Truyện Cổ Phật Giáo
Tập 5
Thích Minh Chiếu
Sưu tập
---o0o---
Chàng nhạc sĩ và ông vua Trời
^
Khi chàng
nhạc sĩ ôm cây đàn VìNà đến khu rừng MiMăng thì chim không còn dám cất
tiếng hót.
Chàng gảy
khúc đàn đầu tiên, gió ngưng thổi, bao nhiêu hoa rừng đều nghiêng cánh
lắng nghe.
Chàng gảy
khúc đàn thứ hai, sương mù lặng giữa ngàn lá xanh đang bốc hương.
Chàng gảy
khúc đàn thứ ba, chim muôn phương tụ về phô rực rỡ ngàn hồng vạn tía.
Chàng gảy
khúc đàn thứ tư, hoa lá chim đong đưa nhịp nhàng trong một điệu múa tuyệt
vời.
Chàng gảy
khúc đàn thứ năm, hằng sa vị tiên lấp ló chòm mây trắng.
Chàng gảy
khúc đàn thứ sáu, thiên nữ đứng đầy đặc cả không gian.
Chàng gảy
khúc đàn thứ bảy, Ðế Thích Thiên Vương ngồi đứng không yên, vén may dòm hạ
giới:
- Kỳ diệu
thay là những khúc đàn của chàng thanh niên Khúc Chi La! Tiếng đàn có mãnh
lực làm cho cung điện chí tôn của ta trở nên trống không và buồn bã.
Ðế Thích
Thiên Vương bước xuống trên đám mây ngũ sắc, với tầm cao hai mươi cây thốt
nốt, hỏi người nhạc sĩ:
- Này
chàng trẻ tuổi tài hoa, vị vua của âm nhạc! Người dụ dỗ chúng Chư Thiên
của ta. Ngươi đã làm cho mười muôn triệu Thiên nữ chợt trống không ở Thiên
đình. Người làm cho ta buồn bã, ngươi biết đấy!
Thanh
niên Khúc Chi La ngưng đàn - trái đất không còn linh hồn - ngước mắt lên,
chàng nói:
- Này ông
vua Trời, ta không có ý ấy, xin Ngài hoan hỷ xá tội.
Thiên
Vương Ðế Thích với những sợi râu xanh long lanh màu ngọc bích, dựng ngược
lên làm cho chấn động địa cầu bằng tiếng hét của thần sấm:
- Ta
không có hoan hỷ xá tội. Thiên nữ trống không ở thiên đình không phải là
điều dễ dàng hoan hỷ xá tội!
- Vậy
ngài muốn gì?
- Muốn
ngươi đập bể cái đàn ma quái ấy đi. Nó không những quyến rũ hoa lá chim,
thiện nam thiện nữ mà còn quyến rũ cả ta nữa.
- Không
thể được, vua Trời ạ!
- Sao
vậy? Ngươi biết ta có thể biến ngươi thành cây đàn, cây đàn thành ngươi.
Khi ấy thì đàn sẽ gảy ngươi hay ngươi sẽ gảy đàn? Hãy biết lấy!
- Vậy thì
ghê gớm quá, đàn thành ta và ta thành đàn! Vậy thì ghê gớm quá. Nhưng
không thể được, vua Trời ạ!
- Sao
vậy! Ra là ngươi không sợ oai lực của ta đấy!
- Sợ chứ!
Nhưng thưa vuaTrời chiếc đàn này đã cho tôi cơm áo. Và chiếc đàn này cũng
giúp tôi phụng dưỡng cha mẹ mù lòa.
- Thật
thế à?
- Áo cơm
và cha mẹ mù lòa? Lành thay! Vậy thì không có gì chân chánh hơn thế nữa!
Này người nhạc sĩ hiền lương và chí hiếu, ngươi làm ta cảm động, ngươi làm
ta khó xử.
Từ trời
cao, vừng mây như úa màu, không còn trong sáng long lanh màu ngũ sắc nữa.
Một làn gió màu xám, màu đen thổi qua, dường như có sương hay nước mắt rơi
xuống từ hư không.
Thanh
niên Khúc Chi La giọng xúc động:
- Này vua
Trời, này vì Thiên Tử đáng kính trọng. Vĩnh viễn tôi sẽ không đàn những
khúc nhạc ấy nữa vì tấm lòng của Thiên Tử đối với tôi. Vì tấm lòng ấy, tôi
sẵn sang hủy bỏ khúc nhạc dẫu cho có thiếu cơm thiếu áo!
- Lành
thay! Bạn thân mến! Bạn đã giúp ta thoát khỏi sự khó xử. Ðổi lại, ta sẽ
dạy bạn một khúc nhạc của cõi trời.
Thanh
niên Khúc Chi La im lặng giây lát.
- Thôi,
thưa Thiên Chủ, cảm ơn Thiên Chủ lắm. Nhưng tôi là gì mà dám học tiếng đàn
của cõi trời? Do nghiệp quá khứ làm người keo kiệt, bỏn xẻn, không chịu xả
tâm bố thí nên kiếp này phải chịu nghèo hèn. Do đam mê đàn địch hát xướng
nên tôi phải bị sanh ra trong gia đình Càn Thát Bà hạ liệt. Do sự phỉ báng
kinh pháp và các bậc trí tuệ nên kiếp này tôi ngu si, không được học hành
đến nơi đến chốn. Thân phận này không xứng là hạt bụi dính trên gót chân
của các bậc Ðạo Sư, các vị ẩn sĩ thanh tịnh. Tôi là dòng dõi thấp kém,
nghiệp dày phước mỏng thì làm sao tấu khúc nhạc Chư Thiên, các bậc xán lán
được sinh ra do phần phước đã tạo ra trong quá khứ của mình.
Không
gian chợt như lặng ngắt. Ðế Thích yên lặng rất lâu rồi nói:
- Cả 33
tầng trời sẽ không trụ vững nếu không được nghe lời nói chí thiện này.
Hỡi thanh niên Khúc Chi La! Ngươi là Thầy của ta. Này chàng thanh niên trẻ
tuổi! Ngươi là Thầy của ta.
Thốt thế
xong, đám mây sa xuống thấp, Ðế Thích đến bên thanh niên Khúc Chi La
nghiêng vai cung kính. Thanh niên Khúc Chi La cũng nghiêng vai cung kính.
Chàng
nhạc sĩ nói:
- Thôi!
Ngài có việc của Ngài, tôi có việc của tôi! Thiên đình thiếu Ngài như nóc
nhà thiếu cột chống. Cha mẹ tôi thiếu tôi, như chiều khói sẽ không tỏa ra
từ bếp. Chúng ta hãy quay lưng lại với nhau, rồi đi!
Ðế Thích
Vương bịn rịn. Thanh niên Khúc Chi La lầm lũi ôm đàn đi men theo lối nhỏ
về xóm.
- Này
người thanh niên chí thiện!
Ðế Thích
gọi giật lại.
- Ðừng
gọi như thế! Thanh niên nhạc sĩ quay lại. Tôi không xứng đáng để Ngài gọi
là chí thiện đâu. Ngài còn muốn chỉ dạy tôi điều gì?
- Không
dám vậy đâu. Ta chỉ muốn hỏi một điều, là từ trước đến nay ngươi sống như
thế nào?
- Với
tiếng đàn bảy khúc, từ trước đến nay tôi là nhạc sĩ trưởng của đức Vua.
Nhưng vì hứa hủy bỏ khúc nhạc đã làm tôi nổi danh, nên bắt đầu từ nay tôi
sẽ đi hát dạo.
- Tài hoa
như ngươi quả là số một châu Diêm Phù Ðề?
- Tôi
nghe các nhạc sư trong thiên hạ có nói như thế! Nhưng trong xứ mù, kẻ chột
làm vua thì chẳng có gì để hãnh diện.
Ðế Thích
ngạc nhiên:
- Thế có
kẻ mắt sáng ư? Có kẻ có tiếng đàn tối thượng hơn tiếng đàn của ngươi ư? Họ
ở đâu? Họ là ai?
- Phải!
Thanh niên gật đầu, vì ham muốn danh vọng, ham muốn lợi dưỡng nên tâm tôi
bị chi phối. Vì tâm bị chi phối nên tâm không chuyên nhất. Do không chuyên
nhất, tiếng đàn của tôi còn thô tháo và tục lụy không đạt được chỗ cuối
cùng này là chỗ cao vời của hào quang, chí thiện, khinh khoái, vô phiền và
an lạc. Vậy thì thưa Thiên Chủ! Có những nhạc sĩ tài hoa thật sự, họ đã
ngồi trên đỉnh vinh quang vô danh ấy, họ đã bước ra khỏi cõi đời này, họ
đã giải thoát danh vọng và lợi dưỡng nên chẳng ai biết, chẳng ai hay, ví
như huynh trưởng của tôi và thầy tôi. Còn tôi chỉ là tên học trò đầy bụi
bẩn và phàm phu.
Ðế Thích
Thiên Vương thở ra. Ngài bối rối và ngơ ngác như bước vào một thế giới
nào. Hy hữu thay là những điều chưa từng được nghe. Hy hữu thay là buổi
gặp gỡ đầy lợi ích. Lâu lắm Thiên Vương lại hỏi:
- Bây
giờ, nếu ngươi từ bỏ khúc đàn nổi danh thì tiếng tăm và lợi dưỡng của
ngươi phải bị tổn giảm?
- Phải
rồi! Nhưng ấy là cơ hội tốt cho tôi, tôi và cha mẹ tôi có thể tập sống đời
vô danh với áo cơm vừa phải.
- Thật
lòng quá thiệt thòi cho ngươi. Này người thanh niên! Ta là Thiên Chủ của
33 cõi trời và bốn châu thiên hạ, ngươi biết chứ?
- Dạ
biết!
- Ta có
thể biến đất thành vàng ròng óng ả. Ta có thể, trong cái nhấc tay, xây cho
ngươi một cung điện cao sang gấp bảy lần cung điện của đức vua Diêm Phù
Ðề, ngươi biết chứ?
- Dạ
biết!
Thiên
Vương Ðế Thích chợt tức giận:
- Vậy thì
sao ngươi không đòi hỏi ta điều gì? Tại sao ngươi không yêu cầu để ta được
đền đáp?
Thanh
niên Khúc Chi La nín lặng, rồi hỏi:
- Mà tôi
có công đức gì?
- Tại sao
không công đức? Ðấy là những công đức tối thượng. Ngươi đã nói cho ta nghe
nhân và quả, phước và tội. Ngươi lại dẫn cho ta đến chỗ phàm phu và ô uế.
Lại nữa, ngươi là kẻ không màng danh vọng và lợi ích nhỏ mọn của ta! Ta
không biết ai là nhạc sĩ hiền trí, ta chỉ biết ngươi là nhạc sĩ hiền
triết. Ta không dám biết đến huynh trưởng và Thầy của ngươi đều là bậc ẩn
sĩ thanh tịnh. Tại sao ngươi không tạo cơ hội cho ta cúng dường bậc đại ẩn
sĩ thanh tịnh? Ngươi đã cắt đứt con đường bố thí xán lạn của ta!
Thanh
niên suy nghĩ: Cắt đứt của người chính là tự cắt đứt chính mình. Ta không
gợi ý mà do y tự nguyện. Vậy hãy xem thử y muốn làm gì, bèn nói:
- Thôi
được rồi! Vậy thì Ngài muốn làm gì thì làm. Nhưng thưa Thiên Chủ! Tôi xin
nói trước, tôi chỉ nhận những gì mà tôi dùng được.
- Nói vậy
nghe được! - Thiên Vương hãy chấp hành Thiên lệnh! Hôm nay ta cúng dường
đến bậc hiền trí, đến bậc đại ẩn sĩ thanh tịnh. Ta cúng dường toàn cõi
Diêm Phù Ðề này cho chàng thanh niên nhạc sĩ tài hoa. Ba chục ngàn quốc độ
sẽ ở dưới quyền cai quản của người. Khúc Chi La đại vương! Ngài sẽ là bậc
đại vương tối thắng nhất trong thiên hạ mà danh thơm của Ngài sẽ làm cho
ta được thơm lây. Ôi! Huy hoàng thay là triều đại này, triều đại của đức
vua chí hiếu, hiền triết và hiền thiện!
Thanh
niên Khúc Chi La hét tướng lên:
- Vậy là
ngài hại ta! Than ôi! Vậy là ngài hại ta!
- Sao
vậy? Ðế Thích ngạc nhiên, thất vọng hỏi.
- Trông
coi toàn cõi châu Diêm Phù Ðề, đem hạnh phúc, thanh bình cho 30.000 quốc
độ không phải là việc dễ làm. Thưa Thiên Chủ! Chỉ có bậc hiền triết mới
làm nổi. Tôi là kẻ thiếu trí, tôi chịu thôi.
Ðế Thích
Thiên Vương tự nghĩ: Y là kẻ yêu chuộng hòa bình, nhưng dễ gì làm cho
30.000 quốc độ được hòa bình? Thế gian này chúng lấy việc đánh nhau làm lẽ
sống. Chúng nó đầy tham vọng tối tăm và cứng đầu, chàng thanh niên này
không thích là phải. Nghĩ vậy, Ðế Thích nói:
- Vậy thì
để ta chọn cho nhà ngươi một quốc độ thanh bình và giàu mạnh nhất, là đức
vua thành Ba La Nại, được chăng? Ở đây có bốn vị Sư Trưởng hộ pháp cũng là
người tài đức.
- Không
được đâu, vua Trời ạ! Ðức vua thành Ba La Nại là người ân của tôi. Lại
nữa, Ngài cai trị quốc độ theo mười phương pháp. Tôi là ai, phước đức gì,
trí tuệ gì mà dám thế vào chỗ người ấy?
- Ðành
rằng có thể như vậy - Ðế Thích phân trần – nhưng tuổi thọ của đức vua sẽ
không còn bao lâu nữa!
- Thế
Thái tử con vua? Khúc Chi La đáp - Ðấy là bậc trí tuệ, Thái tử bỏ ba tập
Phệ Ðà ở trong ruột và nắm nơi cánh tay trái mười tám môn học uy hệ. Còn
tôi dầu mười lần hoa Mạn Ðà nở vẫn không thuộc được ba câu chú Mạn Ðà!
Ðức vua
Trời cau mặt thở ra:
- Vậy thì
hãy làm một ông triệu phú, đại đại triệu phú, ở trong tòa lâu đài bằng
vàng ròng thành quách bằng pha lê, lối đi bằng các loại ngọc của vua Rồng,
đồ dùng tiện nghi bằng bạc, hổ phách, xa cừ, mã não…
Khúc Chi
La giẫy nẫy:
- Vậy là
Ngài giết tôi. Tôi là con nhà nghèo hèn, bỗng dưng ở lâu đài vàng, thành
quách pha lê, lối đi bằng các loại ngọc vua Rồng, tiện nghi xa cừ, hổ
phách… Dẫu một vị vua nhân từ và sáng suốt nhất cũng bắt tôi bỏ tù vì tội
quỷ ma! Xin Ngài hãy thương cho, tôi còn cha mẹ mù lòa cần phải phụng
dưỡng!
Ðế Thích
cũng hét ngược:
- Cái gì
ngươi cũng la lên! Là không được đâu! Là Ngài hại tôi! Là Ngài giết tôi!
Bây giờ không được chối từ nữa. Ngươi phải làm một tiểu triệu phú, ở lâu
đài bảy tầng, tài sản một trăm kho, gia nô ba ngàn đứa, tỳ thiếp một ngàn
cô con gái cực đẹp. Phải như vậy!
- Chết
rồi! Thanh niên Khúc Chi La không nóng mà toát mồ hôi hột - Tài sản một
trăm kho sẽ làm cho óc tôi rối loạn - Ba ngàn đứa gia nô lui tới sẽ làm
cho tôi chóng mặt. Còn một ngàn mỹ nhân! Ối trời! Ngài muốn giết tôi
không một lưỡi dao vấy máu, không một lưỡi kiếm xuyên tim đấy mà! Trời đất
ôi! Cha mẹ ôi!
Thanh
niên nói thế xong, đứng vò tai, bứt đầu.
- Vậy thì
sao đây? Vậy thì sao đây? Thiên Vương Ðế Thích cũng đứng vò tai bứt đầu,
đi tới đi lui. Một hồi, Ngài nói:
- Thôi,
bây giờ một lời tối hậu, ngươi muốn gì ta cho nấy. Thôi, nói đi, ngươi
muốn gì nào?
Khúc Chi
La thở ra một hơi dài nhẹ nhõm. Vậy là thoát nạn, chàng tự nghĩ. Muốn gì?
Ừ, ta muốn gì nhỉ? Thế là chàng tự nghĩ. Muốn gì? Ừ, ta muốn gì nhỉ? Thế
là chàng suy nghĩ miên man. Nơi vừng trán phẳng lặng dường như toát ra một
làn sương mờ. Một triệu kiếp tư duy như đọng lại, Chàng cất giọng chậm
rãi:
- Xin
Thiên Vương cho tôi thấy rõ con đường vĩnh viễn chấm dứt phiền não, hoặc
là giúp tôi có ánh sáng trí tuệ chân thực để đi theo chân lý đạo mà không
lầm lẫn?
- Chết
tôi rồi! Ðức vua Trời thất thanh hoảng hốt – Chư Thiên 33 cõi Trời có nghe
không? Ðấy, chấm dứt phiền não và con đường trí tuệ? Chư Thiên 33 cõi trời
có nghe không? Ðầu óc ta đã vỡ chưa? Lâu đài của ta đã bốc cháy chưa? Các
người còn ngồi yên trong lúc tam thiên thế giới đang rung động?
Thiên
Vương Ðế Thích thở hổn hển. Mặt trời như mờ đi ở phía bên sau. Khu rừng
không mùa thu mà lá vàng rơi lả tả. Ðế Thích cất giọng buồn buồn:
- Ngươi
bảo ta giết ngươi không kiếm không đao. Còn ngươi thì giết ta bằng những
lời những chữ hóc búa! Những lời những chữ ấy vạch trần cho ta thấy rõ sự
bất lực, sự ngu si lẫn quyền năng giới hạn của ta mà từ lâu ta muốn che
giấu. Từ lâu, tất cả sự an lạc của ta đều được ngụy trang. Từ lâu, tất cả
sự vinh quang của ta đều được bao bọc bởi thứ ánh sáng phù du huyễn hoặc.
Nay thì ngươi đã bóc trần tất cả các lớp vỏ. Ôi! Còn đâu hạnh phúc và bất
tử của một Ðức Thiên Vương Chí Tôn?
Nói xong,
vị vua Trời tư lự, vừng trán cau một lớp bụi xám. Dung sắc thù thắng của
Ngài phút chốc như một đóa hoa tàn úa, một đóa hoa ố sắc và rữa hương.
Cơ hội đã
đến, chàng nhạc sĩ trẻ tuổi đẹp trai, nghĩ thầm: hãy tấu một khúc nhạc,
khúc nhạc thứ tám, khúc nhạc không phải ai cũng nghe được, khúc nhạc sẽ
nâng y dậy, đặt y vào đường bay của ánh sáng, dẫu thế nào, ánh sáng ẩy vẫn
cứ xuyên qua, vút thẳng đến mặt trời của chân lý!
- Này Ðức
vua Trời khả kính! Chớ có buồn bã, chớ có tư lự. Ðừng làm một đóa hoa ô
sắc tàn hương! Ðừng làm một cánh chim tuyệt vọng giữa biển sương mù đầy
đặc. Hãy lắng nghe ta nói đây!
Ðức Thiên
Vương phấn chấn trở lại:
- Ta đang
hồi hộp lắng nghe ngươi nói đây.
- Con
đường ấy, ánh sáng ấy chưa có một chúng hữu tình nào tìm được ngoài các
bậc thượng trí. Con đường ấy, ánh sáng ấy luôn luôn vi vút xuyên thẳng qua
không gian thời gian, không chờ đợi người, không vị tình ai. Hãy bước vào
lộ trình. Hãy tự nâng bổng mình lên. Lộ trình ấy là gì? Sự nâng bổng ấy là
gì? Hãy nghe đây!
Nói thế
xong, thanh niên Khúc Chi La nâng cây đàn Vì Nà, khu rừng, Mi Măng vút
phút chốc im bặt.
- Ðây là
khúc đàn thứ tám, - chàng nói – Khúc đàn uyển chuyển tiếp từ tục nên
thanh, từ bờ này qua bờ kia. Thiên Vương đã có tai thì chắc chắn sẽ lĩnh
ý!
Và rồi,
chàng gảy. Và rồi, vua Trời đã nghe được những lời nhắn nhủ sau đây:
“Ta là
ánh sáng vĩnh cửu, có mặt muôn đời nơi quả đất tối tăm. Ta làm cho thế
gian xấu xa thành đẹp đẽ. Ta làm cho thanh âm dâm ô tục lụy thành cái cao
vời. Ta làm cho xú khí muôn nơi thành hương thơm thanh khiết. Ta làm cho
vật chất vô tri thành cơm bánh ngon lành. Ta làm cho ý tưởng tối tăm thành
tri thức trong sáng. Hãy nghe, hãy bắt chước mà làm với trọn vẹn thiên ý.
Ðổi cái ác ý thành cái thiên lương, thành tâm hồn pha lê rỗng suốt tinh
anh, thì ngươi sẽ là ánh sáng, biến thành ánh sáng. Rồi ta và ngươi sẽ làm
một cuộc du hành an lạc từ vô thỉ đến vô chung!”.
Gảy xong
khúc đàn, chàng Nhạc sĩ ôm cây đàn VÌNÀ, từ giã vị vua Trời rồi đi về trú
xứ của mình.
Minh Ðức
Tự do là ung dung trong ràng buộc.
Hạnh phúc là tự tại giữa khổ đau.
Phật tích Chùa Hương
^
Ðời xửa đời xưa, có một nước
tên gọi là Hưng Lâm hiệu là Diệu Trang, Hoàng đế là Bà Già, tất cả mọi
người đều gọi ông là Diệu Trang Vương.
Diệu Trang Vương có
ba người con gái: Công chúa lớn là Diệu Thủ, công chúa thứ hai là Diệu Âm,
Công chúa thứ ba là Diệu Thiện. Hai người chị thì điểm trang xanh đỏ lòe
loẹt, ăn uống chơi bời, suốt ngày nói cười hỉ hả. Diệu Thiện thì ngược
lại, chẳng giống hai chị chút nào, suốt ngày nàng chỉ biết mải mê đọc
sách.
Diệu
Trang Vương tuổi tác ngày một cao, lại thấy mình chẳng có con trai, trong
tương lai ngôi vua biết truyền cho ai? Người đã cùng các quan đại thần
thương nghị là phải tìm phò mã. Tức thì liền gọi ba công chúa bước lên
cung điện.
Công chúa
cả nói:
- Nữ nhi
con sẽ tìm người văn tài, bụng đầy kinh luận, trong tương lai nhất định sẽ
phò tá phụ vương trị vì thiên hạ.
- Còn nữ
nhi con sẽ tìm người có tài võ nghệ, đánh nam dẹp bắc, an bang định quốc,
làm cánh tay trợ thủ đắc lực giúp phụ vương.
Diệu
Trang gật đầu lòng tràn đầy niềm sung sướng. Người cảm thấy hai con gái
rất hiếu thuận, rất có lòng tốt. Người lại hỏi con gái thứ ba là Diệu
Thiện:
- Thế còn
tam Công chúa! Con sẽ chọn một người như thế nào để làm phò mã?
Diệu
Thiện lắc đầu nói:
- Hài nhi
nguyện thờ phụng phụ vương suốt đời chứ không đi lấy chồng.
Trên mặt
Diệu Trang tức thời như có đám mây đen che khuất, người nói như sắt đóng
đinh:
- Không
được! Trai lớn lấy vợ, gái lớn gả chồng, Çó là chuyện thiên kinh định
nghĩa, làm sao có thể đi ngược lại được? Con hãy nói đi, cuối cùng con sẽ
ưng lấy một người như thế nào?
- Thưa
phụ vương, con sẽ tìm một danh y có thể chữa bệnh cho đời, cho đất, cho
người, làm cho khắp bàn dân thiên hạ đâu đâu cũng được sung sướng. Nếu phụ
vương có thể tìm được một người như vậy, thì con sẽ lấy làm chồng.
Úi chà
chà! Ðây chẳng phải là sư tử mở rộng miệng Çó ư? Trên thế gian này tìm đâu
được một vị thần y có vạn năng như thế được? Diệu Trang Vương càng nghĩ
càng buồn. Nên biết trong ba nàng con gái thì Diệu Thiện là người thông
minh nhất, hiền từ nhất, Diệu Trang Vương vẫn có lòng muốn truyền vương vị
cho nàng. Bây giờ đã bị nàng cự tuyệt như vậy, hoàn toàn bị đảo lộn, Diệu
Trang Vương lập tức đập bàn, lệnh cho tay chân đem Diệu Thiện nhốt chặt
vào vườn hoa sau, để nàng được thưởng thức mùi vị của cái đói và cái rét.
Nào ngờ
Diệu Thiện là người chí khí quật cường. Ðến vườn hoa sau, hàng ngày nàng
vẫn đọc sách của mình. Nàng mặc quần áo vải thô, nàng ăn cơm nguội rau
thừa, bữa được ăn bửa chẳng được ăn. Nàng chẳng tỏ ra chán nản, mà vẫn coi
như chẳng có chuyện gì xảy ra. Vương hậu, công chúa cả, công chúa hai và
các phi tử cung nga ở trong cung đều lần lượt đến khuyên nàng hồi tâm
chuyển ý, nhưng nàng vẫn kiên trì chủ trương của mình.
Một buổi
tối nàng dứt khoát trốn khỏi vườn hoa sau đến chùa Bạch Tước, huyện Long
Thụ xuất gia làm ni cô.
Diệu
Trang Vương được tin, bí mật cử người tới cho sư trụ trì Bạch Tước một đạo
mật chỉ, ra lệnh phải làm cho Diệu Thiện nghe lời khuyên giải mà hồi tâm
chuyển ý không đi tu nữa. Nếu không thành thì nhà chùa sẽ bị lính đến đốt
cháy, rồi cho tất cả năm trăm Tăng Ni chùa Bạch Tước lên Tây Thiên.
Phương
trương tới khuyên Diệu Thiện, cũng chẳng có ích gì, đành phải bắt nàng vào
nhà bếp làm việc nặng nhọc như gánh nước, bổ củi để cho nàng biết được làm
người xuất gia cũng chẳng dễ gì.
Ai ngờ
Diệu Thiện vẫn không một lời oán giận, nàng xắn quần vén áo lên rồi đi làm
việc. Mọi cư dân ở trong núi đều yêu mến nàng, bách thú đem đến cho nàng
rất nhiều củi, ngàn chim cắp đến rất nhiều rau, làm cho tất cả các Tăng Ni
trong chùa Bạch Tước đều kinh ngạc, đành phải tớI bẩm báo cho Diệu Trang
Vương biết.
Diệu
Trang Vương càng giận dữ, lập tức phái một đội binh mã, tới bao vây chùa
Bạch Tước, phóng một mồi lửa to, muốn thiêu chết hết cả Diệu Thiện và năm
trăm Tăng Ni. Lại chính lúc đó trời đổ một trận mưa như trút nước xuống,
nước chảy lênh láng khắp nơi, dập tắt ngọn lửa đang cháy rừng rực. Họ đành
phải lấy dây thông trói chặt Diệu Thiện lại, áp giải về kinh thành. Trên
đường về có một con hổ xông tới. Bọn chúng phải vứt Diệu Thiện lại, rồi
mạnh ai người ấy chạy thoát thân.
Diệu
Thiện đã từ trong cõi chết được cứu sống. Nàng phải đi ăn xin ở trên
đường. Về sau nàng ở lại trên một ngọn núi hoang, dựng lều cỏ, làm bạn
cùng chim thú, rồi lại tiếp tục đọc kinh tu hành. Ngọn núi này tên là
Hương Sơn.
Lại nói
tới Diêu Trang Vương, vì việc của con gái thứ ba là Diệu Thiện, suốt ngày
bực tức giãn dữ, tất cả mọi việc đều không bằng lòng, lâu dần NgườI đã mắc
một quái bệnh, khắp thân thể trên dưới mọc rất nhiều mụn nhọt, vừa ngứa
lại vừa đau. Người đi khắp nơi tìm thầy chạy thuốc mà chẳng có cách nào
chửa khỏi. Về sau, mụn nhọt vỡ loét, mủ chảy toàn thân, rồi da thịt sinh
ra giòi bọ, mùi hôi thối xông đầy trời. Lúc này có một cụ già bước tới,
bốc cho Diệu Trang Vương một thang thuốc, nói rằng cần phải tìm một người
tâm bình khí hòa, không biết cáu giận, dùng tay và mắt của người ấy cho
vào thang thuốc thì mới có thể chửa khỏi được bệnh này.
- Tìm
người này ở đâu? - Diệu Trang Vương hỏi.
- Bệ hạ
hãy cử người tới Hưong Sơn tìm xem - Cụ già trả lời.
Sự việc
đã đến nước này, cũng chẳng còn cách khác, đành nhắm mắt liều chữa ngựa
chết thành ngựa sống vậy. Diệu Trang Vương đã cử một tên khâm sai đại thần
tới Hương Sơn. Lên tới đỉnh núi, quả nhiên nhìn thấy một cô gái tâm bình
khí hòa, thân mặc áo trắng, ngồi yên tịnh đọc sách ở đó. Khâm sai đại thần
đem chuyện Diệu Trang Vương mắc bệnh, trước sau kể hết một lượt, đã thấy
nước mắt chảy tràn trên mặt cô gái.
Cô gái đó
chính là công chúa thứ ba Diệu Thiện! Chỉ tại vì xa cách đã lâu năm nên
khâm sai đại thần đã không nhận ra nàng nữa.
Diệu
Thiện nghị: Phụ Vương sinh bệnh, ta là con gái của người, theo lý là phải
nên cứu ngay. Giả dụ có thể chửa được khỏe bệnh của phụ vương, ta có hiến
đôi mắt đôi tay cũng là điều nên làm. Nghĩ tới đây nàng trẫm tĩnh nói với
viên khâm sai:
- Những
thứ ngài cần, xin ngài cứ lấy đi!
Tức thì
khâm sai khoét đôi mắt của nàng, chặt đứt đôi bàn tay của nàng đem về làm
thang dẫn thuốc, để cho Diệu Trang Vương uống. Quả nhiên bệnh của Trang
Vương khỏi hẳn.
Việc Diệu
Thiện xả thân cứu cha đã làm cảm động đến Thiên đế. Chính lúc đó ở trên
thân nàng đã mọc ra vô số những cánh tay. Ở giữa lòng mỗi bàn tay đều có
một con mắt. Ðó chính là lai lịch của Quan Âm ngàn tay ngàn mắt.
Lại nói đến Diệu Trang Vương sau khi khỏi bệnh liền trèo
lên Hương Sơn để cảm tạ. Ðến nơi vừa nhìn người đã biết đó vốn là con gái
thứ ba của mình. Người vô cùng cảm động, từ đó cũng bắt đầu tu hành.
Không biết đã trải qua bao nhiêu năm, Diêu Trang Vương cũng đã tu hành đắc
quả. Tây Phương Phật Tổ muốn chiêu gọi người, đã bày một tòa thứ ở trong
đội ngủ Bồ Tát. Diệu Trang Vương tới Tây Thiên, tự nhiên trong tâm nảy ra
một ý nghĩ: nhớ tới cửa lớn của kho vàng ở trong vương cung đã từ lâu
không được tu sửa có lẽ ta cũng nên tu sửa mới phải! Ý nghĩ này tuy chỉ
thoáng qua, nhưng Tây Thiên Phật Tổ đã hiểu rõ, liền nói:
Ngươi đã tham tài như thế, hãy nên đi tìm một nơi an thân
ở bên đường cạnh Lãnh Ðình núi Phổ Ðà, để xin bố thí của các hương khách.
Từ đó về sau, bên cạnh núi Phổ Ðà có một am Phật nhỏ, bên
trong thờ một vị “Bồ Tát xin ăn”. Truyền thuyết nói rằng ấy là Diệu Trang
Vương năm xưa.
Trích Truyện Bồ Tát
Nhà xuất bản Văn Hóa
Quan Thế Âm mẹ hiền muôn thuở
Là sao Mai rạng rỡ lúc bình minh
Cho con xin được đắm mình
Trong Phật Pháp cao minh huyền diệu.
Hai thằng đệ tử ^
Xưa, có
một thầy đồ già không có con cái thân quyến, chỉ có hai chú đệ tử nhỏ mà
ông thương yêu như ruột thịt.
Hai chú
bé chưa được dạy dỗ nên người thì cụ đồ lâm bệnh nặng, phải nằm liệt
giường. Hai chú đệ tử tuy xung khắc, chẳng ưa nhau nhưng đều kính yêu
thầy, lúc nào cũng túc trực bên giường bệnh.
Bệnh cụ
đồ ngày càng một nặng, đôi chân cứng đờ, nhức nhối khôn tả, cụ phải nhờ
hai chú nhỏ đấm bóp xuốt ngày đêm. Trò Tý săn sóc chân mặt, còn trò Tèo
thì săn sóc chân trái của thầy.
Kề cận
bên nhau cùng lo một việc nhưng hai chú bé lúc nào cũng hiềm khích, ghét
bỏ nhau. Một hôm Tý được cụ đồ sai đi chợ, Tèo ở nhà hầu thầy. Thừa dịp
Tý đi vắng, Tèo ở nhà dùng búa đập gãy chiếc chân mặt nghĩ bụng rằng: “Để
cho thằng Tý về thấy cái chân mặt của nó săn sóc bị gãy sẽ tức bể bụng cho
mà coi!”.
Tèo đoán
không lầm, Tý về thấy cớ sự giận vô kể. Có lẽ sợ để cơn giận sục sôi làm
bể bụng, Tý dùng búa nện gãy luôn chiếc chân cái của cụ đồ. Kết cuộc là cả
hai Tý lẫn Tèo đều hả dạ, duy có cụ đồ là gãy hết hai chân.
Như Thủy
Chú
thích: Đây là câu chuyện ví dụ trong kinh Bách Dụ. Cụ Đồ= Đức Phật, Tý,
Tèo = các đệ tử của Phật. Mỗi đứa săn sóc một chân = mỗi giáo phái tu theo
một pháp môn của Phật. Lấy búa đập chân cụ đồ: bài xích chê bai lẫn nhau.
Cụ đồ bị gãy cả hai chân: Kết cuộc chỉ đem lại tai hại cho Đức Phật – cho
Đạo Phật
Từ Phương Đông lạy đến phương Tây
Nghìn dặm xa xôi vẫn miệt mài
Bắc phương quỳ lạy đến phương Nam
Đầu đường, xó chợ, bến đò ghe
Hội trường, nhà giảng nơi nào có
Bồ Tát thuyết thiền…quỳ lạy nghe.
Không ham sắc, được quyền cao
^
Hồi đời
vua Vạn Lịch, triều nhà Minh, thuộc về nước Tàu, tại trường Quốc Tử Giám,
có hai người học trò mới lớp nhứt, đều là trang mạo khôi ngô, hình dung
tuấn nhã, lại sanh đồng niên, đều được mười bảy tuổi.
Một người
tên là Phan Tái An, con của quan Thượng Thơ Lại Bộ, tánh tình quái xảo, lẹ
miệng lanh lợi; hễ thấy gái xinh thì như ruồi thấy mật, không nỡ xa rời.
Còn một
người nữa tên là Lưu Đức Tú, con của một người đàn bà góa ở trong thành,
tánh tình chất phát, ít ăn ít nói; dầu gặp gái đẹp thì như nước dội tường,
không hề sao động.
Hai người
học trò này tuy bề trong, tánh ý vẫn không giống nhau mà bề ngoài, cách ăn
vận và sự liên lạc nhau chẳng khác nào một cặp bài trùng vậy.
Lưu Đức
Tú hiềm nỗi ở nhà rộn rực, nên ra ngoài thành tìm nhà người mẹ vú nuôi
chàng lúc còn nhỏ, mà xin ngụ tại một cái nhà mái lợp tranh ở phía sau,
đặng nhờ sự thanh tịnh mà đọc sách.
Còn việc
ăn uống tắm giặt thì do người mẹ vú sắm sửa, chàng cứ đến tháng trả tiền
mà thôi; vì vậy nên chàng không dùng tiểu đồng. Từ khi Đức Tú ở riêng
ngoài thành, thì Tái An có hơi hiu quạnh, thường tìm đến nhà mát ấy mà
viếng thăm chành như vậy trọn tháng sáu tháng trường.
Mẹ vú của
chàng Đức Tú, tên là Vương Mạ Mạ, có một người con gái nuôi tên Xuân Thơ,
tánh nết khôn lanh, hình dung đẹp đẽ, mới mười sáu tuổi mà nổi tiếng tài
hoa.
Lúc đó
chàng Đức Tú đến ngụ, thì nàng hằng liếc xem diện mạo, nghe sẵn tiếng tăm,
trai tài gái sắc xứng đôi, cội ái nguồn ân xúc động.
Tuy lòng
của chàng Đức Tú chỉ chăm trên mặt quyển sách, mà lòng của nàng Xuân Thơ
thì chăm chỗ Đức Tú ở, dầu bà Vương Mạ Mạ không sai biểu, mà nàng cũng cứ
lệ lo làm.
Bà thấy
vậy tưởng con biết thay nhọc cho già, nên không để ý tới.
Một ngày
kia, chàng Đức Tú về nhà thăm mẹ ruột, bèn thuật lại hết các việc mẹ vú
nuôi dưỡng ân cần và nàng Xuân Thơ hầu hạ sốt sắng.
Bà mẹ
ruột của chàng bèn nói rằng: “Người ta đã có lòng như thế, thì mình phải
cho chi chút đỉnh, đặng tỏ tình mến. Vậy mẹ có một gói trà này rất ngon,
con đem dâng cho mẹ vú uống chơi. Còn cái khăn này cũng tốt, vậy con đem
thưởng cho Xuân Thơ”.
Chàng Đức
Tú vâng lời đem hai vật ấy dâng cho bà Vương Mạ Mạ, thì bà tỏ lời cảm tạ
rồi lấy cái khăn trao lại cho người con gái nuôi của bà.
Việc ấy
là lễ thù tạc thành thật, mà nàng Xuân Thơ lại tưởng là tình, nên đến buổi
chiều nàng qua phòng học của chàng Đức Tú mà tạ rằng: “Em rất cám ơn quý
nhơn thưởng cho em vật tốt đó”.
Chàng Đức
Tú đáp lại rằng: “Ấy là của mẹ ta cho, chớ không phải của ta đâu mà tạ”.
Nàng Xuân
Thơ nói: “Nếu quý nhơn không khoe việc phải của em, thì thái thái biết đâu
mà thưởng; như vậy lại càng quý nhơn hơn nữa”.
Đêm đó
chàng Đức Tú thức mà học đến mười một giờ khuya. Còn nàng Xuân Thơ, cũng
không ngủ, một lát đem trà mời uống, một chập đem bánh mời ăn, hoặc đến
lau bàn ghế, hoặc đến dọn giường mùng.
Chàng Đức
Tú thấy vậy cũng cho là thường, chớ không hề nghi ngại cho nàng có tình ý
chi cả.
Đúng 12
giờ khuya, chàng bèn đóng cửa và tắt đèn đi ngủ. Khi chàng mới vừa thiu
thiu, lại nghe có người ở ngoài gõ cửa; chàng liền lên tiếng hỏi ai khua,
thì nghe nàng Xuân Thơ đáp lại rằng là: “Tôi đem trà tới cho quý nhơn
uống”.
Chàng Đức
Tú nói: “Tới giờ ta đi ngủ, nên ta không uống trà nữa”.
Nàng nói:
“Tôi có một ít lời muốn thưa với quý nhơn, xin chớ phụ lòng kẻ thành
thật.”
Chàng đáp
lại: “Đêm khuya tăm tối, mà nàng là gái không chồng, còn ta là trai chưa
vợ, nếu chuyện vãn thì sợ thiên hạ nghi nan”.
Nàng nói:
“Xin quý nhơn hãy mở cửa ra, chỉ có hai ta, chớ ai đâu mà sợ nghi!”.
Chàng đáp
lại: “Tuy người phàm không trông thấy chớ Phật trời thấy! Quỷ thần thấy!
Ta không dám đâu!”.
Chàng nói
đến đó lại giả vờ ngủ mà nín luôn; nàng hỏi việc gì, thì chàng không trả
lời lại nữa.
Nàng Xuân
Thơ thua buồn trở về đóng cửa, chong đèn ngồi nghĩ rằng trong đời sao có
người ngu ngốc như thế.
Nàng nằm
xuống giường càng nghĩ càng buồn, càng buồn càng khổ, lăn qua lộn lại,
trót đêm không an giấc đến chừng rạng đông mệt mỏi mới ngủ quên.
Sáng
ngày, chàng Đức Tú dậy, không thấy nàng Xuân Thơ đem nước như mọi khi, nên
chàng phải xuống nhà dưới kiếm nước rửa mặt và uống, rồi thưa với bà Vương
Mạ Mạ rằng: “Bữa nay trong mình tôi không an, nên tôi tính về nhà nghỉ ít
tháng; như chiều có người nhà của tôi đến nhờ vú giao đồ đạc của tôi cho
nó đem về”.
Bà Vương
Mạ Mạ nói: “Đó là vì công tử gắng công học nên mới sanh yếu trong mình,
vậy cũng nên về nghỉ mà dưỡng sức lại”.
Khi Đức
Tú ra về rồi cách một chặp lâu, thì nàng Xuân Thơ thức dậy, chạy đến phòng
học không thấy hình dung của chàng, bèn trở lại hỏi mẹ, mới hay chàng đã
về rồi.
Nàng càng
xốn xang trong lòng, sợ chàng về thuật việc mình cho mẹ chàng hay rồi đồn
đãi lần ra, thì còn mặt mũi nào mà thấy người được nữa. Ngờ đâu Đức Tứ
đáng bực quân tử, chẳng nói đến việc xấu của người, chỉ thưa với mẹ rằng
chàng về nghỉ mà thôi.
Đây nói
qua Tái An, từ khi đến lui thăm viếng Đức Tú, thấy bộ nàng Xuân Thơ đẹp
đẽ, thì chàng đã mơ mơ ước ước, nhưng ngại vì trước mắt Đức Tú, nên chàng
chưa dám thả giọng bướm ong, chỉ lấy nhãn thần trừng qua liếc lại đôi chút
mà thôi.
Còn nàng
Xuân Thơ lúc đó nặng tình với chàng Đức Tú nơi lòng, nên thấy Tái An cũng
như không thấy.
Ngày nay
Tái An đến viếng, không gặp Đức Tú, bèn hỏi thăm bà Vương Mạ Mạ, thì mới
biết Đức Tú đã về nghỉ, không còn ở nơi nhà mát nữa.
Chàng rất
đỗi mừng, liền nói với bà Vương Mạ Mạ rằng: “Đức Tú đã về rồi, thì cái nhà
mát bỏ không; vậy bà cho tôi ở đó đặng đọc sách, vì tôi ưa nhà ấy thanh
tịnh và khoảng khoát. Xin bà cũng sửa soạn cho tôi ăn dùng như Đức Tú vậy,
tiền bạc tôi xin trả gấp hai cho bà”.
Bà Vương
Mạ Mạ có tính tham, nghe nói trả tiền bằng hai, thì chịu liền.
Tái An
bèn thưa với cha mẹ, chỉ nói tìm chốn thanh tịnh đặng đọc sách chung với
chàng Đức Tú mà thôi, rồi dọn quần áo, sách vở và rương tráp đến ở.
Đây nói
đến nàng Xuân Thơ từ khi có chàng Đức Tú ở nhà mát ấy, thì nàng không để ý
đến chàng chàng Tái An. –Nay không có Đức Tú nữa, nàng xem Tái An kỹ
lưỡng rồi tự nghĩ rằng: “Đức Tú bất quá là con của một người bà góa, mà
tánh lại chần chờ phách lối, không biết ơn nghĩa là gì! Còn Tái An này là
con của quan lớn đương triều, học giỏi có danh; chi bằng mình mơn trớn
cùng chàng, họa may được thỏa lòng mong ước.”
Nàng nghĩ
vậy rồi, bèn bưng trà đến phòng học, mời chàng uống và khiêu khích rằng:
“Đức Tú ở đây sợ lạnh nên về mất, còn công tử không sợ lạnh sao?”
Chàng Tái
An nói: “Đức Tú ỷ tài tự phụ không biết dùng người, nên mới sợ lạnh, còn
tôi mền mùng rất kỹ, quần áo dinh dư, lại biết dùng người nữa, mà làm sao
lạnh được”.
Chàng
Thái An tuy miệng nói như vậy mà mắt liếc đưa tình, làm cho nàng Xuân Thơ
mê man hồn phách, liếc trả cười duyên.
Tối lại,
chàng còn đọc sách, thấy nàng đem trà đến pha rồi mời uống, thì liền xếp
sách dẹp cất, không cần xem đọc chi nữa, để trò chuyện cho thỏa tình. Lạ
gì mèo đà gặp mỡ, bí sẵn chờ ong, nói năng sơ sịa ít câu, rồi đóng cửa tắt
đèn nhập cuộc.
Lúc ấy
nhằm tiết tháng tám, khí thu đã mát, nắng hạ vừa qua, ấp yêu một cặp uyên
ương, trăng chiếu hai trăng thỏ ác.
Hai đàng
cùng nhau ân ái trót luôn hai tháng, nghĩa nặng tình nồng, nên chàng Tái
An đâu còn kể tới sự đọc sách chi nữa.
Đến tháng
mười, gặp khoa Đại Thi, cha của chàng là quan Thượng thơ kêu chàng về đặng
sửa soạn vào thi, vì ngài biết tài học của con, chắc thế nào cũng chiếm
đặng bảng vàng.
Gần ngày
thi, nửa đêm quan Thượng thơ nằm chiêm bao thấy một vị thần, cân đai tề
chỉnh, đến mách bảo rằng: “Con của ngài vì làm nhiều chuyện khuy tâm, tổn
hao âm đức nên kỳ thi này không thế gì đậu được.”
Quan
Thượng thơ giựt mình thức dậy, ngồi nghĩ rằng: Con mình còn nhỏ, có làm
chi đến nỗi thất đức, nên ngài chẳng đem lòng tin niềm mộng ấy.
Đây nói
đến kỳ thi, tuy chàng Tái An học hành giỏi hơn chàng Đức Tú bội phần,
nhưng vì chàng thường gần gũi nàng Xuân Thơ, bỏ sách đã lâu, lại tinh thần
dã dượi, nhớ trước quên sau nên vào đủ bốn trường mà văn lý của chàng tầm
thường, không có chi xuất sắc.
Còn chàng
Đức Tú cũng vào thi, mà văn lý thật như phun châu nhả ngọc, gấm trải thêu
giăng, ai xem cũng đều khen ngợi, nên đến kỳ yết bảng, thấy đề tên chàng
đậu Cử nhân thứ nhì, còn tên Tái An không thấy ở nơi khoản nào cả.
Chừng ấy,
quan Thượng thơ mới biết rằng điềm chiêm bao rất linh và kêu Tái An đến
hỏi cho biết chàng có làm điều chi thất đức hay không, thì chàng cứ cãi
chối hoài.
Quan
Thượng thơ nổi giận, liền bắt chàng nhốt trong một cái phòng kín, không
cho ra ngoài thành, nên từ ấy chàng với nàng Xuân Thơ cách biệt hai
phương, mặc sức đêm trông ngày nhớ.
Đây nói
đến chàng Đức Tú khi thi đậu Cử nhân, rồi trở về nhà lạy yết ông bà cha mẹ
và yến đãi bà con bậu bạn trót chín mười ngày, thì có kẻ kêu đưa cháu,
người mời gả con, nhưng chàng chỉ đợi nơi nào vừa ý mẹ mới vâng lời.
Qua tháng
hai năm sau, nhằm kỳ thi Hội, Đức Tú thưa với mẹ xin phép đến ngụ tại chùa
Từ Quang ở trong thành mà lo việc sách đèn cho yên lặng, đặng chờ ngày
giựt bảng giành cờ.
Khi chàng
đến, thì thấy có một vị cử nhân, tên là Phùng Nhựt Thăng hai mươi tuổi,
đại danh lừng lẫy, hình tướng tốt tươi, đã ngụ trước tại đó mà chờ kỳ thi
Hội.
Hòa
thượng chùa này bèn dọn một cái phòng cho Đức Tú ở khít bên phòng Nhựt
Thăng, nên hai người được gần gũi mà tương đắc nhau lắm.
Ngày nọ,
có một ông đạo sĩ đến chùa, tay cầm tấm chiêu bài có đề bốn chữ lớn rằng:
“Chiếm nhơn danh phận”.
Nhựt
Thăng xem thấy, bèn nói với Đức Tú rằng: “Sẵn có thầy bói đến đây, hai đứa
ta cũng nên coi một người một quẻ, cho biết kỳ thi Hội này ra sao và cậy
người xem tướng nữa, đừng bỏ qua rất uổng”.
Đức Tú
đáp lại rằng: “Không phải em sợ tốn tiền, duy em tự nghĩ ở đời ta sao mình
vậy, mà kỳ thiệt công danh, phú quý, học vấn, chánh sự, triều đình, gia
đường, cả thảy các việc trong thế gian, kể luôn đến cái thân người nữa,
đều là vật giả dối hết, chỉ có cái tâm là thật thôi. Nên kinh Phật có câu
rằng: “Nhứt thiết duy tâm đạo” (Nghĩa là việc gì cũng bởi tại nơi tâm sanh
ra). Vậy làm người chỉ nên giữ gìn cái tâm cho được chánh là đủ rồi, cần
gì phải bỏ cái thật mà hỏi thăm cái giả làm gì!”
Đức Tú
nói mấy lời ấy tuy là chánh lý, mà mới nghe qua như châm chích người bạn ở
kế cận, nên chi Nhựt Thăng tuy ngoài miệng ngợi khen mà trong lòng hờn
giận, rồi đi coi quẻ một mình.
Ông đạo
sĩ gieo quẻ vừa xong, bèn nói với Phùng Nhựt Thăng rằng: “Quẻ này hào văn
chương của cậu vượng lắm, không có ai sánh bằng; nhưng bị hào tài phát
động, khắc hào thê. Tài là thê, thê là mình, mình bị thê khắc, lại hóa hồi
đầu khắc, mà hai bên đều lâm chơn không.
Cứ y
trong quẻ mà đoán ngay, thì qua cuối mùa xuân cậu và hào thê đều phải
phòng lo về tánh mạng.
Còn cái
tướng của cậu, tại cung Ly là nơi quan lộc, hiện đương hưng vượng, đáng lẽ
khoa này cậu đậu đầu. Tướng ấy cũng hiệp với quẻ kia, văn chương vượng
tướng đó!
Còn tại
cung Đoài là nơi thê thiếp, nó phát một cái gân sát khí mà đâm thẳng vào
cung Khảm, là nơi tổ nghiệp và bổn thân của mình. Tướng ấy cũng hiệp với
quẻ kia, nghĩa là tài động khắc thê”.
Phùng
Nhựt Thăng nghe ông đạo sĩ đoán rằng: thê hào phát động, thì tưởng vợ ở
nhà có điều chi, cứ năm bảy ngày sai tiểu đồng về thăm một lần, nhưng vẫn
nghe nói bình an luôn luôn, nên chàng cho ông đạo sĩ nói quàng.
- Thuở
đó, quan thừa tướng trào Minh có một người con gái, tên là Lan Hương, mới
mười bảy tuổi, sắc nước hương trời, cầm kỳ thi họa đều giỏi, mà trót năm
Mậu Tý nàng cứ đau ốm hoài, hết bệnh này sang bệnh khác, thuốc thang không
hiệu, bùa chú không linh.
Qua tháng
chạp, vợ chồng quan thừa tướng bàn rằng: “Mình có một đứa con, cưng như
trứng mỏng, nhưng nó đau ốm mãi, chạy thuốc đủ phương mà không bớt; vậy
phải đem nó vào chùa Từ Quang ngụ đỡ ít tháng, đặng cầu kinh kệ tụng trì,
họa may nhờ ân đức của Phật mà nó mạng đặng chăng?”.
Bà Đổng
Nương là mẹ vú của nàng Lan Hương nghe hai vợ chồng quan Thừa tướng tính
như thế, bà thưa rằng: “Bẩm quan lớn! Chùa Từ Quang linh lắm; hễ ai có
bệnh hoạn đến đó cầu khẩn thì chắc mạnh; nhưng có một điều gay gắt là
người bệnh nếu có tà niệm, thì phải thác ngay. Vì đã thấy có nhiều người
bị như vậy rồi, nên phải cho cẩn thận”.
Quan Thừa
tướng đáp lại rằng: “Con ta tuy gái mà văn tài không kém trai và tự biết
trọng về danh giá; huống lại con nhà đài các ai dám xâm khuy! Người chớ lo
xa mà nhọc trí!”.
Quả nhiên
nàng Lan Hương đến chùa Từ Quang ở cầu kinh mới được vài ngày, thì thấy
bệnh đã bớt nhiều. Nàng thường khi ra vào thấy chàng Nhựt Thăng cũng ở đó,
thì trai tài gái sắc, xướng họa phú thi, ban đầu nét chữ câu văn, sau lại
thả ong quyến bướm.
Nàng Lan
Hương hỏi thăm mới biết Nhựt Thăng đã có vợ nên nàng nói rằng: “Khoa hội
này cha của thiếp làm chánh chủ khảo, nếu chàng bằng lòng bỏ vợ mà kết
duyên cùng thiếp thì, lo chi chức Trạng nguyên về tay người khác!”.
Nhựt
Thăng thấy nhan sắc của Lan Hương xinh đẹp và nghe nàng nói như thế rất
vui mừng, bèn thề rằng: Như chàng thi đậu, thì sẽ về đuổi vợ mà cưới nàng.
Hai đàng
bèn ân ái với nhau, tình nặng nghĩa nồng mà trong chùa không ai biết cả.
Nàng Lan
Hương thật là một người con gái rất đa tình lãng mạn, bánh men đã muốn,
chả cuốn càng ham. Bởi thế nên khi thấy chàng Lưu Đức Tú cũng đến ngụ tại
chùa đặng chờ khoa thi, và biết chàng là Cử nhân tân khoa, lại thêm trai
tơ chưa vợ, thì nàng lừa lúc thanh vắng đến thả đủ lời hoa tiếng nguyệt.
Nhưng
trăm lần như một, mỗi khi nàng buông lời trêu ghẹo, thì chàng Đức Tú chỉ
đáp lại hai chữ “mô Phật” mà thôi.
Đây nói
đến khoa thi Hội nơi trường thứ năm đã tới, mà trong bốn trường thi trước
đã lựa chọn mười hai người được vào thi trước mặt vua.
Khi thi
và khảo duyệt rồi, thì thấy Phùng Nhựt Thăng đậu Trạng nguyên và Lưu Đức
Tú cùng bốn người khác đậu Tấn sĩ, bảng đính đã xong, chỉ đợi sang ngày
mai yết.
Đêm ấy
lối canh ba, vua Vạn Lịch nằm chiêm bao thấy một vị Hòa Thượng y bát trang
nghiêm, đến trước bệ rồng mà yết kiến.
Vua phán
hỏi: “Hòa Thượng ở đâu mà đến đây viếng quả nhơn”.
Hòa
Thượng đáp: “Bần tăng ở chùa Từ Quang, có việc cần kíp, nên đến hỏi thăm
bệ hạ một điều. Vậy khoa thi Hội này, Bệ hạ muốn chọn nhân tài mà kinh ban
tế thế chăng?”.
Vua đáp:
“Chính như thế đó!”.
Hoà
Thượng nói: “Nếu vậy sao Bệ hạ cho quỷ đậu Trạng nguyên, còn Phật thì
không cho đậu chức ấy? Sách có chữ rằng: Phật năng cứu thế, quỷ đa nhiễu
nhơn (Phật hằng cứu đời, quỷ thường quấy chúng), vậy Bệ hạ nên đổi lại cho
Phật đậu Trạng nguyên, thì tốt hơn là để cho quỷ”.
Vua hỏi:
“Cứ như lời ngài nói, thì Phùng Nhựt Thăng là quỷ hay sao?”.
Hòa
Thượng tâu: “Sách có chữ rằng: nhơn tử vi quỷ (người thác hóa ma). Nó đã
thác rồi. Vậy không phải là ma hay sao?”.
Vua lại
hỏi: “Còn ngài bảo quả nhơn đổi lại để cho Phật đậu Trạng Nguyên, thì biết
ai là Phật mà đổi?”.
Hòa
Thượng lại tâu: Người ấy đức vang rất lớn, mỗi khi niệm câu: “Mô Phật” thì
đều động đến thiên đình; người ấy ngày sau giúp nước phò vua, công nghiệp
ngày thêm to tát. Xin bệ hạ xem lại những quyển thi của cái vị Tấn sĩ mà
thấy quyển nào có ửng lộ chữ “Phật”, thì quyển của người ấy”.
Hòa
Thượng nói rồi, liền cưỡi mây lành bay mất.
Vua Vạn
Lịch giật mình tỉnh giấc, thì mồ hôi đã ướt dầm, bèn ngồi dậy suy nghĩ
điềm mộng rất nên kinh tâm, rồi sang ngày truyền quan cận thị soạn những
quyển thi của các vị Tấn sĩ đem đến long án, đặng kiểm duyệt lại.
Nguyên
khoa Hội này đậu đặng Trạng nguyên và bốn vị Tấn sĩ, cộng lại là năm
người.
Vua xem
mấy quyển thi của bốn vị Tấn sĩ, thấy quyển của Lưu Đức Tú mỗi chương đều
có ửng hai chữ “Mô Phật”, nét vàng rất lớn, và xem lại bài vở quả là hàng
gấm trải, chữ chữ ngọc đeo, thì muốn đổi bỏ tên Phùng Nhựt Thăng mà lấy
tên Lưu Đức Tú cho đậu Trạng nguyên liền khi đó.
Nhưng vua
suy nghĩ thầm rằng: Trong điềm mộng thấy Hòa Thượng nói Phùng Nhựt Thăng
đã thác rồi, nên đợi hỏi lại như quả thiệt, thì sẽ đổi tên cũng chẳng muộn
chi.
Vua tự
nghĩ vậy, bèn xuống chiếu dạy đòi Phùng Nhựt Thăng và yết kiến.
Quan
Hoàng Môn lãnh chiếu ra đi rồi trở về tâu rằng: “Muông tâu bệ hạ! Phùng
Nhựt Thăng mới thác tại chùa Từ Quang ở trong thành, lại có con gái của
quan Thừa tướng cũng mới thác tại chùa đó nữa. Hai người phát bệnh một
lượt, giây lát đều từ trần cả.
Vua nghe
tâu rất kinh hãi, liền phê vào quyển thi của Lưu Đức Tú bốn chữ: “Trạng
nguyên cập đệ” rồi truyền đem bản ra yết tại ngọ môn.
Thuở ấy
vua Vạn Lịch có một nàng công chúa, tên là Nguyệt Chiếu, đã được mười sáu
tuổi, hình dung yểu điệu diện mạo đoan trang, cá lặn chim sa, hoa nhường
nguyệt thẹn.
Vua thấy
quan Trạng tài cao tuổi trẻ, bèn đòi vào bệ rồng mà hứa gả công chúa và
hỏi rằng: “Quan Trạng có tu hay không?”.
- Muôn
tâu bệ hạ! Tôi không có tu.
- Quan
trạng không tu mà có niệm Phật hay không?
- Muôn
tâu Bệ hạ! Tôi cũng không có niệm Phật.
- Muôn
tâu Bệ hạ! Tôi có ở tạm ở nơi chùa Từ Quang.
Vua Vạn
Lịch nghe Đức Tú trả lời rằng có ở tại chùa Từ Quang, thì gật đầu luôn đôi
ba lần và hỏi tiếp rằng: “Quan trạng nói rằng không tu mà ở chùa làm gì?”
Lưu Đức
Tú đáp: “Muôn tâu Bệ hạ! Trước khi thi Hội, tôi có đến chùa ấy tìm nơi
thanh tịnh mà đọc sách”.
Vua bèn
hỏi tiếp: “Trong khi ở chùa, quan trạng có lúc nào niệm hai chữ “Mô Phật”
hay không?”.
Khi nghe
vua hỏi đến điều đó, thì Lưu Đức Tú mới nhớ lại lúc ở chùa Từ Quang, mỗi
lần nàng Lan Hương trêu ghẹo nguyệt, thì Ngài đáp lại hai tiếng “Mô Phật”,
nên ngài bèn đem việc ấy tỏ hết đầu đuôi tự sự, thì vua nghe rất khen
ngợi.
Ngày thứ,
Lưu Đức Tú vào triều lạy dưới bệ rồng mà lãnh chức Phò mã, vua truyền cho
quan Khâm Thiên Giám coi ngày tốt đặng cho Trạng nguyên và Công chúa động
phòng hoa chúc.
Vua lại
đem việc chiêm bao thấy Phật và sự đổi Trạng thay tên mà thuật hết cho các
quan trong lục viện, quốc thích, hoàng thân, bách liêu, văn võ, mọi người
đều đem lễ vật chúc mừng.
Khi hoa
chúc trọn ba ngày ba đêm rồi, thì vua đòi Phò mã vào triều và phong chức
Tham Tri trong viện Cơ Mật, lại phong hàm tứ phẩm cho ông bà cha mẹ của
ngài.
Một hôm
nọ, quan Trạng nguyên đến dự yến tại dinh quan Thượng thơ, thấy có bọn
quan kỹ ra ca xướng. –Trong bọn có một nàng hình dung yểu điệu, sắc diện
xinh đẹp hơn mấy nàng kia, bưng rượu dâng đến trước mặt quan Trạng, rồi
khoanh tay cúi đầu mà thưa rằng: “Hai ba tháng mà không biết Ngài. Bẩm
Ngài! Tôi có hầu Ngài còn nhớ hay không?”.
Trạng
nguyên nghe nói như vậy, ngó nhìn nàng ấy một hồi mà chẳng biết là ai.
Các quan
đương dự yến, thấy vậy bèn vỗ tay cười mà nói rằng: “Nếu quan Trạng không
gần sắc sao mà lại có cô chiêu đãi hầu mấy tháng trời?”.
Trạng
nguyên hỏi nàng ấy: “Nàng nói rằng có hầu ta hai ba tháng, vậy nàng hầu
lúc nào, tên nàng là chi, và ở tại đâu?”.
- Nàng
đáp: “Tôi tên là Xuân Thơ, lúc quan Trạng còn ngụ học tại nhà mẹ tôi, thì
tôi có hầu hạ Ngài hai tháng”.
Trạng
nguyên nghe nói như vậy, liền nhớ đến lúc Ngài ngụ học tại một cái nhà mát
lợp bằng lá của bà Vương Mạ Mạ, rồi nửa đêm vì nàng ấy đến phòng trêu hoa
ghẹo nguyệt, nên Ngài buộc lòng thôi ở chỗ đó.
Trạng
nguyên thấy nàng Xuân Thơ nhập vào bọn quan kỷ như thế, bèn hỏi rằng: “Vì
sao nàng đến nỗi này?”.
Nàng nghe
hỏi đến sự ấy, thì hai hàng nước mắt tuôn rơi mà đáp lại rằng: “Bẩm quan
Trạng! Từ khi Ngài thôi ngụ nơi nhà mẹ tôi thì có Pham Tái An đến xin ở.
Phận tôi thì tới lui hầu hạ chàng cũng như tôi hầu hạ ngài thuở ấy vậy.
Ngờ đâu chàng có lòng lang dạ thú, trở lại trêu ghẹo làm cho tôi phải xiêu
theo ý muốn của chàng mà ân ái nhau trọn hai tháng.
Sau chàng
về thi hương, nghe đồn đi thi một lượt với Ngài, mà Ngài đậu Cử nhân, còn
chàng thì rớt, nên quan Thừa tướng là cha chàng bắt về giam cấm, làm cho
tôi với chàng từ ấy phải cách biệt nhau.
Sau tôi
có tiếp được một phong thơ của chàng gởi bảo tôi vào trong cửa thành, thì
có người của chàng sai đến rước về hội hiệp, té ra thơ ấy là giả, vì người
đón tôi đó lại dẫn tôi đem bán cho Tào kê, nên mới ra nông nỗi này”.
Trạng
nguyên nghe nàng Xuân Thơ tỏ hết cái hoàn cảnh của chàng như thế, thì Ngài
xúc động lòng nhân, liền nói với các quan đương dự yến đó rằng: “Nó quả có
công lao hầu hạ tôi, mà nay lại thất thân lầm người gian trá. Vậy xin các
ngài vị tình tôi mà dung cho nó khỏi hầu rượu, rồi đây tôi sẽ sai người đi
đòi mẹ nó đến mà cho tiền đem chuộc nó về”.
Các quan
thấy vậy, đều khen ngợi quan Trạng có lòng nhân đức.
Trạng
nguyên sau này được bổ qua mai thăng, lần hồi làm đến chức Thừa tướng,
giúp luôn ba triều vua Minh, mưa nhơn rưới khắp trong ngoài, lửa rực cháy
tiêu gian nịnh, và các việc triều chánh Ngài đều nắm chặt trong tay.
Còn Công
chúa sanh được ba vị công tử, đều nối giòng khoa giáp, tiếp gót điện đình,
sân rồng các phụng bia danh, sử ngựa kinh lân để tiếng.
Trích Gương Nhân Quả
Người say mê ái dục cũng như người cầm đuốc đi
ngược gió, không làm sao tránh khỏi cái nạn cháy tay.
Người yêu muôn thuở
^
Ba Tư Nặc
là đức vua trị vì vương quốc Kosala một quốc gia hùng cường ở Ấn Độ, trong
thời Phật còn tại thế.
Đức vua
có một vị Hoàng phi xinh đẹp tên là Mạt Lợi, mỹ nhân này là một Công chúa
của dòng họ Thích Ca, được vua Ba Tư Nặc đặc biệt sủng ái.
Một hôm
nhà vua hỏi nàng Mạt Lợi:
- Trên
đời này ái khanh yêu ai nhất?
- Muôn
tâu…dĩ nhiên là thiếp quý Bệ hạ nhất.
- Trẫm
cũng đoán là khanh sẽ trả lời như vậy. Mạt Lợi mỉm cười:
- Muôn
tâu, nếu Thánh thượng cho phép thần thiếp sẽ nói khác đi một tí, nhưng xác
thật hơn.
- Ái
khanh cứ nói!
- Muôn
tâu, người mà thần thiếp yêu quý nhất chính là thần thiếp.
- Sao?
Mình lại yêu mình? Trẫm không hiểu ái khanh muốn nói gì?
- Tâu Bệ
hạ! Vì có ái trong tự ngã của mình nên thần thiếp mới yêu thương Bệ hạ…Vì
Bệ hạ là người đem lại hạnh phúc cho cái tự ngã này.
- Trẫm
đồng ý điều đó, nhưng vẫn chưa hiểu rõ ý của ái khanh.
- Muôn
tâu, thần thiếp xin mạn phép nêu ra một câu hỏi: “Trên đời này Bệ hạ yêu
quý ai nhất?”.
- Ái
khanh chứ còn ai nữa!
- Nhưng
giã sử như thần thiếp lại đi yêu thương chiều chuộng, ve vuốt một người
đàn ông khác thì Bệ hạ sẽ tính sao… Muôn tâu, thần thiếp chỉ giả dụ vậy
thôi!
- À… À…
Trẫm sẽ, trẫm sẽ…
- Nghĩa
là Bệ hạ sẽ nổi trận lôi đình và chém đầu thần thiếp ngay lập tức?
- Ái
khanh rắc rối thật!
- Muôn
tâu, có đúng thế không ạ?
- À…À…
- Đúng…
phải không Bệ hạ!
- Ờ…Ờ…Có
lẽ đúng như vậy.
- Thế
thì…Bệ hạ đã hiểu rõ câu đáp của thần thiếp rồi chứ?
Nhà vua
im lặng giây lâu rồi lặng lẽ gật đầu:
- Có lẽ,
khanh nói đúng, mình chỉ yêu thương có mình mà thôi.
Hôm sau,
đức vua xa giá đến Kỳ Viên thăm Phật và trình bày tự sự câu chuyện đối đáp
giữa vua và Hoàng phi Mạt Lợi. Đức Phật đã xác nhận ý kiến của Hoàng phi
Mạt Lợi kệ trong kinh Phật tự thuyết:
Tâm ta đi cùng khắp
Tất cả mọi phương trời
Cũng không tìm thấy được.
Ai thân hơn tự ngã.
Và Đức
Thế Tôn cũng nhắn nhủ luôn đức vua Ba Tư Nặc cùng số thính chúng đang hiện
diện:
Tự ngã đối mọi người
Quá tham ái như vậy
Vậy ai yêu tự ngã
Chớ hại tự ngã người!
Như Thủy
Vô ngã tức Niết bàn.
- o0o -
Tập 01 |
Tập 02 | Tập
03 | Tập 04 |
Tập 5
- o0o -
| Mục lục Tác giả || Tủ
Sách Phật Học |
---o0o---
Vi Tính: Tịnh Tâm, Tịnh Hương
Trình bày: Nhị Tuờng
Cập
nhật : 01-11-2003