
GIÁO THIỀU
PHẬT GIÁO VIỆT NAM
Mặc dù Phật Giáo Việt Nam chưa có quyết định dùng một bài nhạc nào làm
Giáo Thiều. Nhưng từ khi Đại hội Phật Giáo toàn quốc hợp tại chùa Từ Đàm
Huế vào năm 1951 đến nay, các cơ sở Phật Giáo trong toàn quốc, trong các
cuộc đại lễ đều dùng bài nhạc sau đây để trổi lên khi chào Phật kỳ. Về
âm điệu cũng như lời nhạc đều được đa số quần chúng Phật Giáo hoan
nghinh (xem quyển 50 năm chấn hưng Phật Giáo Việt Nam trang 84 và 55).
LỜI NHẠC
“Phật Giáo Việt Nam Thống nhất Bắc, Trung, Nam từ nay
Một lòng chúng ta tiến lên vì đạo thiêng
Nào cùng vui trong ánh đạo vàng rạng ngời bốn phương
Vang ca đón chào Phật Giáo Việt Nam
Noi tấm gương Ngài Thích Ca giải thoát chúng sanh
Chúng ta dốc lòng nguyện cùng gieo rắc quanh mình
Bao nỗi vui lành tràn lan hầu tan đau đớn
Chấp tay ta cùng dưới đài sen thắm kết đoàn
Phật Giáo Việt Nam Thống nhất Bắc,Trung, Nam từ nay
Nào cùng nắm tay kết nên một đài sen
Cùng làm sao cho đoá sen ngời, ngàn đời ngát hương
Muôn phương thắm nhuần Phật Giáo Việt Nam”
HUY HIỆU GIÁO
HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM THỐNG NHẤT
Trong Hiến chương của Giáo hội Phật Giáo Việt Nam Thống nhất về chương
thứ nhất, điều thứ hai có chép như sau:
Huy Hiệu của Giáo hội Phật Giáo Việt Nam Thống nhất là PHÁP LUÂN (có 12
căm) theo hình vẽ “Pháp luân là bánh xe pháp. Trong kinh thường chép:
“Phật chuyển pháp luân” nghĩa là Phật chuyển bánh xe pháp, tức là Phật
thuyết pháp hoá độ chúng sanh. Phật ba lần chuyển xe pháp Tứ đế thành ra
12 luân (3x4=12) hoặc có tiêu biểu cho pháp Thập nhị nhân duyên. Pháp
luân 12 căm là tiêu biểu cho pháp Thập nhị nhân duyên hay pháp Tứ đế, 3
lần chuyển (3x4=12).
TRÁI TIM BẤT
DIỆT
(một bảo vật của G.H.P.G.V.N.T.N)
Trái tim bất diệt của Bồ tát Quảng Đức là một bảo vật vô giá của Giáo
hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất.
Trong khi vô minh hắc ám bao phủ cả trời Nam, dân chúng đồ thán, đạo
pháp lâm nguy, Bồ tát Quảng Đức phát đại nguyện, đem thân làm đuốc, soi
sáng cả trời Nam, phá tan mây vô minh hắc ám của bạo quyền, để cứu nguy
dân tộc và đạo pháp.
Sau buổi cầu siêu tại chùa Phật Bửu ở đường Cao Thắng vào lúc 08 giờ
sáng ngày 11.6.1963 (20.4. Quí Mão) Bồ tát Quảng Đức dẫn đầu Tăng Ni
diễn hành đến ngã tư Phan Đình Phùng – Lê Văn Duyệt (Sài-gòn). Ngài ung
dung ngồi kiết già giữa ngã tư rồi tự châm lửa vào mình. Ngọn lửa đại
hùng của Ngài bừng lên sáng rực cả một góc trời. Mặc dù ngồi trong lửa
đỏ hừng, nhưng Bồ tát vẫn kiết già bắt ấn tam muội ngồi vững như tượng
đồng đen.
Sự hy sinh Bồ tát Quảng Đức đã làm cho Thế giới rúng động và kính nể chí
anh dũng quật cường, bất khuất của dân tộc Việt Nam nói chung, Phật Giáo
Việt Nam nói riêng.
Trái tim kiên cố Ngài được đưa vào lửa điện đốt lại trên 6 giờ mà không
cháy, hiện nay tôn thờ tại chùa Ấn Quang, trụ sở Giáo-hội Phật Giáo Việt
Nam Thống nhất.
HỆ THỐNG TỔ
CHỨC của G.H.P.G.V.N.T.N
Hệ thống tổ chức của Giáo hội Phật Giáo Việt Nam Thống nhất có chia ra
TrungUơng đến Hải Ngoại:
Ở Trung Ương có Viện Thăng Thống và Viện Hoá Đạo
Ở đại phương có các miền, tỉnh, thị xã, quận, xã và phường v..v…
Ở hải ngoại có các chi bộ Phật Giáo
A - TRUNG ƯƠNG
I - VIỆN TĂNG
THỐNG
Viện tăng thống lãnh đạo về phương diện tinh thần đạo pháp của Giáo hội,
chuyên trách về sinh hoạt Giới luật cho Tăng Ni... (xem hiến chương từ
điều 08 đến điều 14).
Viện Tăng Thống gồm có:
Đức Tăng Thống
Đức Phó Tăng Thống
Hội Đồng Trưởng Lão
Vị Chánh Thư Ký và một văn phòng
Hội đồng Trưởng lão là những vị có đủ 60 tuổi đời và 20 tuổi Đạo (kiết
hạ), giới luật thanh tịnh có thành tích phục vụ đạo pháp.
Đức Tăng Thống là ngôi vị lãnh đạo tối cao của Giáo hội Phật Giáo Việt
Nam Thống nhất trực tiếp lãnh đạo Viện Tăng Thống và chủ tọa Hội đồng
Giáo hội Trung Ương.
Đức Tăng Thống và Phó Tăng Thống đều do Hội đồng Giáo hội Trung Ương suy
tôn trong hàng Trưởng lão của Hội đồng.
II - VIỆN HOÁ
ĐẠO
Viện Hoá Đạo điều hành các ngành hoạt động về phương diện hành chánh và
tổ chức của Giáo hội PGVNTN (xem Nội quy ở sau) Viện Hoá Đạo gồm có:
Ban Chỉ Đạo Viện Hoá Đạo
Hội đồng Viện Hoá Đạo
Các cơ quan trực thuộc và các cấp Giáo hội trong ngoài nước
Thành phần Ban Chỉ Đạo gồm có:
1 Viện Trưởng (Tăng sĩ)
2 Phó Viện Trưởng
1 Tổng vụ Trưởng Tổng vụ Tăng sự
1 Tổng vụ Trưởng Tổng vụ Hoằng Pháp
1 Tổng vụ Trưởng Tổng vụ Văn hoá Giáo dục
1 Tổng vụ Trưởng Tổng vụ Xã hội
1 Tổng vụ Trưởng Tổng vụ Cư sĩ
1 Tổng vụ Trưởng Tổng vụ Thanh Niên
1 Tổng vụ Trưởng Tổng vụ Tài chánh
1 Tổng vụ Trưởng Tổng vụ Viện Hoá Đạo
1 Tổng Thủ bổn Văn phòng Viện Hoá Đạo
Năm vị trong Ban Thường vụ hợp với 7 Tổng vụ thành Ban Chỉ Đạo Viện Hoá
Đạo. Ban Chỉ Đạo Viện Hoá Đạo do Hội đồng Giáo hội Trung Ương đề cử và
Hội đồng khoán đại GHPGVNTN bầu cử. (Xem Hiến chương từ điều 15 đến điều
thứ 18).
Viện Trưởng Viện Hoá Đạo thay mặt Giáo hội trước pháp lý và đôn đốc các
Tổng vụ.
III - BẢY
TỔNG VỤ
1 - TỔNG VỤ
TĂNG SỰ
Tổng vụ Tăng sự coi về Tự viện Tăng Ni, lập Tăng tịch, bổ nhiệm Trụ trì,
cho phép trùng tu hoặc tân tạo Tự Viện, cho phép mở giới đàn, trông coi
về giới luật, nghi lễ và các nghi thức tụng Niệm tu hành của Tăng Ni Tín
đồ.
Tổng vụ Tăng sự gồm có 4 vụ:
- Tăng Bộ Bắc Tổng Vụ
- Tăng Bộ Nam Tổng Vụ
- Ni Bộ Bắc Tổng Vụ (y chỉ Tăng Bộ Bắc Tông)
- Ni Bộ Nam Tổng Vụ (y chỉ Tăng Bộ Nam Tông)
(xem trang 39 ở sau)
2 - TỔNG VỤ
HOẰNG PHÁP
Tổng vụ Hoằng pháp trông coi về việc truyền bá giáo lý của Đức Phật, như
phiên dịch trước tác kinh sách, diễn giảng giáo lý kiểm duyệt kinh sách
và lập thư kinh sách v.v..
Tổng vụ Hoằng pháp gồm có 3 vụ: (xem trang 41 và 42)
- Trước tác phiên dịch Vụ
- Truyền bá Vụ (diễn giảng)
- Kiểm duyệt Vụ
(xem Thư mục ở sau)
3 - TỔNG VỤ VĂN
HOÁ GIÁO DỤC
Tổng vụ văn hoá Giáo dục trông coi về việc văn hoá của Phật Giáo và Giáo
dục các Tăng Ni và Tín đồ: điều hành các Phật học viện từ Tiểu học đến
Cao Đẳng và Đại học, lo đào tạo Tăng Ni, điều khiển các trường Bồ đề,
lập các Thư viện và tổ chức phát triển Văn Mỹ nghệ.
Tổng vụ Văn hoá Giáo dục gồm có 3 Vụ:
- Phật Học Vụ (Giáo dục Tăng Ni)
- Giáo dục Vụ (tức Thế học Vụ, các trường Bồ đề)
- Văn –Hoá Vụ (Văn mỹ nghệ và Thư viện v.v..)
(xem trang 23 ở sau)
4 - TỔNG VỤ XÃ
HỘI
Tổng vụ Xã hội coi về việc Từ thiện Xã hội của Giáo hội; như thành lập
hoặc điều khiển các Cô Nhi Viện, Ký Nhi Viện v.v.. nhà dưỡng lão, lập
dưỡng đường, mở trạm y tế, cứu trợ các thiên tai, hoả hoạn v..v…
Tổng vụ Xã hội gồm có 2 Vụ:
- Từ thiện xã hội Vụ
- Y tế Vụ
(xem trang 35 sau)
5 - TỔNG VỤ CƯ
SĨ
Tổng vụ Cư sĩ coi về việc cư sĩ cả Bắc tông và Nam tông, tổ chức và giáo
dục các hàng ngũ Cư sĩ, lập các Hội đoàn Phật tử chuyên nghiệp.
Tổng vụ Cư sĩ gồm có 3 Vụ:
- Thiện Tín Bắc Tông Vụ
- Thiện tín Nam Tông Vụ
- Hội đoàn Phật tử chuyên nghiệp Vụ
(xem trang 43 ở sau)
6 - TỔNG VỤ
THANH NIÊN
Tổng vụ Thanh Niên coi về thanh Niên Phật tử, tổ chức và giáo dục hàng
ngũ thanh Niên Phật tử.
Tổng vụ Thanh Niên gồm có 6 Vụ:
- Gia đình Phật tử Vụ
- Sinh viên Phật tử Vụ
- Học sinh Phật tử Vụ
- Thanh Niên Phật tử Vụ
- Thanh Niên Phật tử Thiện Chí Vụ
- Hướng đạo Phật tử Vụ
( xem trang 44 ở sau)
7 - TỔNG VỤ TÀI
CHÁNH
Tổng vụ Tài chánh coi về động sản và bất động sản của Giáo hội. Giữ gìn
quản trị chùa chiền tài sản, đất đai v..v… và làm kinh tài cho Giáo hội.
Tổng vụ tài chánh gồm có 2 Vụ:
- Bất động sản quản trị Vụ
- Động sản quản trị Vụ
(xem trang 45 ở sau)
B - ĐỊA PHƯƠNG
I - TÁM MIỀN
Ở Trung Ương có Viện Tăng thống, Viện Hoá Đạo và 7 Tổng vụ ở địa phương
có 8 Miền. 11 Quận Đô Thành, 19 Tỉnh và Thị xã ở Trung phần. 28 Thị Xã ở
Nam phần.
Mỗi Miền có một vị chánh Đại diện, đại diện Giáo hội Trung Ương để đôn
đốc Phật sự trong các Tỉnh. Không có lập Văn phòng và Ban Đại diện Miền.
Mỗi miền đều lấy tên của một vị Tổ có dày công xây đắp cho Đạo pháp để
đặt tên Miền. Như ở Trung có 3 Miền: Vạn hạnh, Khuông việt và Liễu quán;
ở Nam có 3 miền: Khánh Hoà, Huệ Quang, và Khánh Anh; Ở Thủ đô có một
miền Quảng Đức; ở Bắc có miền Vĩnh Nghiêm.
1 - MIỀN VẠN
HẠNH
Miền Vạn Hạnh, lấy tên Ngài Vạn Hạnh Thiền sư đặt tên miền. Ngài Vạn
Hạnh Thiền sư là một vị Quốc sư ở Triều nhà Lý (1010-1028). Người có
công lớn với dân tộc Việt Nam cũng như Phật Giáo Việt Nam ở đời nhà Lý
(Lý Công Uẩn xem Phật học Phổ thông khoá 5, trang 43).
Miền Vạn Hạnh ở vùng I, thuộc miền Bắc Trung nguyên Trung phần, gồm có 6
tỉnh và Thị Xã như sau:
- Tỉnh Quảng Trị
- Tỉnh Thừa Thiên (Thị xã Huế)
- Thị xã Đà Nẵng
- Tỉnh Quảng Nam
- Tỉnh Quảng Tín
- Tỉnh Quảng Ngãi
2 - MIỀN LIỄU
QUÁN
Miền Liễu Quán, lấy tên Hoà thượng Liễu Quán đặt tên miền. Ngài Liễu
Quán ở Tỉnh Phú Yên. Đạo đức Ngài sáng chói trong một thuở ở Miền Trung.
Ngài phát minh và đề xướng một phái Thiên Tôn ở Việt Nam, gọi là phái
“Thiền Liễu Quán” (xem Phật học Phổ Thông khoá 5, trang 157).
Miền Liễu quán ở Vùng II, thuộc miền Nam Trung nguyên Trung phần gồm có
6 tỉnh và Thị xã sau đây:
- Tỉnh Bình định (TX Q.N)
- Tỉnh Phú Yên
- Tỉnh Khánh Hoà (TX N.T)
- Thị xã Cam Ranh
- Tỉnh Ninh Thuận
- Tỉnh Bình Thuận
3 - MIỀN KHUÔNG
VIỆT
Miền Khuông Việt, lấy tên Ngài Khuông Việt đặt tên miền. Ngài Khuông
Việt là một vị Quốc sư ở đời nhà Đinh và Lê (968 - 1009), tên là Ngô
Châu Lưu. Ngài có công lớn “giúp nước cứư dân”, nên vua Đinh Tiên Hoàng
sắc phong hiệu Ngài là “Khuông Việt Thái Sư” nghĩa là một vị Quốc sư phò
giúp nước Việt (xem Phật học phổ thông khoá 5, trang 40 đến 42).
Miền Khuông Việt cũng ở vùng II, thuộc miền Cao Nguyên Trung phần, gồm
có 7 Tỉnh và Thị xã như sau:
- Tỉnh Lâm đồng
- Tỉnh Tuyên Đức (Thị xã Đà lạt)
- Tỉnh Quảng Đức
- Tỉnh Darlac (Thị xã Ban Mê Thuột)
- Tỉnh Pleiku
- Tỉnh Kontum
- Tỉnh Phú Bổn
4 - MIỀN KHÁNH
HOÀ
Miền Khánh Hoà lấy tên Ngài Khánh Hoà đặt tên miền. Ngài Khánh Hoà ở
tỉnh Bến Tre, người đầu tiên đứng lên vận động phong trào chấn hưng Phật
Giáo ở Việt Nam nói chung và miền Nam nói riêng (xem quyển 50 chấn hưng
Phật Giáo Việt Nam 34).
Miền Khánh Hoà ở vùng III, thuộc miền Đông Nam Phần, gồm có 11 tỉnh và
thị xã như sau:
- Tỉnh Tây Ninh
- Tỉnh Hậu Nghĩa
- Tỉnh Bình Dương
- Tỉnh Bình Long
- Tỉnh Phước Long
- Tỉnh Biên Hoà
- Tỉnh Long Khánh
- Tỉnh Bình Tuy
- Tỉnh Phước Tuy
- Tỉnh Gia Định
- Tỉnh xã Vũng Tàu
5 - MIỀN HUỆ
QUANG
Miền Huệ Quang, lấy tên Ngài Huệ Quang đặt tên miền. Ngài Huệ Quang là
người đóng góp rất nhiều trong phong trào chấn hưng Phật Giáo ở miền
Nam. Ngài là vị Pháp chủ Giáo hội Tăng Già Nam Việt Niên khoá thứ II vào
năm 1953, và Phó Hội Chủ Tổng hội Phật Giáo Việt Nam vào năm 1956 (xem
quyển 50 chấn hưng Phật Giáo, từ trang 40 đến 43).
Miền Huệ Quang ở Vùng IV, thuộc miền Tây Nam phần về sông Tiền Giang
(sông Mê Kông), gồm có 10 Tỉnh và Thị Xã như sau:
- Tỉnh Long An
- Tỉnh Định Tường (Thị Xã Mỹ Tho)
- Tỉnh Gò Công
- Tỉnh Kiến Hoà (Thị xã Bến Tre)
- Tỉnh Vĩnh Bình
- Tỉnh Vĩnh Long
- Tỉnh Sa Đéc
- Tỉnh Kiến Phong
- Tỉnh Kiến Tường
- Tỉnh Côn Sơn
6 - MIỀN KHÁNH
ANH
Miền Khánh Anh lấy tên Ngài Khánh Anh đặt tên miền. Ngài Khánh Anh là
người đóng góp rất nhiều trong phong trào chấn hưng Phật Giáo ở Miền
Nam, Ngài là vị Thượng thủ Giáo hội Tăng Già toàn quốc Niên khoá thứ II
năm 1959, và Pháp chủ Giáo Hội Tăng già Nam Việt, năm 1957 (xem quyển 50
năm chấn hưng Phật Giáo Việt Nam, từ trang 40 đến 43).
Miền Khánh Anh cũng ở vùng IV, thuộc miền Tây Nam phần về sông Hậu Giang
(sông Bá Sắc), gồm có 8 Tỉnh và Thị Xã như sau:
- Tỉnh Châu đốc
- Tỉnh An Giang
- Tỉnh Phong Dinh (TX. Cần Thơ)
- Tỉnh Ba Xuyên
- Tỉnh Bạc Liêu
- Tỉnh Kiên Giang
- Tỉnh Chương Thiện
- Tỉnh An Xuyên
7 - MIỀN QUẢNG
ĐỨC
Miền Quảng Đức lấy tên Hoà Thượng Quảng Đức đặt tên miền. Hòa thượng
Quảng Đức là người đầu tiên tự thiêu vào ngày 11.6.1963 tại ngã tư Phan
Đình Phùng Lê Văn Duyệt (Sài gòn), để cứu nguy dân tộc và đạo pháp.
Miền Quảng Đức gồm có 11 quận Đô Thành.
8 - MIỀN VĨNH
NGHIÊM
Miền Vĩnh Nghiêm, lấy tên Ngài Vĩnh Nghiêm đặt tên miền, Ngài Vĩnh
Nghiêm là một vị Cao tăng ở miền Bắc tài đức kiêm toàn, có uy tín nhứt ở
miền Bắc. Ngài là pháp chủ đầu tiên của Hội Phật Giáo Bắc Việt.
Phật Giáo Việt Nam đã thống nhất toàn quốc từ năm 1951, dưới danh hiệu
là “Tổng Hội Phật Giáo Việt Nam” (xem quyển 50 năm chấn hưng Phật Giáo
Việt Nam, trang 82). Nhưng vì chiến tranh chia đôi đất nước, nên địa dư
Việt Nam, Phật Giáo cũng bị chia cách Bắc Nam không liên lạc được.
Sau pháp nạn năm 1963, toàn thể Tăng tín đồ gồm cả hai tông phái lớn
(Bắc tông và nam tông) ở miền Nam nước Việt, hợp Đại hội tại chùa Xá Lợi
(trụ sở của Uỷ Ban Liên phái Bảo vệ Phật Giáo) vào hai ngày 30.12.1963
và 01.1.1964 để thật sự thống nhất.
Đại hội đồng ý: Để tưởng Niệm những Bậc hữu công với Phật Giáo miền Bắc,
nên lập thêm miền thứ 8 gọi là “Miền Vĩnh Nghiêm” vì thế nên miền Vĩnh
Nghiêm không có địa dư ở miền Nam. Đây là quyết định của Ban dự thảo
Hiến chương và cũng là quyết định chung của Đại hội đầu tiên của Giáo
hội Phật Giáo Việt Nam Thống nhất vào năm 1963, tại chùa Xá Lợi.
Hiện nay chùa Vĩnh Nghiêm ở đường Cầu công Lý - Sài gòn, được đặt là
“Miền Vĩnh Nghiêm” và có một Ban Đại diện.
Theo Hiến Chương và điều thứ 27, khi đại hội toàn quốc, mỗi Miền chỉ có
một Đại diện, duy có miền Vĩnh Nghiêm được cử 10 vị đại diện.
II - TỈNH,
THỊ XÃ VÀ QUẬN
Tại địa phương mỗi thị xã (biệt lập hành chánh) và 11quận tại Đô Thành
đều có một Ban Đại diện giáo hội trực thuộc sự điều khiển của Viện Hoá
Đạo (xem Hiến Chương điều thứ 20).
Các Quận thuộc các Tỉnh chỉ một vị đại diện để đôn đốc và kiểm tra Phật
sự tại quận, do Viện Hóa Đạo bổ nhiệm. Nếu Tỉnh Giáo hội nào xét cần lập
Ban đại diện quận thì trình Viện Hóa Đạo ra quyết định thành lập; nhưng
Ban đại diện này trực thuộc với Ban đại diện Tỉnh đó (xem Hiến chương
điều thứ 21).
Ban đại diện Tỉnh, Thị xã và Quận, gồm có:
1 Chánh Đại diện
1 Phó Đại diện
1 Đặc uỷ Tăng sự và nghi lễ
1 Đặc uỷ Hoằng pháp
1 Đặc uỷ Văn hoá giáo dục
1 Đặc uỷ xã hội
1 Đặc uỷ Tài chánh
1 Đặc uỷ Cư sĩ
1 Đặc uỷ Thanh Niên
1 Chánh thư ký
1 Phó thư ký
1 Chánh Thủ quỹ
1 Phó Thủ Quỹ
1 Ban Cố vấn
1 Ban Kiểm soát
III - XÃ VÀ
PHƯỜNG
Giáo hội lấy xã (ở các tỉnh) và Phường (ở Thủ Đô) làm đơn vị. Tất cả các
chùa Tăng Ni và cư sĩ thuộc Bắc tông Phật Giáo và Nam tông Phật Giáo Ban
đại diện giáo hội Phật Giáo Việt Nam Thống nhất tại các xã hay Phường.
Trụ sở đặt tại một ngôi chùa hay một nơi nào thuận tiện (xem hiến chương
điều thứ 22)
BAN ĐẠI DIỆN XÃ HAY PHƯỜNG GỒM CÓ
1 Chánh Đại diện
1 Phó Đại diện
1Thư ký
1 Phó thư ký
1 Thủ quỷ
1 Phó Thủ Quỹ
4 Cố vấn kiểm soát
C - HẢI NGOẠI
CHI BỘ PHẬT
GIÁO HẢI NGOẠI
Ở Hải ngoại, Giáo hội Phật Giáo Việt Nam Thống nhất đã đặt được 11 Chi
bộ Phật Giáo, đều trực thuộc với Viện Hoá Đạo.
1.
Phân Bộ Giáo hội PGVNTN ở Pháp
2.
Chi Bộ Giáo PGVNTN ở Đức
3.
nt ở Nhật
4.
nt ở Ấn Độ
5.
nt ở Anh
6.
nt ở Mỹ
7.
nt ở Thái Lan
8.
nt ở Ai lào
9.
nt ở Cao Miên
10.
nt ở Thụy sĩ
11.
nt ở Gia Nã Đại
Mỗi Phân Bộ và Chi bộ Phật Giáo đều có một Ban Chấp hành và điều lệ.
Thành phần Ban chấp hành Trung Ương Phân Bộ Hải ngoại Giáo hội PGVNTN
như sau (xem điều lệ và quyết định ở sau):
Trưởng Ban Danh dự
- 1 Trưởng Ban Chấp hành Phân bộ
- 1 Phó Trưởng Ban phụ trách Á Châu
- 1 Phó Trưởng ban phụ trách Nghi Lễ
- 1 Phó Trưởng phụ tổ chức
- 1 Tổng Thư Ký
- 1 Thủ quỹ
- 1 Uỷ viên Liên kết trí thức
- 1 Uỷ viên Thanh Niên và Báo chí
- 1Uỷ viên liên lạc sinh viên tốt nghiệp
- 1 Uỷ viên tổ chức học tập giáo lý và nghi lễ
- 1 Uỷ viên phụ trách Hoa kỳ
- 1 Uỷ viên phụ trách Gia Nã Đại
(Hết phần thứ nhất)