Truyện Cổ Phật Giáo
Tập 5
Thích Minh Chiếu
Sưu tập
---o0o---
Chuyện con ngỗng trời vàng
^
Thuở xưa,
tại khu rừng Ða Li Kô bên bờ sông Ðại Hằng, có cây bồ đề đại thọ, ngàn năm
tuổi, vươn lên cao, xoè tán rộng, che phủ cả một vùng. Ðây là ngôi làng,
là cố hương, là tổ ấm cho muôn chim đủ loại, đủ sắc màu làm nơi tụ hội,
hát ca, reo vui hoặc ái ân tình tự…
Chủ nhân
của cây đại thọ là vị thần có râu trắng, hỷ xả, nhiều từ tâm. Ngài đón
nhận muôn chim như cháu ngoại, như con cưng hoặc như bằng hữu.
Lâu lâu
vị Thọ Thần lại xuất hiện, như tiên ông trong truyện cổ tích, với nụ cười
và chiếc gậy mây nói chuyện vui với chúng hoặc vài lời dạy khôn ngoan của
bậc già cả.
Lâu lâu,
vị Thọ Thần râu trắng rớm nước mắt, vì bùi ngùi thương tiếc con chim hoàng
oanh kia bị sa lưới mất rồi. Con sáu sậu nọ bị lú bùa mê nên thường đau
xót hơn là chết vì bệnh tật hay già yếu. Sau mỗi lần như thế, vị Thọ Thần
lại khuyên muôn chim nên sống đời yếm ly đô thị, làng mạc, nơi có loài
người. Ôi! Cái loài người kia tâm địa thật khó lường. Sự độc ác, gian xảo
và quỷ quyệt của chúng còn ngàn lần ghê gớm hơn cọp beo hay chồn cáo.
Tuy thế,
cũng chỉ có chừng mực nào thôi. Ðã nhiều lần, vị Thọ Thần đành phải xuôi
tay, trả về chi định luật lạnh lùng của nhân quả nghiệp báo nó vận hành.
Ðã ngàn
năm rồi, vị Thọ Thần cùng cây đại thọ chứng kiến sự thạnh suy, còn mất,
thời gian, sự già lụn, tử vong, đến rồi đi, đi rồi đến. Cảm than, vị Thọ
Thần bước lên đầu cây, thốt một bài ca chưa từng được nghe:
“Ôi vĩ
đại thay là sự vô thường của con người!
Ôi!
Kinh khiếp thay là sự rỗng không của con người!
Ôi!
Khó kham nhẫn thay là trò ảo hóa, ma mị, lá vàng, lá xanh cùng tử vong bên
trong mầm sự sống.
Ta đưa
cao ngọn cừ Mumja! Ta sẽ chiến thắng ngươi với trò chơi yếm ly trần thế.
Ðời
sống của ta, không thỏa hiệp!
Vinh
quang của ta, trăng gió giữa bầu khuya!
Niềm
vui của ta là sự tĩnh an, ngơi nghỉ của linh hồn!
Ta vẫn
còn đây, niềm yêu thương vô biên và sự sống đang trôi chảy đến muôn cùng!
Ta
không biết nhận về, chỉ biết cho đi!
Thịnh,
suy, còn, mất, ta chưa hề sợ hãi!
Chỉ
xót xa xin chúng nhỏ nhoi này!
Chỉ
xót xa mật ngọt thấm đầy môi!”
Hôm kia,
vào mùa xuân, một con ngỗng trời vàng xuất hiện. Chưa bao giờ vị Thọ Thần
thấy được một con chim đẹp đến thế. Những chiếc lông vàng óng ả như được
dát bằng một loại vàng ròng tinh chất. Lại long lánh phản chiếu những hạt
sương mai, túa ra những tia hồng rực rỡ.
Vị Thọ
Thần chiêm ngưỡng một hồi rồi bước ra với chiếc gậy mây, nụ cười hỷ xả làm
rung rinh hàm râu tuyết bạch:
“Chào bạn
Ngỗng trời thân mến! Ta là Thọ Thần tại vương quốc này. Bạn xuất hiện như
phép lạ. Chiếc y vàng nơi thân bạn rực rỡ và tuyệt diệu biết bao. Chẳng
hay, bạn từ quê hương nào mà đến đây?”
Con Ngỗng
trời vàng vương cao chiếc cổ tua vàng vương giả, thò cái mỏ dát son lấm
tấm những hạt ngọc nâu tươi, cất giọng như pha lê reo giữa trời mưa:
“Kính
chào vị tiên ông Thọ Thần khả kính! Tôi từ dãy Tuyết Sơn hùng vĩ giáng
lâm, sau ngôi rừng của những ẩn giả bện tóc hiền thiện. Chẳng hay ngài có
điều gì cần dạy bảo vãn sinh?”
“Không
dám! Ta chỉ hiếu kỳ, ngạc nhiên và thích thú thôi! Thấy được bộ lông vàng
óng trên thân bạn, ta hoan hỷ vô cùng. Bộ lông vàng óng hy hữu kia, không
phải không có nhân duyên, chắc hẳn nó phải được sinh ra từ lòng phước báu
nào trong quá khứ? Bạn có nhớ là do nhân gì, duyên gì mà bạn thưởng được
phước tướng mỹ miều, sang cả như vậy không?”
Ngỗng
trời vàng hốt nhiên trầm tư như nhập định, như cúi nhìn vào vùng mịt mù
dày sâu của ký ức tiền kiếp.
“Thưa
ngài! Thưa tiên sinh! Ngỗng trời vàng mở choàng mắt ra, vãn sinh đã thấy,
vãn sinh đã biết. Ngỗng trời vàng sửa soạn lại dáng đứng để bắt đầu cuộc
nói chuyện lâu. Trước đây, một kiếp rất gần thôi, như mới ngày hôm qua,
như mới một cái chớp mắt, tôi sinh ra trong một gia đình tiện dân nghèo
khổ. Ðến tuổi trưởng thành, tôi lấy vợ rồi sinh ba đứa con, chúng đều là
gái. Khi có vợ, có con, tôi tần tảo làm ăn, mong cho chúng có được manh áo
lành, bữa cơm no bụng. Nhưng mà khổ thay! Suốt đời cứ phải ăn gạo có trấu,
ăn tấm có mùi chua. Áo quần thì vá đùm, vá chụp chẳng có cái nào là lành
lặn. Sự đòi hỏi cấp thiết về đời sống, nên đôi khi tôi phải bán rẻ một
chút ít linh hồn. Tôi sinh ra nhỏ mọn, giật giành. Bị chi phối bởi sân
nhuế và gian tham, tôi làm một vài việc bất thiện. Tuy vậy, tự sâu xa tâm
hồn, tôi vẫn là con người hiền lương và vô hại. Cái đó lên án tôi, và bắt
tôi quay về với lẽ phải, với đạo đức chung chung giữa người đời với nhau.
Ngỗng trời vàng ngước nhìn vị Thọ Thần với tia mắt như thoáng có bóng tối.
- Thưa
ngài! Ðời tôi như vậy đó, chẳng có công đức nào, chẳng có phước sự gì.
Tâm trí ù lì, đần độn mãi bởi cái mặc, cái ăn, ít khi tâm hồn được quanh
minh sáng sủa, như nhật nguyệt, như trời cao, như bầu hư không to lớn. Tâm
hồn tôi cho đến lúc lâm chung là cái trì trệ, nặng nề, tối đen, hôn ám.
Ngỗng trời vàng lại lắc đầu, có sáng sủa nào đâu, có công đức nào đâu! Thế
là si mê kéo tôi đi. Sinh ra cái thân súc vật chẳng tốt đẹp gì? Ngỗng trời
vàng nói xong, thở ra, đôi mắt lờ đờ như sương ướt. Vị Thọ Thần yên lặng
thông cảm hoàn cảnh của Ngỗng trời vàng, lát sau mới nói:
“- Nhân
quả là vậy, bạn ạ! Ta không thể trách được. Phải thấy rõ nhân quả để sống
an lạc, hạnh phúc hơn. Nhân quả là ngọn đèn soi sáng, là chỗ nương tựa cho
đời mình. Nhưng trong cái nghiệp chung, vẫn có cái nghiệp riêng. Cũng là
thân chim, nhưng thân chim như bạn cũng thảnh thơi và an lạc như kiếp Thọ
Thần, như tôi chẳng khác. Cái quả ấy là do nhờ bạn đã chu toàn nghĩa vụ
gia đình, lo cho vợ, cho con, hy sinh bản thân mình cho ấm no của kẻ khác.
Bạn có thấy cái riêng đó không? Ngoài ra, bạn lại có cái riêng khác nữa,
cái riêng trội vượt. Cái riêng này chắc hẳn phải do một việc làm hy hữu,
một công đức hy hữu tạo thành. Chiếc y vàng vương giả diễm lệ nơi thân bạn
không phải là không có nhân duyên vậy”.
Ngỗng
trời vàng sực nhớ lại:
“- Cái đó
thì có, tôi nhớ rồi. Ngày kia, tôi lên rừng kiếm củi độ nhật. Trên đường
về, qua suối, tôi gặp một người. Ôi! Sao trên đời lại có kẻ khổ sở đến
thế? Tôi đã khổ, đã ốm o gầy mòn, da lòi xương mà kẻ kia còn hơn. Tôi còn
được chiếc áo rách, vị kia lại mặc bằng lá, bằng vỏ cây. Tôi bèn dừng lại
và hỏi: Này người ơi! Sao người khổ đến thế? Ðừng nói đến cơm trấu và tấm
chua, ngay đến nước vo gạo để uống cầm hơi, người cũng không có, đừng nói
chuyện áo rách, áo lành, cái vỏ cây kia cũng đã tơi tả. Người chẳng có họ
hàng, bà con quyến thuộc gì cả hay sao? Khi nghe tôi nói thế, vị kia ngước
lên nhìn tôi với đôi mắt hiền từ và nụ cười hỷ xả, y nói: “Này người tiều
phu tốt bụng! Nghèo đói, cơ hàn là bạn của bậc ẩn sĩ. Chiếc áo vỏ cây là
áo giáp thiện hạnh ngăn che sự xâm phạm độc hại của ác uế ngũ trần. Bà con
quyến thuộc của ta là vô tham, vô sân, tàm quý và từ bi hỷ xả. Như vậy,
đời sống của ta đã quá đầy đủ, đã quá an lạc. Sao ngươi với gánh củi trên
vai, với gánh vợ con trên lưng, lại thương xót ta là người đã buông hết
mọi gánh nặng? Là người đang sống đời nhàn lạc của bậc Ðại Thiên?”.
Ngỗng
trời vàng yên lặng rồi tiếp:
- “Lời
nói của vị kia chắc hẳn là hay lắm nhưng tôi không hiểu hết ý nghĩa. Trên
đường về nhà, thấy có gió lạnh, tôi biết mùa Ðông sẽ đến, nghĩ rằng vị kia
sẽ lạnh lẽo không có một tấm vải nào, tôi động mối từ tâm. Về nhà, giấu
vợ, giấu con, tôi mở rương lấy một tấm vải vàng. Ðây là tấm vải bó tử thi
mà tôi đã lượm được nơi nghĩa địa đã giặt sạch sẽ. Tấm vải không quý với
ai nhưng quý với gia đình tôi. Thế là tôi chạy lên rừng, tìm kiếm vị ẩn sĩ
rồi dâng cúng tấm vải đến con người đó với tất cả sự thương xót của mình.
Sau này tôi mới biết, đó là một nhà tu khổ hạnh, một Ðại Sa Môn hoặc là
một vị Ðộc Giác Phật”.
Vị Thọ
Thần gật đầu:
“-Như
vậy, chính đó là nhân, là duyên cho bộ lông hoàng kim nơi thân bạn. Cái
quả trổ sanh của nó còn vạn lần vi hiệu hơn nữa kia. Rồi bạn sẽ được nương
tựa dài lâu. Ta thành thật vui mừng cho bạn vậy”.
Vị Thọ
Thần chợt nhìn Ngỗng trời vàng rồi thiết tha nói:
“- Như là
bổn phận của một lão niên. Như là kinh nghiệm của người đã sống quá nhiều,
quá lâu, đã chứng kiến không biết cơ man nào là chuyện trong đời sống bất
trắc và bấp bênh này. Ta có một vài lời khuyên, hỡi bạn ngỗng vàng thân
mến”.
“- Ngài
cứ nói. Ngỗng trời vàng cúi đầu tỏ vẻ kính trọng chắc hẳn là những lời dạy
bảo đầy không ngoan và sáng suốt”.
“- Không
dám, ta chỉ nói lên những sự thực thôi. Là bộ lông hoàng kim của bạn, vì
nó quá đẹp nên cũng dễ đưa đến tai họa. Vậy thì bắt đầu từ ngày hôm nay,
bạn chớ có khinh suất mà đi đến đô thị, làng mạc, ruộng đồng, nghĩa là nơi
có loài người. Thấy được bộ lông hoàng kim của bạn, họ sẽ sanh tâm tham
muốn, họ sẽ bắt, sẽ bắn, sẽ đặt bẫy. Dẫu bạn có biết, có khôn ngoan cách
mấy cũng không qua được sự khôn ngoan của loài người. Và như vậy, tính
mạng của bạn sẽ bị đe dọa thường xuyên. Bạn hãy suy nghiệm kỹ về điều đó”.
Ngỗng
trời vàng thở dài:
“-Chí lý
thay là những lời khuyên tốt. Nhưng biết làm thế nào? Ở chốn loài người,
tôi còn vợ và ba con. Có tôi chúng sẽ đỡ khổ một phần. Không có tôi, chắc
chúng phải đi ở thuê, ở mướn, làm việc cực nhọc với nước mắt và đòn vọt.
Biết là hiểm họa sẽ đến, nhưng tôi không thể từ bỏ ý định về thăm chúng
được”.
Vị Thọ
Thần lại nói:
“-Thương
vợ, thương con là những tình cảm tốt đẹp. Những ái niệm thái quá lại sanh
phiền não, đau khổ cho mình. Bạn đã trút bỏ hết bổn phận nơi cõi người
cùng với hơi thở của bạn. Bây giờ là nghiệp khác, đời sống khác, bổn phận
khác. Hãy nghe lời khuyên của ta mà trở lại rừng sâu, nơi chỗ các ẩn sĩ
bện tóc hiền thiện ở Tuyết Sơn. Ở đó bạn sẽ yên lành như trong ngôi nhà
của mẹ”.
Ngỗng
trời vàng vẫn lắc đầu:
“-Biết là
lời khuyên chí tình, chí thiết nhưng tôi cũng không thể nghe theo. Tôi an
tâm mà sống đời ẩn sĩ sao được, khi vợ con tôi đang nai lưng làm trâu ngựa
cho người, sống đời cơ cực. Tôi phải đến để tìm cách giúp đỡ cho họ”.
Vị Thọ
Thần với tâm mình, biết tâm của chúng sanh. Biết nghiệp sẽ đến như thế nào
cho con Ngỗng trời vàng này. Nhưng mọi lời khuyên đã trở nên vô ích. Ngài
chợt đứng cao mười tầm thốt nốt giữa hư không, cất lời ca hòa lẫn với mây
ngàn cũng gió núi:
“-Hỡi đàn
chim bay về phương Nam!
Ngươi đã
biết phương kia trời nắng ấm!
Hỡi đàn
chim bay về phương Bắc!
Ngươi
biết rằng nơi ấy tuyết lạnh đã ra đi!
Thế nhưng
vẫn có kẻ ra đi trong vô vọng,
Chẳng
thấy hướng đến là đâu?
Chẳng
biết chuyện gì sẽ xảy ra?
Trái chín
phải đợi tiết, hoa nở phải đợi thời.
Vậy này
bạn vàng yêu quý!
Hãy thôi
đi sự cứu độ vô ích.
Cát bụi
quá nhiều làm sao thấy được tấm lòng tốt đẹp của nhau?
Ðêm đen
quá sâu, làm sao chỉ lối, dò đường bằng ngọn đèn quá mọn?
Ðôi tay
của chút ít phước báu chẳng thể ngăn nổi dòng sông nghiệp lực.
Cõi lòng
người tội lỗi kia sẽ vặt trụi lông cánh của bạn mất thôi!”.
Ngỗng
trời vàng cúi đầu lắng tai nghe với nước mắt, nhưng tâm ái luyến vợ con
quá nặng đành phải lắc đầu từ chối.
Vị Thọ
Thần bùi ngùi nói lời cuối cùng:
“-Nơi khu
rừng Ða Li Ko, bên bờ sông Ðại Hằng yên tĩnh, nơi vương quốc hòa bình này,
có ta luôn luôn mong ngóng sự trở về của bạn. Không những bạn trở về với
đôi cánh trần trụi, cho chí những vết thương đau cả thể xác lẫn tâm hồn,
gốc Ðại Thọ Bồ Ðề này vẫn là tổ ấm muôn đời của chúng ta!”.
Vị Thọ
Thần nhìn theo bóng chim mất hút cuối phương trời xa, nhòa lệ…
Ngỗng
trời vàng sau khi chia tay với vị Thọ Thần, đêm đi ngày nghỉ với đôi cánh
vàng rực rỡ lướt qua hư không, sợ sự nhòm ngó của loài người, nên chim đi
rất chậm vào ban đêm, ngày tìm ẩn trong những bụi cây rậm rạp. Lâu ngày
chầy tháng cũng về đến thành phố Ba La Nại. Ðúng như dự đoán của Ngỗng
trời vàng, sau khi nó mất, vợ và ba con phải đi ở thuê cho một hào phú cay
nghiệt, ăn cơm với gạo tấm chua, mặc áo quần thô như da vỏ cây. Lại còn
phải chịu sự chửi mắng đánh đập thường xuyên. Dẫu có thương vợ, thương con
cũng chỉ còn biết sa nước mắt. Chim tìm ẩn kín đáo vào một lùm cây đại thọ
đầu làng, tìm cơ hội để giúp đỡ họ.
Trong
sương mờ đầu xuân, trên quan lộ, dưới tầm mắt của chim chợt xuất hiện
những chiếc xe ngựa sang trọng. Con trai, con gái trang sức những chiếc
lông ngỗng trên áo, trên mũi, rải rác là một vài đoá hoa.
Ngỗng
trời vàng thầm nghĩ.
“-Ôi!
Những vật trang sức xấu xí kia thì có gì đáng để hãnh diện? Nếu như chúng
mà có được những chiếc lông hoàng kim của ta, thì chúng sẽ còn đẹp hơn,
trẻ trung hơn. Sao ta không giúp cho vợ con ta mỗi ngày một chiếc lông,
để chúng bán cho người làm vật trang sức tối thượng?
Trời cũng
dễ chiều lòng người, chỉ một lát sau là vợ con nó cùng xuất hiện với cày
với cuốc trên vai. Ðợi họ đến gần, Ngỗng trời vàng bèn nói vào tai họ bằng
âm thanh của một vị thần khuất mặt:
“-Hỡi
những kẻ đau khổ đáng thương! Ta không nỡ để cho các ngươi sống đời nô lệ.
Vậy mỗi buổi sáng, hãy đến đây, đứng xa dưới cội cây, ta sẽ ban cho các
ngươi cái bổng lộc của cõi trời”.
Người nữ
tiện dân già cùng ba con nghe tiếng nói chứ không thấy người, bỏ cuốc bỏ
cầy, chắp tay hướng đến gốc cây vái lia lịa:
“-Vị Thọ
Thần, ngài ở đâu? Ðây là lời hứa thật cho kẻ tội nghiệp chúng con?
Không có
tiếng đáp lại. Bỗng, một vật vàng chóe vọt ra từ lùm cây, rơi xuống trước
mặt họ. Cả bốn người đồng xửng xốt. Ðấy là một chiếc lông to bằng vàng
mười láng mịn, đang lóng lánh dưới mặt trời. Chẳng phải là giấc mơ, chẳng
phải mắt họ quáng mờ. Sự thực đang ở trong tầm tay họ đây.
“-Không
biết nặng bao nhiêu MaSaRa?”.
“-Có lẽ
hơn trăm MaSaRa!”.
Người nữ
tiện dân già nói với ba con rằng:
“-Nếu bán
làm vật trang sức cho hạng dân giả, nó chỉ là chiếc lông vàng đẹp, không
hơn không kém. Nếu bán tại tiệm kim hoàn thì giá trị là phân là lạng. Muốn
được giá cao nhất, hãy bán cho các vị tiểu thư, các bà mệnh phụ. Khi mà
chiếc lông đã tôn sắc đẹp của họ lên, và chắc hẳn như vậy, thì họ sẽ quẳng
cho ta cả nắm vàng không thương tiếc. Tiền bạc đối với họ có nghĩa gì?”.
Thế là bỏ
cầy, bỏ quốc, với chiếc lông vàng, họ đi vào thành phố, quay lưng với Thọ
Thần, không một lời cảm ơn. Ngỗng trời vàng hân hoan nhìn theo họ, nghĩ
rằng: Vì vui mừng quá, khi đi họ quên chào hỏi, cũng là sự thường!
Ngày hôm
sau tiếng con Ngỗng trời vàng văng vẳng đến tai họ:
“-Các
người đã không ngoan nên bán được giá mà không bị các ông chủ tiệm vàng
lường gạt, gian lận. Không bị bọn trọc phú dè bỉu, ỉ ối. Hãy nhận thêm một
chiếc lông nữa, bán cho bà Công chúa giàu sang với chiếc xe bốn ngựa xắp
đi qua đây. Cộng với số tiền hôm qua, các người hãy mua cho mình những bộ
áo quần lành lặn. Và ăn những bụng cơm trắng, có thịt, có rau.”
Thêm một
chiếc lông vàng chóe vọt ra từ lùm cây. Chốc sau, quả nhiên có chiếc xe
bốn ngựa với bà Công chúa sang trọng đi qua. Sau khi nhìn ngắm kỹ chiếc
lông vàng trân quí và đẹp đẽ, bà Công chúa sai thị nữ quẳng cho họ một nắm
tiền vàng, lại còn dặn:
“-Ðây là
vật trang sức của giai cấp quý tộc. Hỡi bọn tiện dân nghèo khổ! Ta là Công
chúa con vua sứ Ma Kiệt Ðà, ta không tiếc tiền đâu. Có bao nhiêu chiếc
lông vàng, đem bán hết cho ta!”.
Cả gia
đình, vợ con Ngỗng trời vàng, thế là thoát kiếp bần cùng nghèo khổ từ ăn
no mặc ấm, họ đã ăn ngon mặc đẹp. Từ màn trời chiếu đất, họ đã có một ngôi
nhà, một mảnh vườn. Từ vô sản, họ đã có của nổi, của chìm. Tuy thế người
nữ tiện dân già không bằng lòng như vậy, bà ước mơ một đời sống sang trọng
hơn, quý phái hơn, với tôi trai, với tớ gái, với thóc đụn đầy kho, với lên
xe xuống ngựa, với lầu vàng, cửa bạc. Người nữ tiện dân già đã mấy lần để
ý, kia chẳng phải vị Thọ Thần nào cả, mà con Ngỗng trời vàng đã tự ý nhổ
từng chiếc lông của mình mà cho họ. Người nữ tiện dân già thầm nghĩ:
“-Giá mà
có được cả bộ lông vàng ấy nhỉ!”.
Hôm kia,
sau khi cho chiếc lông thứ mười tám, con Ngỗng vàng xuất hiện, và nói với
cả bốn người:
“-Này vợ,
này con! Ta là chồng và cha của các ngươi đây! Vì kiếp vừa rồi ta sống tối
tăm, không tạo được một chút gì công đức, phải mong thân điểu. May nhờ ta
có cúng một tấm vải vàng đến vị ẩn sĩ thanh tịnh, ta mới có một bộ lông
hoàng kim đẹp đẽ như ngày hôm nay. Nhân quả thật rành rành. Vì lòng thương
vợ, thương con mà ta trở lại chốn loài người để giúp đỡ các ngươi. Nay các
ngươi đã no đủ, đã có thể có đủ vốn liếng để tự mưu sinh. Vậy hãy sống đời
hiền lành, làm các công đức để lấy nơi nương tựa lâu dài về sau!”.
Nữ tiện
dân già đã sớm bàn với các con rằng: Phàm sống ở đời là phải biết ơn đền
oán trả. Ân nhân của ta giúp ta thoát kiếp tôi đòi nô lệ. Ðã cho ta những
tấm vải lụa Kasi mịn màng tươi đẹp, đã cho ta những bữa cơm ngọt với thịt
và cá. Vậy chúng ta phải tìm cách thỉnh mời ân nhân về nhà để cung phụng,
hầu hạ như đối với một vị Pham Thiên! Nay nghe Ngỗng trời vàng tiết lộ
như vậy, một phần vì xúc động, một phần thì sợ Ngỗng trời vàng sẽ bỏ đi,
bèn khóc lóc mà rằng:
“-Ông ơi!
Thế ra là tình xưa, nghĩa cũ. Ông đã có tâm nghĩ đến vợ con như thế, thì
ra trời đất cũng có kẻ thủy chung. Cái lòng tôi đối với ông há lại không
được như mảnh trăng tròn vành vạnh hay sao?”.
Rồi chỉ
ba con và kể lể:
“-Nay
chúng ta nở da nở thịt. Lại được phấn son trang điểm, nhàn hạ, thảnh
thơi. Thấy chúng được như vậy chắc ông cũng hởi lòng hởi dạ. Cõi người,
cõi chim dẫu hai ngả nhưng tấm lòng nào dễ rẽ phân? Vậy sao ông không trở
lại với gia đình, đoàn viên sum họp một nhà, cùng chung ấm lạnh ngọt bùi
cho bõ tháng ngày xa cách vì sinh ly tử biệt?”.
Ngỗng
trời vàng nhìn vợ, nhìn con, tâm tình súc động. Biết đã bao tháng bao ngày
cô đơn, Ngỗng càng thèm cái ấm cúng của hạnh phúc, thèm ngôi nhà và bếp
lửa.
“-Cha ơi
cha! Cha nỡ nào lìa bỏ chúng con? Ba cô con gái đồng lòng nức nở. Khi
cha còn sống chúng con còn thơ dại. Bây giờ dẫu có thác rồi, thân chim
vàng lại chính là thân cha. Sao cha không cho chúng con được đáp trả một
phần nào chữ hiếu? Chúng con nào đã có tội tình gì?”.
Không cầm
lòng được nữa, Ngỗng trời vàng bay theo họ về nhà. Người nữ tiện dân già
dọn một chỗ cao ráo, trang trọng nhất ở trần thượng cho Ngỗng và hằng ngày
lo cái ăn cái uống thật tươm tất, cho đáo. Ba cô con gái lúc này có tiền
có bạc nên xân xan xe ngựa, điểm trang diêm dúa, rong chơi thị tứ, đô
phường nên vắng nhà luôn. Dẫu thế, họ cũng chưa đến nỗi quên bẵng người
cha tội nghiệp.
Ngỗng
trời vàng cứ theo thường lệ mỗi buổi sáng khi mặt trời vừa lên niệm Ba La
Mật, với tâm bố thí, bắn ra một chiếc lông vàng. Nhìn vợ và ba con có đời
sống sung sướng. Ngỗng được an ủi rất nhiều. Tuy thế, đây không phải là
nơi ở đời ở kiếp. Ngỗng còn có đồng loại và bằng hữu ở rừng sâu, trước sau
gì cũng phải từ giã.
Nhưng
người nữ tiện dân già đã có manh tâm, chẳng nghĩ đến ân nhân, chẳng nghĩ
đến tình xưa nghĩa cũ, bởi lòng tham đã làm cho quáng mắt. Hôm nọ, vào lúc
bất ngờ nhất, bà rình chụp Ngỗng cả hay tay ham hố của mình. Rồi vặt cả bộ
lông vàng óng ả. Khi Ngỗng biết ra thì đã muộn rồi. Từng sợi lông bị bứt
lìa khỏi thân là nhưng cơn đau xé trời và lẫn với máu và nước mắt. Ngỗng
không còn đủ sức để rên la nữa, mà cảm nghe mình như bị tước ra từng mảnh,
rồi ngất lịm đi. Chỉ còn trần trụi cái thân đỏ hỏm, máu đọng thành vũng.
Ngỗng
tỉnh lại trong đống rác tối đen và hôi hám, nó thử xòe đôi cánh máu ra,
như chỉ còn sự run rẩy lẫn cơn đau ngất trời. Nó lại gục xuống trong đống
máu bầy nhầy, tanh tưởi. Kiến bắt đầu tìm tới, bò lên những vết thương lở
loét mà cắn mà rứt không thương tiếc. Ruồi nhặn nghe mùi, bám đầy như đám
đỗ đen. Ngỗng đau đớn và khó chịu thái quá, nhưng ngàn lần đau đớn hơn là
vết thương ở trong tâm hồn. Vết thương nơi thân, dẫu kinh khủng nhưng có
lúc sẽ lành. Còn vết thương bên trong thì không bao giờ lành được. Vĩnh
viễn! Vĩnh viễn vết thương này sẽ mưng độc và sẽ lở lói suốt cả cuộc đời
còn lại.
“-Ôi vợ!
Ôi con! Ôi nhân tình thế thái!”.
Ngỗng rên
than âm thầm, nức nở, nhưng ai có nghe cho.
Còn về
phần người nữ tiện dân già, sau khi vặt trụi lông Ngỗng, chuyện gì sẽ xảy
ra? Người đàn bà ngạc nhiên quá! Ôi còn đâu những sợi lông hoàn kim óng ả,
bằng vàng ròng tinh chất và túa ra ánh sáng, chúng đã nhạt màu và hiện
nguyên hình là những chiếc lông ngỗng tầm thường. Người đàn bà đâu biết
rằng những chiếc lông sỡ dĩ biến thành vàng ròng tinh chất, đẹp đẽ là nhờ
vào nguyệt lực của Ngỗng trời, nhờ vào từ tâm, hoan hỷ cùng sự xả ly bố
thí. Nếu dùng sức mạnh ngoài ý muốn của Ngỗng thì phước báu kia sẽ không
còn tồn tại! Ôi, ai là người có thể hiểu được: “Tham chính là lửa, sân
chính là lửa. Nó sẽ thiêu rụi, đốt cháy ngay tức khắc những đoá hoa diễm
lệ thanh tân vốn được sanh ra từ lòng phước báu, từ khí hậu mát mẽ, thanh
hương của từ tâm và hoan hỷ?”.
Người nữ
tiện dân già với tất cả tâm bực bội và sân hận, quẳng con Ngỗng trời vào
một cái thùng rác rồi bỏ đi. Bà vô cùng sầu muộn và tiếc rẻ. Những người
con gái đi chơi về, thấy cha chúng như vậy, không nỡ giết bỏ, cố gắng săn
sóc vết thương cho Ngỗng. Chúng không thèm hỏi nguyên nhân tại sao. Chúng
không đổ một giọt nước mắt. Chút từ tâm cuối cùng này, nếu có, cũng đã
hóa đá mất rồi!
Ngỗng
trời nằm trong cái thùng, làm bạn với lũ kiến ruồi, nước mắt rỉ máu. Cho
đến lúc này Ngỗng mới thấy thấm thía lời khuyên bảo khôn ngoan của vị Thọ
Thần nơi khu rừng ÐaLiKo:
“Này bạn
vàng yêu quí! Hãy thôi đi sự cứu độ vô vọng! Cát bụi quá nhiều làm sao
thấy được tấm lòng tốt đẹp của nhau? Ðêm đen quá sâu, làm sao chỉ lối, dò
đường bằng ngọn đèn quá mọn? Ðôi tay của chút ít phước báu làm sao ngăn
nổi dòng sông nghiệp lực? Cõi loài người tội lỗi kia sẽ vặt trụi lông cánh
của bạn mất thôi!”.
Và đây
chính là niềm an ủi cuối cùng của Ngỗng trời?
“-Không
những người bạn trở về với lông cánh trần trụi, cho chí những vết thương
đau cả thể xác lẫn tâm hồn của chúng ta”.
Thời gian
sau, nhờ Tâm xả, các vểt thương cuả Ngỗng đều lành. Rồi lú nhú những lông
khác bắt đầu mọc ra. Người nữ tiện dân già lòng mừng khấp khởi, sai người
đóng một cái thùng để cho Ngỗng có chỗ nghỉ ngơi sạch sẽ. Bà tính rằng:
lần này ta không còn ham hố nữa. Mỗi ngày chầy tháng cũng đếm được cả
trăm, cả ngàn. Vả, các bận khôn ngoan từ ngàn xưa cũng đã từng dạy rằng ăn
ít ắt no lâu, ăn nhiều tức bụng! Cái lý nó vậy mà ta không hiểu ư?
Thế là
người nữ tiện dân già dành nhiều thì giờ cho việc chăm sóc tẩm bổ Ngỗng.
Bà không tiếc tiền mua những thức ngon vật lạ, với hy vọng Ngỗng nở da nở
thịt, thì lông cũng sẽ mau dài. Và quả như thế thật, những chiếc lông dài
rất nhanh. Bà đếm tới đếm lui và theo dõi hàng ngày.
Nhưng
than ôi! Hy vọng quá nhiều thành ra thất vọng quá lớn. Lông của Ngỗng
không còn là màu hoàng kim nữa, mà là màu trắng bạc: màu trắng bạc như
vôi! Cái lông mà cũng muốn chế giễu nhân tình thế thái đó chăng?
Khi lông
cánh đã đủ đầy, nghĩ rằng mình đã đủ sức bay đi, Ngỗng bắt đầu tìm cách
thoát thân. Lợi dụng lúc mọi người vắng nhà, Ngỗng xổ lồng, nhắm hướng Hy
Mã Lạp Sơn trực chỉ. Bây giờ thì Ngỗng không còn sợ hiểm họa bởi bộ lông
hoàng kim nữa nên tung cánh suốt ngày. Không bao lâu, rừng cũ hiện ra,
lòng Ngỗng bồi hồi, mừng mừng, tủi tủi.
Ðến gốc
cây Bồ Ðề Ðại Thọ, Ngỗng bay ngang ba vòng, nhớ lại lời nói hôm xưa của vị
Thọ Thần: “Nơi đây, muôn đời vẫn là tổ ấm của chúng ta”.
Ngỗng rơi
nước mắt. Nó đã trở về cố quận.
Minh Ðức
Ðường lầy
^
(Truyện cổ Phật giáo Nhật Bản)
Có hai
nhà sư cùng thong dong bước xuống một con đường lầy. Cơn mưa nặng hạt vẫn
còn rơi.
Ðến khúc
đường quẹo, hai người gặp một cô gái xinh xắn trong chiếc áo Kimônô và
chiếc khăn quàng cổ bằng lụa, đang đứng bên lề đường vì không thể băng qua
đường lầy được.
Lập tức
một nhà sư bảo: “Ði nào, cô bé” tức khắc đưa tay nhấc bổng cô gái lên và
đưa qua quãng đường lầy.
Nhà sư
bạn của anh ta, từ đó không buồn nói một tiếng nào, cho đến khi cả hai
dừng lại trong một ngôi đền. Rồi không chịu được nữa, nhà sư bạn lên tiếng
nói với anh ta:
- Chúng
ta là những nhà sư, không được phép gần đàn bà, nhất là những người đàn bà
trẻ đẹp. Nguy hiểm lắm! Sao anh lại làm vậy?
Nhà sư
mỉm cười:
- Tôi đã
bỏ nàng từ chỗ đó rồi! Anh còn mang nàng theo đấy sao?
Thiền sư Nhật Muju
Ðộ sanh mà không thấy mình độ sanh,
mới thật là độ sanh.
Ô Sào Thiền sư
^
Ô Sào là
một cao Tăng Trung Hoa vào đời Ðường, khi bà mẹ hạ sinh sư, bà không ưng ý
lắm nên đem bỏ con vào một chiếc tổ quạ trên cội đại thọ trước hiên chùa
rồi lẩn mất. Sư xuất gia từ đó… và người ta gọi sư là thầy Ô Sào (ô: quạ,
sào: tổ).
Tuổi ấu
thơ và tráng niên của sư trôi qua bình thản trong bóng mát của các tòng
lâm cổ kính… sư thường hành thiền trên quê hương của mình, tức là nơi
cháng ba có đặt tổ quạ ngày xưa mà theo năm tháng, cội cây đã to và rộng
đầy đủ cành nhánh có thể cho sư đặt một chiếc tọa cụ trên ấy. Cho đến khi
ngộ đạo và hành đạo, thiền sư vẫn không rời “quê mẹ”.
Một hôm
quan Thị lang Bạch Cư Dị, một thi hào lừng danh đương thời, đi dạo ngang
cổng chùa trông thấy nhà sư đang ngồi vắt vẻo trên tang cây, vốn không ưa
hạng người “lánh nợ đời” như thế, ông cau mày hỏi:
- Bộ hết
chỗ ngồi rồi hay sao mà thầy lựa chỗ hiểm nghèo như thế để ngồi?
Thiền sư
bình thản đáp:
- Chỗ của
tôi xem ra còn vững vàng hơn chỗ của quan lớn đang an tọa nhiều…
Quan thị
Lang nhìn lại chiếc kiệu của mình đang ngồi, ngạc nhiên:
- Chỗ tôi
đang ngồi có gì đáng ngại đâu?
- Thưa,
chỗ của đại quan là dưới vua trên các quan và trăm họ, vua thương thì quần
thần ghét, được lòng dân thì mất lòng vua… Tính mạng của đại quan cùng
thân quyến đều lệ thuộc vào lòng yêu ghét của vua, sự tật đố tỵ hiềm của
bạn bè. Một chiếc ghế được kê trên đầu lưỡi của thiên hạ thì làm sao bì
được với sự vững chắc của cội cây này được…Có phải thế không?
Bạch Cư
Dị nghe nhà sư nói, chỉ im lặng cúi đầu. Giây lâu, vị quan lão mới cất
tiếng hỏi:
- Thầy có
thể cho tôi biết thế nào là đại ý của Phật pháp chăng?
Thiền sư
đáp liền:
- Không
gì dễ bằng câu hỏi này. Ðại quan hãy nghe tôi trả lời đây, đó là:
“Chư ác mạc tác
Chúng thiện phụng hành
Tự tịnh kỳ ý
Thị chư Phật giáo”.
Nghĩa là:
Các điều ác chớ làm
Các điều lành vâng giữ
Tự thanh lọc ý mình
Ðó là lời Phật dạy
Bạch Cư
Dị nghe xong bảo:
- Những
bài thầy vừa đáp con nít lên ba cũng nói được.
Thiền sư
mỉm cười:
- Thưa
đại quan, con nít lên ba nói được, nhưng ông lão sáu mươi chưa chắc làm
xong… Ngài có thấy như thế không?
Bạch Cư
Dị lại im lặng cúi đầu.
Ông bắt
đầu học đạo với thiền sư Ô Sào từ đó. Người ta kể rằng, dưới sự dẫn dắt
của thiền sư “Tổ quạ” không bao lâu vị đại quan này “hoát nhiên đại ngộ”.
Chuyện kể chỉ có thế, còn việc ông đại ngộ cái gì chúng ta đành chịu vậy.
Như Thủy
Cảnh tỉnh Ta Bà danh lợi khách
Hoán hồi khổ hải mộng mê nhơn.
Năm con lừa
^
Xưa có
một anh chàng nọ thuộc hàng danh gia vọng tộc, con nhà giàu có, đẹp trai
hẳn hoi nhưng lại ngu ơi là ngu! Vì thế thời nhân gọi anh ta là chàng
Ngốc. Một hôm, Ngốc đi chợ phiên mua được năm con lừa với một giá phải
chăng. Lòng mừng khấp khởi, anh thót lên lưng một con lừa và dắt bốn con
kia về. Dọc đường, Ngốc chợt nẩy ra ý định phải kiểm lại số lừa của mình.
- Một,
hai, ba, bốn! Chết cha! Mất đâu một con rồi!
Hốt
hoảng, Ngốc tụt xuống lưng lừa, đếm lại cẩn thận.
- Một,
hai, ba, bốn, năm. A! Ðủ rồi!
Yên tâm,
Ngốc leo lên lưng lừa. Ði một đỗi, anh bắt đầu đếm lại:
- Một,
hai, ba, bốn. Lại thiếu một con rồi!
Chàng
Ngốc lại nhảy xuống đất đếm:
- Một,
hai, ba, bốn, năm. May quá! Ðủ rồi!
Sự tình
cứ thế mà diễn tiến, hễ chàng Ngốc cưỡi lừa thì cả bầy chỉ còn lại bốn
con, nhưng nếu chàng đi bộ thì bầy lừa đủ cả năm con. Cuối cùng, Ngốc ta
đành tụt xuống đi bộ. Khách qua đường thấy anh mồ hôi nhễ nhại, chạy lúp
xúp theo bầy lừa, ngạc nhiên hỏi:
- Sao anh
không cưỡi một con đi cho đỡ mệt?
Ngốc ta
đáp một cách quả quyết:
- Cứ mỗi
lần tôi leo lên lưng lừa là mất một con. Vì vậy, thà rằng tôi đi bộ để còn
nguyên cả năm con. Cực khổ một chút mà không phải mất mát, mỗi con đến
hàng trăm quan đấy, bác ạ.
Như Thủy
Khi đã tỏ ngộ chân lý thì vứt bỏ
pháp môn tu tập,
Khi đã qua sông thì không còn tiếc
nuối thuyền bè.
Pháp còn phải bỏ, huống là phi pháp.
***
Ra đi tức thị trở về
Biễn phiền não đó, Bồ Ðề khác chi
---o0o---
Mục Lục tập 5 |
01|
02 |
03 |
04 |
05 |
06 |
07 |
08
---o0o---
Tập 01 |
Tập 02 | Tập
03 | Tập 04 |
Tập 5
---o0o---
Vi Tính: Tịnh Tâm, Tịnh Hương
Trình bày: Nhị Tuờng
Cập
nhật : 01-12-2003