sư,
họ kính trọng Pháp, họ kính trọng sự im lặng của chính mình…
Lâu lắm,
đức Thế Tôn lại gióng bằng giọng Phạm âm với hai mươi tư tuyệt hảo:
- Này chư
Tỳ Kheo! Thật hy hữu thay là câu chuyện trên, là bài pháp thậm thâm vi
diệu chưa từng được nghe. Các thầy biết gì, hiểu gì?
Này chư
Tỳ Kheo! Hoàng tử vượt qua năm loại cám dỗ ấy là Như Lai. Nhờ vượt qua năm
loại cám dỗ mà Hoàng tử đạt được vương vị.
Này chư
Tỳ Kheo! Nếu ý nghĩ chỉ có từng ấy thì Như Lai không nói là thậm thâm vi
diệu. Tại sao vậy?
Ôi! Ân
đức của Pháp to lớn vậy thay! Sự nhiệm mầu của Pháp vĩ đại vậy thay! Sự an
bài của Pháp hy hữu vậy thay!
Này chư
Tỳ Kheo! Bài pháp ấy phải hiểu được một cách rõ ràng như sau: năm loại cám
dỗ được xếp đặt trong năm khu rừng cám dỗ khác nhau. Năm người đồng hành
gục ngã được tượng trưng cho mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý hướng thượng,
kiên trì, kiên gan, đầy dõng lực, an trí niệm được hiện thân là Hoàng tử
vậy.
Này chư
Tỳ Kheo! Trên đường cầu đạo Bồ Đề, tiến tu gian lao, vất vả, đầy những cạm
bẫy. Nếu không gục ngã, kẻ ấy vẫn tồn tại trong giáo pháp của Như Lai. Y
không gục ngã, vẫn cầm gươm,, không lay động, thì cuối cùng, y vẫn đạt
được hương vị, đạt được Đóa Hoa Vương Quốc! Đóa Hoa Vương Quốc ấy phải
được hiểu thêm là Chân Phúc, An Lạc Tối Thắng, là Cực Lạc, là Niết Bàn
vậy.
Và tại
sao vị Hoàng tử phải lên đường trong vòng bảy ngày? Điều này Như Lai đã
từng khéo giảng, khéo thuyết pháp tu Tứ Niệm xứ của Như Lai, thật không
cần phải trải qua bảy năm, bảy tháng…mà chỉ cần bảy ngày rốt ráo, nhất
tâm, tỉnh thức, an trú niệm, thì Đóa Hoa Vương Quốc tối thượng sẽ nằm
trong bàn tay vị ấy.
Các ngươi
hãy như vậy thọ trì.
Minh Đức
Nếu anh đi được trên mặt nước,
Anh hơn gì một cọng rơm?
Nếu anh bay liệng giữa không trung,
Anh hơn gì một con ruồi?
Nhưng nếu anh chế ngự được tâm hồn anh,
Anh quả là một nhân vật phi thường!
Pháp sư
tàu hũ↑
Thuở xưa
có một ông đồ thông minh, bác học. Ông ta làm khổ vị Hoà Thượng trụ trì
chùa láng giềng không ít, vì những câu hỏi lý sự cùng mình của ông ta. Vì
thế, mỗi lần nghe tiếng guốc lộp cộp của ông đồ đến gần, dù đang bận bất
cứ công việc gì: xem kinh hay cuốc đất…Hoà Thượng vội vàng leo lên thiền
sàng để “tỵ nạn” tham vấn của ông đồ đa sự.
Một hôm,
đang ăn mấy củ khoai lỡ bữa, chợt nghe tiếng khua ngoài cổng tam quan, Hoà
Thượng vội vàng lau miệng tức tốc trở về phương trượng. Thấy chủ nhà lật
đật, khách cũng hối hả không kém. Nhờ vậy, ông khách bắt được Hoà Thượng
lúc ngài mới leo lên bồ đoàn mà chưa kịp gác tréo chân. Cực chẳng đã, Hòa
Thượng phải quay lại chào khách, ngài thở phào nhẹ nhõm.
- A, thì
ra bác đậu hũ! Vậy mà bác làm tôi sợ đến bở vía…
Chàng đậu
hũ ngạc nhiên:
- Có
chuyện gì vậy, Bạch thầy? Hôm nay bán ế quá, con tạt vào chùa, nài thầy
mua giùm vài miếng chứ con có làm gì đâu nào?
- Ấy,
không phải vậy!
Và, Hòa
Thượng bèn thuật lại đầu đuôi câu chuyện xong, ngài than thở:
- Hôm nào
cái tên đa sự đó đến đây thì ta vô phương làm việc…cứ phải ngoáy tai ra
nghe nào là Pháp thân, Niết bàn, Tối thượng thừa, Đệ nhất nghĩa đế, Chơn
đế…thiếu điều điếc con ráy…
Chàng đậu
hũ bất bình:
- Rồi
thầy chịu trận chứ không có cách nào tống cổ hắn à?
Hòa
Thượng nhắm mắt:
- Ta có
mở miệng được tiếng nào đâu? Hắn cứ thao thao bất tuyệt đến lúc nào khô cổ
mới chịu ngừng lại hớp nước, lấy hơi và nói tiếp…
- Thế,
hôm nay hắn có đến không ạ?
- Hôm nào
lại khỏi, quả là một đại họa cho ta.
Gã bán
đậu hũ thuộc loại người có máu Lục Vân Tiên, nghĩa là thấy chuyện bất bình
thì phải ra tay nghĩa hiệp, hăng hái nói:
- Thầy để
nó cho con. Con sẽ trị cho hắn một mẻ, thế nào cũng cạch đến già…
- Chú có
cách nào? Đừng có chọc người ta mà phải tội!
- Ậy,
thầy cứ cho con mượn cái mũ ni, áo tràng cùng y bá nạp nữa…Rồi thầy trò
mình sẽ làm như vầy…như vầy…
Hai thầy
trò còn đang bàn tính thì đã nghe tiếng guốc của ông đồ. Đương sự mới đến
sân ngoài đã đánh tiếng:
- A Di Đà
Phật! A Di Đà Phật! Bạch Hòa Thượng con mới đến ạ!
Hòa
Thượng vội bước ra, suỵt hỏi:
- Im nào!
Ông bạn…hôm nay chùa có khách.
- Ai thế
nhỉ?
- Một
thiền sư vừa hạ sơn, Ngài ở Tà Lơn mới xuống…
- Ồ, quý
hóa quá! Thật là: “Hữu duyên thiên lý năng tao ngộ, Vô duyên đối diện bất
tương phùng”.
- Suỵt,
ngài còn trẻ nhưng đạo cao đức trọng lắm…
- Ồ…vạn
hạnh, vạn hạnh…thật là Vị tằng hữu…Sư tử lên ba còn hơn dã can đầu bạc.
- Nhưng
mà…ngài không thích nói nhiều.
- Đó mới
là…Vô ngôn thông… “Tri giả bất ngôn”…Người biết mà không nói…mà lại.
- Đạo hữu
có hầu chuyện với ngài thì nên ít lời một tí…
- Thế
thì…con xin được phép hầu chuyện với ngài bằng lối im lặng. Một cuộc im
lặng như sấm sét của những tâm hồn vĩ đại và chơn thực…
Hòa
Thượng ngơ ngác:
- Thế
nghĩa là sao?
- Im
lặng, im lặng và im lặng. Đó là sự đối thoại của Bồ Tát cư sĩ Duy Ma Cật,
một lối mặc ngữ mà pháp âm vang như sấm rền.
Hòa
Thượng đành lắc đầu:
- Thôi
thì chú cứ làm những gì chú thấy cần thiết.
Ông đồ
liền tuột guốc, rón rén bước đến vái chào vị Thiền sư Tà Lơn. “Thiền Sư”
vẫn im lặng, hai mắt hơi hé ra rồi nhắm lại như cũ. Khách và chủ cùng phân
tòa ngồi. Hòa Thượng cũng kiếm một chỗ ngồi, hồi hộp theo dõi cơ sự.
Thoạt
tiên, ông đồ đưa lên một ngón tay, tiếp theo thiền sư cũng đưa tay lên,
nhưng đến ba ngón. Ông đồ gật gù, tỏ vẻ thông cảm tiếp thu kịp.
Ông đồ
lại đưa lên năm ngón tay. Thiền sư mỉm cười, lúc đầu ra vẻ khoan dung rồi
đưa hai bàn tay lên, xòe đủ mười ngón.
Ông đồ
chặc lưỡi tỏ vẻ thán phục, đưa tay vẽ một vòng tròn. Thiền sư có vẻ bất
bình, đưa tay, hất mạnh, chỉ ra ngoài ngõ.
Ông đồ
sụp lạy, cung kính cáo từ ra về. Tiễn y đến tam quan, Hòa Thượng hỏi:
- Sao,
chú thấy thế nào?
- Ồ quả
là “Thiên niên thiết thọ khai hoa dị”. Nghìn năm cây sắt đơm bông dễ…nhưng
tìm được một người như thiền sư Tà Lơn thì quả là khó. “Tam sinh hữu hạnh”
mới có một cuộc đối đáp như chớp nhoáng xoẹt lửa như thế.
- Ngài đã
nói với chú những gì?
- Ồ, Hòa
Thượng làm sao hiểu thấu!
Hòa
Thượng khẩn khoản:
- Tôi ở
chốn rừng núi quê mùa, dốt đặc cán mai. Xin chú làm ơn thuật lại tỉ mỉ cho
tôi mở rộng tầm con mắt. Tại sao chú lại đưa lên một ngón tay?
- Đó là
chỉ “Nhất tâm”…
- Còn ổng
đưa lên ba ngón tay là sao?
- Đó là,
nhất tâm… tam giới. Một tâm nhưng bao trùm cả ba cõi, đầy đủ thể tướng
dụng. Đó là pháp. Ngài đã đưa ra “Tam giới” để trả lời cho “Nhất tâm”.
Thật là hay, hay tuyệt!
- Rồi khi
chú đưa năm ngón tay lên?
- Đó là ý
hỏi: “Nhưng đối với kẻ đã lỡ tạo tội ngũ nghịch thì sao?”.
- Rồi ổng
đưa mười ngón tay?
-Ý dạy:
“Phải khuyên đương sự tu mười điều thiện”…
- Ồ, hay
quá! Chỗ này thì tôi đã hiểu kịp. Thế, lúc chú đưa tay vẽ một vòng tròn?
- Tôi
muốn nói: “Chúng ta đang đi quanh quẩn trong vòng luân hồi vô tận”.
- Và ổng
lắc đầu, hất tay chỉ ra ngoài ngõ?
- Ý ngài
nhắc chúng ta phải có chí hướng thượng, vĩnh xuất tam giới…Xong, Ngài
buông thỏng hai tay, lắc đầu tỏ ý là đến chỗ vô ngôn tuyệt lự, bất lập văn
tự. Khi ấy tôi chỉ còn nước im lặng, đảnh lễ ra về mà vẫn nghe pháp âm rền
vang như sấm nổ.
Ông đồ
cáo từ. Hòa Thượng trở vào, gặp thiền sư Tà Lơn, tức chàng bán đậu hũ đang
đứng lúng túng trong đống y cùng áo. Hòa Thượng tiếp tay, giúp anh ta xếp
y cất áo mão xong, hỏi:
- Chú ra
dấu hiệu gì mà hắn ta chạy một mạch vậy?
Anh bán
đậu hũ cười hề hề:
- Có chi
đâu! Cũng chuyện làm ăn mà. Đâu có gì ngoài việc mua với bán. Hắn gạt Hòa
Thượng chứ đâu có qua mắt thằng bán đậu hũ này nổi!
- Chú
thuật lại đầu đuôi cho ta nghe thử!
- Đầu
tiên hắn ta đưa lên một ngón tay, ý hỏi: “Bao nhiêu một miếng đậu hũ” Con
liền xòe ba ngón, tức “Ba đồng bạc”.
Hắn liền
đưa ra năm ngón tay, tức là ngỏ ý mua năm miếng. Con nghĩ hôm nay bán ế,
mình để giá vốn cho hắn, nên đưa lên mười ngón, ra giá là mười đồng. Thấy
rẻ, hắn động lòng tham, đưa tay ra dấy hỏi mua hết cả thúng…Con nổi sùng
hất tay bảo hắn ra chợ hỏi xem có ai chịu bán giá đó không? Còn thúng đậu
ế này, thà rằng con đem cúng thầy làm chao cúng rằm cho có phước…
Từ đó,
ông đồ không làm phiền Hòa Thượng nữa. Có lẽ ông đã nghe đầu đuôi câu
chuyện, vì bác đậu hũ không phải là một người kín miệng cho lắm…
Như Thủy
Người làu thông pháp học và đọc thuộc lòng kinh
điển mà không thực hành theo lời Phật dạy. Thì con người ấy tựa hồ như kẻ
chăn bò, tay có đếm bò nhưng đó là bò của người khác.
Ảo ảnh↑
Thuở xưa,
có một vị Hoàng tử chào đời trong niềm vui mừng của nhà Vua, Hoàng hậu và
thần dân của cả nước. Nhưng không may cho cậu bế, Hoàng hậu mất rất sớm,
bà mẹ kế muốn giành ngai vàng cho con trai mình nên âm mưu cho bộ hạ mang
Hoàng tử vào rừng giết đi.
Vị Thái
giám mang chú bé vào rừng nhưng không nỡ xuống tay, đành giao đứa bé ngây
thơ lại cho bọn thợ săn sống nơi triền núi. Chú bé lớn dần lên vô tư như
một cây xanh dưới nắng và gió… Hoàn toàn không hay biết gì về nguồn gốc
vương giả của mình.
Thời gian
trôi qua, chẳng bao lâu chú bé trở thành một thanh niên cường tráng…Chàng
trai vẫn vô tư sống giữa đoàn thợ săn như một cội tùng non xanh, tâm tư
hoàn toàn thoải mái như thú rừng. Chàng không hề biết đến những trần ai
khổ lụy của những con người phố thị. Cho đến một hôm, người trưởng đoàn
thợ săn cho phép chàng theo ông ta xuống núi.
Những
bước chân vô tư của chàng Hoàng tử có cội nguồn vương giả thản nhiên đặt
chân trên những nẻo đường của đế đô, nơi mà trước kia dân chúng đã đặt
hương án chào mừng ngày sinh của chàng.
Chàng
trai vô cùng kinh ngạc về sự xa xỉ của dân phố thị, chàng không hiểu tại
sao thế nhân lại có thể chìm đắm cười khóc theo những trò đời, mà theo
chàng nhận xét có vẻ ấu trĩ và điên rồ không tả.
Sau hai
tháng rong chơi ở thành phố, thấy mãn nhãn những màu sắc vinh hoa phú quý
của trần đời, chàng theo người trưởng đoàn trở về, lòng không vương một
hạt bụi nhỏ, rừng núi gió trăng và kiếp sống hạt nội mây ngàn tưởng chừng
là một thế giới riêng biệt thân yêu của chàng. Trên đường về hai thầy trò
dừng chân bên một bờ suối vốc nước uống…Khi bất trợt ngẩng mắt lên chàng
trai trẻ sững sờ kinh ngạc, chưa bao giờ chàng trông thấy một thiếu nữ
quyến rũ như thế. Trong khoảnh khắc núi rừng trở nên âm u tẻ nhạt…Một cái
gì chợt thức dậy trong lòng chàng…Một sức sống mãnh liệt bừng dậy khắp mọi
nơi, chàng trai tưởng chừng như mình mới mở mắt lần đầu tiên…Dường như
chàng mới thức dậy sau một giấc ngủ nghìn năm mê mệt…Trời xanh hơn, mây
trắng bồng bềnh, cây cỏ lá hoa đều đậm đà mầu sắc một cách kỳ diệu. Thần
ái tình đã bắn mũi tên định mạng. Người trưởng đoàn đã thấy niềm xao xuyến
của người trẻ tuổi…Ông bồi hồi nhớ lại thời thanh xuân của mình và bất
giác rùng mình, cánh chim đại bang vương giả sắp đến ngày ra ràng…Những
hốc đá hoang vu của ông không đủ rộng cho đại bàng dang cánh, ông chỉ thấy
lòng đau xót, đắng cay. Có phải đây là đoạn đường mà ai cũng đã một lần
hăm hở bước qua? Và mấy ai qua đó mà không thân bại danh liệt, nước mắt
tràn mặt mày.
Vì thế
khi chàng trai trả lúng túng ngỏ ý xin rời đoàn ít lâu. Ông chỉ im lặng
nhìn chàng…Và sau cái nhìn lặng lẽ của ông, con chim đại bàng liền tung
cánh.
Người
thiếu nữ đã đánh thức giấc ngủ bình an của chàng thanh niên quả là một
nhan sắc hiếm có, và cũng giống hệt như bao nhiêu mỹ nhân khác, nàng rất
tự kiêu về mình. Chàng trai đã bao lần quý gối trước mặt nàng xin suốt đời
làm kẻ nô lệ, nhưng nàng vẫn lạnh lùng. Song thân cô con gái khám phá ra
nơi kẻ si tình có một sức mạnh vô địch và họ không bỏ qua điều đó. Để lấy
lòng ông bà nhạc tương lai và nhất là người đẹp, chàng trẻ tuổi đã làm
quần quật suốt ngày, phá rừng vỡ núi…Chàng không từ nan một trở ngại nào
miễn sao được thấy mặt nàng là đủ…Chàng cũng mơ hồ cảm thấy mình đã đặt
mối đam mê vào một khoảng trống…hệt như tất cả kẻ si tình khờ dại khác,
chàng trai mới lớn này đã hăng say lao đầu vào bể khổ với tất cả sự vụng
dại lẫn thật thà. Niềm hy vọng của chàng sống leo lét cho đến một ngày kia
nhà vua mở cuộc đi săn…qua vùng đất hứa và như một định luật thiên nhiên,
cô gái đẹp nhất vùng đã tìm đến quân vương trẻ tuổi.
Mọi người
đã không khám phá ra tài thiện xạ của chàng trai miền núi…mãi đến khi nhà
vua trẻ tuổi của họ ngã gục dưới mũi tên của kẻ tình địch, thì chàng trai
đã nhanh chân chạy mất, lẹ như một con cheo. Chàng chạy trốn như một tên
điên, toàn thân ướt đẫm mồ hơi và vết cào xước của cây rừng…Cho đến lúc
kiệt sức, ngã gục bên bờ suối, chàng mới chợt thấy mình đang ở bước đường
cùng…cuộc đời chàng há không đã chấm dứt rồi sao? Hình bóng mỹ nhân như
một mũi tên cắm sâu vào lòng ngực. Đó là một nỗi niềm đau nhức mới lạ và
khó chịu…Số ngôn từ ít ỏi và chất phát của chàng không đủ để diễn tả nỗi u
uất sầu khổ, chàng chỉ có cảm giác như một con thú rừng bị trúng tên độc
và đang thoi thóp thở những hơi cuối cùng…Chưa đến một năm mà chàng đã đi
đến cuối đoạn đường, chàng trai trẻ hồn nhiên vui tươi của rừng núi đã ngã
gục bên kia bờ suối. Con đại bàng vương giả vừa dang cánh đã gục chết trên
cây.
Khi chàng
tỉnh dậy chàng không biết mình ở đâu, mê hay tỉnh. Chàng đang nằm trêm một
đệm rơm, và bên bục đá là một vị sư đang ngồi tịnh tọa. Gương mặt của
người dường như phảng phất một nụ cười…Đôi mày của nhà sư bạc trắng như là
một cánh hạc, nhưng màu da lại hồng hào, khuôn mặt ấy có một cái gì vừa
hồn nhiên vừa ngây thơ như trẻ nít. Chàng đưa mắt quan sát vẻ đơn sơ của
một nơi ẩn dật và bắt gặp một rổ khoai nấu chín còn âm ấm, nằm trong tầm
tay với của mình.
Mãi đến
chiều hôm sau nhà sư mới xuất định…Người nhìn chàng trẻ tuối với ánh mắt
của một người thân. Chàng trai đọc được niềm thương hại lẫn sự chế nhạo
trong nụ cười của nhà tu. Chàng kính cẩn dâng nước cho ông như một chú
tiểu sơ cơ mới vào đạo. Hai thầy trò không nói với nhau một lời. Trò không
dám mở miệng trước và thầy sau khi uống một ngụm nước đã nhập định trở
lại.
Nhìn
gương mặt bình an của nhà tua, chàng trai thấy dường như nỗi thống khổ cay
đắng của mình chỉ là một trò chơi trẻ dại. Chàng nhớ lại thời thơ ấu cùng
bọn mục tử chơi đùa, trò chơi thường kết thúc bằng tiếng cãi vã, gây gổ,
lắm khi còn đem đến những màn ẩu đả, phải chờ đến sự can thiệp của người
lớn mới chấm dứt được.
Thuở ấy,
chàng đã nhiều lần tự hỏi không hiểu tại sao mình đã để những quy luật ăn
thua giả tạo của trò chơi gây buồn phiền uất hận. Khi từ giã đoàn mục tử
để đeo đuổi mỹ nhân, chàng há đã không hăng say lao đầu vào trò chơi mới
đó sao? Trò chơi vẫn chưa kết thúc…Và chàng thì đã mất hết sức sống.
Thế giới
của nhà tu bình an như một mặt nước, có phải vì họ bỏ cuộc chơi hay đã nắm
vững trò đùa không bị nao núng bởi những quy ước giả tạo của thế gian.
Bảy ngày
trôi qua, nhà sư ngoài những giờ tĩnh tọa vẫn im lặng như một tảng đá.
Chàng trẻ tuổi không thể nào chịu nổi nữa…Một hôm chờ lúc nhà sư vừa xả
thiền, chàng tấn công ngay bằng cách kể lại câu chuyện mình cùng những nỗi
u uất, chán chường đang rút mòn sinh khí chàng. Nhà sư im lặng lắng nghe
và khi chàng trai hỏi một câu. Sư chỉ thốt lên hai tiếng “aỏ ảnh”. Chàng
trai thất vọng nhiều hơn là tức giận, chàng những tưởng tìm đâu có một lối
thoát qua phong cách thoát tục của nhà tu, nào ngờ sư chỉ buông hai tiếng
nhẹ như một làn gió. Chàng dằng giọng:
- Sao có
thể là huyễn hóa được?
Nhà sư
bật cười, với tay lấy bình nước trao cho chàng trẻ tuổi:
- Ta khát
quá!...Không thể nói nhiều được, con cho ta một ít nước suối mát.
Chàng
trai ôm bình ra suối múc nước. Đến lúc ngẩng mặt lên. Ô kìa! Chàng có mơ
chăng? Mỹ nhân đang đứng bên kia, mắt dáo dác như muốn tìm ai. Nhác trông
thấy chàng, nàng đã nhanh như một con sóc, chạy đến quỳ ôm hôn chàng khóc
tức tưởi…
Chàng
trai mềm lòng… Chàng còn được biết thêm rằng sau khi nhà vua băng hà, quan
Thái giám tiết lộ tông tích của chàng và quần thần đang chờ tôn chàng lên
ngôi cửu ngũ.
Và hệt
như một chuyện đời xưa, chàng trai được rước về lên ngôi vua, mỹ nhân làm
Hoàng hậu. Họ sinh ra những đứa con kháu khỉnh và đẹp như tiên đồng ngọc
nữ. Mười lăm năm trôi qua. Sau một trận chiến bại, đức vua bị quân giặc
bắt giam vào ngục đá với bà Hoàng hậu gào khóc phát điên và bầy con chết
nằm la liệt chung quanh…
Nhà vua
thấy tim mình như vỡ ra từng mảnh…Những sợi dây mắt xích, bà vợ điên, đám
con chết nằm đoanh vây, tất cả đè nặng lên con tim già nua của ông.
Ngay lúc
đó ông bỗng nghe tiếng nói nhẹ nhàng của thiền sư:
- Chỉ múc
có một bình nước mà đã hơn nửa giờ…Sao lâu quá vậy chú?
Chàng
trai mở bừng mắt, chàng thấy mình còn đang đứng bên bờ suối, tay ôm bình
nước…Và tóc hãy còn xanh.
Nhà tu
mỉm cười:
- Ảo ảnh
là thế đó chú ạ!
Từ đó
chàng trai không bao giờ rời núi nên không ai biết chàng tịch lúc nào và ở
đâu.
Như Thủy
Thế gian như giấc mộng dài.
Sanh không thác lại tay không có gì!
Đời người như giấc chiêm bao.
Nghìn xưa dễ mấy ai mà trăm năm?
---o0o---
Mục Lục tập 5 |
01|
02 |
03 |
04 |
05 |
06 |
07 |
08
---o0o---
Tập 01 |
Tập 02 | Tập
03 | Tập 04 |
Tập 5
---o0o---
Vi Tính: Tịnh Tâm, Tịnh Hương
Trình bày: Nhị Tuờng
Cập
nhật : 01-11-2003