Với một nụ cười hỉ xả, trong một tư thế ngồi
thoải mái, Ngài Di Lặc qua hóa thân làm Bố Đại Hòa thượng, xuất
hiện như một Thiền tăng cuồng ngạo và vui tươi. Đó là hình ảnh
ước mơ về một đời sống thanh bình trong những tiếng cười ròn
rã.
Bố Đại Hòa thượng, theo sự tích được chép lại
trong Cảnh Đức truyền đăng lục, quê ở Minh Châu, huyện Phụng
Hóa, trong vùng Triết Giang ngày nay. không ai rõ tên họ Ngài là gì,
chỉ biết Ngài tự gọi là Bố Đại Hòa thượng, nghĩa là Hòa
thượng Túi Vải. Tướng người mập mạp, trán hẹp, bụng lớn, như
trong các tranh vẽ thường thấy ngày nay. Nói năng vô định, ngủ thì
tùy chỗ; thường dùng một cây gậy, quảy một cái túi vải, hễ ai
cúng cho món gì, Ngài bỏ cả vào trong túi. Vào chợ, vào xóm,
thấy cái gì là xin cái đó, bất kể cá ươn hay rau thúi. Xin
được, bỏ vào miệng; còn lại thì bỏ vào túi. Người thời bấy
giờ gọi là "Trường đinh tử Bố Đại sư", tức là
"ông sư túi vải cây đinh dài".
Có lần Ngài nằm trong tuyết, mà tuyết không thắm
ướt đến mình. Người ta thấy thế cho rằng Ngài là một nhân vật
kỳ lạ. Nếu Ngài đến xin hàng bán của ai, hàng đó nhất định sẽ
bán chạy. Trời sắp sửa mưa, chắc chắn người ta sẽ thấy Ngài
mang đôi guốc gỗ đẫm ướt đi bươn bã trên đường. Lúc trời
hứa hẹn một ngày nắng ráo, người ta thấy Ngài treo cao đôi guốc
gỗ trên cầu, nằm co chân mà ngủ. Cư dân lấy đó mà nghiệm thì
có thể biết thời tiết sẽ tới. Cuộc đời Ngài để lại một số
giai thoại đầy ẩn ngữ:
Một thầy Tăng đi phía trước Ngài. Ngài chạy tới
vỗ vào lưng. Thầy Tăng quay đầu lại, Ngài nói: - Cho xin một văn
tiền.
Thầy Tăng trả lời: - Nói được thì tôi cho Ngài
một văn tiền ngay. Ngài bỏ túi xuống, khoanh tay đứng
Hòa thượng Bạch Lộc hỏi Ngài: - Túi Vải (Bố Đại)
là thế nào? Ngài bỏ túi vải xuống. Hòa thượng Bạch Lộc lại
hỏi nữa: - Cái việc của túi vải là thế nào? Ngài quảy lên vai
mà đi.
Hòa thượng Tiên Bảo Phúc hỏi: - Chỗ cốt yếu của
Phật pháp là thế nào? Ngài bỏ túi vải xuống, khoanh tay đứng.
Bảo Phúc nói: - Chỉ có vậy, hay có cái gì khác hơn nữa? Ngài
liền quảy lên vai mà đi.
Ngài đứng giữa ngã tư. Có một thầy Tăng hỏi: -
Hòa thượng làm gì ở đó? - Ngài đáp: - Đợi một người.
- Đến rồi! Đến rồi!; - Ông không phải là người
đó; - Ngài đó thế nào?; - Cho xin một văn tiền.
Ngài có làm bài ca như sau:
Chỉ cá tâm tâm tâm
thị Phật
Thập phương thế giới tối linh vật
Tung hoành diệu dụng khả liên sanh
Nhất thiết bất như tâm chân thật
Đằng đằng tự tại vô sở vi
Nhàn nhàn cứu cánh xuất gia kiến
Nhược đồ mục tiền chân đại đạo
Bất kiến tiêm hào dã đại kỳ
Vạn pháp hà thù tâm hà dị
Hà lao cánh dụng tầm kinh nghĩa
Tâm vương bổn tự tuyệt đa tri
Trí giả chi minh vô học địa
Phi Thánh phi phàm phục nhược hồ
Bất cưỡng phân biệt thánh tình cô
Vô giá tâm châu bổn viên tịch
Phàm thị dị tướng vọng không hô
Nhơn năng hoằng đạo đạo phân minh
Vô lượng thanh cao xứng đạo tình
Huề cẩm nhược đăng cố quốc lộ
Mạc sầu chư xứ bất văn thinh
(Chính đó tâm tâm tâm là Phật
Mười phương thế giới nó linh nhất
Dọc ngang diệu dụng có gì đâu
Nhất thiết sao bằng tâm chân thật
Ngời ngời tự tại chẳng làm chi
Phới phới rồi xa xuất gia thấy
Nếu thấy trước mắt đạo lớn thật
Không thấy tơ hào mới quá kỳ
Vạn pháp y nhiên tâm vẫn vậy
Nhọc gì mà phải tìm nghĩa kinh
Tâm vương vốn đã biết cùng khắp
Người trí chỉ cần cái không học
Chẳng phàm, chẳng Thánh, kể mà chi
Chớ gượng phân biệt thì rõ Thánh
Tâm châu vô giá vốn tròn sáng
Phàm là dị tướng tạm gọi không
Người nay hoằng đạo, đạo phân minh
Vô lượng thanh cao xứng đạo tình
Quảy gánh bước lên đường cố quốc
Lo gì khắp chốn chẳng nghe danh)
Ngài còn làm bài kệ khác nữa:
Nhất bát thiên
gia phạn
Cô thân vạn lý du
Thanh mục đỗ nhơn thiểu
Vấn lộ bạch vân đầu
(Chiếc bát cơm ngàn nhà
Thân côi muôn dặm xa
Mắt xanh nào ai có
Hỏi đường mây trắng qua)
Đời Lương, niên hiệu Trinh Minh thứ hai, năm Bính Tý,
tháng Ba , khi sắp thị tịch, Ngài có nói bài kệ:
Di lặc chân Di
lặc
Phân thân thiên bách ức
Thời thời thị thời nhơn
Thời nhơn tự bất thức
(Di lặc thiệt Di lặc
Hóa thân trăm nghìn ức
Thường hiện cho người đời
Người đời không ai biết)
Nói kệ xong, Ngài yên lành mà tịch. Về sau, ở châu
khác, có người cũng thấy Ngài mang túi vải mà đi. Nhân đó,
người ta mới tranh nhau vẽ tượng Ngài. Toàn thân của Ngài cho
tới đời nhà Tống, còn được thấy tại chùa Nhạc Lâm.