| Tiếng Việt |
|
Giới Luật |
| ...... ... | . |
Nghe Thích ca nữ nói kệ xong, vua rất phẫn nộ, nói kệ bảo đại thần:
Các đại thần dẫn năm trăm Thích-nữ đến bên bờ hồ Ba Thát La, chặt tay chân của họ. Vì vậy, hồ này tên là hồ Chặt Tay Chân. Câu ở đầu các kinh: "Phật ở bên bờ hồ Chặt Tay Chân, chính do việc này " . Bị chặt tay chân, quá đau khổ không thể chịu nổi, năm trăm Thích nữ suy nghĩ: "Chúng ta đang bị đau đớn thống khổ không chịu nổi, Thế Tôn đại từ lẽ nào không thương xót ". Thường pháp của chư Phật là không việc gì không biết. Khi ấy, Thế Tôn với tâm đại bi đi đến chỗ ấy, thấy các Thích nữ đang ngồi lỏa hình. Thấy vậy, Thế Tôn khởi lên trí Thế gian. Theo thường pháp của chư Phật là khi khởi Tâm thế tục, cho đến côn trùng cũng biết ý Phật. Nếu khởi tâm xuất thế, cho đến Duyên giác Thanh văn cũng không biết ý Phật, huống chi chúng sinh khác mà có thể biết được. Phật suy nghĩ: "Lành thay! Nếu được thiên nữ Xá Chi đem y phục và nước đến đây thì thật thích hợp ". Phật vừa suy nghĩ, thiên nữ Xá Chi liền biết ý Phật, nên suy nghĩ: "Vì sao Thế Tôn khởi thế gian niệm, theo ta biết Thế Tôn muốn tuyên thuyết diêäu pháp cho năm trăm Thích nữ nên cần y phục và nước ". Sau khi suy nghĩ, thiên nữ cầm năm trăm thiên y, đến ao Vô Nhiệt dùng bình múc đầy nước đem đến chỗ Ph?t, lạy sát chân Ngài, bạch: - Ðại đức! Chúng con đem đến năm trăm thiên y và nước thơm vi diệu. Phật dạy: - Ngươi hãy đến an ủi các Thích ca nữ, cho họ tắm rửa và mặc y phục. Xá Chi lần lượt làm theo lời Phật dạy. Khi ấy, đức Như Lai dùng sức thần thông làm cho năm trăm Thích nữ không còn đau khổ nữa và dạy: - Này các thiện nữ nhân! Tự mình gây nghiệp nay đã thành thục, phải tự chịu lấy, không ai thay thế được. Dạy xong, đức Phật đi đến nơi khác. Sau khi phát tâm tịnh tín với Thế Tôn, các Thích nữ qua đời, sinh lên trời Tứ thiên vương. Khi nam hay nữ vừa sinh đến thiên giới đều có ba ý nghĩ: "Ta chết từ chỗ nào, nay sinh đến nơi nào, do đã làm nghiệp gì? " Họ nhớ lại mình đã chết từ cõi người, nay sinh lên cung trời Tứ thiên vương, vì nhờ sinh tâm rất thanh tịnh kính trọng Thế Tôn. Năm trăm thiên nữ suy nghĩ nếu chúng ta không đến lễ bái Thế Tôn thì bất kính và không đúng, nên trang sức anh lạc xinh đẹp sáng chói, dùng thiên y đựng các loại hoa Ôn bát la, Bát đầu ma, Câu vật đầu, Phân đà lợi, Mạn đàn la. Vào lúc nữa đêm, với hào quang rực rỡ chiếu sáng cả rừng Thệ Ða, năm trăm thiên nữ đến gặp đức Phật, cúng dường thiên hoa, lạy sát chân Ngài rồi ngồi qua một bên lắng nghe diệu pháp. Thế Tôn tùy theo căn cơ sở thích của các thiên nữ mà thuyết diệu pháp, làm cho họ được ngộ lý Bốn thánh đế. Bấy giờ, các thiên nữ dùng chày trí Kim cương phá tan 25 núi ngã kiến, chứng quả Dự Lưu. Sau khi kiến đế, ba lần bạch Thế Tôn: - Ðại đức! Nhờ Phật Thế Tôn làm cho con chứng đắc được quả giải thoát, không phải do cha mẹ, quốc vương, chư thiên, Sa-môn, Bà-la-môn, bạn bè, thân quyến làm cho. Con được gặp Thế Tôn là bậc thiện tri thức giúp đỡ làm cho thoát khỏi địa ngục, bàng sinh, ngạ quỷ, ở yên nơi cõi trời thắng diệu, sẽ hết sinh tử đến đường Niết bàn, khô cạn biển máu vượt qua núi xương, dùng chày trí Kim cương đập nát ngã kiến đã tích tụ từ vô thủy, chứng quả Dự Lưu. Từ nay cho đến trọn đời, con xin quy y Phật, Pháp, Tăng bảo, thọ trì năm học xứ không sát sinh cho đến không uống rượu. Cầu xin Thế Tôn chứng tri cho con là Ô Ba Tư Ca. Ngay trước Ðức Phật, họ chắp tay cung kính nói kệ:
Sau khi trình bày ý nguyện của mình, như người đi buôn được nhi?u tài lợi, như nông phu thu hoạch nhiều nông sản, như người dũng mãnh chiến thắng kẻ giặc thù, như người bệnh nặng được khỏe mạnh hẳn, năm trăm thiên nữ hoan hỷ từ giã đức Phật trở về thiên cung. Nghe nói như vậy, các Bí-sô đều nghi ngờ, thưa với Thế Tôn: - Năm trăm Thích nữ này từng tạo nghiệp gì và do sức nghiệp ấy làm cho đời này tuy không phạm tội lỗi mà bị kẻ ngu Ác Sinh chặt oan tay chân, lại nhân nghiệp gì được sinh lên trời, nghe chánh pháp của Phật chứng chân đế lý? Phật bảo các Bí-sô: - Nghiệp của các Thích nữ kia đã làm, khi thành thục, nhân duyên gặp nhau ... như nói ở trên, đều tự chịu lấy quả báo của mình. Này các Bí-sô! Thời quá khứ trong Hiền kiếp này, khi loài người thọ hai vạn tuổi, có đức Phật ra đời hiệu là Ca Nhiếp Ba Như Lai Ứng Cúng Chánh Ðẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn. Năm trăm Thích nữ này xuất gia trong giáo pháp đức Phật ấy, làm Bí-sô ni thường đến mắng chưởi đòi chặt tay chặt chân các vị Bí-sô ni hữu học, vô học. Do nghiệp lực này, họ bị đọa trong địa ngục chịu thiêu đốt khổ não trong vô lượng năm, vì dư nghiệp này nên thường bị chặt tay chân trong năm trăm đời, cho đến đời này bị khổ sở như vậy. Nhờ phát tâm thanh tịnh đối với Ta, nên họ được sinh lên trời. Lại do ngày xưa làm Bí-sô ni có thọ trì đọc tụng chánh pháp, nên được gặp Ta, nghe pháp chứng đắc kiến đế. Này các Bí-sô! Việc này đều do nghiệp ... như nói ở trên. Bấy giờ, nghe Phật dự báo, người mà vua Ác Sinh để lại, trở về gặp vua. Hỏi: - Thế Tôn nói gì về ta? Ðáp: - Ðại vương, Như Lai nói như vầy: "Qua bảy ngày, nước Kiều Tát La sẽ bị phá diệt, Ác Sinh và Khổ Mẫu bị lửa thiêu đốt, đọa vào đại địa ngục Vô gián ". Nghe nói như vậy, Ác Sinh rất phiền não, tay ôm trán. Thấy vậy, Khổ Mẫu hỏi: - Vì sao đại vương ưu sầu? Ðáp: - Này Khổ Mẫu! Làm sao ta không ưu sầu. Thế Tôn có dự báo vào bảy ngày sau ta cùng khanh bị lửa dữ thiêu đốt và đọa vào đại địa ngục Vô-gián. Khổ Mẫu tâu: - Ðại vương! Như Bà-la-môn, khất sĩ vào nhà cầu xin. Khi không được cho vật gì, họ muốn làm cho nhà ấy bị trăm ngàn việc chẳng lành. Huống chi Sa-môn Kiều Ðáp Ma có thân tộc bị đại vương giết hết, làm sao không nói lời oán hận nặng nề, tuỳ theo tâm ác mà trù rủa. Nếu vua sợ thì trong hồ nước ở vườn sau, làm một lầu đ?p và đến ở đó trong bảy ngày, qua thời gian đó mới trở vào thành. Vua đồng ý và sai làm lầu rồi đưa các cung nhân cùng Khổ Mẫu lên ở trên lầu. Sau một đêm, Khổ Mẫu tâu: - Ðại vương! Ðã qua một đêm chỉ còn sáu đêm, sẽ cùng nhau vào thành. Như vậy hai, ba cho đến ngày thứ bảy, Khổ Mẫu tâu: - Hôm nay an ổn, hãy cùng vào thành. Khi ấy, bỗng nhiên mây nổi che bốn phía. Thông thường người nữ ưa ngắm nữ trang, nên sau khi bảo nhau: - Hãy trang sức cho xong để vào trong thành. Bọn cung nhân lo sửa soạn y phục. Có một cung nữ lấy ngọc Nhật quang để trên cái gối, rồi lo trang điểm. Bấy giờ, mây tan trời sáng, ánh sáng mặt trời hiện ra chiếu vào viên ngọc, hội tụ phát ra lửa đốt cái gối, lửa ngọn phụt lên đốt cháy ngôi lầu. Bọn cung nhân bỏ chạy tứ tản. Bị lửa đốt, Ác Sinh và Khổ Mẫu muốn bỏ chạy, nhưng có phi nhân đóng kín cửa nên họ không thoát ra được. Bấy giờ, bị lửa thiêu đốt đau đớn thấu tâm can, Ác Sinh bảo Khổ Mẫu: - Tai hại thay! Ta đang bị đau khổ vì lửa đốt! Khổ mẫu nói: - Ðại vương! Thần cũng vậy. Thân thể cả hai bị lửa hừng hực đốt cháy chín rã nên kêu gào dữ dội, liền đọa vào địa ngục đại Vô gián, chịu các khổ não. Thế Tôn nói kệ:
Nghe Phật nói kệ xong, Cụ thọ A Nan Ðà bạch Phật: - Ðại đức! Con không hiểu ý nghĩa bài kệ này. Phật dạy: - Này A Nan Ðà! Kẻ ngu Ác Sinh cùng với Khổ Mẫu bị lửa thiêu đốt đọa vào đại địa ngục A tỳ. Nhân sự việc đó, Ta thuyết kệ này với ý ấy ... rộng như nói trên. Sau khi Ác Sinh tru diệt họ Thích, trong thành ấy còn để lại những vật trang sức như anh lạc, vòng nhẫn ... Thấy những vật ấy, các Thích nữ khóc lóc, sầu não. Sau khi suy nghĩ: "Khi những người chủ vật này còn sống rất kính trọng chúng Tăng, vậy nên đem chúng làm phước bằng cách dâng lên chư Tăng ". Họ dâng các vật ấy đến chư Tăng. Ðược cúng các vật ấy, Lục chúng đem ra trang sức thân thể, đi vào thành Kiếp Tỷ La thứ lớp khất thực. Trông thấy những vật trang sức này, các Thích nữ lại khóc lóc như trước, thưa: - Thánh giả! Chúng con không muốn nhìn lại những vật này nên dâng đến các vị để không còn ưu phiền. Nay, các vị lại làm cho chúng con nhớ lại chuyện cũ. Lục chúng im lặng. Các Bí-sô đem sự việc bạch Phật. Phật suy nghĩ: "Vì các Bí-sô trang sức anh lạc, vòng xuyến, mang dây bằng vàng nên có lỗi như vậy ". Ngài chế định: - Từ nay về sau, các Bí-sô không được trang sức bằng những vật nhiều màu. Ai vi phạm bị tội vượt pháp.
Nhiếp tụng năm trong biệt môn thứ hai: Xuất gia hữu ngũ lợi * Duyên khởi tại thành Thất La Phiệt. Trong tụ lạc kia, có trưởng giả lấy vợ sống hạnh phúc. Sau đó chẳng bao lâu, gia tộc ly tan, tài sản không còn, nên ông ta suy nghĩ: "Ta đã lớn tuổi, không thể làm ra tiền tài để sử dụng, thân tộc của ta cũng không còn. Vậy ta hãy bỏ tục xuất gia ". Sau khi suy nghĩ, ông ta bảo vợ: - Hiền thủ! Tôi đã già, không thể làm ra tiền tài, mà sản nghiệp cùng thân tộc không còn, nên muốn xuất gia. Người vợ đáp: - Tốt! Nhưng phải trở về thăm tôi. -Ðược! Người chồng đáp. Sau khi đến rừng Thệ Ða, gặp các Bí-sô, làm lễ sát hai chân, người chồng thưa: - Thánh giả! Con cầu xin xuất gia. Ðáp: - Hiền thủ! Ðấy là việc tốt, ông sẽ được toại ý. Như Thế Tôn dạy: "Những người có trí thấy năm điều lợi nên ưa thích xuất gia. Năm điều ấy là:
Ông phát tâm này, thật là tốt đẹp. Các Bí-sô cho vị này xuất gia và thọ cận viên. Qua hai ba ngày, sau khi dạy bảo các pháp thức, họ bảo vị này: - Hiền thủ! Nai không nuôi nai, thành Thất La Phạt rộng lớn là cảnh giới của Phật, nên đi khất thực để nuôi mạng sống. Vào sáng sớm, mặc y ôm bát vào thành Thất La Phạt khất thực, gặp một phụ nữ giống vợ mình, nên vị ấy suy nghĩ: "Trước đây ta có hứa với vợ, sau khi được xuất gia sẽ về thăm viếng. Ta đã xuất gia, vậy hãy giữ lời hứa, chớ làm cho bà ấy buồn rầu ". Khất thực xong, về lại rừng Thệ Ða, sau đó vị ấy thưa với Ô Ba Ðà Da: - Trước đây con có hứa với vợ cũ là sau khi được xuất gia sẽ về thăm viếng. Xin thầy cho phép. Vị thầy đáp: - Ông đi tùy ý nhưng khéo hộ trì tâm mình. Thưa: - Xin vâng. Sau khi từ giã, vị ấy đi dần về làng cũ. Vừa trông thấy, người vợ vội chạy ra trước đón rước, kêu to: - Kính chào! Thánh tử mới về! Và muốn nắm y giữ bát. Bí-sô nói: - Hiền thủ muốn làm gì? Ðáp: - Muốn đón lấy y bát. Bí-sô nói: - Ðừng đụng vào y bát. Hỏi: - Vì sao vậy? Ðáp: - Tôi phụng hành lời dạy của Ô Ba Ðà Da là khéo hộ trì tâm ý. Ðáp: - Thánh tử! Người hãy tự giữ tâm, tôi nào gây trở ngại gì! Bà ấy vẫn thu xếp y bát, trải tòa mời ngồi và lấy nước rửa chân. Hỏi: - Muốn làm gì? Vợ đáp: - Muốn rửa chân. Nói: - Ðừng chạm vào chân tôi. Hỏi: - Vì sao? Ðáp: - Tôi vâng lệnh của thầy bảo phải hộ trì tâm ý. Vợ nói như trước và cứ rửa chân cho, rồi đem dầu đến muốn thoa. Bí-sô thấy vậy hỏi và vợ đáp muốn thoa chân. Bí-sô nói: - Chớ thoa cho tôi. Hỏi đáp như trước ... thầy tôi dạy phải hộ trì tâm. Vợ nói: - Thánh tử! Người hãy tự hộ trì tâm. Bà ta lại dọn ăn và muốn ăn chung. Hỏi: - Làm gì vậy? Ðáp: - Xa cách đã lâu, không ăn chung mâm, ý muốn ăn chung. Bí-sô không đồng ý, hỏi đáp như trước. Bà ta lại trải tấm nệm, thưa: - Thánh tử! Ði xa mệt nhọc, xin nghỉ ngơi một lúc. Sau khi rửa chân, Bí-sô nằm nghỉ. Người vợ đến, muốn cùng nằm chung. Bí-sô hỏi: - Người muốn làm gì? Ðáp: - Thánh tử! Ðã lâu không nằm chung, nay muốn nằm chung. Hỏi đáp như trước ... Bí-sô không cho, nhưng bà ấy vẫn đến ôm đại. Người nữ tiếp xúc thật độc hại. Khi tiếp xúc, tâm Bí-sô bị loạn động phát ra ý niệm xấu liền giao hợp. Sau khi sống chung nhiều ngày, Bí-sô bảo vợ: - Tôi muốn trở về chùa. Sau khi suy nghĩ, ông ấy tư thông với ta, người ngoài không thấy, ta nên làm cho mọi người biết việc ấy, chắc chắn các Bí-sô trục xuất và trở về lại với ta, người vợ thưa: - Thánh tử chẳng nên đi không, hãy mang theo ít lương thực và bối xĩ (tiền thời đó). Bí-sô nói: - Tôi không được cầm các vật như vàng, bối xỉ ... làm sao mang đi. Người vợ nói: - Tôi sẽ tìm cách làm để không bị xúc chạm. Sau khi đem các vật ấy treo trên tích trượng, bà ta nói: - Hãy đem đi. Bí-sô cầm tích trượng đi đến thành Thất La Phiệt. Thông thường, Lục chúng Bí-sô giữ cửa chứ chẳng chịu ở không. Ðang kinh hành trước cửa, trông thấy Bí-sô ấy đến với đầu như chim cú, lông mi dài rũ xuống, sau khi suy nghĩ: "Ðấy là Tôn giả nào đến đây, ta hãy đón tiếp ". Ô Ba Nan Ðà đi ngược lại, kêu lên: - Xin chào! Xin chào Tôn giả! Bí-sô kia đáp: - Xin kính lễ! Kính lễ A Dá Lợi Da. Sau khi suy nghĩ: "Bí-sô này chắc là Bí-sô già cả ngu độn nên không biết Ô Ba Nan Ðà, không rõ A Dá Lợi Da, ta hãy hỏi hắn từ đâu đến ". Ô Ba Nan Ðà đến hỏi: - Lão già từ đâu đến? Ðáp: - A Dá Lợi Da! Con đi thăm vợ cũ về. Ô Ba Nan Ðà nói: - Ông là người tốt nên còn giữ ân cũ, ai cũng khen ngợi người nhớ ân cũ. Thế Tôn cũng có nói: "Này các Bí-sô! Nên thường học cách báo ân, ân nhỏ còn báo huống chi ân lớn!" Ông còn nhớ ân cũ, vậy gặp vợ không? Ðáp: - Con có gặp. Hỏi: - Bình an không? Ðáp: - May mắn được che chở nên vẫn bình an. Hỏi: - Vật gì treo trên tích trượng của ông vậy? Ðáp: - Ðó là bối-xỉ của vợ cho để đổi lương thực đi đường. Sau khi khen: - Lão già, ông thật có phúc đức, đi thăm vợ lại được lợi này nữa, Ô Ba Nan Ðà suy nghĩ: "Xem hình dáng cử chỉ của hắn chắc có việc riêng, ta hãy ôn hòa tra hỏi hắn. Với bẩm tính chất phác, Ma Ha La kể hết ra những sự việc đã làm. Ô Ba Nan Ðà nói: - Hãy đem những việc ông đã làm đến thưa cho Ô Ba Ðà Da nghe, vị ấy tất vui mừng. Ðến gặp thầy, ông này kể lại tất cả. Nghe như vậy, vị thầy nói lại các Bí-sô về chuyện này. Bí-sô đem sự việc bạch Phật, Phật bảo các Bí-sô: - Bí-sô già cả ngu độn này không biết khinh trọng, không cố ý phạm. Nếu ai chưa từng được nghe bốn pháp Ba La Thị Ca, cũng không phạm. - Này các Bí-sô! Vì lý do này, sau khi truyền cận viên, phải thuyết giảng bốn pháp Ba La Thị Ca (cho người thọ). Nếu ai không thuyết bị tội vượt pháp. CĂN BẢN THUYẾT NHẤT THIẾT HỮU BỘ Quyển thứ chín hết. --- o0o ---
--- o0o ---
Source: BuddhaSasana website ( By Binh Anson) --- o0o ---
Trình bày: Nhị Tường |
Biên tập
nội dung: Tỳ kheo Thích Nguyên Tạng
Xin gởi bài mới và ý kiến đóng
góp đến ban biên tập qua địa chỉ:
quangduc@quangduc.com