Truyện Cổ Phật Giáo
Tập 5
Thích Minh Chiếu
Sưu tập
---o0o---
Ðáng
mặt cao tăng
^
Minh Thứ
Trai làm huyện lệnh tại huyện Hiến, ông có tiếng là một quan thanh liêm,
minh chánh. Nay ông đổi về tại phủ Thái Bình.
Một hôm
có người nghi án, Thứ Trai thay đổi y phục, giả thường dân đi nghe ngóng,
dò xét. Ông đi mỏi mệt ghé và chùa nghỉ. Tăng trưởng trong chùa trên tám
mươi tuổi, người thấy ông vào chắp tay chào, rồi gọi tiểu dâng trà.
Tiểu
nói:
- Quan
Thái Thú chưa tới, để con mời mấy vị khách vào phòng khách sẽ ra bưng trà.
Tăng
trưởng nói:
- Thái
Thú đã tới rồi!
Thái Thú
nghe hoảng hồn nói:
- Tại
sao sư ông biết tôi?
Sư nói:
- Ngài
làm Thái Thú một quận, Ngài không biết người ta, chớ nhân dân trong quận
ai lại chẳng biết Ngài. Nhất cử nhất động trong phủ của Ngài ai ai cũng
biết.
Thái Thú
nói:
- Thế
thì sư ông biết tôi đi việc gì đây chăng?
Sư nói:
- Thì vụ
án chưa giải quyết đấy. Ðôi bên đều cho người đi bố cáo đầy đường cùng
nẻo. Hễ gặp phe này thì phe này phải, gặp phe kia thì phe kia phải. Người
đời ai cho khỏi chuyện ân oán.
Như thế
Ngài biết tin ai, mà còn làm hại cho Ngài nữa là khác. Ngài nên “thính
tụng” là tốt hơn.
Tiểu
nhân ai cũng lo lợi riêng cho bản thân và gia đình của chúng.
Tôi là
người phương ngoại, lẽ ra không dự việc thế gian, huống hồ việc quan.
Nhưng Phật pháp từ bi, xả thân tế chúng, dù lợi Phật cũng phải liều chết
để mà nói. Phương chi là lợi nhân, nỡ nào tôi lại làm thinh.
Án ấy Tù
hay Ðày tùy Ngài định liệu “Thủy hữa lợi tắc y dĩ tự phí. Thủy hữu hoạn
tắc lân quốc vị hóa” (Nước có lợi cho ta, ta nên ngăn lại để dùng, nước có
hại cho ta thì cho nó chảy ra hàng xóm làm khe mương). Ăn thua nơi sự tính
toán của Ngài.
Thái Thú
nghe Sư nói, ngồi trầm ngâm một hồi rồi về, không đi phỏng sát nữa. Ngày
mai Thái Thú cho người mang gạo và dầu, hương đến cúng chùa. Thì hỡi ôi!
Sư ông đã viên tịch sau khi Thái Thú trở về Phủ đường.
Trước
khi sư viên tịch có nói với đồ đệ một câu: “Tâm sự của ta đã xong rồi...”
Chim hót ve kêu đều đạo lý
Sương mai lá rụng thảy thiền
na.
Sư đệ
^
Thiền sư
Bankei có rất nhiều đệ tử đến để học pháp. Trong số đó có một chú đệ tử
nhỏ thường hay ăn cắp vặt và đã bị bắt quả tang nhiều lần.
Thấy
Thiền sư cứ bỏ qua không đả động gì đến tội phạm, các sư huynh của chú
tiểu phạm tội liền họp nhau làm một tờ đơn thỉnh nguyện dâng lên bổn sư,
dọa rằng họ sẽ bỏ ra đi tất cả nếu Thiền sư còn làm lơ không xử tội tên ăn
cắp.
Ðọc xong
tờ thỉnh nguyện khiếu nại, Thiền sư bèn họp chúng tuyên bố:
Tốt lắm,
cứ theo tờ thỉnh nguyện này thì các con đều là những người thông minh,
phân biệt rành rẽ về thiện và ác... các con có thể đi bất cứ nơi nào cũng
xuôi chèo mát mái cả... và thấy cũng không có gì để lo ngại. Duy chỉ có
thằng đệ tử đáng thương này là chưa hiểu rõ tà chánh... Thầy có bổn phận
phải dạy dỗ nó... các con cứ lên đường, còn nó phải ở lại với thầy.
Chú tiểu
ăn cắp òa lên khóc và từ đó chú không bao giờ tái phạm lỗi cũ.
Tất cả
môn đồ đều xin ở lại... và họ sống bên Thiền sư cho đến ngày người viên
tịch.
Như Thủy
Cần thức tỉnh người chưa
giác ngộ
Giác ngộ rồi, hóa độ ích
chi?
Lòng từ bi còn kém ^
Ngày
xưa, có một người đàn bà góa chồng, không biết quê quán ở đâu, rất nghèo
nàn đói lạnh, nhưng về phụ hạnh vẹn toàn, khiến hàng phụ nữ và đấng nam
nhân, ai ai cũng đều kính phục.
Nàng
nghe thiên hạ đồn rằng: Có một ngôi chùa kia do một vị sư trú trì, hợp lực
cùng mấy nhà từ thiện kiến lập trai đàn. Mục đích là cầu an cho bá tánh và
bố thí gạo vải cho dân nghèo. Nghe tin ấy, nàng rất vui mừng, bèn bồng
hai đứa con và dắt con chó đến chùa để xin bố thí.
Đến nơi,
nàng thấy trai đàn trang nghiêm thanh tịnh, đèn thắp sáng choang, khói
trầm nghi ngút, những nhà giàu sang thì đang đem tiền của cho người nghèo
khổ, thuốc thang tặng cho những người đau ốm bệnh hoạn.
Nàng
đứng xớ rớ trong đám người đi xem trai đàn, mà trong lòng thì tự nghĩ:
Người ta giàu có, tiền của dư giả, đem ra làm chay làm phước để cầu phước
báu về sau. Còn mình thì phước mỏng nghiệp dày, thiếu thốn đói khát, há
mình không tìm được một cách gì để bố thí làm lành như những người giàu
sang kia được?
Nghĩ như
vậy rồi, nàng liền tự hớt đầu tóc của mình, đem vào dâng cho vị trú trì để
làm vật bố thí.
Khi ấy
chưa đến giờ thọ trai, Tăng chúng và thiện nam tín nữ còn đang hành lễ.
- Bạch
thầy, phận tôi cơ hàn, chồng thì đã chết, để lại cho tôi hai đứa con nhỏ
đây, và một đứa con ở trong bụng. Thế mà người thân chẳng có, gia sản cũng
không, nên tấm tân phải vất vả, nay đầu làng mai cuối chợ, ăn nhờ hột cơm
dư của quần chúng. Nay tôi đến đây, xin thầy từ bi bố thí cho mấy mẹ con
tôi một ít cơm chay để đỡ lòng, mẹ con tôi còn đi xin nơi khác.
Vị trú
trì nghe vậy, liền sai ông đạo nhỏ chạy xuống nhà bếp đơm cho nàng ba bát
cơm thật đầy. Vị trú trì tưởng cho như vậy là đủ.
Ai dè,
người đàn bà nhìn ba bát cơm một hồi, rồi thưa:
- Bạch
thầy, thầy từ bi cho thêm một bát cơm nữa, đặng cho phần con chó.
Vị trụ
trì nghe nàng nói như vậy, thì trong lòng đã hơi giận rồi, nhưng cũng ráng
dằn lòng xuống và bảo người đi xúc cho con chó một bát cơm nữa cho êm
chuyện.
Nào ngờ,
người đàn bà tiếp lấy bát cơm, lại thưa tiếp rằng:
- Bạch
thầy! Đứa nhỏ mà tôi đang mang trong bụng đây. Thiết nghĩ thầy cũng nên
hoan hỷ cho nó một bát cơm nữa mới đúng!
Vị trú
trì nghe nói như vậy nổi xung, liền lớn tiếng:
- Kiếp
trước nàng ôm lòng bỏn xẻn, không biết bố thí làm nhân, nên nay mới chiêu
cảm cái thân bần nữ như thế, lại góa bụa không chồng, sống ăn nhờ của dân
chúng, chết chẳng ích gì cho quê hương; vậy mà không biết thân, còn muốn
ăn tham của Tăng chúng nữa. Vả lại xưa nay, có ai thấy những đứa nhỏ còn ở
trong bụng mẹ mà người ta cho nó ăn cơm bao giờ, mà nàng đòi xin một cách
trái đời như vậy! Thôi hãy đi chỗ khác, chớ đừng nói chuyện dây dưa mà làm
trễ giờ của bần Tăng lễ Phật.
Câu nói
của vị trú trì vừa dứt, thì năm sắc mây màu kết lại, rực rỡ trên hư không;
rồi người bần nữ ấy hiện ra chân tướng của đức Văn Thù, cưỡi con sư tử rất
hùng tráng oai nghiêm, hai bên thì có Thiện Tài và Ưu Điền Vương đứng hầu,
làm cho ai nấy trông thấy đều hoảng kinh và cúi đầu đảnh lễ.
Đức Văn
Thù liền đọc bài kệ:
Bầu đắng, đắng tận gốc
Dưa ngọt, ngọt cùng dây
Ta đã siêu tam giới
Còn bị chư Tăng rầy!
Khi đọc
bốn câu kệ rồi, thì đức Văn Thù liền ẩn thân năm sắc mây lành lần lần tan
biến.
Thấy
vậy, vị trú trì thất thần biến sắc, mở hai con mắt nhìn trân trân, một
chặp lâu mới định trí lại, và tự trách mình rằng: Tiếc bấy lâu nay tu
hành, ăn cơm Phật, nhận mình đã vào cửa vô vi, mà lòng từ bi còn kém, đức
nhẫn nhục chưa tròn, đến nỗi không thấy chơn Thánh như vậy, thì ta còn để
đôi mắt làm chi?
Vị trú
trì tự trách rồi, liền với tay lên muốn lấy con dao nhỏ để khoét đôi mắt,
mọi người lật đật xúm lại giựt con dao và khuyên giải một hồi, thì ngài
mới bớt lòng buồn rầu ân hận. Sau đó vị trú trì đắp y hậu đến trước Phật
đài, chí thành đảnh lễ Tam Bảo để thành tâm sám hối.
Từ đó về
sau, đối với mọi người, vị trú trì giữ được tâm từ bi bình đẳng để tiếp
đãi, không còn phân biệt giàu nghèo, sang hèn nữa…
Còn đầu
tóc của đức Văn Thù thị hiện bố thí đó. Thì nhà chùa xây dựng một ngôi
tháp ngay chỗ Bồ Tát thị hiện xin cơm để tôn thờ, và hằng ngày chiêm
ngưỡng cúng dường…
Giác Nhựt
Một sự bố thí đúng pháp, là sự bố thí phát xuất
từ lòng thương vị tha và tự nguyện, mà không bị chi phối bởi động lực lợi
danh, hoặc một lý do nào khác.
Có khi gương vỡ lại lành hơn
xưa ^
Upaka là
một nhà tu khổ hạnh trẻ tuồi, đẹp trai, vì ở lâu trong rừng núi nên người
ta gọi chàng là vị Ẩn sĩ thanh tịnh. Lại nữa, chàng có đôi mắt rất đẹp nên
người ta thường gọi chàng là Đạo sĩ Mắt Đen.
Thưở
nhỏ, chàng tự ý lìa bỏ gia đình xin xuất gia trong giáo phái Ni Kiền Tử
(Phái lõa thể của ngoại đạo). Chàng ở lâu trong sơn lâm, luyến ái sơn lâm
nên đạo hạnh của chàng cũng được nhiều người nghe tiếng; nhưng thực chất
chàng không có gì, chưa có đường chân chánh để đi, chưa có ánh sáng để
tới. Chàng đi khất thực, trở lại ngôi rừng thân ái của mình để thiền định,
nhưng tâm cứ như vượn hoang, như thú núi, nay rong chơi chỗ này, mai leo
chuyền chỗ khác. Thỉnh thoảng, chàng muốn thay đổi không khí, tạm biệt chỗ
cư ngụ, vân du lang thang đây đó vài ba ngày, rồi lại trở về để “thanh
tịnh khất thực, thanh tịnh thiền định”. Dung mạo cử chỉ, thái độ bên ngoài
rõ là bậc đại Ẩn sĩ nên người ta đồn đại với nhau rằng đấy là vị A La Hán.
Ven khu
rừng có một xóm làng bé nhỏ, mọi người tín mộ chàng. Và gia đình người thợ
săn kia thường trực để bát cho chàng, bất cứ lúc nào Đạo sĩ Mắt Đen ấy đi
qua.
Hôm nọ
sau cuộc vân du trở về, trên đường ngược chiều, upaka thấy một sa môn trẻ
tuổi. Chàng dừng sững lại. Sa Môn kia không to lớn lắm, chẳng phải gầy,
chẳng phải mập, mà đầy đặn. Y áo chẳng phải cũ, chẳng phải mới nhưng thanh
sang và hài hoà. Tất cả nơi ông Sa Môn đều toát ra cái vừa phải, cái chừng
mục nhưng đẹp và gợi cảm một cách lạ lung. Upaka bước tới rồi bước lui,
nhìn ngắm mê mải, ngạc nhiên. Có một thứ ánh sáng sáu màu khi đậm, khi
nhạt, khi loang rộng như túa hẳn ra, lung linh, chập chờn rồi yên lặng,
phẳng lặng như mặt nước hồ thu không gợn sóng. Đến gần hơn tí nữa thì
chàng hoàn toàn bi nhiếp phục ởi sự trầm tịnh, ổn định, an lạc toát ra từ
đôi mắt, từ bước đi. Có một sự khôn ngoan vượt ngoài thế giới, sự minh
triết sáng ngời, một trí tuệ siêu đẳng ẩn ở đâu đó, không chỉ nơi vùng
trán bát ngát, mà còn có thể ở cả nơi từng sợi tóc, lông mi, từ ngón tay,
lóng tay và cả ngón chân nữa… “Chàng này, vị Sa Môn trẻ tuổi đẹp trai này
chắc hẳn không phải là người, là … Phạm Thiên chăng?”.
Upaka
nghĩ vậy rồi cất tiếng chào:
- “Chào
bạn thân ái! Bạn đẹp quá, đẹp lạ lùng! – Chàng mỉm cười sung sướng tán
thưởng rồi tiếp: Lục căn của bạn thanh tịnh và an ổn làm sao! Ồ! Không
phải chỉ có thế, nói vậy chưa đúng. Nó làm cho sự an ổn và thanh tịnh cũng
bị nhiếp phục. Hào quang sáu màu từ nơi bạn làm cho một vị Đại Phạm Thiên
cũng phải ganh tị. Nước da của bạn chói ngời như mẹ vàng ròng. Chắc sức
khoẻ của bạn dồi dào lắm? Chẳng hay bạn tên chi? Ở đâu? Xuất gia với ai?
Đấng Đạo Sư của bạn là vị nào? Bạn tin tưởng vào giáo lý nào?
- Này
Upaka! Vị Sa Môn trẻ tuổi dừng lại, gọi đúng đích danh chàng – Như Lai là
kẽ đã vô nhiễm giữa trần cảnh, đã đoạn tận ác pháp, đã tịch tịnh, vô dục,
đã bước ra khỏi mọi chấp trước ở bản thân và thế gian điên đảo kiến. Như
Lai đã chiến thắng tam giới, chứng đạo quả Vô Thượng Bồ Đề thì còn ai là
thầy của Như Lai? Giữa chúng chư Thiên, Phạm Thiên, Như Lai đứng một mình,
là thầy của họ. Nay Như Lai đang đi đến vườn Nai ở Ba La Nại, quay bánh xe
Pháp, giống tiếng trống Bất Tử cho chúng sanh tỉnh giấc mộng trường!
Upaka
nghĩ rằng: “Vị đạo sĩ này ăn nói dễ nghe, dễ thương đến vậy? Chà, cái óc
và cái lỗ tai nó được làm sao!”.
Bèn nói:
- Mong
rằng sự việc sẽ như bạn nói. Bạn thật xứng đáng gọi là Bậc Chiến Thắng Bất
Diệt!
- Này
Upaka! Kẻ giải thoát ra khỏi mọi trói buộc trần gian xứng đáng được gọi
như vậy. Kẻ mà ma quân, phiền não không còn tìm thấy dấu vết, xứng đáng
được gọi như vậy. Các đấng Như Lai thường được danh xưng là Tối Thượng
Tôn, Vô Năng Thắng, là bậc Chiến Thắng Bất Tử, Chiến Thắng Vô Tận, Vô Hạn
Định!
Upaka
gật đầu lia lịa:
- Thật
đúng như vậy! Thật đúng như vậy! Thôi, này bạn của ta, chào bạn sức khoẻ!
Sau khi
đối thoại với đức Đạo Sư, gật đầu lia lịa tán thán đức Đạo Sư: “Thôi, này
bạn của ta, chào bạn sức khoẻ!”. Upaka không dừng lại nơi giáo pháp này,
chàng bỏ đi. Bằng đường tắt, chàng đến ngôi lều cỏ nơi khu rừng Vankahara
thân yêu của chàng. Lại khất thực, lại thiền định, lại tâm viên ý mã, lại
đi về thanh tịnh, trang nghiêm, lại được người ta kính mộ coi như là bậc A
La Hán.
Gia đình
người thợ săn có cô con gái đào tơ, sen ngó. Nàng là pho tượng, là tác
phẩm nghệ thuật tuyệt mỹ của thợ trời, thợ nghiệp. Nàng có đôi mắt đen
mướt và trong xanh lóng lánh; là sự mát dịu của uyên ương, của chú bồ câu.
Có dáng đi đài các và uyển chuyển của thiên nga. Cái chân, cái tay, đôi
má, cái cổ như trứng gà nõn và mũm mĩm như cây lựu nẩy mầm. Có nụ cười ướt
sương và trinh bạch như nụ hoa đầu núi. Nàng đẹp đến nỗi ông thợ săn ít
dám cho nàng đi đâu, sợ thanh niên trai tráng mọc đứng, mọc ngồi thành
“cây si”, “bụi si tất thảy”. Nàng tên là Càpà.
Hôm kia,
vì cả gia đình đi vắng nên Càpà phải ra để bát cho ông Đạo sĩ Mắt Đen, A
La Hán trẻ tuổi đẹp trai. Điều linh nghiệm, chân lý của ông thợ săn đã xảy
ra. Đạo sĩ Mắt Đen sững sờ, chết lặng, trái tim tự động bước ra ngoài mà
không thèm hỏi chàng một tiếng. Đôi mắt đen của chàng Đạo sĩ thu bắt tức
khắc, chuyên chú tinh cần vào đề mục “Thiền định hấp dẫn” này. Ôi! Cái đề
mục này sao mà dễ “gom tâm” đến thế! Mỗi khi chàng niệm hơi thở, nhìn chót
mũi, quán bộ xương khô, bát đất hay lỗ chân long thì nó như con cá quăng
trên cạn, như con khỉ bị trói hai tay! Sao mà kỳ!
Căn nhà
khép cửa đã lâu mà chàng còn “nhập đại định” ở đấy. Nhưng rốt cuộc lại
cũng phải “xả thiền” chứ? Thế là chàng như người mất hồn, lững thững lê
bước nặng nề về chốn “cô đơn thầm lặng”, ôm bình bát vật thực trên tay,
bao giờ cũng nhiều món ăn thượng vị chàng ngồi xuống trên nệm cỏ, tâm thần
còn choáng váng như uống tách rượu say, cái thần hồn như còn gởi ở cõi “mỹ
sắc đại thiên tưởng”.
Upaka
không ăn uống gì. Chàng ngồi trọn bảy ngày, bình bát chưa hề mở ra, kiên
quyết khởi tâm nhất hướng, tối thượng tinh tấn vào đề mục: “Một là lấy cô
gái người thợ săn làm vợ, hai là chết khô!”.
Sau bảy
ngày công việc trở về, người thợ săn hỏi cô gái rượu:
- Này
con than! Bậc A La Hán của chúng ta vẫn đều đặn đến khất thực đấy chứ?
- Thưa
cha thân! Một lần thôi!
- Sao kỳ
vậy hả? Ngài có đi hóa độ phương nào?
- Các
bậc A La Hán thường nhập đại định đến bảy ngày. Chắc Đạo sĩ Mắt Đen của
chúng ta như vậy!
Người
thợ săn đi nhanh đến cửa lều của Upaka, nhìn qua nệm cỏ thấy một cái xác
vô hồn, đang ôm bát trên ngực, đôi mắt lờ mờ mê dại.
- Ôi!
Người thợ săn hớt hải la to – Ngài bị bệnh gì? Hay là ma nhập? Ối! Ma nhập
rồi làng xóm ơi!
Upaka
tỉnh lại, nhận ra người thợ săn, mệt mỏi xiêu ngả đứng dậy, bình bát rơi
đổ tung tóe những món ăn thượng vị mốc meo. Rồi bất ngờ nhất, chàng ôm
chầm người thợ săn khóc nức nở. Người thợ săn hoảng vía, gỡ ra không được,
hỏi dồn dập:
- Sao
vậy? Sao kỳ lạ vậy Ngài? Bệnh gì đây? Ma quỷ gì lạ đời?
- Ông
ơi! Tôi chết mất thôi! – Upaka mở tiếng được tiếng mất rồi gắng gượng nói
một hơi - Con gái ông đã lấy hồn tôi, đã làm cho tôi bị bệnh. Cái bệnh
này còn vạn lần đau khổ hơn cái bệnh thân xác. Ông hãy cứu tôi. Tôi không
phải là bậc A La Hán đâu. Tôi chỉ là kẻ tầm thường. Tôi đi tu là vì thấy
yêu thương hình bóng các ông Đạo sĩ. Nay thì tôi thương yêu con gái ông
hơn. Con gái ông đã chiến thắng tôi, là bậc “chiến thắng bất diệt”. Ông
ơi! Ông hãy giải thoát cho tôi khỏi mối tương tư. Một là tôi chết khô, hai
là ông cho tôi người con gái. Nàng là thiên thần, là nữ Đại Phạm Thiên!
Nàng là người trên đầu trên cổ tôi, là thượng đế của tôi, là “đề mục thiền
định cho tôi gom tâm tu hành. Ông ơi! Hãy cứu tôi!
- Nói
như vậy thiệt là hết kinh hết sách, hết chữ nghĩa, hết tín ngưỡng. Người
thợ săn bối rối, ngỡ ngàng trước sự việc như thế. Hồi lâu, nghĩ cũng cảm
cảnh thương tình, ông ân cần dịu dàng nói:
- Thôi
được rồi! Để tôi giải thoát mối đau khổ cho ngài. Thời tuổi trẻ, tôi cũng
đã từng biết thương yêu nên tôi hiểu.
Nhìn bậc
tu hành từ dung sắc chói sáng, thù thắng tuyệt mỹ như Phạm Thiên mà phút
chốc trở nên tiều tụy; đôi mắt xanh đen biêng biếc thành đôi mắt xám bạc
thẫn thờ, người thợ săn thông cảm xiết bao. Nhưng nghĩ có điều thực tế nan
giải ông bèn hỏi:
- Nhưng
mà này Ngài ạ! Khi cưới nhau rồi chẳng thể “một mái nhà tranh hai quả tim
vàng” được đâu. Cổ thi dạy khác mà tân thi dạy khác. Tân thi nói rằng:
Hạnh phúc thường cho ăn cơm với thịt và cá; bạn mà cho nó ăn rau, uống
nước lã thì nó sẽ mang guốc, đội nón ra đi thôi! Ngài xuất gia từ nhỏ, ít
quen được nắng mưa lam lũ, nghề chân, nghề tay, oằn lưng, trệ vai, đổ mồ
hôi, sôi nước mắt. Con gái tôi, tôi “nâng như nâng trứng, hứng như hứng
hoa”, quen mặc áo lụa Kàsi, quen đeo vàng hoa Pàtalim tóc mây, thân thể
mượt mà quen ướp hương Chiên đàn Haricanadana tối thượng, da thịt tay chân
óng ánh ngọc ngà như nụ Paduma mới nở. Thì Ngài có nghề ngỗng gì mà nuôi
nó?
Upaka
vừa thong hai chân xuống cuộc đời, chưa đi được bước nào đã vấp phải cục
đá, ruột đau, im sững.
Người
thợ săn gục gặc đầu rồi mở giọng ồ ồ:
- Làng
trên xóm dưới hay ở đâu đó có hát hỏng ví von rằng:
“Thấy
đóa hoa nở thì thương
Mang vô
bình cắm sợ hương nhụy tàn
Áo cơm
không đủ cho nàng
Muốn dua
đĩa ngọc, bẽ bang tuổi xanh.”
Đấy! Đấy
Ngài tính đi! Bụng làm dạ chịu. Tôi cũng thương Ngài lắm mà!
Sau một
hồi suy nghĩ, Upaka nói:
- Ông đã
thương thì thương tôi cho chót. Tôi xin thú thiệt. Tôi chẳng biết một nghề
gì. Nhưng những khi ông bắn rơi một con chim, bẫy được một con thú… tôi có
thể “làm nghề” lượm chúng, mang xuống chợ bán để đổi gạo, đổi thức ăn cho
cả…gia đình ta!
Cầm lòng
không đậu, người thợ săn tốt bụng và hay nói chữ, gật đầu, dẫn về nhà, cho
y phục rồi đem đến trình diện cô con gái:
- Này
con gái thân! Bắt đầu từ nay, cha nuôi bậc ẩn sĩ trong nhà, con chịu chứ?
Nàng
Càpà đã đoán ra mọi sự nhưng giả vờ ngớ ngẩn hỏi:
- Bậc”
ẩn sĩ” sao lại “ẩn” trong nhà có con gái?
- Không!
Đây là bậc ẩn sĩ đã hết “ẩn sĩ” rồi!
- Ẩn sĩ
hết ẩn sĩ, sao kỳ vậy?
- Nghĩa
là bậc ẩn sĩ… bây giờ gọi là “ẩn tại gia” và ẩn tại gia…nghĩa là muốn nhận
cha làm…nhạc gia!
Nàng
Càpà ré lên bỏ chạy. Người thợ săn cất tiếng cười ha hả. Chàng Upaka đỏ
bừng mặt, cúi gằm xuống.
Cũng là
duyên cũng là Nợ, cũng là Nợ cũng là Duyên! Cái quả của sự gặp gỡ thương
yêu nhau cho họ một đứa con. Khi có một đứa con thì sắc đẹp, tính nết nàng
không còn như xưa nữa, và chàng thì nay núi này, mai núi khác, da đã chai
sạn màu đồng hun. Làm nghề lượm thịt săn không đủ sống, phải phụ thêm nghề
đốn củi, đốt than. Đôi khi chàng cũng mơ màng nghĩ đến đời sống nhàn cư
thanh tịnh cũ. Đôi khi lại nhớ tưởng đến hình bóng của “Người bạn gặp trên
đường, bậc Chiến Thắng Bất Diệt!”. Nàng Càpà cũng thương cám cảnh than
dài. Nhưng chim đã liền cánh, bóng đã dính hình, ân nhân duyên phải đành
thế. Một hôm con khóc, nàng vô tình hát rằng:
“Ầu ơ…ru con, con ngủ cho ngon,
Cha con ẩn sĩ…lượm thịt săn giữa rừng
Ầu ơ…ẩn sĩ rớt bát giửa chừng,
Vì con, vì vợ còng lưng tháng ngày”.
Nghe
được, Upaka tức giận nói:
- Này
nàng Càpà! Nàng nói ta là “ẩn sĩ lượm thịt săn”, “ẩn sĩ rớt bát”. Nàng
tưởng ta không có nơi nương tựa. Ta không có còng lưng cúi đầu mãi ở trong
cái nhà này đâu. Ta biết ta là kẻ ăn đậu ở nhờ, vô gia cư, vô nghề nghiệp.
Ta biết thân phận của ta lắm. Ta có một người bạn, bậc “Đại Chiến Thắng
Bất Diệt”. Ta sẽ đến nương tựa với bạn của ta.
- Em
không nói thế đâu, chàng Mắt Đen của em! Em thấy chàng suốt ngày cúi dầu
và còng lưng lượm thịt săn một cách vất vả, một cách khốn khổ đấy thôi.
- Nàng
có cách nói hai nghĩa, nghĩa đằng đầu và nghĩa đằng đuôi. “Cúi đầu và còng
lưng”. Chà, mai hay nhỉ? Ta nói cho nàng biết, ta đã sa đầm lầy khốn cùng.
Ta thức ngộ rồi. Ta sẽ xuất gia trở lại. Ta sẽ đi theo bạn của ta, bậc
Chiến Thắng Bất Diệt!
Chớ có
tức giận em, chàng Mắt Đen của em. Có thể em đã dại dột, lỡ lời, xin chàng
tha tội!
- Ta
không có tha tội. Chí ta đã quyết. Ta sẽ rời khỏi Vankahara, nơi ta đã bị
trói buộc và bị quyến rũ bởi sắc đẹp ma quái của nàng. Ích gì cái kỷ niệm
đau xót này!
- Ôi!
Chàng Mắt Đen của em! Hãy ở lại, chớ có đi! Em không dại dột thế nữa đâu.
Em sẽ hầu hạ phục tùng chàng, là nô lệ của chàng.
- Không
thể nữa đâu, nàng Càpà! Một phần mười sáu lời nói của nàng có thể làm cho
trăm vạn nam nhân phải mê mệt. Nhưng ta thì không thể nữa đâu!
- Chàng
Mắt Đen của em! Em đã đến nỗi nào. Em vẫn còn như cây Takkàrim nở hoa trên
đầu núi. Những vòng hoa Patalim vẫn rực rỡ dung sắc hiến tặng chàng. Những
chiếc áo lụa Kàsi tối thượng vẫn làm dịu mắt chàng. Tóc em, da thịt em vẫn
ướp hương chiên đàn thơm lừng lựng.
Upaka
bây giờ cất giọng chậm rãi:
- Nàng
Càpà! Bây giờ nàng lại dung mồi sắc dẹp để bủa giăng cánh chim trời đấy
phỏng? Dẫu nàng là dòng dõi thợ săn tuyệt xảo đến bảy đời, cánh chim kia
chỉ một lần sa lưới!
Nàng
Càpà chợt tức giận:
- Chàng
Mắt Đen của em! Chàng nói thế mà nghe được sao? Em bủa giăng lưới hay tự
chàng bước vào lưới?
Upaka
nín lặng. Càpà lồng lộn lên:
- Này!
Còn đứa con thì tính sao đây?
Upaka
vẫn không nhượng bộ:
- Bậc
trí bỏ vợ con, bỏ tài sản và quyến thuộc ra đi không ngoảnh lại!
- Thế
thì giả dụ “tôi” đánh nó, “tôi” giết nó, “ông” cũng không thèm cứu ư?
- Nó là
con của nàng, từ trong núm ruột của nàng mà ra, quẳng cho chó sói ăn là
quyền của nàng. Tâm ta vẫn bất thối.
Nàng
Càpà thở dài. Thế là hết rồi. Con hỗ đã trở lại rừng xưa. Chàng đã trở lại
tâm đích thực của một ẫn sĩ. Sắc đẹp ta, nụ cười ta, vòng tay ta, cả con
cái nữa, đã bất lực trước chàng. Chiếc gương đã vỡ, hình đã rời bóng, cánh
đã lìa than. Nàng buồn bã cất giọng dịu dàng:
- Chàng
Mắt Đen củ em! Chàng bỏ đi đành đoạn vậy ư?
- Từ khi
biết nói đến nay, ta chưa hề nói dối.
- Vậy
chàng đi đâu?
- Ta đã
nói với nàng mấy lần, ta có một người bạn. Ta sẽ đến với bạn của ta, bậc
Chiến Thắng Bất Diệt.
- Vị ấy
ở đâu?
- Bạn
của ta đang đi gióng tiếng trống bất tử ở vườn Nai, từ đó, bạn của ta sẽ
bộ hành với đồ chúng, làng này sang làng khác để chuyển bánh xe pháp.
Im lặng
khá lâu giữa hai người.
Nàng
Càpà nói:
- Vậy
thì khi chàng đến gặp vị ấy, hãy thay mặt em nhiễu quanh ba vòng về phía
hữu, chàng đãnh lễ dùm em. Em tỏ lòng cung kính đối với vị ấy - Bậc Chiến
Thắng Bất Tử ấy đã quyến dụ được chồng em, hơn em.
- Phải
thế! Nói vậy là đúng đắn. Vì lợi ích cho cả hai ta, ta sẽ tỏ lòng cung
kính và tri ân bậc Vô Thượng ấy.
Đức Đạo
Sư, hôm ấy ở Sàvatthi, trước khi vào hương phòng, nói với người thị giả:
- Này Tỳ
Kheo! Khi nào có ai đến hỏi: “Vị Chiến Thắng Bất Diệt, bạn của ta, giờ ở
đâu? Thì hãy đưa người ấy vào gặp Như Lai”.
Vẫn còn
trong y phục của người thợ săn, Upaka sau rất nhiều do tuần đường đất,
theo dấu chân đức Đạo Sư lần đến Sàvatthi, tìm ra cửa tịnh xá, cất giọng
oang oang:
- Này
ông Đạo sĩ! Vị Chiến Thắng Bất Diệt bạn của ta, giờ ở đâu?
Đức Đạo
Sư chờ đợi người ấy, chờ đợi đã lâu, không phải chỉ sáng nay, nhờ thiên
nhãn, mà chờ đợi từ ngày giác ngộ dưới cội Bồ Đề chẳng dùng thần thông,
chỉ đi bộ về vườn Nai cốt gặp người ấy để gieo một hạt giống. Hạt giống ấy
hôm nay đã nẩy mầm, nứt ra, lớn rất nhanh, và chờ lúc trổ quả; Upaka xuất
gia, thọ đại giới với đức Thế Tôn, và dễ dàng chứng đạo quả Bất Lai không
một gắng sức nào.
Cuối
đời, mệnh chung sinh vào cõi trời Aviha thanh tịnh, đắc quả A La Hán luôn
tại đấy.
Còn nàng
Càpà không bao lâu sau, gởi con trai cho ông ngoại, theo chân Upaka xuất
gia với Trưởng lão Ni Gotamì, đắc quả A La Hán.
Chàng và
nàng gặp gỡ nhau, yêu nhau, sanh con, giận nhau, cãi nhau, xa nhau rồi lại
gặp nhau nơi cõi Vô Sanh Bất Tử. Hi hữu thay!
Cho nên
có thơ rằng:
“Tích xưa chuyện cũ rành rành,
Có khi gương vỡ lại lành hơn xưa”.
Minh Đức
Nếu mai mốt còn vào ra sinh tử
Bước thăng trầm đâu có sá nguy nan
Nếu giờ đây vẫy tay chào cuộc lữ
Cát bụi này in trả lại trần gian.
Thiền trong mọi phút ^
(Truyện cổ P.G Nhật Bản)
Teno là
một thiền sư vừa hạ sơn, sau mười năm khổ luyện công phu. Sư đến yết kiến
thiền sư Nanin
Vừa gặp
mặt, Nanin đã hỏi:
- Lúc
nảy, nhà thầy đã bỏ chiếc dù bên phải hay bên trái đôi guốc, trước khi vào
thiền thất của ta.
Teno bối
rối thú nhận rằng đã không nhớ rõ…và đành ở lại xin thụ giáo với sư Nanin.
Một lần
khác Nanin lại hỏi:
- Khi
nãy thầy bỏ dép trước khi vào thất, thầy đã bỏ dép ở chân nào trước?
Teno
cũng không thể trả lời được. Nhiều năm trôi qua, Nanin cũng không dạy dỗ
gì thêm ngoài chuyện dù và dép. Cho đến một hôm, tự thấy mình đã hoàn toàn
thiền được trong bốn môn oai nghi. Teno đến từ giã thầy ra đi. Nhưng lại
thêm một lần rủi ro nữa. Thầy mở cửa hơi mạnh tay, khiến nó vang lên một
tiếng động nhỏ…điều này chứng tỏ thầy đã dùng một sức lực quá mức cần
thiết. Teno lại phải ở lại bên thầy thêm vài năm để học cách đóng cửa…Và
sáu năm sau khi ở với Nanin, sư trở thành một thiền sư lừng danh của nước
Nhật.
Như Thủy
Hũ nước lâu ngày đã cạn khô
Hôm nay ra giếng xách đem vô
Thấy hoa leo nở cần quây đẹp
Đành đến nhà quen mượn một bô.
---o0o---
Mục Lục tập 5 |
01|
02 |
03 |
04 |
05 |
06 |
07 |
08
---o0o---
Tập 01 |
Tập 02 | Tập
03 | Tập 04 |
Tập 5
---o0o---
Vi Tính: Tịnh Tâm, Tịnh Hương
Trình bày: Nhị Tuờng
Cập
nhật : 01-11-2003