Tấm lòng rộng mở
THUẦN
HÓA TÂM HỒN
Nguyên tác:
Taming the Monkey Mind
Tác giả:
Thupten Chodron
Dịch giả:
Thích Minh Thành
---o0o---
Lời nói đầu
^
Tác phẩm "Thuần Hoá Tâm Hồn" hay "Cẩm Nang Ðạo Ðức Hằng Ngày của Người
Phật Tử" do Tỷ-kheo-ni Thupten Chodron biên soạn mang tựa đề "Taming the
Monkey Mind" đã được đánh giá là quyển sách dành cho tất cả mọi người muốn
hiểu sâu sắc tâm hồn của mình. Tất cả các sự vật có mặt trên trần gian này
đều do tâm thức của chúng ta tạo tác ra. Tâm thức của chúng ta là vô tận,
vô biên và vô lượng. Trở về nguồn cội uyên nguyên của tâm thức có nghĩa là
nhận ra được bản chất của chân như tánh.
Xuất phát từ một nhận thức có tính thuyết phục về đạo Phật, quyển "Thuần
Hoá Tâm Hồn" được viết với một văn phong hiện đại, trong sáng và tinh tế;
nghiêm trang nhưng vẫn đan xen đôi nét hóm hỉnh. Cách lập ngôn của tác giả
có tính cách gợi ý và sinh động, đã dành cho người đọc một khoảng trời tự
do rộng rãi để tự mình chiêm nghiệm, tự mình nhận định, chọn lọc và hành
động theo cách riêng của mình.
Thông thường những quyển sách giảng giải về giáo lý đều không thể tránh
khỏi một vài nhược điểm, như chỉ trình bày giáo nghĩa của một tông phái
nào đó mà bỏ qua giáo nghĩa của những tông phái khác. Trong tác phẩm
"Thuần Hoá Tâm Hồn" chúng ta có thể thấy những điểm như vậy không nhiều và
cũng không đụng chạm đến những tư tưởng có tính chủ đạo. Tác giả trình bày
khá cân đối về tất cả những pháp môn hay những tông phái chính. Dẫu sao
thì tác giả cũng phải chọn một truyền thống hay một pháp môn cụ thể nào đó
để tự hành trì tu tập và dùng kinh nghiệm thâm hậu đó làm nền tảng kiến
thức để trình bày cho chúng ta.
Hơn nữa, ưu điểm của quyển sách này là đã diễn giải được những ý tưởng cốt
lõi của đạo Phật về tâm thức và về đời sống của con người, đồng thời nêu
ra phương pháp vận dụng những ý tưởng đó vào việc tu tập bản thân, vào
những mối quan hệ cụ thể trong xã hội, với bạn bè, với gia đình và đồng
nghiệp. Như vậy quyển sách đã đề cập đến những vấn đề rất thiết thực trong
cuộc sống hiện đại, trong một thế giới mà mật độ dân cư càng lúc càng dầy
đặc; giá trị hiện thực của quyển sách hiển lộ rõ ràng ở đây.
Có
hai chương sách bàn về những vấn đề rất nhạy cảm, rất tế nhị, đặc biệt là
đối với nền văn hóa Ðông phương đó là vấn đề tình yêu, tính dục và hôn
nhân theo quan điểm của đạo Phật. Thông thường thì người dịch nên tránh né
đi cho "an toàn" nhưng vì muốn cung cấp thêm kiến giải cho những người
Phật tử còn trẻ tuổi, còn sống giữa "trần đời" nên người dịch bạo dạn giữ
lại hai chương này.
Mật Tông Phật giáo là một dòng truyền thừa đặc biệt của Phật giáo đã có
mặt ở Việt Nam từ rất lâu nhưng không phổ biến, vì vậy mà quần chúng dễ
dàng có cái nhìn phiến diện, sai lầm về tông phái này. Quyển "Thuần Hoá
Tâm Hồn" góp phần làm sáng tỏ một số nét thể hiện căn bản cũng như nền
tảng triết lý của Mật Tông. Ðiều thú vị là tác giả đã nêu được mối liên hệ
gắn bó giữa hình thức hành trì và nội dung tông chỉ của Mật Tông, trái
ngược với sự hiểu biết chung chung và thô thiển rằng Mật Tông chú trọng
đến thần quyền, chú thuật và những mật pháp bí ẩn...
Tác giả đã bàn thảo những vấn đề của thời đại với một cách nhìn khoáng
đạt, nhẹ nhàng, chính nhờ đó mà quyển "Thuần Hoá Tâm Hồn" không chỉ phù
hợp với hầu hết những người Phật tử dù thuộc về sơn môn nào, mà còn dành
cho tất cả mọi người, mọi giới.
Nơi đây, người dịch xin được trân trọng những lời khích lệ và sự quan tâm
giúp đỡ của nhiều vị ân nhân. Cũng xin được ghi nhận công sức đóng góp của
cư sĩ Tiểu Thanh Thiên trong việc ủng hộ tài chánh; cư sĩ Phan Cát Tâm và
cư sĩ Tâm Thủy trong việc tỉ mỉ đọc lại bản thảo.
Trong quá trình chuyển ngữ, người dịch cố gắng trung thành với những ý
tưởng trong nguyên tác nhưng vẫn hướng đến việc tạo nên một dịch phẩm
tiếng Việt dễ hiểu và hấp dẫn. Tuy nhiên, ở một số đoạn người dịch vẫn
chưa đạt được như ý muốn. Rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý độc
giả.
Người dịch
cẩn bút
Thích Minh Thành
Phần Một
NHỮNG MỐI QUAN HỆ CỦA CHÚNG TA
I. CHA MẸ
ĐỐI VỚI CON CÁI
^
Gần gũi và rộng lượng
Mối quan hệ giữa cha mẹ và con
cái là mối quan hệ thiêng liêng nhất, quý giá nhất vì chính nhờ vào tình
thương của cha mẹ mà con cái được sinh ra và
lớn khôn. Ðây là một trong những mối quan hệ có nhiều biến chuyển, nhiều
thay đổi nhất vì mối quan hệ này trải
qua một thời gian rất dài, trong khoảng thời gian
đó, người cha, người mẹ và những người
con đã sống qua nhiều giai
đoạn khác nhau của một đời người. Vì
vậy cả hai phía đều phải nhạy bén đối với
những biến chuyển đang xảy ra trong người thân của mình
để chấp nhận và ủng hộ.
Hiện nay hạn chế sinh
đẻ là chuyện dễ dàng vì vậy mà những
cặp vợ chồng có thể kế hoạch hóa gia đình.
Sau khi kết hôn, hai vợ chồng hãy chờ đợi cho
đến khi khả năng tài chánh của gia đình
vững vàng thì mới nên có con. Tuy nhiên trong trường hợp bất ngờ người vợ
có thai ngoài dự tính thì hãy đón mừng đứa hài
nhi, mong rằng đứa con sẽ có một đời sống
hạnh phúc của một con người.
Ðức Phật dạy cư sĩ Thiện Sanh:
Có 5 điều mà cha mẹ nên thực hiện
đối với con cái:
- Can ngăn
con cái không cho làm những việc quấy ác.
- Tập cho con cái làm những việc thiện lành.
- Trang bị cho con cái nghề nghiệp và học thức.
- Cưới gả con cái một cách thích đáng.
- Khi đúng thời thì trao cho con cái của thừa tự.
Cha mẹ hãy can ngăn
con cái, đừng để cho chúng làm những việc có hại cho nó hay có hại
cho người khác. Cha mẹ nên khích lệ con cái san sẻ những gì mà chúng có
với những người khác và đối xử tốt với mọi
người. Nếu con cái được nuôi dạy theo hướng đạo đức thiện lành thì
chúng sẽ trở thành những người trưởng thành có nhiều hạnh phúc và có mối
quan hệ thân thiện với mọi người. Nếu con cái không
được nuôi dạy để trở nên người có
đạo đức và biết sống hạnh phúc, thì dù
có thành đạt đi chăng nữa, đời sống của chúng
cũng gặp nhiều khó khăn, đau khổ.
Cha mẹ phải là những tấm gương
cho con cái. Câu sáo ngữ: "Hãy làm theo những
điều tôi nói, đừng làm theo những gì
tôi làm" thường được dùng
để bào chữa cho những người cha hay
những người mẹ làm những điều mà họ
đã cấm cản con cái của họ làm. Thật ra
những hành động của con cái là bản sao
những hành động của cha mẹ. Vì vậy nếu
cha mẹ gian dối hay đạo đức giả thì có
nghĩa là cha mẹ dạy cho con cái của mình hãy sống gian dối và
đạo đức giả. Muốn giúp cho con cái trở thành
người tốt thì cha mẹ phải sống đời đạo đức và
đối xử tốt với mọi người.
Ðể giúp cho trẻ con phát triển
được những tính tốt, cha mẹ cần phải vui sống
với chúng. Mặc dầu cả cha lẫn mẹ cần phải làm việc
để mưu sinh nhưng không nên trở thành
những người quá ‘tham công tiếc việc’. Làm việc ngoài giờ
để kiếm thêm thu nhập thì có vẻ hấp
dẫn, nhưng nếu số tiền đó phải dùng
để trả cho những chuyên viên tư vấn về
khủng hoảng tâm lý cho trẻ con, và căn gốc
của sự khủng hoảng là vì chúng cảm thấy không
được cha mẹ thương yêu, thì số tiền
kiếm thêm ấy có nghĩa lý gì? Tương tự như vậy, nếu cha mẹ làm việc quá sức
và chính bản thân cha mẹ cảm thấy bị căng
thẳng về tâm lý, suy giảm sức khỏe và số tiền kiếm
được kia còn phải dùng
để mua thuốc an thần, thuốc ngủ, thuốc giảm
đau, hoặc là để trả cho việc trị bệnh
ung bướu hay bệnh tim mạch, thì số tiền kiếm thêm ấy có nghĩa lý
gì? Tương tự như vậy, nếu cha mẹ phải dùng số tiền kiếm thêm kia
để đi nghỉ mát mà không mang con trẻ
đi theo vì sợ chúng quấy nhiễu thì còn
đâu không khí đầm ấm và hạnh phúc của
gia đình. Làm việc quá sức là tự
đánh gục mình và sẽ ngã quỵ trên con
đường xây dựng hạnh phúc.
Hơn nữa, những
đứa trẻ ngày nay thiếu mất tình thương
và sự trìu mến từ cha mẹ. Ngay cả khi cha mẹ trả hết mọi phí khoản cho con
trẻ học nhạc, học nghệ thuật, tham gia những hoạt
động thể thao mà nếu
đứa trẻ không cảm thấy được thương yêu
thì tất cả những thứ đó đều không thể làm
cho chúng trở nên những người trưởng thành có hạnh phúc. Xã hội Tây phương
đang phải chứng kiến trước mắt sự gia tăng
đáng sợ của tội ác, nghiện ngập, ly dị và trẻ con phạm pháp. Không
ít nguyên nhân của sự gia tăng đáng sợ trên
là do cấu trúc của gia đình bị
đổ vỡ và cha mẹ
đã không dành
đủ thời giờ vui sống với con trẻ. Hy vọng là
những xã hội Á châu đang hiện đại hóa ngày
nay học được những bài học sai lầm của
Tây Âu để có thể khỏi phải đến phiên
mình phải mục kích trước mắt những hậu quả
đáng tiếc trên. Kiếm được tiền với giá
là gia đình không
đầm ấm thì quả là một vấn
đề phải suy nghĩ.
Cha mẹ nên tận lực lo cho con
ăn học nhưng tất cả phải phù hợp với
khả năng và sở thích của nó. Nếu một
đứa trẻ không có khả năng và
đam mê âm nhạc thì tại sao cha mẹ lại
bắt buộc chúng phải học những gì mà chúng không yêu thích. Ngược lại, nếu
một đứa trẻ có thiên phú và ham thích
địa chất học thì cha mẹ nên khích lệ
nó theo ngành địa chất.
Trong xã hội hiện
đại, ngay từ tuổi ấu thơ trẻ con đã
phải chịu áp lực của việc học hành, chúng phải học thật nhiều và cố gắng
tối đa để trở thành học sinh giỏi
nhất, đạt thành tích tốt nhất. Ðiều
này đã tạo ra nhiều vấn
đề bất ổn về tâm lý vì trẻ con rất
cần thời giờ để chỉ là trẻ con và
để chơi đùa. Chúng nó cần phải có
được điều kiện khám phá những công việc mới
lạ mà không bị so hơn so kém với đứa
khác và được học mà không phải
làm những bài kiểm tra để bị chấm điểm, để có
danh hiệu này danh hiệu nọ. Con trẻ
được thương yêu vì con trẻ là con trẻ, như thế là như thế; chớ
không phải con trẻ được cha mẹ thương yêu
vì chúng đã phải làm
được điều tốt nhất.
Trong xã hội ngày nay cha mẹ
không phải quan tâm sắp xếp việc hôn phối của con cái như ngày xưa nữa.
Ngày xưa thì công việc làm ăn của gia đình
được chuyển giao cho con cái khi con cái có
đủ năng lực quản lý; ngày nay thì không nhất thiết phải như vậy.
Tuy nhiên, tôi thiết nghĩ rằng, trong xã hội ngày nay, cha mẹ nên cung ứng
những điều kiện vật chất và thể chất
tốt nhất theo khả năng cao nhất của mình.
Cha mẹ nên quan tâm
đến những nhu cầu vật chất và thể chất
của trẻ con một cách thực tiễn. Dĩ nhiên, cha mẹ không thể nào thỏa mãn
mọi yêu cầu của chúng, vượt quá khả năng tài
chánh của mình. Ðáp ứng mọi thứ mà trẻ con muốn chưa hẳn là có lợi cho
chúng mà nhiều khi còn làm cho trẻ con trở thành những
đứa con đua đòi, ỷ lại. Khi những thứ
mà trẻ con ham muốn mà cha mẹ không đáp ứng
được thì họ có thể giải thích là những thứ
đó quá đắt tiền hoặc những thứ đó là
không có bán. Rất ích lợi cho trẻ con nếu cha mẹ dạy cho trẻ con hiểu rằng
dầu cho trẻ con có được những thứ đó thì
chưa chắc chúng có được hạnh phúc hoàn
toàn; và nếu như trẻ con cứ ‘làm dữ’ thì tình trạng của chúng sẽ trở nên
tệ hại hơn nữa. Cha mẹ nên giải thích cho trẻ con sự lợi lạc của việc san
sẻ những vật chất mà chúng có với những người khác.
Qua việc giúp
đỡ trẻ con thích ứng với những ước mong không
được thỏa mãn của chúng, cha mẹ chỉ bày cho trẻ con thấy
được phương cách để làm cho bản thân
chúng giảm đi tánh hay vướng mắc, ngăn ngừa
trẻ con xem những gì chúng đang hưởng
được là tất nhiên, đồng thời giúp cho
chúng biết suy nghĩ đến những nhu cầu và những ước mong của người
khác. Thường thì tâm hồn trong sáng của trẻ con hiểu nhanh hơn người lớn,
hãy tin điều này. Khi một
điều gì
đó được giải thích với một thái độ trầm tĩnh, có biện chứng và giải
thích nhiều lần với những minh họa cụ thể đặt
trong nhiều tình huống khác nhau, trẻ con sẽ hiểu.
Trẻ con, một cách vô thức, xây
dựng hình tượng của bản thân chúng dựa theo lời mà những người lớn chung
quanh nói về chúng. Nếu trẻ con thường xuyên bị mắng là nghịch ngợm và ngu
ngốc thì nghịch ngợm và ngu ngốc sẽ trở nên một ý niệm về bản thân của
chúng rồi dần dần chúng trở thành nghịch ngợm và ngu ngốc. Vì vậy
điều quan trọng là thường xuyên khen
tặng và nói lời thừa nhận về những điều tốt
đẹp mà chúng đã làm
được.
Khi chỉnh sửa những lầm lỗi của
trẻ con thì cha mẹ nên cố gắng giải thích cho chúng hiểu rõ tại sao những
hành động lầm lỗi như thế là có hại.
Một điều quan trọng nữa là làm sao cho
đứa trẻ nhận ra được là chúng
đã phạm sai lầm và
đồng thời cũng biết rằng tuy là chúng
đã làm
điều có lỗi nhưng điều đó không có nghĩa là chúng
đã trở thành người xấu. Nếu con trẻ
bắt đầu nghĩ rằng bản thân chúng là
xấu - thay vì nghĩ rằng hành động đó là
xấu - thì chúng bắt đầu hình dung ra
một hình tượng xấu của bản thân chúng và phát triển theo chiều hướng xấu
đó.
Ðôi khi
để bắt buộc đứa trẻ phải nghe theo một điều
quan trọng, cha mẹ có thể cần phải nói một cách quyết liệt, nhưng trong lòng
của cha mẹ lúc đó nên tràn ngập lòng
từ ái, chớ không nên có một chút giận dữ. Bằng cách như vậy cha mẹ khiến
cho người con biết rằng hành động đó là
không nên làm thêm một lần nào nữa. Cha mẹ không giận dữ cũng không chối
bỏ con của mình chỉ vì nó đã làm hành
động đó.
Làm cha mẹ có nghĩa là phải
bước đi trên sợi dây thăng
bằng giữa hai cực đoan đối nghịch nhau. Một bên là quan tâm săn
sóc quá độ và bên kia là bỏ quên chúng
đi, không chịu hướng dẫn chúng những điều mà chúng cần
được hướng dẫn, không chịu giúp chúng những
khi mà chúng cần được giúp đỡ.
Ðể có thể tránh được cực đoan thứ nhất, tránh
được thái độ chấp mắc và xem con cái là sở hữu thì làm cha mẹ phải
nhớ rằng con cái không phải là vật sở hữu hay là tài sản của họ. Con cái
là những con người có cá tính và đầy đủ nhân
vị; chúng đang hình thành nhân cách riêng và có quyền có những ý
kiến và những quyết định theo ý nghĩ của
riêng chúng.
Qua việc chấp giữ con của mình
quá độ, cha mẹ đã tạo nên một hoàn
cảnh mà bản thân cha mẹ sẽ không có hạnh phúc vì rằng làm sao mà
đứa con đó có thể luôn luôn ở bên cạnh
cha mẹ được khi mỗi ngày nó mỗi lớn
lên. Với sự chấp giữ như vậy thì khi mà đứa
con lớn khôn và có nhu cầu độc lập cao
hơn thì cha mẹ sẽ cảm thấy khó chịu vì họ bắt
đầu không còn có thể gần gũi và kiểm
soát chặt chẽ được những hành vi của
người con nữa. Lúc đó, cha mẹ bị bắt buộc
phải để cho bản thân đứa con tự quyết định nhiều việc.
Nhiều bậc cha mẹ cứ nói
đi nói lại mãi
điều mà con cái nên làm và
điều mà chúng không nên làm nhưng
không hề có ý định giải thích hay thảo luận
với chúng tại sao phải làm và tại sao không
được làm như vậy. Họ chỉ muốn con cái
tuân theo lời họ đã bảo. Thật ra cũng
có trường hợp làm như vậy là đúng. Ðặc
biệt là trong trường hợp sinh mạng của đứa
trẻ bị đe dọa và đứa trẻ chưa có đủ
nhận thức và khả năng quyết định đúng
đắn.
Tuy nhiên cứ mãi bảo ban
điều phải làm và
điều không được làm mà không chịu giải
thích thì không giúp cho đứa trẻ phát triển
khả năng phán xét. Và điều đó cũng
không giúp cho đứa trẻ trở nên dạn dĩ hơn khi bàn bạc những vấn
đề khó khăn của chúng với cha mẹ để có được
những lời khuyên thích đáng. Trẻ con
cảm thấy thân mật với cha mẹ khi nào cha mẹ tỏ ra chịu lắng nghe,
cố gắng thấu hiểu chi tiết những điều chúng
muốn nói, và chịu bàn luận với chúng. Khi cha mẹ chịu khó giải
thích cho đứa trẻ biết tại sao hành
động như vậy là có hại và tại sao hành
động như thế là có lợi ích thì
đứa trẻ sẽ phát triển khả năng phán định để
có những quyết định thích đáng khi trưởng thành. Làm
được như vậy là giúp trẻ con biết suy
nghĩ một cách rõ ràng minh bạch và có những hành
động tốt đẹp. Sau một thời gian rèn
tập cho chúng biết suy nghĩ chín chắn, cha mẹ sẽ cảm thấy yên tâm và
đặt niềm tin tưởng nơi chúng. Do đó, giải
quyết được vấn đề "tranh giành quyền lực" trong gia
đình, một việc rất thường xảy ra ở lứa
tuổi 13 - 19.
Cha mẹ không thể nào làm cho
đứa con của họ thành một
đứa bé lý tưởng theo như trí óc của họ đã
hình dung ra. Mỗi đứa trẻ có những thiên
tư riêng, và những thiên tư đặc biệt này
tương ứng hoặc không tương ứng với điều mà
cha mẹ mong muốn nơi chúng. Cha mẹ không có thể mong mõi
đứa con sống theo mơ ước riêng của cha
mẹ. Là người hướng dẫn cho đứa con chọn nghề
nghiệp, người hôn phối và những trò tiêu khiển thì cha mẹ phải
để tâm tới những điều mà
đứa trẻ ham thích chớ không phải những điều mà
bản thân cha mẹ ham thích. Những bậc cha mẹ sáng suốt chấp nhận những
đứa con của họ như thế và
đồng thời giúp chúng phát triển thuận theo
những năng lực và khuynh hướng riêng của chúng.
Một cực
đoan khác là quên
đứa trẻ đi. Quả thật là không may,
trong một xã hội bận rộn hiện đại điều này
xảy ra rất thường xuyên. Nhiều khi để cung
cấp cho trẻ con thật đầy đủ về mặt vật chất, cha mẹ đã phải làm
việc nhiều đến nỗi không có thời gian dành
cho con cái, cũng không có thời gian để biểu
lộ sự thương yêu hay hướng dẫn những
điều mà chúng nó đang cần. Cha mẹ cần
phải sắp xếp thời gian cho thích đáng. Tốt hơn là làm việc ít hơn
một chút để có một gia đình
đầm ấm hơn.
Làm cha mẹ là một
điều có nhiều thử thách và có thể làm
cho phong phú thêm việc tu tập theo Chánh pháp. Những bài giáo lý về vô
thường rõ ràng và thấm thía hơn khi những đứa
con chuyển biến, lớn dần lên. Sự bất lợi của cơn giận dữ và tầm
quan trọng của lòng kiên nhẫn bây giờ đã
trở nên rõ ràng trong những lần cha mẹ đánh
mất mình trong cơn giận rồi cảm thấy bất lực
đối với đứa con mà mình muốn giúp
đỡ. Một lóe sáng về tình thương rộng
lớn đối với tất cả mọi sinh linh những khi mà
cha mẹ nghĩ đến việc thương yêu mọi
người như thương yêu chính con ruột của mình. Với việc tu tập chánh niệm
cả cha mẹ lẫn con cái có thể cùng tiến bộ với nhau trong việc phát triển
nhân cách.
Hiểu biết cha mẹ của chúng ta
Ngày nay, vấn
đề "Trách nhiệm của con cái
đối với cha mẹ" là một vấn
đề tế nhị. Trong xã hội nơi mà cấu
trúc gia đình
đang bị suy thoái, nhiều người con đã
quên đi nghĩa vụ giúp đỡ cho cha mẹ. Nhiều
trường hợp cha mẹ cứ mải mê tìm cách làm thỏa mãn những mong ước và
những nhu cầu của con cái, nên con cái đã
xem lòng tốt này như là một cái gì tất nhiên và cứ
đòi hỏi cha mẹ mọi thứ trên
đời. Khi mà
đứa trẻ đã có suy nghĩ và hành
động như vậy thì
điều đó không những làm
đau lòng cha mẹ mà còn khiến cho
đứa trẻ cảm thấy lạc lõng và cô
đơn.
Ngành tâm lý học ngày nay
đã nhận thấy rằng những bất an trong
cá tính của một người có nguồn gốc là những sự kiện xảy ra trong thời thơ
ấu. Biết được sự việc nhưng không có nhận
thức sâu sắc, một số người đã oán hận và nghĩ rằng tất cả những vấn
đề khổ sở của họ là do cha mẹ tạo nên.
Ðiều kiện trưởng thành của chúng ta đúng là
đã có một ảnh hưởng quan trọng
đối với chúng ta. Nhưng nếu chúng ta xem cha
mẹ là ngọn nguồn của những khổ sở tức là chúng ta
đang tự mình chấp nhận sống trong
trạng thái tâm lý của một nạn nhân. Chúng ta vướng mắc vào ý nghĩ cho
rằng: "Cha mẹ tôi đã làm như vậy
như vậy nên giờ đây tôi phải khổ sở như thế này"
có nghĩa là chúng ta ngăn cản sự phát triển
của bản thân. Vướng mắc vào ý nghĩ đó
không giúp chúng ta phát triển nhân cách được chút nào cả. Chúng ta
nên tự mình nhận lấy tinh thần trách nhiệm
đối với những sự bất an và những khổ sở mà chúng ta
đang gặp phải trong hiện tại và có
những hành động để điều chỉnh chúng.
Quả thật có những
đứa trẻ đã lớn lên trong những gia
đình tồi tệ, chúng
đã bị bỏ quên hay bị cha mẹ lạm dụng.
Những đứa trẻ này cần phải
được những tấm lòng nhân ái trong xã
hội giúp đỡ để chúng khỏi phải tự nguyền rủa
vì sự có mặt của chúng đã khiến
cho cha mẹ gặp những vấn đề khổ sở. Những đứa
trẻ này cũng không nên đi đến một cực
đoan khác là nguyền rủa cha mẹ, xem đó
là những người đã làm cho chúng
phải khổ sở. Nguyền rủa chỉ làm cho vết thương càng trở nên tồi tệ hơn.
Hiểu biết và tha thứ sẽ có tác dụng chữa lành những vết thương
đó.
Thông thường thì chúng ta rất
giỏi trong việc thấy những lầm lỗi của người khác nhưng chúng ta lại tỏ ra
yếu kém trong việc nhớ lại những phẩm chất và hành vi tốt
đẹp của họ. Ðặc biệt là trường hợp của
cha mẹ. Không cần phải cố gắng cũng có thể thấy và chỉ trích những lầm lỗi
và những hạn chế của cha mẹ chúng ta; không cần phải cố gắng cũng thấy
rằng hiện tại chúng ta đang phải gánh lấy hậu
quả của những lầm lỗi và hạn chế đó.
Khi chúng ta còn nhỏ, cha mẹ của chúng ta có thể
đã làm những việc có tác dụng xấu
đối với chúng ta nhưng trong thâm tâm thì
cha mẹ của chúng ta nghĩ rằng đó là
điều tốt nhất mà họ
đã làm
được cho chúng ta; chúng ta nên nghĩ
đến tình trạng tâm lý bên trong của cha mẹ và hoàn cảnh mà lúc
đó cha mẹ phải sống như thế nào. Suy
nghĩ theo cách này thì chúng ta sẽ hiểu biết và tha thứ, sẽ làm dịu
đi những cơn đau khổ do sự oán hận và
bất bình mang lại.
Nếu chúng ta phàn nàn rằng cha
mẹ của chúng ta không hiểu chúng ta và không chấp nhận chúng ta với những
gì chúng ta đang là, thì chúng ta cũng
nên tự hỏi là chúng ta có hiểu và chấp nhận cha mẹ với những gì cha mẹ
đang là hay không. Cha mẹ với những
lầm lỗi và những điều đáng trách như vậy
không bao giờ có thể giống với hình tượng của bậc cha mẹ mẫu mực mà
chúng ta thường vẽ ra trong trí óc. Làm sao có thể chấp nhận
đem cha mẹ sai lệch đời thường của chúng ta làm
mẫu mực được. Nhưng khi chúng ta có thể chấp
nhận như thế thì chúng ta sẽ trở nên hạnh phúc hơn.
Khi những
đứa trẻ nhớ về những tình thương mà
cha mẹ đã dành cho chúng thì có nhiều
lợi lạc cho đứa trẻ và cho cha mẹ. Cha
mẹ đã tạo nên thân thể của chúng ta và
săn sóc chúng khi còn trong tình trạng
bấp bênh trứng nước. Cha mẹ đã dạy cho
chúng ta bập bẹ từng chữ, từng lời nói ngây ngô
đầu tiên; cha mẹ
đã cho chúng ta
ăn học và chu cấp nhu cầu vật chất
suốt thời gian chúng ta còn thơ ấu. Nếu cha mẹ không săn
sóc cẩn thận thì chúng ta đã bị
đói khát trong nôi và rất có thể là
thân thể của chúng ta không được toàn
vẹn như ngày hôm nay. Khi còn nhỏ, chúng ta cảm thấy không hài lòng khi
chúng ta bị cha mẹ khép vào kỷ luật bởi những lỗi lầm của mình, nhưng nếu
không làm như vậy thì lớn lên chúng ta thành những con người thô bạo và vô
kỷ luật.
Ở
độ tuổi 13 đến 19 những đứa trẻ thường gặp khó khăn trong cuộc sống chung
với cha mẹ. Chúng nó tự thấy bản thân là người lớn và hay ương
ngạnh khi cha mẹ xử sự và xem chúng nó như trẻ nít. Ðối với cha mẹ thì
đứa trẻ ở độ tuổi đó vẫn là con nít và
phải quan tâm bảo bọc. Thật ra trong đôi mắt
của cha mẹ thì ngay cả khi chúng ta 60 tuổi thì chúng ta vẫn là trẻ
nhỏ. Tôi tức cười khi thấy bà nội của tôi bảo cha tôi (một người
đã 65 tuổi) là hãy mang thêm áo khoác
khi ra khỏi nhà, không khéo thì bị cảm lạnh. Nếu chúng ta chấp nhận tình
huống như vậy và nhẫn nại với cha mẹ thì mối quan hệ giữa chúng ta với cha
mẹ sẽ suôn sẻ hơn.
Rất tốt nếu bạn thấy rằng ở
độ tuổi từ 13 đến 19 thì những
đứa trẻ xử sự trước sau không nhất quán.
Nhiều khi chúng đòi hỏi cha mẹ phải làm nhiều việc giúp cho chúng
cứ như là chúng còn quá nhỏ và không thể tự săn
sóc bản thân. Cũng nhiều khi chúng lại muốn cha mẹ xử sự với chúng nó như
là những người lớn thật sự. Trong tình huống như vậy dĩ nhiên là
cha mẹ sẽ thấy bối rối. Phương pháp tốt nhất là hãy
để cho những đứa trẻ ở vào
độ tuổi này tự khẳng
định mình
đã là người lớn; nhưng là người lớn theo hướng phải biểu hiện ra
những đức tính, phải chứng tỏ là người
hữu dụng và có trách nhiệm.
Nhiều khi cha mẹ cảm thấy khó
khăn trong việc tự điều chỉnh bản thân khi
con cái khôn lớn và trở nên độc lập
hơn. Cha mẹ có cảm giác họ trở thành người thừa thãi và bị con cái
lãng quên. Hậu quả là một số cha mẹ bị trầm uất, một số khác thì lại cố
chen vào cuộc sống của con cái. Thay vì tỏ ra bực tức
đối với thái độ của cha mẹ thì con cái
có thể cố gắng thấu hiểu và quan tâm đến
những xúc cảm của cha mẹ. Chúng ta nên nhạy cảm hơn
đối với những nhu cầu tình cảm của cha
mẹ, chúng ta sẽ khẳng định với cha mẹ về tình
thương yêu kính mến của chúng ta mặc dầu càng lúc chúng ta càng trở nên
độc lập.
Ðôi khi cha mẹ của chúng ta
thấy được những nguy hiểm tiềm ẩn mà
chúng ta không thấy; cha mẹ của chúng ta có thể nhìn xa trông rộng trong
khi chúng ta chỉ thấy tình huống nhất thời trước mắt. Trong những trường
hợp này lời khuyên của cha mẹ là sáng suốt. Mặc dầu những lời khuyên của
cha mẹ dường như làm trở ngại cho những ước muốn của chúng ta nhưng thường
khi chúng ta có thể thấy được giá trị của
những lời khuyên đó. Chúng ta đừng nên
có cảm giác rằng sự tự lập của chúng ta bị tổn thương nếu như chúng ta
nghe theo những lời khuyên của cha mẹ. Tốt hơn là chúng ta nhận ra sự sáng
suốt trong đó và tự nguyện nghe theo.
Nếu chúng ta cảm thấy rằng cha
mẹ của chúng ta là vô lý thì chúng ta có thể thảo luận vấn
đề đó với cha mẹ, nhưng trước hết và
có lợi hơn hết là chúng ta hãy tự mình bình tâm lại trước
đã. Vì
đến với cha mẹ với trạng thái tâm lý bực dọc thì chúng ta chỉ làm
cho cha mẹ khó có thể nghe được điều mà
chúng ta muốn trình bày. Thử hỏi chúng ta có chịu nghe những gì một người
dữ dằn, thô bạo nói với chúng ta không?
Ngay cả khi cha mẹ của bạn vô
lý thì bạn cũng nên nhận ra rằng trong thâm tâm cha mẹ vẫn
đang có ý tốt. Cha mẹ của bạn đã hết
lòng hết sức giúp đỡ và hướng dẫn bạn.
Mặc dầu cha mẹ của bạn sai trái nhưng cha mẹ của bạn lúc nào cũng có một ý
muốn mong bạn được đàng hoàng và an
ổn. Cha mẹ của bạn có thể là thiển cận và cứ lo lắng những
điều mà
đối với bạn là vô nghĩa nhưng dù cho khả năng
của cha mẹ có bị giới hạn thế mấy đi nữa thì cha mẹ của bạn cũng có
ý hướng thiện lành. Nếu chúng ta ý thức được
như vậy thì chúng ta sẽ cảm nhận được
tình thương mà cha mẹ đã cho
chúng ta và chúng ta sẽ không lấy những chuyện như vậy làm tức giận. Chúng
ta sẽ cảm thấy biết ơn đối với những quan tâm
của cha mẹ. Hãy mang tâm trạng biết ơn như vậy mỗi khi trình bày
quan điểm của mình cho cha mẹ nghe,
giải thích quan điểm đó theo một cách khéo
léo, nhỏ nhẹ nào đó khiến cho cha mẹ
dễ hiểu và dễ tiếp nhận.
Nên nhớ rằng cha mẹ của chúng
ta cũng đã sống trong những hoàn cảnh
khó khăn và bị hạn chế bởi chính những
quan niệm có sẵn trước đó. Cha mẹ chúng ta đã
phải sống qua một hoàn cảnh xã hội khác xa với hoàn cảnh xã hội mà chúng
ta đang sống bây giờ, vì vậy mà tự
nhiên là họ có những quan niệm khác với những quan niệm của chúng ta. Sinh
ra và lớn lên như thế nên cha mẹ của chúng ta thấy rằng tất cả những quan
niệm đó đều có giá trị; cũng vậy khi sinh ra
và lớn lên như chúng ta đã sinh
ra và lớn lên thì đối với chúng ta những
khung khái niệm và quan điểm của chúng
ta thật là đúng đắn.
Nếu chúng ta chỉ nghĩ về những
khuyết điểm của cha mẹ thì chúng ta sẽ
thấy rằng cha mẹ chúng ta đầy những lỗi lầm.
Suy nghĩ như vậy thì chúng ta đã
quên đi những phẩm tính tốt đẹp của cha mẹ.
Nếu chúng ta nhớ lại những điều tốt đẹp, những sự săn sóc, thương yêu
mà cha mẹ đã cho chúng ta thì chúng ta
sẽ thấy được những phẩm tính tốt đẹp của cha
mẹ và tấm lòng của chúng ta sẽ mở rộng ra. Khi chúng ta không còn
ngang ngạnh và thô bạo thì cha mẹ của chúng ta sẽ lắng nghe những
điều mà chúng ta muốn trình bày.
Ðức Phật dạy cho cư sĩ Thiện
Sanh 5 pháp mà người con phải có đối với cha
mẹ:
- Ủng hộ, bảo vệ và chu cấp
cho cha mẹ những gì cha mẹ cần.
- Thực hiện những nhiệm vụ mà cha mẹ đã ủy thác.
- Bảo vệ danh thơm tiếng tốt của gia đình.
- Hành động và xử trí như thế nào để xứng đáng với gia sản mà cha mẹ
trao lại.
- Nhân danh cha và mẹ mà bố thí cúng dường rồi hồi hướng công
đức cho cha và mẹ.
Sống
đúng đạo nghĩa thì con cái phải thật
lòng chia sẻ những công việc tạp vụ trong nhà và làm việc
để mang lại lợi ích cho cả gia đình.
Vì cha mẹ đã nuôi nấng và dưỡng dục
con cái khi chúng còn thơ ấu nên con cái phải cảm thấy vui lòng khi
đáp đền công ơn cha mẹ khi cha mẹ bệnh hoạn
hay già yếu. Nếu trong hoàn cảnh mà bản thân con cái không thể nào
tự tay săn sóc cha mẹ được thì con cái
phải tìm người thay thế tận tình làm việc này.
Cha mẹ
đã lớn tuổi thì nhiều khi khó tánh
nhưng nếu hiểu được cuộc sống của cha mẹ hiện
tại khổ nhọc như thế nào thì chúng ta sẽ rộng lòng
đối với những điều khó khăn của người mà
mỗi ngày một già hơn. Nếu chúng ta đặt mình
vào hoàn cảnh của người già thì chúng ta sẽ cảm thông và hiểu biết hơn.
Một ngày nào đó chúng ta sẽ già
đi rồi cũng sẽ cần sự giúp đỡ, săn sóc của
con cái.
Ðể
đáp đền phần nào công ơn cao dày của cha mẹ, con cái phải sống một
đời sống hướng đến những giá trị đạo đức mà
cha mẹ đã dạy bảo họ. Con cái nên tự
mình sống đời sống thiện lành nhờ
đó cha mẹ không phải lo âu và hổ thẹn,
không bị xã hội chỉ trích. Làm được như vậy
con cái đã tự làm cho mình xứng đáng
thừa hưởng tài sản mà cha mẹ để lại.
Khi cha mẹ qua
đời thì con cái nên cúng dường và cầu
nguyện rồi hồi hướng những quả phước tốt đẹp
đến với cha mẹ, nhờ đó cha mẹ được phước báu và
được tái sinh vào cõi an lành. Ðiều
tốt nhất có thể làm ngay bây giờ là con cái nên khuyến khích cha mẹ làm
những điều thiện lành có tính cách xây
dựng và tránh những điều quấy ác tội lỗi.
Chúng ta có thể làm tất cả những phương pháp
đã được
đề cập ở trên để tạo nên một
mối quan hệ tốt đẹp với cha mẹ của chúng ta.
II. TÌNH BẠN
^
Chia sẻ và có tấm lòng
Chớ thân cận bạn ác
Chớ thân kẻ tiểu nhân
Hãy thân người bạn lành
Hãy thân bậc thượng nhân. (kinh Pháp Cú, câu78)
Bạn bè của chúng ta ảnh hưởng
đến chúng ta rất nhiều. Vì vậy việc
chọn bạn để kết giao sẽ quyết định đến sự
tiến bộ của chúng ta. Qua kinh nghiệm của chính bản thân, chúng ta có thể
thấy được mức độ tác động của bạn bè
đối với chúng ta như thế nào: Hãy nhớ lại những thời gian mà chúng
ta bị rơi vào tình trạng rối khổ và chiêm nghiệm xem những lúc ấy do chúng
ta kết thân với những người bạn không xứng
đáng nên đã chuốc lấy những
chuyện rối khổ đó như thế nào. Tương
tự như vậy, hãy nhìn lại những hạnh phúc và những hiểu biết mà chúng ta có
được do sự thân cận của chúng ta với những
người bạn có lòng.
Những phẩm chất nào
để nhận biết đó là người bạn tốt?
Những người nào chúng ta nên tránh né? Ðể ngắn gọn chúng tôi xin trình bày
một đoạn trích từ kinh Thiện Sanh nói về tình
bạn. Xem xét từng điểm và suy nghĩ
trong mối liên hệ đến những sự việc cụ thể
trong cuộc đời thì chúng ta sẽ có được
một hiểu biết rõ ràng về những mối quan hệ bè bạn của chúng ta.
Mặc dầu những
điểm sau đây chỉ cho thấy những phẩm cách mà
chúng ta cần xem người bạn của chúng ta có hay không;
điều không kém quan trọng là chúng ta
cũng phải kiểm tra xem bản thân mình có hay không có những phẩm cách này.
Ðây là cách hướng dẫn rất là thực tiễn, nó chỉ cho chúng ta những tính
cách nào tự thân chúng ta cần nên diệt trừ và những phẩm cách nào tự thân
chúng ta cần nên trau dồi. Nhờ vậy những người tốt sẽ tìm
đến chúng ta để cùng làm bạn tốt với
nhau.
Bạn xấu có bốn hạng, những
người này thật ra là kẻ cừu địch giả vờ làm
bạn đó thôi:
(1) Loại bạn
đến với chúng ta tay không và khi
đi thì trong tay phải có. Ðó là những
kẻ:
- Thăm chúng ta với ý định
lấy đi cái gì đó.
- Tặng chúng ta ít thôi và mong muốn nhận lại nhiều.
- Chỉ giúp chúng ta khi bản thân họ đang bị nguy hiểm.
- Liên hệ với chúng ta chỉ vì những động cơ vị kỷ.
(2) Loại bạn
đầu môi chót lưỡi và loại tình bạn
mỏng như cánh chuồn. Ðó là những kẻ:
- Niềm nở rồi hoang phí thời
gian của chúng ta bằng những câu chuyện về quá khứ.
- Niềm nở rồi hoang phí thời gian của chúng ta bằng những câu chuyện về
tương lai.
- Tìm cách đạt được những lợi ích từ chúng ta bằng cách xung phong giúp
đỡ những lúc chúng ta không cần sự giúp đỡ.
- Những khi chúng ta cần giúp đỡ thì họ nêu lên nhiều lý do để thoái
thác và không chịu ra tay.
(3) Loại bạn nịnh hót và giả vờ
quan tâm, săn sóc chúng ta. Ðó là
những kẻ:
- Khích lệ chúng ta khi chúng
ta làm những điều không tốt.
- Ngăn cản chúng ta khi chúng ta làm những điều tốt.
- Ở trước mặt thì khen ngợi chúng ta.
- Ở sau lưng thì chỉ trích chúng ta.
(4) Loại bạn
đưa chúng ta đến chỗ sa đọa. Ðó là
những kẻ:
- Làm người đồng hành với
chúng ta trong các buổi ăn chơi, hút sách.
- Lang thang ngoài phố với chúng ta trong đêm hôm tăm tối.
- Cùng đi xem với chúng ta những buổi biểu diễn không lành mạnh.
- Ði chơi cờ bạc với chúng ta.
Có những quan hệ bằng hữu cởi
mở và thân thiết với những hạng người như trên thì chúng ta sẽ gặp những
khó khăn và rắc rối. Tốt hơn là chúng
ta nên giữ một khoảng cách an toàn nhưng không nên chỉ trích họ. Mặc dầu
có thể cho rằng một hành động nào
đó là không tốt, chúng ta không thể
nói là người đã làm hành
động đó là một người
độc ác, không thể dung thứ. Vẫn có lòng
bi mẫn và có những mong ước tốt đẹp đối với
người đó nhưng chúng ta nhất định không chịu đồng hành vì chúng ta
biết rằng nếu đồng hành với người như
vậy chúng ta sẽ phải đi về một hướng mà
chúng ta không muốn đi.
Cũng theo cách trên Ðức Phật
miêu tả những phẩm chất của người bạn tốt. Ðó là những người mà chúng ta
có thể tin tưởng và nương tựa. Nhờ vào việc kết thân với những người như
vậy chúng ta sẽ có hạnh phúc và sẽ tiến bộ. Ðiều quan trọng không kém việc
tìm những người bạn có những phẩm chất cao thượng là chúng ta cũng phải tự
tu tập những phẩm chất cao thượng nơi tự thân của chúng ta.
Bốn dạng bạn có lòng tốt là:
(1) Người bạn giúp
đỡ chúng ta. Ðó là những người:
- Nhắc nhở mỗi khi chúng ta
cẩu thả hoặc lơ đễnh.
- Bảo vệ tài sản của chúng ta.
- Che chở và an ủi chúng ta trong những lúc chúng ta sợ hãi.
- Giúp đỡ nhiều hơn mức độ mà chúng ta yêu cầu.
(2) Người bạn quan tâm tới
chúng ta trong mọi thăng trầm của cuộc sống.
Ðó là những người:
- Tin cẩn chúng ta.
- Giữ kín những tâm sự riêng tư mà chúng ta đã thố lộ.
- Không bỏ rơi chúng ta khi chúng ta lâm nạn.
- Có thể hy sinh thân mạng cho chúng ta.
(3) Người bạn khích lệ chúng ta
đi theo đường chánh đạo và làm cho
chúng ta trở nên người tốt hơn. Ðó là những người:
- Phản đối khi chúng ta làm
những việc quấy ác.
- Khích lệ khi chúng ta làm những việc lành thiện.
- Tạo điều kiện cho chúng ta nghe những lời dạy hữu ích.
- Chỉ cho chúng ta con đường đi đến hạnh phúc.
(4) Người bạn có lòng bi mẫn và
cảm thông. Ðó là những người:
- Cảm thông cho chúng ta
những khi chúng ta thất bại.
- Hân hoan đối với những thành công và phát đạt của chúng ta mà không
ganh tỵ.
- Phản bác những ai nói xấu chúng ta.
- Tán thưởng những ai nói tốt chúng ta.
Mặc dầu những
điều được trình bày ở trên thì rất sơ
lược và chúng ta có thể có cảm giác rằng đó là
những điều chúng ta đã học từ lâu rồi,
từ khi còn bé; nhưng điều quan trọng là
hãy suy xét lại những mối quan hệ bằng hữu của chúng ta, những hành
động của chúng ta đối với tình bằng
hữu để đánh giá lại mức độ mà chúng ta
đã thực hiện những lời khuyên ở trên
như thế nào rồi. Nhờ vào việc ghi nhớ và áp dụng những lời dạy ở trên vào
những hoàn cảnh cụ thể trong đời sống thì
chúng ta sẽ biết rõ ràng hơn về bản thân của mình và sẽ có
được một định hướng rõ ràng hơn
để tu tiến.
Thương yêu và chấp thủ
Người ta không hiểu làm sao mà
hai lời dạy ngược nhau - lời dạy về không chấp thủ và lời dạy về lòng
thương yêu của Ðức Phật - không bị mâu thuẫn với nhau. Làm sao mà chúng ta
có thể yêu mến một người mà không cảm thấy dính mắc với người ấy?
Không chấp thủ là một trạng
thái thăng bằng của tâm thức nhờ đó chúng ta
không phóng đại lên những phẩm chất của những người mà chúng ta
thương mến. Nhờ một cách nhìn chính xác hơn về người thân mà những vọng
tưởng phi thực tế và cả sự chấp thủ của chúng ta tan dần
đi. Như vậy chúng ta thương yêu người
khác vì họ là họ chớ không phải vì những điều
mà họ đã làm
được cho chúng ta. Tấm lòng không còn
tính chất thiên vị của chúng ta sẽ mở rộng
đến tất cả mọi người, mong rằng mọi người đều có hạnh phúc chỉ vì
mọi người là những con người cụ thể như vậy. Tình cảm ấm áp trước kia chỉ
dành cho một số người nào đó bây giờ có thể
mở rộng cho nhiều người.
Tuy nhiên với những người có
nhiều điểm giống nhau thì dễ dàng trò
chuyện hay trao đổi quan điểm với nhau. Chúng
ta dễ hiểu biết nhau và dễ giúp nhau tiến bộ. Có lẽ chúng ta dành
nhiều thì giờ với những người này hơn là với những người khác. Vì vậy, họ
là bạn của chúng ta mà không cần đến sự vướng
mắc hay chấp thủ. Cần nhắc rằng điểm trọng tâm của tình bạn như vậy
là để cùng nhau tiến bộ chớ không phải
là để làm thỏa mãn những mong muốn vị
kỷ của chúng ta.
Không phải dễ gì mà chúng ta
thoát khỏi thói quen chấp thủ. Vì vậy thoạt
đầu tình bạn của chúng ta là một hợp thể gồm sự chấp thủ và tình
thương yêu chân thật. Nhưng khi chúng ta nhận thức
được rằng sự chấp thủ là lỗi lầm thì
chúng ta sẽ cố gắng loại trừ nó. Sự chấp thủ lúc ấy không còn tạo nên
những rắc rối trong tình bằng hữu giữa chúng ta. Phẩm chất của tình bằng
hữu như vậy sẽ càng lúc càng được nâng cao.
Giúp
đỡ bạn bè
Ðiều quan trọng là chúng ta cần
phải nhạy cảm đối với những nhu cầu và
những mong muốn của bạn. Ðiều này phải gắn liền với việc tôn trọng phẩm
cách riêng của cá nhân người ấy. Chúng ta cũng phải từ bỏ thói quen vị kỷ
và thói quen mệnh lệnh sau mỗi khi làm được
điều gì cho người khác. Ngay khi mà chúng ta suy nghĩ nhiều về tư
lợi và lơ là với lợi ích chung của tình bạn thì những rắc rối bắt
đầu phát sinh.
Ðôi khi chúng ta rơi vào trạng
thái tâm lý "ta được gì? ta
được gì?" và chúng ta nhìn bất cứ
người nào và bất cứ vật gì cũng theo chiều hướng là ta
được gì từ người ấy, vật ấy. Lơ
đễnh hay vô ý thức đối với những tác động tốt
hay xấu của chúng ta đối với người khác nhưng chúng ta lại có ý thức rất
mạnh mẽ đối với những lợi ích hay những tai hại mà người khác có
thể làm cho chúng ta. Thái độ tâm lý như vậy
luôn luôn tạo nên những rắc rối giữa chúng ta với người khác; dù
người khác có tốt cách mấy và làm bao nhiêu việc cho chúng ta thì chúng ta
cũng không cảm thấy thỏa mãn. Chúng ta sẽ trở nên cáu kỉnh, không thỏa mãn
và làm cho mình, cho những người chung quanh trở nên khốn khổ.
Trạng thái tâm lý "ta
được gì? ta
được gì?" trở nên rõ ràng hơn khi
chúng ta bước vào một gian phòng có nhiều người lạ mà ta chưa từng biết
mặt. Khi ấy phải chăng chúng ta thường suy
nghĩ: "Ta cần làm gì để những người
này được lợi lạc? Những người này
cần những gì? Ta có thể giải tỏa được những
đau khổ nào cho họ?" Chúng ta cần trung thực
để nhận ra rằng thông thường thì cách
nhìn vị tha như vậy rất mờ nhạt trong tâm của chúng ta, thay vào
đó chúng ta bị đắm chìm vào những tính
toán: "Ai là người có thể giúp cho mình? Những người này có làm hại và
hạ bệ ta không? Ồ, người trông rất sang trọng
đằng kia sẽ ưa thích ta không?"
Sẽ thú vị nếu chúng ta dừng lại
một phút trước khi bước vào những nơi đang có
nhiều người để quán niệm: "Trong kiếp sống này và trong nhiều
kiếp sống trước, tất cả mọi người đã
có lòng tốt đối với ta. Giờ đây ta có cơ hội
để đối xử tốt lại với họ. Gương mặt của những người này dù có khác
nhau như thế nào đi nữa thì họ
đều giống nhau ở chỗ là nhiều lần họ
cảm thấy bất an và muốn được người khác nhận
ra phẩm chất đích thực của họ. Họ mong muốn được thừa nhận rằng họ là
những cá nhân xứng đáng. Giờ đây ta sẽ sử
dụng thời gian này hiện diện với họ và làm cho họ tất cả những gì
mà ta có thể làm được." Những cảm
giác mà chúng ta có được trong những cuộc
phỏng vấn, trong những buổi tiệc vui và trong những buổi họp mặt sẽ
rất là khác so với những giai đoạn trước đây
nếu chúng ta siêng năng thực tập quán
niệm như thế.
Dần dần chúng ta sẽ hình thành
nên thái độ tâm lý "cho và
cho", tức là thường hay suy nghĩ về những gì mà chúng ta có thể cho
người khác. Khi mà chúng ta có thái độ như
vậy thì những vấn đề khó khăn của
chúng ta sẽ không còn có vẻ to lớn nữa và chúng ta cảm thấy có hạnh
phúc với bất cứ người nào hiện diện với chúng ta. Do
đó, những người khác cảm thấy có hạnh phúc và
mến mộ chúng ta và chúng ta có một sự an vui tận tâm hồn, thấy
đời sống trần gian có nhiều ý nghĩa.
Nhạy cảm
đối với những vui buồn của người khác phải
bao hàm việc ý thức được khi nào
mới nên nói và nên nói chuyện gì. Ðừng có hoang phí thì giờ của người khác
bằng những câu chuyện quàng xiên vô bổ. Ðiều này tưởng chừng như dễ làm
nhưng thật sự không dễ như chúng ta tưởng
đâu. Coi chừng trường hợp chúng ta nghĩ rằng chuyện gì
đó là quan trọng và thú vị trong khi
người kia lại không nghĩ như vậy. Có ý tứ về những tính cách riêng, tư ý
và khuynh hướng của người khác khiến cho con người của chúng ta trở nên
chín chắn hơn.
Trở nên chín chắn và rộng lượng
không nhất thiết có nghĩa là kềm hãm sự phát triển cá nhân của chúng ta
để chỉ làm những
điều mà người khác muốn chúng ta làm
mà thôi. Chúng ta phải nhận ra được sự khác
biệt giữa một bên là thái độ tử tế với
người khác phát xuất từ lòng lân mẫn chân tình
đối với họ và một bên là phủ nhận giá
trị của tự thân chúng ta, làm điều mà
người ta muốn chúng ta làm với mục đích là
được lòng của mọi người. Trước khi
chúng ta có được một tấm lòng lân mẫn,
chúng ta phải có được một tư cách biết tự
trọng.
Mặt khác, lòng tự trọng không
giống tánh vị kỷ. Trong khi lòng tự trọng giúp chúng ta nhận ra
được nhân vị của bản thân chúng ta thì
lòng vị kỷ khiến cho chúng ta đeo đuổi theo
những hạnh phúc của cá nhân mình, xem chúng là quan trọng hơn tất
cả hạnh phúc của người khác. Muốn tìm một
điểm thăng bằng giữa sự tự phủ nhận bản thân và tánh vị kỷ thì hãy
thiết lập lại sự bình đẳng cơ bản của con
người chúng ta với tất cả những người khác: Tất cả đều tìm kiếm
hạnh phúc và tránh xa những rối khổ. Tất cả
đều có những phẩm chất tốt đẹp và những nhược
điểm. Tất cả mọi người trên
đời đều đáng được tôn trọng vì tất cả
mọi người đều là những sinh thể có
linh tánh.
Áp lực trang lứa [*]
Mặc dầu chúng ta thường nghĩ
rằng áp lực của những người cùng một thế hệ hay
đồng song chỉ xảy ra trong giới trẻ, thật ra
nó tác động tới chúng ta bất kể tuổi tác và bất kể là chúng ta kết
giao với ai. Không ai cảm thấy vui vẻ khi bị chê trách hay bị hiểu lầm;
bất cứ ai trong chúng ta đều muốn những người
khác nghĩ tốt về mình. Mặc dầu biết rằng không nên chú ý tới khi có
người diễu cợt hay chỉ trích chúng ta, chúng ta vẫn cảm thấy lo lắng về
những điều mà người kia có thể
đã nói về mình. Ðể ngầm tự bảo vệ,
chúng ta tham gia vào những hoạt động của tập
thể những người cùng trang lứa để tạo
mối dây thân hữu và tránh được sự đối
chọi của số đông.
[*] Áp lực trang lứa
có nghĩa là đông đảo người cùng
độ tuổi với chúng ta đều làm một
điều gì đó và họ yêu cầu chúng ta
làm giống như họ thì chúng ta bị áp lực phải nghe theo để tránh tình
trạng bị cô lập hay bị xem là lập dị hay bị số đông chống đối, ghét bỏ.
Ðó là ý nghĩa của từ ‘áp lực trang lứa’ được dùng ở đây.
Cốt lõi vấn
đề là lòng tự tin của chúng ta. Khi
chúng ta dựa vào lời khen của người khác để
cảm thấy an ổn thì tình trạng tâm lý của chúng ta cứ phải dao
động theo những điều gì mà người ta
khen hay chê. Chúng ta trở nên rất dễ bị tổn thương và rất dễ bị tác
động vì chúng ta không biết rõ chúng
ta nương tựa vào cái gì, tin vào cái gì và có biết rõ
đi nữa thì chúng ta cũng không có
đủ tự tin và dám bộc bạch trước mặt
mọi người.
Chúng ta cần phải suy nghĩ sâu
sắc một sự thật là người ta khen chúng ta tốt thì lời khen ngợi
đó thật ra không làm cho chúng ta tốt,
người ta chê chúng ta xấu thì lời chê bai đó
thật ra cũng chẳng làm cho chúng ta xấu. Khen ngợi và chê bai chỉ
là những ảnh tượng và những tư ý của người khác; chúng không thuộc về
chúng ta. Chúng ta cần phải tự xem xét thái
độ và hành vi mà chúng ta đã
thể hiện để có được một cái nhìn chân
thực về cá nhân của mình. Bằng cách đó chúng
ta có thể tự thẩm định những ưu thế và những nhược
điểm của bản thân.
Nếu một người nào
đó chỉ chính xác được những chỗ yếu kém và
sai lầm của chúng ta thì cũng chẳng có gì phải căng
thẳng. Chuyện đó không khác gì chuyện người ta nói rằng: "Có cái
mũi nằm giữa khuôn mặt của bạn." Thật ra cái mũi
đã nằm đó
tự thuở nào rồi, ai cũng thấy. Cố gắng giấu
đi những sai lầm của mình là
điều sai lầm và vô ích. Khi người nào
đó nói ra sự thật mà ai cũng thấy, thế
mà chúng ta cảm thấy bị xúc phạm thì chúng ta quả thật là vô lý. Việc
đơn giản là thú nhận rằng chúng ta
phạm sai lầm và thành thật xin lỗi, thế thôi.
Ngược lại nếu một người nào
đó diễu cợt rằng có một cái lỗ tai lừa mọc trên
đầu thì chúng ta cũng không nên cảm
thấy là bị xúc phạm vì rõ ràng rằng người đó
phạm sai lầm. Tương tự như vậy, nếu chúng ta bị chỉ trích về một chuyện mà
chúng ta thật sự không có làm hoặc là ai đó
thổi phồng điều sai trái mà chúng ta thật sự có làm ở mức
độ nhỏ hơn thì cũng không cần gì phải
tức giận. Ðiều mà người ấy nói là không đúng,
thế thôi.
Tất cả chúng ta
đều có những phẩm tính tốt đẹp, và
điều quan trọng là hãy phát huy nó.
Tuy nhiên, ngạo mạn về những tài năng và
những thành tựu của chúng ta là phi lý, vì những tài năng
và những thành tựu đó có được là
do lòng tốt của nhiều người. Nếu không ai dạy bảo cũng không ai giúp
đỡ thì chúng ta
đã không thành công như thế. Khi mà
chúng ta có khả năng thừa nhận những sai lầm
của mình mà không bực phiền thì chúng ta cũng có khả năng
tiếp nhận lời khen ngợi mà không kiêu ngạo. Ðức Phật
đã dạy:
Như tảng đá kiên cố,
Không gió nào lay động;
Cũng vậy, giữa khen chê,
Người trí không lay động. (kinh Pháp Cú, câu 81)
Dù cho bị người chê trách hay
được người khen ngợi nếu giữ được sự quân bình
tâm lý thì chúng ta đều có thể đánh giá và
học hỏi từ những điều mà người ta khen
chê. Và nhờ đó chúng ta có được một hình
ảnh thực sự và rõ ràng hơn về bản thân của chúng ta. Ðược như vậy thì
chúng ta sẽ vững vàng hơn trong việc đối phó
với những áp lực trang lứa vô bổ. Một yếu tố khác nữa giúp cho chúng ta thêm
tự tin là chúng ta nhạy bén về những giá trị
đạo đức. Khi nhạy bén về mặt đạo đức thì chúng ta không bị mù mờ và
nhận ra được những tình huống có chứa
mầm mống sa đọa. Và như vậy chúng ta
sẽ không là nạn nhân của những áp lực nguy hại của người khác dù họ là số
đông. Nếu chúng ta suy nghĩ sâu xa về những
điểm ưu thắng và những điểm bại hoại
của một hành động nào
đó thì chúng ta sẽ rạch ròi trong
những quyết định để bảo vệ những giá trị đạo
đức của chúng ta. Ngay cả khi người ta chỉ trích hay bêu riếu chúng
ta vì chúng ta không tham gia vào những hoạt
động không lành mạnh của họ thì trạng thái tâm lý của chúng ta vẫn
vững vàng vì chúng ta biết rằng điều mà
chúng ta đang làm là
đúng đắn. Ðể có
được một sức tự tin vững chắc và có
chiều sâu về những giá trị đạo đức thì
chúng ta phải suy tư và quán xét rất nhiều.
Giãi bày những giận hờn
Ðôi khi chúng ta cần phải giãi
bày những giận hờn đối với bạn bè. Làm
sao chúng ta có thể làm được việc này
một cách tốt đẹp mà không làm nặng nề
bạn bè với những khó khăn, bực dọc và
những cảm giác có hại cho chúng ta. Ðôi khi chúng ta cần phải "Tuôn hết
ra," và một người bạn tốt sẽ là người biết lắng nghe với một tấm lòng
rộng mở và thương yêu.
Trình bày những nỗi khó khăn
của chúng ta cho những người thân yêu nghe thì tốt. Nhưng chẳng tốt
chút nào nếu chúng ta tống một mớ bòng bong những cảm xúc của chúng ta lên
tấm lòng của bạn khiến cho bạn hoang mang và rối mù. Chúng ta cũng chẳng
nên kể lể những khổ sở của chúng ta cho bạn bè chỉ
để họ thông cảm và
đồng ý với chúng ta rằng ai đó đã bất
nhẫn và tệ bạc đối với chúng ta. Làm
như vậy chỉ khiến cho sự tự thương cảm của chúng ta thêm trầm trọng và vấn
đề vẫn còn y nguyên!
Bước
đầu là thừa nhận và chấp nhận rằng
chúng ta có nỗi khổ, có cảm giác buồn khổ hay bị mất
định hướng; bước thứ hai là giải tỏa
chúng. Một trong những phương sách là tìm đến
bạn bè tâm sự để được những lời khuyên
chân thật và có tính cách xây dựng. Chúng ta sẽ
đón nhận những lời bình luận của bạn
bè ngay cả khi bạn bè nói với chúng ta rằng chúng ta
đã phạm sai lầm và chính chúng ta là
người gây nên nỗi khổ đó. Bạn bè giúp
chúng ta bằng cách nói cho chúng ta biết mỗi khi chúng ta thổi phồng câu
chuyện, thổi phồng một chi tiết nào đó, hay
mỗi khi chúng ta cố chấp. Người bạn chân thật sẽ không nói rằng chúng ta
đúng đắn khi sự thật là chúng ta đã
sai lầm và qua đó sẽ giúp chúng ta trong việc
xác định đâu là vấn đề và giải
quyết chúng.
Biết
được giá trị của việc kết giao bằng hữu tốt,
chúng ta sẽ chọn lựa những người bạn có ảnh hưởng tốt đối với chúng ta.
Hơn nữa, chúng ta cũng phải cố gắng làm giảm tối
đa những điều sai quấy của chúng ta và
rèn luyện để thăng tiến những phẩm chất tốt
đẹp để chính chúng ta có thể trở thành người bạn tốt
đối với người khác.
III. ÐỒNG
NGHIỆP VÀ KHÁCH HÀNG
^
Hợp tác trong công việc và hóa
giải những bất đồng
Trong thời gian hạ thủ công phu
với những thiền khóa dũng mãnh nhiệt tâm tinh cần, chúng ta có thể từng
bước tu tập để tiến tới Phật quả, làm
lợi lạc cho vạn loại hàm linh. Nhưng trong cuộc sống bình nhật, chúng ta
cũng phải thực tế đời thường đồng thời làm
phát triển lòng từ bi đối với những người
chung quanh, nhất là đối với những
người làm việc chung với chúng ta. Sống một
đời sống đạo đức, ghi nhận sâu sắc những cố
gắng của họ và hóa giải những bất đồng
là những phương châm có hiệu quả.
Sống một
đời sống đạo đức
Ðời sống
đạo đức là cơ sở dựa trên
đó người ta mới có thể sống chung hòa
bình với nhau và xây dựng được sự nghiệp vững
bền. Người đáng được người khác tin cậy trong công việc làm
ăn thì sẽ
đạt được sự tin tưởng của chủ nhân, sự kính trọng của đồng nghiệp, sự yêu
mến của khách hàng và sự nghiệp của người ấy còn càng lúc càng phát triển.
Nếu chúng ta lấy giá phải chăng, phục vụ tốt
và thành thật với khách hàng thì không những khách hàng sẽ tiếp tục
làm ăn với chúng ta và còn dẫn thêm
mối lại cho chúng ta.
Ngược lại, nếu không quan tâm
đến vấn đề đạo đức và lo làm bất cứ
điều gì
để thỏa mãn mục đích vị kỷ là
kiếm thật nhiều tiền thì chúng ta tự chiêu cảm lấy sự xung
đột và công việc làm
ăn lâu dài bị tổn hại. Trong những năm
gần đây một số nhân vật khét tiếng trong thương trường và chính
trường đã phải
đứng trước vành móng ngựa và bị quần
chúng khinh bỉ. Tính tham tiền và háo danh đã
đưa họ đến tình trạng bị xã hội khinh
ghét, phỉ nhổ và cuối cùng phải tiêu tan sự nghiệp.
Ai cũng ngần ngại và không muốn
làm ăn với người vô đạo đức. Nếu chúng ta nói
dối và gian lận với chủ nhân, với đồng
nghiệp và khách hàng thì tất cả những người ấy sẽ không tin tưởng
và không còn muốn hợp tác với chúng ta nữa. Mặc dầu nhất thời thì chúng ta
có thể thu được nhiều lợi thế và tiền
bạc bằng những phương cách vị kỷ, độc ác
trong việc làm ăn nhưng về lâu về dài
chúng ta sẽ đi đến tình trạng tồi tệ
là: Ban ngày thì công việc làm ăn không còn
suôn sẻ, đêm về thì chúng ta nằm ngủ
với một lương tâm u ám chập chờn. Từ bỏ 10 hành vi tai hại thì ngăn
ngừa được những hậu quả trên.
Cảm nhận sâu sắc những cố gắng
của mọi người
Giúp
đỡ đồng nghiệp và
đánh giá tốt những công việc mà họ
đã làm
được tức là làm cho đồng nghiệp có
hạnh phúc và xây dựng được một tinh
thần đồng cam cộng khổ. Khi người ta thấy rằng những nỗ lực của họ được
ghi nhận thì họ sẽ sốt sắng và nỗ lực hơn nữa. Khi người ta có
điều kiện để biểu đạt ý tưởng riêng
thì họ cảm thấy gắn bó chặt chẽ hơn và lòng trung thành trở nên càng bền
bỉ hơn nữa.
Chúng ta khen ngợi người khác
không phải chỉ vì gia tăng sản lượng! Sự
không thành thật ngay cả trong việc khen ngợi không bao lâu sẽ bị
phát hiện và các mối quan hệ trong công việc sẽ bị suy giảm. Tôn trọng và
cảm nhận tốt về người khác - kể cả những người "cấp dưới" chúng ta về chức
vụ, về bằng cấp... - là chìa khóa để chúng ta
làm phát triển lòng từ bi. Vì vậy chúng ta phải nhớ rằng một người
chủ nhân không thể thành công nếu không có những nhân sự mẫn cán có tinh
thần trách nhiệm; một công ty không thể nào hoạt
động nếu không có nhân viên. Như vậy,
sự thành công có được không phải do bản thân
chúng ta mà là do những sốt sắng và nỗ lực của nhiều người khác.
Những viên chức và công nhân
cũng cần phải thấy được những nỗ lực của
người làm chủ. Phàn nàn và chỉ trích thì thật là chuyện dễ làm; khó
làm hơn là chuyện thừa nhận rằng người kia đã
cố gắng tối đa và nhớ là người
đó là một người bất toàn. Công nhân
nên có thái độ xây dựng khi phản ánh lên
cấp trên những quy chế bất công của công ty
đồng thời công nhân nên nhớ rằng đàm
tiếu sau lưng hay dấy khởi lên một tình trạng bất hòa chỉ làm những vấn
đề thêm phức tạp và rối khổ hơn cho
tất cả mọi người.
Hóa giải những bất
đồng
Chừng nào chúng ta còn sống
trong đời thì chúng ta còn những vấn
đề cần đối mặt và còn những bất
đồng thậm chí những xung đột với người khác
cần phải giải tỏa. Những chuyện đó thách thức năng lực sáng tạo của chúng
ta trong việc trao đổi các ý tưởng khác nhau để có thể giải quyết chúng.
Chúng ta phải làm như thế nào đây?
Trước hết, Ðức Phật khuyên:
Chớ xét lỗi mà người
Ðã phạm hay không phạm
Hãy nhìn điều mà ta
Nên làm hay không làm. (kinh Pháp Cú, câu 50)
Trong việc xây dựng mối quan hệ
tốt với người khác thì cần lưu ý rằng tự bản thân chúng ta có ý thức và có
trách nhiệm về những hành động và thái
độ của chính bản thân thì có hiệu quả
tốt đẹp hơn là mệnh lệnh cho người
khác phải làm như thế này hay như thế kia. Trong thực tế, vô số những vấn
đề rắc rối nảy sinh do chúng ta cứ lo chỉ
trích và đàm tiếu về những sai
quấy của người khác mà không lo xem lại những
điều tự thân chúng ta đã làm. Chỉ bày những lỗi lầm sai quấy của
người khác là chuyện dễ làm và ai cũng ưa làm; còn những lỗi lầm sai quấy
của bản thân thì không ai thích để mắt tới
huống chi là chỉ bày.
Thái
độ đó làm sao có thể mang lại kết quả
mà chúng ta mong muốn. Những khuyết điểm hay
sai lầm của người khác thì chúng ta có thể nhận ra nhưng lại không
có thể sửa chữa được. Ngay cả những sai lầm
của bản thân, chúng ta còn không có khả năng
sửa chữa nếu chúng ta mù tịt về chúng. Ðối với thái
độ và hành
động của người khác chúng ta có thể có tác
động nhất định nhưng không thể nào trực tiếp chế ngự
được chúng vì cá nhân của một con
người mới chính là kẻ chế ngự hành động, lời
nói và suy nghĩ của người đó. Như vậy,
đòi hỏi người khác phải thay đổi là
chuyện phi thực tế. Trong bất cứ một mối quan hệ nào, chúng ta chỉ có thể
bạo quyền đối với chính hành vi của
mình mà thôi; thật ra, việc thực hiện bạo quyền
đối với hành vi của chính mình cũng
không phải là chuyện dễ dàng gì!
Khi những bất
đồng xuất hiện trong sở làm, bước thứ
nhất mà chúng ta có thể làm là tìm hiểu xem trong cái nhìn của người kia
thì sự bất đồng đó nó xảy ra như thế nào.
Việc làm này giúp cho chúng ta hiểu được quan
điểm và cảm tưởng của anh ta hay chị ta và nhờ
đó chúng ta dễ có trạng thái cảm thông chớ
không phải là tức giận. Việc làm này có khi lại giúp chúng ta khám
phá ra rằng vô ý hay cố ý chúng ta đã
làm một điều gì
đó khiến cho người kia cảm thấy bị quấy rầy.
Trường hợp này chúng ta có thể xin lỗi.
Có những người không chịu xin
lỗi vì sợ mất mặt. Nhưng nếu không chịu xin lỗi thì họ chỉ làm tăng
lên sự căng thẳng và những cảm
nghĩ tệ hại mà thôi. Trong thực tế những người nói
được lời xin lỗi là những người có
đảm lực. Không phải vì yếu thế mà xin
lỗi, thật ra nói được lời xin lỗi chính là
vì người đó có đủ sức mạnh của lòng tự
tin và đủ lòng thành tín
để chấp nhận và sửa chữa sai lầm. Chỉ
có những kẻ hèn nhát mới phải giấu giếm lỗi lầm của mình và khăng
khăng không chịu thừa nhận chúng.
Nếu sau khi tìm hiểu, chúng ta
cảm giác rằng chúng ta không có làm điều gì
lầm lỗi thì chúng ta có thể nói trực tiếp với người kia
để giải quyết vấn đề hiểu lầm và bất
mãn. Ðiều này cần phải được làm với
một tâm trạng trầm tĩnh không mảy may bực tức. Trước khi làm chúng ta phải
tự làm mát dịu tâm tư bằng cách áp dụng lời dạy của Ðức Phật về phương
pháp chế ngự tâm sân hận.
Sau
đó chúng ta có thể giãi bày vấn
đề khổ tâm của chúng ta với bạn đồng nghiệp mà
không đổ lỗi hay trách mắng bạn; đổ lỗi hay
trách mắng chỉ làm tình hình tệ hại hơn và
đẩy người kia về hướng đối nghịch phải chống
trả lại. Tốt hơn chúng ta có thể nói rằng: "Khi bạn làm việc
đó thì tôi cảm thấy bực tức vì..."
rồi giải thích tại sao lại cảm thấy bực tức. Bằng cách này chúng ta lấy
lại thế chủ động đối với những cảm giác bực
tức của chúng ta thay vì xem chúng là do lỗi của
đồng nghiệp. Chúng ta giải thích cho đồng
nghiệp của chúng ta biết những hành
động đó của đồng nghiệp đã làm cho chúng ta có cảm giác tổn thương
như thế nào và tại sao chúng ta lại có cảm giác như vậy. Chúng ta có thể
nói thêm rằng: "Tôi cảm thấy rất buồn vì sự tổn thương như vậy, bạn hãy
vui lòng giải thích lý do tại sao mà bạn đã
làm điều đó để cho tôi có thể hiểu được."
Làm như vậy chúng ta
đã tạo cho người kia một
điều kiện để giãi bày quan
điểm. Khi mà người kia "phản hồi" thì
chúng ta phải cố gắng lắng nghe và hiểu được
những gì bạn nói, đừng tìm cách
chen vào. Ðôi khi điều này
đòi hỏi chúng ta một sự kiên nhẫn rất
lớn, vì chúng ta rất muốn chen vào chỗ thuận tiện nhất giữa câu chuyện mà
bạn đang nói để giải thích tại sao sai lầm
của bạn là sai lầm trầm trọng. Hãy kiên nhẫn, cuối cùng thì lắng
nghe với một tấm lòng rộng mở sẽ khiến cho cuộc
đối thoại diễn tiến tốt đẹp.
Trong những trường hợp xung
đột đối chọi, tốt nhất là chúng ta
nghĩ rằng chúng ta và người kia là cùng một phía với nhau, cùng phải
đối phó với vấn đề phải đối chọi với nhau.
Ðừng xem ta và người kia là hai phe
đang chiến đấu với nhau để xem ai thắng ai bại. Chúng ta có thể xem vấn đề
đối chọi là một vấn đề chung cần có sự
hợp tác để giải quyết. Nhờ vậy chúng ta sẽ hợp sức với nhau để tìm
ra một giải pháp có lợi cho cả hai bên.
Ðôi khi chúng ta cảm thấy ganh
tỵ với đồng nghiệp, cảm xúc khó chịu này
có thể được giải quyết bằng cách nhìn
sự thành công của đồng nghiệp từ một chiều
hướng khác. Nếu họ có những phẩm chất, tài năng
hay thời cơ mà chúng ta không có, chúng ta nên vui mừng
đối với sự thành công của họ. Chúng ta
không phải là những người duy nhất tìm kiếm hạnh phúc, những người
đồng nghiệp cũng vậy. Ngoài ra chúng
ta thường nói rằng: "Chẳng phải là tuyệt vời sao, nếu mọi người
đều hạnh phúc!" Bây giờ là lúc
chúng ta phải làm cái cảm giác của chúng ta nhất quán với những lời chúng
ta đã nói. Ðồng nghiệp của chúng ta
đã thành công, như thế thì chúng ta
không cần phải làm gì nữa để họ được hạnh
phúc. Suy nghĩ như vậy chính là nguyên nhân
để vui mừng chớ không phải để khổ sở vì
ganh tỵ. Bằng cách vui mừng đối với sự thành
tựu của người khác cả hai bên đều hạnh phúc!
Tạo nên mối quan hệ có tính
chất xây dựng đối với những người đồng nghiệp
là thực hành Chánh pháp. Ðiều này thử thách chúng ta trong việc
thực hiện việc Chánh pháp hóa tâm hồn: Chánh pháp không chỉ là một mớ hiểu
biết suông mà là một bộ phận trong tính cách của chúng ta. Ðiều này không
những làm cho chúng ta tiến bộ mà còn giúp cho những mối quan hệ mà chúng
ta hiện có trở nên hòa hợp và thân thiện hơn.
IV. CUỘC SỐNG VỢ CHỒNG
^
Giúp nhau phát triển
Tất cả những
điều đã
được nói ở chương trước về việc chọn bạn và cách thức cư xử với bạn
cũng là cách thức mà bạn trai và bạn gái, chồng và vợ
đối xử với nhau trong chương này. Tình
bạn và những cái cùng lo cùng hưởng chung là những yếu tố chủ yếu
để xây dựng nền tảng vững chắc cho mối quan
hệ nam nữ. Thay vì tạo ra một mối quan hệ dựa trên nhục dục hay vật
chất thì vợ chồng có thể tạo ra một mối quan hệ lâu bền và chín chắn hơn.
Ðó là mối quan hệ bạn bè cật ruột, tin tưởng, khích lệ và kiên nhẫn
đối với nhau.
Cần nói thêm rằng không phải
tất cả mọi người đều muốn lập gia đình.
Ðây là một chọn lựa của từng cá nhân tùy theo cá tính và những yếu tố
khác. Nếu một vài người nào đó muốn sống độc
thân thì sống độc thân có thể là
cách tốt nhất để cho người đó được hạnh phúc
và làm được nhiều việc nhất.
Ðời sống hôn nhân không phải dành cho tất cả mọi người.
Phim ảnh và âm nhạc hiện
đại đem đến cho chúng ta những kiểu mẫu lý
tưởng của những mối quan hệ giữa nam và nữ. Nếu xem
đó là chuẩn mực thì
đúng là rắc rối vì chúng ta sẽ tìm
kiếm con người hoàn hảo như được diễn xuất. Lòng
chấp thủ đã khiến cho chúng ta phóng
chiếu những phẩm tính tốt đẹp vào một
người nào đó hoặc đánh giá quá cao những phẩm
tính mà người đó đang có để rồi chúng
ta bị cuốn theo những tình cảm phấn khích và lãng mạn.
Cuối cùng thì sự thật cũng
được phơi bày, hình ảnh mà chúng ta
xây dựng sụp đổ. Ðiều này xảy ra không
phải vì chúng ta hay người kia có làm điều gì
sai lầm mà chỉ vì chúng ta đã xây
những ảo vọng và đã không bao giờ nghĩ
về người kia theo đúng bản chất của họ. Hoặc
là chúng ta đã mơ mộng về một
mối quan hệ hoàn hảo trong đó không hề có
những bất đồng hay mâu thuẫn. Những ảo vọng sai lầm như vậy dễ đưa chúng
ta đến chỗ bị thất vọng về đối tượng của mình mà thôi.
Tốt hơn hết là nên ý thức rằng
người kia có cả những phẩm tính tốt đẹp lẫn
những khuyết điểm và hiểu rằng mối quan hệ mà chúng ta xây dựng sẽ
có những thăng trầm của nó. Có khi hai người
vô cùng khắng khít nhưng cũng lúc có
độ khắng khít giảm dần. Như thế là thuận theo tự nhiên và chúng ta
nên xem đó là quy luật của cuộc sống.
Không người nào có thể làm thỏa
mãn mọi yêu cầu của chúng ta một cách hoàn hảo. Tại sao vậy? Vì người nào
cũng có những giới hạn riêng của người đó; vả
lại, tâm ý của chúng ta cũng luôn luôn thay đổi, rồi những điều mà
chúng ta đòi hỏi nơi người kia cũng
thay đổi theo.
Cũng vậy, không có một người
nào có thể giải quyết tất cả những vấn đề và
những bất an của chúng ta. Chỉ có tự thân chúng ta mới có thể giải quyết
những vấn đề trong cuộc sống bằng cách tu tập
những pháp môn đối trọng thích đáng để tự giải phóng chúng ta khỏi sự sân
hận và tham ái, hẹp lượng và ganh tỵ, tự ty và ngã mạn. Hiểu
được điều này, chúng ta sẽ rèn lòng
kiên nhẫn, tâm tương kính và tấm lòng bao dung,
để có thể làm cho mối quan hệ tiếp tục
phát triển một cách tốt đẹp.
Khi hai người bắt
đầu làm vợ chồng với ý
định là thỏa mãn những ham muốn của
bản thân mình thì mỗi người sẽ xem những ý muốn và những yêu cầu của mình
là quan trọng hơn những ý muốn và những yêu cầu của người kia. Ðó là mở
màn cho một bi kịch, nguyên nhân của tất cả những cuộc cãi vã. Thái
độ ích kỷ này tất nhiên là sẽ
đưa đến tình trạng bế tắc. Mỗi người
đều không chịu tự mình dẹp bỏ những
ham muốn của bản thân. Công việc cần làm lúc này là chế ngự thái
độ tự cưng quý bản thân của mình chớ
không phải là đòi hỏi, bắt buộc người
ấy phải làm như thế này hay thế kia theo ý mình.
Ðời sống vợ chồng là một
điều kiện tốt để thực tập cách biết quý trọng
người kia hơn là chìu chuộng bản thân. Mối quan hệ vợ chồng sẽ trở
nên vững vàng và bền bỉ nếu cả hai người đều
nghĩ rằng mục đích của việc sống chung là
để giúp đỡ nhau và giúp
đỡ những người khác. Nếu một người cảm thấy
phiền não vì một tâm thái nhiễu loạn thì người kia nên an ủi và
khuyến khích người bạn đời của mình
hãy nhìn lại việc đó theo một quan điểm khác.
Nếu hai người đều có thói quen yên lặng tĩnh tọa nhưng sau
đó một người bị phân tán và có nguy cơ
buông bỏ việc tĩnh tọa thì người kia nên nhẹ nhàng khích lệ người này hãy
cố gắng tập trung trở lại để phát triển tâm
linh. Việc ủng hộ và khích lệ nhau sẽ làm cho tình nghĩa vợ chồng
càng ngày càng gắn bó và bền vững hơn.
Kính trọng lẫn nhau là mấu chốt
của đời sống hôn nhân. Sự kính trọng này
phải được biểu lộ qua cách nói chuyện và
cách xử sự mà hai vợ chồng dành cho nhau. Cách nói thiếu chân thực hay có
tính trách mắng không bao giờ mang lại sự hòa thuận cho hai vợ chồng, nói
gì đến việc hành
động thô bạo đối với nhau. Nếu chúng ta cảm
thấy bực bội và đổ trút sự bực bội đó
lên những người thân thì chúng ta đã
làm cho những người thân phải khốn khổ. Ðối với những vấn
đề cần xử sự tế nhị mà lại xử sự thô
bạo hay có thái độ biếm nhẻ, hạ cấp thì
chính chúng ta đã phá hoại hạnh phúc
của gia đình mình.
Nếu chúng ta muốn thể hiện sự
tôn trọng đối với bản thân mình và
đối với người bạn đời của mình thì
trước khi nói một lời nào, một chuyện gì, chúng ta hãy
đắn đo suy nghĩ đến tác dụng của lời nói đó,
của chuyện đó, đối với người bạn đời của mình. Chúng ta cũng biểu
lộ sự tôn trọng của chúng ta qua việc ý tứ
đối với tài sản chung của hai người và cả tài sản riêng của cá nhân
từng người. Nếu người bạn đời của chúng ta có
những thú vui riêng và những việc sinh hoạt riêng mà chúng ta không
tham dự vào, chúng ta cũng đừng nên
phiền lòng. Hãy biết nhận thức rằng người vợ hay người chồng không phải là
một loại của cải hay chỉ là vật sở hữu của chúng ta. Người ấy là một sinh
thể có tánh linh, người ấy muốn tiến bộ về mọi phương diện.
Việc tôn trọng gia quyến của
người bạn đời cũng rất quan trọng. Dầu cho
chúng ta có ưa thích bà con của người bạn
đời hay không, chúng ta cũng phải ăn nói và
xử sự tử tế với những người ấy. Ðiều này không có nghĩa là chúng ta
để họ điều khiển cuộc đời của chúng ta. Họ có
những quan điểm và khuynh hướng khác với chúng ta. Chúng ta vẫn
lắng tai nghe lời khuyên của những người đó và
cám ơn họ đã khuyên bảo nhưng có làm
theo hay không là chuyện khác. Cộc cằn với những người bên vợ hay bên
chồng sẽ làm cho vợ chồng không hòa thuận, trái lại tôn trọng và xem họ là
những người có tánh linh thì rất tốt cho cuộc sống vợ chồng. Khi thấy vợ
hay chồng của chúng ta thương yêu cha mẹ, anh em ruột bên ấy mà chúng ta
tỏ ra ganh tức thì chúng ta chỉ làm cho không khí trong gia
đình căng
thẳng. Tốt hơn, chúng ta nên tôn trọng việc họ thương yêu săn
sóc cho nhau.
Tin yêu lẫn nhau là
điều rất là quan trọng, hai vợ chồng
đều phải góp phần xây dựng sự tin yêu
lẫn nhau qua thái độ quan tâm và có
trách nhiệm trong việc xây dựng hạnh phúc gia
đình. Trong một xã hội mà vai trò của người nam và người nữ
đã có nhiều biến chuyển, hiện nay mỗi
cặp vợ chồng cần phải phân chia bổn phận trong gia
đình một cách
đồng đều, làm cho mỗi người
đều có thể vui vẻ chấp nhận. Mỗi người hoàn
thành tốt phần trách nhiệm của mình và như vậy sẽ làm gia tăng
sự tin yêu lẫn nhau.
Niềm tin yêu còn
được xây dựng qua việc luôn luôn thành
thật với người bạn đời. Muốn thành
thật thì chúng ta nên tránh làm những việc gì mà sau
đó chúng ta phải nói dối để che giấu. Nếu
chúng ta phạm sai lầm thì cứ can đảm
thẳng thắn xin lỗi. Ngược lại nếu người bạn đời xin lỗi thì chúng
ta nên tha thứ và cố gắng đừng để vướng lại
một cảm giác tổn thương nào hay một ý muốn trả
đũa nào cả.
Thêm một cách
để duy trì và cũng cố lòng tin yêu là
trung thành và tiết hạnh. Nếu chúng ta không cảm thấy thỏa mãn và muốn có
thêm một bạn tình khác, chúng ta nên xem xét lại nguồn gốc của việc này.
Phải chăng có điều gì bất ổn trong mối
quan hệ vợ chồng và chúng ta cần phải thảo luận với người bạn
đời để giải tỏa? Hay chỉ vì những cảm
giác thô thiển, cảm giác nhàm chán, hay chúng ta vọng tưởng quá
độ? Trong trường hợp này, chúng ta có
thể tự nhắc nhở mình rằng đối với tình
trạng này nếu chúng ta hành động nông nổi thì
chúng ta chỉ tạo ra không khí u ám và đau khổ
cho chính chúng ta, cho người bạn đời của chúng ta, cho con cái chúng ta và
cho cả người thứ ba kia nữa. Ðiều quan trọng mà chúng ta phải nhớ là hành
động nông nổi của chúng ta sẽ ảnh hưởng tệ
hại như thế nào đối với những người
khác. Hãy quan tâm đến trạng thái an
vui trong tâm hồn của những người thân và xem nhẹ
đi những tập khí trái khoáy của bản thân,
chúng ta sẽ không có những quan hệ bất chính ngoài hôn nhân.
Lòng tin yêu cũng phải
được bồi đắp qua việc điều tiết tài
chánh của gia đình. Mỗi cặp vợ chồng
nên bàn thảo và quyết định phương cách xử lý
tiền bạc. Bất cứ điều gì đã
được hai vợ chồng thỏa thuận thì chúng
ta phải sắp xếp để tuân theo sự thỏa thuận
đó. Phung phí tiền bạc của gia đình cho những vui thú cá nhân hay
cờ bạc, hoặc là tiêu xài nhiều hơn khả năng tài
chánh của gia đình
đều làm tổn thương lòng tin yêu
đối với nhau và tạo nên tình trạng
khốn khổ về tài chánh. Vì vậy người khôn ngoan có trí sẽ tham khảo ý kiến
của người bạn đời trước khi quyết định một
chi tiêu lớn và nếu người bạn đời nhất
thời chưa chịu quyết định thì bạn hãy chờ
đợi. Nếu chúng ta thật lòng yêu thương
và tôn trọng người bạn đời của chúng ta thì
chúng ta sẽ không lấy việc tiêu tiền để biểu
thị rằng quyền của ta lớn hơn quyền của người bạn đời; và chúng ta
cũng không tiêu tiền để thỏa mãn sự
ham thích vị kỷ của chúng ta.
Chúng ta có lập gia
đình hay không là quyền của chúng ta.
Theo Phật giáo, việc lập gia đình
không phải là một việc thiêng liêng, một bổn phận cần phải thực hiện. Việc
có con hay không có con của hai vợ chồng cũng vậy, trong Phật giáo không
hề có sự bắt buộc nào cả. Một cặp vợ chồng có thể muốn có nhiều thì giờ
hơn để thực tập giáo pháp hoặc để tham gia vào
các chương trình xã hội thì hai vợ chồng có thể thỏa thuận với nhau là
không có con. Những cặp vợ chồng khác lại thấy rằng việc có con trong một
mái ấm gia đình là rất quan trọng. Có
con hay không có con, có bao nhiêu người con, tất cả việc ấy là quyền cá
nhân của từng người.
Khi cả cha lẫn mẹ
đều có một quan điểm chung về phương thức
nuôi dạy con cái thì những đứa con sẽ
không bị mù mờ về những gì được phép làm
và những gì không được phép làm. Trẻ
con rất cần được cha mẹ hướng dẫn một cách
nhất quán. Trẻ con cảm thấy rất là lù mù rối óc nếu hành
động của người cha hay người mẹ lúc thì
thế này lúc thì thế khác. Trẻ con sẽ không biết nghe theo ai nếu cha dạy
một đàng mẹ dạy một nẻo; cha thì làm
thế này mẹ lại làm thế kia. Làm như thế sẽ dẫn
đến việc gây gổ giữa hai vợ chồng. Vợ chồng
thường xuyên thảo luận và nói chuyện với nhau một cách thân thiện
sẽ có tác dụng phòng ngừa và giải tỏa những khó khăn
trên.
Cũng có thể là vợ chồng
đã cố gắng giải tỏa sự xung
đột trong một thời gian nhưng họ không thành
công và cảm thấy việc sống với nhau thật là khó khăn.
Việc hôn nhân đối với Phật giáo là việc của thế tục, và vì vậy việc
ly thân hay ly dị cũng là việc thế tục. Phật giáo không hề có một giáo
điều nào ngăn
cấm việc kết hôn hay ly hôn. Và nếu vợ hay chồng sau khi ly hôn
muốn tái giá thì đó cũng là quyền chọn
lựa của riêng họ.
Tuy vậy, Phật giáo khuyến khích
người ta hợp tác và hòa hợp với nhau, Phật giáo cũng khuyến khích nhẫn nại
và bao dung đối với những bất đồng và
những hành động gây đau khổ. Những người đã
lập gia đình thì nên cố gắng tối
đa để có thể ý thức và ý tứ
đối với những cảm xúc vui buồn của người bạn
đời của mình. Chạy từ người này đến
người khác, từ tình cảnh này đến tình
cảnh khác để tìm kiếm hạnh phúc là một
hành động vô ích, hành
động đó chỉ có thể tạo thêm sự khao
khát không thể thỏa mãn mà thôi. Vì vậy mà vợ chồng hãy ra sức hóa giải
những khó khăn trong đời sống hôn nhân, đặc
biệt vì lòng thương tưởng những đứa
con.
Ðức Ðạt-lai Lạt-ma
đã có lời khuyên về vấn
đề này trong tác phẩm Lòng Từ, Sự
Sáng Suốt và Trí Tuệ như sau:
Nếu
đã có gia
đình mà chỉ nghĩ
đến tình cảm và niềm vui thú riêng
của bản thân mình thì không đủ. Bạn còn
có một nhiệm vụ thiêng liêng là nghĩ đến
những đứa con. Nếu bạn ly dị thì con của bạn bắt
đầu phải đau khổ, đó không phải là
một nỗi đau khổ nhất thời phút chốc mà
là một nỗi đau khổ cho đến hết đời này.
Người con lấy mẫu cuộc đời này từ
cha mẹ. Nếu cha mẹ thường xuyên tranh chấp với nhau và cuối cùng là ly
dị thì tôi nghĩ rằng một cách vô thức, trong tận cùng sâu thẳm, tâm hồn
của người con bị ảnh hưởng tồi tệ và mang những vết hằn
đen tối. Quả là thảm kịch của cuộc
đời. Vì vậy mà tôi có lời khuyên:
muốn có một hôn nhân đích thực thì
nên từ từ, trải qua từng giai đoạn trước
hôn nhân một cách thận trọng và chỉ lấy nhau khi
đã đạt
được một sự hiểu biết thích đáng đối với nhau, khi đó thì bạn sẽ
có một cuộc sống hôn nhân hạnh phúc. Hạnh phúc trong gia
đình sẽ dẫn
đến hạnh phúc trên thế giới.
Nếu người ta tiến tới hôn nhân
với một thái độ thiết thực, chân thành,
khiêm tốn, nhẫn nại, tôn trọng và thật lòng săn
sóc cho người kia thì cả hai người càng ngày càng hiểu biết hơn và
càng tiến triển hơn. Ðể đạt được những phẩm
chất này, chúng ta cần phải quay lại quán sát những hành
động của chúng ta, cải thiện những cảm nghĩ và
những việc làm có hại và tu tập những phẩm chất cao thượng và thánh thiện.
V. TÌNH ÁI
^
Sáng suốt
để có hạnh phúc
Cốt lõi của những lời Ðức Phật
dạy có thể được diễn giải như sau: "Hãy
giúp ích cho tha nhân. Nếu bạn không có khả năng
giúp ích cho người khác thì ít nhất là bạn không làm gì gây tổn hại
cho người khác." Những hành động tổn
hại không những gây bất ổn cho sự khang lạc của người khác mà còn
tạo nên những tập khí xấu xa khiến cho chúng ta phải chịu những
điều bất hạnh trong tương lai. Những hành
động lợi ích sẽ làm cho tha nhân có
nhiều hạnh phúc hơn đồng thời giúp cho chúng
ta có nhiều an lạc hơn trong tương lai.
Trước khi chúng ta tìm hiểu
quan điểm của Phật giáo đối với vấn đề đạo
đức trong tình yêu, chúng ta cần tìm hiểu một số nguyên lý cốt lõi
của tư tưởng nhà Phật. Những nguyên lý cốt lõi này gồm: nguyên lý vận hành
của nhân quả và những yếu tố xấu do những trạng thái tâm lý nhiễu loạn như
tham đắm mang lại. Chúng ta sẽ nói kỹ hơn về
hai nguyên lý này trong những chương sau. Ở
đây chúng ta chỉ lược ghi lời dạy về những hành
vi tình ái không sáng suốt được chép lại
trong tác phẩm Con Ðường Tiệm Chứng của tổ sư Tzong Khapa.
Với tư tưởng Phật giáo làm nền
tảng, chúng ta có thể chiêm nghiệm vấn đề đạo
đức trong tình yêu. Khi Ðức Phật nói về những hành
động tình ái không sáng suốt thì
điểm chính yếu mà Ðức Phật khuyên là
không nên ngoại tình. Ngoại tình tức là trường hợp một người
đã thiết lập quan hệ tình ái chính
thức với người này nhưng lại thực hiện hành vi tình ái với người khác; hay
trường hợp một người còn độc thân nhưng lại
thực hiện hành vi tình ái với người
đang có quan hệ tình ái chính thức khác.
Ðây là hành
động có hại vì nó quấy nhiễu
đời sống của nhiều người: chúng ta, người có
hành vi tình ái với chúng ta, người có hôn nhân chính thức, những
đứa con và những người có liên quan
khác trong gia đình. Họ sẽ có những
cảm giác bị tổn thương, ghen tị, mất lòng tin và gặp những vấn
đề khó khăn khác trong cuộc sống. Ngoại tình
có thể khiến cho người ta nói dối, nói tránh né, nói thô bạo và có thể
đưa đến việc giết người.
Mặc dầu
đông đảo chúng ta sống trong thời đại tự do yêu
đương và có
đủ lý lẽ để trình bày nhiều tư tưởng
tốt đẹp về tự do tình ái nhưng có lẽ
là chúng ta nên sáng suốt nhìn lại vấn đề này,
một vấn đề đã
được con người trau chuốt và trang trí
bằng rất nhiều mỹ từ. Tự trong thâm tâm chúng ta thật sự cảm giác như thế
nào khi người bạn đời của chúng ta đang có
mối quan hệ với người khác? Thật sự chúng ta có cảm thấy tội lỗi hay không
khi chúng ta không trung thành với người bạn
đời của chúng ta?
Rõ ràng là ngoại tình có ảnh
hưởng xấu trong đời này và cũng rõ
ràng là ngoại tình sẽ có ảnh hưởng xấu đến
đời sống trong tương lai. Do làm một hành
động tổn hại, chúng ta tạo nên một
nghiệp xấu và tái sinh vào cảnh giới bất hạnh trong tương lai. Chúng ta sẽ
có quan hệ với những người không trung thành và bản thân chúng ta sẽ có
khuynh hướng tiếp tục ngoại tình trong kiếp sau. Hơn nữa, cảnh giới mà
chúng ta tái sinh sẽ u ám và không có hạnh phúc.
Vậy thì chúng ta hãy hình dung
ra hậu quả của việc này qua những điều đang
xảy đến với chúng ta và những người khác vì những gì mà chúng ta
nhận được trong hiện tại chính là kết
quả của những hành động mà chúng ta
đã làm trong quá khứ. Cụ thể là thành
hôn với một người luôn có những mối quan hệ tình ái lăng
nhăng. Cuộc sống vợ chồng vì vậy mà không hòa thuận nên thường
xuyên sống trong bất an và ghen tức. Ngay cả trong trường hợp ly hôn và
lập gia đình trở lại thì người bạn
đời kế tiếp cũng không phải là người
trung thành và luôn gian dối. Dù cho thành hôn với ai, người ấy cũng không
có được niềm tin và sự chân thành.
Theo giáo lý nghiệp quả, chúng
ta có thể nói rằng người này đang phải đền
trả nghiệp ngoại tình mà người ấy đã
làm trong kiếp trước. Nếu người này không tạo nghiệp xấu trong quá khứ thì
tất nhiên không phải lãnh quả xấu. Trong trường hợp
đã phạm tội ngoại tình từ
đời trước nhưng đã tẩy sạch những dấu
ấn của nghiệp quấy thì quả xấu làm sao trổ ra
được như vậy. Hiểu được điều này khiến cho chúng ta quan tâm nhiều
hơn tới sự vận hành của nhân quả đồng thời
giúp cho chúng ta quyết định trong việc lựa chọn hành
động theo ý muốn. Vì chúng ta không
muốn thọ lãnh những hậu quả bất hạnh nên chúng ta sẽ hết sức tránh làm
nghiệp quấy mới và tẩy trừ những nghiệp quấy mà chúng ta
đã lỡ tạo nên rồi.
Khá thú vị là Ðức Phật không
chỉ dạy gì về chế độ đa thê hay
đa phu cả. Dường như điều quấy ác chủ yếu
trong tình ái là khi chúng ta đi quá
phạm vi những quan hệ mà chúng ta đã
công khai tuyên bố với xã hội.
Trong nội dung giảng giải về
những hành vi tình ái không sáng suốt thì ngoài
điều cốt yếu mà người ta phải tránh né
là ngoại tình, còn có những lời giảng giải phụ trợ về vấn
đề sinh hoạt tình ái trong thời gian
không thích hợp, với người phối ngẫu không thích hợp, bằng cách thức không
thích hợp và tại nơi chốn không thích hợp.
Thời gian không thích hợp, thí
dụ như lúc người nữ đang hành kinh.
Một người phụ nữ không bị xem là "nhơ uế" khi hành kinh, và cũng không bị
cấm cản khi thực hành các hoạt động tôn giáo
trong thời gian này. Tôi tin rằng lời khuyên nên tránh sinh hoạt
tình ái trong thời gian này chỉ vì người nữ không cảm thấy thoải mái mà
thôi.
Cũng vậy, trong thời gian người
nữ có mang thì sinh hoạt tình ái có thể làm cho
đứa bé trong thai bào có cảm giác khó
chịu. Linh thức của một sinh linh nào đó nhập
vào bào thai cũng có những cảm nhận của một cơ thể sống nên cảm
thấy khó chịu khi bị sức đè ép và
những chuyển động do sinh hoạt tình ái
tạo nên.
Một thời gian không thích hợp
khác là trường hợp người bạn đời phát nguyện
tu tập Bát quan trai giới thanh tịnh trong một ngày. Một trong
những giới cần phải được giữ gìn là
tránh sinh hoạt tình ái trong 24 giờ. Nếu một trong hai người
đã lãnh thọ giới pháp này mà vi phạm
giới phạm hạnh trong ngày hôm đó là
một việc làm không sáng suốt.
Cũng có lời khuyên là không nên
sinh hoạt tình ái ban ngày. Mặc dầu tôi không biết rõ lý do tại sao mà có
lời khuyên như vậy nhưng có giả thuyết cho rằng ngày xưa ở xứ Ấn Ðộ có
nhiều người trong gia đình chung sống
trong cùng một gian nhà. Nếu hai người sinh hoạt tình ái ban ngày nhỡ có
ai bất ngờ đi vào thì thật là bỡ ngỡ.
Chúng ta cũng có thể giải thích thêm vì thời giờ ban ngày là thời giờ dành
cho công ăn việc làm.
Không nên sinh hoạt tình ái
liên tiếp nhiều lần vì làm như vậy chỉ khiến cho tâm ái dục phát triển quá
độ mà thôi. Chúng ta có thể chiêm
nghiệm: "Nếu tham ái là một trong những nguyên nhân chính khiến cho
chúng ta ở mãi trong vòng sinh tử - sanh lên rồi chết xuống, chết xuống
rồi sinh lên, luôn luôn phải đối mặt với
những vấn đề lặp đi lặp lại, phải giải quyết mãi trong khoảng thời
gian bắt đầu từ cái sanh và tạm kết là
cái chết trong mỗi kiếp sống - thì thấy rằng
đạo Phật dĩ nhiên là khuyên chúng ta tránh việc tham ái quá
độ đồng thời còn khuyên chúng ta xa
lánh tham ái nói chung."
Nói
đúng ra, đạo Phật dạy chúng ta không nên
buông lung trong tham muốn để cứ phải sinh tử
luân hồi. Các vị Tỷ-kheo và Tỷ-kheo-ni
đều phát nguyện sống phạm hạnh với quyết tâm giải thoát khỏi vòng
sinh tử. Những vị này tìm cách đoạn trừ tâm
tham muốn không phải chỉ qua việc giữ giới mà còn qua việc thực tập
thiền định chơn chính để làm giảm bớt
và chuyển hóa nguồn năng lực của tham muốn.
Nhờ vậy mà những vị ấy có thể nhanh chóng
đạt được những chứng đắc tâm linh.
Tuy nhiên, không phải mọi người
đều toàn tâm toàn lực tu tập theo
đạo Phật như vậy. Chúng ta tu tập tùy
theo năng lực mà chúng ta có
được. Trong trường hợp của cư sĩ thì
lời khuyên trên có nghĩa là nên cố gắng giảm thiểu những ham muốn quá
độ.
Ðừng nên tự lừa dối bằng cách
nghĩ rằng mình đang tu tập Mật Tông cấp rất
cao [*] trong khi sự thật là đang sinh
hoạt tình dục bình thường. Hãy một mực tôn trọng giá trị của
đại giới giữ gìn phạm hạnh. Tự vấn bản
thân: "Ta có thể là một Tỷ-kheo hay Tỷ-kheo-ni không?" thì có thể
khám phá ra mức độ ham muốn tình dục
của mình còn nhiều ít như thế nào.
[*] Mặc dầu ở một trình
độ rất cao của Pháp tu Mật Tông thì
một cư sĩ Bồ Tát còn ở gia đình có
thể có những hành động tương tự như sinh
hoạt tình dục nhưng sự thật là khác xa với sinh hoạt tình dục
thông thường. Những vị cư sĩ Bồ Tát này đã
được vị đạo sư tâm linh truyền cho mật pháp
nhằm sử dụng nguồn năng lượng tình dục trong lúc thiền
định để khai thông dạng tâm thức tinh tế
hầu chứng đạt được tính không của nội hữu.
Một trường hợp sinh hoạt tình
ái phi thời nữa là khi người bạn tình đang
bệnh vì sẽ làm cho căn bệnh lan rộng
hay trở nên nặng hơn, đặc biệt là
những bệnh truyền nhiễm qua đường tình
dục. Cốt lõi ở lời dạy của Ðức Phật là
đừng làm tổn hại người khác và hết sức làm lợi lạc cho tha nhân.
Vì vậy chúng ta không nên sinh hoạt tình dục nếu chúng ta nghi ngờ rằng
bản thân mình có bệnh đặc biệt là
những bệnh có thể lây lan cho người khác qua
đường tình dục.
Tương tự như vậy,
để tự trân trọng bản thân, chúng ta cũng
không nên sinh hoạt tình dục với người mà chúng ta nghi ngờ hay
biết rõ là có bệnh và có thể truyền nhiễm sang bản thân chúng ta. Ðiều
quan trọng là giữ gìn thân thể của chúng ta mạnh khỏe ngõ hầu tu tập theo
những lời Phật dạy và làm lợi lạc cho mọi người.
Những người chúng ta không nên
có quan hệ tình dục là người có quan hệ gia tộc gần, trẻ em, thú vật,
người đang giữ giới phạm hạnh, và
người không đồng ý sinh hoạt tình dục.
Loạn luân là một tội lớn vì nó có thể tạo nên những
đột biến về di truyền, đồng thời có thể sinh
ra thế hệ con cái bệnh hoạn. Hơn nữa, loạn luân sẽ tạo nên những
rối loạn về mặt tình cảm trong tâm thức của cả dòng họ. Hiếp dâm hay quấy
rối tình dục trẻ em sẽ gây nên những thương tổn tâm lý và tình cảm cho
người bị hại.
Ðức Phật không nói
điều gì liên quan
đến việc sinh hoạt tình dục trước hôn
nhân. Chúng ta có thể suy luận rằng nếu cả hai người trong cuộc
đều đến tuổi trưởng thành và
đồng ý việc đó với đầy đủ ý thức thì
họ đủ tư cách để quyết định và chịu
trách nhiệm về hành động của bản thân miễn là
họ đừng làm hại
đến người khác. Tuy nhiên nếu một
trong hai người trong cuộc là vị thành niên và
đang được sự bảo bọc của cha mẹ và
việc quan hệ tình dục sẽ làm cho cha mẹ và gia
đình của
đứa trẻ đó tức giận thì người có hiểu biết sẽ không quan hệ tình
dục trong trường hợp này vì nghĩ đến sự an
lạc của mọi người.
Trong hàng ngũ Phật giáo có
nhiều quan điểm khác nhau về vấn đề đồng tính
luyến ái. Nói chung Phật giáo rất bao dung và rộng lượng
đối với tất cả mọi người. Dù một người
bị bệnh đồng tính luyến ái thì người
ấy cũng không bị phê phán hay phân biệt đối
xử.
Tốt nhất là tránh việc thủ dâm.
Mặc dầu Phật giáo khuyên không nên thủ dâm nhưng Phật giáo cũng không làm
cho người ta cảm thấy tội lỗi khi có làm điều
ấy. Ðối với con em trẻ tuổi đang độ
cường tráng về mặt thể xác thì chúng ta cần phải suy nghĩ cho chín
chắn và tìm cách giảng giải cho con em biết phương cách
để làm chủ
được nguồn năng lượng này. Làm cho
chúng cảm thấy xấu hổ, tội lỗi với ý nghĩ cho rằng bản thân có những ham
muốn mạnh mẽ về mặt thể xác thì không có lợi lạc gì cho chúng cả.
Quan trọng là xã hội cần quan
tâm đến những người bị bệnh AIDS và
những chứng bệnh cùng loại. Chối bỏ những người này có nghĩa là
đánh mất tính nhân ái của loài người.
Lãng quên họ có nghĩa là lãng quên tránh nhiệm
đối với sự khang lạc của tha nhân. Hơn nữa,
chúng ta nên khuyến khích việc phổ biến những thông tin
đúng đắn về bệnh AIDS và cách thức sử
dụng những biện pháp phòng ngừa cho mọi người.
Kế hoạch hóa gia
đình
Vợ chồng có thể quyết
định sử dụng các phương pháp ngừa thai thích
hợp cho mình? Phật giáo không chống lại việc này. Tuy nhiên, khi
đã cấn thai thì tâm thức của một sinh
linh đã nhập vào bào thai. Như thế,
tốt hơn là hãy sử dụng những phương pháp ngừa thai trước chớ
đừng sinh hoạt tình dục rồi mới uống
thuốc trục thai hay nhờ đến y học để nạo phá
thai.
Việc thụ tinh nhân tạo bằng
tinh trùng của người chồng hay của một người khuyết danh nào
đó dường như không gây nên những hậu
quả tai hại cho bản thân hay cho người khác. Dĩ nhiên, những người có liên
can trong việc này phải đồng ý và hoàn
toàn tự nguyện để tránh phát sinh rắc rối về
sau.
Quan
điểm của Phật giáo đối với vấn đề đạo đức tình
dục và hành vi tình dục dựa trên nguyên lý không làm hại người khác và
cố gắng tối đa để làm lợi lạc cho
người khác. Phật giáo cũng quan tâm cân nhắc tác dụng của quy luật
nhân quả đối với việc nhiều đời nhiều kiếp
chúng sinh sinh tử luân hồi. Ðức Phật không hề phán quyết
độc đoán về những giá định đạo đức.
Ðức Phật chỉ trình bày và giảng dạy về vấn đề
này với mục đích giúp chúng ta tạo ra
được những yếu tố đưa đến hạnh phúc và tránh
được những yếu tố đưa đến đau khổ. Mỗi người
có trách nhiệm về việc cố gắng để có hiểu biết tốt nhất về những lời dạy này
và hành động theo sự hiểu biết của bản thân mình.
Khi dạy bảo con em của chúng ta
về mặt tình dục thì tốt nhất là giải thích cho chúng hiểu
được tại sao mà có những lời dạy hay
lời khuyên như vậy. Những người trẻ tuổi thường có những ý niệm lệch lạc,
méo mó về tình ái nếu việc giáo dục về giới tính chỉ là một danh sách chi
tiết về "những điều không nên làm"
mà thôi.
Cha mẹ và những nhà giáo dục
cần phải giúp con em hiểu biết để chấp nhận
những thôi thúc nhục cảm của cơ thể và những mộng tưởng yêu
đương của tâm lý, mà không làm cho
chúng cảm thấy xấu hổ, tội lỗi về những thèm muốn và những mộng tưởng
đó. Ðồng thời, chúng ta cần phải có
cách nói mang tính chất xây dựng để chỉ con
em biết được cách thức xử lý đối với những ham muốn thuộc thể xác hay tinh
thần. Ðây là vấn đề mà chúng ta
cần phải ưu tư nhiều.
VI. VỊ ÐẠO SƯ TÂM LINH
^
Thiết thực trong mối quan hệ
với vị đạo sư tâm linh
Một số người băn
khoăn vì không biết có cần thiết phải có một vị
đạo sư tâm linh hay không? Chúng ta có thể tự
học đạo được hay không? Ðể học được
những kỹ năng như đọc sách, nghề mộc, giải phẫu hay ngay cả lái một chiếc
xe chúng ta cần phải có người dạy. Tự học là một việc khó khăn
đôi khi rất nguy hiểm. Thử hình dung ra cảnh chúng ta cố gắng tự
học lái một chiếc máy bay! Rõ ràng là có nhiều hiểm họa không lường
được. Ðể học những nghề nghiệp thông
thường chúng ta còn phải có thầy dạy đàng
hoàng mới nên thì chắc chắn rằng để học đạo
chúng ta phải cần sự hướng dẫn của những bậc đạo sư có phẩm hạnh. Chúng ta
không thể xem nhẹ và bất cẩn trong những vấn
đề tâm linh, những vấn đề cao sâu có ảnh
hưởng lâu dài trong đời này và
trong những đời sau.
Một vị
đạo sư đang sống có thể làm
được những điều mà một quyển sách
không thể làm như trả lời câu hỏi của chúng ta; nêu gương tinh tấn trong
việc hành trì theo giáo pháp bằng chính đời
sống cụ thể hằng ngày; khích lệ và tạo hưng phấn cho chúng ta trên
con đường đạo; và
điều chỉnh những lệch lạc trong hành
vi và trong quan niệm của chúng ta. Sách vở có thể làm phong phú thêm và
mở rộng ra những điều gì mà chúng ta
đã học từ nơi vị
đạo sư nhưng những mối quan hệ tâm linh giữa
chúng ta với những bậc hiền trí trên con
đường đạo thì sách vở không thể thay
thế được.
Trong tiếng Sanskrit, danh từ
để chỉ cho vị thầy, vị đạo sư hay y chỉ sư về
phương diện tâm linh là "guru". Chữ này nghĩa là một người
có chiều sâu, có những phẩm tính tốt đẹp.
Trong tiếng Tây Tạng có chữ "lama" chỉ cho một thắng giả hay
một người mà không ai có thể vượt qua.
Không có một cuộc thi mà người
nào thi đậu thì trở thành
đạo sư. Thật ra, khi một người hay một số
người nhờ một vị thầy nào đó dạy bảo và
hướng dẫn thì vị thầy đó trở thành vị
guru của những người cầu học. Người ta thường gọi vị
đó là thầy vì vị
đó có ít hay nhiều học trò. Tuy nhiên,
vị đó có trở thành thầy của bạn hay
không thì tùy vào ý muốn của bạn. Tương tự như vậy, có một người nào
đó không ai biết là thầy hay
đạo sư nhưng nếu bạn chọn vị đó là
thầy thì vị đó trở thành vị
đạo sư tâm linh của bạn.
Khi chúng ta mới tìm hiểu Phật
giáo, có lẽ chúng ta không có một vị đạo sư
tâm linh riêng biệt nào. Như vậy là tốt. Chúng ta có thể học hỏi từ
những vị đạo sư khác nhau và theo
đó mà thực hành. Những người thích
theo Phật giáo một cách tổng quát thì có lẽ không cần phải chọn lựa một vị
đạo sư. Tuy nhiên sau một thời gian
tinh cần tu tập thì người ta sẽ cảm thấy cần xây dựng nên mối quan hệ thầy
trò với một vị đạo sư tâm linh. Nhờ vậy,
người ta có thể nhận được những lời dạy bảo tâm huyết hơn.
Chọn lựa
đạo sư
Vì vị
đạo sư mà chúng ta chọn sẽ có tác
động đối với chúng ta nên
điều quan trọng là chúng ta hãy lựa
chọn một cách chín chắn. Chúng ta không nên có mối quan hệ quá thân thiết
ngay với thầy. Trước hết, chúng ta quan sát những phẩm chất tốt và những
yếu kém của một vị thầy nào đó để xem bản
thân của chúng ta có tương tự như vậy hay không và xem chúng ta có
thể tạo nên mối quan hệ thân thiết cật ruột với vị
đó hay không. Hãy xem xét chín chắn
trước khi chấp nhận người nào làm vị thầy tâm linh của chúng ta.
Ngày nay có tình trạng nhiều vị
xưng là đạo sư quá, mỗi vị đều có thể dạy lý
thuyết này hay lý thuyết khác và đều
có bề ngoài phô diễn tốt với mục đích
được nhiều người theo. Nhưng nếu chúng ta là những người thành tâm
cầu đạo, chúng ta sẽ cảm thấy không có lý thú
gì trong sự phô diễn mang tính hình thức ấy. Ðiều mà chúng ta tìm
cầu là thực chất chớ không phải phô diễn.
Có thể chúng ta phải tốn thời
gian trong việc tìm kiếm và xác định vị đạo
sư của mình. Khởi sự, chúng ta có thể tham gia những buổi thuyết
giảng và học hỏi nơi những vị giảng sư nhưng khoan xem vị nào là
đạo sư tâm linh của mình. Việc này
giúp cho chúng ta có thể xem xét những phẩm chất của những vị ấy và cũng
xem xét khả năng của chúng ta trong việc
thiết lập mối quan hệ. Chúng ta không nên vội vàng trong việc quyết
định nhận một vị thầy. Nhà hiền trí vĩ
đại người Ấn Ðộ Atisha
đã xem xét và cân nhắc suốt 12 năm
trước khi nhận vị đạo sư nổi tiếng Serlingpa là thầy.
Không có lợi thế gì khi chúng
ta chọn một vị đạo sư tâm linh chỉ vì
vị này có nhiều chức tước, ngồi trên những ghế cao, mặc những bộ y trang
trọng và đội những cái mũ uy nghiêm
gây ấn tượng, vì những thứ đó đều có thể mua
được. Chúng ta không nên dựa vào những hình thức bên ngoài mà nên
tìm kiếm những phẩm tính tốt đẹp. Chúng ta
cũng không nên chọn một người nào đó làm
thầy, chỉ vì người ấy đã là thầy của
bạn chúng ta. Chúng ta phải tự mình chọn lấy, dựa theo những phẩm chất và
những tiếp xúc trực tiếp của chúng ta.
Trong Ðại Thừa Lăng-già
kinh, ngài Di lặc đã phác thảo ra 10
phẩm tính của một vị đạo sư tâm linh tuyệt
vời. Ðó là:
1. Có
đạo hạnh thanh khiết. Vị đạo sư là
gương sáng để chúng ta nương theo tu tập. Vì
chúng ta cần phải chuyển hóa những hành vi, lời nói và tâm ý sai quấy nên
chúng ta phải khôn ngoan chọn vị thầy nào đã
có tự thân chuyển hóa rồi. Vị thầy này sẽ dạy cho chúng ta cách
để cải thiện bản thân và sẽ làm gương
tốt cho chúng ta theo.
2. Có kinh nghiệm trong việc
thiền định.
3. Có hiểu biết thâm sâu về
giáo nghĩa liên quan đến trí tuệ. Ba phẩm
chất đầu tiên này cho thấy rằng đây là
một vị đã khéo tu tập Ba Pháp Môn Tăng
Thượng dẫn đến giải thoát - giới, định và trí tuệ.
4. Có kiến thức uyên bác và
nhiều kinh nghiệm tu tập hơn chúng ta.
5. Có lòng nhiệt tâm bền bỉ
trong việc dạy bảo và hướng dẫn đệ tử. Nếu
chúng ta chọn một vị thầy không ưa việc dạy bảo hay lười nhác trong việc
hướng dẫn thì chúng ta sẽ không học
được bao nhiêu.
6. Là vị
đạo sư đầy đủ tư cách có kiến thức uyên
thâm về Thánh điển và chỉ dạy chúng ta
những điều phù hợp với nội dung tư
tưởng trong Thánh điển. Những vị nào
tự sáng tác ra giáo nghĩa riêng, đi lệch hay
đi quá xa những lời Phật dạy thì không thể nào chỉ cho chúng ta con
đường để chứng ngộ được.
7. Có nền tảng tư tưởng chín
chắn hay có thiền chứng về tánh không.
8. Có kỹ năng
diễn đạt giáo pháp một cách rõ ràng và dễ hiểu.
9. Có
động cơ là lòng từ ái và lòng bi mẫn
vô lượng. Ðây là điểm vô cùng quan
trọng. Chúng ta không thể đặt niềm tin vào
một người lấy việc dạy đạo để được kính trọng
và lợi dưỡng. Thật là nguy hiểm khi chúng ta bị người như vậy làm
cho lầm đường lạc lối; chúng ta sẽ hoang phí
thời gian và rất dễ bị vương vào những hoạt
động không trong sáng. Vì vậy, thật là
quan trọng trong việc chọn người thầy có chí nguyện chân thật và thanh
tịnh, một người thầy muốn làm lợi ích cho học trò và dẫn dắt học trò trên
con đường giải thoát giác ngộ.
10. Có tính kiên nhẫn và sẵn
lòng chỉ dẫn cho những người cần cầu học đạo
dù họ thuộc bất cứ trình độ nào.
Vì chưa phải là người hoàn hảo và còn những tâm thái nhiễu loạn như tham
chấp và sân giận nên chúng ta vẫn còn phạm phải sai lầm. Chúng ta cần
những vị thầy không bao giờ có ý từ bỏ học trò, những vị
đạo sư có tính nhẫn nại và khoan dung
cho học trò. Hơn thế nữa, chúng ta cần những vị
đạo sư không thối chí khi học trò
không hiểu được điều thầy muốn dạy.
Không dễ dàng gì có thể tìm
được những vị thầy có tất cả những đức tính
trên. Trong trường hợp này thì những
đức tính quan trọng nhất mà người thầy cần nên có là:
1. Có nhiều phẩm tính tốt
đẹp hơn là khuyết
điểm.
2. Xem trọng việc tu tập
đạo hạnh để đạt được hạnh phúc trong tương
lai hơn là thụ hưởng những cuộc vui trong hiện tại.
3. Có tấm lòng quan tâm
đến người khác hơn là bản thân của
mình.
Lý thú là chúng ta không phải
tìm một người thầy có thiên nhãn thông. Tại sao vậy? Tại vì có một số
người có thiên nhãn thông nhưng lại không hiểu biết về con
đường đạo đưa đến giải thoát giác ngộ. Những
người này có thiên nhãn thông vì quả phước từ
đời trước, chớ không phải do họ tu tập, và
vì vậy có thể họ sẽ không sử dụng thiên nhãn thông với mục
đích là xả thân làm lợi lạc cho tha
nhân. Vì vậy, khi tìm kiếm vị thầy để chỉ dẫn
cho chúng ta trên con đường giải thoát
giác ngộ, chúng ta nên chọn người có những phẩm tính mà ngài
Maitreya đề cập ở trên.
Ðể biết
được những phẩm chất tốt đẹp của thầy, chúng
ta cần xem xét hành xử của thầy, nhận thức về Phật pháp của thầy và
cách thầy chỉ dạy học trò. Không phải là sáng suốt khi hỏi một vị thầy dạy
giáo lý: "Thầy đã chứng ngộ chưa?"
Vì ngay cả khi đã chứng ngộ thầy cũng
sẽ không cho chúng ta biết. Ðức Phật cấm đệ
tử tuyên bố cho công chúng biết những gì mà mình
đã chứng ngộ
được. Ðức Phật muốn
đệ tử của Ngài khiêm tốn và chân
thành. Người phàm tục ngược lại muốn phô trương những thành tích của bản
thân. Con người tâm linh không nên giống như vậy: mục
đích của con người tâm linh là chế ngự
tự ngã chớ không phải là khuếch đại nó.
Khi
đã quyết
định chọn một người nào là thầy rồi thì chúng ta có thể trực tiếp
hỏi vị ấy có tiếp nhận chúng ta làm học trò không. Tuy nhiên, cũng không
nhất thiết phải như vậy; một số đạo sư có
nhiều học trò đến nỗi không còn
điều kiện để tiếp kiến riêng. Trong
trường hợp này chúng ta có thể tự khẳng quyết, phát thệ nguyện tôn vị ấy
làm thầy rồi tìm cách nghe theo và hành trì theo những lời vị ấy thuyết
giảng, dạy bảo. Như thế vị ấy đã trở
thành thầy của chúng ta. Trong trường hợp khác nếu chúng ta lãnh thọ lễ
quy y, truyền giới từ vị nào thì vị ấy đương
nhiên là thầy của chúng ta.
Chúng ta có thể có rất nhiều
thầy, nhưng chỉ có một vị là đạo sư tâm linh
quan trọng nhất. Ðó chính là vị mà chúng ta kính tin nhất và có thể
giãi bày tất cả những gút mắc nghiêm trọng trong tâm hồn. Ðó chính là bổn
sư của chúng ta. Bổn sư có thể là vị đầu tiên
khai tâm cho chúng ta trên con đường đạo, đã
đưa chúng ta vào con
đường thăng tiến tâm linh. Bổn sư cũng có khi
là vị mà chúng ta cảm thấy thân thiết nhất.
Nghe theo lời dạy của thầy
nhưng không mù quáng
Sau khi chọn
được thầy rồi chúng ta nên tận tâm
nghe theo những lời thuyết giảng của vị thầy
đó về Chánh pháp để tu tiến trên con
đường đạo.
Một số người rất là hời hợt,
chóng vánh trong mối quan hệ với thầy, hôm nay là thầy này, ngày mai không
còn là thầy; hôm nay là thầy, ngày mai đã
chạy sang thầy khác cho đến khi họ tìm
được một vị thầy nói những lời vừa ý họ,
những lời mà con người phàm phu của họ muốn nghe. Những người học
trò như thế thì chẳng tiến bộ được bao nhiêu
cả vì họ thiếu lòng tôn trọng và tâm chí thành.
Chúng ta nên quan tâm
đến những nhu cầu trong đời sống của thầy để
phục vụ và cung cấp cho thầy. Khi chúng ta nhận ra tấm lòng của
thầy trong việc định hướng cho tâm thức chúng
ta trên con đường đi đến hạnh phúc thì
chúng ta sẽ cảm thấy sung sướng khi được giúp
thầy. Vì thầy của chúng ta hành đạo để
đem lại lợi lạc cho mọi người và để
hoằng dương Phật pháp nên những đóng
góp của chúng ta cho thầy sẽ rất là hữu ích.
Thật ra, sự cúng dường thù
thắng nhất của chúng ta cho thầy là công phu tu tập theo Chánh pháp. Nếu
chúng ta có tài của và vật chất, năng lực và
thời gian thì chúng ta cũng có thể cúng dường. Tuy nhiên chúng ta không
nên xao lãng việc tu tập vì việc tu tập mới chính là mối quan tâm hàng
đầu của vị thầy tâm linh đúng nghĩa. Khi
chúng ta nghe theo những lời thầy dạy và gìn giữ những giới
điều mà chúng ta
đã thọ lãnh thì
đó chính là
điều mà thầy của chúng ta cảm thấy
hạnh phúc nhất so với tất cả những thứ khác.
Trong trường hợp chúng ta nhận
thấy thầy có những biểu hiện sai lầm rồi chúng ta trở nên giận dữ và chỉ
trích gay gắt; làm như vậy không có ích lợi gì cả. Chúng ta thường chỉ
trích một hành động nào của người khác
vì chúng ta đã gán cho hành
động đó một động cơ xấu mà nếu chúng
ta là người làm hành động đó thì chúng
ta sẽ làm với động cơ xấu như vậy. Tuy nhiên,
động cơ của thầy có thể khác tuy là
hành động tương tự. Thầy có thể làm
hành động đó với những lý do hoàn toàn
khác với những gì mà chúng ta đã giả
định ra. Cũng có thể thầy làm hành
động đó để cho chúng ta thấy rõ nếu
chúng ta làm hành động đó thì người
khác sẽ thấy con người của chúng ta ra sao.
Tìm thấy những lỗi quấy của
từng người hay của mọi người là một việc dễ làm nhưng
điều ấy chẳng có lợi lạc gì cho chúng
ta cả; nên xác định rằng chúng ta là
những người chơn tu đang nỗ lực tu dưỡng tánh
khoan dung và tâm từ ái. Nếu chúng ta chỉ trích gay gắt và từ bỏ
thầy thì có nghĩa là chúng ta đã khóa
chặt cánh cửa tâm thức, không thể tiếp nhận những lợi lạc từ những phẩm
tính tốt đẹp của thầy. Ðây quả là một
thiệt thòi lớn cho chúng ta.
Tuy nhiên, nếu thầy có những
hành vi dường như là đi ngược lại lời dạy của
Ðức Phật thì chúng ta có thể cầu thỉnh thầy giải thích cho những
hành vi đó. Hoặc chúng ta cũng có thể giữ một
khoảng cách và không xem những hành vi
đó là gương tốt để noi theo.
Chúng ta xây dựng nên mối quan
hệ với thầy ngõ hầu thăng tiến trí tuệ và
trách nhiệm tự thân. Không phải là sáng suốt khi nghe theo lời thầy một
cách mù quáng chỉ vì "người đó là
thầy của tôi vì vậy tất cả những gì người đó
dạy là đều đúng cả". Nếu
thầy yêu cầu chúng ta làm một điều gì
mà chúng ta không thể làm được hay điều đó
chúng ta cảm thấy là không đúng thì
nên lễ phép thưa thật với thầy rằng chúng ta không thể làm
điều đó.
Làm người thành thật
Thầy của chúng ta cũng là người
đồng hành tốt nhất của chúng ta trên
cuộc đời và chúng ta nên nói thật và
học đạo chăm chỉ nơi thầy. Một số đệ tử có
hai mặt: trước mặt thầy thì tu tập thật tốt, nhưng những lúc khác
thì họ tán gẫu, cáu kỉnh và hành xử tệ lậu với người khác. Như vậy thì
chẳng lợi lạc gì cả.
Chúng ta cũng không nên muốn
được thầy ưu ái bằng những lời nói ngọt ngào
nhưng không thành thật. Vị thầy tâm linh muốn cho mọi người
đều được hoan hỷ, và vì vậy nếu chúng
ta lấn át hay cư xử tệ bạc với người khác thì chúng ta
đã làm ngược lại những lời thầy dạy.
Nếu chúng ta xem trọng thầy của mình và khinh thị những người khác có
nghĩa là chúng ta đã không hiểu chân
nghĩa của đạo Pháp. Ðể
đạt được ý nguyện thăng tiến trên con
đường đạo chúng ta phải hành xử với
thầy và với mọi người với tâm thành kính.
Bây giờ chúng ta hãy chiêm
nghiệm sâu xa về ý nghĩa của tâm thành kính. Một số người nhầm lẫn giữa
tâm thành kính với tâm trạng sợ sệt, vì vậy mà khi ở gần thầy họ cảm thấy
vô cùng xấu hổ và e sợ rằng thầy sẽ biết và sẽ thấy họ làm
điều không đúng. Không cần phải có tâm trạng
như vậy. Ðó chính là biểu hiện của tâm trạng quá cưng yêu ‘cái ta’
sợ rằng người khác sẽ thấy ta kém khuyết và ngu ngơ.
Mặt khác, chúng ta không nên
đối xử với thầy như những người đồng hành
tình cờ nào đó trên
đường đời. Phải có một mức độ quân bình.
Dù ở bên cạnh thầy hay khi sống xa thầy chúng ta nên cố gắng có chí hướng
và có hành động tốt. Ðồng thời chúng
ta cũng không nên ngần ngại trình bày những
điểm sai lầm và yếu kém của chúng ta với thầy. Chúng ta hãy thành
thật với thầy và xin thầy ban cho những lời khuyên ngõ hầu hoàn thiện bản
thân.
Thương mến không phải là chấp
thủ đối với thầy
Một số người lẫn lộn giữa tâm
thương kính thầy và tâm chấp thủ đối với
thầy. Việc lầm lẫn này có khi gây nên tâm trạng vô cùng
đau khổ và thất vọng. Cụ thể là nếu
thầy không quan tâm chúng ta như điều mà
chúng ta mong muốn thì chúng ta sẽ cảm thấy mình bị bỏ rơi. Tâm chấp thủ
đối với thầy sẽ khiến cho chúng ta tìm
sự an ổn bằng cách dựa vào tình cảm của thầy, dựa vào những lời khen và
mối quan tâm mà thầy dành cho chúng ta. Nhưng nếu chúng ta nhận chân
được giá trị đích thực của người thầy thì
chúng ta sẽ rất trọng ân thầy.
Tâm chấp thủ có tính chất vị
ngã, còn lòng thương kính thầy lại có tính chất khát ngưỡng tâm linh chân
thành. Dĩ nhiên là chúng ta nhớ mong thầy khi phải xa thầy trong một thời
gian dài nhưng chúng ta có thể tự vấn lòng mình: chúng ta nhớ thầy là
chúng ta muốn có được những lời giáo huấn và
chỉ dẫn về Chánh pháp hay chúng ta nhớ thầy chỉ
đơn thuần vì sự quan tâm thương mến
của thầy.
Mục
đích của việc tìm cầu một vị thầy
không phải là để làm thỏa mãn tự ngã
của chúng ta mà là để diệt trừ vô minh và
vị kỷ qua việc tu tập theo Chánh pháp. Khi thầy chỉ ra
được những lỗi lầm mà chúng ta
đã mắc phải thì chúng ta nên vui mừng.
Bởi vì có quan tâm đến chúng ta đúng mức thầy
mới có thể làm được như vậy. Thầy đã
tin rằng chúng ta sẽ đón nhận lời khuyên
bảo chớ không cảm thấy bị xúc phạm. Lần nọ, tôi thấy một vị thầy rầy học
trò ngay trong một hội chúng đông đảo. Tôi
nghĩ rằng: "Chắc là quan hệ thầy trò rất là thân thiết và người
thầy muốn rằng học trò của mình đoạn trừ kiêu
khí tự ngã nên đã không ngại trong
việc chỉ trích học trò giữa chốn đông người."
Quả thật sau đó tôi khám phá ra rằng người
học trò ấy thật sự là một hành giả chân chính.
Theo dòng thời gian mối quan hệ
giữa chúng ta và thầy sẽ dần dần phát triển tốt
đẹp. Mối quan hệ này có thể trở nên
rất là quý báu vì thầy cho ta những lời dạy bảo và chỉ dẫn chân tình
đầy từ bi và trí tuệ. Nhờ
đó chúng ta sẽ thăng hoa được những phẩm tính
tốt đẹp và có thể tẩy sạch những cấu uế của bản thân. Mối thân tình
giữa chúng ta với vị đạo sư tâm linh, tức là
vị thầy thật sự quan tâm đến phước lạc và
thăng tiến tâm linh của chúng ta khác xa với
những mối quan hệ giữa chúng ta với mọi người. Thầy của chúng ta sẽ tiếp
tục giúp đỡ chúng ta, dù chúng ta có thăng
trầm vinh nhục gì gì đi nữa.
Ðiều này không có ý cho phép chúng ta hành
động cẩu thả bất kể hậu quả. Ðiều muốn nói ở
đây là chúng ta không cần phải có tâm
trạng lo âu rằng thầy sẽ cắt đứt mối quan hệ
với chúng ta nếu chúng ta phạm phải những sai lầm. Vị thầy tâm linh thật
sự sẽ có tánh khoan dung và lòng từ ái và vì vậy chúng ta có thể
tin tưởng hoàn toàn.
Khi chúng ta càng hiểu biết sâu
xa về con đường đưa đến giác ngộ thì
mối quan hệ thầy trò cũng càng thâm trọng vì tâm hồn của chúng ta
đã có nhiều
điểm tương đồng với tâm hồn của thầy. Ý chí tìm
cầu giải thoát của chúng ta càng trở nên khẳng quyết và tâm xả thân bố thí
cũng trở nên dũng mãnh hơn thì chúng ta cảm thấy càng gần gũi với thầy vì
cả hai cùng chí hướng, cùng mục đích. Hơn
nữa, chúng ta tu luyện được trí tuệ về không tánh thì chúng ta
đoạn trừ được cảm giác cách biệt ta người nói
chung; cảm giác cách biệt ta người có ra là do chúng ta mê lầm về
tính hữu thể của hiện tồn. Khi chúng ta đạt
được đạo quả giác ngộ thì sự chứng đạt
của chúng ta không khác với sự chứng đạt của thầy.
Phần Hai
CÁI NHÌN BAO QUÁT THẾ GIAN VÀ NẾP SỐNG THEO CHÁNH PHÁP
Chúng ta có thể băn
khoăn: "Ta đến trần gian này như thế nào? Tại sao ta lại sinh ra
đời? Ta là ai và tại sao có một số
việc chỉ xảy đến cho ta mà không xảy
đến cho những người khác? Tâm thức của chúng
ta tác động đến những cảm nhận của chúng ta như thế nào?"
Ðể tìm ra lời giải
đáp, chúng ta hãy phóng tầm nhận thức
ra khỏi kiếp sống này để có cái nhìn
tổng thể rồi tìm ra giải pháp cho những điều
bất như ý của chúng ta trong cách quan sát toàn cục và bao biện
hơn. Là con người chúng ta có những năng lực
tiềm ẩn nào? Ai có thể hướng dẫn chúng ta trong việc hiện thực hóa
những năng lực tiềm ẩn đó và chúng ta
phải đi theo hướng nào? Khi nhận thức
của chúng ta càng được mở rộng và càng
có chiều sâu thì năng lực để làm cho
đời sống của chúng ta có ý nghĩa càng
trở nên mạnh mẽ. Năng lực này lại
được tăng cường nhờ vào việc tu tập từ
bi và trí tuệ.
VII. TÂM Ý LÀ
KẺ TẠO TÁC RA CẢM NHẬN CỦA CHÚNG TA
^
Cái ý phát khởi trước rồi mới có hành
động,
Cái ý dẫn dắt mọi hành động; chính ý
tưởng làm phát sinh hành động.
Nếu ai đó nói ra hay hành động với ý
tưởng sa đoạ,
thì khổ não sẽ đi theo người đó như
bánh xe lăn theo con bò kéo xe.
Cái ý phát khởi trước rồi mới có hành động,
Cái ý dẫn dắt mọi hành động, chính ý
tưởng làm phát sinh hành động.
Nếu ai đó nói ra hay hành động với ý
tưởng thanh thoát,
thì hạnh phúc chắc chắn sẽ đi theo
người đó như bóng không rời hình.
(kinh Pháp Cú, câu 1 và 2)
Theo
đạo Phật thì cái ý của chúng ta là kẻ
tạo tác cũng là nguồn cội làm phát sinh ra những niềm vui và nỗi buồn của
chúng ta. Ðiều này có ý nghĩa rất thâm sâu: Vì chính mỗi người chúng ta
điều khiển cái ý hướng riêng của bản
thân mình cho nên chung cuộc chúng ta phải chịu tránh nhiệm
đối với những vui buồn do cái ý của chúng ta
đem lại. Không có cơ sở nào để đổ lỗi
cho người khác về những khốn khổ mà chúng ta gặp phải khi chính ý
lực hay ý hướng của chúng ta là nguồn gốc của những khốn khổ
đó. Tương tự như vậy muốn có được hạnh phúc,
chúng ta không cần phải cầu vái, phỉnh nịnh một ai ở bên ngoài cả
mà chúng ta phải tạo nên nguồn cội của hạnh phúc bên trong bản thân mình
bằng cách phát huy những ý tưởng lành mạnh.
Chữ "ý" trong
đạo Phật bao hàm nhiều lãnh vực hoạt
động tâm lý khác nhau gồm ý tưởng và
cảm nhận, nhận thức và cả tình cảm của chúng ta nữa. Như vậy cái ý bao hàm
không phải chỉ là cái suy nghĩ, chí hướng hay chỉ thuộc chức năng
của não bộ như người ta vẫn thường nghĩ. Cái ý không hình không
dạng và không phải do vật chất tạo thành nên người ta không thể
đo đếm được nó.
Cái ý là cái cảm nhận hạnh phúc
và đau khổ; cái suy nghĩ, cái thấy, cái nghe,
ngửi, nếm và xúc chạm. Cái ý cũng là cái trong sáng và tỉnh thức vì
nó phản ánh những đối tượng của nhận thức
đồng thời lại vướng mắc với những đối tượng đó. Mặc dù chúng ta có
thể nói "cái ý của chúng ta" nhưng nó không có nghĩa là một cái ý
tổng thể chung nhất mà chỉ có nghĩa là cái ý cá nhân của mỗi một người
trong chúng ta. "Dòng ý thức" là từ ngữ dùng
để chỉ cho sự có mặt liên tục của ý
thức từ phút giây này sang phút giây kế tiếp.
Cái ý tạo tác ra những vui buồn
của chúng ta theo hai nguyên lý: (1) Cái ý làm
động cơ cho hành
động hay còn gọi là nghiệp. Những hành
động mà chúng ta thực hiện sẽ tạo ra
dấu ấn trong dòng tâm thức của chúng ta. Khi những dấu ấn nghiệp thức này
chín muồi thì chúng sẽ tác động lên
những hoàn cảnh mà chúng ta gặp phải. (2) Cái ý của chúng ta sẽ lý giải và
phân tích mọi sự, mọi chuyện mà chúng ta đối
diện và như vậy cái ý điều tiết nhận
thức của chúng ta. Qua cơ chế đó, cái ý của chúng ta là kẻ quyết
định ta sẽ tiếp nhận những sự kiện của cuộc
đời ta theo cách như thế nào. Ở đây
chúng ta sẽ xem xét sâu xa hơn hai nguyên lý này.
Cái ý là kẻ tạo tác ra nghiệp
Trong bài kinh Gieo Mạ, Ðức
Phật cho chúng ta biết làm thế nào mà cuộc sống lại là kết quả của những
hành động mà chúng ta thực hiện, và
làm thế nào mà những hành động này lại
có gốc gác từ cái ý của chúng ta. Vô minh chính là nguồn gốc. Vô minh tạo
ra những trạng thái nhiễu loạn khác như sân hận và chấp thủ. Bị thúc
đẩy bởi những trạng thái nhiễu loạn nên
chúng ta hành động. Những hành
động có ý thức hay còn gọi là nghiệp
đã để lại
dấu ấn trong dòng chảy tâm ý của chúng ta. Những dấu ấn nghiệp thức
giống như là một lực lượng tồn đọng (trong
tâm ý) khi chúng ta hoàn thành xong một hành
động. Một cách âm thầm, lực lượng này
đã chảy theo dòng chảy tâm thức của
chúng ta. Khi thời cơ chín muồi thì những lực lượng nghiệp thức tiềm ẩn
này trỗi dậy tạo nên những vui buồn của chúng ta.
Tiến trình này rất phức tạp và
thường phải mất nhiều thời gian quán chiếu, chiêm nghiệm chúng ta mới có
thể hiểu thấu đáo. Dưới đây chỉ là một
cách diễn đạt ngắn gọn với những khái niệm
tổng quát mà thôi.
Theo cái nhìn của Phật giáo,
tâm ý hiện tại của chúng ta đang bị vô minh
che mờ: Chúng ta không biết được chúng ta là ai theo ý nghĩa thâm
sâu nhất; chúng ta cũng không biết con người và vạn vật
đang tồn tại như thế nào. Không ý thức
được bản chất tối hậu ra sao nên chúng
ta cứ tưởng rằng chúng ta là vững mạnh, có thực chất và có thể nắm bắt. Ảo
tưởng về cái ngã càng trở nên rõ ràng khi chúng ta ở trong một trạng thái
khích động. Thí dụ, khi chúng ta tức giận thì
chúng ta có cảm giác rằng có một cái tôi mà cái tôi này
đang bực dọc một cách chính đáng. Nhưng nếu
chúng ta tự hỏi mình: "Ai đang giận
dữ đó?" Thì lập tức chúng ta khó có thể chỉ ra một cách chính
xác một cái "tôi" dường như là độc lập đó.
Thật ra cái tự ngã hay cái "tôi" là có chớ không phải không nhưng
nó tồn tại không giống như cách mà chúng ta nghĩ
đâu.
Chúng ta tìm cách
để bảo vệ và làm thỏa mãn cái ngã
độc lập này; những ý niệm sai lầm
đã khiến cho chúng ta làm như vậy. Thế
nên chúng ta bị vướng mắc vào sự vật làm cho chúng ta vui thích, ngược lại
chúng ta bực tức những sự vật hay người nào can thiệp vào hạnh phúc của
chúng ta. Từ quan điểm vô minh này
phát sinh ra tánh ganh tỵ, lòng kiêu ngạo, tâm hẹp hòi, cố chấp, lười trễ
và hàng loạt những tính xấu khác của con người. Những trạng thái nhiễu
loạn này cản trở những phẩm tính tốt đẹp của
chúng ta và làm cho chúng ta không thể trở nên mẫu người như chúng
ta muốn.
Bị thúc bách bởi những trạng
thái nhiễu loạn này nên chúng ta tạo nghiệp. Nghiệp có nghĩa là những hành
động có ý đồ được thực hiện qua thân, khẩu và
ý; tức là những điều mà chúng ta nghĩ,
nói và làm. Ba loại hành động này phát
sinh từ cái ý của chúng ta. Trước tiên một
động lực phát khởi trong tâm ý rồi chúng ta mới thể hiện động lực đó ra thành
hành động bên ngoài. Có những khi
chúng ta không ý thức được những động lực nằm
bên trong nên chúng ta cảm thấy ngạc nhiên với những hành
động mà chúng ta làm hay những lời mà
chúng ta nói. Nhưng nếu chúng ta có tỉnh giác thì chúng ta sẽ thấy
được rằng tất cả những hành
động của chúng ta đều được khởi phát bởi
những động lực nằm sẵn trong tâm ý rồi.
Thí dụ trước khi chúng ta chỉ
trích một người nào đó thì ý tưởng này
khởi lên, "Người này đang làm cho
ta không vui. Ta phải ngăn chặn người này
lại." Rồi chúng ta to tiếng với người ấy, kể lể cho người khác thấy
những khuyết điểm của người đó. Ðức
Phật dạy rằng hành động như vậy sẽ tạo nên
những dấu ấn nghiệp trong dòng tâm thức của chúng ta; về sau, khi chúng ta
gặp những hoàn cảnh bên ngoài đồng tình
thuận hạp thì dấu ấn nghiệp thức sẽ có điều
kiện để trở nên chín muồi và quyết
định trạng thái vui buồn của chúng ta.
Cũng như một hạt giống nhỏ bé
có thể phát triển để trở thành một cây
to có nhiều trái, một hành động duy nhất có
thể tạo ra nhiều kết quả khác nhau: những người khác sẽ chỉ trích chúng
ta, những người xung quanh không thân thiện với chúng ta, chúng ta sẽ có
thói quen chỉ trích người khác và khi mệnh chung chúng ta sẽ sinh
vào cảnh giới kém may mắn.
Cũng vậy, khi chúng ta có những
động cơ tốt, không có tính chất vị kỷ đồng
thời quan tâm tới sự lợi lạc của người khác thì chúng ta sẽ thể
hiện ra bằng những hành động lợi lạc.
Ðiều này tạo nên những dấu ấn tốt trong tâm thức của chúng ta; những dấu
ấn tốt này sẽ tạo nên nhiều kết quả: những người khác sẽ mến chúng ta, nơi
chúng ta cư trú rất đáng ưa thích, chúng ta
sẽ có những phẩm tính tốt đẹp và khi mệnh chung chúng ta sẽ sinh
vào những cảnh giới may mắn.
Như thế, trong những thời gian
khác nhau, chúng ta có những trạng thái và tình cảm nhiễu loạn khác nhau
như tức giận, cố chấp và hẹp lượng, đồng thời
chúng ta cũng có trạng thái và tình cảm tốt
đẹp khác nhau như thương yêu, tự
trọng, trí tuệ và quan tâm tới người khác. Ðạo Phật là một con
đường tẩy trừ trạng thái nhiễu loạn và
phát triển trạng thái tốt đẹp với mục đích
mang lại hạnh phúc cho bản thân chúng ta và cho những người xung
quanh.
Nhận lấy tái sinh
Nhờ vào quán trí thâm sâu về
cách thức mà các pháp hiển hiện, Ðức Phật biết
được rằng những trạng thái nhiễu loạn và
nghiệp lực khiến cho chúng sinh phải bị tái sinh. Trong giây phút sắp từ
bỏ thân này những người phàm phu chúng ta theo bản năng
cảm thấy thèm khát, níu giữ xác thân. Rồi người phàm phu gần như
hoảng loạn khi từ bỏ xác thân và vĩnh biệt mọi sự vật thân thuộc quanh họ.
Cũng giống như khi người chết thấy rõ ràng rằng mình
đang từ từ rời bỏ thân xác này và
đang kết thúc sinh mạng thì người chết
bèn lập tức nắm chắc một thân thể khác.
Hai lực lượng - thèm khát và
níu giữ - hoạt động như những nhân tố tiền đề
hỗn hợp để làm cho những dấu ấn nghiệp thức
được chín muồi trong giây phút mệnh chung.
Khi mà những dấu ấn nghiệp thức này bắt
đầu chín muồi thì cái ý của người
đang chết lập tức bị lôi cuốn vào một
xác thân khác và kiếm cách tái sinh vào xác thân
đó. Trong trường hợp của loài người
thì sau khi trải qua giai đoạn trung ấm giữa
mạng sống này và mạng sống kế tiếp, tâm thức của chúng ta
đi vào một cái trứng
đã thụ tinh. Thế là theo ngày tháng
chúng ta phát triển các uẩn của một con người gồm thân thể và ý thức.
Trong
đời sống mới này, chúng ta nhận thức
những người và những sự vật nhờ vào các giác quan mới. Khi cảm nhận
được những niềm vui và nỗi buồn, chúng
ta lại phát sinh chấp thủ, sân hận hay bình thản. Những
động lực này thúc
đẩy chúng ta hành
động. Những hành
động của chúng ta lại tạo nên nhiều
dấu ấn mới nữa trong dòng chảy của tâm thức và
đến khi chúng ta phải vĩnh viễn từ bỏ xác
thân thì chúng ta lại một lần nữa bị thôi thúc tìm tái sinh trong
một thân xác khác.
Vòng tròn tái sinh như vậy
được gọi là luân hồi (samsara).
Luân hồi không phải là một cảnh giới: nó không phải là thế giới của chúng
ta. Ðúng hơn luân hồi, còn gọi là vòng tròn hiện hữu, tức là tình trạng mà
chúng ta nhận lấy hết cuộc sinh tồn này đến
cuộc sinh tồn khác dưới sự điều khiển của những lực lượng nhiễu loạn và
những hành động tạo nghiệp.
Như vậy những lực lượng của
chính chúng ta đã khiến cho chúng ta
sinh ra và trưởng thành như chúng ta đang
hiện diện ở đây. Tuy nhiên nghiệp không phải là một "khối
đông cứng," cũng không mang tính chất cố định
của định mệnh nên số phận của chúng ta không phải
đã được
sắp đặt trước đâu vào đó rồi. Tất cả
đều tùy thuộc vào hoàn cảnh mà chúng ta
đang sống và trạng thái tâm ý của
chúng ta. Chính hoàn cảnh sống và ý hướng hay ý chí của chúng ta sẽ quyết
định dấu ấn nghiệp lực nào chín muồi
và những dấu ấn nghiệp nào không chín muồi
được. Hơn nữa, chúng ta có khả năng kiểm soát được hành
động của mình và qua
đó định dạng cho tương lai.
Ðây là quy luật của nghiệp, là
sự vận hành của nguyên nhân và hậu quả trong dòng chảy tâm ý của chúng ta.
Chúng ta cảm nhận niềm vui hay nỗi buồn là do những hành
động có tác ý mà chúng ta
đã làm trong quá khứ. Tâm ý của chúng
ta trước đây đã tạo tác ra những hành
động hay là những hạnh nghiệp. Như vậy
thì tâm ý của chúng ta là kẻ tạo tác chủ chốt
đã tạo ra những cảm nhận vui buồn mà chúng ta
đang nhận lãnh.
Phải chăng
có một khởi thủy?
Một số người tự hỏi: "Tiến
trình này bắt đầu như thế nào? Phải chăng
có một điểm khởi đầu cho cái vũ trụ này và vạn loại sinh linh trong
đó?"
Quá trình tiến hóa về phương
diện vật lý của vũ trụ này là một đối tượng
nghiên cứu của khoa học. Khoa học đã
xem xét tính chất liên tục về phương diện vật chất của vũ trụ này. Khoa
học đã nghiên cứu xem làm thế nào mà
nhân và quả vận hành để tạo ra vô vàn
những sự vật muôn màu muôn vẻ trong vũ trụ của chúng ta.
Phải chăng
vật chất trong vũ trụ có một nguyên nhân tức là một thời
điểm khi đó chưa có một dạng vật chất nào
cả, chưa có một dạng năng lượng nào
cả? Khó mà chứng minh được rằng có một thời
gian lúc đó vật chất chưa có, và năng
lượng cũng chưa có. Giả sử có một thời gian như vậy thì vật chất từ
đâu phát sinh? Không có gì làm nguyên
nhân thì làm sao tạo tác ra sự vật được?
Người ta có thể khẳng định rằng vũ trụ hiện nay mà chúng ta thấy là
dạng biến hóa của một năng lượng vật chất đã
có sẵn từ trước.
Tâm ý của chúng ta không phải
được làm bằng vật chất và do vậy
nguyên nhân của nó cũng không phải là vật chất. Tương tự như vấn
đề khởi nguyên của vật chất, tâm ý của
chúng ta phát sinh từ một tâm ý có trước trong dòng chảy của tâm ý. Chúng
ta có thể tìm lại tâm ý của chúng ta lui lại từng bước một trở về trước
cho đến hồi chúng ta còn thơ ấu. Tâm ý
của chúng ta đã thay
đổi từ hồi đó, và tâm ý hiện nay của
chúng ta được tạo tác bởi và có liên
quan với tâm ý trước đây của chúng ta.
Như vậy chúng ta có thể
đi ngược dòng thời gian tìm lại lúc
dòng tâm ý của chúng ta xuất hiện, đó là
lúc thọ thai. Cái tâm thức đi vào một
cái trứng đã thụ tinh trong tử cung
cũng phải từ một nhân trước đó. Theo Phật
giáo thì phải có một tâm ý trước đó,
tức là tâm ý của một đời sống trong
kiếp trước. Cứ như vậy mà truy ngược về quá khứ vô cùng tận. Không
có một điểm đầu tiên. Một dãy số
đại số cũng không có số nào có thể gọi
là số đứng đầu, vì người ta có thể
thêm vào một con số nữa. Cũng vậy dòng chảy của tâm ý của chúng ta không
có điểm khởi đầu.
Những trạng thái nhiễu loạn của
chúng ta, trong đó có vô minh, cũng phát sinh
từ những nguyên nhân tức là những trạng thái nhiễu loạn có trước.
Dòng chảy của những trạng thái nhiễu loạn này có mặt từ vô cùng vô tận về
quá khứ. Nếu có một cái mốc thời gian đầu tiên
của những trạng thái nhiễu loạn thì chúng ta lại phải nêu ra cái gì là
nguyên nhân của trạng thái nhiễu loạn đầu tiên
đó. Nếu thoạt kỳ thủy chúng ta thanh tịnh và
sau đó chúng ta trở nên vô minh thì vô
minh từ đâu mà phát sinh? Không thể có
những chúng sinh thanh tịnh nhận thức được
thực tại là gì rồi lại trở nên vô minh. Nếu một người trong hiện
tại đang trở nên vô minh thì chắc chắn
trước đó trong quá khứ người ấy đã
không phải là hoàn toàn thanh tịnh.
Không có ai làm chúng ta vô
minh. Không ai có thể đổ những gáo nước đen
vô minh vào trong dòng chảy của tâm thức chúng ta.
Theo quan
điểm của Phật giáo thì chẳng có ích
lợi gì trong việc tìm kiếm khởi thủy của đời
sống và điểm bắt đầu của những trạng
thái nhiễu loạn của chúng ta. Ðức Phật rất là thực tế, luôn nhấn
mạnh việc xử lý tình trạng trước mắt và cố gắng cứu vãn nó. Bị lạc hướng
vào trong những ức đoán phiếm luận vô bổ
khiến cho chúng ta không tận tâm lo cho những việc hiện tại hầu cải thiện
chúng.
Thí dụ một người bị xe tải tông
đổ máu nằm giữa đường. Ông ta cứ nằng nặc đòi
biết ai là người lái chiếc xe tải đó, hãng
nào đã sản xuất ra chiếc xe "chết
tiệt" như vậy, xe đó đời nào, rồi mới
chịu băng bó và chữa trị. Trong khi
bận rộn và mất thời giờ trong quá trình tìm hiểu về chiếc xe tải
đã gây tai nạn cho mình thì người ấy
chết. Chúng ta cho rằng người ấy là một kẻ ngu. Biết
được nguồn gốc của chiếc xe tải thì
vết thương trên người không bớt đi chút nào,
máu cũng không ngưng chảy chút nào, vi trùng cũng không ngừng xâm nhập cơ
thể qua vết thương. Biết được ai là
người tài xế đã lái chiếc xe tải gây
tai nạn thì cũng không thay đổi được gì
trong việc người ấy phải đối diện với tử
thần. Người khôn ngoan hơn sẽ xử lý tình huống trước mắt, tìm cách
cứu cấp để vượt qua cơn hiểm nghèo.
Cũng vậy, thay vì mất thời giờ
vô ích trong việc bàn luận, đoán già
đoán non về một khởi điểm không hề có, tốt
hơn hết chúng ta nên xem xét những cái khó khổ trong hiện tại, tìm
ra nguyên nhân của chúng - những trạng thái nhiễu loạn - và khắc phục
chúng. Ðức Phật không bàn về nguyên nhân của vũ trụ, vì bàn về việc
đó không giúp cho chúng ta giải quyết được
những vấn đề mà chúng ta đang gặp phải
và làm cho cuộc sống tốt hơn. Thay vào việc
đó Ðức Phật
đã tìm cách giải thích cách thức mà
tâm ý của chúng ta tạo nên những cảm nhận vui buồn thông qua việc thúc
đẩy chúng ta hành
động tạo nghiệp. Hiểu biết được việc này
giúp cho chúng ta có thể chế ngự và làm cho thanh tịnh quá trình này.
Ý là kẻ lý giải về hoàn cảnh
của chúng ta
Phương cách thứ hai tâm ý tạo
nên những cảm nhận vui buồn của chúng ta là nó lý giải những sự kiện mà
chúng ta gặp phải. Chính cách lý giải của chúng ta về một sự kiện nào
đó sẽ quyết định chúng ta sẽ tiếp nhận sự
kiện đó như thế nào. Mặc dù thường thường chúng ta
đều cho rằng chúng ta đã thấy rõ ràng
chính xác là như vậy nhưng những cảm nhận của chúng ta thực sự
đã bị lược qua màn lý giải của tâm ý
và đã bị nhuốm màu theo cách phóng ảnh
của tâm ý chúng ta.
Thí dụ khi hai người gặp ông
Trần, một người thích ông và người kia thì không thích. Người này nhận xét
ông Trần là có ý tứ, thông minh và có óc hài hước. Người kia thì cho rằng
ông Trần là một người hay cợt nhả người khác, có
đầu óc cạnh tranh và không màng
đến cảm xúc của người khác. Cả hai đều nghĩ
rằng họ đã thấy đúng về ông Trần là
như vậy. Nếu thấy đúng, thì cả hai
phải thấy ông Trần như nhau. Rõ ràng là họ nghĩ về ông Trần với những quan
điểm khác nhau.
Cả hai người
đều nghe những lời của ông Trần nói nhưng mỗi
người lại lý giải nội dung lời nói một cách khác đi. Tâm ý của mỗi người
phóng nhanh qua một quá trình từ nhận thức (âm thanh hay biểu hiện
mà mỗi người nhận được qua các giác quan) đến
kết luận (ý nghĩa của những dữ liệu đã
được xử lý).
Như vậy, một người cảm nhận
rằng những cách đùa của ông Trần là
hóm hỉnh và có ý tốt nên nghĩ: "Ông Trần là một người tốt. Tôi thích
thân cận với ông ta". Về sau lúc nào anh này cũng xem ông Trần là bạn
và tin rằng sẽ vui vẻ với nhau. Chị kia thì lý giải cách khác cho rằng lời
nói đùa của ông Trần là biếm nhẻ nên
nghĩ: "Ông Trần là kẻ tự thị, tôi không thích ông ta." Về sau lúc
nào chị kia cũng xem ông Trần là kẻ không
đáng ưa và có tâm trạng khinh ghét.
Cả hai
đều tưởng rằng điều họ nghĩ về ông Trần là
đúng. Nhưng thật ra nhận thức của hai người
về về ông ấy đều đã được tiến hành
thông qua bức màn của tâm ý hay của những quan niệm có trước. Những phẩm
chất tốt hay xấu, đáng mến hay đáng ghét của
ông Trần đều được tạo nên bởi những phóng ảnh của ông Trần hiện ra
trong tâm ý của người gặp ông. Tự thân ông Trần không có và không thuộc về
những phẩm tính đó.
Cách mà chúng ta lý giải về một
tình cảnh sẽ quyết định cảm nhận của chúng ta
về tình cảnh đó. Chúng ta có thể nhìn
người mẹ của chúng ta và nghĩ rằng: "Mẹ lúc nào cũng bảo chúng ta việc
này việc kia. Mẹ có nhiều yêu cầu quá." Sau
đó, mỗi lần gặp bà chúng ta không cảm
thấy thoải mái.
Ngược lại, chúng ta có thể suy
nghĩ: "Mẹ đã sanh thân chúng ta ra.
Mẹ đã săn
sóc cho chúng ta suốt thời còn trong nôi, lúc mà chúng ta hoàn toàn
không có thể tự mình làm được gì cả
ngay cả việc ăn uống của bản thân. Mẹ đã
dạy cho chúng ta những điều hay lẽ phải."
Như vậy người mẹ là hiện thân của một trái tim thương yêu. Mỗi lần gặp là
mẹ luôn tỏa rạng tình thương và chúng ta cảm thấy thương mẹ.
Vì chúng ta lý giải một số hành
vi của những người khác là tổn hại nên chúng ta dán nhãn "kẻ
đối nghịch" cho họ. Từ đó về sau trong đôi
mắt của chúng ta họ là những kẻ đối
nghịch. Cũng vậy, vì chúng ta dán nhãn "tử tế" cho một số hành vi
của người khác và xem họ là những người bạn nên từ
đó về sau trong đôi mắt của chúng ta những
người đó là bằng hữu. Bằng hữu hay kẻ
đối nghịch thật sự phát xuất từ tâm ý của chúng ta. Chính chúng ta tạo ra.
Sau khi tạo ra bằng hữu và kẻ đối
nghịch bằng sức mạnh của tâm ý, chúng ta luyến ái bạn và cố gắng
làm hại kẻ đối nghịch. Thật ra chúng ta đã
luyến ái và thù ghét những cái mà chính tâm ý chúng ta
đã tạo ra.
Chúng ta lý giải về hoàn cảnh
và những con người liên quan đến chúng ta như
thế nào là tùy vào mức độ thanh tịnh
của tâm ý chúng ta. Giống như một sự vật phản chiếu trên một tấm
gương dơ bẩn thì bức ảnh đó u ám và
không khả ái, cũng như vậy khi bị phóng ảnh qua một tâm ý ô nhiễm với
những trạng thái nhiễu loạn và những dấu ấn nghiệp lực
đen tối thì hình ảnh của một sự vật
cũng u ám và không khả ái. Nhưng nếu như sự vật
đó được phản chiếu qua một tấm gương không tì
vết thì hình ảnh thu nhận sẽ trong sạch và xinh
đẹp. Giống như vậy, qua cảm nhận của một tâm
ý thanh tịnh thì bất cứ sự vật gì cũng dễ thương cả.
Một số người mắc bệnh tâm lý
nên cứ ngỡ rằng những người xung quanh đang
rắp tâm hại họ. Bị khủng hoảng vì sợ hãi, họ còn thấy có những hình
ma bóng quế mà thật ra không có gì cả. Mặc dầu họ cứ tin tưởng rằng những
gì họ thấy là đúng nhưng chúng ta không thấy
như vậy. Do những hành động khác nhau
trong quá khứ và chức năng hoạt động
của trạng thái tâm lý nhiễu loạn hiện tại mà có sự khác nhau như
thế.
Ðối với một người
đã tiến xa trên con
đường giác ngộ thì thế gian này là
thanh tịnh. Ðối với một người mà tâm hồn chứa
đầy sự sân hận thì thế gian tồi tệ này là cảnh
địa ngục. Thế gian này tự nó không
phải là đầy niềm vui hay đầy nỗi khổ và
cảm nhận của chúng ta về nó tùy thuộc vào hành vi mà chúng ta
đã làm trong quá khứ và tùy thuộc vào
cách mà chúng ta cảm nhận nó trong hiện tại. Cảnh
địa ngục và cảnh thanh tịnh là do tâm
thức của chúng ta tạo tác. Tâm thức của chúng ta là
đầu nguồn, là kẻ tạo dựng ra những cảm
nhận của chúng ta.
Biết như vậy chúng ta luôn nhận
thức rằng phương pháp duy nhất để đạt được
một trạng thái hạnh phúc hoàn hảo và lâu bền là làm cho tâm ý của
chúng ta thanh tịnh, tức là không còn những trạng thái tâm lý nhiễu loạn,
những dấu ấn và những nhơ uế do nghiệp cũ của chúng ta
để lại. Chúng ta phải có trách nhiệm thực
hiện việc này và chúng ta có thể thực hiện
được. Một đoạn thi ca Phật giáo hiện đại dựa
trên kinh Pháp Cú đã viết như
sau:
Do chúng ta làm nên điều quấy,
Do chúng ta làm nên nỗi đau.
Do chúng ta dừng tay tội lỗi
Do chúng ta thanh tịnh nhiệm mầu
Không người nào cứu rỗi được ta
Không ai có thể, không ai đâu.
Ðức Phật chỉ chỉ đường dẫn lối
Còn chúng ta phải bước chân mau.
Chư Phật chỉ cho chúng ta con
đường cần phải đi. Chư Phật biết con đường vì
chính các ngài đã
đi qua con đường đó. Những vị hiện giờ là
chư Phật trước kia cũng đã từng bị rối
ren mù mờ và khó khăn như chúng ta. Tuy nhiên,
nhờ đi theo con đường này mà chư vị
đã làm thanh tịnh
được tâm ý và phát triển
đến chỗ viên mãn những phẩm chất cao
thượng nhất của con người và trở thành những vị Chánh Ðẳng Giác. Chúng ta
cũng có thể làm y như vậy.
Chư Phật hướng dẫn chúng ta,
chúng ta phải làm theo sự hướng dẫn đó. Thầy
giáo có thể dạy chúng ta nhưng thầy giáo không thể học dùm cho
chúng ta; cũng vậy, chư Phật có thể hướng dẫn chúng ta phương cách thực
hành nhưng chính chúng ta phải là người thực hành. Một bài kinh nói rằng:
Ðể rửa trôi đi những nặng nề ác trược
Chư Phật đâu thể "sái tịnh" bằng giọt nước;
Ðể tẩy trừ niềm đau và nỗi khổ
Chư Phật đâu thể dùng bàn tay ấn quyết;
Chư Phật cũng đâu thể nào "chuyển khoản"
Sự giác ngộ sang "tài khoản" của chúng sinh.
Ðể độ thoát vạn loại hàm linh.
Chư Phật chỉ truyền dạy con đường như thật.
Trong khi
đạo Phật nhấn mạnh trách nhiệm mà mỗi
cá nhân phải tự làm, điều đó không có nghĩa là
chúng ta đơn thân độc hành trên con
đường đạo. Chúng ta có thể nương tựa vào
sự hướng dẫn và phấn khởi với Ngôi Tam Bảo: chư Phật, Giáo Pháp và Tăng-già.
Chư Phật là những vị
đã thanh lọc hoàn toàn tất cả sân hận,
tham nhiễm, u mê và vị kỷ ra khỏi tâm thức; đã
phát triển viên mãn tất cả những phẩm tính tốt
đẹp như tâm từ bình
đẳng, lòng bi thương xót và trí tuệ
soi sáng.
Giáo pháp hay giáo lý là những
miêu tả về thực tại như thật cùng với những trạng thái và trường hợp chấm
dứt tình trạng rối khổ do vô minh gây nên. Theo nghĩa phổ thông thì giáo
pháp là những lời dạy của Ðức Phật dẫn dắt chúng ta nhận chân ra thực tại
như thật.
Tăng-già
là nói đến những vị đã nhận ra
được thực tại vô ngã, cái thực tại mà
trong đó không có một cái ngã tự nó
tồn tại một cách độc lập. Những vị đã
tiến xa trên con đường giải thoát và
giác ngộ này có thể là tăng ni mà cũng
có thể là cư sĩ tại gia. Nhưng theo nghĩa phổ thông thì tăng-già
là đoàn thể của các vị tăng
ni, những người đã dành hết cuộc đời
của mình cho việc tu tập bản thân và làm lợi lạc cho người khác.
Trong những chương kế tiếp,
chúng ta sẽ học hỏi sâu xa hơn về vấn đề làm
thế nào mà tâm ý tạo tác nên những cảm nhận của chúng ta. Chúng ta cũng sẽ
biết được cách để điều phục tâm viên ý
mã rất khó điều phục của mình
để có thể tạo được nền tảng của hạnh phúc, làm
cho cuộc sống thêm ý nghĩa và có được những
mối liên hệ hòa hợp tốt đẹp với tha
nhân.
VIII. BỐN SỰ THẬT
CAO THƯỢNG
^
Ðối mặt với những tình cảnh khó
khăn một cách sáng tạo
Bốn sự thật cao thượng là hình
thức nhờ đó mà cốt lõi của giáo pháp
được miêu tả. Hai sự thật
đầu miêu tả chính xác tình cảnh hiện
tại của chúng ta; hai sự thật sau đó trình
bày một phương cách thực tiễn để cải thiện tình
cảnh đó. Ðối với bốn sự thật cao
thượng, không nhất thiết là chúng ta phải có một niềm tin mang tính chất
huyền bí để có thể chấp nhận chúng, mà
qua kinh nghiệm của tự thân mỗi người, chúng ta cũng có thể phán
định và nhận chân
được giá trị thật sự của những sự thật đó.
Bốn sự thật có ý nghĩa cao
thượng bởi vì đây là những sự
thật mà những vị cao khiết và thượng trí dựa vào thực chứng
của bản thân về thực tại trình bày ra. Ðồng thời, nhờ vào trí hiểu biết
bốn sự thật, chúng ta sẽ trở nên cao khiết và thượng trí.
Chúng là những sự thật vì chúng là những điều
có thật và chính xác là như vậy. Những thực tế này không hề lừa dối
chúng ta hay đưa chúng ta rời xa hạnh phúc.
Bốn sự thật cao thượng là:
1. Nỗi khổ đang có mặt.
2. Nỗi khổ có những nguyên nhân.
3. Nỗi khổ có thể được loại trừ.
4. Có con đường chơn chánh đưa đến sự chấm dứt những nỗi khổ.
Những việc chúng ta cần phải
thực hiện là:
1. Chúng ta cần phải nhận diện đau khổ đang có mặt;
2. Chúng ta cần phải tìm ra nguyên nhân của chúng;
3. Chúng ta cần phải loại trừ đau khổ;
4. Chúng ta cần phải nương tựa vào con đường chơn chánh để chấm dứt đau
khổ.
Sự thật thứ nhất: Nỗi khổ
đang có mặt
Tiếng Pali hay Sanskrit "dukkha"
thường được người ta dịch là khổ
đau. Tuy nhiên, chữ "khổ
đau" gây ra hiểu lầm vì nó chỉ cho sự
khốn khổ và đau đớn. Do hiểu lầm, có người sẽ
nói rằng: "Cuộc sống của tôi bình thường, tôi không có chuyện gì
khốn khổ và đau đớn cả. Tại sao Phật giáo cứ
nằng nặc bảo rằng cuộc sống là khốn khổ và
đau đớn, trong thực tế thì tôi có
nhiều hạnh phúc? Phật giáo dường như là bi quan quá
đỗi!"
Cần nên hiểu rằng khi
đức Phật bảo cuộc sống của chúng ta là
dukkha, thì ý Ngài muốn nói đến mọi
trạng thái không thỏa mãn của chúng ta với một phạm vi rất rộng: từ
những bực dọc nho nhỏ đến những vấn đề khó
khăn trong đời sống; từ những nỗi đau khổ nát lòng chí
đến những tang thương của kiếp sống con
người. Do vậy xuyên suốt quyển sách này tất cả những từ ngữ nằm
trong phạm vi nêu trên đều được dùng
để chỉ cho dukkha với ý nghĩa:
những sự việc xảy ra trong đời sống của chúng
ta không bao giờ hoàn hảo và chúng ta có thể cải hóa chúng
được.
Có lẽ chúng ta không thích suy
nghĩ về những điều buồn phiền trong đời sống
nhưng thật ra chúng ta cần phải suy nghĩ về chúng để tìm phương trị
liệu. Thí dụ có một phụ nữ bị bệnh nhưng lại chối bỏ không chịu thừa nhận
bệnh tật của mình; hệ quả là cô ta sẽ không tìm kiếm phương thuốc trị bệnh
và tất nhiên sẽ không bao giờ khỏi bệnh. Tương tự như vậy nếu chúng ta cố
tình nghĩ rằng mọi việc trong đời sống của
chúng ta đều tốt đẹp cả thì chúng ta sẽ không có cái nhìn sâu thẳm
để tìm ra
được những bất an của cuộc sống và nỗi sợ hãi trong bản thân của
chúng ta. Hệ quả là chúng ta sẽ không thể nào
đoạn trừ được chúng và đạt được một
trạng thái hạnh phúc lâu bền.
Nếu xem xét kỹ lưỡng tình trạng
của chúng ta và nhìn nhận đúng sự thật thì
chúng ta có thể biến cải nó. Hơn nữa, thành thật với chính mình khiến cho
ta cảm thấy nhẹ nhỏm và có hy vọng vì chúng ta biết rằng những chuyện khó
khổ của chúng ta không phải là không vượt qua
được.
Ðức Phật miêu tả 3 dạng khó
chịu hay khổ sở mà chúng ta phải bị là:
1. Ðau đớn mà khổ.
2. Biến chuyển mà khổ.
3. Trùng trùng duyên hợp mà khổ.
Ðau
đớn mà khổ có nghĩa là khi chúng ta bị
cảm giác đau đớn thể xác hay khổ sở về tinh
thần. Ðau đớn thể xác bao gồm nhức
đầu, đau lưng, đau thắt tim hay nhức nhối do ung thư... Khổ sở tinh thần là
khi không đạt được điều mà chúng ta
muốn, khi mất sự vật mà chúng ta ưa thích hoặc khi chúng ta gặp những bất
hạnh trên đường đời. Chúng ta buồn khi sự
nghiệp không thành đạt; chúng ta suy
sụp tinh thần khi phải từ biệt hay vĩnh biệt những người thân yêu;
chúng ta cảm thấy lo âu khi tài sản hay sự nghiệp của chúng ta
đang trên
đà tuột dốc.
Con người sống trên
đời này
đều có những nỗi khổ về thể xác và tinh thần. Khoa học kỹ thuật
phát triển có thể giải quyết nhiều nỗi khổ về mặt thể xác nhưng
đồng thời cũng đã tạo ra những nỗi khổ
mới như nạn ô nhiễm môi trường và nguy cơ dẫn
đến những cuộc chiến tranh nguyên tử. Chúng ta có thể có một
đời sống vật chất với tiêu chuẩn hiện
đại hơn bao giờ hết đồng thời chúng ta cũng
phải đối mặt với những tệ nạn, tội ác, ma túy, tự tử và Tỷ lệ ly dị
càng ngày càng gia tăng với mức độ cao không
kém. Chỉ có khoa học kỹ thuật mà thôi thì không giải quyết hết
những vấn đề của chúng ta.
Biến chuyển mà khổ có nghĩa là
những sự việc mà chúng ta thường xem là hạnh phúc không bao giờ giữ y
nguyên trạng như thế mãi, chắc chắn chúng phải biến chuyển theo cách này
hay cách khác và trở thành nỗi khổ. Lấy chuyện
ăn uống làm thí dụ. Chúng ta cứ nghĩ
là ăn thức ăn ngon tức là nguồn sung
sướng. Nếu điều này là
đúng thì càng
ăn càng có sung sướng. Rõ ràng là
không phải như vậy. Lúc mới bắt đầu ăn uống
thì chúng ta thỏa mãn được sự đói khát
và có sung sướng nhưng ăn thêm,
ăn thêm nữa thì chúng ta bị chứng nặng
bụng. Như vậy việc ăn uống lúc nãy là
sung sướng nhưng bây giờ đã là khó
chịu bởi nặng bụng và chứng khó tiêu hoá.
Tương tự, chúng ta xem bạn bè
là nguồn vui. Tuy nhiên, nếu tự bản chất việc bạn bè
đến với ta là niềm vui thì càng có mặt
với bạn bè, ta càng hạnh phúc. Rất tiếc đó
không phải là bản chất cố định, nguyên
trạng và luôn luôn như vậy. Lúc mới đón tiếp
bạn bè chúng ta cảm thấy vui vẻ và nỗi cô
đơn tan biến. Nhưng nếu bạn cứ ở chơi với ta
quá lâu thì chúng ta cảm thấy mỏi mệt và muốn họ ra về.
Mặc dầu những con người và sự
vật ở chung quanh làm cho ta có hạnh phúc nhưng nếu quá nhiều người bao
vây thì ta lại cảm thấy không thoải mái. Hạnh phúc mà chúng ta có
được từ họ biến thành nỗi bất hạnh.
Những điều nêu ra ở trên giúp chúng ta
nhận ra rằng hạnh phúc không phải là bản chất sẵn có trong những con người
hay sự vật mà hạnh phúc chỉ là kết quả của sự tương tác có tính giai
đoạn trong mối quan hệ giữa ta với chúng.
Trùng trùng duyên hợp mà khổ có
nghĩa là thân và tâm của chúng ta đang có vô
số những mối liên hệ mật thiết với vô số những yếu tố khác nên
chúng ta cứ phải khổ. Chúng ta có cảm giác tồi tệ ngay khi môi trường xung
quanh thay đổi. Chỉ cần thời tiết thay đổi thì
thân thể chúng ta cảm thấy ê ẩm hay cảm lạnh; bạn bè thay
đổi cách xử sự làm cho chúng ta cảm
thấy bị hụt hẫng...
Nỗi khổ trên
đây được gọi là khổ trùng trùng vì
thân thể và tâm thức của chúng ta bị nỗi khổ mênh mông chờ chực. Chúng ta
không có một bí quyết nào để thoát khỏi hết.
Ðược gọi là khổ trùng trùng là vì những nỗi khổ áp bức tất cả những
ai không nhận thức được thực trạng của con
người và các sự vật đang tồn tại như
thế nào. Ngay cả những người dường như có
được tất cả những hạnh phúc mà cuộc
sống trần gian có thể mang lại cũng phải già nua và tử vong.
Thân thể và tâm thức hiện tại
của chúng ta cấu kết duyên hợp với khổ trong ý nghĩa: chúng làm cơ sở cho
những nỗi khổ mà chúng ta đang có. Thân thể mà
chúng ta đang có là cơ sở
để cho chúng ta có những cảm nhận tồi tệ về
sức khỏe. Nếu chúng ta không có một thân thể để nhận biết đau đớn và
nhức nhối thì chúng ta sẽ không bao giờ biết bệnh tật là gì dù có bao
nhiêu vi trùng và vi khuẩn trên trần gian này
đi nữa. Tương tự như thế, tâm thức mà chúng ta
đang có chính là cơ sở
để chúng ta cảm nhận những cảm giác đau buồn
và khổ não. Ngược lại, nếu chúng ta có một tâm thức mà sân hận
không nhiễm vào được thì chúng ta sẽ
không bao giờ phải chịu cảm giác tức giận khi
đối nghịch và xúc chạm với tha nhân.
Vì gắn liền với thân thể và tâm
thức nên chúng ta hành động theo chiều hướng
tạo nên nhiều đau khổ hơn và
đưa đến nhiều mê muội hơn trong tương
lai. Thí dụ, để cưng dưỡng thân thể này
có thể chúng ta đã lường gạt lấy của
người khác. Việc này không chỉ làm tổn hại người kia mà còn
để lại tỳ vết xấu xa trong tâm thức, khiến
cho chính chúng ta bị tước đoạt của cải trong tương lai.
Có nhiều người cảm thấy mất
tinh thần khi suy nghĩ về 3 loại khổ trên đây
vì dường như con người đang ở trong
một tình trạng tồi tệ quá đỗi. Có thể
họ nghĩ rằng Phật giáo bi quan quá mức vì
đề cập nhiều về đau khổ. Nhưng nếu chúng ta
hiểu được mục đích của Ðức Phật khi bàn về khổ thì chúng ta không
còn quan niệm sai lầm như trên mà lại có cảm giác hưng phấn.
Bàn luận về tình trạng
đau khổ mà chúng ta
đang có là
để tạo cơ sở cho chúng ta có ý chí cương
quyết giải thoát khỏi nó và đạt được
an vui lâu bền. Với chủ tâm cải tiến cuộc sống, chúng ta sẽ tìm
hiểu nguyên nhân của những nỗi khổ đau đồng
thời chọn lựa và áp dụng những phương pháp
để loại trừ chúng. Ðược như vậy thì
đời sống của chúng ta có ý nghĩa sâu xa và
có định hướng rõ ràng.
Sự thật thứ hai: Nỗi khổ có
những nguyên do
Như
đã được
giải thích trong chương trước tâm thức của chúng ta là cơ sở
để cảm nhận hạnh phúc và
đau khổ. Khi chúng ta có trí tuệ và từ
bi thì chúng ta có hạnh phúc; khi những nhiễu loạn tâm lý tạo nên vô minh
và khi chúng ta vô minh thì những nỗi khổ sẽ bao vây chúng ta. Như vậy
điều quan trọng là phân biệt tường tận
hai dạng tâm lý: dạng tâm lý xây dựng của trí tuệ và dạng tâm lý phá hoại
của vô minh để chúng ta có thể làm cho
phát triển dạng tâm lý xây dựng và chế tài dạng tâm lý phá hoại.
Nguyên nhân chính
đưa đến nỗi khổ của chúng ta là vô
minh. Vô minh là một yếu tố của tâm thức, một trạng thái làm u ám trí năng.
Nó làm cho chúng ta không biết thật sự chúng ta là gì và các sự vật
quanh chúng ta tồn tại theo cơ chế như thế nào. Vô minh không những che án
không cho chúng ta biết được sự vật tồn tại
theo cách nào mà nó còn vẽ vời khiến cho chúng ta chỉ thấy
được bộ diện bên ngoài giả dối của sự
vật mà thực chất là không phải như vậy.
Thí dụ những sự vật có tính vận
động như bút máy, bút bi hay thân thể của
chúng ta thì liên tục biến đổi từng
giờ, từng phút. Tuy nhiên dưới sự che án của vô minh chúng ta xem
chúng là không biến đổi và cố
định. Trường hợp khác, khi chúng ta gặp lại
một người bạn đã lâu không thấy nhau chúng ta liền giật mình ngạc
nhiên khi thấy rằng cô ta già đi thấy rõ.
Tương tự như thế chúng ta có cảm giác bất ngờ khi
đồ đạc bị hư bể. Vì sao? Vì trong tâm
thức, chúng ta vẫn đinh ninh rằng chúng bất
biến mặc dầu về phương diện tri thức chúng ta có thể hiểu rằng chúng luôn
biến đổi. Mặc dầu các nhà khoa học bảo rằng những hạt nguyên tử cấu
thành cái bàn thì di chuyển liên tục nhưng khi ngắm nghía cái bàn bóng
láng vừa ý, chúng ta cứ thấy nó là bất động và
chẳng có gì là biến chuyển cả. Vô minh đã
làm cho nhận thức của chúng ta không tương thích
được với thực tướng.
Một cấp
độ cao hơn của vô minh được Phật giáo định
danh là quan niệm sai lầm về sự tự hiện hữu. Sách vở
đã bàn luận nhiều về
đề tài này nhưng cần phải có thời gian
chúng ta mới đạt được một hiểu biết đúng đắn
về nó. Quan niệm sai lầm về sự tự hiện hữu chính là ngọn nguồn của
mọi thái độ nhiễu loạn và khổ não.
Liệu pháp để chữa trị quan niệm sai lầm này
là trí tuệ nhận biết được tánh không hay thực
tướng và vì vậy tánh không hay thực tướng
được xem là cốt lõi của giáo lý nhà
Phật.
Tự nó có sự hiện hữu có nghĩa
là con người hay sơn hà đại địa tự bản thân là
có mặt, có thuộc tính là sự hiện hữu; nói cách khác, nó có một thể tính
thiết yếu làm cho nó có mặt như vậy. Thí dụ, một cành hoa thì gồm có nhiều
phần như cuống hoa, cánh hoa, nhị hoa và lá noãn. Tuy nhiên
đối với chúng ta cành hoa là một vật
đơn nhất với một cái gì
đó làm cho tự nó là một cành hoa
đang hiện hữu.
Tương tự như vậy mỗi người gồm
có một thân thể và một tâm thức; dựa vào đó
đặt một tên gọi. Tuy nhiên, khi nhìn một người thì chúng ta thấy
người ấy là một người "thực", một người đơn
nhất tồn tại, không can gì đến thân
thể và tâm thức, hay tên gọi của người
đó. Dưới nhãn quan lệch lạc như thế các sự vật có dáng vẻ như tự nó
hiện hữu; và với vô minh che án, chúng ta mặc nhiên "thị thực" dáng vẻ
đó rồi định hình hay quan niệm rằng tự
nó tồn tại như vậy.
Vô minh, không hiểu biết về bản
chất tối hậu, cho rằng mọi vật đều độc lập và
tự nó hiện hữu, là nguồn gốc của những tâm thái nhiễu loạn. Ðiều này tác
động xấu đến đời sống bình nhật của
chúng ta khiến cho chúng ta thường xuyên khởi tâm luyến ái
đối với những gì có vẻ là hạnh phúc và
tức giận đối với những gì không làm
cho chúng ta vui vẻ. Dưới áp lực của luyến ái và tức giận, tâm thái hằng
ngày của chúng ta cứ trồi sụt lên xuống theo những lượn sóng vui buồn của
cuộc thế.
Tâm ái luyến khiến cho chúng ta
đánh giá quá cao những phẩm chất tốt đẹp của
người nào hay vật nào đó rồi đeo đuổi
theo nó. Tâm sân hận lại làm lộ rõ và làm nặng nề ti tiện thêm
những tính chất xấu xa của người nào hay vật nào
đó rồi sinh tâm muốn làm hại nó. Bị
nhiễu loạn bởi luyến ái và sân hận, hầu như người nào kể cả loài vật trong
suốt cuộc sống ở trần gian đều ra tay cứu
giúp bạn bè, thân thuộc, đoàn
thể mà mình có duyên gắn bó và tìm cách làm hại hay triệt hạ kẻ
đối nghịch. Ngoài ba
độc tố chính - vô minh, tham ái và sân
hận - còn có những độc tố khác tác động đến
cuộc sống của chúng ta như ganh tỵ, kiêu mạn, cộc cằn...
Trong cuộc sống bình nhật,
những tâm thái nhiễu loạn này tác động đến hành
vi của chúng ta. Thí dụ, tâm luyến ái đối với
những thành công mà cá nhân chúng ta đã
đạt được khiến cho chúng ta ganh đua nhiều
hơn là hợp lực với đồng nghiệp trong
công việc. Sân giận làm cho chúng ta nổi nóng và mắng nhiếc người
khác. Chỉ cần phản tỉnh tự tri đối với hành
động của bản thân thì chúng ta thấy
tâm luyến ái và sân hận đã khiến cho
chúng ta hành động ra sao; chỉ cần đọc nhật
báo hay xem truyền hình thì cũng đủ
thấy tâm luyến ái và sân hận đã
khiến cho người ta hành động như thế nào.
Những hành
động hay là nghiệp
đã để lại
những dấu ấn trong dòng chảy tâm thức của chúng ta. Như
đã giảng giải trước
đây, những dấu ấn đen thẩm này thôi
thúc chúng ta đi tái sinh và lại phải
chịu những đau khổ dù chúng ta tái
sinh ở đâu. Ngược lại, những hành
động trong sáng như thương mến, giúp đỡ cho
người khác sẽ mang lại hạnh phúc cho chúng ta trong tương lai nhưng nếu
chúng ta vẫn còn bị vô minh che án thì hạnh phúc ấy rất là giới
hạn, tức là chúng ta có được hạnh phúc trong
một thời gian nhất định nào đó rồi
thôi. Chúng ta chỉ hưởng được hạnh phúc lâu dài khi chúng ta
đã tẩy sạch tất cả vô minh. Tóm lại,
hai yếu tố: tâm thái nhiễu loạn và nghiệp là nguyên nhân tạo ra những rối
khổ triền miên trong suốt dòng sinh tử của chúng ta.
Sự thật thứ ba: Nỗi khổ có thể
được diệt trừ
Chúng ta có thể diệt trừ nghiệp
và những tâm thái nhiễu loạn. Bởi vì chúng không phải là bản chất cố hữu
của tâm thức chúng ta. Những quan niệm mê muội làm phát sinh ra những tâm
thái nhiễu loạn; một khi chúng ta chứng ngộ
được không tánh hay pháp tánh như thật thì những quan niệm mê muội
hay vô minh không còn che án chúng ta nữa. Cũng giống như trường hợp bật
đèn trong một phòng tối thì bóng tối
lập tức tan biến.
Nhờ vào trí tuệ chúng ta có thể
tẩy sạch vĩnh viễn vô minh và những tâm thái nhiễu loạn trong dòng chảy
tâm thức của chúng ta. Chúng ta sẽ không làm những việc khiến cho chúng ta
phải tái sinh. Hơn nữa, trí tuệ sẽ tẩy sạch mọi dấu vết nghiệp lực
đã và
đang hiện hữu trong dòng tâm thức của chúng ta khiến cho sức mạnh
của những dấu vết này không còn có thể phát huy tác dụng, tạo quả báo nữa.
Tịnh chỉ (thuộc Diệt
đế) có nghĩa là những tâm thái nhiễu
loạn đã bị tiêu diệt, không còn tồn
tại nữa. Khi chúng ta tu tập theo Chánh pháp và dần dần loại trừ những tâm
thái nhiễu loạn thì những sân hận thô, những sân hận vi tế cùng với tham
ái và vô minh sẽ lần lượt tịnh chỉ. Khi chúng ta
đoạn trừ tận gốc rễ tất cả những tâm thái
nhiễu loạn thì chúng ta sẽ đạt đến một
trạng thái thảnh thơi giải thoát và thanh lương mà thuật ngữ gọi là
Niết bàn. Khi đó đau khổ và nguyên
nhân của đau khổ đều không còn. Trong
kinh Pháp Cú Ðức Phật nói:
Tỷ-kheo tát thuyền này
Thuyền không nhẹ đi mau
Trừ tham diệt sân hận
Tất chứng đạt Niết bàn. (kinh Pháp Cú, câu 369)
Niết bàn là một trạng thái phúc
lạc. Ở trạng thái đó chúng ta không còn
phải tái sinh do tác động của nghiệp và
những tâm thái nhiễu loạn nữa. Sau khi mệnh chung những người
đã đạt
được giải thoát thanh lương sẽ nhất tâm thiền quán về tánh không của các
pháp và an trú trong bình an và hạnh phúc vĩnh hằng.
Người tìm cầu giải thoát khỏi
vòng sinh tử luân hồi được gọi là
Thanh Văn hay Ðộc Giác. Gọi là Thanh Văn
vì những người đó nghe học và
giảng dạy giáo pháp của Phật; gọi là Ðộc Giác vì trong thời không có Phật
tại thế những người đó chứng đạt được Niết bàn
đơn độc trong kiếp chót của mình.
Những vị Thanh Văn và những vị Ðộc
Giác đã chứng
đạt Niết bàn thì gọi là bậc A-la-hán
hay Sát Tặc vì họ đã tiêu diệt hết
giặc lòng, mà giặc lòng chính là những tâm thái nhiễu loạn.
Có người thích
đi theo con đường của Bồ Tát, hướng đến quả
vị của chư Phật nhằm đem lại lợi lạc cho tất cả chúng sinh. Ngay cả sau
khi đã làm tịnh chỉ tất cả nghiệp và tâm thái nhiễu loạn của bản
thân thì những vị hành theo hạnh Bồ Tát chủ
động ở lại trong vòng sinh tử để giúp
đỡ và giáo hóa chúng sinh. Vị Bồ Tát tái sinh là vì lòng bi mẫn chớ
không phải vì vô minh. Những vị hành theo hạnh Bồ Tát tiếp tục lưu trú lâu
dài trong cõi đời này
để phụng sự cho tha nhân.
Khi làm những việc lợi lạc cho
chúng sinh thì những vị hành theo hạnh Bồ Tát cũng
đang tẩy trừ những phiền não vi tế
trong dòng chảy của tâm thức để chứng được
quả vị giác ngộ hoàn toàn như chư Phật. Mặc dầu những vị ấy có lòng
đại từ bi đối với tha nhân mạnh mẽ đến đổi
thệ nguyện không thành chánh giác cho
đến chừng nào tất cả chúng sinh đã
thành chánh giác nhưng thật ra họ cũng không lãng quên việc giác ngộ của
chính bản thân mình. Ý nghĩa cao cả và đích
thực của lời thệ nguyện đó là nếu việc làm ấy
đem lại lợi lạc cho chúng sinh thì họ
cũng vui lòng hy sinh sự giải thoát của bản thân. Tuy nhiên, các vị hành
theo hạnh Bồ Tát nhận thức rằng nếu là một vị Phật thì có thể giúp chúng
sinh có hiệu quả hơn một phàm phu nên các vị hành theo hạnh Bồ Tát cũng
tinh tấn tu hành để đạt được Phật quả. Dù
đã thành Phật, các vị
đó vẫn hiện thân vào cõi Ta bà
để hóa độ chúng sinh.
Phật quả hay Chánh Ðẳng Chánh
Giác là một quả chứng cao hơn A-la-hán. Một cách phân biệt hai dạng quả
chứng này là dựa vào mức độ loại trừ tam
chướng khỏi tâm thức.
Có hai mức
độ chướng ngại: (1) phiền não chướng
gồm những tâm thái nhiễu loạn và nghiệp, (2) sở tri chướng tức là thấy các
pháp là hiển nhiên có thật và không thể trực tiếp, tức thời nhận chân
được tất cả các pháp. Hai mức độ chướng ngại
này giống như người ta để những củ hành
trong một cái hũ. Tuy người ta đã lấy
củ hành ra rồi nhưng trong hũ vẫn còn mùi hôi. Khi phiền não chướng
đã bị loại trừ thì người tu
đạt được cảnh giới giải thoát hay quả vị
A-la-hán (nhưng dư vị của nó vẫn còn
đọng lại); nếu người ấy tiếp tục thanh lọc tâm hồn loại trừ tri chướng thì
người ấy sẽ đạt đến sự giải thoát hoàn
toàn của một vị Chánh Ðẳng Giác (hoàn toàn thanh tịnh).
Vì vị hành theo hạnh Bồ Tát có
nguyện vọng cứu giúp mọi người một cách hiệu quả và rộng khắp nên vị ấy
thiền định để thanh lọc cả hai loại chướng
ngại. Trong khi những vị hành theo hạnh Bồ Tát cấp thấp vẫn còn
phiền não chướng thì những vị hành theo hạnh Bồ Tát cao hơn
đã diệt hết phiền não chướng và
đang đi trên con
đường diệt trừ sở tri chướng. Khi một vị hành
theo hạnh Bồ Tát đã chứng
được quả vị Chánh Ðẳng Giác thì vị ấy
có thể thị hiện vào cõi đời này trong
mọi hình thức cần thiết để giúp đỡ những
người khác đạt được sự giác ngộ như mình.
Có một số người chứng
được quả vị A-la-hán trước khi thành
tựu quả vị Chánh Ðẳng Giác trong khi đó một
số người khác lại trực tiếp đi vào con
đường của Bồ Tát để thành Phật. Những người chứng quả A-la-hán
quyết tâm thoát khỏi vòng sanh tử vì vậy mà
đi theo con đường của Thanh Văn hay Ðộc Giác. Sau khi
đạt được Niết bàn những vị này an trú
trong cảnh giới phúc lạc; kế tiếp, tu tập tâm xả thân bố thí, rồi
đạt đến chánh giác để làm lợi lạc cho
tha nhân. Thế là những vị này đi theo con
đường của Bồ Tát và cuối cùng chứng
đắc quả vị Vô Thượng Giác.
Những vị khác thì ngay từ
đầu đã nuôi dưỡng quyết tâm
đạt được sự giải thoát song song với việc
thực hành hạnh xả thân bố thí vì vậy những vị ấy trực tiếp
đi vào con
đường Bồ Tát mà không
đi ngang qua quả vị A-la-hán. Khi đi đến cuối
con đường thì những vị ấy cũng thành tựu quả vị Vô Thượng của một
vị Phật.
Sự thật thứ tư: Con
đường chơn chánh dẫn đến khổ diệt
Khổ diệt có nghĩa là không còn
khổ và nguyên nhân của khổ nữa. Ðể đạt được
trạng thái giải thoát này, chúng ta phải
đi theo con đường của Chánh pháp.
|
Bốn Sự Thật Cao Thượng và
Bát Thánh Đạo
1. Sự thật về khổ hay sự
thật về những cảm giác không vừa ý
2. Sự thật về nguyên nhân
của những cảm giác đó
- Những tâm thái nhiễu loạn
- Những hành vi tạo nghiệp
3. Sự thật về sự chấm dứt
những cảm giác đau khổ và sự
đoạn trừ nguyên nhân của những cảm
giác đó
4. Sự thật về con
đường đưa đến sự an tịnh
- Pháp tu học cao thượng về đạo đức: 1)
Chánh nghiệp; 2) Chánh ngữ; 3) Chánh mạng
- Pháp tu học cao thượng về thiền định:
1) Chánh tinh tấn; 2) Chánh niệm; 3) Chánh định
- Pháp tu học cao thượng về trí tuệ: 1)
Chánh kiến; 2) Chánh tư duy
|
Trong kinh Ðại Bát Niết bàn và
nhiều nơi khác Ðức Phật đã miêu tả con
đường đưa đến trạng thái Niết bàn là
ba pháp tu học cao thượng: đạo đức, thiền
định và trí tuệ. Ðức Phật cũng nêu lên rằng Bát thánh
đạo có thể gom kết lại thành ba pháp
tu học cao thượng.
Pháp tu học cao thượng về
đạo đức
Pháp tu học cao thượng về
đạo đức, gọi tắt là Giới học, là nền
tảng của sự nghiệp tu học. Nhờ vào nền tảng này mà chúng ta không còn làm
những việc đen tối, quấy ác mà hậu quả
cuối cùng là đau khổ.
Ðạo
đức thì rất là thiết thực vì
đạo đức nâng cao chất lượng hay phẩm chất cho
đời sống hằng ngày của chúng ta. Khi mà chúng ta không còn làm tổn
hại những người khác thì tâm trạng hối hận và mặc cảm tội lỗi sẽ lắng dịu
xuống. Hơn nữa, người khác sẽ tin tưởng và
đến với chúng ta. Khi mệnh chung, chúng ta sẽ chết một cách thanh thản,
không sợ phải tái sinh vào những nơi thấp kém. Tất cả những phước
đức mà chúng ta
đã tạo
được qua việc từ bỏ những hành động
phá hoại và thực hiện những hành động
trong sáng sẽ là nền tảng vững chắc để
cho chúng ta giác ngộ được Chánh đạo trong tương lai.
Trong Bát thánh
đạo có ba chi phần nằm trong pháp tu học cao
thượng về đạo đức. Mặc dầu ba chi phần này chỉ
được giải thích tóm lược dưới đây. Nhưng ý
nghĩa của từng chi phần sẽ trở nên rõ ràng hơn khi chúng ta quán
chiếu về chúng dựa vào những thực nghiệm trong
đời sống cụ thể của chúng ta.
1. Chánh nghiệp.
Hành
động chơn chánh khiến chúng ta có thể tránh
được 3 việc làm tổn hại của thân là: sát sinh, trộm cắp
và tà hạnh.
Sát sinh là cố ý giết hại
mạng sống của sinh loại kể cả thú vật. Lời răn
cấm sát sinh đòi hỏi chúng ta phải sáng tạo ra những phương án thay
thế cho bạo lực trong việc giải quyết các cuộc xung
đột lớn nhỏ trong cuộc sống.
Trộm cắp có nghĩa là thâu
đoạt những gì mà người ta không cho,
kể cả việc không đóng thuế hay không trả tiền
phí tổn mà đáng lẽ chúng ta phải trả.
Chuyện hay xảy ra là mượn rồi không trả và lấy vật dụng của chung
để dùng cho cá nhân.
Tà hạnh trong tình ái chủ
yếu là nói về việc ngoại tình nhưng cũng có những dạng khác. Vấn
đề này sẽ
được bàn kỹ ở chương sau.
Chánh nghiệp dạy cho chúng ta ý
thức được những tai hại mà chúng ta
gây ra cho người khác. Thay gì làm những điều
mà trước mắt chúng ta cảm thấy ưa thích thì chúng ta lại quan tâm
đến tha nhân. Tự động các mối quan hệ của
chúng ta với mọi người sẽ được tốt đẹp hơn và mọi người sẽ cảm thấy
hạnh phúc hơn khi cùng sống với chúng ta.
Chánh nghiệp cũng bao hàm việc
ra tay giúp đỡ người khác như lau quét nhà
dùm người già cả, neo đơn; cứu trợ thiên
tai, bão lụt; cứu giúp người đang lâm nạn...
2. Chánh ngữ.
Chánh ngữ bắt
đầu với việc tránh 4 loại lời nói gây tổn
hại: nói dối, nói lời ly gián, nói lời thô ác và
nói lời phù phiếm.
Nói dối là nói thành lời cụ
thể hay nói bằng biểu hiệu như gật đầu hay
nhún vai để diễn đạt một điều gì mà chúng ta biết là không
đúng sự thật. Tuy nhiên khi nói thật
thì cũng phải nói thật một cách sáng suốt kết hợp với tâm từ ái. Thật là
thiếu lòng từ và u mê khi thật thà nói cho kẻ sát nhân biết về chỗ ở của
người mà hắn muốn tìm; nói thật như thế có thể làm cho án mạng xảy ra.
Nói lời ly gián
để làm cho người ta gây gổ
đối đầu với nhau hay để cho những người đã
bị chia lìa không thể hòa hợp thân hữu trở lại.
Nói lời thô ác làm tổn
thương người khác như nhục mạ, mắng chưởi, nhạo báng và biếm nhẻ. Ðôi khi
chúng ta nói những lời đó với nụ cười trên
môi mà chúng ta lại giả vờ ngây ngô cho rằng những lời mà chúng ta
đang thốt ra đâu có gì mà người nghe
phải đau khổ.
Nói lời phù phiếm về những
chuyện không đâu ra đâu chỉ để giải khuây hay
chỉ là để cho có nói cái gì
đó thì khiến cho chúng ta và những
người phải nghe đều bị mất thời giờ.
Qua việc tu dưỡng Chánh ngữ
chúng ta sẽ dùng lời nói như thế nào để cho
người khác được vui vẻ. Mối quan hệ giữa chúng ta với mọi người như bát
nước đầy nếu chúng ta biết cẩn trọng đối với lời nói và cách nói.
Thay vì tìm gặp một người nào đó làm
nơi để trút đi nỗi bực phiền, thất vọng thì
chúng ta lại lựa chọn cách thức hiệu quả hơn
để đạt được mục đích truyền đạt những yêu cầu và những cảm xúc của
chúng ta. Hơn nữa, chúng ta cũng nên cố gắng ghi nhận và khen ngợi những
thành tựu và những phẩm chất tốt đẹp của
người khác. Chúng ta sẽ hỗ trợ về mặt tinh thần và
đạo đức cho người khác, an ủi những người
đang buồn khổ, diễn bày giáo pháp cho người có cơ duyên tìm hiểu.
Lời nói là một công cụ có công năng mạnh mẽ
trong việc tác động người khác và nếu chúng ta sử dụng lời nói một
cách sáng suốt thì lợi ích cho cuộc đời biết
bao.
Ðức Phật khuyên chúng ta tránh
10 điều tổn hại: 3 điều thuộc về thân thể, 4
điều thuộc về lời nói và 3 điều thuộc
về ý tưởng. Ba điều thuộc về thân đã
được trình bày trong phần Chánh nghiệp và 4
điều về lời nói đã
được trình bày trong phần Chánh ngữ.
Chúng ta không giảng giải riêng về 3 điều tổn
hại thuộc về tâm ý - tham lam,
độc ác và tà kiến - trong
Pháp tu học cao thượng về đạo đức nhưng chúng
ta lại giảng giải ở đây vì tránh được
3 điều tổn hại thuộc về tâm ý này sẽ giúp cho chúng ta sống một
đời sống có đạo đức.
Tham lam
đối với tài sản của người khác có
nghĩa là tìm cách để chiếm đoạt vật không
phải của mình. Khi tham lam nằm trong tâm ý của chúng ta thì không
người nào khác thấy được vì nó vô hình
tướng. Nhưng tâm tham lam này lại có thể khiến cho chúng ta làm những việc
xu nịnh, đút lót, lừa đảo hay trộm cắp để đạt
được điều mà chúng ta mong muốn.
Ðộc ác là tìm cách
để làm hại người khác, bao gồm việc
rắp tâm trả đũa người đã làm
điều sai trái đối với chúng ta, tìm
cách làm cho người khác bị dày vò trong đau
khổ hay làm cho người khác bị rơi vào tình cảnh khó khăn,
rối khổ và bế tắc.
Tà kiến theo
đạo Phật là khư khư bảo thủ, kiên trì
giữ lấy quan điểm của mình, không chấp
nhận rằng có những kiếp sống trong quá khứ và những kiếp sống kế tiếp
trong tương lai, không chấp nhận rằng người ta có thể
đạt đến trạng thái Niết bàn, không
chấp nhận có Ðức Phật, Giáo pháp và Tăng-già.
Hồ nghi rằng không có những điều trên
thì chưa phải là tà kiến. Tuy nhiên nếu chúng ta bỏ lơ, không chịu tham
vấn, không chịu tự tìm học về những vấn đề này
để giải quyết mối hồ nghi thì tà kiến
sẽ phát sinh, chúng ta sẽ tin tưởng và đi
theo những giáo lý sai lầm.
Quyết
định tránh khỏi 10 hành
động tổn hại này cũng có nghĩa là dấn
thân làm 10 điều lợi lạc trong sáng. Thí dụ,
quyết định không nói dối thủ trưởng về khoảng thời gian cần có để thực
hiện xong một dự án nào đó chính là
một hành động có tính chất tích cực và
lợi lạc. Làm được việc như vậy thì có
nhiều lợi ích: Trong tương lai thủ trưởng sẽ tin vào những lời mà chúng ta
nói; chúng ta sẽ sống với những nguyên tắc
đạo đức mà chúng ta đặt định ra cho mình;
đồng thời tạo được nhân lành
để có hạnh phúc trong hiện tại và
những chứng đạt tâm linh mai sau.
3. Chánh mạng.
Cần phải có của cải vật chất
để duy trì mạng sống nhưng
điều quan trọng ở đây là phải tạo ra
của cải tài sản bằng những phương cách thích
đáng. Tai hại là nhúng tay hay tham gia vào loại hành
động tổn hại, nói loại lời nói tổn hại để tạo
ra cuộc sống. Mặc khác, chúng ta cũng không nên xúi giục khiến cho
người khác làm và nói như vậy. Ðức Phật khuyên dạy rằng phải tránh làm
những nghề nghiệp độc ác như đồ tể, săn bắn
hay đánh thuê. Chúng ta cũng nên tránh những nghề nghiệp liên can
mật thiết với tội ác như bán rượu, chứa cờ bạc, bán cá thịt, bán da thú,
bán thuốc diệt côn trùng; sản xuất và buôn bán vũ khí; cho vay nặng lãi
hay lừa đảo.
Một số người có thể thắc mắc
như sau: Làm sao người ta có thịt cá để ăn
nếu không có người đồ tể, làm sao người ta có lúa gạo
để sống nếu không có thuốc diệt sâu rầy cho mùa
màng? Câu hỏi như thế đã
đi lệch khỏi phương hướng của chúng ta.
Ðiều trọng tâm mà chúng ta đặt ra cho
mình là không nên làm những gì thuộc về Tà mạng. Có nhiều việc nằm
ngoài khả năng can thiệp hay giải quyết của
chúng ta; hầu như không ai có khả năng đơn phương quyết định sách lược cho
một đất nước hay cho trần gian này cả. Giả thiết rằng khi ở trong
hoàn cảnh mà không có bất kỳ một chọn lựa nào khác thì chúng ta phải cố
gắng đến mức cao nhất mà chúng ta có
thể cố gắng được. Yếu tố quan trọng nhất mà
chúng ta cần nhấn mạnh ở đây là từ bỏ
được ý muốn làm hại người khác.
Ðối với những người xuất gia
Chánh nghiệp có nghĩa là gìn giữ những giới
điều, nhờ có Chánh nghiệp mà xứng đáng
được cúng dường. Nếu một người đã xuất gia mà lừa dối hay lường gạt
người khác, đoán vận mệnh hay làm phù
phép để kiếm tiền thì
đó là Tà nghiệp. Mọi người - dù xuất
gia hay tại gia - đều nên có vai trò
hữu ích cho xã hội và không làm hại người khác
để kiếm sống.
Những cơ cấu giới luật mà Ðức
Phật đã
đặt định đều được diễn tả trong Pháp tu học cao thượng về đạo đức sẽ được
diễn giải trong chương "Giới Luật".
Pháp tu học cao thượng về thiền
định
Thiền
định là cốt lõi của con
đường đạo vì nếu không có thiền
định thì tâm thức của chúng ta không
có khả năng bám chặt vào những
đối tượng thánh thiện và hướng thượng.
Thí dụ, khi chúng ta thiền định về lòng
thương thì trước hết chúng ta phải tạo ra tâm từ bi và duy trì trạng thái
đó. Nhờ vậy mà tâm từ bi thấm
đẫm trong tâm thức của chúng ta. Khi chúng ta
thiền định về tánh không trước hết chúng ta phải quán sát để nhận thức sâu
xa ý nghĩa của nó rồi nuôi dưỡng nhận thức đó. Việc chuyển hóa tâm thức
chỉ có thể thực hiện được khi nào chúng ta có thể làm cho những tư
tưởng vô kỷ cương, những tư tưởng tán loạn phải dừng lại.
Pháp tu học cao thượng về thiền
định, gọi tắt là Ðịnh học,
đưa đến tâm an trú, tức là khả năng
giữ được sự tập trung tâm thức vào đối
tượng thiền định bao lâu tùy theo ý muốn của chúng ta. Trong quá
trình làm cho tâm an trú được vững chải và
phát triển, hành giả phải chọn một đối tượng
thiền định cụ thể nào đó, thí dụ như
hơi thở hay hình tượng của một vị Phật. Khi chúng ta
đạt được tâm an trú rồi thì chúng ta
có thể hướng tâm đã an trú
đó đến bất cứ một đối tượng nào khác
như tánh không hay tâm từ bi. Với trạng thái an trú như vậy thì thân và
tâm của chúng ta cực kỳ nhu nhuyến; chúng ta có thể vào trong trạng thái
định một cách dễ dàng và rất an lạc.
Ba chi phần sau đây của Bát thánh đạo thuộc
Pháp tu học cao thượng về thiền định:
1. Chánh tinh tấn
Ðể tiến bộ trên con
đường đạo, chúng ta cần phải nỗ lực trong
việc tu tập theo Chánh pháp. Nhờ vào sự nhiệt tâm tinh cần mà chúng
ta có thể làm cho những hành động quấy ác uế
nhiễm mình đã làm trở nên thanh
tịnh đồng thời ngăn ngừa những hành
động như vậy phát sinh trong tương lai. Chúng
ta cũng cần có tinh tấn để có thể gìn giữ những
đức hạnh mà chúng ta
đã tu dưỡng
được đồng thời hướng đến việc xây dựng những
đức hạnh mới trong tương lai. Làm được
như vậy chắc chắn sẽ cải thiện và nâng cao chất lượng hay phẩm chất
cho đời sống của chúng ta.
2. Chánh niệm
Chánh niệm là một thành tố của
dòng chảy tâm thức có chức năng ghi nhớ, chức
năng chú ý và hướng tới những gì có lợi lạc. Thí dụ, trong buổi
sáng khi chúng ta thức dậy chúng ta có thể hạ quyết tâm: "Ngày hôm nay
ta sẽ cố gắng không làm hại mà sẽ làm lợi lạc cho người khác càng nhiều
càng tốt." Chánh niệm khiến cho chúng ta có thể duy trì ý niệm này
trong dòng chảy tâm thức của chúng ta suốt ngày hôm
đó. Chính Chánh niệm giúp cho chúng ta nhận
ra được những hành động hàng
ngày của chúng ta có tương ứng với quyết tâm này hay không. Chánh niệm về
10 hành động lợi lạc có thể làm cho
chúng ta luôn được nhắc nhở và
đủ bản lĩnh không nói dối, trộm cắp... trong
những giây phút chúng ta bị lôi kéo vào những việc như vậy.
Chánh niệm cũng có vai trò quan
trọng trong công phu thiền định. Thiền định
có nghĩa là làm cho chúng ta hoà nhập và hợp nhất với những tâm
thái hay những đối tượng lợi lạc. Thí dụ,
Chánh niệm làm cho chúng ta có thể tập trung sức chú ý vào hơi thở
khi chúng ta thở vào và thở ra. Chánh niệm như vậy có tác dụng làm cho tan
đi những tư tưởng rộn rịp xôn xao trong tâm
thức, giúp cho chúng ta có đủ năng lực để đạt được sự nhất tâm trên
hơi thở. Có nhiều đối tượng thiền định khác
nhau: trong một số pháp thiền định dạy cách tập trung tâm ý vào hơi
thở; một số pháp thiền định khác yêu
cầu tập trung tâm ý vào việc hình dung ra linh ảnh của một Ðức Phật hay
vào lòng từ ái đối với tất cả chúng sinh.
Ðể có thể phát triển tâm tịnh
chỉ hay nhất tâm chúng ta phải loại trừ tất cả những trạng thái
đối nghịch lại trạng thái nhất tâm như trạng
thái xao lãng hay buông thả và lăng
xăng.
Trạng thái xao lãng hay buông
thả ngăn cản không cho chúng ta duy trì
đối tượng thiền định: hơi thở, hình
tượng của Phật, lòng thương đối với tất cả
sinh linh... Chúng ta quên mất đối
tượng thiền định và tâm thức luôn bị các tư tưởng xôn xao làm cho
phân tán không còn tập trung.
Trạng thái xao lãng xuất hiện
khi tâm thức bị mê mờ, độ trong sáng và
độ tinh tế bị giảm sút. Nếu chúng ta không
chống lại sự xao lãng thô sơ thì chúng ta sẽ ngủ gục ngay trên bồ-đoàn
(gối dùng để ngồi thiền). Nếu chúng ta bỏ lơ
không chịu chú tâm chữa trị trạng thái buông thả tinh tế, chúng ta có thể
tin tưởng một cách sai lầm rằng chúng ta đã
đạt đến một trạng thái thiền định cao siêu
nhưng thật sự thì không phải vậy.
Trạng thái lăng
xăng có tính chất phá hoại khiến cho sự tập trung của tâm không còn
vững chãi. Nó làm cho tâm thức chúng ta bị rời khỏi
đối tượng thiền định và chạy theo
những gì chúng ta hằng tơ tưởng, mộng mơ và ưa thích nhất. Thí dụ, ta
đang ngồi và cố gắng tọa thiền trong
một khoá tu, bỗng dưng không thể tập trung
được, thì ra tâm thức ta đang vơ vẩn,
thẩn thơ về hương thơm, vị ngon, màu sắc, nguyên vật liệu và cách
chế biến các món ăn. Bất thần chuông reo kết
thúc giờ thiền và ta nhận ra rằng ta
đã ngồi hết giờ nhưng mà không
thiền chút nào!
Chánh niệm
đối phó với những chướng ngại đó. Chánh niệm
là một thành tố của tâm thức có chức năng
làm cho sự tập trung của chúng ta liên tục quay trở về những
đối tượng quen thuộc, trong trường hợp này
là đối tượng thiền định. Quan trọng là
biết cách thiền định, mà biết thiền
định thì Chánh niệm sẽ trở nên mạnh mẽ
và chúng ta sẽ khó mà bị xao lãng với đối
tượng thiền định. Nếu có được như vậy thì sự cảnh giác và năng
lực nội chiếu nhạy bén sẽ nhanh chóng cảnh báo cho chúng ta mỗi khi tâm
thức của chúng ta bị xao lãng. Phục hồi lại Chánh niệm thì chúng ta
sẽ đưa sự chú ý trở lại đối tượng thiền định.
Chánh niệm làm cho sự tập trung
của chúng ta trở nên vững chãi; như vậy nó chống lại trạng thái lăng
xăng của tâm thức. Chánh niệm cũng làm cho tâm thức của chúng ta có
đủ độ trong sáng và
độ tập trung; như vậy nó diệt trừ trạng thái
xao lãng của tâm thức. Thông qua quá trình thực nghiệm tất nhiên
chúng ta sẽ tìm thấy được sự cân
bằng thích hợp trong việc làm cho tâm thức
được tập trung: không quá căng
thẳng mà cũng không quá lỏng lẽo. Căng
thẳng quá sẽ tạo nên trạng thái lăng
xăng, quấy nhiễu độ vững chãi của trạng thái tập trung. Lơ là quá
sẽ tạo nên trạng thái xao lãng, quấy nhiễu độ
trong sáng và độ tinh tế của tâm thức.
Việc cân bằng này giống như việc lên giây một cây
đàn vĩ cầm. Thiền sư Ấn Ðộ
Chandragomin nói:
"Nếu chúng ta không cố gắng
xây dựng sức chú tâm mạnh mẽ thì tâm thức sẽ chìm xuống và không bao giờ
chúng ta có thể đạt được độ trong sáng cần
thiết. Ngược lại, nếu chúng ta quá nặng về việc duy trì sự chú tâm
thì tâm thức của chúng ta bị xao động, rời
khỏi đối tượng và tâm chúng ta không bao giờ có thể
đạt được trạng thái vững chãi. Vì vậy
không phải dễ dàng giữ được mực độ cân bằng
khi tu tập trạng thái nhất tâm."
Ðể bổ sung cho việc dùng Chánh
niệm làm sức mạnh tâm lý nòng cốt nhằm hỗ trợ cho việc tu tập thiền
định, Ðức Phật nói về việc tu tập
Chánh niệm trên 4 đối tượng: thân thể, cảm
giác, tâm thái và các pháp. Nhờ vào việc tu tập này mà chúng ta có
thể nhận thức được 3 đặc tính: (1) tất cả mọi
sự vật đều biến chuyển liên tục; (2) tất cả sự vật nào bị tâm thái
nhiễu loạn và nghiệp chi phối thì đều là
bất xứng ý; và (3) tất cả các pháp đều là
vô ngã.
3. Chánh
định
Nhờ Chánh tinh tấn và Chánh
niệm nên sự tịnh chỉ hay là sự nhất tâm dần dần chuyển biến tốt hơn cho
đến khi nào chúng ta
đạt được trạng thái tâm an trú. Chúng ta cũng
có thể tiến bộ hơn nữa để đạt được những tầng bậc nhất tâm cao hơn, tức là
những tầng thiền chứng thuộc sắc giới và vô sắc giới.
Có những người không phải là
Phật tử cũng tu tập những tầng thiền chứng này. Tuy nhiên, một Phật tử tu
tập thì tâm thức được nuôi dưỡng bởi tâm quy
kính Ba Ngôi Báu (Ðức Phật, Giáo Pháp và Tăng-già),
và bởi tâm quyết định thoát khỏi nạn khổ
trong vòng sinh tử luân hồi. Trong khi những người không phải là
Phật tử có khuynh hướng tìm sự thỏa mãn với những phước lạc có trong những
tầng bậc thiền định thì những người
Phật tử sử dụng các tầng bậc thiền định để
chứng được không tánh, rồi nhờ đó đạt được sự giải thoát.
Ðức Phật
đã triển khai rộng về Chánh niệm và
tịnh chỉ. Nếu bạn cảm thấy thích tìm hiểu thêm thì bạn nên tham vấn một vị
đạo sư để được hướng dẫn hay bạn tìm
đọc những sách vở có liên quan
đến đề tài này.
Pháp tu học cao thượng về trí
tuệ
Nhờ vào một cuộc sống
đạo đức, tức là Giới học, chúng ta sẽ
loại trừ được những thân nghiệp và
khẩu nghiệp uế nhiễm. Nhờ vào việc tu tập thiền
định mà những tâm thái nhiễu loạn tạm
thời lắng dịu xuống. Tuy nhiên, nếu không có trí tuệ thì không có cách nào
để chúng ta có thể phá hủy hoàn toàn
những tâm thái nhiễu loạn, giải thoát khỏi vòng sinh tử và
đạt được hạnh phúc lâu dài. Ðể nhổ bỏ
gốc rễ của mọi khổ nạn, mọi u mê ám chướng khỏi dòng chảy tâm thức của
chúng ta thì việc thiết yếu là phải có loại trí tuệ nhận chân
được không tính (thông thường không tính được
xem là đồng nghĩa với vô ngã,
nói cách khác là không có một cái ngã bản nhiên).
Ðể
đạt đến loại trí tuệ này, nhận chân
được nguyên nhân sâu xa nào đã
khiến cho con người và các pháp hiện hữu trên cuộc
đời này. Chúng ta phải tu tập một loại
tuệ quán đặc biệt, đó là Minh sát tuệ
(vipassana). Minh sát tuệ là loại trí tuệ
được dẫn dắt bởi năng lực phân tích sắc bén
kết hợp với tính chất nhu nhuyến của trạng thái tâm an trú.
Lúc chưa
đạt được tuệ minh sát thì mỗi khi
chúng ta vận dụng năng lực phân tích trong
thiền định thì trạng thái nhất tâm bị khuấy
động; mỗi khi chúng ta tập trung tâm để quay
trở lại trạng thái nhất tâm thì lúc đó
chúng ta lại mất đi năng lực phân tích. Nhưng khi chúng ta chứng đạt được
Minh sát tuệ thì trạng thái nhất tâm và năng
lực phân tích không còn quấy nhiễu nhau nữa và vì vậy mà tâm thức
trở nên rất hùng mạnh. Khi Minh sát tuệ hướng
đến vô ngã tính thời nó sẽ tẩy sạch yếu tố u mê ám chướng trong
dòng chảy của tâm thức chúng ta, tẩy sạch những tâm thái nhiễu loạn,
nghiệp và những dấu tích của nghiệp. Do vậy, những yếu tố u mê ám chướng
đó không bao giờ có thể xuất hiện trở lại
được.
Ðể tu tập trạng thái tâm an trú
và Minh sát tuệ, chúng ta phải rèn luyện trong một thời gian dài. Giống
như việc học cách đọc chữ, việc tu tập trạng
thái nhất tâm và trí tuệ đòi
hỏi thời gian và công phu rèn luyện liên tục. Trong thời hiện
đại quá, chúng ta cũng quá quen thuộc với
những dụng cụ nhấn nút là xong, quá quen thuộc với những loại thức
ăn nhanh gọn trong hộp nên một cách tự
phát, tâm thức của chúng ta nhiễm nặng khuynh hướng thiếu kiên nhẫn và
muốn thành tựu tức thì những chứng đạt cao siêu
mà không cần phải cố gắng nhiều. Rất tiếc là không thể
được. Rất tiếc là không có một nút bấm
nào để có được trạng thái nhất tâm và
trí tuệ cả. Tuy nhiên, có trường hợp một vài người nào
đó do vì
đã từng có nhiều nỗ lực tu tập theo con
đường đạo trong quá khứ nên hiện tại
có thể đã
đạt được những tiến bộ rất nhanh trong kiếp này. Còn lại là
đông đảo những người không thuộc về "diện" này,
đông đảo những người bình thường như
chúng ta. Do vậy, thật là hữu ích nếu chúng ta
đặt ra một mục tiêu dài hạn, kiên
nhẫn, nhiệt thành và có một tâm thức thích thú, mẫn cảm
đối với những điều tốt đẹp và thánh
thiện.
Hai chi phần còn lại của Bát
thánh đạo thuộc về Pháp tu học cao thượng về
trí tuệ, gọi tắt là Tuệ học.
1. Chánh kiến hay Chánh
trí.
Tức là sự hiểu biết về Tứ thánh
đế: Thánh đế về khổ và Thánh
đế về nguyên nhân khiến cho dòng lưu
chuyển sinh tử kéo dài; Thánh đế về sự diệt
khổ và Thánh đế về con đường đưa đến
trạng thái giải thoát hoàn toàn. Trong ý nghĩa
đặc biệt Chánh kiến chỉ cho một loại trí tuệ
có công năng phá tan những quan điểm sai lầm như quan điểm cho rằng có một
cái ngã bản nhiên hằng hữu. Nếu như chúng ta chấp thủ như vậy thì
quan điểm này sẽ trói buộc chúng ta
trong vòng sinh tử. Vấn đề này sẽ
được trình bày kỹ hơn trong
đoạn nói về "Những Tâm Thái Viễn Hành."
2. Chánh tư duy.
Không cố chấp, từ ái và bất hại
là những đặc điểm của Chánh tư duy. Ở một cấp
độ cao hơn, Chánh tư duy chỉ cho loại tâm thức có công năng phân tích
không tính một cách sắc bén và tinh tế, khiến cho chúng ta trực
nhận được không tính.
Mặc dầu
đạo đức, thiền định và trí tuệ, tức là
ba Pháp tu học cao thượng Giới - Ðịnh - Tuệ, thường
được miêu tả là một con
đường với 3 tiến độ khác nhau nhưng chúng ta
có thể tu tập đồng bộ cùng một lúc cả ba. Ðạo
đức và thiền
định là nền tảng
để trí tuệ thăng hoa. Trí tuệ và thiền
định giúp cho đạo đức có được độ vững chắc và
có được phương hướng mục tiêu tốt. Ðạo
đức làm cho tâm thức có thêm sức mạnh
để tu tập thiền định; và trí tuệ sẽ
làm yếu đi tâm cố chấp, nhờ vậy giảm thiểu
trạng thái xung động và phân tán. Trong khi chúng ta có thể dồn hết
năng lực vào một pháp tu trong một
thời gian cụ thể nào đó nhưng bình
thường chúng ta không nên lơ là bất cứ một pháp nào trong ba Pháp tu học
cao thượng trên đây.
IX. TỪ U MÊ ĐẾN GIÁC NGỘ
^
Từng bước chuyển hóa tâm thức
Giảng giải về Tứ thánh
đế và Bát thánh
đạo là phương pháp truyền thống
để diễn đạt giáo pháp nhưng ở đây chúng ta
lại diễn đạt giáo pháp bằng phương pháp mới hơn; đó là trình bày
hành trình từng bước tiến đến giác ngộ. Hai
phương thức này hỗ tương với nhau. Rất là hữu ích nếu chúng ta biết
được cả hai phương thức vì khi chúng
ta quan sát một điều gì dưới hai góc
độ khác nhau thì nhận thức của chúng
ta sẽ sâu sắc và phong phú hơn.
Có duyên nghe học giáo pháp là
những người với nhiều hạng căn cơ khác nhau.
Những người sơ cơ lúc nào cũng đông và
thường khi mù mờ và hoang mang, không biết bắt
đầu việc học giáo pháp từ điểm nào và
phải tu tập ra làm sao. Vì vậy, vào đầu thế
kỷ thứ 11 nhà hiền trí Ấn Ðộ Atisha đã
viết tác phẩm Ánh Sáng Pháp Ðăng,
trong đó ông tóm lược những điểm tinh yếu
trong Thánh điển rồi sắp xếp lại cho có hệ thống để phác họa ra một hành
trình tu tiến dần dần theo thứ lớp. Sau đó nhà
hiền trí Tây Tạng Tzong Khapa (1357 - 1419) đã
phát triển thêm những điểm tinh yếu cô đọng
trong tác phẩm của Atisha và viết thành quyển Giảng Giải Tiến
Trình Từng Bước Ðến Giác Ngộ.
Hành trình tu tiến từng bước
này giúp cho chúng ta có thể nhìn quán xuyến toàn bộ tiến trình của tâm
thức, từ trạng thái u mê đến trạng thái giác
ngộ. Tiến trình này bắt đầu với những
thứ lớp được trình bày rất rõ ràng để
từng bước nhận thức giáo pháp. Nếu chúng ta thuộc nằm lòng mỗi bước
đi này thì mỗi khi nghe thuyết giảng
giáo pháp chúng ta sẽ nhận biết được giáo
pháp đó thuộc về cấp độ nào của tiến trình và nên áp dụng như thế
nào. Nhờ hiểu biết các pháp tu trong từng cấp
độ khác nhau của tiến trình từ mê đến
giác chúng ta sẽ nhận thức được rằng không hề có mâu thuẫn trong giáo pháp
của Ðức Phật. Tất cả giáo pháp chúng ta
đều có thể tu tập để đạt được trạng thái giác
ngộ. Nhận thức được như vậy chúng ta sẽ tránh được một tội lỗi lớn là
phê phán, chỉ trích một truyền thống hay một pháp môn tu tập nào
đó. Sau đây chúng ta sẽ tóm tắt hành
trình từng bước đến giác ngộ.
Ðời của một người là quý báu
Bước
đầu tiên của tiến trình là hiểu
được rằng hiện tại chúng ta đang có điều kiện
và cơ hội để tu tập theo giáo pháp và
thăng hoa bản thân của chúng ta. Nếu một
người ăn xin không biết rằng mình có một viên ngọc quý trong túi
thì người ăn xin ấy bỏ phí viên ngọc
và tiếp tục làm kẻ nghèo hèn. Tương tự như vậy, nếu chúng ta không hiểu
rằng chúng ta đang có cơ hội lớn thì
chúng ta sẽ không sử dụng quỹ thời gian của chúng ta một cách sáng suốt
(và là hiện thân của một kẻ nghèo hèn theo một ý nghĩa nào
đó).
Hiện tại chúng ta
đang có kiếp sống của một con người với nhiều
phẩm chất cao đẹp, khó có trong đời. Vì vậy chúng ta phải làm cho
kiếp sống này trở nên có ý nghĩa hơn. Thường thường chúng ta cứ nghĩ rằng
ta có kiếp người này là chuyện đương nhiên
đồng thời chúng ta cứ vương vấn, níu kéo
những cái mà chúng ta ưa thích. Chúng vận hành và chuyển biến theo
quy luật riêng của chúng thế mà chúng ta cứ mãi lo sắp xếp và mong rằng
chúng sẽ vận hành và chuyển biến theo ý riêng của chúng ta. Như vậy là
không thực tế và khiến cho chúng ta phải phiền muộn. Ngược lại, nếu chúng
ta ý thức rằng chúng ta đang có tự do và
đang có những phẩm chất cao quý, ý thức rằng
mọi việc trong cuộc sống của chúng ta nói chung đang diễn ra một cách tốt
đẹp thì chúng ta sẽ có một cách nhìn tích cực hơn và một cuộc sống
an vui hơn.
Một trong những phẩm chất phú
bẩm cao quý nhất mà chúng ta đang có là
trí thông minh của con người. Phẩm chất quý báu này giúp cho chúng ta có
thể hiểu được ý nghĩa đích thực của cuộc sống
và cho phép chúng ta tu tập theo giáo pháp của bậc giác ngộ. Nếu
tất cả các quan năng của chúng ta như mắt,
tai... và ý thức còn nguyên vẹn thì chúng ta có thể nghe Chánh
pháp, đọc sách về Chánh pháp và suy tư
theo Chánh pháp. Chúng ta đã
được sinh ra và sống trong chu kỳ lịch
sử của Hiền kiếp có Phật và Chánh pháp. Chánh pháp còn thuần khiết này
đã được
truyền thừa từ thầy sang trò liên tục qua nhiều thế hệ mà khởi
điểm đầu tiên là từ bản thân Ðức Phật.
Chúng ta lại có được cơ hội tham kiến những
vị đạo sư tâm linh có phẩm hạnh để nghe được những lời khuyên bảo
quý giá. Và, vẫn còn đó những giáo đoàn
xuất gia và những tập thể pháp lữ đồng tu có
cùng ý hướng giống nhau, có thể khích lệ nhau trên con
đường tu tập.
Chúng ta may mắn sống trong
đất nước mà tự do tôn giáo
được tôn trọng nên việc tu học và thực
hành Chánh pháp không bị trở ngại. Hơn nữa, hầu hết chúng ta
đều có cuộc sống không quá nghèo khổ,
thức ăn đồ mặc đầy đủ, chỗ ở yên ổn.
Ðó là cơ sở để chúng ta có thể dấn thân vào
việc rèn luyện tâm linh mà không phải quá bận tâm tới việc cơm áo gạo
tiền; quá tổn hao tinh lực trong cuộc vật lộn
để mưu sinh. Tâm thức của chúng ta cũng không bị các tà kiến hay
định kiến che án quá nặng nề. Ưu điểm quan
trọng là chúng ta lại ưa thích việc tu tập
để chuyển hóa bản thân và thăng
tiến trên con đường tìm cầu
chân lý tối thượng.
Cùng với những
điều kiện và những cơ duyên thù thắng
mà chúng ta hiện giờ đang có thì trong
bản thân mỗi người trong chúng ta lại đều có
khả năng tiềm ẩn để có thể thành tựu
được những việc có ý nghĩa to lớn dựa trên những
điều kiện và cơ duyên
đó. Nhưng để hưởng được những giá trị to lớn,
chúng ta phải có một dự kiến đầy đủ, bền bỉ và thực hiện lâu dài.
Kiếp sống hiện tại của chúng ta thật là ngắn ngủi. Dòng chảy tâm thức của
chúng ta không dừng lại ngay cả khi sắc thân của chúng ta
đã rã rời và trả về cho cát bụi. Tâm
thức của chúng ta không có hình dáng hay màu sắc. Chúng ta có thể tạm hiểu
rằng lúc chúng ta mệnh chung thì tâm thức của chúng ta rời bỏ thân thể này
rồi đi vào một thân thể khác. Kiếp
sống kế tiếp của chúng ta như thế nào là tùy vào những hành
động và những thói quen mà chúng ta
hình thành trong hiện tại. Vì vậy mà một trong những mục
đích của kiếp mà chúng ta
đang sống là chuẩn bị cho cái chết
cũng tức là làm cho kiếp sống kế tiếp ở tương lai an vui và giải thoát
hơn. Nhờ đó mà chúng ta có hướng sống
tốt đẹp trong hiện tại, để khi mệnh chung
được chết một cách thanh thản với ý thức biết rằng ta sẽ tái sinh vào
cảnh giới tốt đẹp.
Một mục
đích khác mà chúng ta có thể hướng tới
trong việc sử dụng kiếp sống này là đạt đến
sự giải thoát hay giác ngộ. Chúng ta có thể chứng quả vị A-la-hán, giải
thoát khỏi vòng sinh tử; hoặc chúng ta có thể tiếp tục tu tập
để trở thành vị Chánh Ðẳng Giác, có
khả năng làm lợi lạc cho mọi người một
cách hiệu quả nhất.
Ðạt
đến sự giải thoát, dòng chảy tâm thức
của chúng ta sẽ được thanh tịnh và
trong sạch hoàn toàn, không còn những tâm thái nhiễu loạn. Như vậy chúng
ta sẽ không bao giờ sân hận, ganh tỵ hay tự cao nữa; chúng ta sẽ không còn
cảm thấy tội lỗi, lo âu hay thất vọng nữa. Tất cả những tập quán xấu của
chúng ta tan biến hết. Hơn thế nữa, nếu có chí nguyện
đạt đến sự giác ngộ vì lợi ích cho tha
nhân thì lúc đó chúng ta sẽ phát khởi lòng
từ ái đối với tất cả sinh linh và biết
làm những việc cụ thể để giúp đỡ cho mọi
người một cách thích hợp nhất.
Cách thứ ba
để sử dụng những ưu thế của kiếp sống quý báu
là sống một đời sống viên mãn
nhất trong từng giây, từng phút. Có nhiều phương pháp khác nhau
để làm như vậy. Một là sống với Chánh
niệm trong từng phút giây, tức là hiện hữu trọn vẹn ở tại
đây và ngay bây giờ trong từng hành
động. Khi chúng ta ăn chúng ta đặt tâm ý
trong việc ăn, cảm nhận được mùi vị và
độ nhu nhuyến của thức ăn; khi bước đi chúng ta đặt tâm ý trong những cử
động liên can đến việc di chuyển,
không để cho tâm thức của chúng ta lông bông với một ngàn lẻ một
chuyện khác nhau, một ngàn lẻ một ý tưởng khác nhau.
Một cách khác nữa
để sống từng giây, từng phút một cách viên
mãn và tích cực là tu tập chuyển hóa tâm thức. Thí dụ, khi
đi lên lầu, chúng ta có thể tâm niệm:
"Ta nguyện giúp cho mọi người được sinh vào
cảnh giới tốt đẹp, được thăng hoa, được giải
thoát và giác ngộ." Khi rửa chén bát hay giặt
đồ, chúng ta có thể tâm niệm: "Ta
nguyện giúp cho mọi người có được tâm thức
thanh tịnh, không còn những tâm thái nhiễu loạn và u mê." Khi
trao một vật gì cho ai, chúng ta có thể tâm niệm: "Nguyện rằng ta có
khả năng đáp ứng mọi nhu cầu của chúng sinh."
Một cách sinh động, chúng ta có thể chuyển
hóa từng hành động của chúng ta bằng
cách siêng năng sáng tác ra những câu
tâm niệm tương tự tương ứng với từng trường hợp với tấm lòng từ ái
muốn mang lại hạnh phúc cho người khác. Những phương cách khác
để làm cho cuộc sống hằng ngày của
chúng ta đầy ý nghĩa sẽ được diễn giải trong
Chương X, "Kim chỉ nam cho đời sống."
Ba chí nguyện khác nhau
Khi
đã quyết tâm sống một cuộc sống có ý
nghĩa chúng ta phải tiến từng bước trên hành trình gồm có ba giai
đoạn tu tập từ thấp đến cao tương ứng với 3
chí nguyện khác nhau của một hành giả. Trong tác phẩm Ánh Sáng
Pháp Ðăng, Atisha nói:
Những người hăng
hái tu tập các pháp môn chỉ với mục đích đạt được hạnh phúc trong kiếp
sống giữa hai đầu sinh tử này được xem
là người có sự thôi thúc tâm linh căn
bản. Những người sau khi quay lưng lại với những vui thú của trần gian
sinh tử, từ bỏ những hành vi thấp kém;
đồng thời hăng hái tu tập để được giải thoát sinh tử hay trạng thái thanh
thoát thì được xem là những
người có sự thôi thúc tâm linh ở cấp trung gian. Những người thực sự mong
muốn đoạn trừ tất cả những khó khăn, khổ sở
của tha nhân cũng như những khó khăn, khổ sở trong dòng tâm thức
của chính mình thì được xem là những
người có sự thôi thúc tâm linh cấp cao nhất.
Ba hạng bậc chí nguyện và những
pháp tu tập tương ứng chính là hình dạng của con
đường đạo với ba giai đoạn từ thấp đến cao.
Giai đoạn căn bản là nền tảng cho giai
đoạn thứ hai trung gian; giai đoạn thứ hai là nền tảng cho giai
đoạn thứ ba cao nhất. Ðể tiến bước
theo con đường đạo có ba giai đoạn, chúng ta
phải tu tập tuần tự từ thấp đến cao và tu tập liên tục mặc dù chúng
ta có thể có chí nguyện duy nhất và cao nhất
đi nữa. Sau đây chúng ta trình bày ngắn gọn 3 hạng bậc chí nguyện
và những pháp môn tương ứng như sau:
1. Chí nguyện căn
bản hay sơ khởi. Trong giai đoạn này
chúng ta muốn có sự chuẩn bị cho cái chết để
chúng ta có thể chết một cách thanh thản và
được tái sinh vào cảnh giới tốt
đẹp. Ðể
đạt được mục đích, chúng ta quán chiếu về tính chất vô thường, về cái chết
cũng như về những tù túng và những khổ nạn khi phải tái sinh vào
những nơi thấp kém. Ở giai đoạn này có
hai pháp môn tu tập chủ yếu là quy y Ba Ngôi Báu và quán chiếu nguyên lý
nhân quả (nghiệp). Quy y Ba Ngôi Báu có nghĩa là tâm linh chúng ta nương
tựa và tín phục theo chư Phật, Giáo Pháp và Tăng-già.
Quán chiếu nguyên lý nhân quả có tác dụng thúc
đẩy chúng ta cố gắng tránh xa 10 loại hành
động quấy ác và thực hành 10 loại hành
động trong sáng. Cần lưu ý là tuy có
nhiều pháp môn tu tập thuộc giai đoạn cao hơn
nhưng mọi pháp tu tập chân chính đều có điểm xuất phát căn bản ngay trong
giai đoạn sơ khởi đầu tiên này.
2. Chí nguyện trung gian.
Giai đoạn trung gian tức là giai
đoạn mà chúng ta mong muốn
đạt được sự giải thoát hoàn toàn khỏi
vòng sinh tử. Ðể đạt được mục đích, chúng ta
quán chiếu những nỗi khổ đau sinh tử một cách tổng quát rồi quán chiếu
những khổ đau của từng dạng tái sinh cụ thể. Chúng ta cũng quán chiếu chức
năng của nghiệp và tác động của những
tâm thái nhiễu loạn, để dần dần nhận ra được chúng đã trói buộc
chúng ta vào vòng sinh tử như thế nào. Sức mạnh của công phu quán chiếu
như vậy sẽ thôi thúc chúng ta hạ quyết tâm vượt qua khỏi tất cả những khổ
nạn sinh tử và đạt được trạng thái giải thoát
thanh lương. Pháp môn tu tập chủ yếu của giai đoạn này là Ba pháp
tu học cao thượng, trong đó đặc biệt là
Ðịnh và Tuệ. Song song chúng ta kết hợp tu tập tất cả mọi chi phần của Bát
thánh đạo.
3. Chí nguyện cao nhất. Ở
đây chúng ta sẽ tìm cầu sự giải thoát
không phải chỉ cho bản thân của chúng ta mà cho cả chúng sinh muôn loại.
Ðể đạt được mục đích cao nhất này,
chúng ta phải phát tâm xả thân bố thí nhằm mục
đích đạt được giác ngộ để làm lợi lạc
cho tất cả chúng sinh (Bồ đề tâm). Pháp môn
đặc trưng cho giai đoạn này là thiền
định về tâm đại từ, tâm đại bi và tâm
đại thí xả. Do nhận thức được rằng chứng được quả vị Chánh Ðẳng
Giác chính là cách tốt nhất để giúp ích cho
mọi người nên chúng ta dấn thân, cần khổ, thực hành Bồ Tát hạnh, tu
tập 6 pháp ba-la-mật (rộng lượng, đạo đức, kiên
nhẫn, vui vẻ siêng năng, kiên cố thiền
định và trí tuệ). Kim Cang Thừa có mục
đích là chuyển hóa thân và tâm phàm
phu trở thành thân và tâm của một vị Phật.
Giờ
đây chúng ta sẽ bước vào giai
đoạn căn bản sơ khởi, học hỏi cách chuyển hóa
dần dần tâm thức của chúng ta.
a. Bước thứ nhất - Có tầm nhìn
vượt lên trên hạnh phúc trong hiện tại
Niệm tưởng
đến cái chết
Duyên may mà chúng ta có
được trong đời sống quý báu của kiếp người
không lâu bền. Cái chết sẽ đến với tất cả mọi người. Hầu hết người ta cảm
thấy lo sợ khi suy tư về cái chết; người ta e ngại rằng nói đến Tử thần thì
Tử thần đến đứng kế bên. Tuy vậy chính
bản chất thật sự của kiếp sống là vô thường; và, cái chết không miễn trừ
một ai cả. Theo quy luật tự nhiên, chết là một sự việc phải xảy
đến và không thể tránh khỏi thì tốt
nhất là chúng ta không nên giả lảng tránh né, mà hãy chiêm nghiệm về nó.
Làm như vậy sẽ khiến cho đời sống của chúng
ta có ý nghĩa tốt hơn.
Nhận
định về cái chết với một cách nhìn
đúng đắn có thể giúp cho chúng ta định hướng
cho cuộc sống và khai thông nguồn năng
lực tiềm ẩn khiến cho chúng ta sống một cách trọn vẹn hơn. Nhận định về
cái chết là một công cụ mạnh mẽ dùng
để chế ngự những tâm thái nhiễu loạn của chúng ta đồng thời làm cho
tâm thức chúng ta an tĩnh. Khi chúng ta hoàn toàn thừa nhận rằng chúng ta
sẽ không thể nào thoát khỏi cái chết thì tất cả những cái nhỏ nhặt trong
cuộc sống (có thể đang làm lao tâm bận
trí chúng ta) bỗng trở nên vô nghĩa so với
đoạn đường còn lại của kiếp sống mà chúng ta
đang đi; cuối đoạn đường còn lại này
là cái chết. Ðức Phật đã dạy rằng:
Không có ý thức nào cao hơn
việc ý thức được tính cách vô thường của kiếp
sống. Dấu chân của con voi thì to nhất so với dấu chân của muôn
thú, cũng vậy thiền định về tính cách vô
thường thì có sức mạnh to lớn nhất so với tất cả các pháp thiền
định.
Lúc mệnh chung, dòng tâm thức
và những dấu ấn nghiệp lực mà chúng ta đã
tạo sẽ đưa chúng ta đi đến một kiếp sống mới.
Nếu trong kiếp sống này chúng ta có những hành
động gây tổn hại cho mọi người với động cơ
xấu thì những dấu ấn đen tối của những
hành động đó sẽ đeo bám theo dòng
chảy tâm thức của chúng ta. Chính những vết
đen trong tâm thức này khiến cho tâm sân hận và lòng ganh tỵ của
chúng ta được tăng trưởng trong kiếp sống
hiện tại và tiếp tục tăng trưởng mạnh
hơn trong kiếp sống tương lai.
Ngược lại, nếu chúng ta sử dụng
thời gian mà chúng ta có trong kiếp sống này một cách sáng suốt, tức là,
chúng ta dùng thời gian để tu tập và
làm phát triển những trạng thái tươi sáng của tâm thức như bố thí, kiên
nhẫn, lòng thương, tâm từ ái, tâm bi mẫn, tâm
định tĩnh và trí tuệ. Kết quả sẽ như thế nào? - Những dấu vết xán
lạn của những hành động đó (những hành
động do những trạng thái tươi sáng của tâm
thức thúc đẩy chúng ta làm) cũng đeo
bám theo dòng chảy tâm thức của chúng ta trong hiện tại. Và, những
tâm thái lợi lạc do đó cũng trở nên
mạnh mẽ hơn; trong kiếp sống tương lai chúng sẽ phát khởi dễ dàng hơn. Vì
vậy mà điều quan trọng là chúng ta hãy
quan tâm đến những điều chúng ta suy nghĩ,
những lời chúng ta nói và những việc chúng ta làm ngay từ bây giờ.
Cái chết chắc chắn là càng lúc
càng đến gần với tất cả mọi người dù
là giàu hay nghèo, danh giá hay hèn hạ... Chúng ta sẽ chết. Không một ai
trong chúng ta có thể sống mãi vì xác thân xương thịt theo
định luật tự nhiên là phải hư hoại và
không còn chút sinh lực nào cả gọi là tử thi. Chúng ta không thể trốn ở
một nơi nào đó để thoát khỏi cái chết. Kiếp
sống của chúng ta không thể kéo dài và mỗi một giây phút trôi qua
là mạng sống của chúng ta bị ngắn lại một chút. Cái chết
đang đi đến bất kể chúng ta có dùng
thời gian để tu tập theo con đường đạo hay
không. Khi quỹ thời gian của chúng ta sắp cạn kiệt chúng ta không thể kỳ kèo
xin thêm để có đủ thời gian chuyển hóa và
thăng tiến tâm thức. Nhận chân được đặc tính
chắc chắn của cái chết, chúng ta sẽ giữ vững quyết tâm tu tập Chánh pháp.
Cái chết không hẹn ngày giờ;
không ai xác định được mạng sống của mình
sẽ là bao nhiêu năm. Mặc dầu người ta đã
làm thống kê để biết được tuổi thọ trung bình
của con người một cách chung chung cho một cộng
đồng nào
đó nhưng điều ấy không thể bảo đảm gì cả
đối với tuổi thọ riêng của mỗi cá nhân
chúng ta. Sẽ là sai lầm khi nghĩ rằng sau khi hoàn thành xong xuôi mọi
chuyện theo kế hoạch mà ta đã vạch ra
rồi ta mới chết. Hầu hết ai cũng chết trong tình cảnh
đang làm dở dang một việc gì
đó. Cụ thể như một số người đi nghỉ hè
rồi không bao giờ trở về nữa, một số người
đang sắp sửa ăn một bữa cơm và đã
không bao giờ ăn xong bữa cơm đó nữa.
Ðể duy trì mạng sống chúng ta
phải cố gắng rất nhiều. Chỉ cần chúng ta không làm
được gì hết tức là chết. Ðể sống còn
chúng ta phải sắm sửa lương thực, nhà cửa, quần áo, thuốc men và những nhu
yếu khác. Ngay cả một số sự vật dùng để bảo
tồn mạng sống nhiều khi quay trở lại giết hại mạng sống. Thí dụ, một ngôi
nhà sập và giết chết người ở trong đó
khi động đất; thực phẩm nhiễm độc đã giết không ít người tiêu thụ.
Thân thể con người vô cùng mềm yếu. Lớp da của con người rất nhạy cảm và
dễ dàng bị tổn thương, xương của con người rất dễ bể gãy. Ngay cả những
con sinh vật tí ti như con vi trùng hay nhỏ hơn nữa là con vi-rút (kính
hiển vi thường không thấy nỗi) mà cũng có thể giết vô số sinh mạng con
người. Hiểu biết sâu xa về tính chất bất chợt và không bao giờ hứa hẹn của
cái chết, chúng ta sẽ quyết tâm tu tập Chánh pháp ngay bây giờ. Không muốn
chần chừ chút nào.
Khi mệnh chung chúng ta bỏ lại
sau lưng tất cả những gì chúng ta đang có.
Mặc dầu chúng ta đã lao tâm, lao lực, cực nhọc cả kiếp sống
để gom góp những thứ đó lại rồi đem cất giấu,
vun bồi, rồi bảo quản... nhưng chúng ta không thể mang theo bất cứ vật gì.
Mặc dầu chúng ta có hết lòng săn sóc, nâng
niu cách mấy, khi chết chúng ta cũng phải từ bỏ chúng mà thôi. Ngay
cả cái thân thể mà chúng ta có từ thuở nằm trong bụng mẹ, thế mà chúng ta
cũng phải bỏ nó lại để ra đi. Chỉ có những
dấu vết nghiệp lực đậm nét trong dòng tâm thức của chúng ta sẽ theo
chúng ta đi vào trong kiếp sống mới.
Chỉ có công phu tu tập Chánh pháp là kẻ sẽ trợ giúp khi tử thần
đến để lấy mạng chúng ta. Nhận chân được sự
thật này chính là động cơ để chúng ta
quyết tâm tu tập theo Chánh pháp, chớ không phải tu tập là vì danh
lợi hay thế quyền.
Nói như vậy phải chăng
có nghĩa là người tu Phật không thể có
điều gì vui tươi và luôn luôn phải sống khắc khổ? Không, nghĩ như
vậy là không đúng, không có nghĩa như vậy
đâu. Ðiều muốn nói ở đây là
chúng ta phải tự hỏi: "Cái gì thật sự là lợi lạc cho kiếp sống?"
Chúng ta phải xem xét những động cơ nằm phía
sau những hành động của chúng ta và
kết quả mà chúng ta sẽ mang lại cho kiếp sống hiện tại và kiếp sống kế
tiếp. Làm như vậy chúng ta có thể quyết định
cái gì là lợi lạc và chỉ làm những
điều lợi lạc mà thôi.
Thí dụ chúng ta gian dối trong
kinh doanh với mục đích là có thêm lợi
nhuận để gia đình chúng ta sống trong
giàu sang nhung lụa thì động cơ của chúng ta
là một động cơ vị kỷ. Chúng ta muốn
gia đình chúng ta có hạnh phúc và chúng ta
đã vì hạnh phúc của gia
đình mình mà tước
đoạt hạnh phúc của những người đang bị chúng
ta gian dối. Nói cách khác, chúng ta làm gia tăng
hạnh phúc của mình bằng cách giảm thiểu hạnh phúc của người. Sự
thật ai cũng biết là cả hai bên đều muốn hạnh
phúc và cả hai bên đều xứng đáng có
một đời sống tốt đẹp như nhau. Nếu chúng ta hành
động mờ ám vì
động cơ vị kỷ cá nhân hay vị kỷ gia đình
hay vị kỷ đoàn thể nhóm khối của mình
thì chúng ta đang làm tổn hại người
khác. Mặc dầu gia đình của chúng ta có
thể có thêm một vài món tài sản nào đó, chúng
ta nên tự nhắc rằng những món tài sản như vậy chúng ta cũng không
mang theo bên mình được khi chúng ta mệnh
chung ở kiếp sống này và tái sinh sang kiếp sống kế; nhưng những
dấu vết nghiệp lực vị kỷ và quấy ác mà chúng ta
đã tạo ra khi gian dối sẽ
đi theo chúng ta để báo oán.
Hiểu
được điều này, chúng ta sẽ thấy việc
gian dối người khác là lợi bất cập hại. Chúng ta sẽ xa lánh, không còn
muốn làm những điều gian dối. Gia đình
của chúng ta có thể hơi ít của cải một chút nhưng chúng ta có thể sống
thanh thản với một lương tâm nhẹ nhàng và trong sáng. Những hành vi tươi
sáng (nhờ quyết tâm tránh né những điều gian
dối) sẽ mang lại những lợi lạc trong tương lai.
Chúng ta xem một thí dụ khác:
Nói chuyện phù phiếm, lông bông thường được
xem là một việc tổn hại vì nó hoang phí thời gian. Nếu một người
bạn của chúng ta đang bị chán chường và
không thể nghe được những lời khuyên
sáng suốt, chúng ta có thể nói đùa, kể
những câu chuyện tếu, đi vào những vấn
đề vụn vặt để tạo cảm hứng cho bạn. Vì
động cơ của chúng ta là tốt nên những
câu chuyện chọc cười hay tán gẫu của chúng ta có tính tích cực.
Nụ cười, niềm vui và những phút
giây sảng khoái lành mạnh không hề đối nghịch
lại với Chánh pháp. Càng vứt bỏ lại sau lưng chấp thủ và tức giận,
ganh tỵ và cao ngạo thì chúng ta càng có nhiều nụ cười và niềm vui
đối với những việc chúng ta đã làm và
đang làm. Tấm lòng của chúng ta sẽ
rộng mở đối với tất cả mọi người và
chúng ta có thể mỉm cười dễ dàng và thoải mái. Những bậc hiền trí thánh
thiện mà tôi có duyên may được gặp đều có óc
khôi hài hóm hỉnh, u mặc thâm thuý và thân thiện vô cùng.
Trong những nhóm Phật tử
điều quan trọng là những dịp gặp gỡ
nhau với tinh thần thân hữu. Chúng ta có thể chia sẻ kinh nghiệm với những
người bạn cùng tu theo Chánh pháp và khích lệ nhau trên con
đường tu học. Ðạo Phật không phải là
một con đường độc hành dành cho từng
người một mà là một con đường rộng rãi
cho nhiều người cùng đi vì vậy người
Phật tử nên tổ chức những nhóm trợ tu và xây dựng tình pháp lữ vững bền.
Ðừng nghĩ rằng chỉ cần quay trở
vào cuộc sống nội tâm là đủ lợi lạc.
Ðừng nghĩ rằng: "Vì có mưu cầu hay có chấp trước nên ta mới
đi nói chuyện với người khác". Và
cũng đừng nghĩ rằng: "Ta cứ lo tập
trung vào việc tụng kinh, niệm Phật hay thiền
định và không giao tiếp với ai cả." Một trong những nguyên lý căn
bản của Phật giáo là quan tâm và trải lòng từ ái
đến với những người khác. Mặc dầu có thể có
những lúc chúng ta cần phải sống cách ly khỏi những người khác để ổn định
lại tâm thức trong trường hợp tâm thức của ta quá dao động, rối loạn và
mất tự chủ nhưng bất cứ khi nào có thể được
thì chúng ta nên tích cực làm các công việc
để tăng trưởng lòng từ ái
đối với tha nhân. Ðể làm
được việc này chúng ta phải ý thức
được chuyện gì
đã xảy ra trong cuộc sống của người
khác, quan tâm đến những người khác như quan
tâm đến bản thân và xin được giúp đỡ
người khác bất cứ khi nào có thể được.
Năng lực làm việc với tâm từ ái của chúng ta sẽ theo thời gian mà
tiến triển nhờ vào việc tu tập của chúng ta. Tuy nhiên, nhu cầu làm lợi
cho người khác nên cân bằng với nhu cầu tu tập nội tâm cho bản thân.
Phật giáo không
đối nghịch với việc có của cải vật chất;
không đối nghịch với việc giữ gìn thân thể chúng ta khỏe mạnh;
không đối nghịch với việc rèn luyện
sức cảm hóa hay sức thuyết phục người khác; càng không
đối nghịch với việc quan tâm, săn sóc bạn bè
và thân quyến. Tài sản của chúng ta, thân thể hay thân quyến của chúng ta
không bắt chúng ta làm nô lệ. Nô lệ hay không nô lệ ở
đây là tâm tham chấp, tâm sân hận và
những tâm thái nhiễu loạn khác phát sinh đối
với tài sản, thân thể hay thân quyến. Nếu chúng ta tham chấp
đối với của cải vật chất thì chúng ta
có khuynh hướng nói dối, lừa gạt hay trộm cắp
để có được chúng. Nếu chúng ta có tâm tham chấp như vậy thì chúng
ta sẽ keo kiết giữ lấy tiền của; hoặc là chúng ta sử dụng tiền của một
cách vị kỷ cốt để có danh vị; hoặc là
chúng ta sẽ dùng tiền của để tạo nên
quyền lực khống chế người khác. Tâm tham chấp như vậy che mờ trí óc của
chúng ta, không những tác động xấu đến mối
quan hệ giữa chúng ta với người khác trong hiện tại mà còn ảnh
hưởng đến cảnh giới mà chúng ta tái
sinh vào trong tương lai.
Ngược lại chúng ta có thể nghĩ:
"Ta cần một số tiền bạc và của cải để duy
trì mạng sống của bản thân và gia đình;
ta sẽ làm ăn lương thiện để tạo ra tiền bạc và
của cải; ta sẽ san sẻ tiền bạc và của cải với người khác,
đồng thời dùng tiền bạc và của cải
để hộ trì và xiển dương Chánh pháp."
Với một động cơ như vậy chúng ta sẽ có một
đời sống đạo đức, sẽ tạo được thiện nghiệp tức là tạo
được những dấu ấn nghiệp lực tươi sáng trong
dòng chảy tâm thức bằng tâm hồn rộng rãi bao dung. Hơn nữa, chúng
ta sẽ cảm thấy nhẹ nhàng trong lòng vì chúng ta sẽ không còn xan tham và
keo kiết nữa.
Nguy cơ tái sanh vào cõi ác
Sau khi chết chúng ta sẽ tái
sinh về đâu? Theo quan điểm của Phật giáo thì
điều này tùy thuộc vào hành
động của chúng ta khi chúng ta còn
đang sống và tùy thuộc vào những
nghiệp đã chín muồi vào lúc chúng ta
mệnh chung. Nếu chúng ta sân hận trong lúc từ trần hoặc chúng ta quá tham
tiếc của cải và quyến luyến người thân thì nghiệp lực u mê sẽ tăng
trưởng và chín muồi rồi lôi kéo chúng ta tái sinh vào những cảnh
giới có nhiều khổ não. Nếu khi chết mà chúng ta nhớ
đến Tam Bảo hay thí xả mạng sống của chúng ta
vì lợi lạc cho tha nhân thì những nghiệp lực tươi sáng sẽ
đưa chúng ta tái sinh vào những cảnh
giới tốt đẹp.
Có 6 cảnh giới của sinh linh
trong vòng luân chuyển sinh tử chia làm hai loại chính: (1) Những người có
phúc lạc là chư thiên, chư thần và loài người; (2) những kẻ vô phúc bạc
phần là thú vật, quỷ đói và những
người phải nhận những khổ đau cùng
cực. Có vẻ như là kỳ quặc khi nghĩ rằng chúng ta có thể tái sanh vào trong
những cảnh giới với thân thể như vậy nhưng nếu xem xét lại tâm thức của
mình thì chúng ta sẽ thấy rằng chuyện đó có
thể xảy ra.
Thí dụ,
đôi khi loài người chúng ta hành
động và suy nghĩ tương tự như loài thú
và nhiều khi còn tệ hơn nữa. Chúng ta có thể tham lam và cướp
đoạt, hung bạo và mê muội giống như
một số loài cầm thú. Trong khi cầm thú chỉ giết hại nhau
để có miếng ăn hay để tự vệ thì nhiều
khi con người lại giết hại mạng người vì một cơn giận dữ, vì thù hằn hay
vì tham muốn. Nếu con người nào hành động như
vậy thì lẽ tự nhiên là lúc chết tâm thức của người ấy sẽ bị lôi
cuốn và nhập thai vào những dạng thân thể phù hợp tương thích với tâm thái
đó.
Những cảnh giới bất hạnh như
địa ngục hay những thân thể thấp kém như cầm
thú không phải được tạo dựng lên để
trừng phạt những người đã và đang làm
những việc độc ác. Ðức Phật với lòng
từ bi vô lượng không tạo ra những cảnh giới
đó, Ngài cũng không phán xét và kết tội chúng ta vì những hành
động ác quấy mà chúng ta
đã làm. Những cảnh giới
đó chính là do tâm thức của chúng ta
tạo dựng ra rồi nghiệp lực của chúng ta đưa
chúng đến sống trong đó mà thôi. Nhà hiền trí Ấn Ðộ, Shantideva
nói:
Lửa, lửa mênh mông
Cả mặt đất biến thành mặt thép nung cháy bỏng
Ðâu có một ai xây đắp tạo ra
Chỉ có tư tưởng tổn hại trong tâm thức chúng ta
Ðã tạo dựng và xây lên như thế
Tất cả những kinh hoàng
Ðang diễn ra trên thế gian
Chỉ vì tâm niệm tà ác gian tham mà có
Nếu chế ngự được rồi những điên loạn đó
Trong tâm thức phàm phu mê đắm
Thì vòng sinh tử tử sinh khổ não đâu còn.
Trong kiếp sống này và những
kiếp sống trước chúng ta đã làm nhiều
điều có tốt có xấu và những dấu vết
nghiệp lực vẫn còn hằn sâu trong dòng tâm thức của chúng ta. Nghĩ nhớ
đến chúng mà phát sợ nếu phải tái sinh
vào những cảnh giới bất hạnh do những hành
động quấy ác đã làm. Chúng ta tìm cầu sự cứu giúp
để thoát khỏi viễn cảnh rối loạn khổ đau như
vậy. Nhận thức rằng Ba Ngôi Báu có thể dẫn đường cho chúng ta đi đến chỗ
an vui, chúng ta tìm về quy ngưỡng.
Quy y Tam Bảo
Quy y có nghĩa là nương tựa và
tuân phục theo sự hướng dẫn tâm linh của chư Phật, Giáo Pháp và Tăng-già.
Nhận thức được rằng Ba Ngôi Báu với những
phẩm tính cao thượng thù thắng có thể dẫn dắt chúng ta thoát khỏi
hiểm họa tái sinh vào cõi đọa đày, chỉ
cho chúng ta con đường đưa đến hạnh phúc cho
hiện tại và tương lai, chúng ta quay về nương tựa và tuân phục theo
sự hướng dẫn của Ngôi Tam Bảo.
Chư Phật là những vị
đã hoàn toàn
đoạn trừ những tâm thái nhiễu loạn; đã
đoạn trừ tất cả sức mạnh của nghiệp lực và
những u mê trong dòng chảy của tâm thức. Chư Phật cũng
đã phát triển toàn vẹn những phẩm tính
tốt đẹp thù thắng. Chư Phật có tâm từ
ái, bao dung, có trí tuệ rộng lớn và những pháp môn phương tiện
để chỉ bày cho chúng ta con
đường hạnh phúc mà chính bản thân chư
Phật đã theo con
đường đó mà
đến được mục đích an vui.
Những vị Phật mà chúng ta biết
được đã từng có thời gian là những
người chưa giác ngộ như chúng ta ngày nay. Những vị ấy cũng
đã từng bị trói buộc trong mạng lưới
sinh tử tử sinh như chúng ta; đã từng
bị khổ não vì tham muốn, sân hận và si mê y hệt như chúng ta. Tuy nhiên do
nhờ tu tập theo con đường đạo chư Phật đã
thanh lọc được tâm thức, đã phát triển
những phẩm tính thù thắng tốt đẹp, đạt đến
chỗ giác ngộ viên mãn tối thắng. Chúng ta hoàn toàn có thể
đạt được những điều tối thắng như vậy nếu
chúng ta thực hành theo những lời giáo huấn của Ðức Phật Bổn Sư
Thích-ca. Qua những lời giáo huấn đó,
Ðức Phật đã truyền
đạt lại kinh nghiệm mà chính bản thân
Ngài đã trải qua cho thế hệ của chúng
ta.
Ðức Phật Thích-ca Mâu-ni
đã sống cách
đây 2.500 năm là vị Phật giáo hóa
trong Hiền kiếp mà chúng ta đang sống. Tuy
nhiên, còn có nhiều vị Phật khác mà chúng ta có thể quy y theo. Ðó
là những vị Phật sống trong những thế giới thanh tịnh tức là những cảnh
giới do chư Phật dùng công đức của thiện
nghiệp để kiến tạo ra. Chư Phật cũng có thể hiện thân vào thế giới
này dưới nhiều hình thức khác nhau để tiện
việc hóa độ vạn loại sinh linh. Các Ngài không biểu lộ ra là Phật
mà chỉ xuất hiện như người bình thường. "Những người bình thường" ấy dùng
những công hạnh và những lời giáo huấn phù hợp
để dẫn dắt chúng ta tiến lên trên con
đường đạo.
Chư Phật là những vị
đạo sư đầy đủ tư cách nhất vì các Ngài
đã tự mình hoàn toàn vượt qua khỏi
vòng sinh tử mê muội khổ đau. Vì vậy
mà trí tuệ, từ bi và các pháp môn phương tiện mà chư Phật dùng
để giáo hóa chúng sinh đã
được chính những thành tựu mà Ðức Phật
đạt được làm bảo chứng. Những pháp môn
phương tiện đó nhiều vô lượng, vô số, không
có giới hạn. Vì nghiệp lực và các tâm thái nhiễu loạn nên những
"thần thánh thế gian" không có thể bảo chứng cho những lời mà họ biện
thuyết; những "thần thánh thế gian" chưa thoát khỏi vòng sinh tử khổ
đau và cũng không
đủ năng lực để có thể dẫn dắt chúng ta đi đến
chỗ giải thoát sinh tử khổ đau một cách viên mãn tối thắng
được.
Hơn nữa, chư Phật lại có vô số
phương tiện thiện xảo để giáo hóa chúng ta
một cách hiệu quả. Trong Thánh điển Phật giáo có ghi lại nhiều mẩu chuyện
kể về những người cực kỳ ngu mê, sân giận hay tham lam
đã được
Ðức Phật giáo hóa. Những người đó vẫn
đạt được giải thoát viên mãn cao nhất.
Chư Phật có lòng
đại từ, đại bi, chắc chắn là chư Phật
sẽ cứu độ chúng ta. Chư Phật lại có tâm bình
đẳng nên các Ngài giáo hóa chúng ta mà
không hề bận tâm tới việc chúng ta thuộc phe nào và
đã đối xử
với các Ngài như thế nào. Chư Phật không hề có tâm phân biệt
để "bên trọng bên khinh" như hàng phàm
phu chúng ta. Chư Phật cũng không cảm thấy bị xúc phạm vì bị người ta chỉ
trích hay cảm thấy hãnh diện vì được người ta
tán dương ca ngợi.
Sự cứu
độ của chư Phật trải đều đến cho tất cả chúng
ta một cách bình đẳng giống như ánh
sáng mặt trời chiếu soi mọi phương hướng. Tuy nhiên, ánh sáng mặt
trời không thể nào chiếu soi vào cái bình đậy
nắp, hay cái bình lật úp miệng xuống
đất. Cũng vậy, hào quang giác ngộ của chư Phật không thể nào soi
sáng được những chúng sinh có quá nhiều pháp
chướng ngại và quá ít nghiệp tốt. Nếu sau
đó cái bình
được mở nắp ra hay được lật trở lên
thì ánh sáng mặt trời sẽ rọi vào dễ dàng. Như vậy,
điều quan trọng đối với chúng ta là
đoạn trừ những pháp chướng ngại trong tâm và
làm cho tâm thức của chúng ta có khả năng
tiếp nhận trí tuệ của chư Phật một cách tốt đẹp nhất.
Quy y Pháp là hướng về 2 thánh
đế sau của Tứ thánh đế, tức là Diệt
thánh đế và Ðạo thánh
đế (nói dễ hiểu hơn là trạng thái giải
thoát và con đường đưa đến trạng thái giải
thoát đó). Nói cách khác, Chánh pháp là nội dung của những chứng
ngộ, của con đường dẫn đến sự diệt khổ và
diệt hết những nhân tố ngọn nguồn tạo ra khổ nằm trong dòng tâm thức của
những người đã trực tiếp giác ngộ
được tánh không. Theo nghĩa tổng quát hơn,
Chánh pháp chỉ cho những lời Phật dạy.
Có thể nói rằng Chánh pháp mới
là chỗ quy y thật sự. Ðiều này có nghĩa là những chứng ngộ (tức là: hiểu
biết như thật) và những đoạn diệt (tức là:
không còn khổ và không còn nhân tố sinh ra khổ) mà chúng ta chứng
đạt được chính là nơi nương tựa thật
sự cho chúng ta. Chư Phật chỉ trình bày cho chúng ta biết con
đường đạo; Tăng-già cung cấp cho chúng
ta những khuôn mẫu sống động và chỉ
dẫn cho chúng ta tu tập đúng Chánh pháp.
Nhưng chính sự chứng ngộ thật sự của chúng ta (chỗ quy y thật sự) mới trực
tiếp diệt trừ những nỗi đau khổ và sự u mê của chúng ta.
Tăng-già
chỉ cho những người - xuất gia hay tại gia -
đã trực tiếp chứng ngộ về tánh không bao gồm những vị A-la-hán,
Thanh Văn, Duyên Giác và những vị Bồ
Tát. Vì những vị này đã nhận thức
được thực tại như thật nên có thể giúp
cho chúng ta nhận thức được thực tại như thật
đó.
Theo nghĩa kinh
điển hơn thì Tăng-già
chỉ cho những cộng đồng các vị Tỷ-kheo và
Tỷ-kheo-ni, những người đã dành hết
cuộc đời cho việc tu tập và thực hành
thánh đạo, mặc dù từng cá nhân thì có
vị đã chứng
đạt, có vị vẫn chưa chứng đạt. Mỗi cá nhân vị
tăng hay vị ni là những hành giả đang
đi trên con đường đạo. Do vậy, chúng
ta không nên đinh ninh cho rằng đó là
những vị đã hoàn hảo.
Những vị thánh Phật giáo như Bồ
Tát Quán Âm, Bồ Tát Văn Thù có thể xem
là những vị Phật hay là những vị Bồ Tát Tăng-già.
Chúng ta có thể bày tỏ lòng kính ngưỡng và thờ phụng những vị này theo
nhiều cách.
Cách thứ nhất là xem hai vị Bồ
Tát trên là những người có thật trong lịch sử và chúng ta có thể tìm thấy
tiểu sử sống động trong kinh điển. Kính
ngưỡng và thờ phụng theo cách này giúp cho chúng ta cảm thấy phấn
chấn vì hình dung ra được những mẫu mực mà
hai vị Bồ Tát đã thể hiện trong
đời sống cụ thể. Ðiều này khích lệ
chúng ta nương theo đó mà hành trì và
tu tập.
Có một cách khác
để kính ngưỡng và phụng thờ là xem
những vị thánh này biểu trưng cho những phẩm tính cao thượng thù thắng.
Theo cách này chúng ta có thể hiểu rằng Bồ Tát Quán Âm biểu trưng cho tâm
từ bi và Bồ Tát Văn Thù biểu trưng cho
trí tuệ của tất cả chư Phật. Bồ Tát Quán Âm và Bồ Tát Văn
Thù đều có chung những chứng ngộ như
nhau vì tâm thể viên thông vô ngại của chư Phật có cùng những phẩm
tính và nhận thức như nhau. Tuy nhiên, ở đây
mỗi vị có thể được xem là biểu trưng cho mỗi phẩm tính riêng biệt
cụ thể.
Ðôi khi, qua ngôn ngữ và khái
niệm, chúng ta cảm thấy khó lòng hiểu được
thế nào là đại từ bi và tâm
thức đại từ bi đó có tính cách bình
đẳng, bao hàm tất cả chúng sinh như
thế nào. Nhưng khi phẩm tính đại từ bi này
được trình bày bằng hình tượng biểu
trưng và có nghệ thuật thì chúng ta có thể hiểu nhanh chóng và có ấn tượng
sâu sắc trong tâm thức. Hình tượng sắc thân cụ thể của Bồ Tát Quán Âm với
nhiều cánh tay dang rộng để giúp đỡ mọi người
và với nhiều con mắt bao dung từ ái để
thấy được mọi niềm đau của chúng sinh. Chiêm ngưỡng hình tượng Bồ
Tát nhắc nhở chúng ta về tâm đại từ đại bi.
Chúng ta tọa thiền quán chiếu về Bồ Tát Quán Âm là
để phát triển tất cả những chứng ngộ nhưng
đặc biệt là phát triển tấm lòng từ ái bao la mà Bồ Tát Quán Âm là
một biểu thị sống động.
Khi một người nào
đó thành Phật thì người
đó có thể thị hiện trong hình thức của
bất cứ một vị thánh nào. Như vậy, tâm thức viên thông của một vị Phật có
thể đồng thời xuất hiện trong hình
dạng Bồ Tát Quán Âm để làm lợi lạc cho
một số người hữu duyên, trong hình dạng của Bồ Tát Văn
Thù để làm lợi lạc cho một số
người khác, hoặc là trong hình dạng của người thầy
đang dạy chúng ta, của một con vật hay ngay
cả trong hình dạng của một số vật vô tri như cây cầu, chóp núi,
dòng sông. Một khi mà dòng tâm thức của chúng ta
được tịnh hóa và
được tu tập đầy đủ thì chúng ta có khả
năng hóa hiện ra dưới nhiều hình dạng
khác nhau để làm lợi lạc cho tha nhân
và đưa họ đi đến chỗ giác ngộ.
Cách thứ ba
để chiêm bái và phụng thờ những vị
Thánh là xem những vị đó chính là hạt
giống Phật của chính chúng ta. Chúng ta cần phát triển những hạt giống
đó một cách viên mãn trong tương lai.
Khi chúng ta quay về Ðức Phật để được giáo
hóa thì chúng ta tự nhắc nhở rằng vị Phật mà sau này chúng ta sẽ
trở thành chính là vị Phật sẽ gia hộ cho chúng ta thoát khỏi khổ ách. Ðiều
này thôi thúc chúng ta niệm tưởng và tu tập những hạt giống Phật
đang hiện hữu trong bản thân chúng ta ngay
bây giờ.
Có một hình ảnh tương
đồng được dùng
để minh họa mối liên hệ giữa Ba Ngôi
Báu: Chúng ta giống như một người bệnh đang
bị đau đớn và những nhân tố của đau
đớn hành hạ. Ðức Phật là một người thầy thuốc chẩn
đoán và kê toa cho chúng ta. Giáo pháp
là thuốc. Và, Tăng-già là những y tá
giúp cho chúng ta dùng thuốc để cho chúng ta
lành bệnh, được an vui và hạnh
phúc.
Nghiệp: Nguyên tắc nhân quả
Vị thuốc
đầu tiên mà Ðức Phật chỉ
định cho chúng ta là quán sát nghiệp
lực và thực hiện quá trình chuyển hóa nghiệp lực, tức là chúng ta phải từ
bỏ những hành động tổn hại và thực
hiện những hành động lợi lạc. Ðức Phật
đã dạy về 10 nghiệp tổn hại mà chúng
ta đã diễn giải trong chương trước
đây. Nghiệp lực cũng được trình bày
trong chương "Tâm Thức Là Kẻ Tạo Tác Ra Những Cảm Thọ Của Chúng Ta." Có 4
đặc điểm chính của nghiệp:
1. Nghiệp
được định nghĩa. Khi chúng ta gieo những hạt
của quả táo thì cây táo mọc lên chớ không phải cây cam. Tương tự
như vậy, khi chúng ta hành động trong sáng thì
hạnh phúc phát sinh chớ không bao giờ là đau
khổ.
2. Nghiệp có thể mở rộng. Một
cái hạt mầm nhỏ có thể phát triển thành một cây to có nhiều quả, cũng y
như vậy những hành động nhỏ có thể gây ra
những kết quả to lớn. Vì vậy, chúng ta nên cố gắng tránh những hành
động đen tối nhỏ và cố gắng làm những
hành động trong sáng nhỏ.
3. Nếu không tạo nhân thì không
bao giờ có quả. Nếu không gieo hạt thì không có cây. Một người
đã không có gây tạo nhân
để có quả là bị giết thì người ấy sẽ
không chết ngay cả khi người ấy bị tai nạn.
Giống như vậy, nếu chúng ta
không tạo ra những nhân tố để có thể chứng
ngộ được con đường đạo thì chúng ta sẽ không thể nào chứng
đạo được. Nếu chúng ta không làm gì cả
để tạo ra những nhân tố chủ yếu và
những nhân tố trợ duyên mà chỉ đơn thuần cầu
xin Ðức Phật thì chúng ta sẽ không đạt
được kết quả mong muốn. Những người cầu xin cho có được tiền của nhưng rốt
cuộc vẫn nghèo xơ xác; những người ấy giống như một thí sinh cầu
cho thi đậu mà không chịu học bài.
Chúng ta phải tạo ra những nhân tố thích hợp tương ứng thì mới có kết quả
tương ứng như ý. Cần nhận thức rằng cầu nguyện chỉ có công năng
định hướng và công năng thúc giục
những nhân tố mau trổ quả mà thôi.
4. Nghiệp dù thiện, dù ác
đều không bị mất: Nếu chúng ta hành
động trong sáng, tích cực thì kết quả
hạnh phúc sớm muộn gì cũng phải xuất hiện. Khi chúng ta hành
động đen tối, những dấu ấn xấu không bao giờ
mất đi mặc dù chúng không đưa đến kết
quả ngay tức thì.
Qua việc học hỏi và chiêm
nghiệm, chúng ta có thể đạt được một nhận
thức rõ ràng về chức năng của nghiệp
lực. Mặc dầu chúng ta không thể vượt thoát khỏi vòng nhân quả trong
sự vận hành của nghiệp lực nhưng cơ cấu nghiệp lực không phải là những quy
luật mang tính chất cố định, bất di bất dịch.
Nghiệp lực có tính chất lưu thông và linh
động. Bản chất của nghiệp không phải là
một cái khuôn cứng ngắc nên chúng ta có thể thay
đổi nghiệp lực. Thí dụ, đối với những nghiệp
tốt mà ta đã tạo nên rồi, nhưng
sau đó nếu chúng ta nổi giận hay đang chấp
thủ một tà kiến thì những nghiệp nhân tốt
đẹp bị cản trở, không phát triển và
trổ quả được. Ðối với những nghiệp xấu
mà ta đã lỡ tạo nên, nhưng sau
đó, nếu chúng ta biết thanh lọc những dấu ấn
đen tối của chúng trong tâm thức thì chúng ta có thể ngăn
cản hay khống chế hoàn toàn không cho những nghiệp xấu ác
đó trổ ra quả đau khổ.
Người sáng suốt là người biết
tu tập 4 năng lực đối nghịch để thanh lọc
những nghiệp u ám, quấy ác:
1. Hối lỗi
đối với những hành
động gây tổn hại mà chúng ta
đã làm rồi. Với trí tuệ, chúng ta có ý
thức và thừa nhận những sai lầm của chúng ta. Hối lỗi khác với mặc cảm.
Mặc cảm phát sinh từ quan niệm sai lầm và có tác dụng làm trì trệ tâm hồn
của chúng ta. Ngược lại, hối lỗi phát sinh khi ta công tâm
đánh giá những hành
động mà chúng ta
đã làm. Tác dụng của hối lỗi là giúp
cho chúng ta rút được bài học kinh
nghiệm từ những sai lầm mà chúng ta đã
phạm phải.
2. Quy y và khởi tâm xả thân bố
thí. Khi chúng ta đã lỡ có hành
động gây tổn hại cho những vị hiền thánh hay
người nào rồi thì nhờ vào việc quy y Ba Ngôi Báu mà chúng ta có thể
khôi phục mối quan hệ với những vị hiền thánh; và nhờ vào việc tu tập lòng
thương, tâm từ bi và hạnh xả thân bố thí mà chúng ta có thể khôi phục mối
quan hệ với người ấy.
3. Hạ quyết tâm không làm những
hành động tiêu cực,
đen tối trong tương lai. Quyết tâm càng
mạnh mẽ thì chúng ta càng dễ dàng tránh được
thói quen làm những việc tổn hại.
4. Tham gia vào công việc chữa
trị những quấy ác đã lỡ làm, tức là
làm bất cứ việc tốt nào như giúp người đang
cần giúp; làm các việc công quả cho hội chúng; nghe pháp, quán
chiếu hay thiền định về Chánh pháp; lễ bái
hay cúng dường Ba Ngôi Báu; ấn tống kinh sách v.v...
Tất cả những
điều đã trình bày ở trên là bước thứ
nhất dành cho những người nguyện có một đời
sống tương lai tốt đẹp. Có thể tóm tắt những điều trên như sau: quy
y Tam Bảo và quán sát nguyên lý nhân quả, tránh những hành
động tổn hại và thực hiện những hành
động tích cực lợi lạc.
b. Bước thứ hai - Ước mong
được giải thoát
Trong bước
đầu, nội dung tu tập chủ yếu của một hành
giả là chuẩn bị bản thân để có thể chết một
cách thanh thản và tái sinh về cảnh giới an lạc. Mặc dầu
điều này dường như có tính chất hướng
vọng tương lai và lãng quên hạnh phúc hiện tại nhưng sự thật thì ngược
lại. Do việc lưu tâm đến kiếp sống tương lai,
chúng ta có ý thức hơn về những việc xảy ra trong hiện tại vì những
gì chúng ta làm trong hiện tại sẽ tạo ra những kết quả mà chúng ta sẽ có
được trong tương lai.
Cũng vậy,
để tránh những hành
động tổn hại, chúng ta sẽ hăng hái chế ngự
tâm chấp thủ, sân hận, nhỏ mọn, cục bộ... Chúng là
động cơ đưa đến những hành
động tổn hại. Nếu chúng ta làm
được như vậy thì
đời sống trong hiện tại của chúng ta không còn
nặng gánh lo âu, nhiệt não và tán loạn do những tâm thái nhiễu loạn tạo
nên nữa. Ðiều có vẻ nghịch lý là chúng ta càng quan tâm
đến kiếp sống tương lai thì chúng ta
càng sống một cách có ý nghĩa hơn trong hiện tại.
Qua một thời gian chân chánh tu
tập, chúng ta có thể nhận thức được rằng: "Ngay
cả khi ta có một kiếp sống nhiều phúc lạc trong tương lai, ta vẫn còn tiếp
tục chịu sự chi phối của luân hồi. Như vậy kiếp sống phúc lạc có hoàn mãn
không?"
Kiếp sống nhiều phúc lạc chỉ là
một phương tiện đối đãi
để ứng phó tạm với những nỗi đau khổ của kiếp
sống con người mà thôi. Trong kiếp sống
đó chúng ta vẫn còn bị ràng buộc với
chuyện sinh tử tử sinh và những chuyện mà không ai ưa thích như bệnh tật,
già nua và tử vong. Chẳng có kiếp sống nào là an toàn lâu bền cả vì mỗi
kiếp sống, ngay cả một kiếp sống đệ nhất
phước báu đi nữa cũng phải có ngày chấm hết. Bị khuynh
đảo và cai quản bởi những tâm thái
nhiễu loạn nên chúng ta thăng trầm lăn lộn
với những rắc rối của kiếp sống con người, rồi mai đây khi bước sang kiếp
sống khác chúng ta tiếp tục thăng trầm lăn lộn với những rắc rối mới phát
sinh.
Biết
được như vậy, chúng ta mới có quyết tâm vượt
thoát khỏi sự ràng buộc của sinh tử, mong muốn bỏ lại sau lưng vòng
luân hồi thăng trầm lên xuống, hướng
tâm đến sự giải thoát, một trạng thái an nhiên
tĩnh lặng thường hằng xây dựng trên nền tảng của trí tuệ. Ðể
đạt đến trạng thái này chúng ta phải
nỗ lực để rèn luyện một dạng trí tuệ
sắc bén đủ sức cắt tận gốc rễ của vô minh.
Thông thường,
đối với những người thuộc căn cơ bậc trung thì
Tứ thánh đế và Bát thánh
đạo là giáo lý thích hợp. Những giáo
lý này đã
được trình bày ở chương trước nên ở
đây chúng ta chỉ tóm lược lại mà thôi. Thật ra, giáo lý Tứ thánh
đế và Bát thánh
đạo không phải nằm trong phạm vi của căn cơ
bậc trung mà thôi vì những giáo lý này còn bao hàm một số yếu tố
của bậc căn bản và cả bậc thượng.
Quán chiếu Tứ thánh
đế khiến cho chúng ta phát khởi quyết tâm
thoát khỏi vòng sinh tử luân hồi. Ba pháp tu học cao thượng (đã
trình bày ở chương trước) là pháp môn chủ yếu hướng
đến sự giải thoát.
c. Bước thứ ba - Tầm cầu giác
ngộ để lợi lạc quần sinh
Ở cấp
đầu tiên, hành giả tu tập bản thân
chuẩn bị cho lúc mệnh chung và cho những kiếp sống tương lai. Việc này
khiến cho cuộc sống có lý tưởng và có ý nghĩa hơn. Sau một thời gian, khi
nhận thức đã phát triển cao hơn, hành
giả nhận thấy rằng việc tái sinh vào cảnh giới phúc lạc vẫn không có
được hạnh phúc lâu dài. Ðến giai
đoạn này mục tiêu của hành giả
được nâng lên. Hành giả có ý muốn hoàn
toàn thoát khỏi cảnh sinh tử luân hồi. Thế là hành giả bắt
đầu tu tập theo cấp trung gian với mục đích tìm
cầu sự giải thoát.
Kế tiếp, hành giả có thể
đánh giá lại mục tiêu
đang có của mình, và tự hỏi: "Hoàn
mãn chăng khi đã
đạt được sự giải thoát cho bản thân của mình?
Còn những người khác thì sao?" Lúc bấy giờ trong tâm của hành giả khởi
lên ý thức về trách nhiệm phổ quát đối với sự
khang lạc của tất cả chúng sinh. Thế là hành giả phát nguyện tu tập
tâm Bồ đề tức là ý hướng xả thân bố
thí: đạt đến giác ngộ vì lợi lạc quần
sinh.
Ðức Phật dạy hai phương pháp
để tu tập tâm xả thân bố thí. Phương pháp thứ
nhất là 7 pháp nhân quả; bảy pháp này
được Ngài Di lặc và Vô Trước chú trọng. Phương pháp thứ hai là pháp
hoán chuyển tự tha. Phương pháp thứ hai này
được vị đạo sư Ấn Ðộ Shantideva giảng giải. Ðể ngắn gọn, ở
đây chúng ta chỉ bàn
đến 7 pháp nhân quả mà thôi.
Trước khi tu tập 7 pháp nhân
quả hành giả cần phải tu tập tâm xả, tức là tâm bình
đẳng đối với tất cả chúng sinh, tâm này
không còn tính chất tham luyến đối với người
thân yêu, ghét giận đối với người oán
nghịch và bàng quan đối với người xa
lạ. (Người oán nghịch ở đây có nghĩa là người không
đồng thuận với ta hay người làm cho ta
khó chịu.)
Khi nào chúng ta còn có thái
độ phân biệt rõ rệt giữa những người
thân yêu, người oán nghịch và người xa lạ thì chúng ta không thể nào có
được tấm lòng thương yêu chan hòa
đối với mọi người. Vì vậy, tâm xả
không những hóa giải những trạng thái rắc rối
đối với tha nhân mà còn là nền tảng để
rèn luyện lòng thương yêu và tâm từ ái
đúng nghĩa đối với mọi người.
Thái
độ chấp thủ, thù ghét và bàng quan
đối với tha nhân phát triển mỗi khi chúng ta
chỉ nhìn những đặc điểm hời hợt nhất
thời bên ngoài của họ. Thí dụ, hôm nay anh Nguyễn tặng cho chúng ta
một món quà và anh Ngô đàm tiếu về
chúng ta, thế là chúng ta xem anh Nguyễn là người bạn và anh Ngô là kẻ
thù. Ngày mai, anh Ngô tặng cho chúng ta một món quà và anh Nguyễn nói xấu
chúng ta. Thế là cảm xúc của chúng ta bất chợt thay
đổi, xem anh Ngô là người bạn còn anh
Nguyễn là kẻ thù.
Trong thực tế, cả anh Nguyễn và
anh Ngô đều hành
động tương tự như nhau, như vậy thì
làm thế nào chúng ta có thể nói rằng người này
đúng là bạn và người kia
đúng là kẻ thù? Nếu chúng ta có tầm
nhìn vượt qua những hành động mà hai
người thể hiện thì chúng ta sẽ thấy rằng cả hai
đều có những phẩm tính tốt đẹp và cả
hai đều có những nhược điểm. Như vậy, có tâm
thái tham trước đối với một người vì thấy người ấy "tốt" và có tâm
thái oán ghét đối với người kia vì
thấy người kia "xấu" là một cách ứng đối
không phù hợp với thực tế.
Hơn nữa, mối quan hệ giữa ta
với người thân, kẻ thù, và người dưng có tính chất nhất thời. Khi ta mới
được sinh ra, anh Nguyễn và anh Ngô
đều là người dưng và ta dửng dưng
đối với cả hai. Sau đó anh Nguyễn trở thành
người thân kế tiếp trở lại thành kẻ thù, trong khi sự kiện
đối với anh Ngô thì ngược lại. Mối
quan hệ giữa ta với anh Ngô và anh Nguyễn có khuynh hướng tiếp tục biến
chuyển. Có thể anh Nguyễn trở lại làm người thân hay một người xa lạ, và
anh Ngô trở lại làm một kẻ thù hay một người dửng dưng nào
đó.
Trong vòng sanh tử luân hồi,
trải qua vô số tiền kiếp, mỗi người chúng ta
đã từng là một người bạn, một kẻ thù và một người dưng nào
đó trong một thời gian cụ thể. Mối quan hệ
của chúng ta với tha nhân là một dòng biến thiên không ngừng. Vì
vậy, thái độ tham trước, thù ghét hay
dửng dưng đối với tha nhân là không
thích đáng. Ðức Phật dạy:
Ðối với người có thái
độ thù nghịch chúng ta trong hiện tại
thì nên nhớ rằng người ấy đã từng là
người mẹ, người cha, người bạn, người anh và người chị mà chúng ta từng
thương yêu quý mến trong chập chùng kiếp sống xa xưa. Những người
đang làm lợi lạc cho chúng ta hôm nay
nên nhớ họ cũng đã từng là những kẻ
thù oan nghiệt của chúng ta. Vì vậy chúng ta hãy bỏ
đi thái độ tức giận đối với những người làm
hại mình, hãy bỏ đi thái độ tham luyến đối
với những người mà chúng ta yêu thích và hãy mở rộng lòng thương
đối với vạn loại sinh linh một cách bình
đẳng đại đồng.
Nhờ nhận thức
được rằng không có một người nào là
người thân, kẻ thù hay người dưng một cách bẩm sinh và cố
định mãi mãi nên chúng ta thoát khỏi
những trạng thái u mê của tham luyến, của thù ghét và của dửng dưng. Cũng
chính nhận thức ấy giúp cho chúng ta có được
một tấm lòng đôn hậu, bình
đẳng thương yêu, trải rộng
đến tất cả mọi người. Chúng ta sẽ không còn
có cảm giác xa lạ đối với bất cứ người nào
và cũng không còn cảm giác lo âu sợ rằng mọi người sẽ bỏ mặc chúng ta.
Trên nền tảng bình
đẳng này, chúng ta có thể xây dựng ý
hướng xả thân bố thí thông qua 7 pháp nhân quả. Sau
đây là 6 pháp nhân
đầu tiên:
1. Nhận thức rằng tất cả chúng sinh là người mẹ của chúng ta.
2. Ghi nhớ về những điều tốt đẹp mà người mẹ đã dành cho chúng ta.
3. Mong muốn đền đáp lại những điều tốt đẹp mà người mẹ đã làm cho chúng
ta.
4. Tình thương.
5. Lòng từ.
6. Quyết tâm.
Sáu pháp nhân này sẽ kết tụ
thành pháp thứ bảy, tức là tâm xả thân bố thí hay Bồ
đề tâm.
Chấp nhận rằng tất cả sinh linh
từng là mẹ của chúng ta
Bước
đầu tiên là chấp nhận rằng tất cả sinh
linh từng là mẹ của chúng ta. Trong pháp thiền quán này, người mẹ
được chọn lựa để làm
đối tượng tu tập vì nói chung
đó là hình tượng mà người ta cảm thấy
gần gũi nhất. Tuy nhiên, nếu chúng ta không có tình cảm tốt
đẹp với người mẹ, chúng ta ta có thể chọn
người cha, ông bà, hay một người nào thân ái trong thời thơ ấu của
chúng ta.
Chấp nhận rằng tổng số những
chúng sinh vô lượng kia đã từng là mẹ
của mình khiến cho chúng ta phải đối mặt với
việc vượt ra khỏi tầm hạn hẹp của nếp nghĩ hiện tại. Trước hết chúng ta
phải nhận thức rằng có tái sinh, nghĩa là, con người của chúng ta
ngày nay lẩn quẩn trong chuỗi sinh rồi diệt diệt rồi sinh trong vô số hình
hài khác nhau, thân tướng khác nhau kể từ vô thủy.
Nếu khó có thể tưởng tượng ra
rằng (trong chuỗi kiếp sống trên) chúng ta đã
từng không phải là chúng ta trong hiện tại thì tốt hơn là chiêm nghiệm
những đổi thay của chúng ta ngay trong kiếp
sống này. Hãy hình dung lại con người chúng ta ngày nay
đã có những cảm nhận khác như thế nào
so với con người chúng ta thời thơ ấu: thân thể chúng ta dĩ nhiên
đã có nhiều
đổi khác rồi, nhận thức của chúng ta về thế
giới càng có nhiều đổi thay khác biệt
hơn nữa. Hầu như chúng ta có cảm nhận rằng đứa trẻ ngày xưa là ai
khác chớ chẳng phải ta, chẳng can hệ gì với con người của ta, con người
đã trưởng thành và có nhiều năng
lực như ngày nay.
Ngược lại, nếu chúng ta mường
tượng ra về sau chúng ta sẽ là một ông già 90 tuổi thì dường như là cái
ông già quên trước quên sau, dáng lom khom, chậm chạp
đó chẳng có can dự gì với chúng ta
trong hiện tại. Thế mà, đứa trẻ ngày
xưa, chúng ta ngày nay và cái ông già trong tương lai
đó là một dòng chảy liên tục. Chúng ta
là cả ba người đó, nếu không có chuyện gì
bất chợt cắt ngang.
Nếu nhìn trong một trục thời
gian dài hơn, phổ quát hơn, vượt ngoài kiếp sống hiện tại thì diễn tiến
cũng tương tự như vậy. Tâm thức chúng ta đã,
đang và sẽ hiện diện trong nhiều thân
thể khác nhau. Chúng ta đã trải qua
nhiều kiếp sống. Như thế chúng ta từng có nhiều người mẹ mang nặng
đẻ đau và nuôi dưỡng cho chúng ta khôn
lớn trong vô số những kiếp quá khứ. Người mẹ của chúng ta trong kiếp sống
hiện tại không phải kiếp nào cũng là mẹ của chúng ta, vì trong những kiếp
quá khứ chúng ta có thể đã sinh ra ở
một nơi và người mẹ kiếp này sống ở một nơi khác. Như thế, có nhiều người
khác đã từng là mẹ của chúng ta trong
những kiếp xa xưa.
Vì số kiếp sống quá khứ của
chúng ta là không thể tính đếm, không có hạn
lượng, là vô cực, nên tất cả sinh linh trong kiếp này hay kiếp khác
đều là mẹ của chúng ta. Tâm thức của
chúng ta bị vô minh ngăn che nên chúng
ta không thể nhớ những người này đã
từng là mẹ của chúng ta. Giờ đây chúng ta đã
mang một thân thể khác nên không nhận ra được
những người mẹ đó nữa. Quán chiếu như vậy cho đến khi có năng lực thì
trong bất cứ lúc nào và gặp bất cứ người nào chúng ta sẽ lập tức khởi lên
một cảm nhận gần gũi quen thuộc.
Giả dụ hồi còn trẻ, thình lình
chúng ta bị cách ly khỏi người cha và người mẹ mà chúng ta thương yêu kính
mến. Ba mươi năm sau, khi đang tản bộ xuống
phố thì gặp hai người hành khất; thoạt tiên chúng ta không quan tâm
hay tệ hơn là có ý khinh ghét. Bất ngờ chúng ta nhìn lại và nhận ra
đó là cha mẹ của mình, tuy diện mạo
của hai người bây giờ đã khác
đi. Khi đó chúng ta liền quan tâm và
có tấm lòng thương mến đặc biệt đối với hai
người ăn mày này. Chúng ta không còn ngần ngại trong việc giúp
đỡ họ. Diễn tiến trên tương tự như
việc tu tập tâm niệm chấp nhận rằng tất cả sinh linh từng là cha mẹ của
chúng ta trong kiếp quá khứ.
Hồi tưởng lại công ơn của cha
mẹ đối với chúng ta
Bước thứ hai là nhớ lại những
nghĩa cử và những tấm lòng mà những người khác
đã dành cho chúng ta cũng không khác
gì bà mẹ của chúng ta. Ðể thực hiện việc này thoạt
đầu chúng ta lấy mẫu là người mẹ trong
đời này hay bất cứ người nào
đã bảo bọc nuôi dưỡng chúng ta thời
thơ ấu làm đối tượng tu tập. Dù việc
mang thai rất nặng nhọc, không thoải mái nhưng người mẹ của chúng ta
đã trải qua
đều đó trong 9 tháng. Và rồi bà
đã một mình chịu
đựng những cơn đau xé ruột để sinh chúng ta
ra, bảo bọc khi chúng ta còn đỏ hỏn,
bao dung trước những nghịch phá, những cơn giận trẻ con và những
nết xấu của chúng ta. Mặc dầu người mẹ có lẽ không muốn
đánh đòn hay răn
phạt chúng ta nhưng bà phải làm như vậy
để dạy chúng ta những bài học
đạo đức và cách ứng xử, làm cho chúng
ta có thể hòa nhập với xã hội sau này. Bà dạy cho chúng ta những
điều hay lẽ phải và muốn rằng chúng ta
là người được giáo dục đàng hoàng.
Trong tình trạng tài chánh giới hạn cha mẹ cũng
đã mua sắm
đồ chơi và dắt chúng ta
đi chơi nơi này nơi khác.
Một số người không ưng việc hồi
tưởng về ơn cha nghĩa mẹ. Những người này có thể cảm thấy rằng họ
đâu có yêu cầu cha mẹ sinh họ ra
đâu; do lý lẽ đó cha mẹ không có ơn nghĩa gì
với họ cả. Thậm chí một số người còn oán trách cha mẹ vì cha mẹ
đã đánh đòn
nặng tay, không mua sắm cho họ những món mà những
đứa trẻ khác có hay tệ hơn nữa là lạm
dụng họ.
Nếu chúng ta lâm vào tình trạng
này thì chúng ta nên hồi tưởng về những ân nghĩa mà bất cứ người nào
đó đã giúp cho chúng ta thời thơ ấu.
Kế tiếp chúng ta có thể học những lời dạy của Ðức Phật về phương pháp chế
ngự sân hận và phát triển đức tính nhẫn nại,
đồng thời ứng dụng những phương pháp này trong mối liên hệ giữa
chúng ta và cha mẹ. Ðiều quan trọng là chúng ta phải ghi nhớ rằng dù cho
mối quan hệ giữa ta với cha và mẹ có tệ như thế nào
đi nữa thì cha mẹ vẫn là những người
đã cho chúng ta có
được kiếp sống quý giá của ngày hôm
nay. Dù động cơ của cha mẹ là gì
đi nữa thì cha mẹ cũng
đã săn
sóc chúng ta theo điều kiện vật chất và
điều kiện tinh thần mà cha mẹ chúng ta
có được. Nếu chúng ta nhận thức được như vậy
thì chúng ta sẽ tha thứ cho những yếu kém của cha mẹ và tấm lòng
của chúng ta sẽ rộng mở đối với hai vị thân
sinh.
Mục
đích của việc hồi tưởng lại những ân nghĩa
của người mẹ không phải là để chúng ta
khởi tâm luyến ái đối với người mẹ, vì luyến ái là một tâm thái
nhiễu loạn. Mục đích của việc hồi tưởng là
để chúng ta nhận ra được tính chất thiêng
liêng của tình mẫu tử và phụ tử cùng với những ân
đức và
đạo nghĩa thâm trọng trong mối quan hệ này. Kế tiếp chúng ta sẽ mở
rộng tấm lòng xem trọng ân nghĩa đến với tất
cả sinh linh, vì họ đều là
những người mẹ của chúng ta trong quá khứ và
đã từng làm nhiều ân đức cho chúng ta
như người mẹ của chúng ta trong hiện tại. Lòng biết ân này sẽ dẫn
chúng ta bước tiếp bước thứ ba: mong được đáp
đền ân nghĩa.
Mong
được đáp đền ân nghĩa
Một khi chúng ta
đã nhận ra những ân nghĩa mà người
khác đã làm cho chúng ta thì tất nhiên
chúng ta muốn đền đáp. Chúng ta không cảm
thấy đó là một phận sự nặng nề trái lại
đó là một niềm vui và một mối quan tâm
xuất phát tự tấm lòng.
Lòng thương
Từ ý muốn
được đáp đền ân nghĩa, chúng ta sẽ nghĩ tới
một viễn cảnh trong đó tất cả những người có lòng tốt như vậy
đều được hạnh phúc. Ðây chính là lòng
thương hay là ý muốn những người từng thi ân
đều được hạnh phúc, đều có nguồn hạnh phúc. Vì trước
đây chúng ta đã thoát khỏi tâm chấp
thủ đối với bạn bè, lòng sân hận
đối với kẻ thù, và thái
độ lãnh
đạm đối với người xa lạ nên lòng thương của chúng ta giờ
đây không có tính chất thiên lệch và
sẽ trải rộng đến tất cả mọi người một cách bình
đẳng. Với một lòng thương không hề có
một mảy may chấp thủ, chúng ta sẽ thương yêu người khác
đơn giản chỉ vì họ
đang hiện hữu. Vị thánh giả Tây Tạng Lạt-ma
Tzong Khapa nói:
"Theo quan
điểm của tôi thì tất cả mọi người
đều bình
đẳng vì tất cả đã từng là những
người mẹ, những người cha, những người anh chị, những người em trai và em
gái, những bạn bè của chúng ta từ vô lượng kiếp. Theo quan
điểm ấy thì tất cả mọi người cũng
đều nên
được đối xử một cách bình đẳng vì
tất cả mọi người đều muốn hạnh phúc và
tránh xa đau khổ. Vì vậy, chúng ta nên
cố gắng giữ tấm lòng thương yêu tất cả mọi sinh linh một cách bình
đẳng."
Tâm từ ái
Khi chúng ta nghĩ về những rối
khổ, bế tắc và đau đớn mà những người
khác đang gánh chịu thì chúng ta sẽ
phát khởi lòng từ ái: mong muốn những người khác
được thoát khỏi đau khổ, thoát khỏi ngọn
nguồn của đau khổ. Từ ái khác xa với lòng thương hại và những loại
tình cảm có tính chất chiếu cố khác. Lòng từ ái luôn
đi kèm với nhận thức rằng chúng ta và
những người khác là bình đẳng về phương diện
mong cầu hạnh phúc và mong muốn thoát khỏi cảnh khổ. Lòng từ ái
khiến cho chúng ta có thể giúp đỡ cho tha
nhân một cách dễ dàng như giúp đỡ cho
chính mình.
Quyết tâm hay phát
đại nguyện
Khi có một tấm lòng từ ái sâu
sắc thì chúng ta bước tới bước thứ sáu: nhận trách nhiệm
đem lại hạnh phúc cho tha nhân và giải
tỏa những nỗi đau khổ cho mọi người. Trước
đây chúng ta muốn tha nhân được hạnh phúc và thoát khỏi cảnh khổ
thì bây giờ chúng ta hạ quyết tâm hay phát
đại nguyện bắt tay vào việc đó.
Tâm xả thân bố thí hay tâm Bồ
đề
Nhưng làm thế nào chúng ta có
thể đưa người khác đến bến bờ hạnh phúc trong
khi chính bản thân của chúng ta đang u mê rối khổ? Một người
đang chết chìm thì không thể cứu vớt
được người khác; cũng vậy, một người đang lụy
trong vòng sinh tử luân hồi thì không thể nào dạy bảo cho người
khác một cách rành mạch, hữu hiệu và có sức thuyết phục về con
đường thoát ra cảnh hệ lụy được. Ðể
hướng dẫn người khác chúng ta phải biết được
những nghiệp căn, tính khí và điều
người đó hứng khởi. Chúng ta cũng phải biết toàn bộ giáo pháp
để có thể truyền đạt những giáo lý thích hợp
nhất theo từng đối tượng.
Như vậy
để thực hiện mong muốn đưa người khác thoát
khỏi cảnh khổ và đến bến bờ hạnh phúc,
chúng ta cần phải có tâm từ ái viên mãn, trí tuệ và phương tiện
thiện xảo. Vì chỉ có Ðấng Ðại Giác là có đầy
đủ những phẩm tính này nên chúng ta phải
đạt được sự đại giác ngộ để làm lợi
lạc cho tha nhân một cách hữu hiệu nhất.
d. Những tâm thái viễn hành -
Lòng từ năng động
Sau khi phát khởi tâm xả thân
bố thí thì bước kế tiếp là tu tập 6 tâm thái viễn hành
để đưa hành giả
đến quả vị giác ngộ. Sáu tâm thái viễn hành
này đôi khi còn
được gọi là 6 pháp viên mãn hay 6 pháp
hạnh ba-la-mật; đó là bố thí,
đạo hạnh, kiên nhẫn, hỷ tấn,
định tĩnh và trí tuệ.
Tu tập bố thí,
đạo hạnh và kiên nhẫn sẽ trực tiếp
đem lại lợi lạc cho chúng sinh ngay trong
hiện tại. Nhưng mục đích cứu cánh của việc tu tập 6 tâm thái viễn hành
là chứng đạt được trí tuệ trực giác được
không tánh của các pháp. Nhờ trí tuệ trực giác này mà chúng ta sẽ
loại trừ được tất cả những tâm thái nhiễu
loạn, tất cả những cấu uế, những mê ám trong dòng chảy tâm thức và
đạt được quả vị Chánh Ðẳng Giác của
chư Phật. Ðến giai đoạn này thì năng
lực cứu độ của chúng ta đã phát triển
đến chỗ mỹ mãn.
Mặc dầu chúng ta cần phải tu
tập liên tục suốt hành trình dẫn đến giác ngộ
giải thoát nhưng chúng ta gọi 6 pháp môn này là 6 tâm thái viễn
hành vì nhờ chúng mà chúng ta đạt được trí
tuệ toàn hảo và vượt khỏi vòng sanh tử rất xa. Ðiều quan trọng là
chúng ta dùng tâm xả thân bố thí để chuyên
tâm tu tập 6 tâm thái viễn hành, đồng thời
quán chiếu tánh không của các pháp và hồi hướng công
đức do tu tập mà có
đến với tất cả sinh linh.
Bố thí
Tâm thái viễn hành thứ nhất là
bố thí tức là sẵn lòng cho những gì chúng ta
đang có để giúp đỡ người khác. Pháp tu này dùng
để chống lại thói keo kiết và lười
nhác. Keo kiết và lười nhác là hai thói quen xuất hiện khi có người
đến xin chúng ta giúp đỡ. Có 3 loại bố thí:
1. Bố thí tiền của vật chất,
2. Cứu hộ người đang lâm vào cảnh khổ hay cảnh hiểm nguy,
3. Dùng Chánh pháp để khuyên nhủ hay hướng dẫn người khác.
Hầu như tất cả những người phàm
phu ít nhiều đều có tánh keo kiết, chỉ lo bảo
vệ của cải tài vật của mình; còn đối
với việc bố thí để mang lại hạnh phúc cho người khác thì lại lơ là.
Thông thường chúng ta có ý nghĩ cho rằng sau khi cho người khác một cái gì
thì chúng ta phải chịu cảnh mất cái đó. Chúng
ta chỉ cho ra một mức nào đó để không
bị mang tiếng keo kiết, bủn xỉn; chúng ta chỉ bố thí để khỏi mất mặt mà
thôi. Nói chung chúng ta giữ gìn lại cái gì tốt nhất cho bản thân và buông
ra cho người khác phần thừa thải còn lại. Khi cho chúng ta lại kể lể rằng
chúng ta đã phải thế này thế kia khiến
cho người nhận cảm thấy phải hàm ơn và cần phải
đền đáp.
Những hậu ý nhỏ mọn như vậy chỉ
có tác dụng làm cho tâm thức chúng ta nặng nề, không tạo
được những thiện nghiệp thanh thoát và
cản trở những chứng đạt tâm linh. Tánh keo
bẩn là một trạng thái vị kỷ của tâm thức cho rằng hạnh phúc của bản
thân chúng ta quan trọng hơn hạnh phúc của người khác. Khi nào chúng ta có
tính keo bẩn thì khi đó chúng ta khó đạt được
cảm giác đầy đủ dù của cải tài vật của chúng ta có nhiều bao nhiêu
đi nữa.
Khi nào tánh keo bẩn khiến
chúng ta ngần ngừ trong việc bố thí, chúng ta cần phải nhớ rằng tài sản
của chúng ta là vô thường và một ngày nào đó
chúng ta sẽ phải rời bỏ chúng. Khư khư giữ chặt là một
điều vô nghĩa. Chúng ta đem tài sản
của mình để san sẻ với người khác có nghĩa là
chúng ta chống lại tánh keo bẩn; nếu không tánh keo bẩn sẽ khiến chúng ta
phải tái sinh vào kiếp sống đọa đày.
Nếu chúng ta tự rèn luyện niềm vui trong việc bố thí thì tâm rộng rãi của
chúng ta sẽ mang lại hạnh phúc cho người khác và bản thân chúng ta.
Mặc khác, pháp bố thí không
phải là một mặc cảm xấu hổ về tánh keo bẩn rồi tự khuyên lơn bản thân rằng
"nên ban phát ra". Pháp bố thí là để rèn
luyện một tâm hồn thật sự hân hoan khi làm cho người khác hạnh phúc. Tu
tập pháp bố thí không có nghĩa là chúng ta cho tất cả những gì chúng ta
có, để rồi bản thân chúng ta không còn
gì cả và trở thành một gánh nặng cho những người xung quanh chúng ta. Ðúng
nghĩa, pháp bố thí có nghĩa là cho ra tương ứng với
điều kiện của chúng ta. Nhiều ít không phải là
vấn đề, những ý nghĩ và cách cho mới
là quan trọng.
Vấn
đề then chốt là biết cho một cách sáng
suốt. Cho người nghiện một cốc rượu không phải là một việc từ thiện; cung
cấp tiền để mua sắm vũ khí, thuốc độc hay á
phiện thì chẳng mang lại lợi lạc cho ai cả. Chúng ta không nên làm
hại một số người để bố thí cho một số người
khác. Như vậy, giết hại mạng súc vật để cung cấp cho gia quyến chúng ta
một bữa ăn ngon miệng thì không phải là sáng suốt.
Việc làm tốt nhất là giúp
đỡ những người bạc phước vô phần, những người
tuyệt vọng, bệnh hoạn. Cũng vậy, hãy cúng dường cho những hành giả
thật tâm tu hành theo Chánh pháp, cung cấp những nhu cầu cho cuộc sống
hằng ngày để những vị này tiếp tục
việc tu tập. Qua việc cúng dường Tam Bảo chúng ta ủng hộ những Phật sự,
xây dựng các cơ sở tu học, ấn tống kinh sách và hộ niệm trong các cuộc lễ.
Loại bố thí thứ hai là việc bảo
bọc, tức là giúp đỡ những người đang lâm nguy
hay đang gặp cảnh khốn khổ. Pháp tu này bao gồm những việc như cứu
một em bé sắp chết đuối, giúp đỡ người bệnh
hoạn hay người già cả neo đơn không ai
chăm sóc, phòng chống nạn hành hạ súc vật, xây sinh
đường cho người bệnh an dưỡng trong giai đoạn
cuối, lập quỹ chữa trị cho người bệnh AIDS hay ung thư. Khi có động đất, bão
lụt hay những thiên tai khác chúng ta nên cứu giúp hết sức hết lòng.
Hướng dẫn và chỉ dạy cho người
khác là loại bố thí thứ ba, gồm nhiều loại công việc khác nhau: Chúng ta
có thể an ủi những người đang sầu não
than khóc hay đang gặp cảnh khổ tâm bế tắc.
Rất là lợi lạc là việc khích lệ một người
đừng nói dối hay đừng lừa gạt mà hãy
hành động và nói những lời có tính
cách xây dựng. Như vậy, chúng ta chỉ bày cho người
đó phương pháp để có được một tâm hồn thanh
thản và kiến tạo hạnh phúc cho tương lai. Tụng niệm cho người bệnh
hay người sắp mệnh chung được nghe lời kinh
tiếng kệ ngõ hầu chuyển hóa tâm hồn theo hướng hiền thiện cũng là
việc làm rất lợi lạc.
Bố thí thù thắng nhất lại là
Chánh pháp tức là hướng dẫn người khác trên con
đường đưa đến sự giác ngộ. Việc bố thí này
tức là trao cho người ta pháp môn phương tiện
để tự người ấy giải thoát bản thân ra khỏi mọi ràng buộc
đau khổ và
đạt đến bến bờ hạnh phúc lâu dài.
Ðạo hạnh
Tâm thái
đạo hạnh viễn hành tức là việc phòng
hộ thân hạnh, khẩu hạnh và ý hạnh, tránh những việc
đen tối. Ðạo hạnh là yếu tố cực kỳ
quan trọng vì nếu không tu tập đạo hạnh thì
chúng ta không thể đạt được những chứng đắc
cao thượng hơn.
Không hiểu
được điều này nên có một số người cứ
mãi tụng niệm hay thiền định nhưng lại có hành
vi buông lung cẩu thả trong đời sống hàng
ngày. Họ khoác lên người một bộ dạng thần thánh linh thiêng khi ở trên
chánh điện hay đàn tràng, cử hành các
nghi lễ cúng kiến, nhưng khi bước xuống những nơi trang nghiêm
đó thì họ lại uống rượu, tán gẫu và sa
đà vào việc bán buôn lời lỗ. Những ai
mong muốn có một chân ở chốn trần đời và
chân kia muốn bước lên Niết bàn thì không bao giờ tiến bộ trên
đường tu học. Ðạo sư Atisha, một hành
giả vĩ đại của Ấn Ðộ nói:
"Hầu hết chúng ta
đinh ninh rằng tu theo Chánh pháp có nghĩa là
lặp lại một số lời nguyện, quán tưởng một vị thánh nào
đó, hay là tụng
đọc kinh điển. Nhưng Chánh pháp thực sự lại là
việc đưa vào cuộc sống những hành
động lợi lạc. Nếu chúng ta ý thức được như
vậy thì không phải trong khi ngồi thiền
định chúng ta chứng đạt nhiều, mà
chính trong cuộc sống đạo hạnh hằng ngày
chúng ta lại có thể chứng đạt nhiều hơn."
Tâm thái
đạo hạnh viễn hành gồm có 3 loại:
1. Từ bỏ những hành động tổn hại,
2. Thực hiện các hành động lợi lạc,
3. Hướng dẫn người khác sống đời đạo đức.
Qua việc từ bỏ 10 bất thiện
nghiệp và giữ gìn những giới điều mà
chúng ta đã thọ học, chúng ta
đã tự giải thoát mình ra khỏi sự ràng
buộc của những tâm thái nhiễu loạn thô thiển, những tâm thái
đã từng khuynh loát tâm hồn,
đã từng sai khiến chúng ta làm những
hành động quấy ác. Nhờ giải thoát như vậy,
tâm thức của chúng ta trở nên tĩnh lặng, ít bị phân tán và hối hận.
Chúng ta sẽ dễ dàng tập trung tâm thức trong khi ngồi thiền.
Những hành
động hiền thiện đó sẽ giúp tâm thức của chúng
ta trở nên sung túc với những thiện nghiệp và sẽ làm người khác
được lợi lạc. Bằng thân giáo và khẩu
giáo chúng ta có thể hướng dẫn người khác làm những việc
đạo đức.
Kiên nhẫn
Kiên nhẫn là một trạng thái
tĩnh lặng cùng với nghị lực giúp chúng ta có những hành
động trong sáng khi lâm vào bất cứ
hoàn cảnh khó khăn nào. Có 3 loại kiên
nhẫn:
1. Không bực tức đối với những người làm tổn hại mình,
2. Chuyển hóa những rối khổ và những nỗi đau bằng một tâm thái tích cực,
3. Chịu đựng những khó khổ khi tu tập theo Chánh pháp.
Loại kiên nhẫn thứ nhất giúp
cho chúng ta giữ được trạng thái trong sáng và
điềm tĩnh dù cho người khác có
đối xử với chúng ta như thế nào
đi nữa. Khi bị người khác làm hại, tâm
chúng ta thường bị trạng thái nhiễu loạn chi phối và chúng ta nói lời
trách mắng người kia. Trạng thái nhiễu loạn ấy có khi chỉ là cảm giác tủi
thân, ấm ức, trách cứ tại sao người ta đối xử
với mình tệ như vậy. Trạng thái nhiễu loạn ấy có khi lại là sự tức
giận khiến cho chúng ta rắp tâm trả thù bằng cách làm hại lại người kia.
Kiên nhẫn là liều thuốc giải
độc cho những tình trạng trên vì kiên
nhẫn khiến cho chúng ta nhìn sự việc theo một bình diện khác. Khi còn sống
trong cảnh sinh tử luân hồi thì điều chắc
chắn là chúng ta còn gặp những người gây ra rối khổ cho chúng ta.
Ðó là bản chất của cuộc đời này. Nhưng
kiên nhẫn giúp cho chúng ta có một cái nhìn khoáng
đạt về hoàn cảnh: vì chúng ta có những
hành động sai quấy trong quá khứ nên
chúng ta phải thọ nhận những kết quả như vậy.
Thay vì cho rằng người kia là
nguyên do chủ yếu gây nên nỗi khổ cho chúng ta, chúng ta sẽ nhận ra rằng
tâm thái nhiễu loạn và những hành động sai
quấy của chúng ta mới là căn nguyên
thật sự. Thay vì làm hại người khác, chúng ta sẽ tập trung năng
lực vào việc chế ngự những tâm thái nhiễu loạn và gột rửa những
hành động sai quấy.
Khi người kia làm hại chúng ta,
thì có nghĩa là bản thân họ đang gặp phải bất
hạnh. Nếu chúng ta thật sự hiểu được điều đó thì chúng ta có thể
không bận lòng đối với nỗi khổ của chúng ta mà
lại lưu tâm đến hoàn cảnh bất hạnh của
người kia; nhờ vậy chúng ta biết được cảnh
bất hạnh của họ như thế nào và họ cảm thấy khốn khổ ra sao. Chủ tâm
theo chiều hướng này thì chúng ta có thể chuyển hóa những người làm hại
thành đối tượng để tu tập cho lòng bi
mẫn của chúng ta phát triển.
Chúng ta biết rằng những tâm
thái nhiễu loạn đôi khi đã khống chế
chúng ta, khiến cho chúng ta nói hay làm những
điều tổn hại. Tương tự như vậy, những người làm
hại chúng ta cũng bị tâm sân giận hay ganh ghét khống chế và sai khiến.
Nếu chúng ta muốn người khác khoan dung cho những khuyết
điểm của mình thì người ấy cũng muốn
chúng ta hỷ xả, đừng để lòng những lời
nói mà người ấy đã vuột miệng hay
những việc mà người ấy lỡ làm khi tâm trạng bị xúc
động và mất tự chủ.
Giữ lòng kiên nhẫn không có
nghĩa là giữ trạng thái thụ động hay trạng
thái hèn nhát, để cho người khác muốn
làm gì thì làm. Thật ra, trước hết chúng ta nên
đưa mình vượt ra khỏi trạng thái tức
giận, rồi nhận định sự tình một cách
rõ ràng. Lúc đó chúng ta mới có thể ra sức
thực hiện những hành động có lợi lạc
nhất cho tất cả mọi người liên can; những hành
động đó có thể bao gồm cả việc hạ quyết tâm
ngăn cản, không cho người này làm hại những người khác.
Tâm kiên nhẫn
đối với những rối khổ giúp chúng ta chuyển
hóa những tình thế khổ sở như bệnh hoạn và nghèo túng thành những
pháp hỗ trợ cho việc tu tập của chúng ta. Thay vì chán nản hay tức giận
khi rơi vào khổ nạn thì chúng ta lại học hỏi
được nhiều điều và đối mặt với cảnh
khổ ấy một cách can đảm. Thọ lãnh những khó khăn
khiến cho chúng ta phát triển lòng bi mẫn
đối với những người lâm vào tình cảnh
tương tự. Tâm kiêu ỷ giảm xuống thì chúng ta sẽ hiểu rõ hơn quy luật nhân
quả và sẽ không còn lười nhác trong việc giúp
đỡ những người khác đồng cảnh ngộ.
Tâm kiên nhẫn là một phẩm chất
thiết yếu trong việc tu tập theo Chánh pháp, tu tập phẩm chất thiết yếu
này là loại kiên nhẫn thứ ba. Ðôi khi chúng ta cảm thấy khó khăn
trong việc hiểu lời dạy của Phật, trong việc chế ngự tâm thức, hay trong
việc kỷ luật bản thân, quyết tâm không bỏ thời khoá thiền định mỗi ngày.
Tâm kiên nhẫn giúp chúng ta vượt qua những khó khăn
trên và chiến đấu với những tâm thái
xấu ác của chúng ta. Ðối với việc tu tập ngắn ngủi, thay vì trông
mong đạt được kết quả ngay tức khắc thì
chúng ta sẽ giữ tâm kiên nhẫn tu tập lâu dài, từ năm
này qua năm khác.
Hỷ tấn
Hỷ tấn là cốt lõi của việc liên
tục tiến bước trên con đường Chánh đạo. Nếu
chúng ta thiếu tâm nhiệt thành thì các tâm chướng ngại sẽ sinh khởi
dưới dạng chủ yếu là lười nhác. Lười nhác có 3 loại:
1. Nếu chúng ta vướng mắc vào ngủ nghỉ và giải trí thì việc tu tập của
chúng ta trở nên trì trệ và không bao giờ sẵn sàng hạ thủ công phu;
2. Nếu chúng ta vướng mắc vào những công việc thế gian thì chúng ta sẽ
quá bận bịu, không có thì giờ để học hỏi, để quán chiếu và thiền định;
3. Cảm thấy chán nản, chúng ta bỏ phế việc tu tập.
Hỷ tấn là liều thuốc giải
độc cho 3 loại lười nhác nêu trên. Thí
dụ, nghĩ đến tính chất mong manh của kiếp
sống và tính chất chắc chắn của sự tử vong khiến cho tánh sa
đà vào việc ngủ nghỉ tan biến mất. Rõ
ràng, kiếp sống con người thật là quý báu vì thế chúng ta hãy sử dụng kiếp
sống này một cách sáng suốt trước khi chúng ta mệnh chung.
Dĩ nhiên là chúng ta phải ngủ
để giữ gìn sức khỏe, nhưng nếu ngủ
nhiều không những làm cho tâm trí của chúng ta trở nên u mê mà lại còn
uổng phí thời giờ của chúng ta. Cho đến lúc
chết chúng ta vẫn chưa làm được gì
vì bao nhiêu thời gian trước đây chúng ta có
thể sử dụng để làm những việc hữu ích thì chúng ta
đã dành cho việc ngủ nghỉ hết cả rồi.
Tuy nhiên, nếu chúng ta sử dụng thời gian một cách sáng suốt cho việc tu
tập thì khi mệnh chung chúng ta cảm thấy thanh thản. Chúng ta sẽ xây dựng
được nhiều phẩm tính tốt đẹp và những
dấu ấn đạo đức đó sẽ đưa chúng ta đi đến
những kiếp sống tương lai. Shantideva đã nói:
Hãy nương thuyền mỏng, mạng người,
Vượt qua biển lớn kiếp đời khổ ưu
Thuyền này hiếm lắm tìm đâu,
Thời giờ uổng phí kẻ ngu nằm dài!
Theo một cách nhìn của Phật
giáo, chúng ta cứ mãi dấn thân vào những việc trần gian rộn ràng thì
đó là một dạng lười nhác vì chúng ta
đang xao lãng việc tu tập tự thân.
Cuộc sống chúng ta vô cùng bận rộn trong đời
sống hiện đại: sổ tay của chúng ta đã dày kín những công việc hẹn
trước và chúng ta luôn phải đối mặt với những
áp lực của nhịp sống hối hả này. Chúng ta thường phàn nàn rằng
không đủ thời gian để dành cho Chánh
pháp.
Tuy nhiên, mỗi khi chúng ta có
một chút thời gian rỗi rãi thì chúng ta lại cố làm thêm ngoài giờ hay mời
bạn bè đến để lấp đầy khoảng thời gian trống
đó. Chúng ta luôn luôn có thời giờ để ăn uống để bồi bổ cơ thể, nhưng
chúng ta lại khó lòng có thì giờ để
bồi bổ về mặt tâm linh của chúng ta qua việc tham dự các lớp Phật pháp hay
hành trì thiền định. Khi nào
chùa chiền có "duyên sự" vui vẻ hay có đãi
ăn miễn phí thì chúng ta
đến, nhưng khi chùa có mở khóa tu
thiền hay lớp Phật pháp thì chúng ta lại mắc bận.
Con
đường tiến bộ tâm linh bị chướng ngại như vậy
vì chúng ta vướng mắc vào các khoái lạc trần gian: thức
ăn, tiền bạc, danh vọng, thú vui và bè
bạn. Vì chúng ta đã xử lý những việc
đó một cách không chín chắn, với tâm vị kỷ và
tham trước nên chúng ta bị tổn hại. Thật ra, những việc
đó tự chúng không phải là tổn hại, là
xấu. Nhờ vào công phu tịnh chỉ những tâm thái nhiễu loạn, chúng ta có thể
hoan hỷ với chúng theo một ý hướng tốt đẹp -
tu tập bản thân để làm lợi lạc người khác.
Bằng cách niệm tưởng
đến khổ thánh đế, chúng ta sẽ nhận thức rằng
không có niềm hạnh phúc trần gian nào là lâu bền. Hưởng thụ hạnh
phúc trần gian cũng giống như uống nước muối: càng uống nhiều, tưởng rằng
thỏa mãn được cơn khát, chúng ta càng
cảm thấy khát hơn. Tương tự như vậy, dù chúng ta có bao nhiêu tiền
đi nữa thì chúng ta không bao giờ nghĩ
là đủ; chúng ta có đi ra ngoài nhậu
nhẹt và xem phim bao nhiêu lần đi nữa thì
chúng ta càng cảm thấy có nhu cầu uống thêm, coi thêm; dù vị trí xã hội
của chúng ta có cao như thế nào đi nữa, thì
vẫn có một người nào đó cao hơn ta.
Tham trước vào những
điều này chỉ làm cho chúng ta bị vướng
mắc vào những điều bất thỏa của cuộc sống và
tạo thêm nhiều điều rối khổ cho đời sống
tương lai. Bằng cách tự nhắc nhở bản thân, chúng ta sẽ tu tập theo Chánh
pháp một cách nhiệt thành và không bị sa
đa,ø chệch hướng bởi những hoạt
động vô nghĩa. Tzong Khapa đã nói:
"Không hề có sự thỏa mãn
trong các thú vui trần tục. Chúng là con
đường đưa đến mọi khốn khổ. Khi nhận thức được rằng vòng sinh tử
luân hồi là rất tệ hại, không nương cậy gì
được thì xin cho con phát tâm mạnh mẽ hướng tới cõi giải thoát an
vui - xin cho con phấn chấn tinh thần!"
Ðiều này không có nghĩa là
chúng ta trở nên những người cuồng tín Chánh pháp và không muốn tiếp xúc,
chuyện vãn với người khác hay bỏ bê công ăn
việc làm. Ðó lại là một cực đoan.
Ðiều mà chúng ta tìm cầu là một trạng thái cân bằng, nương vào
đó chúng ta tu tập những ý hướng tốt đẹp cho
tất cả việc mà chúng ta làm, đồng thời
bỏ qua một bên những việc vô ích, mất thời giờ và
đưa chúng ta đến những việc làm bất
thiện.
Loại lười nhác thứ ba là tâm
lui sụt: chúng ta sẽ nghĩ rằng chúng ta không có năng
lực, rằng con đường của Bồ Tát sao mà khó quá, rằng giác ngộ giải
thoát vượt quá xa tầm với của chúng ta. Nếp suy nghĩ này khiến cho tâm trí
của chúng ta chùn lại, và rơi vào trạng thái nản lòng. Cảm thấy vô vọng,
chúng ta bỏ phế việc cố gắng tu tập.
Ðiều quan trọng là phải nhớ
rằng chúng ta luôn luôn có trong lòng căn
tính của Phật, tức là khả năng trở thành
một vị Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác. Phật tính này là bẩm sinh và không
thể bị tước đoạt. Nếu chúng ta tiến bước theo
con đường - loại trừ những chướng ngại, phát huy những phẩm tính tốt đẹp -
thì chắc chắn đạt được quả vị Phật.
Shantideva đã giảng giải trong Subahu Vấn Kinh như sau:
Như Lai lời thật nói lên
Là nguồn chân lý ta nên nằm lòng:
Sức mạnh tinh tấn vô song
Dù là trùng kiến vẫn không khác gì
Hạnh tinh tấn quyết tu trì
Chánh quả Vô Thượng có chi khó nào
Ðừng rời cuộc sống thanh cao
Của hàng Bồ Tát tiêu dao tháng ngày
Sinh làm người thật là hay
Chánh tà thiện ác, thấy ngay tức thì
Giải thoát Vô Thượng khó chi
Thiền
định
Có nhiều
điểm quan trọng về thiền định đã
được thảo luận trong tiểu đề Pháp
tu học cao thượng về thiền định.
Chúng ta đã ghi nhận rằng những người
không phải là Phật giáo cũng tu tập thiền
định và nhờ công phu tu tập có thể chứng
đạt thiên nhãn. Nhưng công phu thiền
định của người Phật tử được việc quy y Tam
Bảo và quyết tâm thoát khỏi vòng sinh tử
định hướng và yểm trợ. Do vậy, người
Phật tử thường kết hợp công phu tịnh chỉ với công phu quán chiếu
để soi sáng tánh không của các pháp, nhờ vậy
mà họ hướng đến trạng thái giải thoát
Vô Thượng. Hơn nữa, người Phật tử còn tu tập tâm nguyện xả thân bố
thí, tầm cầu quả vị Vô Thượng Bồ đề thì
công phu tu tập thiền định như vậy sẽ đưa
người Phật tử ấy đến sự giác ngộ viên mãn hay Phật quả.
Trong khi tu tập thiền
định thì chính ý hướng của chúng ta sẽ
là yếu tố quyết định kết quả của công phu tu
tập, nên điều quan trọng là cần
phải quy y Tam Bảo và có ý nguyện tốt trước khi bắt
đầu mỗi một thời khóa. Ðể hỗ trợ cho
việc quy y này chúng ta có thể phát nguyện như sau:
Con xin quy kính chư Phật,
Con xin quy kính Tôn Pháp
Con xin quy kính Hiền Thánh Tăng.
Con xin quy kính chư Phật cho
đến khi con được giác ngộ hoàn toàn;
con xin quy kính Tôn Pháp cho đến khi con
giác ngộ hoàn toàn; con xin quy kính Hiền Thánh Tăng
Pháp cho đến khi con giác ngộ hoàn toàn. Nương nhờ các nghiệp thiện
lành trong sạch mà con đã tu tạo
được như bố thí và tu tập các viễn
hành tâm khác, nguyện rằng con chứng được quả
Phật để làm lợi lạc cho vạn loại sinh linh.
Nguyện cho tất cả sinh linh có được hạnh phúc và có được suối nguồn của
hạnh phúc,
Nguyện cho tất cả sinh linh thoát khỏi đau khổ và thoát khỏi căn nguyên
của đau khổ,
Nguyện cho tất cả sinh linh luôn sống với phước lạc vô ưu não,
Nguyện cho tất cả sinh linh an trú với tâm bình đẳng, thoát khỏi mọi
thiên kiến, tham trước và sân hận.
Những lời cầu nguyện trên nhằm
chuẩn bị tinh thần để chúng ta đi vào
thiền định. Phát khởi được một ý hướng tốt
trước khi thiền định sẽ khiến cho chúng ta ít bị phóng tâm hơn trong quá
trình hành thiền. Ðối tượng của thiền
định có thể là hơi thở, 4 niệm xứ, lòng từ, lòng bi; chúng ta cũng
có thể quán tưởng linh ảnh hay tụng đọc thần
chú. Thiền phân tích hướng dẫn chúng ta tư duy về một đề tài mà Ðức
Phật đã tuyên thuyết.
Trong giai
đoạn cuối của quá trình hành thiền
chính thức, chúng ta nên phát nguyện dâng tặng thiện nghiệp mà chúng ta
đã làm
được trong khi thiền định để cho tất cả chúng sanh hưởng được lợi lạc.
Ðôi khi người gọi việc dâng tặng này là "hồi hướng công
đức." Ðiều này không có nghĩa là những
thiện nghiệp của chúng ta được chuyển tải
sang dòng tâm thức của người khác giống như một món tiền
được chuyển từ nhà băng
này sang nhà băng khác, tài
khoản này sang tài khoản khác; vì như vậy là ngược với quy luật nhân quả.
Khi chúng ta tạo được những thiện nghiệp rồi
dâng tặng cho người khác được lợi lạc thì thiện nghiệp này có tác
dụng như là một điều kiện tương tác tốt giúp
cho những thiện nghiệp tiềm ẩn của người khác được chín muồi.
Việc dâng tặng này có tác dụng
bảo vệ an toàn cho nghiệp tốt của chúng ta khỏi bị hủy hoại,
đề phòng trường hợp chúng ta bỗng trở
nên sân hận và có tà kiến sau này. Việc này cũng có tác dụng ngăn
ngừa để chúng ta không có tâm chấp trước đối với những thành tựu
tâm linh mà chúng ta đạt được. Chúng ta có
thể dâng tặng bằng cách thầm nguyện như sau:
Với thiện nghiệp này, nguyện cho con đạt được quả Phật để con có thể cứu
giúp tất cả chúng sinh thoát vòng đau khổ.
Trí tuệ
Tâm thái trí tuệ viễn hành có 3
loại:
1. Trí tuệ biết được rằng tánh không là bản chất tối hậu của tất cả các
pháp.
2. Trí thông minh biết được ngôn ngữ, luận lý, khoa học, nghệ thuật,
3. Trí tuệ biết cách làm cho người khác được lợi lạc.
Loại trí tuệ thứ nhất là chìa
khóa để dẫn đến giải thoát và giác
ngộ. Tánh không là một đề tài sâu sắc;
tốt nhất là nên học giáo lý này với một vị
đạo sư chuyên môn để hiểu được tánh
không một cách đầy đủ. Sau đây chỉ là một
đoạn giới thiệu sơ khởi về đề tài này
mà thôi.
Có rất nhiều lợi ích trong việc
tu tập trí tuệ nhận thức được tánh không.
Loại trí tuệ đặc biệt này là phương tiện duy nhất dùng
để loại trừ vô minh và những tâm thái
nhiễu loạn của chúng ta. Trí tuệ này cũng là công cụ mạnh mẽ nhất dùng
để hóa giải những dấu ấn nghiệp thức u ám.
Hơn nữa, trí tuệ này khiến cho chúng ta có khả năng
làm lợi lạc cho người khác một cách có hiệu quả, bởi vì chúng ta có
thể chỉ dạy họ phương pháp để bản thân họ
cũng đạt được trí tuệ này.
Vô minh ngăn
che, không cho chúng ta nhận ra phương thức hiện hữu của bản thân ta và
các hiện tượng khác, tạo ra nhận thức sai lạc về các pháp hiện hữu. Nó che
phương thức hiện hữu thật bằng cách trùm lên
đó một phóng ảnh giả tạo có tính tưởng tượng. Nhờ nhận thức được rằng các
pháp không can gì với hình ảnh mang tính cách tưởng tượng do chúng
ta trùm lên sự thật nên chúng ta có thể ngăn
cản, không cho những tâm thái nhiễu loạn khởi lên. Một ví dụ sẽ làm
cho điểm này sáng tỏ hơn.
Chúng ta có thể trở nên dao
động về tiền bạc. Nếu chúng ta thấy một số
tiền to, chúng ta cảm thấy hứng khởi và bắt
đầu suy nghĩ về những cái mà chúng ta
có thể mua được nếu số tiền đó là của
chúng ta. Ngược lại nếu chúng ta bị mất một món tiền, chúng ta cảm thấy lo
lắng và bực tức vì món tiền đáng kể đã
không còn.
Như vậy
đối với chúng ta thì dường như bản
thân món tiền là có một giá trị nội tại: tầm quan trọng của món tiền nằm ở
trong nó và thuộc về nó. Dường như là tiền bạc và giá trị của nó nằm ở
trong những tờ giấy bạc, chẳng liên can gì
đến những thứ khác. Chúng ta chỉ cần nhìn vào phản ứng của chính
chúng ta khi mục kích một người nào đó đốt
một tờ giấy bạc lớn. Phản ứng đó như thế nào? Rõ ràng là chúng ta
lập tức cảm thấy rằng tờ giấy bạc đó tự thân
nó có giá trị.
Bây giờ hãy nhìn trở lại lần
nữa. Tờ giấy bạc kia là gì? Ðó là một mảnh giấy với những hoạ tiết
được in bằng mực. Tất cả là vậy thôi.
Trên cơ sở là giấy và một số hình ảnh chúng ta áp
đặt giá trị và tầm quan trọng lên
đó. Tự mảnh giấy và bản chất của nó
thì chẳng có gì quý giá. Chỉ vì chúng ta đưa
những chi tiết ước định lên những mảnh giấy mà làm cho chúng trở
thành những đồng tiền. Chỉ vì chúng ta
với tư cách là một xã hội quy định những tờ
giấy bạc này là có giá trị, thế là nó có giá trị.
Tờ giấy bạc cũng như giá trị mà
nó có được chỉ vì tâm thức của chúng
ta ấn định tên gọi và ý nghĩa cho
những mảnh giấy có in hình thế thôi. Ðiều này có nghĩa là những
đồng tiền hiện hữu được là nhờ vào sức
mạnh của những khái niệm nằm trong đầu của
chúng ta. Còn sự thực trần trụi thì sao? Tự thân những
đồng tiền không hề có tính hiện hữu một cách
độc lập. Ðiều này có nghĩa là nó không tồn tại một mình: tờ giấy
bạc phải tùy thuộc vào những nguồn (thí dụ, các loại cây
để làm nguyên liệu sản xuất ra giấy),
những thành phần của nó (bề mặt, bề lưng, phía phải, phía trái), và phải
có tâm thức của chúng ta "dán nhãn" cho nó là tiền rồi áp
đặt cho nó một giá trị nào
đó.
Tại sao
điều quan trọng là phải nhận thức rằng
đồng tiền là trống rỗng, không có sự
hiện hữu riêng của tự thân và không độc lập?
Vì nhận thức này ngăn cản, không cho
chúng ta đánh giá quá cao giá trị của đồng tiền. Nếu chúng ta không hiểu
được tính chất trống rỗng này thì chúng ta có thể
để cho tăng trưởng nhiều ý tưởng và
những phản ứng có tính nhiễu loạn đối với
tiền bạc. Thí dụ, một số người bị bạc tiền ám ảnh, không cảm thấy thỏa mãn
dù có bao nhiêu đi nữa; một số khác cảm thấy
hãnh diện khi phô trương của cải; một số người khác nữa thì cãi vã
và thậm chí đánh đập người ta chỉ vì
tiền.
Nếu chúng ta hiểu rằng
đồng tiền là do xã hội tạo ra và tùy
thuộc vào khái niệm trong tâm thức của chúng ta về những mảnh giấy có in
hình thì chúng ta sẽ có tâm thái chín chắn hơn về tiền bạc.
Tương tự như vậy, tất cả các
hiện tượng và tất cả con người hiện hữu đều
phải nương nhờ vào các yếu tố khác: các duyên chính và các duyên
phụ, những thành phần cấu tạo và khái niệm mà tâm thức áp
đặt lên
đó. Các pháp phải theo ước lệ để có thể hiện hữu vì các pháp vốn
trống rỗng, không có một bản chất độc lập.
Con người và các pháp không có
sự hiện hữu riêng hay độc lập, nhưng chúng
cũng không phải là hoàn toàn không hiện hữu. Ý nghĩa của tánh không
hay theo duyên mà hiện hữu là ý nghĩa giữa hai cực
đoan: đó là con
đường trung đạo mà Ðức Phật
đã tuyên thuyết. Tzong Khapa
đã nói trong tác phẩm Ba Nguyên Lý
Của Trung Ðạo rằng:
"Hơn nữa, những biểu hiện
bên ngoài (của các pháp) như vậy đã
khiến cho người ta không còn rơi vào cực đoan
cho rằng (tự thân) có hiện hữu; tính trống rỗng như vậy đã khiến
cho người ta không còn rơi vào cực đoan cho
rằng không hiện hữu. Khi bạn hiểu được tính cách duyên sinh theo
quan điểm tánh không thì bạn không còn
bị vướng mắc vào cực đoan này hay cực
đoan khác."
Bước thứ nhất
để tiến đến chỗ chứng đạt tánh không là
lắng nghe giáo pháp và nghiên cứu kinh điển
về đề tài này. Kế tiếp chúng ta nên suy tư về những
điều mà chúng ta
đã được
học đồng thời thảo luận với những người khác để loại trừ những ý niệm sai
lầm của chúng ta. Bước thứ ba, chúng ta cần phải tu thiền định, hòa
nhập những điều chúng ta nhận thức được vào
dòng chảy tâm thức của chúng ta.
Có hai yếu tố quan trọng trong
việc thiền định về tánh không. Yếu tố thứ
nhất là tịnh chỉ (samatha), tức là khả năng
tập trung nắm giữ tâm ý vào một đối
tượng thiền định duy nhất, ở đây là tánh không. Yếu tố thứ hai là
nội quán chuyên sâu (vipassana), tức là yếu tố trí tuệ dùng
để phân tích đúng đắn sâu sắc về tánh không này.
Nội quán chuyên sâu đúng nghĩa thì
phải đồng hành với tịnh chỉ.
Nhờ vào việc thiền
định liên tục về tánh không chúng ta
sẽ tẩy trừ hoàn toàn tất cả những nếp nghĩ sai lầm và những tâm thái nhiễu
loạn ra khỏi dòng tâm thức của chúng ta. Vì rằng việc tu tập thiền
định của chúng ta có ý hướng xả thân bố thí nên
công phu tu tập sẽ đưa đến đạo quả Bồ đề.
X. KIM CHỈ NAM CHO
ĐỜI SỐNG
^
Quy y chư Phật, Giáo Pháp và
Hiền Thánh Tăng nói gọn là quy y Tam
Bảo sẽ giúp cho chúng ta tập trung tinh lực vào những việc có ý nghĩa cho
cuộc sống, sẽ giúp cho cuộc sống của chúng ta có một
định hướng trong sáng. Quy y Tam Bảo tức là
khẳng định một lần nữa rằng có con đường
Chánh đạo dẫn dắt chúng ta đến bến bờ hạnh phúc.
Quy y có nghĩa là chúng ta
đã làm cho cuộc sống của chúng ta
phong phú thêm, nhận thức rằng có những đấng
trọn thiện, trọn lành với những phẩm tính cao thượng như từ bi và
trí tuệ. Chúng ta cũng nhận thức rằng có những pháp môn phương tiện
đem lại nhiều lợi lạc cho trần gian này.
Ðồng thời, chúng ta lại có niềm chánh tín rằng nếu chúng ta
đang đi theo con đường của đấng trọn lành
thì chúng ta cũng đạt được những phẩm tính
như đấng trọn lành. Quy y cũng là cách
để thực hiện lời tự hứa đối với bản thân mình: sẽ trở nên người tốt
hơn và góp phần tích cực hơn để làm
lợi lạc cho tha nhân.
Cách quy y
đúng nghĩa tức là chúng ta quy ngưỡng
Ngôi Tam Bảo tận thâm tâm. Cách quy y như vậy không nhất thiết phải nương
vào câu chữ tuyên thệ hay nương vào một nghi thức nào
đó. Tuy nhiên, thông thường chúng ta
có thể tiếp nhận lễ quy y bằng cách thỉnh cầu một vị tăng
hay một vị ni nào đó chính thức làm
lễ cho mình. Lễ quy y ngắn gọn thôi: Chúng ta chỉ việc tụng theo lời của
vị đạo sư và mở lòng ra tiếp nhận
luồng cảm ứng với Ngôi Tam Bảo là chư Phật, Giáo Pháp và Hiền Thánh Tăng.
Sau khi thọ lễ chúng ta chính thức trở thành một Phật tử.
Chúng ta quy y với mục
đích là ngăn
ngừa những đau khổ trong tương lai và tạo
điều kiện để đạt được những tiến bộ liên
tục trên con đường đạo. Ðể thật lòng
hướng tới mục đích này, chúng ta phải
hành xử tương ứng với những ý tưởng chân thành khẩn thiết khi chúng ta
nhận lãnh lễ quy y. Không phải là ngay sau khi chúng ta quy y xong thì
chúng ta được "cứu rỗi," và chúng ta
cứ tiếp tục làm những gì mà chúng ta thích làm. Quy y chỉ là bước
đầu để có định hướng tốt cho cuộc sống, chúng
ta còn phải tiếp tục điều chỉnh các kênh
năng lượng (thân, khẩu và ý) của chúng
ta theo định hướng ấy. Vì vậy mà Ðức
Phật dạy chúng ta phải biết cách tu tập theo Chánh pháp
để chắc chắn rằng chúng ta luôn luôn hướng
bản thân mình về mục đích tu tiến. Sau
đây là những điểm mà chúng ta
tu tập:
1. Tương ứng với việc quy y
Phật, chúng ta nên nương về một vị đạo sư có
phẩm chất. Vị nào làm lễ quy y cho chúng ta thì trở thành một trong
những vị đỡ đầu tâm linh cho chúng ta. Chúng
ta có thể có thêm những vị đạo sư tâm
linh khác. Cầu nguyện để gặp được những vị đạo sư có phẩm cách cao thượng
là một việc tốt; những vị đạo sư như
vậy giúp cho chúng ta cảm thấy khắng khít hơn với Chánh pháp. Có nhiều lợi
lạc nếu chúng ta tu tập theo lời giáo huấn đúng theo Chánh pháp do vị đạo
sư hướng dẫn. Làm thị giả săn sóc cho
vị đạo sư và thể hiện trọn lòng tôn kính
đối với vị ấy.
2. Tương ứng với việc quy y
Pháp, chúng ta nên lắng nghe và học hỏi giáo lý
đồng thời đưa giáo lý vào trong
đời sống hằng ngày. Một số người cứ
nghĩ rằng chỉ có những vị tăng ni mới cần học
hỏi sâu sắc giáo lý, họ cũng thường nghĩ rằng những giáo lý cao siêu
và các pháp môn tinh tế đó đối với cư sĩ tại
gia thì khó quá. Nghĩ như vậy không
đúng đâu. Mọi người nên lắng nghe và học hỏi giáo pháp theo hết khả
năng mà bản thân mình có
được. Nếu chúng ta muốn tiến bộ trên
con đường Chánh đạo chúng ta phải tu tập theo
giáo pháp một cách thành khẩn. Thọ nhận lời giáo huấn là yếu tố cốt
lõi và rất cần thiết để chúng ta có thể hạ
thủ công phu.
3. Tương ứng với việc quy y Tăng,
chúng ta nên kính trọng Tăng-già,
xem Tăng-già là người
đang cùng
đi với chúng ta trên đường đạo và
chúng ta đang noi gương theo. Nếu chúng ta cứ
thấy những khiếm khuyết của người khác thì
đó là tất của những gì mà chúng ta sẽ
thấy được. Tâm thái như vậy sẽ ngăn cản,
không cho chúng ta cảm nhận được điều gì khác, không cho chúng ta
cảm nhận được những phẩm tính tốt đẹp mà
những vị ấy có để chúng ta có thể học theo.
Chúng ta không nên
đặt kỳ vọng rằng các nhà sư và các vị
ni cô phải hoàn hảo. Mặc dầu những vị này đã
thệ nguyện dâng hiến trọn cuộc đời cho giáo
pháp nhưng những vị ấy còn phải trải qua nhiều thời gian nữa mới có
thể đạt được những chứng đắc trên
đường đạo; hầu hết những thành viên
của Tăng-già
đều đang trong quá trình cố gắng hóa
giải nghiệp lực và những tâm thái nhiễu loạn, y như chúng ta vậy thôi.
Việc xuống tóc xuất gia không làm cho một người chứng
đạt đạo quả. Tuy nhiên chúng ta có thể
cảm nhận đơn giản rằng người ấy đang cố gắng
tu tập theo giáo pháp, và đang làm
gương tốt về một việc nào đó cho chúng ta.
Mặc dầu cá nhân vị tăng hay vị ni có thể phạm lỗi lầm nhưng chúng ta nên
tôn trọng phương diện xuất gia của vị đó.
Ðó là những người đã lãnh thọ
pháp xuất gia theo giới pháp mà Ðức Phật đã
thiết lập nên.
4. Chúng ta nên cố gắng tu
luyện bản thân theo những tấm gương mà chư Phật, Giáo Pháp, và Hiền Thánh
Tăng đã thiết lập. Nếu chúng ta
đặt những phẩm tính và hành trạng mẫu
mực đó thành một mục tiêu thì có lúc
chúng ta cũng sẽ đạt được mẫu mực đó. Khi
chúng ta lâm vào một tình cảnh rối khổ, thì sẽ có nhiều ích lợi khi
tự vấn mình: "Một vị Bồ Tát sẽ đối ứng với
tình cảnh này như thế nào?" Suy tư như thế chúng ta sẽ cân nhắc
những phương cách mới để đối ứng với tình
cảnh của chúng ta.
Chúng ta nên tránh buông thả
bản thân, chạy theo mọi đối tượng thỏa ý mà
chúng ta gặp gỡ. Ham muốn tiền bạc và vị thế
đưa chúng ta đến tình trạng bị ám ảnh và thường xuyên cảm thấy
không thỏa mãn. Chúng ta cảm thấy hạnh phúc hơn nhiều khi chúng ta thưởng
thức được những niềm vui của giác quan trong
tiết chế.
Tương tự như vậy,
đừng nên cao ngạo chỉ trích những cái
mà chúng ta không thỏa ý. Thấy lỗi của người khác và không nhận ra
được lỗi của mình là
điều dễ dàng. Nhưng
điều này không làm cho chúng ta hoặc
người khác có thêm một chút hạnh phúc nào cả. Thay vì chỉ ra những lầm lỗi
của người khác, tốt hơn là chúng ta hãy nhìn nhận và sửa chữa những lầm
lỗi của mình.
6. Chúng ta hãy cố hết sức xa
lánh 10 hành động tổn hại và giữ gìn
những giới điều. Chúng ta có thể lãnh
thọ 5 giới cư sĩ suốt đời, lãnh thọ 8
giới trong một ngày. Giới hạnh là nền tảng của việc tu tập theo Chánh
pháp; không giữ giới thì không có phương cách nào giúp chúng ta tái sinh
vào những cảnh giới an lạc và đạt được đạo
quả.
7. Chúng ta nên phát triển một
tấm lòng thương yêu tất cả vạn loại sinh linh. Ðể có
được tấm lòng như vậy chúng ta phải
nhờ vào việc liên tục thiền định về tâm từ,
tâm bi và ý nguyện xả thân bố thí. Nếu chúng ta không thiền quán về
tâm kiên nhẫn thì khi bất thần gặp kẻ gây sự chúng ta sẽ khó kiềm giữ
được lòng bình thản. Chúng ta cần phải
có chuẩn bị trước bằng cách hồi tưởng lại sự tử tế của người khác và thiền
quán liên tục về lòng kiên nhẫn trong thời khóa thiền
định hàng ngày của chúng ta. Chương 6
Dạy Về Phong Cách Sống Của Bồ Tát của Shantideva là một chương nói
cho chúng ta biết về liều thuốc rất hữu hiệu dùng
để hóa giải tâm tức giận.
Nếu chúng ta nuôi dưỡng
được tâm kiên nhẫn qua công phu thiền
định thì khi chúng ta
đến công sở hay trường học chúng ta sẽ rất là
tỉnh giác và nhạy bén, chúng ta lập tức nhận ra ngay trạng thái nổi giận
của chúng ta. Vào lúc đó chúng ta có thể nhớ
lại những gì chúng ta đã quán
chiếu trong các thời tu thiền và giữ tâm an tĩnh, khống chế
được cơn giận dễ dàng. Không phải lúc
nào chúng ta cũng thành công nhưng qua thời gian chúng ta sẽ thấy có tiến
bộ.
Mỗi hoàng hôn chúng ta ôn lại
bản thân trong một ngày qua thì rất lợi ích. Nếu chúng ta khám phá ra bất
kỳ một nổi tức giận nào còn vướng lại trong tâm thức của chúng ta thì
chúng ta nên quán chiếu lại tâm kiên nhẫn và ý hướng xả thân bố thí của
chúng ta.
8. Vào những ngày lễ hội Phật
giáo, chúng ta nên sắm sửa phẩm vật để cúng
dường lên Ngôi Tam Bảo, qua đó chúng
ta huân tập sâu dầy thêm thiện nghiệp của mình.
Từ
điều thứ 5 đến điều thứ 7 là những
điều nhấn mạnh đến tầm quan trọng của việc làm cho mối quan hệ giữa
chúng ta với mọi người được tốt hơn. Nghe
theo những lời dạy của Ðức Phật không có nghĩa là thực hành các
nghi thức, cúng bái để đạt được cảm giác
"linh thánh" hời hợt bên ngoài. Nghe theo lời dạy của Phật có nghĩa
là không làm hại người khác và trong đời sống
hằng ngày hết lòng giúp đỡ người khác.
Lời khuyên về từng ngôi trong
Tam Bảo
Sau
đây là những lời khuyên sau khi quy y
chư Phật, Tôn Pháp và Hiền Thánh Tăng hầu
giúp chúng ta tu tập và duy trì tâm khắng khít
đối với Ngôi Tam Bảo:
1. Sau khi thọ lễ quy y Phật,
vị đã
đoạn trừ mọi uế nhiễm và phát triển tất cả những
đức tính thù thắng, chúng ta không nên
quay trở lại quy y theo những vị thánh thần ở thế gian. Những vị này không
đủ khả năng cứu giúp chúng ta thoát khỏi mọi
khổ nạn. Mặc dầu một số vị thánh ở thế gian có năng lực thần bí nhưng
những vị ấy vẫn chưa thoát khỏi vòng sinh tử. Tìm kiếm sự nương tựa
tối hậu nơi những vị này thì cũng giống như một người
đang bị nước cuốn trôi kêu cầu một
người khác cũng đang bị cuốn trôi trong nước
đưa mình sang bờ yên ổn.
Chúng ta nên tôn kính tất cả
hình tượng Phật, tránh để tranh tượng ở những
nơi thấp và dơ bẩn, tránh dẫm chân lên hay
đưa duỗi chân đạp thẳng vào. Vì những
tranh tượng này biểu trưng cho những đức tính
thù thắng mà chúng ta muốn đạt được nên
chúng ta phải giữ gìn cẩn thận. Những tranh tượng không cần chúng ta tôn
kính đâu nhưng chúng ta cần phải để tâm đến
những đức tính cao thượng của Ðức Phật mà những tranh tượng này
đang biểu trưng.
Mục
đích của việc tôn thờ tranh tượng Phật là
để giúp cho chúng ta tưởng nhớ đến quả vị Bồ
đề và tinh tấn hành trì để bản thân
của chúng ta cũng đạt được quả vị đó. Vì vậy chúng ta không nên
dùng những tranh tượng thờ cúng để làm
vật thế chấp, cho thuê hay mua bán giống như người ta mua bán những món
hàng để kiếm tiền lời sinh sống. Lợi nhuận do
việc bán tranh tượng hay kinh sách Phật giáo nên
được dùng
để sắm tạo thêm tranh tượng hay in ấn thêm kinh sách, chớ không nên
dùng để ăn những món ngon, mặc những bộ đồ
mới, đẹp hay sang trọng.
Khi chúng ta chiêm ngưỡng các
dạng tranh tượng khác nhau, vì vô ý thức chúng ta hay phân biệt "Vị
Phật kia thì đẹp còn vị Phật này xấu
quá." Làm sao một vị Phật mà xấu được?
Chúng ta có thể phê bình người tạc tượng hay vẽ tranh nhưng không
thể phê bình dung mạo của một Ðức Phật.
Cũng vậy, chúng ta không nên
trân trọng, tôn kính những tranh tượng Phật
đắt giá mà không màng đến những tranh
tượng bị hư hại hay rẻ tiền hơn. Có một số người thích tôn trí hay thờ
phượng những bức tượng đẹp và đắt tiền
phía trước bàn thờ để được những người
khách tấm tắc khen: "Ồ, đẹp và
đắt giá thật!" Tìm cách
để được khen vì có những tượng thờ như
vậy là một thái độ trần tục. Cứ như thế chúng
ta còn có thể khoe nhiều thứ tài sản giá trị khác
để cho người khác thán phục nữa.
2. Sau khi quy y Chánh Pháp,
chúng ta không nên làm hại bất cứ loài sinh mạng nào. Một người tu thành
Phật là để làm lợi lạc cho những người
khác và chư Phật là những vị thương yêu những người khác hơn cả bản thân.
Vì vậy nếu chúng ta có tâm kính ngưỡng chư Phật thì chúng ta phải theo
gương chư Phật mà tôn trọng sự sống của tất cả vạn loại sinh linh.
Cũng vậy, chúng ta nên tôn
trọng những bản kinh viết về con đường đưa
đến đạo quả Bồ đề bằng cách gìn giữ kinh sách cho
được sạch sẽ và
để ở nơi cao ráo. Tránh việc dẫm lên
kinh sách, để kinh sách dưới sàn nhà,
hay quăng những quyển kinh sách đã cũ
vào sọt rác. Những kinh sách đã cũ
rách có thể được đốt hoá đi.
Lý do của việc tôn trọng như
vậy không phải là vì giấy và mực của quyển sách tự chúng có giá trị thiêng
liêng mà là vì những kinh sách này trình bày con
đường đưa đến đạo quả Bồ đề mà chúng
ta đang tu tập để đạt được. Kinh sách là
nguồn dưỡng chất tâm linh của chúng ta. Lấy thí dụ chúng ta
đã không
để thức ăn trực tiếp xuống sàn nhà vì sàn nhà là nơi dơ bẩn và vì
chúng ta quý trọng thức ăn của mình.
Tương tự như vậy, chúng ta cẩn trọng đối với
kinh sách vì để bảo vệ kinh sách khỏi
bị dơ ướt, hư rách và vì nhớ lại tầm quan trọng của kinh sách. Ðó
là dưỡng chất nuôi dưỡng tâm hồn của chúng ta. Những lời hướng dẫn này làm
cho chúng ta tỉnh giác hơn đối với cách thức
mà chúng ta xử lý những sự vật xung quanh chúng ta.
3. Sau khi quy y Tăng
Bảo, chúng ta nên tránh thân thiện với những người chỉ trích Ðức
Phật, Tôn Pháp và Hiền Thánh Tăng, hay những
người thô bạo, những người làm hại người khác. Chúng ta tránh những
người này không phải vì họ "quấy ác" nhưng vì tâm hồn chúng ta còn non
yếu. Cụ thể chúng ta có thể thấy rằng mặc dầu chúng ta không còn muốn nói
chuyện phù phiếm nữa nhưng nếu chúng ta tiếp tục thân thiện với những
người nói chuyện phù phiếm thì chúng ta dễ dàng tiếp tục trở lại những
thói quen xấu là nói chuyện phù phiếm.
Tuy nhiên chúng ta không nên
chỉ trích hay thiếu tế nhị đối với những
người ấy. Chúng ta có thể trải tâm từ ái đến với họ nhưng chúng ta không nên
kết thân. Thí dụ, nếu một người đồng nghiệp
chỉ trích việc tu tập của chúng ta, chúng ta có thể lịch sự và tử
tế với người ấy trong công việc nhưng sau giờ làm việc chúng ta không kết
bạn hay tạo thêm tình thân hữu và không thảo luận về việc tu học với người
ấy. Ngược lại, chúng ta có thể thoải mái trao
đổi ý kiến với những người có tâm thông thoáng muốn thảo luận về việc tu
học để mở rộng tầm hiểu biết về cuộc sống.
Chư Bồ Tát và những hành giả
đang chứng đạt A-la-hán quả thì không
bị thối chuyển rơi rớt trở vào những tập quán quấy ác mê muội ngày xưa.
Các ngài tìm cách tiếp cận thân thiện với những người thô ác
để cứu độ họ mà thôi. Tuy nhiên, nếu
công phu tu tập của chúng ta chưa vững chắc, chúng ta cần phải cẩn thận
đối với môi trường mà chúng ta
đang sống.
Cũng vậy, chúng ta nên tôn
trọng những vị tăng ni đang nhiệt thành
thực tập và làm sống động những lời Phật dạy.
Tôn kính những vị này rất lợi lạc cho tâm hồn của chúng ta, giúp
chúng ta mở rộng nhận thức để có thể nhận ra
được những phẩm tính tốt đẹp, đồng thời học hỏi được nhiều điều từ kinh
nghiệm và hành trạng của những vị xuất gia. Nhờ vào việc tôn kính
ngay cả pháp phục mà những vị ấy đang mặc
chúng ta sẽ có được niềm hoan hỷ và phấn khởi mỗi khi thấy hình
bóng của Tăng Bảo.
Lời khuyên chung về Tam Bảo
Sau
đây là những lời khuyên chung về việc
tôn kính Ngôi Tam Bảo:
1. Ðể có thể luôn luôn tưởng
nhớ tới Ngôi Tam Bảo và những đức tính thù
thắng của Ngôi Tam Bảo, chúng ta nên thường xuyên thực hành pháp quy y Ðức
Phật, Tôn Pháp và Hiền Thánh Tăng. Có nhiều
kinh sách trình bày những đức tính thù
thắng của Ngôi Tam Bảo. Nếu chúng ta đọc kỹ
những kinh sách đó thì chúng ta sẽ hiểu biết rõ ràng hơn về Ngôi
Tam Bảo, nhận thức được những phương cách mà
Ngôi Tam Bảo đã hướng dẫn và hỗ trợ
cho chúng ta trong đời sống. Quy y Tam Bảo
không phải là việc chỉ làm một lần là hoàn tất xong xuôi. Thật ra,
quy y Tam Bảo là một tiến trình. Thông qua tiến trình này niềm tin của
chúng ta đối với Ngôi Tam Bảo càng
ngày càng sâu sắc và vững bền.
2. Ðể tưởng nhớ
đến những ân đức của Ngôi Tam Bảo chúng ta nên
sắm sửa phẩm vật cúng dường. Một số người có ý nghĩ rằng cúng dường Ngôi
Tam Bảo là đáp tạ những ân đức mà Ngôi
Tam Bảo đã thầm giúp cho họ và mong
rằng Ngôi Tam Bảo sẽ cứu độ họ trong tương
lai. Những người này đi đến chùa
tháp và cầu nguyện: "Bạch Ðức Phật, con cầu nguyện Ðức Phật cứu
độ cho người thân của con được qua cơn bệnh
tật và công việc làm ăn của con được
hanh thông thì hằng năm vào
ngày này con sẽ dâng cúng phẩm vật đến để tạ
lễ Ngài."
Ðây là một ý nghĩ có chiều
hướng không đúng pháp trong khi cúng dường
các phẩm vật. Cúng dường không phải là một thương vụ làm
ăn giữa chúng ta với Ðức Phật với ý
tưởng: "Thưa Ðức Phật, xin Ngài ban cho con những
điều con mong ước rồi con sẽ chi trả để đáp
tạ đầy đủ." Chúng ta nên cúng dường với một ý hướng cao khiết
và có ý nghĩa hơn. Nghĩa là chúng ta nên cúng dường với ý hướng là
để đoạn trừ tâm keo kiết của chúng ta và
để có được niềm vui của việc dâng cúng.
Một số người cúng dường như thể
là họ đang thực hiện một thương vụ để làm
ra phước hay một công ty để sản xuất ra
phước. Những người này xem phước đức
giống như một dạng tiền bạc hay một tài khoản của linh hồn nên họ
nỗ lực tích lũy với một tâm trạng tham lam. Ðây cũng là một ý hướng sai
lầm. Việc tạo nên những phước nghiệp thì rất là lợi lạc và
được Phật giáo khuyến khích nhưng điều quan
trọng và luôn được khuyến khích lại là
việc hồi hướng phước nghiệp đó để đem lại lợi
lạc cho tất cả mọi người.
Một tập quán tốt và có ý nghĩa
là việc cúng dường phẩm thực khi ngồi trước bữa
ăn. Chúng ta hãy dừng lại và dành chút
thời gian để quán chiếu thay vì chúng
ta lập tức ngấu nghiến thức ăn cho thỏa mãn
như những loài động vật đang đói khát. Khi
cúng dường phẩm thực chúng ta niệm tưởng rằng: "Thức
ăn này giống như món thuốc
để chữa nỗi khổ đói khát. Ta phải duy trì
đời sống để có thể tu tập theo Chánh pháp và
phục vụ cho tha nhân. Thức ăn chỉ nên
là nguồn nhiên liệu giúp cho chúng ta hoàn thành ý nguyện phục vụ tha
nhân." Chúng ta tiếp tục cầu nguyện: "Bao nhiêu người
đã ra sức cấy trồng, vận chuyển và nấu
nướng. Họ là những người đã cống hiến
công lao cho cuộc sống tốt đẹp; để đáp lại
công lao của họ con nguyện sống một cuộc đời có ý nghĩa. Con xin được bắt
đầu thực hiện được lời nguyện trên ngay bây giờ và ở
đây bằng cách cúng dường thức ăn này
lên Ðức Phật với ý nguyện sẽ thành Phật để làm
lợi lạc cho tất cả mọi người."
Sau
đó chúng ta tưởng tượng rằng thức ăn này
là món đề hồ trí tuệ, thanh tịnh và
ngọt ngào, mang lại an lạc lớn lao. Chúng ta hãy hình dung ra một vị Phật
có thân là ánh sáng hiện ra giữa trái tim của chúng ta rồi cúng dường món
đề hồ này lên vị Phật
đó. Ðể nghiêm trang và cảm ứng chúng
ta tụng "om ah hum" 3 lần. Ðây là câu thần chú biểu thị ân
đức của thân hạnh, khẩu hạnh và ý hạnh
của Ðức Phật. Rồi chúng ta tụng bài kệ sau
đây:
Giờ đây con thọ thực,
Với lòng không tham, sân;
Không phải vì vui thích
Hương thơm và vị ngon.
Thức ăn như món thuốc,
Làm khỏe mạnh thân tâm.
Nguyện đạt thành chánh giác,
Lợi lạc khắp chúng sanh.
Ðức Phật đấng Bổn sư,
Tối tôn và tối thắng.
Chánh pháp thật thậm thâm,
Con quy y, tán thán.
Chư Thánh Tăng dẫn đường,
Cao quý hơn châu báu.
Phẩm thực xin cúng dâng,
Lên ba Ngôi Tam Bảo.
Xin nguyện cầu cho con,
Và cho những người thân,
Trong muôn nghìn ức kiếp,
Ngôi Tam Bảo được gần.
Chúng con thành kính khẩn nguyền,
Ngày ngày có được cơ duyên cúng dường;
Tâm phấn chấn, phước thuần lương,
Ân trên Tam Bảo mười phương chứng lòng.
Chúng ta sử dụng trí tưởng
tượng và có thể nhắm mắt lại trong khi tụng
đọc; nếu ở một nơi công cộng thì chúng ta có thể không nhắm mắt và
chỉ đọc thầm mà thôi.
3. Ý thức
được lòng từ ái của Ngôi Tam Bảo,
chúng ta nên khuyến khích người khác quy y Tam Bảo. Khi nhớ tưởng lại việc
chư Phật đã khổ công tu tập trên con
đường tìm
đạo và chư Hiền Thánh Tăng đang ra sức
thực hành Chánh pháp nhằm để cứu giúp
cho mọi người thì chúng ta mới thấy
được lòng từ mẫn của quý Ngài một cách rõ ràng. Các Ngài
đã chỉ bày giáo pháp, hướng dẫn thực
hành, nêu gương sống động và khích lệ
chúng ta trên con đường đạo, công ơn ấy thật
vô cùng to lớn.
Nhận thức
được rằng quy y Tam Bảo và phụng trì
giáo pháp đã mang lại lợi lạc cho
đời sống của bản thân khiến cho chúng ta cũng
muốn làm cho người khác có được may
mắn và lợi lạc như chúng ta vậy. Tuy nhiên ép người khác phải
đi nghe giảng kinh, thuyết pháp hay buộc
người khác phải có cùng niềm tin với mình là việc bất thiện và thô
bạo. Chúng ta không nên có lối suy nghĩ của cường quyền và thế lực: "Tôn
giáo của ta tốt hơn tôn giáo của mi. Ta sắp có thêm nhiều tín
đồ hơn mi." Chúng ta không tranh
hơn tranh thua với những tôn giáo khác.
Chúng ta cũng không rơi vào cực
đoan ngược lại là không chịu dấn thân
tiến hành thực hiện những hoạt động của Phật
giáo chưa thực hiện và dừng lại những hoạt
động Phật giáo đang thực hiện, không có ý
định phổ biến giáo lý cho ai cả, không muốn phát triển thêm chút
nào nữa hết dù điều kiện không đến nỗi quá
bức ngặt. Nếu không ai chịu ra sức tổ chức và phổ biến những lời
dạy của Ðức Phật thì chúng ta đã chẳng
bao giờ nghe được Chánh pháp. Chúng ta phải
trọng ơn những người đã tạo cơ hội tốt
để cho chúng ta tiếp cận với Phật pháp và có
điều kiện thực hành những lời mà Ðức
Phật dạy.
Cũng vậy, chúng ta hãy trình
bày cho người khác biết về giáo lý và những hoạt
động của đạo Phật đồng thời khích lệ những
người khác thực tập theo, nếu họ cảm thấy thích thú. Ðối với những
người chưa có chút ý niệm, không có quan tâm chút nào
đối với đạo Phật thì chúng ta có thể
dùng ngôn ngữ thông thường để diễn đạt những
ý tưởng của Phật giáo. Thật ra về phương diện hành xử phổ quát thì
đạo Phật có nhiều điều thuận với lý luận của
đời sống xã hội và hợp với tôn chỉ của con
đường đạo. Thí dụ, chúng ta trình bày
cho người khác về những sai quấy của sự sân hận và phương thức
đoạn trừ sân hận mà không phải vận
dụng tới những từ chuyên môn của Phật giáo. Chúng ta trình bày những ưu
điểm của tấm lòng rộng mở và những
điểm tệ hại của tâm vị kỷ đối với tha nhân
bằng ngôn ngữ phổ thông.
Hơn nữa, những người khác sẽ
ghi nhận phong cách hành xử của chúng ta và có thể cảm thấy thắc mắc khi
thấy chúng ta vẫn giữ được tâm thanh tĩnh và
an lạc trong những tình cảnh buồn khổ và nhiều áp lực. Chúng ta không cần
phải thuyết một câu Chánh pháp nào, nhưng chỉ cần chúng ta hành xử với
phong cách siêu thoát thì người khác sẽ thấy một cách sống
động sự lợi lạc của việc tu tập theo Chánh
pháp và có thể ngạc nhiên về phong cách hành xử của chúng ta. Có
lần một vài người bạn của tôi nói: "Bạn không nổi nóng khi chị ta
đưa bạn ra phê bình à!". Sau
đó, những người này
đã mở rộng tâm hồn
để đón học đạo Phật.
4. Nhớ
đến những quý ích và lợi lạc của việc
quy y thì chúng ta nên quy y 3 lần vào buổi sáng và 3 lần vào buổi tối
bằng cách tụng đọc bất cứ bài tụng quy
y nào. Vô cùng cao quý là việc khởi đầu một
ngày bằng một hành động cụ thể có tính
chất tích cực. Khi nghe tiếng chuông đồng hồ báo thức reo vang chúng ta hãy
cố gắng đề khởi ý niệm đầu tiên, "May
mắn thay ta vẫn còn sống và còn có điều kiện
tu tập Giáo Pháp. Ngôi Tam Bảo soi đường dẫn lối cho ta tiến bước đến đạo
quả Bồ đề. Phương cách tốt nhất để ta sử dụng tinh lực của kiếp sống này
là tu tập một tấm lòng nhân hậu đối với mọi
người và tâm niệm lợi lạc quần sinh. Vì vậy hôm nay ta phải cố gắng
hết sức để tránh các việc làm tổn hại
người khác, đồng thời ta phải hết sức tử tế và
làm cho mọi người được lợi lạc an vui."
Kế tiếp chúng ta có thể tụng 03
lần lời nguyện quy y và đề khởi ý nguyện xả
thân bố thí sau đây:
Con xin quy y chư Phật, Tôn
Pháp, Hiền Thánh Tăng cho đến khi con viên
thành đạo nghiệp. Nương nhờ các công đức mà
con đã tạo
được qua hạnh bố thí và các tâm thái
viễn hành khác (đạo đức, kiên nhẫn, hỷ
tấn, thiền định và trí tuệ), con
nguyện đạt được quả Vô Thượng Bồ đề để làm
lợi lạc cho vạn loại sinh linh.
Chúng ta dùng một ít thời gian
vừa đủ để đề khởi những tâm niệm trên
rồi tụng bài nguyện quy y tuy đơn giản nhưng
lại có nhiều lợi lạc và ý nghĩa lớn
đối với thời gian còn lại trong suốt ngày hôm
đó. Chúng ta sẽ cảm thấy vui tươi hơn và
giữ được niềm tin vững vàng
đối với ý nghĩa của cuộc sống này. Ðặc
biệt trong trường hợp chúng ta không có tu tập thiền
định mỗi ngày thì cách khởi
đầu một ngày như trên lại càng có tác
dụng vô cùng lợi lạc.
Trong buổi tối sau khi ôn lại
những công việc mà chúng ta đã làm hôm
ấy và buông xả những tâm thái nhiễu loạn đã
phát khởi trong ngày cho đến khi ấy vẫn còn
tồn đọng lại. Ðây là lúc chúng ta nên
quy y một lần nữa và đề khởi ý nguyện xả thân
bố thí.
Trước khi
đi ngủ, chúng ta có thể quán tưởng báo thân
rực rỡ hào quang của Ðức Phật đang ngự
trên cái gối của chúng ta. Ðặt đầu của
chúng ta vào lòng của Ngài rồi chúng ta chìm dần vào giấc ngủ trong
ánh sáng từ bi và trí tuệ êm dịu của Ngài.
5. Chúng ta nên làm tất cả mọi
việc trong ý niệm giao phó bản thân cho Ngôi Tam Bảo. Khi tâm trí của
chúng ta bị căng thẳng thì tốt nhất là
chúng ta hình dung ra Ðức Phật, thỉnh ý Ðức Phật và tưởng tượng ánh sáng
phát xuất từ kim thân của Ðức Phật đang soi
chiếu và thấm đẫm toàn thân của
chúng ta. Nếu chúng ta đang tức giận, chúng
ta có thể cầu nguyện và thỉnh cầu ngôi Tam Bảo gia hộ và dẫn
đạo chúng ta.
Giao phó bản thân cho Ngôi Tam
Bảo còn có nghĩa là chúng ta nhớ lại lời giáo huấn của Ðức Phật và thực
hành theo. Thí dụ, khi chúng ta trở nên tức giận chúng ta hãy nhớ lại
những phương cách để tu tập tâm kiên
nhẫn. Nhờ đó chúng ta thay cảm giác ganh tỵ
bằng cảm giác vui sướng khi thấy người khác có hạnh phúc và thành
tựu những phẩm chất tốt đẹp. Việc tu tập theo
Chánh pháp chính là nơi quy y thù thắng nhất vì tu tập theo Chánh
pháp làm cho chúng ta có được những tâm thái
chín chắn và hữu dụng, giải quyết được
những rối khổ trong đời.
6. Chúng ta không nên buông xả
việc quy y dù ở trong trường hợp mạng sống của chúng ta bị
đe dọa; chúng ta cũng không nên làm bộ
như buông xả chỉ để đùa thôi. Dù cho
chúng ta có vui hay buồn thì điều quan trọng
vẫn là giữ vẹn niềm tin và luôn luôn duy trì tâm khắng khít
đối với Ngôi Tam Bảo. Một số người khi gặp
cảnh vui hưởng những lạc thú trần gian hời hợt bên ngoài của giác
quan thì trở nên phóng đãng
đến nỗi quên ngay việc tu tập theo
Chánh pháp. Một số người khác khi gặp cảnh bất hạnh thì lại nhút nhát
đến nỗi quên
đi Ngôi Tam Bảo. Quên Ngôi Tam Bảo thì
rất là tai hại vì chúng ta đã phản bội
lại tâm nguyện của chính chúng ta là làm cho cuộc
đời của chúng ta có an vui và hạnh
phúc vững bền. Nhờ ý thức được rằng Ngôi Tam
Bảo là nguồn hỗ trợ cho chúng ta trong suốt kiếp sống nên chúng ta
luôn luôn để Ngôi Tam Bảo ngự trị trong trái
tim của mình dù cho chúng ta có phải
đối mặt với một hoàn cảnh như thế nào
đi nữa.
Tất cả những
điều đã
được trình bày trên đây có mục đích
giúp cho chúng ta có được một kiếp sống nhiều ý nghĩa; cụ thể là
giúp chúng ta ý thức được những tâm thái và
hành động của bản thân. Dựa theo đó chúng ta
dần dần tự rèn luyện bản thân và đạt
được nhiều tiến bộ. Vô ích và phí sức là việc cảm thấy bản thân của
mình có quá nhiều sai quấy và xấu xa; hiện sống không
đúng theo những điều hướng dẫn ở trên
một cách hoàn hảo. Cách phê phán bản thân như vậy chỉ làm cho chúng ta tự
triệt tiêu những năng lực tiềm ẩn của mình
mà thôi.
Thay vì làm như thế, chúng ta
có thể học thuộc những điều được hướng dẫn ở
trên rồi cố hết sức vận dụng những lời khuyên
đó. Chúng ta cũng cần phải ôn lại theo định
kỳ để làm cho tâm chúng ta khởi sắc và sống
động trở lại. Chúng ta có thể chọn ra một
pháp cụ thể hay một điều cụ thể nào đó
trong nội dung đã được trình
bày ở trên để tập trung tu tập trong đời sống
bình nhật suốt một tuần này. Tuần tới chúng ta có thể bổ sung thêm
một điều nữa, và cứ như thế chúng ta
có thể làm cho nếp sống tu tập càng ngày càng phong phú và càng ngày càng
an vui tiến bộ. Theo phương pháp bổ sung như thế chúng ta dần dần xây dựng
được những tập quán tốt trong việc tu tập tất
cả những điều được hướng dẫn ở trên.
XI. GIỚI LUẬT
^
Có
định hướng tốt cho nguồn năng lượng của chúng ta
Ðể giúp chúng ta có
được định hướng tốt trong hành
động, lời nói và nếp nghĩ, Ðức Phật
đã phác họa ra 10 loại thiện nghiệp và
10 loại bất thiện nghiệp. Ngoài ra, Ðức Phật còn thiết lập bổ sung thêm 3
cấp độ giới phẩm. Cấp độ đầu tiên là
những giới điều đưa cá nhân đến bến bờ giải
thoát. Những giới điều này giúp chúng ta tránh xa những hành
động quấy ác và những lời nói quấy ác.
Cấp độ thứ hai là giới phẩm của Bồ Tát
nhằm giúp chúng ta chế ngự tâm thái vị kỷ, quá ưu ái bản thân. Giới phẩm
Mật Tông là cấp độ thứ ba có tác dụng đoạn
trừ ảo tướng và vọng niệm đối với các
pháp, xem chúng là thông thường và có thể tự hiện hữu.
Mỗi giới
điều đúng nghĩa phải là một niềm an
vui chớ không phải là một gánh nặng. Giới
điều không phải được thiết lập với mục đích để ngăn cản những phút giây
vui sống và khiến cho chúng ta cảm thấy bị tước
đoạt tự do. Mục đích của việc thọ giới là
làm cho chúng ta tạo nên một sức mạnh nội tâm, giúp cho chúng ta
đủ sức không làm những
điều mà chúng ta không muốn làm. Một
khi biết được rằng việc sát sinh, trộm cắp, lòng
vị kỷ... chỉ gây hại cho bản thân chúng ta, cho người khác, trong hiện tại
và tương lai thì chúng ta sẽ khởi ý muốn tránh xa những việc
đó. Thọ lãnh những giới
điều giúp cho chúng ta có thêm sức
mạnh và nghị lực. Vì vậy có câu nói rằng giới luật chính là những món
trang sức tạo nên uy nghi của người có trí.
Những giới
điều đưa cá nhân đến bến bờ giải thoát
Ðể giúp con người chế ngự
được những tâm thái nhiễu loạn và từ
bỏ những hành vi quấy ác, Ðức Phật đã
ban hành 5 giới. Một vị Tỷ-kheo hay một vị Tỷ-kheo-ni có thể cử hành nghi
thức truyền giới ngắn và đúng pháp cho cư sĩ
tại gia. Nghi thức này giúp cho người cư sĩ chính thức quy y Tam
Bảo: Ðức Phật, Tôn Pháp và Hiền Thánh Tăng.
Không nhất thiết khi quy y người Phật tử phải thọ đủ 5 giới. Tùy
theo từng cá nhân một Phật tử tại gia có thể lãnh thọ một, hay vài giới,
hay cả 5 giới dành cho cư sĩ tại gia: ưu-bà-tắc (nam cư sĩ) hay ưu-bà-di
(nữ cư sĩ).
Năm
giới lãnh thọ trọn đời là tránh
xa:
1. sát hại sinh mạng,
2. lấy của không cho,
3. tà dâm,
4. nói dối,
5. dùng các chất say, gây nghiện.
Khi làm lễ quy y, một số vị
đạo sư chỉ kèm thêm việc truyền ngay
giới thứ nhất cấm sát hại sinh mạng và để cho
chúng ta quyết định có thọ giới nào hay tất cả 4 giới còn lại hay
không. Còn những vị đạo sư khác thì
truyền ngay tất cả 5 giới trong lễ quy y cho Phật tử.
Bốn giới
đầu đã
được miêu tả trong phần, "Tứ thánh đế"
[tương ứng với Chánh nghiệp, Chánh ngữ và Chánh mạng thuộc Ðạo
đế]. Giới thứ năm
là từ bỏ rượu và các chất gây nghiện. Những chất này
độc hại vì người bị chúng tác
động sẽ không còn khả năng
phân biệt được nẻo chánh đường tà. Rượu và chất gây nghiện khiến
người ta nói những lời dữ dằn và có khi đánh
đập vợ con.
Một số người cảm thấy ngần ngại
khi thọ giới này vì e rằng sống trong xã hội có những trường hợp mà hầu
như ai cũng phải uống chút rượu. Tôi không chắc là có bao nhiêu người thật
sự muốn uống trong những bữa tiệc hay trong một buổi sinh hoạt kinh doanh.
Nhiều người uống có lẽ chỉ vì nghĩ rằng người ta muốn thế chớ không phải
xuất phát từ nhu cầu của chính họ. Hầu như không một ai muốn uống cả! Thật
lòng mà nói, từ chối điều này không
phải là việc khó. Không phải tất cả mọi người trong bữa tiệc bỗng khựng
lại để trố mắt nhìn chúng ta chỉ vì
chúng ta không uống đâu! Khi từ chối rượu,
chúng ta đã nêu được một gương tốt cho
những người quá lệ thuộc vào rượu. Dù gì
đi nữa, chúng ta không cần phải cảm thấy xấu
hổ khi hành xử theo những nguyên tắc riêng của chúng ta.
Có những cách giải thích khác
nhau đối với thuốc lá. Trong Phật giáo
Ðại Thừa thì 5 giới này bao hàm cả việc cấm hút thuốc, nhưng trong Phật
giáo Nguyên Thủy thì lại không cấm.
Trà và cà phê thì có thể
được dùng. Tuy có chứa chất kích thích
(caffeine) nhưng chúng không làm cho chúng ta bị mê muội. Chúng ta cũng có
thể dùng ớt và các hương liệu khác.
Những cư sĩ cũng có thể thọ trì
8 giới điều trong thời gian 24 giờ. Lần đầu
tiên thì chúng ta phải thọ giới từ một vị
đạo sư đầy đủ giới pháp; tức là người
ấy đã
được truyền trao giới pháp chính thức từ một vị đạo sư đời trước. Chúng ta
có thể truy nguyên nguồn gốc của dòng truyền thừa liên tục này và
thấy rằng chính đức Phật là vị
đã chế
định và truyền dạy các giới điều này.
Ðã
được thọ lãnh 8 giới này lần đầu tiên
từ một vị đạo sư có phẩm hạnh thì về
sau chúng ta có thể tự lãnh thọ bằng cách quán tưởng ra rằng chúng ta thọ
nhận giới từ chư Phật, Chư Bồ Tát và A-la-hán. Nghi thức thọ thì ngắn gọn
và phải được cử hành trước khi bình
minh. Giới phẩm đã thọ cũng chấm dứt
vào lúc bình minh ngày hôm sau.
Nhiều người thích thọ Bát quan
trai giới vào ngày Rằm và 30 của mỗi tháng mặc dầu giới Bát quan trai có
thể thọ lãnh bất cứ ngày nào. Năm giới đầu
của 8 giới này thì tương tự như 5 giới của cư sĩ nhưng có
điểm đặc biệt là giới cấm tà dâm
được đổi thành cấm hành dâm vì những
giới điều này chỉ cấm trong thời gian
một ngày mà thôi.
Giới thứ sáu là tránh dùng nước
hoa, đồ trang sức và trang
điểm, đồng thời cũng tránh việc ca hát, nhảy
múa và âm nhạc. Giới điều này
giúp cho chúng ta không bị xao lãng việc tu tập. Không
được làm
đẹp cho thân thể sẽ thúc đẩy chúng ta tu dưỡng cái đẹp trong tâm hồn, cái
đẹp của lòng thương, của từ bi và trí tuệ. Nếu chúng ta ca hát,
ngâm nga thì khi ngồi thiền những âm điệu
cũng cứ du dương trong tâm của chúng ta.
Giới thứ bảy là không
được ngồi hay nằm trên một cái giường
hay cái sập cao và đắt tiền vì
điều này có thể khiến cho chúng ta
khởi tâm kiêu mạn, xem bản thân là cao trọng hơn người khác.
Giới thứ tám là không
ăn đoàn thực sau giờ ngọ và chỉ
ăn chay mà thôi. Khi truyền giới Bát
quan trai, một số vị đạo sư cho phép giới tử
ăn một bữa ngọ mà thôi, một số vị khác lại cho phép giới tử dùng
bữa điểm tâm và bữa ngọ. Một số vị
đạo sư chỉ cho phép uống nước sau giờ ngọ mà
thôi, một số vị khác lại cho phép uống trà với tí sữa hay nước ép trái
cây.
Mục
đích của giới điều này là giảm thiểu
tâm vướng mắc vào thức ăn đồng thời làm
cho chúng ta tu tập thiền định hiệu quả hơn vào
buổi tối vì nếu chúng ta ăn tối phủ phê
thì chúng ta sẽ cảm thấy thân thể nặng nề và buồn ngủ.
Thọ trì giới
điều thật là lợi lạc. Cứ hình dung ra
thế giới quanh ta sẽ như thế nào nếu mọi người
đều giữ giới thứ nhất, không bao giờ sát
sinh! Thế giới này sẽ trở thành một thế giới hoàn toàn khác chỉ vì
một giới điều như vậy. Khi chúng ta sống với
giới điều thì những người chung quanh chúng ta
được ảnh hưởng mạnh mẽ và tức thời: họ
sống một cách an toàn và ổn định vì
chúng ta đã quyết không làm hại họ
nữa.
Hơn thế nữa, những giới
điều khiến cho chúng ta ý thức hơn nữa những
hành động, lời nói và những tâm
thái của chúng ta. Giới điều khiến cho chúng
ta hiểu rõ hơn về bản thân vì chúng ta sẽ trở nên ý thức về những
hành vi đã trở thành tập quán của
mình.
Cũng vậy, khi
đã nhất
định từ bỏ một số hành động nào
thì chúng ta không cần phải cảm thấy hoang mang khi rơi vào tình thế bị
cám dỗ làm một điều gì
đó mà khi làm xong chúng ta sẽ hối
hận.
Mỗi một phút giây chúng ta
không tích cực làm điều gì vi phạm
giới điều thì chúng ta
đã huân tập những thiện nghiệp ngay cả
lúc chúng ta đang ngủ. Chúng ta đã hạ
quyết tâm mạnh mẽ là không làm điều đó và
chúng ta đã tích cực giữ vững quyết
tâm như vậy. Huân tập thiện nghiệp có nghĩa là chúng ta xây dựng nên nền
tảng để chúng ta có thể đạt được những quả
chứng và tạo nên nguồn năng lực khiến
chúng ta mệnh chung an lành và tái sinh vào cảnh giới phúc lạc.
Nếu chúng ta
đủ duyên lành và muốn trở nên tỉnh
giác hơn đối với hành
động và lời nói của mình thì chúng ta
có thể xuất gia và thọ giới Sa-di (nếu là người nam) hay Sa-di-ni (nếu là
người nữ). Giới phẩm này gồm có 10 điều,
truyền thống Tây Tạng còn thêm vào những giới phụ, nâng tổng số lên
đến 36.
Sau khi thọ giới Sa-di
đó (một thời gian) vị xuất gia ấy có thể thọ
giới đầy đủ để trở thành một Tỷ-kheo (nam giới) hay Tỷ-kheo-ni (nữ
giới). Những dòng truyền thừa khác nhau thì thường có số lượng giới
điều khác nhau. Trong cùng một dòng
truyền thừa thì số lượng giới điều của tăng và
ni cũng khác nhau.
Theo truyền thống sau khi thọ
giới Sa-di-ni và trước khi thọ giới Tỷ-kheo-ni, người nữ phải thọ một giới
phẩm trung gian gọi là Thức-xoa-ma-na, giới phẩm này gồm 12 giới
điều ngoài những giới
điều của một vị sa-di-ni. Sau khi thọ giới
Thức-xoa-ma-na trong thời gian 2 năm thì vị ni ấy có thể thọ giới
đầy đủ. Dòng truyền thừa của tất cả
những giới phẩm ở trên đã
được trao truyền giữa thầy và trò,
không hề bị gián đoạn kể từ thời của
Ðức Phật cho đến ngày hôm nay.
Tuy nhiên, trong các nước theo
Phật giáo Nguyên Thủy ở Ðông Nam Á, dòng truyền thừa của ni bộ
đã bị mai một trong nhiều thế kỷ qua.
Ngày nay, ở Tích Lan những người nữ thọ 10 giới
được gọi là Dasasilmatas. Ở
Thái Lan, những người nữ thọ 8 giới được gọi
bằng danh hiệu Maejis. Nhưng trong cả hai trường hợp này
những giới điều đều được xem là giới
cư sĩ mà thôi và những người phụ nữ này không
được chính thức công nhận là những vị ni cô có
đầy đủ giới phẩm. Tuy nhiên những vị
có trách nhiệm đang xem xét việc đưa mạch
truyền thừa Sa-di-ni, Thức-xoa-ma-na và Tỷ-kheo-ni từ hệ thống Phật
giáo Trung Quốc du nhập vào hệ thống Phật giáo Nguyên Thủy ở trong nước.
Ở Tây Tạng, Phật giáo
đã bắt
đầu truyền giới Sa-di-ni cho phụ nữ, nhưng giới đàn truyền giới cho
Tỷ-kheo-ni vẫn chưa có. Trong khi giới đàn
truyền giới cho Sa-di-ni chỉ cần có 4 vị Tỷ-kheo hay Tỷ-kheo-ni là có thể
thực hiện nhưng để lập giới đàn truyền
giới cho Tỷ-kheo-ni thì phải cần đến 10 vị
Tỷ-kheo-ni hay Tỷ-kheo mới thực hiện được. Vào thời bấy giờ những
phụ nữ khó có thể vượt qua được rặng núi Hy-mã-lạp-sơn
đầy gian khổ và hiểm nạn
để đến những cao nguyên quanh năm
tuyết phủ phía Bắc rặng núi này nên
đại giới đàn truyền giới cho Tỷ-kheo-ni
đã không
đến được Tây Tạng.
Phật giáo Trung Quốc tiếp tục
duy trì cả hai dòng truyền thừa Tỷ-kheo và Tỷ-kheo-ni. Những năm
gần đây, một số phụ nữ xuất gia theo truyền thống Tây Tạng và
truyền thống Nguyên Thủy đã tìm
đến Trung Quốc để thọ giới Tỷ-kheo-ni với
những vị đạo sư Trung Quốc. Hiện nay, người ta đang nghĩ đến việc tái lập
giới đàn Tỷ-kheo-ni bằng cách đưa dòng
truyền thừa này từ Trung Quốc sang nhập vào hệ thống Phật giáo Nguyên Thủy
và Phật giáo Tây Tạng.
Thời Minh Trị ở Nhật Bản giữa
thế kỷ thứ 19, giới điều của Tỷ-kheo và
Tỷ-kheo-ni bị biến đổi mạnh vì khuynh
hướng của chính quyền lúc ấy là muốn những người xuất gia lập gia
đình. Vì thế mà cho
đến bây giờ ở Nhật Bản có đủ dạng tu sĩ Phật
giáo: có cả tăng lẫn ni, có những vị độc thân lẫn những vị có vợ con gia đình.
Những giới điều mà họ lãnh thọ có số
lượng sai khác tùy theo những dòng truyền thừa khác nhau.
Chỉ trừ trường hợp 8 giới là
được lãnh thọ trong trọn một ngày, tất
cả những giới điều khác đều được lãnh
thọ trong suốt cuộc đời. Có thể xảy ra trường
hợp vì không thấy trước được những hoàn
cảnh mà một Tỷ-kheo hay một Tỷ-kheo-ni không còn khả năng
kham lãnh giới điều đã lãnh thọ
hay có lẽ không còn muốn giữ giới nữa thì vị ấy có thể thưa việc ấy với
một vị đạo sư hay chỉ cần nói với một người
có đủ trí để xin hoàn trả lại những giới
điều mà mình
đã lãnh thọ.
Ở Thái Lan có tục lệ là hầu hết
những người nam đều trở thành những
nhà sư và lãnh thọ giới điều trong thời gian
3 tháng, hay ít nhất là một lần trong
đời. Họ thường làm như vậy khi họ là những thanh niên sắp sửa bước
vào cuộc đời. Việc này tạo cho họ một
nền tảng đạo đức nghiêm cẩn và cũng là
một điềm lành lớn cho gia
đình của họ. Vào ngày cuối của 3 tháng
sống đời tăng sĩ xuất gia, những vị này
hoàn trả lại giới điều và trở về cuộc
sống trần tục.
Tất cả những giới
điều kể trên - những giới
điều của nam nữ cư sĩ và những giới
điều của các thứ bậc tăng ni khác nhau - đều
thuộc về Biệt giải thoát luật nghi, hay những giới điều hướng đến sự giải
thoát tự thân. Ðộng cơ căn bản để lãnh
thọ những giới điều này là chí nguyện
vượt thoát khỏi vòng sinh tử luân hồi. Ðây là những giới
điều có tính phổ thông, chung cho tất cả
những truyền thống Phật giáo nhằm điều chỉnh lại những hành
động về thân và về lời nói của chúng
ta. Không hề có sự sai khác trong việc truyền thọ giới pháp Biệt giải
thoát luật nghi dù đó là Nguyên Thủy,
Ðại Thừa hay Kim Cang Thừa.
Trong truyền thống Ðại Thừa có
tập tục phát đại nguyện xả thân bố thí của Bồ
Tát giới trước rồi mới lãnh thọ Bát quan trai giới sau. Thọ Bát
quan trai giới theo cách đó được gọi là
"Bát Ðại Thừa giới." Những vị tăng ni không lãnh
thọ 8 giới điều thông thường trong một ngày
vì 8 giới điều đó đã
được bao hàm trong giới cụ túc mà họ
đang trì giữ thì tăng
ni vẫn có thể lãnh thọ Bồ Tát giới này.
Giới
điều của Bồ Tát
Trên nền tảng quy y hay một
giới phẩm Biệt giải thoát luật nghi mà chúng ta
đã thọ lãnh, chúng ta có thể tiến
đến việc thọ Bồ Tát giới. Thọ Bồ Tát giới
không chỉ với quyết tâm thoát khỏi vòng sinh tử luân hồi mà còn có
quyết tâm theo chí hướng đạt được quả vị Bồ
đề để làm lợi lạc cho tất cả chúng sinh. Bồ Tát giới có tác dụng
đặc biệt là chế ngự tâm thái vị kỷ. Bồ
Tát giới không chỉ điều chỉnh những hành
động về thân hay về lời nói mà còn tác
động tới tư tưởng và tâm thái. Như vậy
Bồ Tát giới khó hành trì hơn so với các giới phẩm thuộc Biệt giải thoát
luật nghi.
Bồ Tát giới chỉ riêng có trong
Phật giáo Ðại Thừa mà thôi. Cư sĩ, Tỷ-kheo hay Tỷ-kheo-ni
đều có thể thọ Bồ Tát giới. Mặc dầu bản chất
của những giới phẩm Bồ Tát là giống nhau nhưng số giới
điều trong dị bản của Tây Tạng và
Trung Quốc lại khác nhau. Khi thọ lãnh những giới
điều này chúng ta phải có quyết tâm
hành trì cho đến khi thành chánh quả
mới thôi. Nhưng chắc chắn chúng ta cần phải thọ giới lại mỗi khi tái sinh
qua một kiếp sống mới!
Trung Quốc có tục lệ
đốt liều trên
đầu những Tỷ-kheo, Tỷ-kheo-ni và
đốt liều trên tay của những người cư
sĩ vào buổi tối trước khi họ thọ lãnh Bồ Tát giới. Việc
đốt liều này
để lại những vết sẹo tròn như
đầu đũa xếp ngay hàng thẳng trên
đầu hay trên tay. Trên
đầu có khi là 3 vết thẳng 1 hàng từ
trên xuống, có khi là 6 vết xếp thành 2 hàng từ trên xuống, có khi là 9
vết xếp thành 3 hàng từ trên xuống. Ðặc biệt chỉ trong truyền thống Phật
giáo Trung Quốc mới có tập tục này, những truyền thống Phật giáo khác
không có. Việc đốt liều này
được thực hiện bằng cách đặt những miếng
nhang nhỏ đang cháy trên đầu hay trên
cánh tay, rồi để cho chúng cháy sâu vào
da. Một số vị muốn đốt nhiều hơn trong khi
những vị khác chỉ muốn đốt ít thôi. Nhưng chúng ta nên biết rằng
không phải đốt liều nhiều là tu lâu,
tu cao; đốt liều ít là người mới tu,
hay là tu cấp thấp.
Mặc dầu nghi lễ này có vẻ khủng
khiếp đối với một số người nhưng thật sự
không ghê gớm như họ nghĩ. Có lẽ vì cả chùa lúc ấy tụng kinh, niệm
Phật vang rền và người đang bị đốt cũng không
để ý gì đến sự đau đớn của bản thân.
Nghi lễ này có 3 ý nghĩa: Một,
vì Bồ Tát giới hướng đến việc chứng được đạo
quả Vô Thượng Bồ đề để làm lợi lạc cho tha nhân nên chúng ta phải
luyện tập tâm dũng cảm, chịu đựng sự đau đớn
trong quá trình làm ích lợi chúng sinh. Rõ ràng
đây không phải là một chủ trương hành
xác. Không phải chúng ta tìm kiếm cảm giác
đau đớn mà đúng hơn là chúng ta
thực tập đối mặt với những nghịch cảnh. Trong
quá trình giúp ích cho người khác sau khi thọ giới Bồ Tát, tức là
giới xả thân bố thí, chúng ta phải có khả năng
chịu đựng được đau đớn và khổ sở. Chịu
đựng cơn đau do nhang cháy trên da đầu
biểu hiện sự dũng cảm và quyết tâm của chúng ta trong việc giúp
đỡ cho tất cả người khác bất kể chúng ta phải
trả giá như thế nào.
Hai,
điều này biểu trưng cho việc chúng ta
cúng dường xác thân này lên Ðức Phật. Chắc chắn là Ðức Phật không xem
đó là việc cần phải làm và cũng không
yêu cầu chúng ta thực hiện nghi lễ có vẻ đau
đớn như vậy để chứng tỏ lòng thành. Ở Trung Hoa nghi lễ này rất phổ
biến và biểu thị cho việc chúng ta sẵn sàng xả thân bố thí theo lời dạy
của Phật. Thông thường chúng ta rất đắm trước
và bảo bọc thân thể của chúng ta. Việc
đốt liều biểu trưng ý nghĩa rằng tâm đắm trước và luyến ái
đó của chúng ta đã bị
đoạn trừ qua việc chúng ta dâng cả thân tâm lên
cúng dường Ðức Phật.
Ba, ý nghĩa này mang tính thực
tiễn. Ngày xưa ở Trung Hoa, chư tăng và
các vị ni ít bị ràng buộc theo luật pháp ở thế gian mà bị ràng buộc rất
chặt chẽ theo giới luật của nhà Phật và nội quy của Tăng
viện. Tuy nhiên, chính quyền cũng như Tăng
viện đều không muốn những phạm nhân giả dạng tăng ni để trốn tránh hình
phạt của pháp luật. Do vậy, truyền thống đốt
liều trên đầu của chư tăng ni đã
được thiết lập ở Trung Hoa để cho người ta
phân biệt được dễ dàng người xuất gia chân chính và người gian tà
giả dạng xuất gia.
Giới
điều của Mật Tông
Bộ giới luật thứ ba gồm những
giới điều của Mật Tông. Giống như những giới
điều của Bồ Tát, những giới điều của Mật Tông cũng giúp cho chúng ta kiểm
soát những hành động về thân, về lời
nói và về ý tưởng. Giới pháp này chủ yếu nhắm
đến việc đoạn trừ những ảo tướng và ảo
tưởng. Những cái khiến cho chúng ta thấy các pháp là thông thường, thực
hữu và qua đó ngăn cản, không cho chúng ta
chứng đạt đạo quả Bồ đề. Hành trì nghiêm nhặt những giới luật của
Mật Tông là điều khó thực hiện. Tuy nhiên,
lợi lạc do việc hành trì đem lại cũng vô cùng
to lớn.
Các giới
điều của Mật Tông được truyền thọ thông qua
một số lễ nghi nhập môn chỉ có trong truyền thống Mật Tông mà thôi.
Ðể được truyền thọ giới pháp của Mật Tông,
trước đó chúng ta phải thọ lãnh một số hay tất cả những giới
điều thuộc Biệt giải thoát luật nghi và
những giới điều của Bồ Tát. Chúng ta thệ
nguyện giữ gìn những giới điều của Mật
Tông cho đến khi chúng ta đạt được quả vị giác ngộ hoàn toàn.
Thọ giới
Lãnh thọ bất cứ bộ giới luật
nào là việc làm hoàn toàn mang tính tự nguyện. Ðể thọ giới chúng ta phải
nhận thức được những lợi lạc của một đời sống
có đạo đức. Có vô số những điều lợi lạc nhưng có thể nói tóm lại rằng sống
đời đạo đức đưa chúng ta đến giải thoát, giác ngộ và khiến chúng ta
có thể làm lợi ích cho người khác.
Một số người ngần ngại trong
việc thọ giới vì cảm thấy rằng khó có thể giữ gìn giới luật một cách hoàn
hảo sau khi thọ giới. Chúng ta không nên kỳ vọng rằng chúng ta sẽ trở nên
hoàn hảo ngay từ phút đầu. Nếu chúng ta có
thể giữ gìn những giới luật hoàn hảo ngay từ phút
đầu sau khi thọ giới thì chúng ta
không cần thọ giới nữa vì chúng ta đã
là một vị A-la-hán hay một vị Phật rồi. Chúng ta thọ lãnh những giới
điều chính là vì chúng ta chưa có thể
giữ giới một cách hoàn hảo được. Nhưng qua
quá trình cố gắng thì những hành động,
lời nói và tâm thái của chúng ta sẽ dần dần
được uốn nắn theo chiều hướng thanh tịnh.
Ngược lại, chúng ta không nên
thọ giới nếu chúng ta hoàn toàn không có khả năng
giữ giới. Là một việc làm sai lầm, nếu chúng ta cố cượng thọ giới
mà không có chút khả năng gìn giữ!
Chúng ta cần có một thái độ cân phân chín
chắn. Ví dụ như một đứa bé muốn ăn một miếng dưa hấu nhưng lại không dám vì
thấy trái dưa ấy to quá. Không dám nghĩ đến
ăn dưa nữa thì đứa bé quả thật đã
mất đi một cái gì có ích lợi. Ngược
lại nếu đứa bé muốn nhét cả trái dưa to vào
miệng ngay tức khắc thì đứa bé sẽ bị nguy
hiểm. Nhưng bằng cách đưa vào miệng từng miếng vừa chừng thì
đứa bé dần dần được no đủ và khỏe
mạnh. Tương tự như vậy, chúng ta nên thọ lãnh dần dần những giới
điều tùy theo năng
lực tu tập của chúng ta.
Ðể gìn giữ những giới mà chúng
ta đã lãnh thọ, chúng ta cần phải
chánh tâm và tỉnh thức. Trường hợp lỡ sai phạm, chúng ta có thể áp dụng 4
sức mạnh đối trị - hối lỗi, quy y và
chí hướng xả thân bố thí, lấy công chuộc tội và quyết
định không tái phạm - để tẩy sạch những dấu
ấn xấu trong dòng chảy tâm thức của chúng ta. Bốn sức mạnh
đối trị này
đã được
miêu tả trong chương trước đây khi
thảo luận về vấn đề nghiệp.
Những giới
điều được xem là những món trang sức
cho một hành giả chân chính. Ngay cả khi chúng ta không muốn thọ giới thì
việc từ bỏ 10 bất thiện nghiệp cũng để lại
những kết quả tốt đẹp tức thời trong đời sống của chúng ta. Những người
xung quanh chúng ta sẽ nhận ra sự khác biệt trong phong cách mà
chúng ta hành xử và gia tăng niềm tin và
sự kính trọng đối với chúng ta. Tâm hồn của
chúng ta sẽ yên tĩnh hơn và dễ tập trung hơn khi chúng ta thiền
định. Hành xử
đạo đức thật sự là nền tảng cho tất cả
những hạnh phúc dù là tạm thời hay miên viễn. Ðức Phật
đã nói:
Ðàn hương cùng với hương trầm,
Hương sen thơm dịu, suốt năm hương lài.
Hương thơm đức hạnh xa bay;
Thơm hơn tất cả, đất trời ngát hương.
Phần Ba
TRUYỀN THỪA LỜI PHẬT DẠY
Trong những phần trước chúng ta
đã nhìn thấy
được những tinh yếu của những lời Phật dạy
cũng như cách thức áp dụng những tinh yếu đó vào cuộc sống của
chúng ta trong thế kỷ này. Nhưng chúng ta có thể thắc mắc về cội nguồn của
đạo Phật và về phương thức mà
đạo Phật thuần chất đã
được truyền thụ cho đến thế hệ hiện nay của
chúng ta. Tại sao lại có nhiều truyền thống khác nhau trong Phật giáo và
những truyền thống đó là gì? Ðạo Phật
đã được hành
trì như thế nào ở những nước khác nhau? Tất cả những vấn
đề trên sẽ
được thảo luận trong phần này.
XII. CUỘC ÐỜI CỦA ĐỨC PHẬT
^
Cảm kích tất cả chúng ta
"Ðức Phật
đã miêu tả những chân lý có giá trị
muôn đời và
đã phát huy những
đạo lý không chỉ cho Ấn Ðộ mà còn
cho cả nhân loại. Ðức Phật là một trong những vị chân nhân
đạo đức vĩ đại nhất xuất hiện trong thế
gian này" (Albert Schweizer, học giả người Pháp về thần học và
triết học đã
đoạt giải Nobel).
Ðời sống của những bậc chân
nhân đã nâng cao giá trị của loài
người chúng ta. Thật là một ân phước, những vị ấy
đã xuất hiện và sinh sống giữa loài
người chúng ta. Tiểu sử của những bậc chân nhân như vậy làm cho chúng ta
phấn chấn. Những vị ấy đã chỉ bày
phương pháp để chúng ta vượt qua những khó
khổ và làm lợi lạc cho tha nhân. Chúng ta có thể tìm thấy rằng
những việc xảy ra trong đời sống của
Ðức Phật có nhiều việc tương tự với những gì chúng ta
đang gặp phải trong cuộc sống, tương tự với
những nỗ lực mà chúng ta đang thực
hiện để tu sửa bản thân.
Sinh ra năm
560 trước tây lịch (TL), Ðức Phật là một thái tử thuộc hoàng tộc
Thích-ca của xứ Ca-tỳ-la-vệ, ngày nay là Nepal. Trước khi mãn nguyệt khai
hoa, mẹ của thái tử nằm mộng thấy một số điềm
lành. Chuyện kể rằng khi vừa mới sinh ra, thái tử bước
đi bảy bước và tuyên bố: "Ðây là
lần tái sinh cuối cùng của ta."
Một số người cảm thấy vô cùng
sung sướng khi được nghe kể về những điều mầu
nhiệm xảy ra trong lúc Phật đản sanh cũng như đời sống sau này của
Ðức Phật; đó là những
điều biểu thị cho những thành tựu tâm
linh của Ngài. Một số người khác thì lại nghi ngờ vì những mẩu chuyện như
vậy chưa được giải thích về phương diện khoa
học.
Ðây là vấn
đề mà chúng ta có thể tranh luận bất
tuyệt, nhưng làm như vậy là đi lạc đề.
Ðiều quan trọng là chúng ta tu tập và thành tựu
được những phẩm chất cao thượng bằng cách
sống theo Chánh pháp. Những giai thoại kể về những bậc thánh nhân chỉ nên
là nguồn cảm hứng. Những giai thoại đó có thể
làm gương mẫu sống động giúp chúng ta
phát triển đời sống tâm linh. Tốt nhất là bạn nên xem những giai
thoại có nhiều tính chất mầu nhiệm huyền bí
đó là nguồn phấn khích tích cực và làm cho chúng ta hưng phấn hơn,
có lợi cho cuộc sống. Nếu bạn không thể thấy theo chiều hướng như vậy thì
cũng không phải là vấn đề quan trọng. Trong
những giai thoại kể về Ðức Phật, bạn hãy tập trung tâm ý vào những
đoạn mà theo bạn là có ý nghĩa nhất.
Mẹ của Ngài mệnh chung bảy ngày
sau khi đản sinh. Ngài
được người mẹ kế là Kiều Ðàm Di săn
sóc nuôi dưỡng. Một nhà hiền trí nói với cha Ðức Phật (vua của
thành Ca-tỳ-la-vệ) rằng đứa trẻ sau này
sẽ là một người kiệt xuất vĩ đại: hoặc là
một vị hoàng đế vĩ đại với quyền lực về kinh
tế, chính trị và xã hội, hoặc là một thánh nhân vĩ
đại với trí tuệ và từ bi dắt dẫn mọi
người trên con đường tâm linh.
Nhà vua mong muốn con của mình
đạt được điều tốt đẹp nhất; và theo
quan điểm của nhà vua,
điều tốt đẹp nhất là quyền lực và giàu
có hơn người. Rõ ràng là nhà vua không thấy
được giá trị của sức mạnh tâm linh và năng
lực tâm linh của thái tử. Nhà vua đã
xây dựng nên một cuộc sống tốt đẹp nhất (theo
quan điểm của bản thân nhà vua) để cho
thái tử được hưởng thụ và trưởng thành. Trong cuộc sống này, thái
tử Tất-đạt-đa có tất cả mọi thứ mà
đồng tiền có thể mua được. Tất cả mọi điều
không được ưa thích đều bị tống ra ngoài bức tường bao kín cung
điện và thái tử không
được phép ra ngoài thành vì vua cha sợ
rằng thái tử sẽ phải chạm mặt với thực tế cạnh tranh nghiệt ngã của
đời sống và e rằng những
điều ấy làm cho thái tử không
được vui.
Khi còn là một
đứa trẻ, thái tử Tất-đạt-đa đã là
người từ ái và thành công về cả hai phương diện võ nghệ và văn
tài. Lớn lên, Ngài lập gia đình
và có một đứa con. Từ thành công này
đến thành công khác, trong mọi phương
diện, thái tử đã
đáp lại những kỳ vọng của gia đình và
xã hội. Vì vậy, đối với mọi người Ngài
là hiện thân của "thành công."
Một ngày nọ, thái tử cùng với
người đánh xe vượt qua khỏi cấm thành,
Ngài thấy một người già da nhăn, ốm yếu, lưng
còng, hôi hám đang đi trên
đường. Ðối với một thái tử
được bảo bọc kỹ lưỡng thì
đây là một cảnh trạng vô cùng lạ lẫm
trong cuộc đời vì những người già cả
như thế này từ lâu đã bị cấm bén mảng
vào bên trong bức tường của cấm thành. Khi thái tử hỏi người
đánh xe về người già ấy thì biết
được rằng mọi người đều không thể tránh khỏi
quá trình già yếu, rệu rã và hôi hám. Trở về hoàng cung, thái tử
trở nên lặng lẽ, trầm mặc hơn. Thế là thứ hạnh phúc toàn vẹn ở thế gian mà
lâu nay vua cha chủ động xây dựng và
thái tử "được" uốn nắn theo để ước mơ đã
vỡ tan như bong bóng nước trong mưa.
Một ngày khác, thái tử lại cùng
với người đánh xe phiêu lưu ra ngoài
và thấy một người bệnh hoạn đang rên
rỉ trong cơn đau nhức. Khi hỏi ra thái tử
biết được rằng mọi người đều bị nhiều loại bệnh tật rình rập, chi
phối, áp đảo; cuối cùng bị bệnh tật
làm cho mê mệt, tê liệt và ngã quỵ, mặc dù không ai muốn như vậy cả.
Ra ngoài thành lần thứ ba, Ngài
thấy một xác chết. Người đánh xe giải thích
cho Ngài biết rằng chết là điều không
thể tránh khỏi và tất cả chúng ta đều
phải từ bỏ thân thể này, từ bỏ trần gian này với những thú vui và
những gì thân ái yêu thương nhất. Nghe vậy thái tử cảm thấy kinh khiếp,
hãi hùng. Ngài bỏ nếp suy nghĩ do vua cha tác
động và lèo lái; Ngài bắt đầu tự đề
khởi nếp suy nghĩ riêng về ý nghĩa của
đời người: người ta không có chọn lựa nào khác ngoài cảm giác già
nua, đau bệnh và chết ư! Thế thì tất
cả những của cải vật chất, tất cả những quyền lực và uy thế mà Ngài
đang có chẳng còn nghĩa lý gì nếu
chúng không chống lại được già nua,
xấu xí, rệu rã; không chống lại được bệnh
hoạn, suy kiệt và hôi hám; không chống lại
được dấu chấm hết của mạng sống, gục ngã,
xuôi tay? Ngài nhận ra rằng ngay cả gia đình,
bè bạn, mặc dầu họ dành cho Ngài một tình thương yêu vô bờ bến, nhưng họ
không thể bảo vệ Ngài thoát khỏi già, bệnh và chết. Họ cũng chẳng bảo vệ
được bản thân của họ nữa mà.
Trong chuyến
đi ra ngoài thành lần thứ ba, Ngài
thấy một khất sĩ ăn mặc đơn giản, thanh bần.
Người đánh xe giải thích rằng đây là một người
đã bỏ lại sau lưng những phiền lụy của
đời sống trần gian, đang đi tìm ý
nghĩa của cuộc đời và giải pháp cho
những vấn đề của nhân sinh theo một phương
pháp thánh thiện và trong sạch nhất.
Ðêm hôm
đó sau một buổi đại yến linh đình,
Ngài nhìn thấy cảnh tượng những vũ nữ xinh
đẹp huy hoàng đầu hôm, giờ đây đang
nằm sóng soải ngủ quên, có nàng ngái ngủ, ú ớ chuyện
đâu đâu, có nàng phát ra tiếng thở
nặng nề, mê mệt. Nàng nào cũng tóc tai rũ rượi sau một
đêm dài múa hát. Những yêu kiều, tươi
tắn, rực rỡ trong buổi yến tiệc vừa rồi té ra chỉ là sự căng
nụ và bừng nở của một loài hoa rồi sau
đó... Nhìn thấy sâu xa thực chất của những biến thái khác nhau
đó, Tất-đạt-đa quyết định phải tìm cho
ra giải pháp cho cái bản chất bất như ý của cuộc
đời. Ngài thấy việc
đắm chìm trong dục lạc giác quan là vô
nghĩa và vô vọng vì một ngày nào đó, người
sống với những tham đắm ấy phải chết và bỏ lại tất cả. Những người
ấy chưa từng trải nghiệm và không bao giờ có thể trải nghiệm toàn bộ năng
lực tiềm ẩn của con người.
Thái tử bước giã biệt người vợ
và đứa con thân yêu rồi cùng với người
đánh xe rời khỏi hoàng thành. Cởi bỏ y
phục và đồ trang sức đế vương của một thái
tử, Ngài khoác lên mình mảnh áo đơn sơ
rồi cắt tóc, quyết tâm tìm ra lời giải cho những bí mật của cuộc
đời. Trước hết, Ngài lên
đường đi tìm kiếm một vị
đạo sư.
Trong những năm
đầu, Ngài thọ học với những vị đạo sư
thiền định nổi tiếng nhất thời bấy giờ và
đạt được những thành tựu thập phần
viên mãn theo giáo lý của những vị này. Thế nhưng tâm thức của Ngài vẫn
chưa thoát khỏi vòng vây của tham lam, sân hận và si mê, vẫn còn bị trói
buộc trong "có không còn mất". Ðể xoay xở tìm lối thoát siêu vượt lên,
Ngài quyết định tu tập theo những pháp môn
tột cùng của khổ hạnh. Cùng với năm
người bạn, Ngài tu tập theo pháp môn thiền
định ròng rã 6 năm,
hạn chế tối đa việc ăn uống. Mặc dầu Ngài
đạt được những tầng thiền định cao thượng
nhất đương thời nhưng tâm trí Ngài vẫn không
được giải thoát hoàn toàn. Bằng kinh
nghiệm của chính bản thân sau nhiều năm tháng
cần khổ tu tập, Ngài nhận ra rằng hành hạ bản thân không phải là
nền tảng của sự chứng đạt tâm linh, ngọn
nguồn của Vô Thượng Giác.
Chánh Ðẳng Chánh Giác
Từ bỏ
đường lối khổ hạnh cực đoan, sức khỏe dần dần
hồi phục trở lại, Ngài liền đi đến Bồ
đề đạo tràng thuộc khu vực Ðông Bắc Ấn Ðộ rồi ngồi tĩnh tọa dưới
cội cây Bồ đề. Với hùng lực và quyết
tâm cao nhất. Ngài dũng mãnh phát nguyện không bao giờ
đứng dậy rời khỏi chỗ thiền tọa khi chưa được
giác ngộ hoàn toàn.
Câu chuyện kể tiếp rằng Ma
vương, chủ tể của loài ma, đã xua lực
lượng đến ngăn cản, không cho Ngài
tiếp tục thiền định. Chúng ta có thể xem Ma
vương là những thế lực từ bên ngoài
đến để gây trở ngại cho chúng ta hay là một phần tâm thức của chính
chúng ta còn phân vân, chấp thủ và u mê. Một trận chiến xảy ra giữa Ðức
Phật và quân đội của ma, giữa sáng suốt và
u mê, giữa thánh thiện và phàm tình, tục lụy. Trận chiến này có nhiều ý
nghĩa đối với những tâm hồn nhạy bén với
những giá trị tâm linh và là nguồn khích lệ
đối với những người hướng thiện, muốn chống
lại những tham lam thấp kém.
Trước hết, Ma vương
đã đưa ra
những chiến binh hung hãn nhằm chận
đứng việc thiền định của Ngài, nhưng Ðức Phật
đã chuyển hóa những vũ khí của ma quỷ
thành một trận mưa hoa thơm ngát. Ðiều này có thể hiểu là nỗi sợ hãi và
tính chất sân hận trong tâm thức của chúng ta có thể dùng lòng yêu thương
để chế ngự và chinh phục.
Kế
đến, Ma vương đã gửi những nàng con gái khả ái và nõn nà, xinh tươi
và thơm tho như mộng đến để làm cho Bồ
Tát phải bị lôi cuốn mà xao lãng tâm ý, hầu phá vỡ tâm thức tập trung cao
độ của Ngài. Nhưng Tất-đạt-đa
đã chuyển hóa những nàng con gái kiều diễm này thành những cái túi
đựng đồ đang trong quá trình hư mục và
bắt đầu tiết ra mùi hôi thúi. Nhục nhã
và xấu hổ, chúng lẫn trốn tức thì. Cần nhắc nhở rằng lòng ham muốn của
chúng ta sẽ không còn một chút sức lôi cuốn khi chúng ta nhìn xuyên thấu
qua lớp võ hào nhoáng bên ngoài của những đối
tượng mà chúng ta chấp thủ, ái luyến.
Cuối cùng, Ma vương
đã tấn công
đến tư cách và nhân thân của Bồ Tát;
nó đặt vấn đề Bồ Tát có đủ thiện nghiệp sâu dày,
tư cách để ngồi chỗ đó hay không. Tất-đạt-đa
đã dùng tay chạm lên quả địa cầu, vị
nữ thần của quả đất xuất hiện, xác nhận rằng Ngài
đã huân tập
đầy đủ phước đức và thiện nghiệp sâu
dày. Ðiều này biểu thị rằng những nghi ngờ do dự của chúng ta sẽ tan biến
nếu chúng ta dựa trên nền tảng của thực tại, tức là chính cái thực tại mà
chúng ta đang sống, đang sống trong, đang
sống với. Chính cái thực tại mà chúng ta
đã vượt qua
được bức màn ảo giác và thiên kiến, cố
chấp; chính cái thực tại đã
được chúng ta nhìn xuyên thấu
được bản chất tàng ẩn của nó. Bị thất
bại, Ma vương bỏ đi.
Trong
đêm đó,
Bồ Tát tiếp tục thiền định, dần dần tẩy sạch tâm tư khỏi các cấu uế sau cùng
tinh tế của vô minh và chấp ngã. Bình minh hôm ấy Bồ Tát
đạt được Phật quả Vô Thượng Chánh Ðẳng
Giác, tức là đã
đoạn trừ hoàn toàn tất cả các cấu
nhiễm trong tâm tư và đã thành tựu
viên mãn mọi đức tánh thù thắng tối
cao.
Ban
đầu Ðức Phật cảm thấy ngần ngại trong
việc tuyên thuyết giáo pháp, không biết người nào có thể hiểu
được kinh nghiệm phi thường này hay
không? Lúc ấy, có những vị thiên do Phạm thiên dẫn
đầu xuất hiện và thỉnh cầu Phật thuyết
giảng, nói rằng chắc chắn sẽ có những người có tâm hồn trong sáng, ít
nhiễm bụi trần, khi nghe được giáo pháp,
những người ấy sẽ có được lợi lạc.
Khi biết rằng năm
người bạn ẩn sĩ đã từng cùng tu khổ hạnh chung với mình
đang ở Sarnath, Ðức Phật du hành tới
nơi ấy. Nhận ra Ðức Phật từ xa nhưng năm
người bạn ẩn sĩ này vẫn còn giữ trong lòng cảm giác giận hờn và
khinh ghét vì trước kia họ là những người từng chứng kiến sự kiện Ðức Phật
giảm hẳn khổ hạnh đến mức độ gần như bỏ luôn
lối tu cổ điển này. Họ nêu lên ý kiến chung là không tiếp
đón Ðức Phật. Tuy nhiên khi Ðức Phật
đến gần, khi được diện kiến tôn nhan sáng rỡ
hào quang từ bi và trí tuệ của Ðức Phật thì cảm giác giận hờn và
thành kiến xa xưa của họ tan biến như mây mù trước ngọn gió ban mai mát mẻ
thanh lương. Thay đổi hẳn thái độ, năm người
bạn ẩn sĩ khổ hạnh tiếp đón Ðức Phật nồng nhiệt, thập phần kính
ngưỡng. Nhân duyên chín muồi Ðức Phật tuyên bố bài pháp thoại
đầu tiên, khởi sự sự nghiệp truyền bá
giáo pháp vô thượng.
Bài pháp thoại
đầu tiên này nói về Tứ thánh
đế. Năm vị ẩn sĩ bừng tỉnh ngộ và xin
được thọ giáo tu hành theo Ðức Phật.
Chẳng bao lâu sau đó cả năm vị đều chứng được
quả vị A-la-hán. Như thế, cộng đồng Tăng-già
đã được
chính Ðức Phật thành lập.
Suốt 45 năm
còn lại, Ðức Phật du phương giáo hóa khắp mọi nơi thuộc miền Bắc Ấn
Ðộ. Mọi người, thuộc mọi thành phần xã hội
đều có thể xin quy y, theo về với Ngôi Tam Bảo để sống cuộc đời lợi lạc an
vui, tu tập theo những lời của Ðức Phật dạy bảo. Một ngày nọ, Ngài
quay trở về thành Ca-tỳ-la-vệ để thuyết pháp
độ cho gia đình. Nghe được những buổi
pháp thoại do Ðức Phật tuyên thuyết vua Tịnh Phạn cũng
đạt được nguồn phước lạc vô biên. Nhà
vua phát tâm quy y Tam Bảo và tu hành theo lời dạy của Ðức Phật. Người con
trai là La-hầu-la cũng xuất gia trở thành vị Tỷ-kheo và sau này trở thành
vị đệ nhất về mật hạnh.
Sau khi Tịnh Phạn Vương qua
đời, dì mẫu của Ðức Phật cùng với 500
nữ nhân dòng họ Thích-ca xin được xuất gia.
Ban đầu Ðức Phật từ chối, có lẽ là vì Ngài không muốn rằng dì mẫu
có ý định xuất gia chỉ vì nỗi
đau khổ do vua Tịnh Phạn, chồng bà,
mới vừa qua đời.
Kiều Ðàm Di mẫu
đã thể hiện quyết tâm và ý chí xuất
trần cao độ của mình. Bà cùng với 500
nữ nhân cạo sạch tóc, mặc y vàng đi bộ theo
Ðức Phật hàng trăm dặm từ thành
Ca-tỳ-la-vệ đến Tỳ-xá-ly. Ananda, người thị
giả trung thành và đắc lực của
Ðức Phật đã hỏi Phật rằng phụ nữ có
khả năng chứng được quả vị A-la-hán không.
Ðức Phật trả lời rằng phụ nữ có khả năng
chứng quả A-la-hán. Sau đó, Ðức Phật cho phép
đoàn phụ nữ này
được gia nhập tăng đoàn. Như thế, giáo
đoàn ni
được thành lập, mở cửa ngỏ giải thoát cho mọi người phụ nữ có thiện
duyên. Da-du-đà-la cũng xuất gia vào
ni đoàn và cũng
đắc được quả vị A-la-hán cao quý.
Phật giáo tác
động vào xã hội
Nhìn từ nhiều khía cạnh, Ðức
Phật là một nhà cách mạng xã hội trong thời
đại đó. Ngài lên tiếng đả kích mạnh mẽ
các nghi lễ cầu cúng mang nặng tính hình thức; khiến người ta phải
suy nghĩ đến mục đích của các buổi tế lễ Bà-la-môn
đương thời đang được tiến hành. Ðức
Phật cũng lên án việc phân biệt đối xử và
những bất công xã hội khác trong hệ thống giai cấp. Tuy sống trong bối
cảnh văn hóa như vậy nhưng Ngài
đã không
để cho những tập tục hủ lậu ấy xâm nhập vào trong sinh hoạt của
đoàn thể Tăng-già.
Ðức Phật đã kiên quyết với lập trường
rằng mọi người đều phải được đối xử một cách
bình đẳng. Trong giáo đoàn của
Ðức Phật, lòng kính trọng được dành
cho những vị trưởng lão cao hạ và những vị đã
chứng đạo chớ không dành cho những
người thuộc một giai cấp đặc biệt nào
đó trong xã hội.
Ở Ấn Ðộ thời cổ
đại, thân phận của người phụ nữ không được
xem trọng, dù vậy Ðức Phật đã
làm sửng sốt nhiều người khi Ngài công khai thừa nhận năng
lực tâm linh của phụ nữ. Ðức Phật đã
cho phép phụ nữ được thoát ly khỏi gia đình
mặc dù theo phong tục ngàn đời của xã
hội thời bấy giờ thì người phụ nữ luôn luôn phải sống dưới sự cai quản của
người đàn ông: trước hết là người cha,
kế đến là người chồng, và khi tuổi già
thì nương với những người con trai.
Có nhiều vị trưởng lão ni xuất
chúng đã
đạt được quả vị A-la-hán. Những lời huấn thị của những vị ni này
được ghi lại trong tác phẩm Trưởng
Lão Ni Kệ thuộc hệ thống kinh tạng Pali. Một số người cho rằng lúc
đầu Ðức Phật không muốn chấp nhận cho
người nữ xuất gia; sau đó Ngài thay
đổi quan điểm và miễn cưỡng chấp nhận;
điều này hàm ý rằng có thể
đó là một sai lầm khi Ngài
đổi ý như vậy. Nên
được nhắc rằng Ðức Phật của chúng ta
cũng đã từng không muốn tuyên thuyết
Chánh pháp nhưng sau đó Ngài
đổi ý. Tại sao trong sự kiện đó không ai bảo
rằng Ngài đổi ý như vậy là sai
cả!
Ngược lại tính chất chuyên chế
của hầu hết hệ thống chính quyền Ấn Ðộ thời cổ
đại, Ðức Phật ủng hộ một hệ thống
điều hành có tính cộng hòa và dân chủ
hơn. Ngài đã dựa trên hệ thống này
để thành lập nên cộng
đồng Tăng-già. Các vị Tỷ-kheo và
Tỷ-kheo-ni đã thọ giới cụ túc 10 năm
thì được xem là những vị
đã vững chãi trên con
đường tu tập và
được gọi là những vị cao hạ. Những vị
cao hạ này họp mặt với nhau trong những buổi thảo luận, xây dựng nên những
đường lối và
đưa vào thực hiện trong các cộng
đồng Tăng-già.
"Nội quy" của cộng
đồng Tăng-già là những giới
điều mà Ðức Phật
đã thiết lập cho các Tỷ-kheo và
Tỷ-kheo-ni. Trong thời mà những vị đệ tử đầu
tiên gia nhập tăng đoàn thì
chưa có một giới điều nào cụ thể cả.
Những giới điều được thiết lập khi có những
vị Tỷ-kheo và Tỷ-kheo-ni làm những hành
động có hại cho bản thân và cho người
khác hay những hành động xúc phạm đến mọi
người. Khi những hành động như vậy
được trình báo cho Ðức Phật biết thì Ngài tuyên bố rằng trong tương
lai, những người đệ tử đã thọ cụ túc
giới không nên có những hành động như vậy
nữa. Theo trình tự như vậy những giới
điều được hình thành.
Những giới
điều cốt lõi gồm: không sát hại mạng
sống của con người, không trộm cắp, không nói dối về những quả vị tâm linh
mà mình đã chứng
được và không hành dâm. Những giới
điều khác nhằm điều chỉnh tác phong của
Tỷ-kheo và Tỷ-kheo ni, quy chế về y phục, về cách hành xử giữa
những Tỷ-kheo với nhau, giữa Tỷ-kheo và Tỷ-kheo-ni và những oai nghi tế
hạnh khác. Tăng đoàn cũng không
được sử dụng bất kỳ loại dược chất gây nghiện
nào cả.
Song song với hội chúng tăng
ni xuất gia Ðức Phật còn có nhiều đệ
tử cư sĩ từ tất cả mọi thành phần xã hội, mọi tầng lớp xã hội. Mối
liên hệ giữa hội chúng xuất gia và hội chúng tại gia có tính chất hỗ tương
lợi lạc và trân trọng lẫn nhau. Chức năng của
hội chúng Tăng-già là hết lòng tu tập theo lời dạy của Phật, nêu
gương lành sống động cho người khác, đồng
thời giáo huấn, hướng dẫn đời sống hướng thượng lại cho mọi người.
Ðể thực hiện được việc này các vị
Tỷ-kheo và Tỷ-kheo-ni phải sống một cuộc sống
đơn giản thanh bần. Tăng ni không dấn thân vào việc
đồng áng hay thương mại để kiếm sống vì
những nghề nghiệp này sẽ tiêu tốn rất nhiều thời gian mà
đúng ra phải dành cho việc học giáo lý
và thực tập thiền định; những nghề nghiệp này
cũng dễ làm cho người ta đắm nhiễm và
tham trước.
Vì vậy mà mỗi buổi sáng các vị
Tỷ-kheo và Tỷ-kheo-ni đi hóa duyên
tuần tự nơi nhà cư sĩ để có được thực phẩm
hằng ngày. Mặc dầu việc này đôi khi bị
xem là "đi xin," thật ra không phải
như vậy. Các vị tăng ni không mở miệng hỏi xin và không bắt buộc ai
phải mang phẩm vật ra cúng dường hay bố thí. Tăng
ni chỉ im lặng, chậm rãi đi ngang qua
những gia đình; những người nhận thức
được giá trị tâm linh của con đường đạo, khởi thiện tâm và muốn ủng
hộ thì đem phẩm vật ra cúng dâng với tâm tự
nguyện và hoan hỷ.
Những người xuất gia không phải
là những người sống ký sinh vào xã hội. Thật ra người xuất gia
đang thực hiện một vai trò quan trọng
trong cuộc đời, củng cố tầng đạo đức sâu nhất
trong tâm thức xã hội. Những thế hệ của tăng
ni đã là những người gìn giữ những lời dạy của Ðức Phật từ thiên
niên kỷ này sang thiên niên kỷ khác, đồng
thời làm cho những lời dạy đó trở thành
những hiện thực sống động. Nhờ vào
việc đưa giáo pháp thâm nhập vào dòng
chảy tâm thức của bản thân mà tăng ni thăng
hoa được hành vi và trí tuệ của mình rồi lại
đem những pháp lạc này chỉ dạy lại cho
cư gia và phổ biến cho mọi người có đủ thiện
duyên. Tăng ni tu học đúng theo Chánh
pháp truyền thống là những người đem
bản thân ra để chứng minh rằng người ta có thể trở nên thanh tịnh
hơn, từ ái hơn và rộng lượng hơn.
Tuy nhiên,
điều đó không có nghĩa là chỉ vì
được xuất gia mà hành vi của một người
trở nên thanh khiết một cách tự nhiên. Hầu hết những người con Phật dù là
tại gia hay xuất gia đều chưa phải là
Phật! Những vị ấy đang trong quá trình
tu học và cố gắng đạt được chánh quả. Mặc dầu
con đường đạo mà Ðức Phật chỉ dạy là con
đường hoàn hảo và thuần thiện nhưng
những con người cụ thể đang tu tập theo con
đường đó không phải ai cũng luôn đạt được sự hoàn hảo và thuần
thiện đó.
Khi Ðức Phật 80 tuổi, sau 45 năm
giảng dạy giáo hóa chúng sinh, Ngài thị tịch ở thành Câu-thi-na.
Trong sự kiện quan trọng này, điều nổi bật mà
chúng ta có thể ghi nhận ở đây là thay
vì chỉ định một người thừa kế và thiết
lập nên một cơ cấu quyền hạn, Ðức Phật khuyến khích tất cả những
đệ tử của mình hãy lấy Chánh pháp tức
là lấy những lời mà Ngài đã dạy làm vị
đạo sư, làm vị hướng dẫn và chỗ nương
tựa tâm linh. Như vậy, Ðức Phật đã
nhấn mạnh tầm quan trọng của tâm thành khẩn của mỗi cá nhân trong việc tu
tập, đồng thời Ðức Phật cũng biểu lộ ý
hướng rằng với mục đích tiến bước trên
con đường giải thoát và giác ngộ, hội
chúng Tăng-già hãy sống chung hòa hợp
theo tinh thần cộng hòa trong mối quan hệ tương thân và tương kính với
nhau.
XIII. NHỮNG
TRUYỀN THỐNG PHẬT GIÁO
^
Chọn những
điều gì thích hợp cho căn
tánh của mình
Trong kỳ an cư mùa mưa
đầu tiên sau khi Ðức Phật Niết bàn,
Tôn giả Ca-diếp đã
đứng ra tổ chức cuộc kết tập kinh điển đầu tiên
ở kinh đô Vương Xá. Trong cuộc kết tập này,
500 vị A-la-hán tham gia trùng tụng và biên tập lại những pháp thoại, tức
là những lời mà Ðức Phật đã giảng dạy
để soạn thành những bộ kinh. Trong
nhiều thế kỷ sau đó, những bài kinh
này được ghi nhớ trong ký ức và thầy
trò truyền cho nhau từ thế hệ này sang thế hệ khác.
Ðức Phật
đã ban pháp thoại cho rất nhiều hạng
người khác nhau về vị trí xã hội, khác nhau về
điều kiện kinh tế và về nền tảng giáo
dục. Họ lại có căn tánh, lòng ham mê
và khuynh hướng tâm thức khác nhau. Ðức Phật
đã ban pháp thoại ứng hợp theo từng nhóm người hiện diện cụ thể
trong mỗi lúc; Ngài sử dụng những từ ngữ và khái niệm phù hợp với từng
trường hợp.
Những lời dạy
đa dạng của Ðức Phật
đã được
triển khai thành hai truyền thống chính: Phật giáo Nguyên Thủy và
Phật giáo Ðại Thừa. Phật giáo Nguyên Thủy là những lời mà Ðức Phật dạy cho
những người có ý hướng thoát khỏi vòng sinh tử luân hồi và
được giải thoát hoàn toàn. Những bài
kinh này được truyền khẩu ở Tích Lan cho đến
thế kỷ thứ nhất trước TL rồi được biên chép lại thành kinh sách
bằng cổ ngữ Pali, được gọi là Thánh
điển Pali.
Truyền thuyết cho rằng giáo lý
Ðại Thừa được Ðức Phật dạy cho một hội
chúng có ý hướng mạnh mẽ thiên về việc chứng
được quả Phật bằng con đường của Bồ Tát. Khi Ðức Phật tịch diệt
việc tu tập theo giáo lý Ðại Thừa không phổ biến rộng rãi trong
đại chúng nhưng lại được truyền thừa riêng
lẻ từ thầy sang trò. Chuyện kể lại rằng một số bản kinh Ðại Thừa
được mang đi xứ khác để bảo tồn đồng thời chờ
đợi cho đến khi cơ duyên chín muồi thì mới
đem ra phổ biến rộng khắp cõi nhân
gian. Từ thế kỷ thứ nhất trước TL trở về sau này những bản kinh Ðại Thừa
bắt đầu xuất hiện rộng rãi và việc tu
tập cũng được nhiều người biết đến.
Phật giáo Ðại Thừa có hai pháp
môn, Ba-la-mật Thừa và Kim Cang Thừa. Ba-la-mật Thừa là con
đường tổng quát của Bồ Tát được những bản
kinh trình bày, nhấn mạnh đến chí
hướng xả thân bố thí và thực hành 6 tâm thái viễn hành. Thiền Tông,
Tịnh Ðộ Tông... thuộc về Ba-la-mật Thừa. Kim Cang Thừa bao gồm những pháp
môn của Phật giáo Nguyên Thủy kết hợp với Ba-la-mật Thừa
đồng thời thêm vào những phương pháp
thiền quán về những diệu tướng của chư Phật (những linh ảnh thiền
định Phật giáo). Những pháp môn của Kim Cang
Thừa được tìm thấy trong những lời dạy của Ðức Phật về Thần biến
(Tantra)
Về phương diện hình thức biểu
hiện thì Phật giáo rất là uyển chuyển và đã
tiếp nhận những nét văn hóa bản địa ở những
quốc độ mà Phật giáo truyền đến. Tuy
những tông phái Phật giáo khác nhau dùng những bộ kinh khác nhau
để làm nền tảng, chế
định những pháp môn khác nhau để tu tập và
vận dụng những hình thức khác nhau để thể
hiện tư tưởng và niềm tin nhưng tất cả những truyền thống Phật giáo
đều thống nhất với nhau ở một điểm: tất cả
đều là những lời dạy xuất phát từ một vị
đạo sư vô cùng khéo léo và sáng suốt
là Ðức Phật.
Những truyền thống khác nhau
đều giữ gìn
độ tinh khiết của giáo lý đạo Phật.
Ðây là điều quan trọng, vì
để có thể tiến bộ trên con
đường Thánh Ðạo chúng ta phải tu tập
đúng pháp. Thay đổi những lời dạy của Phật là
một điều rất là tai hại vì làm như vậy
đến một lúc nào
đó chúng ta sẽ vẽ ra con đường riêng
khác chớ không còn đi theo sự hướng đạo của
Ðức Phật hay những vị đã chứng
được thánh quả nữa.
Những bước
đầu tìm
đến với đạo Phật một số người cảm thấy hoang mang, nhiêu khê vì có
nhiều truyền thống Phật giáo khác nhau. Trong những chương sau
đây chúng ta sẽ tìm hiểu những truyền
thống Phật giáo chủ yếu đang hiện hữu và
dòng lịch sử phát triển của những truyền thống này. Vì
đây là một
đề tài lớn nên chúng ta chỉ thảo luận
về những truyền thống nổi bật nhất: Phật giáo Nguyên Thủy, Tịnh Ðộ Tông,
Thiền Tông và Phật giáo Tây Tạng.
Bản thân mỗi người chúng ta có
thể có khuynh hướng nghiêng về một truyền thống và quan tâm tìm hiểu kỹ
lưỡng truyền thống đó. Tuy nhiên,
không một ai trong chúng ta có thể khẳng định
rằng truyền thống này là thù thắng hơn những truyền thống khác hay
truyền thống này là thích hợp nhất cho tất cả mọi người. Một người có ý
hướng cục bộ, ý muốn tự tán hủy tha, tư tưởng chia rẽ thành nhóm khối thì
đó là một người gây tổn hại cho
đạo Phật. Thay vì làm như vậy chúng ta
nên trân trọng tính cách của đạo Phật, chấp
nhận những căn tánh khác nhau, khuynh hướng và nền tảng văn
hóa khác nhau của từng con người khác nhau.
XIV. PHẬT GIÁO NGUYÊN THUỶ: TRUYỀN THỐNG CỦA NHỮNG VỊ TRƯỞNG LÃO
^
Phật giáo ở Tích Lan và Ðông
Nam Á
Hình ảnh những nhà sư mặc y
vàng, những vòng hoa thơm ngát dâng cúng ở những ngôi chùa, âm
điệu tụng niệm trầm bổng bằng tiếng Pali và
tư thế thiền định lặng lẽ đến chỗ sâu thẳm
của bình an là những đặc điểm nổi bật
của truyền thống Phật giáo Nguyên Thủy.
Phật giáo Nguyên Thủy là truyền
thống được tu tập rộng rãi ở Ấn Ðộ sau
khi Phật Niết bàn. Vào thế kỷ thứ 3 trước TL truyền thống này
được thiết lập ở Pakistan và
Afghanistan, đồng thời cũng lan sang tận
Trung Á vào những thế kỷ đầu TL. Nhưng
những cuộc xâm lăng của Hồi giáo vào thế kỷ thứ 11 và 12
đã hầu như hoàn toàn phá huỷ Phật giáo
ở lục địa Ấn Ðộ và trung tâm châu Á.
Vào thế kỷ thứ ba trước TL, vua
Asoka của Ấn Ðộ đã gởi các
đoàn truyền bá Phật giáo sang Tích
Lan. Nhờ vậy, Phật giáo đã
được thiết lập vững vàng ở
đất nước này và cho
đến ngày nay vẫn còn phát triển rực
rỡ. Phật giáo từ Ấn Ðộ và Tích Lan đã
lan tỏa và mở rộng đến Ðông Nam Á
châu. Ðã từ lâu Phật giáo đã
được thiết lập bền vững và
đã thấm sâu vào tâm hồn người dân Thái
Lan và Miến Ðiện. Trong những năm gần đây, ở
những nước giàu có và phát triển thuộc Ðông Nam Á,
đặc biệt là Singapore và Malaysia,
càng ngày càng đông đảo những người tu tập
theo truyền thống Phật giáo Nguyên Thủy.
Bắt
đầu từ thế kỷ 19, những nhà trí thức
Tây phương bắt đầu cảm thấy thích thú hệ
thống tư tưởng trong sáng của Phật giáo Nguyên Thủy. Ngày nay,
truyền thống Phật giáo Nguyên Thủy đã
thu hút dân chúng từ mọi thành phần của xã hội; chùa chiền, trung tâm
truyền giáo và thiền viện thuộc Phật giáo Nguyên Thủy
đã được
xây dựng khắp nơi ở phương Tây.
Dựa trên thánh tạng Pali, Phật
giáo Nguyên Thủy trình bày giáo lý mà Ðức Phật dạy trước hết là Tứ thánh
đế, Ba pháp tu học cao thượng và Bát
thánh đạo. Những đề tài này
đã được
thảo luận trong những chương trước đây.
Truyền thống Phật giáo Nguyên
Thủy tuyên bố rằng số người có thể chứng được
Phật quả rất là ít ỏi. Thời kỳ hay kiếp mà chúng ta
đang sống nằm trong thời kỳ gọi là
Hiền kiếp. Trong Hiền kiếp này lần lượt sẽ xuất hiện 1000 vị Phật trong
đó Ðức Bổn Sư Thích-ca mâu-ni là vị
thứ tư. Chín trăm chín mươi sáu vị đang là
Bồ Tát sẽ thành Phật trong tương lai. Những vị Phật tương lai
đang là những vị Bồ Tát, như vậy, hầu
hết chúng ta sẽ không thành Phật vì vậy chúng ta nên hướng
đến mục đích trở thành những vị
A-la-hán. A-la-hán được định nghĩa là
những vị đã thoát khỏi hệ lụy của biển
khổ luân hồi và chứng đạt Niết bàn.
(Sự khác biệt giữa chư Phật và những vị A-la-hán
đã được
thảo luận trong chương thứ 8 nói về "Bốn Sự Thật Cao Thượng")
Những người muốn chứng
đạt Niết bàn thì nên quy y Tam Bảo và
hành trì 5 giới của người tại gia. Trong một mức
độ nào
đó, những người ấy cũng có thể thọ lãnh những giới
điều của người xuất gia. Trong truyền thống
Phật giáo Nguyên Thủy, thọ giới cụ túc
được xem là một tiền đề quan trọng để
chứng đạt Niết bàn.
Có sự khác biệt
đáng kể giữa hội chúng Tăng-già và hội
chúng cư sĩ thể hiện trong các pháp môn tu tập ở những quốc gia theo Phật
giáo Nguyên Thủy ở châu Á. Sự nghiệp chính của các nhà sư là giữ giới tinh
nghiêm, học hỏi giáo lý, tu tập thiền định và
hồi hướng những thiện nghiệp công đức đã
gây tạo được cho sự khang lạc của mọi người.
Sự nghiệp tu hành đúng theo tinh thần
đạo Phật của cộng đồng Tăng-già có tác dụng làm lợi lạc an vui,
đồng thời củng cố tận chiều sâu của nền tảng
đạo đức toàn xã hội. Ðáp lại, những người cư sĩ tại gia hoan hỷ và
thành kính cúng dường cho tăng sư những nhu
yếu hằng ngày như thức ăn, đồ mặc, chỗ
ở và thuốc men.
Tuy vậy, quan niệm về vai trò
của Tăng sư và cư sĩ dần dần chuyển
biến khác đi khi truyền thống Phật giáo Nguyên
Thủy du nhập và bắt rễ vào các quốc gia phương Tây. Ðặc
điểm của hầu hết những người cư sĩ phương Tây
theo Phật giáo Nguyên Thủy là ưa thích thiền
định. Rất nhiều người thực tập thiền định mỗi
ngày trước khi đi làm và sau
khi đi làm về. Hằng năm,
trong những ngày nghỉ họ thường đến
những trung tâm Phật giáo để học hỏi về giáo lý phổ thông và tham
vấn chuyên sâu về thiền định. Lại có những
người xin nghỉ phép nhiều tháng để tham dự những khóa ẩn cư dài
hạn. Một đặc điểm nữa của Phật giáo ở phương
Tây là người học không chú trọng nhiều
đến vấn đề vị truyền giáo đó là người xuất gia hay vẫn còn là một
cư sĩ; họ cũng không quan tâm nhiều đến việc
đó là người nam hay là một phụ nữ.
Phương pháp tu tập của Phật
giáo Nguyên Thủy
"Càng nghiên cứu pháp môn
niệm tức tâm thức tôi càng có nhiều điều
tâm đắc sâu sắc về pháp môn này,
đúng là một hệ thống rèn luyện tâm thức. Pháp môn niệm tức tương
đồng với tinh thần khoa học phương Tây của
chúng ta ở chỗ nó không chấp nhận một thành kiến nào có sẵn trước
đó. Nó có tính khách quan và tính
phân tích. Pháp môn này dựa trên kinh nghiệm trực tiếp của một cá nhân
đang tu tập mà không lệ thuộc vào ý
kiến hay quan điểm của ai khác. Nó giải
thoát cho chúng ta khỏi những lối mòn và xiềng xích của bản thân;
khỏi những thành kiến có sẵn, những rập khuôn mù quáng và cái ý niệm
riêng của cái tôi. Nó phóng thích bạn để
bạn thấy và chứng nghiệm một thế giới chân thực" (Bác sĩ E.
Graham Howe, vị y sĩ nổi tiếng người Anh).
Tất cả truyền thống Phật giáo
đều rèn luyện hai phẩm tính căn
bản trong công phu thiền định là: samatha (tịnh trú) và
vipassana (biệt quán). Nói một cách tổng quát, trước hết chúng ta tu
tập tịnh trú để giải phóng tâm thức khỏi
những mảnh vụn vô tổ chức nằm trong tâm thức và phát triển năng
lực tập trung. Trong Phật giáo Nguyên Thủy hơi thở
được vận dụng làm
đối tượng của thiền định và thiền giả
rèn luyện một tâm thức tỉnh giác, tập trung vào những trạng thái của hơi
thở trong mỗi giây phút.
Lúc mới cố gắng tập trung, tâm
thức chúng ta bừa bộn những mảnh vụn lớn nhỏ hay những tiếng thì thầm của
tạp niệm giống như một người bị nhốt trong một gian phòng có 15 cái radio
đồng thanh bắt 15 đài phát thanh khác
nhau. Chúng ta cần học tập và vận dụng một số kỹ thuật thiền
định để hóa giải tình trạng này. Chúng
ta có thể thư giãn từng bộ phận của thân thể song song với việc xả bỏ
những tạp niệm gây phân tán. Theo một kỹ thuật khác, thiền giả chỉ
đơn thuần ghi nhận sự hiện diện của những ý
tưởng hay những cảm thọ đang khởi lên mà thôi chớ không
để tâm đến cũng không truyền thêm năng
lực cho chúng. Làm như vậy thì những ý tưởng và những cảm thọ tự
khởi lên rồi cũng tự lặng xuống thôi. Một kỹ thuật nữa là lặp lại hai âm
"Tỉnh" và "Giác" theo hơi thở vô và hơi thở ra
để tập trung tâm ý.
Ngoài khóa thiền toạ chính thức
chúng ta còn đi thiền hành. Bước từng
bước chậm, chúng ta tập trung tâm ý vào từng cử
động và cảm thọ trong các
động tác nhấc chân lên,
đưa chân tới và
đặt chân xuống. Thực ra, trong tất cả những
động tác hằng ngày như ngồi, đứng, nằm
xuống, nói chuyện... một thiền giả cố gắng ý thức được cử động và
sự việc từng giây phút ngắn ngủi.
Bằng cách tập trung tâm ý vào
các cảm giác của hơi thở trong khi thiền tọa và vào từng cử
động trong khi thiền hành, chúng ta sẽ
nhận thức rõ hơn sự phong phú của từng giây phút trong hiện tại. Hơn thế
nữa, tâm ý của chúng ta sẽ thoát khỏi tình trạng mở mắt chiêm bao và những
niệm tưởng tạp nhạp chướng ngại. Ðây là hai nguồn dưỡng chất hay là hai
nguồn năng lượng cho những tâm thái nhiễu
loạn. Khi tâm thức ở trong trạng thái tĩnh lặng thì thiền giả sẽ
hoàn toàn trải nghiệm từng phút giây của đời
sống.
Công phu tu tập biệt quán (vipassana)
sẽ làm phát triển một trạng thái tâm thức tỉnh giác và biện biệt sắc bén
có thể trực tiếp nhận chân được thực tại tối
hậu, vô ngã và không có tự thể kiên cố. Trong pháp môn tu tập của
Phật giáo Nguyên Thủy thì biệt quán được tu
tập với 4 niệm xứ (satipathana): chánh niệm về thân, về
những cảm thọ, về tâm thức và về các pháp.
Khi quán sát tường tận 4 pháp
này, thiền giả nhận thức được 3 đặc điểm (hay
tình trạng): tình trạng mỏng manh, khổ não và không có tự thể kiên
cố. Bằng cách quán chiếu hay quán sát hơi thở, quán sát những cảm giác của
thân thể, quán sát những dạng tâm tưởng khác nhau và những tâm sở trong
từng giây phút một, thiền giả ngay lúc ấy nhận ra không hề có mảy may một
kẻ nào trong tâm thức của mình đang điều động
chúng. Bản chất của chúng ta là vô ngã, trong tính chất vô ngã như
vậy không có một tự thể kiên cố nào cần bảo vệ. Không có cái ta nào cần
làm cho thỏa mãn.
Năng
lực biệt quán càng ngày càng được phát
triển nhờ công phu thiền tọa đồng thời nó còn có thể
được phát triển nhờ vào những công phu
khác. Cụ thể như nhờ vào năng lực nhận thức
sắc bén về mỗi động tác, cảm thọ và tư tưởng, vị thiền giả quán xét
ai đang thực hiện và ai
đang lãnh thọ những pháp như vậy. Khi
vị thiền giả chỉ thấy một dòng chảy liên tục của những biến
động tâm thức và biến
động vật lý mà không có một chủ thể
kiên cố hay một cái ngã nào làm "chủ nhân ông" thì vị thiền giả ngay lúc
đó nhận chân được tính vô ngã.
Kết hợp pháp môn biệt quán với
pháp môn nhất tâm tịnh trú, vị thiền giả có thể tẩy sạch dòng chảy của tâm
thức, làm cho dòng chảy tâm thức thoát khỏi sự ô nhiễm của tâm thái nhiễu
loạn và sự ô nhiễm của nghiệp lực, làm cho dòng chảy tâm thức không còn
những pháp gây ra đau khổ. Ðạt
được trạng thái giải thoát như thế vị thiền
giả chứng được quả vị A-la-hán.
Thiền quán về tâm từ (metta)
cũng là pháp môn rất phổ biến trong Phật giáo Nguyên Thủy. Vị thiền
giả bắt đầu bằng cách tâm niệm: "Nguyện
cầu cho con được an vui và hạnh phúc,"
rồi dần dần trải rộng cảm giác hạnh phúc này
đến bạn bè, những người xa lạ và kẻ thù. Lần lượt quán xét từng
đối tượng vị thiền giả khởi lên tâm
niệm: "Nguyện cầu cho những người này được
an vui và hạnh phúc." Vị thiền giả cần phải
để cho những lời nguyện này có âm vang
trong tâm thức, làm cho chúng có ảnh hưởng sâu sắc và lâu bền trong tâm
thức cho đến khi chúng trở thành trạng
thái tâm thức của mình. Pháp tịnh trú cũng có thể tăng
trưởng nhờ vào thiền quán về tâm từ.
Ở phương Tây, pháp môn tu tập
theo truyền thống Phật giáo Nguyên Thủy đã
phổ biến rộng khắp, đặc biệt là
đến với những người đã nhận ra giá trị
hời hợt ê chề của việc làm cho giác quan được
thỏa mãn đồng thời nhận chân được
những giá trị tâm linh vững bền và sâu thẳm của việc thiền
định. Với ý thức đã
được thăng hoa như vậy những vị thiền giả
hướng đến việc làm cho dòng tâm thức cũng như những trạng thái cảm
xúc như ngựa không cương của họ trở nên tĩnh lặng,
đồng thời tập trung phát triển những trạng
thái tâm thức tích cực. Thực tế, càng ngày càng có nhiều người,
ngay trong giới kinh thương, cũng đã
thấy rằng phương pháp thiền niệm tức có tác dụng vô cùng ích lợi. Thiền
quán về lòng từ lại có tác dụng giúp cho đời
sống của bản thân người có tu tập an vui hơn đồng thời cải thiện được mối
quan hệ với gia đình và đồng nghiệp.
XV. PHẬT GIÁO ÐẠI
THỪA: PHẬT GIÁO Ở VIỄN ĐÔNG
^
Một cách nhìn về Tịnh Ðộ Tông
và Thiền Tông
Phật giáo truyền từ Trung Á
đến Trung Quốc vào thế kỷ thứ nhất sau
TL. Sau đó, Phật giáo lại du nhập vào
Trung Quốc trực tiếp từ Ấn Ðộ bằng đường biển
và đường bộ. Trong ba thế kỷ đầu TL ở
Trung Quốc đã có được hệ thống truyền
thừa giới luật chính thức dành cho Tỷ-kheo và Tỷ-kheo-ni. Những thế
kỷ sau đó là những thế kỷ "nhập Trúc
cầu pháp", những nhà chiêm bái du hành sang Ấn Ðộ
để học hỏi và thỉnh kinh sách từ Ấn Ðộ
mang về Trung Quốc.
Trung Quốc
đã có những nền triết học bản
địa đặc biệt là Khổng giáo trước thời
Phật giáo du nhập. Do vậy nên khi du nhập vào Trung Quốc Phật giáo
đã biết uyển chuyển
để tạo nên những nét mới phù hợp với
nền văn hóa hiện hành. Khổng giáo
đặt nặng phép tắc và lễ nghi, kính
trọng những bậc trưởng bối và thầy giáo, đề
cao lòng hiếu thảo và những hành xử
đạo đức chuẩn mực. Khi đến Trung Quốc những nhà sư Phật giáo cũng
đề cao những bài kinh nói về hạnh hiền
hiếu đối với cha mẹ (vì
đây là những giá trị
được mọi người ca tụng rất là quan
trọng trong văn hóa Trung Quốc), xem trọng tế
lễ và các nghi thức được thực hành
nghiêm cẩn trong những tu viện Phật giáo.
Trong nhiều thế kỷ trước
đó người Trung Quốc đã thực hành
khí công tức là phương pháp tu luyện thần lực của cơ thể,
đặc biệt là những phép tu luyện của
Lão giáo gồm những kỹ thuật để phát huy những
tiềm lực tinh tế của con người đặc biệt là phép luyện hơi thở. Ðức
Phật cũng đã dạy phương pháp niệm tức
và thiền quán để điều phục những năng lực
nhạy bén của một sinh linh. Khi thiền sư người Ấn Ðộ Bồ
đề Ðạt-ma sang Trung Quốc, một mặt
Ngài hoàn thiện những pháp tu luyện đã
có sẵn ở Trung Quốc, mặt khác Ngài triển khai một loạt những pháp luyện
tập để cải thiện sức khỏe của tăng chúng. Từ
đó, võ nghệ đã xuất hiện ở nhà
chùa. Tuy nhiên, những nhà sư Phật giáo không
để mất nhiều thời giờ vào việc luyện võ và tung hoành ngang dọc
chốn võ lâm như đã diễn ra trong bộ
phim và sách võ hiệp đang lưu hành.
Ðiều ấy đã làm cho không ít người chỉ
hiểu Phật giáo theo khía cạnh đó mà
thôi. Nên nhắc rằng công việc chính yếu của nhà sư Phật giáo là dấn thân
vào việc học Thánh điển và thực tập
những lời dạy của Ðức Phật.
Những bộ kinh mà những nhà
truyền giáo Ấn Ðộ hay những nhà chiêm bái Trung Quốc mang vào
đất nước này có tính tự phát theo
duyên cảnh chớ không có hệ thống hay kế hoạch từ
đầu. Sau một thời gian dài, người ta
dần dần cảm thấy thiếu một chuẩn mực thuyết phục trong việc giải quyết
những điểm bất đồng trong kinh điển và
cũng thiếu một cái nhìn quán xuyến, bao biện
đối với sự phồn tạp của kinh điển chưa được hệ thống hoá để có thể tu tập
theo những lời Phật dạy.
Vì vậy vào thế kỷ thứ 7
đã có những nỗ lực nhằm sắp xếp lại
giáo lý của Phật giáo ở Trung Quốc. Người ta tự tập hợp xung quanh một vị
đạo sư danh tiếng nào
đó hay chọn một bộ kinh nào
đó để làm trung tâm cho việc nghiên
cứu và tu tập. Những nhóm người này về sau phát triển trở thành những tông
phái Phật giáo; mỗi tông phái như vậy hình thành nên dòng truyền thừa
riêng. Có 8 tông phái lớn và một số tông phái nhỏ hơn xuất hiện và phát
triển ở Trung Quốc. Tám tông phái lớn là:
1. Tam Luận Tông tu học theo
triết học Trung Quán Tông của Phật giáo Ấn Ðộ.
2. Pháp Tướng Tông tu học theo
triết học Du-già Tông của Phật giáo Ấn Ðộ.
3. Thành Thật Tông là một tông
phái thuộc Thượng Tọa Bộ.
4. Hoa Nghiêm Tông có nền tảng
là bộ kinh Hoa Nghiêm hiển bày và lý giải nhiều khái niệm siêu hình trong
pháp thiền quán.
5. Thiên Thai Tông tôn vinh bộ
kinh Pháp Hoa và nêu lên một giáo lý cân bằng giữa công phu thiền
định, học hỏi kinh điển và thực hành
các thiện nghiệp.
6. Ðệ Tam Kỳ Tông truyền bá một
phương pháp tịnh hóa dựa trên việc nghiêm trì giới luật và những việc làm
từ thiện.
7. Thiền Tông
đặt trọng tâm vào việc thiền quán và
tu học theo kinh Lăng-già.
8. Tịnh Ðộ Tông chủ trương khẩn
nguyện cho được tái sinh vào quốc
độ thanh tịnh của Phật A-di-đà và Phật
Di-lặc.
Ngoài 8 tông phái lớn này ra
còn có Chân Ngôn Tông, một dạng của Mật Tông có mặt ở Trung Quốc vào thế
kỷ thứ 8 và thứ 9.
Trong pháp nạn dưới triều
đại nhà Ðường (842 - 845), Phật giáo
bị đàn áp rất dữ dội ở Trung Quốc. Tất
cả những tông phái trừ Thiền Tông và Tịnh Ðộ Tông
đều bị tận diệt. Tuy vậy những điểm đặc sắc
của những tông phái trên vẫn còn được
ưa chuộng và có ảnh hưởng đến nền tư
tưởng Phật giáo ngày nay. Sau năm 845,
Thiền Tông và Tịnh Ðộ Tông vươn lên thành những tông phái chủ lực;
cả hai tông phái này đều tu học theo triết
học Trung Quán và Duy Thức. Từ thế kỷ thứ 16 trở về sau những pháp
môn của Thiền Tông và Tịnh Ðộ Tông hòa nhập với nhau và
được tu tập trong những tu viện ở Trung Quốc.
Từ Trung Quốc Phật giáo Ðại
Thừa đã du nhập sang Việt Nam và Triều
Tiên. Ngày nay Thiền Tông Phật giáo giữ vai trò chủ lưu ở hai quốc gia
này. Ở Việt Nam Thiền Tông và Tịnh Ðộ Tông song song phát triển. Ngoài ra
còn có Phật giáo Nam Truyền và các giáo đoàn
thuộc hệ phái Khất Sĩ.
Vào thế kỷ thứ 6 hầu hết những
tông phái Phật giáo Trung Quốc đã
truyền thừa sang Nhật Bản thông qua bán đảo
Cao Ly. Ðến thế kỷ thứ 12 và 13 nhiều tông phái Phật giáo nở rộ ở
Nhật Bản. Hiện tượng này xảy ra vì người dân Nhật Bản lúc ấy cảm thấy chơi
vơi giữa mênh mông của biển cả giáo lý nên họ tự chọn một pháp môn duy
nhất có hiệu quả thực tế để hành trì.
Trong giai
đoạn này hai tông phái Tịnh Ðộ là Tịnh
Ðộ Tông và Tịnh Ðộ Chân Tông đã phát
sinh từ Thiên Thai Tông. Trong hai tông này, thời Tịnh Ðộ Chân Tông
đặt trọng tâm vào việc xem gia
đình chính là cốt lõi của sự nghiệp tu
hành. Tông phái này cho phép những tu sĩ có vợ song song với việc phát
nguyện sống trong chùa để tu tập và
hoằng pháp lợi sinh. Ngôi chùa được người cha
truyền xuống cho người trưởng nam.
Mặc dầu Thiền Tông du nhập vào
Nhật Bản từ thế kỷ thứ 7 nhưng cho mãi đến
thế kỷ thứ 12 Thiền Tông mới thịnh hành và phổ biến mạnh mẽ. Tuy có
nhiều tông phái thiền ở Nhật Bản nhưng Tông Lâm Tế và Tông Tào Ðộng là
hưng thịnh nhất.
Vào thế kỷ thứ 13 Nhật Liên
Tông đặt nền tảng chủ đạo dựa trên
kinh Pháp Hoa xuất hiện và tạo nên một luồng sinh khí mới cho Phật giáo.
Chân Ngôn Tông là tông phái thuộc Mật Tông của Nhật Bản cũng phục hồi trở
lại.
Vào thời
đại phục hưng Meiji 1868 chính quyền Nhật Bản
ra chỉ dụ cho phép tăng sĩ Phật giáo cưới vợ. Vào
đầu thế kỷ thứ 12 Nhật Bản đánh chiếm Cao Ly
và truyền đến đây dạng tăng lữ có gia
đình trong suốt thời kỳ chiếm đóng.
Nhưng ngày nay hầu hết những tăng đoàn
Phật giáo ở Cao Ly đều sống đời phạm hạnh, hành
trì theo giới luật truyền thống của người xuất gia.
Sau những trận thế chiến
đất nước Nhật Bản xuất hiện nhiều nhóm cộng
tu nhỏ thực hành những pháp môn riêng biệt. Họ
đã dung hợp Phật giáo với những nét
của Thần Ðạo thuộc tín ngưỡng lâu đời của bản
địa, một số người khác lại hướng về sắc thái Thiên Chúa giáo. Chúng
ta cần tỉnh giác, xem xét giáo lý của những nhóm
đồng tu này cẩn thận
để xem lý giải giáo lý Phật giáo như vậy có
trung thành với những lời dạy của Ðức Phật hay không.
Thiền Tông và Nhật Liên Tông từ
Nhật Bản đã lan tỏa sang các nước
phương Tây và dần dà được phổ biến rộng.
Người phương Tây quen dần với việc tham gia vào những khóa tu thiền
quán và những khóa nhập thất ẩn tu. Một số trung tâm thiền cũng bắt
đầu thực hiện những chương trình công
ích xã hội như thành lập "an tử đường" để săn
sóc những người sắp mệnh chung đặc biệt là những bệnh nhân AIDS
trong giai đoạn cuối.
Sau khi nhìn thoáng qua dòng
lịch sử phát triển của Phật giáo ở Ðông Á chúng ta hãy xem xét kỹ hơn 2
tông phái nổi bật nhất ở đó là Tịnh Ðộ
Tông và Thiền Tông.
Tịnh Ðộ Tông
Âm
điệu êm ả, ngân nga của câu niệm Phật "Con niệm Nam mô A-di-đà
Phật" vang vang trong bầu không khí của nhiều ngôi chùa hay gia
đình của người Trung Quốc. Ảnh tượng
của Ðức Phật A-di-đà chính giữa, hai
bên là Bồ Tát Quán Thế Âm và Bồ Tát Ðại Thế Chí là
điểm tựa tâm hồn của rất nhiều người thành
tâm. Qua bao nhiêu thế kỷ, pháp môn niệm tưởng danh hiệu Ðức Phật A-di-đà
vô cùng đơn giản của Tịnh Ðộ Tông
đã khiến cho
đông đảo người dân từ mọi thành phần
xã hội quay về quy ngưỡng.
Tịnh Ðộ Tông có nguồn gốc từ
nội dung và ý tưởng của kinh Vô Lượng Thọ và một số quyển kinh khác miêu
tả việc siêu thăng vào cảnh giới thanh
tịnh của Ðức Phật A-di-đà. Pháp môn
niệm Phật A-di-đà
đã xuất hiện ở Ấn Ðộ nhưng lại thịnh
hành rực rỡ ở khu vực Ðông Á. Kinh Vô Lượng Thọ
được dịch sang tiếng Hoa vào thế kỷ
thứ 2 và được phổ biến vô cùng rộng
rãi vào thế kỷ thứ 6.
Pháp môn Tịnh Ðộ rất khế hợp
với văn hóa Trung Quốc. Người dân Trung Quốc
từ trước đã có ý niệm về trường thọ do
đạo Lão chủ trương nên họ cảm thấy phấn khởi khi tiếp nhận kinh Vô
Lượng Thọ miêu tả về vị Phật có kiếp sống vô cùng tận. Mối quan tâm tới sự
trường thọ của đạo Lão
đã chuyển hóa thành ý muốn
được tái sinh về thế giới Tịnh độ của
Ðức Phật A-di-đà. Pháp môn tụng
đọc thần chú cũng đã rất phổ biến ở
miền Bắc Trung Quốc, điều này
đã khiến cho dân chúng cảm thấy dễ
dàng chuyển sang niệm danh hiệu của Ðức Phật A-di-đà.
Những tiền
đề như thế giúp cho dân chúng dễ dàng
tiếp nhận pháp môn Tịnh Ðộ. Hơn nữa, người Trung Quốc lại không có nhiều
thời giờ rãnh rỗi để có thể tu tập những
phương pháp nhiều công phu vì vậy họ dễ dàng hoan nghênh một pháp
môn đơn giản và trực tiếp. Tịnh Ðộ
không phải là một tông phái mang hình thức thượng lưu trí thức mà là một
pháp môn dành cho tất cả mọi người, dù cho đó
là người mù chữ hay bậc học giả đều có
thể tham gia tu tập.
Mục
đích sâu rộng của pháp môn này là
đạt đến sự giác ngộ hoàn toàn
để làm lợi lạc cho tất cả chúng sinh.
Mục đích trước mắt là kiếp sau
được sinh vào cảnh giới Trang nghiêm
Cực lạc. Thế giới thanh tịnh này không nằm trong phạm vi 6 cảnh giới (lục
đạo) của vòng sanh tử luân hồi vì một
sinh linh một khi được tái sinh vào
thế giới Cực lạc thì chắc chắn sinh linh ấy sẽ
đạt được chánh quả và không bao giờ
còn bị tái sinh vào biển khổ sinh tử. Mặt khác, một vị
đã chứng quả vị Phật ở Tịnh
độ, dĩ nhiên là vị ấy vì lòng từ mẫn
sẽ thị hiện vào trong cảnh giới Ta bà này để
dẫn dắt những chúng sinh khác trên
đường đưa đến chỗ giác ngộ hoàn toàn.
Tại sao người ta lại mong muốn
tái sinh vào cảnh giới Tịnh độ? Trong thế
giới của loài người, những ai tha thiết tu tập thường phải
đối mặt với nhiều chướng ngại: họ thường phải
làm việc và còn rất ít thời gian dành cho việc hạ thủ công phu;
trong xã hội họ sống còn rất nhiều tội ác và thái
độ ác cảm đối nghịch; ở đời con người phải lo
cơm áo gạo tiền và nặng gánh gia đình;
hình ảnh và âm thanh chủ lực có khuynh hướng lôi kéo tâm ý của người ta ra
khỏi việc chuyển hoá tâm hồn...
Trong cảnh giới Tịnh
độ không có những chướng ngại trên,
mọi người đều tu tập theo Chánh pháp và
tất cả những điều kiện vật chất, xã
hội và kinh tế... đều hướng thượng và
giúp cho người ta đi trên con
đường đạo. Vì việc tu tập và chứng
đạo dễ dàng nên người ta nguyện ước
vãng sinh Cực lạc. Hơn nữa cực lạc quốc độ còn
thù thắng hơn những cảnh giới Tịnh độ khác vì
con đường đi thuận tiện. Dù có căn
tánh bình thường, dù không trực giác
được tánh không, dù không có ý nguyện thí xả ba-la-mật
đi nữa thì những sinh linh
đều có thể vãng sinh về Tịnh
độ.
Cõi Tịnh
độ được xây dựng do công phu tu tập của một
vị Bồ Tát Tỷ-kheo tên là Pháp Tạng. Cách nay nhiều kiếp, Pháp Tạng
có nguyện kiến tạo nên một cảnh giới mà mọi chúng sinh nơi
đó đều có thể dễ dàng tu tập theo
Chánh pháp. Khi chưa thành Phật, Pháp Tạng đã
phát nhiều lời thệ nguyện với nội dung là cảnh giới thanh tịnh và miêu tả
những phương cách để chúng sinh có thể vãng
sinh vào cảnh giới thanh tịnh đó. Khi đó Pháp
Tạng thọ học giáo pháp từ nhiều vị Phật trong quá khứ, phát lời nguyện thí
xã và tu tập viên mãn các pháp môn thiền
định. Nhờ vậy mà Bồ Tát Pháp Tạng
thành Phật hiệu là A-di-đà rồi nhờ vào
oai lực của thiện nghiệp và trí tuệ mà tạo nên
được cảnh giới Cực lạc thanh tịnh.
Làm sao người ta có thể sinh
vào cảnh giới Cực lạc? Chỉ cần có niềm tin mạnh mẽ nơi Ðức Phật A-di-đà
và niệm tưởng danh hiệu của Ngài là đủ. Khi
mệnh chung nhờ oai đức của Ðức Phật A-di-đà,
sinh linh đó sẽ được tiếp dẫn vãng
sinh lên cảnh giới thanh tịnh đó.
Ðây là một quan niệm khá
đơn giản khiến cho không ít người đặt câu
hỏi, "Ðức Phật đã từng nói
rằng không ai có thể cứu độ chúng ta ngoài
bản thân chúng ta. Chúng ta phải tu tập theo Chánh pháp và chuyển hóa tâm
thức của bản thân. Như vậy phải chăng mâu
thuẫn khi nói rằng chúng ta chỉ cần có niềm tin là
đủ, những việc còn lại Ðức Phật A-di-đà
sẽ lo liệu tất cả?"
Vâng, về mặt luận lý
đây là một mâu thuẫn. Khi Ðức Phật
A-di-đà có thể làm cho người ta phấn
chấn và thực hiện chức năng hướng dẫn, bản
thân người ta vẫn phải tu tập. Kinh Vô Lượng Thọ lập nên pháp tu
gồm có Ðạo đức hành xử, Tịnh hóa các
ác hành, Khởi tâm nguyện thí xả, và cuối cùng là Thiền chỉ và thiền quán
về những phẩm tính của Ðức Phật và cảnh giới Tịnh
độ. Như vậy, với tâm hồn phấn khởi, một hành
giả hồi hướng những công đức tu hành
mong được vãng sinh vào cảnh giới Cực
lạc, và mục đích cuối cùng là viên
thành Phật quả phổ độ chúng sinh.
Như vậy theo luận lý chúng ta
cần khẳng định rằng niềm tin ở đây là
sức mạnh yểm trợ cho việc thiền định. Niềm
tin không phát sinh từ trạng thái mù quáng hay tâm trạng tuyệt
vọng. Niềm tin ở đây là niềm tin xuất
phát từ nhận thức được những phẩm chất thù
thắng của chư Phật, Giáo Pháp và Tăng-già.
Như vậy người ta tu tập pháp
môn niệm danh hiệu Ðức Phật A-di-đà
để phát triển những phẩm tính thù
thắng trên. Thí dụ, nhờ vào câu niệm, "Nam mô A-di-đà
Phật" song song với việc tưởng nhớ tới tâm nguyện thí xả của Ðức Phật
A-di-đà khiến cho chúng ta càng hướng
đến Bồ đề tâm và càng nỗ lực phát
triển Bồ đề tâm trong đời sống của bản thân.
Nhờ vào việc tập trung tâm ý vào tiếng niệm Phật A-di-đà
chúng ta đoạn trừ những tạp niệm và
phát triển năng lực tập trung chuyên
nhất. Người tu cũng có thể đạt được sự an trú
trong chánh định (samatha) nhờ vào việc quán tưởng, hình
dung ra ảnh tượng Ðức Phật A-di-đà và
cảnh giới Tịnh độ.
Thiền quán (vipassana)
về vô ngã tính có thể được tu tập nhờ vào
công phu quán chiếu về tính cách không tự hiện hữu của cảnh giới Cực lạc
và của bản thân. Như vậy chúng ta thấy được
rằng tuy việc niệm danh hiệu của Ðức Phật A-di-đà
là chủ đạo cốt lõi nhưng pháp môn Tịnh
Ðộ là một pháp môn rất phong phú chớ không hạn hẹp trong việc niệm tưởng
danh hiệu của Ðức Phật A-di-đà mà
thôi.
Trong những sinh hoạt hằng ngày
chúng ta luôn luôn niệm Phật để tự nhắc nhở mình
luôn luôn nhớ về những phẩm tính thù thắng của Ngôi Tam Bảo. Trong khi
đi tản bộ hay khi lái xe, chúng ta có thể tu
tập Chánh niệm đối với tiếng niệm Phật A-di-đà. Nhớ rằng hành xử
đạo đức là nguyên do chính yếu
để được sinh về cảnh giới thanh tịnh, chúng
ta trở nên tỉnh giác hơn với những việc mà chúng ta làm, những lời
chúng ta nói và những điều mà chúng ta
nghĩ.
Có người thắc mắc về vấn
đề phải chăng chỉ cần niệm danh hiệu của
Ðức Phật A-di-đà là
đầy đủ. Trong tiếng Hán "niệm Phật" có một số
nghĩa khác nhau. "Niệm" có 3 nghĩa chính: (1) tập trung tâm thức hay thiền
định, (2) một thời điểm, (3) tụng thành tiếng. Vì vậy ở Ấn Ðộ pháp
môn Tịnh Ðộ xoay quanh việc thiền tập trong khi ở Trung Quốc pháp môn này
lại nhấn mạnh vào việc niệm danh hiệu của Phật. Một từ "niệm" có cả hai
nghĩa trên.
Khi vị
đạo sư nêu cao tầm quan trọng của việc
kính tin nơi Ðức Phật A-di-đà, chúng
ta không nên nghĩ rằng Ðức Phật A-di-đà
là một bậc toàn năng có thể thực hiện tất cả
mọi việc. Theo Phật giáo, Ðức Phật là một bậc toàn tri, nhưng không
phải toàn năng. Và cũng không ai có
khả năng trở thành toàn năng
cả. Năng lực của một vị Phật và sức mạnh của nghiệp lực mà chúng
sanh đã làm là bằng nhau. Nếu chúng ta
không tạo ra những phước nghiệp làm nhân để vãng
sinh về cảnh giới Cực lạc thì Ðức Phật A-di-đà
không thể dùng thần lực đưa chúng ta đi đến
đó.
Có nhiều cách thức kính ngưỡng
Phật A-di-đà tùy theo cấp
độ nhận thức và hành trì. Người ta có
thể hiểu rằng Ðức Phật A-di-đà với
thân tướng trang nghiêm và đang ngự ở Tịnh
độ. Tuy nhiên, Ðức Phật A-di-đà
tự nội chính là tâm giác ngộ của chúng ta. Nhờ vào công phu tu tập theo
Chánh pháp mà tâm thức phàm tình của chúng ta có thể chuyển hóa thể nhập
làm một với tâm giác ngộ đó. Cả Phật A-di-đà
hiện thân và Phật A-di-đà tự nội
đều không có định tính cố hữu và mỗi
người đều có thể tìm thấy theo mức
độ riêng của từng cá nhân. Thật sự,
khi một người càng nhận thức được vô ngã
tính thì người ấy càng nhận thức chính xác hơn về Ðức Phật A-di-đà.
Cũng như tất cả những pháp môn
khác của Phật giáo, pháp môn Tịnh Ðộ cũng có thể tu tập theo những phương
cách khác nhau tùy theo cấp độ nhận thức của
một hành giả. Niệm Phật và tu tập tâm kính ngưỡng
đối với Ðức Phật A-di-đà
là phương cách rất lợi lạc cho người dân bình thường, tức là những người
không có thời gian hay những người không thích học hỏi triết học của
đạo Phật. Ðối với những người này niệm
Phật và tu tập tâm kính ngưỡng giúp cho họ có một nơi
để làm
điểm tựa, có một định hướng cho kiếp sống trong những giai đoạn bế tắc có
nhiều vấn đề căng thẳng. Nhờ vào việc niệm danh hiệu của Ðức Phật
A-di-đà và tưởng nhớ Ngài, người ta
tạo ra được nhiều thiện nghiệp. Những người
có hiểu biết sâu sắc và bao biện hơn về con
đường đưa đến giác ngộ của đạo Phật thì
sử dụng tầm hiểu biết này vào trong pháp môn Tịnh Ðộ và có
được những chứng đạt thâm sâu.
Tịnh Ðộ Tông cũng rất phù hợp
đối với những người nhận thấy rằng chính lòng
thành kính thiết tha trong khi họ tu tập pháp môn niệm Phật, giúp họ
đoạn trừ được những tâm thái nhiễu loạn và
tu tập được những phẩm tính tốt đẹp của con
người trước những cám dỗ của cuộc sống. Có được nội lực do quá trình
tu tập niềm tin đối với Ðức Phật A-di-đà,
những người này sẽ dễ dàng thực hành theo Chánh pháp và
đạt được những chứng ngộ về Ðức Phật
A-di-đà trong chính dòng chảy tâm thức
của bản thân.
Thiền Tông
Có một giai thoại kể lại nguồn
gốc của Thiền Tông rằng: Trong một buổi thuyết pháp, Ðức Phật lặng lẽ
đưa lên một cánh sen vàng. Lúc ấy hội
chúng cảm thấy bối rối, chỉ có vị đại đệ tử là
Ðại Ca-diếp hiểu được và mỉm cười. Câu
chuyện này ngầm nói lên rằng yếu chỉ của Chánh pháp thì vượt ngoài ngôn
ngữ. Trong nhà thiền, yếu chỉ này được người
thầy truyền cho đệ tử trong giây phút xuất thần, xuyên phá bức
tường tri kiến hạn hẹp thông thường của con người.
Yếu chỉ mà ngài Ðại Ca-diếp
nhận hiểu đã
được truyền thừa qua 28 vị tổ Ấn Ðộ
cho đến Bồ đề Ðạt-ma. Bồ
đề Ðạt-ma là một thiền sư Ấn Ðộ có chí
hướng phụng hành theo kinh Lăng-già,
một bản kinh của Du-già Tông. Ngài du hóa đến
Trung Quốc vào năm 470 và bắt
đầu truyền dạy Thiền Tông. Sau đó Thiền Tông
lan tỏa sang Cao Ly và Việt Nam. Ðến thế kỷ thứ 12 Thiền Tông phổ
biến mạnh mẽ và rộng rãi ở Nhật Bản.
Thiền tiếng Sanskrit là
"dhyana" có nghĩa là nhất tâm tĩnh lự. Tất cả những vị
đạo sư truyền giáo Ấn Ðộ và tăng
sĩ người Trung Quốc thời sơ kỳ đều là những vị thiền sư. Thiền là
một trong những pháp môn mà Ðức Phật truyền giảng song song với
đạo đức, bố thí, nhẫn nhục và trí tuệ.
Một số hành giả có ý muốn lập pháp môn thiền
định làm cốt lõi cho việc hành trì nên Thiền Tông dần dần
được hình thành.
Nguyên lý nền tảng của Thiền
Tông là tất cả chúng sanh đều có Phật tánh,
tức là hạt giống Phật mà mỗi người tự có sẵn. Nguyên lý này
được một số thiền sư trình bày qua câu
"Tất cả chúng sinh đều đã là Phật",
nhưng chỉ vì những tâm thái nhiễu loạn và những chướng ngại pháp
đang còn che mờ tâm thức mà thôi. Như
vậy công việc của thiền giả chỉ là nhận ra tánh Phật và
để cho tánh Phật phát hào quang xuyên
vượt qua những chướng ngại pháp.
Vì tiền
đề cơ bản để chứng đạt quả Phật tức là
chủng tử Phật đã nằm sẵn trong mỗi
người rồi nên Thiền Tông nhấn mạnh đến việc
thành Phật ngay trong hiện kiếp. Các vị thiền sư tuy không phủ nhận
giáo lý tái sinh hay giáo lý nghiệp nhưng không giảng giải nhiều về những
giáo lý này.
Theo Thiền Tông, người ta không
cần phải xa lánh thế gian này để tìm
kiếm Niết bàn ở một nơi nào khác vì tất cả chúng sinh
đều đã có sẵn Phật tánh. Hơn thế nữa,
khi người ta chứng ngộ được tánh không thì
người ta thấy rằng sinh tử và Niết bàn không khác nhau.
Thiền Tông nhận thức sâu sắc
những giới hạn của ngôn ngữ và tin chắc rằng công phu tu tập có chiều
hướng vượt qua phạm vi diễn đạt của ngôn ngữ.
Vì vậy, Thiền Tông đặc biệt nhấn mạnh
việc thực nghiệm và không đặt trọng
tâm vào việc hiểu biết suông. Do tính chất
đó nên người tu theo Thiền Tông thì
điều quan trọng trước tiên là phải gắn
bó với một vị thiền sư có nhiều kinh nghiệm. Bổn phận của vị thiền sư là
đưa người thiền sinh đi ngược trở lại cái
thực tại hiện tiền bất cứ khi nào tâm tư của người thiền sinh còn
rong ruổi với những khái niệm có sẵn. Ðiều này
được minh họa bằng những giai thoại sống động
với cương lĩnh chủ đạo là bất thần "chụp ngay" vị thiền sinh khi
thiền sinh mất cảnh giác và lập tức phá vỡ nghi tình phi hiện thực ngay
trong phút giây ấy.
"Tham kiến" tức là hội kiến mỗi
ngày với vị thiền sư được tiến hành
trong những khóa thiền quyết liệt. Những câu trao
đổi ngắn, gọn, thẳng thừng với vị thiền sư mà
mình gắn bó không những có thể làm bật dậy nguồn nội lực tuệ quán của
thiền sinh mà còn tạo điều kiện để vị thiền
sư tiếp cận và đánh giá được những
kinh nghiệm hành thiền của đệ tử.
Những mối liên hệ trực tiếp sâu sắc như vậy còn giúp cho việc tâm
truyền tâm giữa thầy và trò.
"Tọa thiền" tức là ngồi thiền
định là phương pháp thiết yếu của
Thiền Tông. Hai thiền phái lớn là Tông Tào Ðộng và Tông Lâm Tế có chút ít
khác biệt về phương pháp tọa thiền. Tông Tào Ðộng dạy "cứ ngồi" và tập
trung tâm ý vào bản chất của tâm; Tông Tào Ðộng nhấn mạnh "quả chứng có
sẵn" đồng thời không phân biệt giữa phương
tiện và mục đích. Chúng ta thường hay
mãi lo thành đạt một cái gì
đó, ngược lại, Tông Tào Ðộng khích lệ
chúng ta hãy cứ là cái đó và ý thức về
nó.
Theo Tông Tào Ðộng chúng ta tu
tập sự tĩnh trú qua việc tọa thiền, tập trung tâm ý vào một chỗ duy nhất.
Tông Tào Ðộng tin rằng tư thế ngồi là sự biểu hiện hoàn thiện nhất của sự
chứng đắc viên mãn có sẵn nên phương
pháp biệt quán chỉ là trạng thái hoàn toàn tỉnh thức về thân thể trong tư
thế ngồi trong mỗi giây phút.
Khác với Tông Tào Ðộng, Tông
Lâm Tế sử dụng công án để tu tập biệt quán.
Mỗi thiền sư có những công án khác nhau và mỗi công án có những mục
đích khác nhau. Nhưng căn bản mà nói,
những câu hỏi ngắn lấp bít mọi ngõ ngách tư duy như "Cái gì là bản lai
diện mục của ngươi khi cha mẹ ngươi chưa sinh ra?" hay "Cái gì là
tiếng vỗ của một bàn tay?" đã
đánh đố quan niệm thông thường của con người
đối với mối liên hệ giữa con người với thế giới. Người ta có thể sử
dụng phép luận biện để tìm hiểu công
án nhưng làm như vậy thì kết quả không phải là sự chứng ngộ. Sự chứng ngộ
thật sự vượt qua phạm vi của ngôn ngữ lý giải; sự chứng ngộ này tùy thuộc
vào sức mạnh của trí tuệ liên hệ đến bản chất
tối hậu của con người.
Mục
đích của việc quán chiếu công án không phải là
tìm ra lời giải đáp đúng. Thật ra, chức năng
của công án là chống lại những khái niệm có sẵn trong trí của con
người. Trí óc của người ta trở nên bất lực trước công án vì năng
lực nhận thức và cảm nhận thông thường của con người không thể nào
"hiểu" được nghĩa của công án. Nhờ thế mà
những lực lượng đang nằm sâu và ngủ
yên của tâm thức bị đánh thức, bị "dựng dậy".
Thiền giả không còn có thể dựa vào một tâm thức hời hợt và có tính
chất cắt xén để trả lời được một công án. Bấy
giờ, thiền giả phải cầu viện đến năng lực của tuệ quán sâu thẳm. Những hành
giả của Lâm Tế Tông đạt được sự tĩnh trú bằng
cách tập trung tâm ý vào công án và
đạt được biệt quán bằng cách tìm ra
đáp án cho công án đó.
Cuối cùng khi một hành giả phá
vỡ được bức tường nhận thức và
đột ngột thâm nhập vào
được ý nghĩa của thực tại. Trạng thái bùng
vỡ đột ngột này
được gọi là ngộ. Ngộ là
một kinh nghiệm trực giác thâm sâu nhưng tự thân của ngộ không phải
là mục đích mà chỉ là một thôi thúc
để tiếp tục công phu. Sau khi ngộ,
thiền giả vẫn cần phải tiếp tục làm hiển lộ Phật tánh của bản thân. Mặc
dầu Thiền Tông nói về "hốt nhiên đạt ngộ"
nhưng dường như thiền giả cũng phải thành tựu những
đạo quả dần dần. Hốt nhiên ở
đây có nghĩa là sự sụp
đổ bất thần của bức tường cản trở cuối cùng
khiến cho nguồn trí tuệ tươi nguyên tuôn chảy.
Cụ thể trong
đời sống hằng ngày thì thiền giả phải
rèn luyện tâm tỉnh thức trong mọi hành động,
đặc biệt là trong khi làm việc. Hướng
đến việc này, những thiền viện ở Trung Quốc
đã thay thế một phương diện của Biệt
giải thoát luật nghi bằng cách sắp đặt cho
tăng chúng thực hiện những công việc tay chân như làm việc trên
nương rẫy.
Việc này còn xuất phát từ nhu
cầu tự nuôi sống của thiền viện vào thế kỷ thứ 9 ở Trung Quốc. Thật ra làm
việc cũng có thể vận dụng để làm
phương tiện nhằm rèn luyện sức tỉnh giác và có ý thức
đối với tất cả những việc mà thiền giả
đang làm,
đang nói và đang nghĩ ngợi. Trong khi
làm việc một cách tỉnh giác, thiền giả vẫn có thể tu tập sự an tĩnh
nội tâm y như khi tọa thiền. Làm việc còn có tác dụng nhắc nhở thiền giả
rằng không phải tìm kiếm Niết bàn ở nơi nào khác mà phải
đạt được Niết bàn ở nơi
đây và bây giờ.
Mặc dầu Thiền Tông nghiêng về
tư tưởng Ðại Thừa nhưng nhiều vị đạo sư tâm
linh của Thiền Tông không đặt nặng vào việc giảng thuyết rộng rãi
và minh bạch về phương pháp để tạo nên
tâm thí xả mà lại nhấn mạnh về phương diện phát triển năng
lực thiền định và thăng hoa trí tuệ.
Chúng ta cần nhận thức rằng một khi những ý niệm có sẵn lâu đời về cái ngã
đã bị
đánh đổ và tánh không được thiết lập
thì bản chất chung nhất của tất cả mọi người và tất cả các pháp sẽ
tự hiển lộ rõ ràng. Khi đó lòng từ bi
lân mẫn đối với tha nhân hay tâm thí xả tự
động phát sinh.
Thiền Tông phát triển và phổ
biến rộng rãi ở Ðông Á nên đã
để nhiều yếu tố văn hóa bản địa hòa
nhập vào pháp môn tu tập hành trì. Cụ thể ở Nhật Bản, nghệ thuật cắm hoa,
nghệ thuật trà đạo, nghệ thuật vườn cảnh đã
tự thăng hoa và cách
điệu để trở thành pháp môn hành trì
trong đời sống bình nhật của người tu
theo Thiền Tông. Những hình thức sinh hoạt này cũng hòa vào dòng tư tưởng
của đạo Phật tinh thần trân trọng thiên
nhiên và cảm quan thẩm mỹ của Thần Ðạo, một tôn giáo có trước ở Nhật Bản.
Người Nhật
đánh giá cao tinh thần kỷ luật nghiêm
khắc của chiến sĩ vì vậy mà Thiền Nhật Bản nhấn mạnh tư thế ngồi kiết già
và chế ngự đau đớn ở sống lưng và
đầu gối. Theo hướng đó, trong một số thiền
viện, các vị phụ trách giám thiền dùng thiền bảng tuần hành trong
thiền đường để cảnh tỉnh những thiền giả đang
tọa thiền mà ngủ gật hay ngồi không thẳng lưng.
Thiền Tông nhấn mạnh tính cách
đơn giản trong hình thức cũng như
trong pháp môn tu tập. Ban đầu đó là
thái độ phản kháng chống lại kiểu cách trí
thức quá đà của những học giả Trung Hoa và Nhật Bản. Mặt khác, trải
qua thời gian dài nhiều người Nhật Bản đã
bị ngộp trong biển cả của những pháp môn phồn tạp khác nhau của Phật giáo
thần bí nên họ có khuynh hướng tìm kiếm một pháp môn trực diện và rạch ròi
hơn.
Ngày nay, hầu hết gia
đình và cá nhân ở Nhật Bản càng ngày
càng bị vây chặt bởi sự bừa bộn của những trang cụ vật chất. Tinh thần của
họ đã bị ngợp ngụa trong thế giới âm
thanh và màu sắc thiên về hưởng thụ do khoa học và kỹ thuật không ngừng
đáp ứng. Do vậy tinh thần đơn giản và
thanh cao của Thiền Tông có sức lôi cuốn rất mạnh. Người ta bắt
đầu cảm thấy thích thú khi đi từng bước tự
tại, thong dong trong những thiền viện, ngồi thư thả trong những thiền
thất trống hoang và thưởng thức những trạng thái tâm linh tinh tế
trong kỷ luật thiền tập. Ðây là một trong những nét hấp dẫn của Thiền
đối với xã hội hiện
đại ngày nay.
XVI.
KẾT HỢP GIỮA KINH GIÁO VÀ MẬT GIÁO
^
Phật giáo Tây Tạng
Phật giáo du nhập vào Tây Tạng
lần đầu tiên là do công của hai vị
công chúa Phật tử - một từ Nepal và một từ Trung Quốc. Hai vị công chúa
này kết hôn với vua Songtsen Gampo của Tây Tạng. Nhưng lúc ấy Phật giáo
vẫn chưa được phổ hóa rộng rãi trong
dân chúng. Sau đó nhà sư Santaraksita
và vị tăng phái Mật Thừa Padmasambhava từ Ấn
Ðộ du hóa sang Tây Tạng, quảng bá giáo lý Ðại Thừa và Mật Thừa. Ðến
thế kỷ thứ 8, Thiền Tông Trung Quốc cũng truyền sang Tây Tạng.
Chẳng bao lâu giữa những nhóm
theo đạo Phật đã xuất hiện những niềm
tin và giáo nghĩa khác biệt nhau. Những hành giả Thiền Tông từ Trung Quốc
truyền giảng một dạng thiền vô niệm, trong dạng thiền này tất cả những
khái niệm của tư tưởng dù là thiện hay không thiện
đều phải được tẩy trừ. Những vị đạo sư được
thọ học từ Ấn Ðộ, trước hết nhấn mạnh việc thấu hiểu một cách
đúng đắn những khái niệm, sau đó mới vượt qua
chúng để tiến đến những kinh nghiệm trực tiếp trong thiền định. Phật giáo
Thiền Tông Trung Quốc xác tín rằng việc chứng đắc có thể là tức
thời và hiện tiền. Phật giáo giáo nghĩa Ấn Ðộ lại tuyên thuyết một tiến
trình lớp lang bao gồm việc thực hiện các thiện hạnh song song với việc tu
tập thiền định; cả hai tiến trình này
đều cần thiết cho việc giác ngộ viên
mãn.
Ở Ấn Ðộ, các cuộc tranh luận
được tiến hành
để đánh đổ những quan niệm sai lầm của ngoại
đạo và củng cố những nhận thức của Phật giáo. Ðể dàn xếp sự bất
đồng, nhà vua Tây Tạng
đề nghị tổ chức một cuộc tranh luận. Trong
cuộc tranh luận này nhà luận sư Ấn Ðộ Kamalasila
đánh bại đối thủ thuộc Thiền Tông Trung Quốc.
Từ đó trở đi, Tây Tạng tu học theo truyền thống Phật giáo giáo nghĩa Ấn
Ðộ.
Vào thế kỷ thứ 11, có thêm một
số chi phái Phật giáo Ấn Ðộ truyền sang Tây Tạng. Người ta gọi những chi
phái này là Tân Dịch phái để phân biệt với
phái Nyingma hay Cựu Dịch phái của Ngài Padmasambhava. Trong những
Tân Dịch phái có: (1) phái Kadam do vị đạo sư
học giả Ấn Ðộ Atisha khai sáng và truyền bá rộng rãi ở Tây Tạng;
(2) phái Sakya do đạo sư Drokmi, một tăng sĩ
Tây Tạng từng đến tham học ở Ðại học Vikramasila, Ấn Ðộ; (3) phái
Kargyu do Marpa khai sáng. Marpa là một dịch giả Tây Tạng từng tu tập dưới
sự hướng dẫn của đạo sư Naropa nổi tiếng. Vào
thế kỷ thứ 14 nhà sư học giả Tzong Khapa đã
tổng hợp giáo nghĩa tinh yếu của tất cả các chi phái trên nhưng chủ yếu là
của phái Kadam rồi khai sáng ra phái Gelu.
Về mặt cốt lõi thì những bộ
phái Phật giáo Tây Tạng này giống như nhau, sự khác biệt chủ yếu chỉ là
dòng truyền thừa khác nhau. Những pháp môn thiền
định căn bản hướng đến việc quyết tâm giải
thoát, tâm nguyện thí xả và trí tuệ thấy
được không tánh là những
điểm tương đồng trong tất của những tông phái
Tây Tạng.
Tương tự như vậy tất cả những
tông phái này đều bắt đầu bằng những pháp tu
sơ cấp. Những tăng sinh thuộc Nyingma, Kargyu và Sakya thường tu
tập những pháp sơ cấp suốt khóa ẩn tu dài 3 năm.
Những tăng sinh phái Gelu thì khóa ẩn tu kéo dài hơn. Trong phái
Gelu thì khóa ẩn tu 3 năm chỉ dành cho
những hành giả đã tiến bộ; những hành
giả này liên tục thiền quán về những linh tướng
đặc biệt nào
đó của Ðức Phật.
Có thể nói rằng những tông phái
Phật giáo Tây Tạng khác nhau ở giai đoạn cuối
của phương thức tu tập theo pháp môn Mật Tông và cách lập ngôn khác
nhau trong việc miêu tả pháp thiền quán. Nhưng Ðức Ðạt-lai Lạt-ma, vị lãnh
đạo chính trị và tôn giáo của Tây Tạng
thường xuyên nhấn mạnh rằng tất cả những tông phái
đều có một mục đích chung duy nhất mà
thôi; một hành giả thực hành tu tập theo bất cứ tông phái nào cũng có thể
đạt được quả giác ngộ hoàn toàn.
Tăng
và ni Tây Tạng có chung những dòng truyền thừa giới phẩm. Tuy
nhiên, những vị đạo sư tâm linh có khi là
người xuất gia những cũng có khi là cư sĩ. Khi truyền giảng giáo pháp,
những vị đạo sư cư sĩ mặc pháp phục màu
nâu đậm tương tự nhưng không giống hẳn màu
y của tăng ni. Những vị đạo sư cư sĩ thường
có gia đình, nhưng tăng ni Tây Tạng thì
phải lãnh thọ giới xuất gia và sống đời phạm
hạnh.
Lạt-ma, Geshe và Rinpoche
Người ta thường nhầm lẫn giữa
những danh hiệu Tây Tạng vì những danh hiệu này
được áp dụng theo những cách khác nhau. Theo
phái Gelu thì danh hiệu "Lạt-ma" có thể
được dịch nghĩa là
đạo sư và
được dùng để xưng gọi những người thầy
đáng tôn kính. Tuy nhiên, bất cứ người nào
đã thâu nhận
đệ tử đều được gọi chung là Lạt-ma.
Theo 3 phái còn lại thì "Lạt-ma" là danh hiệu dành cho bất cứ vị nào
đã vượt qua khóa ẩn tu thiền
định 3 năm. Như thế thì danh hiệu
Lạt-ma có thể hàm những ý nghĩa khác nhau về công phu tu tập và năng
lực giáo hóa.
"Geshe" là danh hiệu dùng
để phong cho một vị đã hoàn tất khóa
huấn luyện dài hạn về triết học, giống như một người
đạt được học vị Tiến sĩ của Tây Tạng chuyên
ngành nghiên cứu Phật giáo.
"Rinpoche" là danh hiệu có
nghĩa "cao quý" và được sử dụng trong hai
trường hợp. Trường hợp phổ biến là dùng
để tôn gọi vị được công nhận là tái
sinh của một vị đạo sư đời trước. Trường hợp
ít thông dụng hơn: những đệ tử muốn tỏ lòng kính trọng nên gọi thầy
mình là "Rinpoche."
Ở Tây Tạng
đạo Bon xuất hiện trước Phật giáo và
có tác động vào một số hình thức hành
trì của Phật giáo; đối lại, Phật giáo cũng có
ảnh hưởng rất lớn đối với đạo Bon. Truyền thống dâng hương cúng dường trên
nhưng chóp núi cao xuất phát từ đạo Bon nhưng
ý nghĩa của nó lại chuyển theo quan niệm Phật giáo. Tương tự là
trường hợp của những dãy cờ cầu nguyện màu sắc sặc sỡ tung bay theo gió.
Ngày nay, người ta in vào những lá cờ này những bài kinh cầu nguyện và
những câu thần chú của Phật giáo và những
điều ước nguyện thánh thiện an lành sẽ
được gió mang đi khắp mọi nơi trên trần thế.
Nhiều vũ
điệu công phu và
đầy màu sắc dùng
để miêu tả những
đề tài tôn giáo
đã được
tiếp nhận từ nền văn hóa Tây Tạng tiền Phật giáo. Những chiếc trống to
lớn, những cặp chập choả và những ống tù và mang
đậm màu sắc dân gian của Tây Tạng.
Ngược lại, chày kim cang, cái linh, và những chiếc trống nhỏ là những pháp
khí Mật Thừa có xuất xứ từ Ấn Ðộ.
Khi tiếp nhận Phật giáo từ Ấn
Ðộ, người Tây Tạng đã
đề cao tính chính xác trong việc chuyển dịch
Thánh điển và thiết lập một hệ thống thuật ngữ chuẩn mực. Những hội
đồng phiên dịch người Ấn Ðộ và Tây
Tạng đã nỗ lực tối
đa trong việc phiên dịch Phật tạng
tiếng Sanskrit mang từ Ấn Ðộ sang tiếng Tây Tạng. Kết quả là thánh tạng
tiếng Tây Tạng phong phú hơn thánh tạng tiếng Trung Quốc. Dù vậy, thánh
tạng Tây Tạng vẫn chưa bao gồm tất cả những bản kinh Ấn Ðộ. Ngược lại,
Thánh điển Trung Quốc cũng một số bản kinh mà
dịch bản Tây Tạng không có.
Nhiều bộ sớ giải về những bộ
kinh đã
được dịch sang tiếng Tây Tạng và chẳng bao lâu sau
đó người Tây Tạng đã
đưa thêm vào những bản sớ giải mà họ
tự biên soạn. Người Tây Tạng tiếp thu truyền thống tranh luận của Ấn Ðộ và
rất yêu thích cách giải thích giáo lý trong sáng và ngắn gọn. Phật giáo
Tây Tạng ngày nay phản ánh rõ rệt khuynh hướng này.
Phật giáo Tây Tạng
được thành lập ở vùng
đất cực Bắc của Ấn Ðộ và trong một số
khu vực ở Nepal. Phật giáo cũng đã lan
rộng sang Mông Cổ và Mãn Châu vào đầu thế kỷ
thứ 13. Do hoàn cảnh chiến tranh mà người dân Tây Tạng sống lưu
vong ở Ấn Ðộ và Nepal nhưng cũng nhờ đó mà
Phật giáo Tây Tạng được phổ biến trên
một địa bàn rộng rãi cho
đông đảo mọi người. Những kiều dân Tây Tạng đã
tái xây dựng nhiều tu viện to lớn ở Ấn Ðộ. Những vị Lạt-ma và những vị
geshe đã du hành và truyền giáo
đến những quốc gia ở phương Tây và
châu Á đồng thời ra sức xây dựng thêm
nhiều cơ sở tôn giáo ở những nơi mới đến.
Kim Cang Thừa
Phật giáo Tây Tạng là một kết
tụ của cả hai Kinh Giáo và Mật Tông. Kinh Giáo gồm có Kinh Tạng của Phật
giáo Nguyên Thủy và những giáo lý tổng quát của Ðại Thừa; Mật Tông còn gọi
là Kim Cang Thừa hay Mạn-đà-la Thừa là
một chi phái biệt truyền của Phật giáo Ðại Thừa. Ðức Phật dạy Kim Cang
Thừa cho một hội chúng gồm chư Bồ Tát thượng căn.
Giáo lý Kim Cang Thừa không phổ biến cho tất cả mọi người vì giáo
lý này chỉ ứng hợp với căn tánh của một số
người nào đó mà thôi.
Các dòng truyền thừa Mật Tông
do vậy mà chỉ truyền thừa riêng tư từ người thầy sang người trò. Từ thế kỷ
thứ 6 trở về sau, Kim Cang Thừa càng lúc càng
được nhiều người biết đến. Mặc dầu đã lan tỏa khắp nơi trong hàng
ngũ Phật giáo nhưng Kim Cang Thừa tồn tại chủ yếu ở Tây Tạng và trong Chơn
Ngôn Tông của Nhật Bản mà thôi.
Chúng ta không nên nhập nhằng
giữa chú thuật của Phật giáo và chú thuật của Ấn Ðộ giáo. Mặc dầu cả hai
loại chú thuật này có những thuật ngữ và phép luyện hơi thở tương tự nhưng
chúng khác biệt rất lớn về phương diện triết học, pháp môn thực hành và
kết quả mà chúng mang lại.
Những vị
đạo sư khẳng quyết với môn nhân đồ chúng rằng
họ phải tu theo cả ba truyền thống: Phật giáo Nguyên Thủy, Phật
giáo Ðại Thừa và Kim Cang Thừa. Cả ba truyền thống này
đều được bao gồm và thể hiện trong
pháp tu của Phật giáo Tây Tạng. Trong pháp tu Tây Tạng, người hành giả
phải quy y Ba Ngôi Báu, giữ gìn những giới luật và trau dồi ý chí giải
thoát; tương đồng với giáo lý của Phật giáo
Nguyên Thủy. Trên nền tảng này, hành giả xây dựng tâm thí xả
để đạt đến sự chứng ngộ hầu làm lợi
lạc cho tất cả chúng sinh; tương đồng với
trọng điểm của Phật giáo Ðại Thừa. Hành giả tiếp tục tu tập theo
tinh thần vô ngã thông qua hệ thống triết lý của Nguyên Thủy và Ðại Thừa.
Sau khi tu tập như vậy thì hành giả có thể lãnh thọ pháp lực của Mật Tông.
Lãnh thọ pháp lực Mật Tông
Phép lãnh thọ pháp lực còn gọi
là nhập Mật Thừa phải do một vị đạo sư tâm
linh có đủ phẩm cách tiến hành. Trong một lễ nghi
đặc biệt vị đạo sư Mật Tông chỉ dạy cách thức
thiền định và người đệ tử thực hành
ngay lúc ấy để nhập thiền và tiếp nhận
pháp lực. Ngược lại, chỉ hiện diện trong một gian phòng rồi uống một ít
nước thiêng thì không phải là lãnh thọ pháp lực
đúng nghĩa. Ðiều quan trọng của lễ
lãnh thọ pháp lực là tiếp nhận được những lời
huấn thị của vị đạo sư và theo đó mà
hành thiền. Có nơi lễ thọ pháp lực bao gồm việc truyền thọ Bồ Tát giới; có
những nơi khác lễ thọ pháp lực lại bao gồm cả việc lãnh thọ những giới
điều thuộc Mật Tông.
Một số người cho rằng trao
truyền pháp lực giống như ban phát ân điển
phước lành. Họ nghĩ rằng việc truyền pháp lực là một phương pháp
để trao truyền huyền thuật nên rất ham
muốn được uống nước đã có gia trì hay
được vị đạo sư dùng các pháp khí vỗ
lên đầu. Có người khá hơn cho rằng những giáo
lý nói về ý chí tìm cầu giải thoát, tâm thí xả và trí tuệ về không
tánh (ba nguyên lý chủ yếu của con đường đạo)
là những giáo lý nâng cao. Cách hiểu như vậy là hiểu không
đúng về Kim Cang Thừa.
Ba nguyên lý của con
đường đạo là những lời dạy căn
bản mà tất cả những người con Phật nên lắng lòng nghe và theo
đó mà tu tập. Ðó là nền tảng
để xây dựng nên chí hướng và cách hiểu
biết đúng đắn về giáo pháp. Ðó là tiền
đề để lãnh thọ pháp lực.
Thật ra, có một số trường hợp,
vị đạo sư cử hành lễ truyền pháp lực
với hình thức ban phước lành với ý muốn nhờ
đó người ta có thể kết duyên với Kim Cang Thừa. Tuy nhiên người
lãnh thọ cũng phải tập trung tâm ý trong suốt thời gian làm lễ.
Mục
đích của lễ truyền pháp lực là gieo
trồng những hạt giống giác ngộ cho tương lai và giới thiệu cho người ấy
pháp môn thiền định quán chiếu về những linh
tướng đặc biệt của Ðức Phật. Vì vậy mà những lễ truyền pháp lực nên
được tiến hành nghiêm trang với tâm
chí thành chí kính. Sau khi lãnh thọ pháp lực những người
đệ tử nên thỉnh cầu vị
đạo sư giáo giới về những giới điều và
những pháp hạnh rồi theo đó mà hết
lòng nghiêm giữ và hành trì.
Hơn nữa, những người
đệ tử nên thỉnh cầu thầy dạy về những
pháp môn tu luyện hay nghi quỹ [*] về linh ảnh nào
đó của Ðức Phật. Vị
đạo sư tâm linh sẽ giảng giải ý nghĩa thâm
yếu của Kim Cang Thừa và phương pháp
để tu luyện về linh ảnh của Ðức Phật hay một Bồ Tát thiêng liêng
nào đó. Nhờ vào việc tu luyện theo lời
dạy của thầy mà một hành giả có được những
lợi lạc thù thắng.
[*] "Nghi quỹ" (Skt: Sadhana
hoặc Tantra) là danh từ thường được dùng
trong Kim Cang Thừa chỉ cho một phối hợp gồm những bài chú, những pháp
thiền định, những vị hộ thần và
những linh ảnh. Trong Phật giáo Tây Tạng,
đây là phương pháp tu học phổ biến, nhưng luôn luôn cần sự hướng
dẫn của một vị đạo sư.
Một số người cứ tham gia thật
nhiều các buổi lễ truyền pháp lực như thể là
đang sưu tập huy chương để gắn lên ngực áo. Những người này cứ khoe
khoang với bạn bè rằng mình đã có
nhiều lần được nhận lễ truyền pháp lực và
nhiều lần được ban phước lành từ những
vị đạo sư thiêng liêng. Nhưng trong
đời sống thường nhật, ở tại gia đình
hay ở nơi làm việc, người ấy không hề vận dụng những duyên lành
đó để thiền quán về những linh ảnh của chư
Phật; cũng không tỉnh giác đối với những hành
động đang làm, những lời
đang nói hay những ý đang nghĩ trong đầu.
Những người như thế sẽ không
bao giờ tiến bộ trên đường tu học vì
nhiều lý do. Trước hết, động cơ của họ là
động cơ của thế tục, tức là tạo uy
danh. Ðộng cơ chân chánh của việc tu tập theo Chánh pháp là chuẩn bị cho
kiếp lai sinh, là đạt được sự giải thoát khỏi
vòng sinh tử luân hồi, hay là đạt được
giác ngộ viên mãn để làm lợi
lạc cho quần sinh. Người tu chân chánh không bao giờ khoe khoang về những
điều mà mình
đã có
được, đã tu được. Khi chưa thành
chánh quả thì chẳng có gì để mà huênh
hoang và khi thành chánh quả rồi thì vị ấy lại càng khiêm cung và cũng
không bao giờ khoe khoang cả.
Thứ hai, những người như vậy
không quán sát được nhân quả trong đời sống hàng
ngày của họ nên tiếp tục gây tạo những nhân không tốt khiến cho
đời sống trong tương lai có nhiều bất hạnh.
Ðể tiến bộ trên đường tu, điều chủ yếu
là nếp sống đạo đức và cách cư
xử tử tế với mọi người.
Thứ ba, họ không nỗ lực tu tập
theo những vị đạo sư thiêng liêng
đã tạo duyên cho họ
được truyền thụ pháp lực. Không nỗ lực tu tập
thì không có cách gì tiến bộ được.
Những người tu chân chánh chỉ âm thầm khiêm tốn tu tập theo lời
giáo huấn của vị đạo sư tâm linh và
nhờ đó mà
đạt được thành quả.
Quán chiếu những linh ảnh Phật
giáo
Chúng ta có thể thắc mắc tại
sao Kim Cang Thừa lại có rất nhiều hình tượng chư Phật hay nhiều linh ảnh.
Tất cả Ðức Phật đều chứng đắc chung một đạo
quả. Tuy nhiên, để làm lợi lạc
cho chúng ta, chư Phật đã thị hiện
dưới nhiều hình dạng khác nhau để nêu
bật lên những khía cạnh khác nhau của quả vị Vô Thượng.
Thí dụ, Quán Thế Âm Bồ Tát
đặc biệt biểu trưng cho lòng từ ái của
Phật. Một biểu tướng của vị Phật này có đến
1000 cánh tay biểu trưng cho đức tánh luôn luôn vận dụng mọi phương cách
để cứu độ mọi sinh linh. Một vị thánh khác là Văn
Thù Bồ Tát có thân tướng màu vàng đậm
biểu trưng cho tính chất chói sáng huy hoàng của trí tuệ. Hình
tượng Văn Thù Bồ Tát tay cầm thanh
kiếm trí tuệ biểu trưng cho việc người ta cần phải chặt
đứt tất cả những chướng ngại trên con
đường giác ngộ giải thoát. Một biểu tướng nữ
của Ðức Phật là hình tượng Ðộ Mẫu (Tara) màu xanh lá cây nhắc nhở
chúng ta màu xanh của mùa xuân và mùa hạ, biểu trưng cho tính chất phong
phú, phát triển và thành tựu trong đạo
nghiệp.
Một số thánh tượng trong tư thế
thiền định đang ôm lấy đối thể. Thánh tượng này
biểu trưng cho nguyên lý hợp nhất giữa từ bi (tướng nam) và trí tuệ (tướng
nữ) thành tựu nhờ vào sự chứng đạt thiền
định. Ðây là một nghệ thuật biểu trưng không can dự gì với những
hành vi dục cảm thiếu trí.
Pháp thiền
định của Mật Tông gắn liền với việc quán
tưởng. Tâm của chúng ta có một sức mạnh tưởng tượng và một năng
lực hình dung vô cùng mạnh mẽ. Thật ra,
đây là những tiến trình gắn liền với
chúng ta khi chúng ta giận dữ, tham ái và kiêu ngạo. Trong Kim Cang Thừa năng
lực tưởng tượng của tâm thức được chuyển hóa và vận dụng theo một
phương pháp tích cực để thăng tiến đến đạo
quả.
Trong pháp tu của Mật Tông,
trước hết hành giả thiền quán về không tính hay tính chất trống rỗng,
không hề có một thực thể cố định nào
trong con người chúng ta. Trong cái khoảng không gian tâm thức
đó, hành giả tưởng tượng một thân
tướng cụ thể của Ðức Phật, cụ thể như thân tướng của Quán Thế Âm Bồ Tát.
Nhờ vào trực quán về hiện tướng của mình là Bồ Tát Quán Âm và tính chất
không có thực thể mà hành giả đã tạo
được những điều kiện để chứng đạt cả thân
tướng lẫn tâm thức của một vị Phật.
Nhờ vào việc
đồng nhất bản thân với Quán Thế Âm Bồ Tát mà
hành giả vượt lên thoát khỏi cảm giác phước mỏng nghiệp dày. Nhờ vào việc
đồng nhất với một lý tưởng, một vị Phật, một
tương lai của bản thân mà hành giả có thể tiếp nhận vào bản thân
những phẩm tính tốt đẹp rồi truyền đạt chúng
sang người khác với một tấm lòng từ ái và bi mẫn hơn.
Tụng
đọc những câu chú thực hiện song song với
việc tưởng tượng bản thân mình đang
hội nhập với thân tướng thanh tịnh của một Ðức Phật. Một câu chú là
một chuỗi âm thanh được thiết lập và
được một vị Phật gia trì, chứa
đựng tinh yếu của nội dung giác ngộ mà
vị Phật ấy chứng được. Tụng đọc những câu chú
có công năng ổn định và giúp phát triển năng
lực tập trung của tâm thức. Trong đời sống hằng ngày, người ta mảng
lo nói những chuyện phù phiếm và tự thầm thì trong thất niệm. Tụng
đọc thần chú sẽ chuyển hóa khuynh hướng đã
có sẵn này thành một năng lực tu tập đưa đến
một trạng thái tâm thức tập trung và thanh tịnh.
Trong Kim Cang Thừa, hành giả
phát triển trạng thái tĩnh trú nhờ vào việc thấy rằng bản thân mình là một
vị Phật hay thấy rằng một câu chú hay một pháp khí thiêng liêng nào
đó hiện diện trong thân thể của mình.
Hành giả chứng đạt biệt quán về không tính do
nhờ tập trung tâm ý vào tính chất vô ngã của bản thân và của thánh
tượng lúc khởi sự tu thiền, đồng thời còn
tập trung vào không tính của bản thân và của vị Phật suốt trong thời gian
thiền quán.
Phật giáo Tây Tạng nêu cao tầm
quan trọng của việc tìm ra một vị đạo sư tâm
linh có phẩm chất rồi tuân hành theo những lời giáo huấn về Chánh
pháp của vị ấy mà nghiêm cẩn tu tập. Ðiều này cần phải
được tuân hành
đặc biệt đối với những hành giả tu
theo những pháp thiền định bí mật của Kim
Cang Thừa.
Phật giáo Tây Tạng
đã lan truyền sang những quốc gia
phương Tây. Người dân ở đây đã thích
thú với những thứ bậc từng bước một của giáo pháp
để rèn luyện tâm từ ái, lòng bi mẫn và
ý hướng thí xả song song với những điểm giáo
lý chơn chánh và có tính khai phóng nhằm chứng
đạt được không tánh. Một số người khác lại
cảm thấy thích thú với cách vận dụng sức tưởng tượng và năng
lực chuyển hóa của Kim Cang Thừa. Nhưng dù cho hành giả tu tập theo
bất cứ một giáo phái hay một thừa nào đi nữa
điều quan trọng là hành giả phải chân thành, trung thực và khiêm
cung trong công trình tu tập của mình.
XVII. CHÙA CHIỀN VÀ GIẢNG ĐƯỜNG
^
Những nơi chúng ta gặp nhau
Hình tượng Ðức Phật trong trạng
thái thiền tọa thanh thoát là hình ảnh đầu tiên
mà chúng ta nhìn thấy khi bước vào một ngôi chùa Phật giáo. Tâm hồn của
chúng ta bỗng trở nên nhẹ nhàng, thanh thản khi chúng ta chiêm ngưỡng
được những nét bình lặng trên khuôn
mặt của Ðấng Từ Phụ. Vì sao? Vì chúng ta cảm nhận trong tâm hồn của chính
mình cũng có những góc yên tĩnh và ấm áp. Khi chúng ta cúi
đầu đảnh lễ Ðức Từ Phụ Bổn Sư và dâng
lên Ngài một nén hương hay một cành hoa thì những người Phật tử có chánh
tín không nghĩ đến ân điển hay phước lành
do ảnh tượng bằng gỗ hay bằng đồng mang lại.
Thật ra lúc đó chúng ta đang tiếp xúc và
đang lễ kính những phẩm chất mà chúng
ta tương đồng với Ðức Phật, những phẩm
chất sẵn có trong tự thân của mỗi chúng ta.
Ngôi chùa Phật giáo là nơi
để người ta ghi nhớ lại những phẩm chất thánh
thiện thanh cao và những năng lực tiềm
tàng của con người mà bản thân chúng ta có thể vươn tới và
đạt được. Ngôi chùa Phật giáo còn là
nơi để nhắc nhở lại cho chúng ta nhớ một điều
là dù cuộc sống của cá nhân chúng ta có khốn
đốn và khổ
đau, ê chề và bế tắc như thế nào
đi nữa, chúng ta đều cũng có thể khắc phục và
vượt qua được với những năng lực tiềm tàng
trong bản thân. Không gian tĩnh lặng của một ngôi chùa cũng gợi cho chúng
ta nhớ rằng, tất cả mọi người - những người thân thương, những người thù
nghịch và những người xa lạ - đều có một Phật
tính trong sáng thường hằng. Trạng thái tâm hồn của chúng ta sẽ biến đổi
nếu chúng ta thực tập theo chiều hướng nhận thức như vậy.
Vào một ngôi chùa, nhìn những
cảnh trí và pháp khí, chúng ta có thể có cảm giác thân quen hay xa lạ.
Những cảm giác quen hay lạ này là tùy vào việc chúng ta có lớn lên và
trưởng thành trong bầu không khí được thấm
nhuần với nền văn hóa Phật giáo hay không. Thật ra, giữa những ngôi chùa
ít nhiều vẫn có sự khác biệt vì xuất phát từ nhiều truyền thống và nhiều
tông phái khác nhau.
Trong những ngôi chùa Nguyên
Thủy thì hình tượng của Ðức Bổn Sư thường ngồi thẳng trong tư thế thiền
tọa, hoặc nằm nghiêng bên hữu trong tư thế Niết bàn. Phía sau tượng Phật
thường có một cây Bồ đề đứng trong một cảnh
trí làm cho khách chiêm bái nhớ lại cây Bồ
đề nơi mà thái tử Tất-đạt-đa
tu tập và chứng đạo tại làng
Ưu-lâu-tần-loa. Bên ngoài chánh điện, đôi khi
người ta thấy có một tượng thần có bốn mặt. Một số khách chiêm bái
hiểu lầm nên cho rằng đó là một vị
"Phật tứ diện", nhưng thật ra, đó là
tượng thần Brahma. Brahma là một vị thần của Ấn Ðộ giáo
đã du nhập vào Thái Lan và Tích Lan
trong thời kỳ giao lưu văn hóa tiền Phật
giáo.
Trong những ngôi chùa của Trung
Quốc, đặc biệt là những ngôi chùa
thuộc Tịnh Ðộ Tông, có nhiều tượng Phật hơn. Những tượng
đó có thể bao gồm tượng Phật Dược Sư, một
biểu thị về năng lực của chư Phật trong việc chữa trị mọi bệnh tật của
chúng sinh; hình tượng Phật A-di-đà
nhắc nhở chúng ta quốc độ cực kỳ trang nghiêm
và tráng lệ, cực kỳ an lạc và thanh tịnh, nơi mà Ðức Phật A-di-đà
làm giáo chủ; hình tượng Bồ Tát Quán Âm biểu thị cho lòng từ bi viên mãn
của tất cả Ðức Phật; hình tượng Bồ Tát Văn Thù
Sư Lợi ngồi trên lưng một con sư tử biểu tượng cho trí tuệ của chư Phật;
hình tượng Bồ Tát Phổ Hiền ngồi trên lưng voi biểu tượng cho Bồ Tát hạnh
và Bồ Tát nguyện.
Về phương diện thể hiện bên
ngoài thì mặc dầu những vị Phật và những vị Bồ Tát xuất hiện với nhiều
hình thức khác nhau (như đã
được tranh tượng miêu tả) nhưng về
phương diện thực chất thì tất cả chư Phật và chư Bồ Tát
đều đạt được sự chứng đắc cao nhất như nhau
về từ bi và trí tuệ. Những chứng đắc
của các Ngài đều thuộc nội tâm, không
hình, không tướng nên chúng ta không thể nào nhận thấy
được sự chứng đắc đó bằng những giác quan phàm
tục của chúng ta. Qua những hình tượng bằng
đường nét và màu sắc, các Ngài đã
đi vào thế giới của giác quan phàm tục
của chúng ta. Các Ngài đã hiện ra
những hình tướng khác nhau để miêu tả
cho chúng ta thấy được sự chứng đắc và
phương cách mà các Ngài dùng để giáo hóa,
giúp đời.
Ở thế gian, người nghệ sĩ dùng
những màu sắc và đường nét cụ thể sáng tạo
trong nghệ thuật tạo hình để diễn tả
tư duy và cảm giác trừu tượng không hình tướng; cũng vậy, trong
Phật giáo, những màu sắc và hình ảnh cụ thể của một vị Phật hay một vị Bồ
Tát đã
được vận dụng để diễn tả những chứng đắc tâm linh không hình tướng
và phương tiện độ tha của vị đó.
Ở những ngôi chùa Trung Quốc
thường hay có một bức tượng với gương mặt nhiều râu trông rất dữ tợn
được gọi là Hộ Pháp Già-lam. Vị này có
thể là một vị Bồ Tát mà cũng có thể chỉ là một vị thần thuộc thế gian, thệ
nguyện bảo vệ giáo pháp và những người đang
thực hành theo giáo pháp. Hình tượng của những vị Hộ Pháp Già-lam
nhắc nhở cho chúng ta hãy nỗ lực bảo vệ Chánh pháp bên trong tự thân của
chúng ta bằng cách tu học một cách chân thành và thanh tịnh, không vì mục
đích là những lợi lộc thế gian.
Thông thường, chùa Trung Quốc
có tôn trí một ban thờ [*] tổ tiên để phụng
thờ những người đã quá vãng, còn gọi là "ban thờ vong" hay "ban thờ
hương linh". Tên tuổi của những người quá cố
được viết trên giấy đỏ vì văn
hóa Trung Quốc cho rằng màu đỏ là
màu tốt lành. Thân bằng quyến thuộc thường mang hương, hoa, và trái cây
đến dâng cúng lên ban thờ này
để cầu nguyện cho những người quá cố. Ban thờ
hương linh không bắt nguồn từ Phật giáo mà lại có nguồn gốc từ nền
văn hóa bản địa Trung Quốc.
[*] "ban thờ"
được xem là lớn hơn "bàn thờ" về mặt
ý nghĩa.
Chùa Nhật Bản,
đặc biệt là những chùa Thiền Tông, có
những chánh điện đơn giản, ngược lại những
ngôi chùa của Phật giáo Tây Tạng thì lại
đầy màu sắc với nhiều hình tượng
được chạm khắc, tô vẽ công phu. Ðiều
này phản ảnh hai nền văn hóa khác nhau của
hai dân tộc khác nhau. Tây Tạng là một
đất nước mà phần lớn là núi rừng và cao nguyên. Dân cư ở Tây Tạng
rất thưa thớt, thường khi đi cả một đoạn
đường dài hằng cây số vẫn chưa thấy có bóng người lai vãng. Có lẽ
vì vậy mà người Tây Tạng một cách tự nhiên đã
xây dựng nên những ngôi chùa màu sắc rực rỡ với vô số hình tượng Phật và
hình tượng Bồ Tát được chạm khắc và tô
vẽ khắp nơi.
Có người không biết rõ lại nói
rằng những hình tượng dữ tợn trong những ngôi chùa Tây Tạng là những vị
hung thần ác độc. Sự thật không phải như vậy.
Kim Cang Thừa chú trọng vào việc chuyển hóa những tình cảm bình
thường của con người trở thành trí tuệ thánh thiện, theo chiều hướng
đó những hình tượng này là biểu hiện
của trí tuệ và từ bi đang làm nhiệm vụ
rất gay go và khó nhọc là đoạn diệt, phá tan
vô minh chấp ngã và vị kỷ, nguồn gốc của tất cả khổ
đau của chúng ta.
Người Phật tử thành tâm thường
cúi đầu đảnh lễ trước ảnh tượng Phật và
Bồ Tát trong chùa. Ðó là thể hiện của sự kính trọng. Sự kính trọng này
không chỉ đối với những vị đã thành
Phật, đã thành tựu
điều mà chúng ta cũng muốn thành tựu,
mà còn đối với những vị Phật tương lai, tức là
chính chúng ta.
Nhang
đèn, bông trái, nước uống
được dâng lên bàn thờ cũng là
để biểu lộ sự kính trọng và sùng bái
của chúng ta đối với thể tánh Phật. Nhưng
những vị Phật không mong đợi chúng ta lễ bái hay cúng dường. Bậc Toàn
Giác không cần những phẩm vật hay hoa quả. Thật ra, cúng dường là phương
cách để chúng ta rèn luyện tâm hồn của
mình, tập cho chúng ta có được cảm giác hoan
hỷ trong việc cúng dường hay bố thí. Chúng ta cúng dường vì cúng
dường là một pháp môn để tu sửa tâm hồn, để
diệt trừ tánh chấp thủ và bỏn xẻn.
Chúng ta có thể cúng dường hầu
như bất cứ món gì miễn là món ấy được tạo sắm
bằng phương pháp thiện lành trong sạch. Do vậy chúng ta không nên
dâng cúng những vật mà chúng ta có được nhờ vào
việc chúng ta gian lận trong thương trường hay trong những nghề nghiệp
khác. Chúng ta cũng không nên dâng cúng cá thịt mặc dầu trong một số nghi
lễ thuộc Kim Cang Thừa người ta có dâng lên bàn thờ một miếng thịt rồi
dùng tâm thức chuyển hóa nó bằng cách quán chiếu rằng miếng thịt này không
có thực thể. Nhang đèn, bông hoa, trái
cây, nước uống là những phẩm vật cúng dường phổ thông nhất. Người ta có
thể xếp đặt những phẩm vật lên bàn thờ
theo bất cứ cách thức nào được xem là
trang trọng nhất, đẹp nhất; số lượng nhiều ít
như thế nào được xem là ưng ý
nhất.
Ðiều quan trọng là mục
đích của việc cúng dường. Chúng ta không nên
nghĩ rằng khi cúng dường xong thì chúng ta đã
"làm thân" với Ðức Phật và Ngài sẽ phù hộ cho chúng ta làm
ăn phát đạt, lắm tiền, nhiều của và
đầy thế lực to lớn. Ðiều chúng ta nên
nhớ trước tiên là những bậc thánh không bao giờ nhận của
đút lót. Hơn nữa, nhờ vào nhiều hành
vi đạo đức và bằng một nội tâm có tu
tập, chúng ta phải ra thiện duyên để có được
phước báu an vui.
Vì vậy, việc cúng dường cần
hướng đến một mục đích chơn chánh là
làm lợi lạc tha nhân, là giác ngộ và giải thoát. Qua việc cúng dường chúng
ta sẽ tạo ra một thiện nghiệp tiềm ẩn, thiện nghiệp này không những sẽ
mang lại những lợi lạc nhất thời mà còn đưa
chúng ta đến những chứng đắc về tâm linh sau này.
Sinh hoạt ở những ngôi chùa
Chùa là trung tâm của những
sinh hoạt văn hóa và tôn giáo. Người
dân có thể đến chùa bất cứ lúc nào
để thiền định và cầu nguyện; mỗi ngày
ở chùa đều có những khóa lễ tụng niệm. Mục
đích của tụng niệm là để dìu
dắt tâm hồn chúng ta đi theo chiều hướng tốt
đẹp. Qua việc suy tư về những lời kinh đã
được tụng đọc, chúng ta sẽ thông hiểu hơn và
sẽ làm cho ý nghĩa của những lời kinh thấm dần vào trong tâm hồn thành
kính của mình. Thật ra chúng ta nên chiêm nghiệm những lời kinh trong khi
chúng ta đọc tụng, và vì vậy, tốt hơn
là chúng ta nên gọi những thời tụng kinh là những thời "thiền tụng" (tương
tự như "thiền hành", "thiền tọa").
Tùy theo nền văn
hóa của mỗi dân tộc, tùy theo những tông phái khác nhau mà hình
thức của những thời khóa tụng niệm và lễ lượt khác biệt với nhau. Phật
giáo Nguyên Thủy thì tụng kinh tiếng Pàli; Phật giáo Trung Quốc, Việt Nam
và Tây Tạng thì tụng theo tiếng mẹ đẻ của
từng dân tộc. Ngày nay đạo Phật đang
đi về phương Tây và chúng ta thấy rằng trong những trung tâm hoằng
pháp ở phương Tây người ta sử dụng thêm nhiều ngôn ngữ khác nữa. Chắc chắn
rồi đây Phật giáo sẽ có thêm những sắc
thái mới trong hình thức và nghi lễ để phù
hợp với nền văn hóa của những quốc gia khác
nhau ở Âu Tây.
Việc
đọc tụng thường được hỗ trợ bởi tiếng chuông,
tiếng trống, và tiếng cồng... Những khí cụ này
được dùng
để giúp cho lời kinh được nhịp nhàng và có âm
điệu, đồng thời cũng là một hình thức
cúng dường âm nhạc đến với chư Phật.
Trong chùa thường tổ chức
thuyết giảng giáo lý Phật giáo và những khóa dạy tu thiền. Nghe thuyết
giảng về giáo lý Phật giáo là việc cực kỳ quan trọng vì nếu không có sự
hiểu biết chuẩn mực về mặt lý thuyết thì khi thực hành sẽ khó lòng tránh
khỏi sự lệch lạc.
Ở Á Ðông, khá nhiều Phật tử có
suy nghĩ lệch lạc về việc nghe thuyết pháp. Họ vừa lòng với việc
đi chùa, cúng dường, tụng kinh, xem
như vậy là đủ rồi, không cần phải tu tập và
học hỏi thêm điều gì nữa. Họ nghĩ rằng
việc học hỏi và hành trì chuyên sâu vào các pháp môn là việc riêng của các
vị xuất gia, những người hiến dâng cuộc đời
của mình vào việc tu hành và phụng sự Chánh pháp.
Ðiều
đáng mừng là cách suy nghĩ như vậy
đã giảm dần. Càng ngày càng nhiều
những người cư sĩ ở châu Á thích thú việc tìm hiểu những giáo lý cao siêu.
Thanh thiếu niên càng ngày càng tỏ ra ưa thích học hỏi giáo pháp và thực
hành thiền định trong những khóa tu và
cả trong đời sống thường nhật của mình.
Thay vì dạy giáo lý cho trẻ em tại nhà như trước
đây, Phật tử châu Á đang tiến hành
việc tổ chức những lớp học vào ngày chủ nhật
để dạy Phật pháp cho trẻ em.
Những người tu theo Phật giáo ở
phương Tây - bất kể tăng ni hay Phật tử - rất
thích nghe giảng giải Phật pháp dù họ phải
đi cầu học ở những nơi rất xa xôi. Họ đến
những trung tâm truyền bá Chánh pháp (những ngôi chùa)
để học hỏi giáo lý và tu tập thiền
định vì họ muốn hiểu biết
đầy đủ về lý thuyết và
đồng thời đem lý thuyết đó ra thực hành
một cách cụ thể.
Một số ngôi chùa làm những công
việc mang tính xã hội như xây dựng trường học, câu lạc bộ thanh thiếu
niên, viện mồ côi, dưỡng đường và viện
dưỡng lão. Ðức Ðạt-lai Lạt-ma khích lệ những hoạt
động mang tính xã hội như thế. Làm
được như vậy tức là chúng ta không chỉ
ngồi tư duy thiền quán về hạnh vô ngã vị tha mà chúng ta còn
được thực hành hạnh vô ngã vị tha một
cách cụ thể, biến đức tính vô ngã vị
tha thành những công việc có ích lợi cụ thể cho nhân quần xã hội.
Ðối với một số người thì việc
phục vụ xã hội là một phương tiện vô cùng quan trọng trong sự nghiệp tu
học. Ðối với một số người khác thì học hỏi giáo lý và thực hành thiền
định là trước hết và trên hết. Tùy
theo chí hướng riêng của từng cá nhân dù là cư sĩ hay tăng
sĩ mà mỗi người đều có thể dấn thân vào
tất cả việc trên đây.
XVIII. LỄ HỘI PHẬT
GIÁO
^
Lễ hội, sinh nhật, lễ thành hôn
và lễ tang
Phật giáo sử dụng âm lịch nên
ngày Rằm và ngày cuối tháng là thời gian dành cho những sinh hoạt lễ hội.
Ðông đảo cư sĩ Phật tử về chùa tụng
kinh, cầu nguyện và làm các công đức qua việc
bố thí cúng dường. Có người thọ trì Bát quan trai giới trọn ngày.
Trong những ngày này nhiều ngôi chùa ở Trung Quốc cung cấp bữa
ăn trưa chay tịnh miễn phí cho dân chúng.
Ngày Rằm và ngày cuối tháng
cũng đánh dấu ngày tăng
ni sám hối và bố tát để được thanh
tịnh. Tăng chúng tụng đọc và ôn lại những giới
điều đã thọ và
đề khởi trở lại ý chí nghiêm trì giới
luật.
Lễ hội quan trọng nhất của Phật
giáo là lễ Phật Ðản làm sống lại kỷ niệm Ðức Phật chứng
được đạo quả Vô Thượng Bồ Ðề. Lễ Phật
Ðản được đón mừng vào ngày Rằm tháng
tư, nhằm tháng năm hay tháng sáu tây lịch.
Trong dịp lễ hội này người Phật tử thường tụ tập về chùa chiền, thọ
trì Bát quan trai giới và tham dự các khóa lễ.
Một số tông phái Phật giáo cho
rằng ngày Rằm tháng tư cũng là ngày Phật Niết bàn, trong khi một số tông
phái khác lại cử hành lễ Phật Ðản vào ngày mùng 08 tháng tư. Vào ngày lễ
Phật Ðản một số nơi tổ chức lễ tắm Phật với nước thơm
để tưởng nhớ đến sự kiện chư thiên tắm
thái tử khi Ngài vừa mới chào đời.
Bảy tuần lễ sau ngày Phật Ðản
là lễ kỷ niệm ngày Ðức Phật thuyết bài pháp
đầu tiên tức bài kinh Chuyển Pháp Luân. Ðây là ngày tưởng nhớ
đến sự kiện Ðức Phật tuyên thuyết Tứ
thánh đế ở vườn Lộc Uyển.
Theo Phật giáo Tây Tạng thì 4
lễ hội đặc biệt quan trọng về cuộc đời của
Ðức Phật gồm có trước hết là lễ Phật Ðản và lễ Phật Chuyển Pháp
Luân; kế đến, ngày 15 tháng giêng âm
lịch là lễ hội kỷ niệm Phật hiển bày những phép thần thông
để đối trị với những người bất tín, dắt dẫn
họ trở về Chánh đạo và lễ hội thứ tư
được đón mừng vào một tuần sau mùa an cư kiết hạ. Ðây là lễ kỷ niệm
ngày Ðức Phật trở về thế gian sau khi đã
ở trên thiên giới ba tháng để thuyết pháp độ
cho mẫu thân.
Từ thời Phật mỗi năm
chư tăng ni đều cấm túc an cư ba tháng trong mùa mưa. Ở Ấn Ðộ trong
mùa mưa, muông thú và côn trùng sinh sản rất nhiều,
để cho chúng không bị vô tình dẫm
đạp, Ðức Phật
đã huấn thị tăng
ni ở cố định một nơi trong suốt thời gian ba tháng, không nên di
chuyển từ địa phương này sang
địa phương khác.
Ðây là thời gian ẩn cư của Tăng-già,
trong suốt thời gian này chư tăng không được
phép thọ nhận y phục, giường nằm... Cuối thời gian an cư này có một
lễ hội, sau lễ hội là lễ dâng y Kathina
để người tại gia cư sĩ cúng dường y áo và
vật dụng cho Tăng-già vì trong mùa mưa
thời tiết ẩm ướt những vật dụng của chư tăng
đã bị hư hại.
Ở Trung Quốc, người Phật tử còn
tổ chức lễ vía nhiều vị Bồ Tát. Những lễ hội này
đánh dấu những ngày tháng quan trọng
được kinh điển đề cập như lúc vị Bồ Tát ấy
được sinh ra, lần đầu tiên phát đại
nguyện thí xả hay những đại thệ nguyện cứu độ tất cả chúng sinh.
Khi lan tỏa vào nhiều khu vực văn
hóa khác nhau, Phật giáo đã hội nhập với những hoạt
động văn hóa ở những nơi đó. Kết quả là
những hoạt động văn hóa cổ xưa được duy trì
nhưng lại mang sắc thái của Phật giáo. Một ví dụ là Tết Nguyên Ðán. Ðây là
một lễ hội của nền văn hóa có trước Phật
giáo. Ở Tây Tạng, không khí nô nức của ngày Tết hòa quyện với không
khí nhiệt thành cúng dường cầu nguyện và các khóa lễ của nhà chùa
để cúng dường phẩm vật lên chư Phật,
chư Bồ Tát và những vị Hộ Pháp Già-lam.
Hơn nữa, ở Lhasa (thủ
đô của Tây Tạng) Ðại Lễ Hội Cầu Nguyện
vào đầu thế kỷ thứ 14 thu hút tăng ni và
tín đồ Phật tử khắp mọi nơi ở đất nước Tây
Tạng trẩy hội về đây tham dự. Trong thời gian lễ hội này Ðức
Ðạt-lai Lạt-ma hay những vị hành giả vĩ đại
khác sẽ đăng đàn giáo hóa. Hào hứng và thú vị hơn cả là những cuộc
biện luận đạo lý giữa những ứng viên
muốn tốt nghiệp Geshe (tiến sĩ của Tây Tạng)...
Lễ thành hôn, sinh nhật, và lễ
tang
Không có lễ nghi chính thức
dành cho đứa bé mới chào
đời trong gia đình theo Phật giáo. Tuy
nhiên cha mẹ được phép dâng phẩm vật cúng
dường và cầu nguyện đồng thời cầu
thỉnh những khóa thiền tụng để hồi hướng phước đức cho đứa bé. Khi đủ lớn
khôn để hiểu được Chánh pháp thì đứa
trẻ được phép thọ lễ quy y và chính thức trở thành người Phật tử.
Ðối với Phật giáo lễ cưới
được xem như là một việc thế tục. Thật
ra, Ðức Phật ngăn cấm chư tăng ni không được
làm mai mối hay tiến hành lễ cưới. Ðiều này nhằm giúp tăng
ni giữ gìn phạm hạnh như đã
được lãnh thọ
đồng thời giúp tăng ni có thêm thì giờ
để học hỏi giáo pháp và thiền
định.
Ðôi khi những cư sĩ Phật tử cử
hành lễ cưới với tiết mục thảo luận Phật pháp. Có trường hợp, sau khi làm
lễ cưới xong hai vợ chồng mới cùng đi đến chùa
lễ Phật, cúng dường hay tài trợ cho một buổi lễ cầu nguyện
để tạo những thiện nghiệp chung hầu có một
cuộc sống gia đình hạnh phúc sau này. Lúc
đó chư tăng hay chư ni tụng một thời thiền
tụng hay đọc lên lời chú nguyện chúc phúc cho hai vợ chồng
được nhiều phước lạc an vui, lợi lạc cho tất
cả mọi người.
Trong những lúc cuộc sống vợ
chồng có vấn đề người ta thường đến chùa
thỉnh cầu chư tăng niệm kinh, thiền tụng hay
cầu nguyện. Tuy nhiên, người Phật tử không cầu nguyện Ðức Phật
giống như cầu nguyện một vị thần toàn năng và
yêu cầu Phật giải quyết những vấn đề của mình.
Người Phật tử có niềm tin chân chánh rằng không người nào, kể cả Ðức Phật,
là toàn năng. Nếu có một người toàn năng
thì người ấy chắc chắn đã giải
quyết tất cả vấn đề của tất cả mọi người rồi.
Chúng ta cũng không nên cầu xin
Ðức Phật hãy tha thứ và đừng có phạt tội
chúng ta nữa dù chúng ta đã làm
những hành động tai hại. Chư Phật có lòng
từ bi vô hạn và không bao giờ làm hại bất cứ người nào, dù là làm hại với
danh nghĩa của "công lý." Những nỗi đau khổ
của chúng ta là do những bất thiện nghiệp mà chúng ta
đã làm trong
đời này hay nhiều
đời trước.
Những khi gặp cảnh khổ trong
đời sống thì việc
đọc kinh điển, thiền tụng hay cúng dường có
hai lý do. Một, những việc làm này xóa
đi những dấu ấn ác nghiệp trong tâm thức chúng ta và khiến cho
những ác nghiệp này không trổ quả trong tương lai. Hai, tạo nên những
nghiệp thiện để trổ quả phước lạc sau này.
Có khi những lễ cầu an như vậy được cử hành
ở gia đình của thiện tín cư sĩ, cũng
có khi được tổ chức tại chùa hay tu
viện.
Khi người ta mệnh chung, chư tăng
thường được cung thỉnh đến để thiền tụng cầu siêu, hồi hướng phước
lạc cho người vừa mất. Nội dung bài kinh có khi là những lời chỉ dạy dành
cho người đang hấp hối hay là người
đã chết nhằm giúp người ấy sinh vào
cảnh giới tốt đẹp. Những bài kinh khác
thì lại có tác dụng vun bồi thiện nghiệp, hồi hướng cho tất cả chúng sinh,
đặc biệt là cho người
đang hấp hối hay đã chết.
Mặc dầu trong văn
hóa Á Ðông, thì người ta thường thỉnh mời chư tăng
hay chư ni làm lễ cầu siêu nhưng thật ra ngay cả những người thiện
tín cư sĩ cũng có thể làm làm lễ cầu siêu
được. Trong những trung tâm Phật giáo ở phương Tây, thường thường cả cư sĩ
lẫn chư tăng cùng làm lễ chung với nhau. Chúng ta không nên có ý
tưởng, "Tôi là người đời nên tôi
không thể nào thực hiện thiền tụng được."
Cũng không nên có ý nghĩ rằng tôi mướn quý thầy
đến tụng niệm, thế thì tôi khỏi tụng.
Khi chúng ta có mối tương quan mật thiết với người bệnh hay mệnh chung thì
tự thân chúng ta cầu nguyện, tụng kinh, cúng dường
để hồi hướng phước lạc cho người đó là
có tác dụng rất lớn.
Lễ hội Phật giáo thì rất nhiều
và phong phú. Những điều được nêu lên
ở đây chỉ là một số nét
đặc trưng tiêu biểu mà thôi. Hãy thoải
mái đi đến những ngôi chùa, tu viện
hay trung tâm tu học Phật giáo trong những ngày lễ hội. Hãy thưa hỏi những
nhà tu về ý nghĩa của những lễ nghi và lễ hội. Cũng vậy, mỗi khi bạn viếng
thăm chùa bạn không cần phải tham dự
vào những chương trình tu tập mà bạn chưa hiểu. Ngay cả việc lạy Phật bạn
cũng nên tìm hiểu nội dung ý nghĩa như thế nào. Tinh thần của
đạo Phật là tự do thắc mắc và tự do
tìm hiểu. Hãy sử dụng tinh thần rộng mở này
để học hỏi.
Phần Bốn
PHẬT GIÁO NGÀY NAY
Phật giáo trong thế kỷ này phải
đối mặt với hai thử thách. Một, làm
thế nào để giải tỏa những quan niệm sai lầm
khi người ta nghĩ về Phật giáo. Có người nhầm Phật giáo với việc thờ cúng
tổ tiên, người khác lại nhầm lẫn Phật giáo với việc soi căn
đoán mệnh. Ðây là những việc cần làm sáng tỏ
để chúng ta có thể hiểu những lời dạy của
Ðức Phật một cách tốt đẹp. Hai, việc hòa
hợp giữa các tôn giáo rất thiết yếu cho vấn
đề hòa bình của nhân loại. Ðiểm nổi bật của Phật giáo về vấn
đề này là thái
độ bao dung và tôn trọng những tôn
giáo khác, tuy nhiên lại cương quyết trong việc gìn giữ tôn chỉ và
đường lối sinh hoạt tu hành của mình.
Triển vọng sẽ như thế nào?
XIX. PHẬT
GIÁO LÀ GÌ, MÊ TÍN LÀ GÌ?^
Quan niệm của phật giáo về ma
quỷ, bói toán và năng lực siêu hình
Nội dung những lời dạy của Ðức
Phật là phát triển tâm thức. Con đường thật
sự đưa đến đạo quả giác ngộ khai mở ngay trong tâm thức của con người. Dù
trong bất cứ thời gian hay không gian nào mục tiêu của con
đường đó không thể đổi khác nhưng hình
thức biểu hiện ra bên ngoài của Phật giáo thì phong phú và
đa dạng. Chúng biến đổi tùy thuộc vào
mỗi quốc độ khác nhau vì những hình
thức nghi lễ của Phật giáo hội nhập hài hòa với sắc thái văn
hóa của từng quốc gia, từng địa phương khác nhau.
Ðôi khi Phật giáo với tín
ngưỡng bản địa hòa nhập với nhau
đến mức độ người ta khó lòng phân biệt
được rạch ròi giữa những biểu hiện
thuộc Phật giáo và những biểu hiện không phải là Phật giáo. Mặc dầu tăng
chúng biết rõ đâu là sự khác
biệt giữa những tín ngưỡng địa phương và
tinh thần Phật giáo nhưng đông đảo quần chúng
bình dân vẫn còn rất mù mờ về vấn đề này.
Thí dụ, một số người tự nghĩ
rằng mình đang tu theo Phật nhưng trong ngôi
chùa của họ ngoài việc thờ một tượng Phật ở chính giữa, họ còn
đặt những vị thần thánh Trung Quốc ở hai bên.
Họ rất mù mờ về sự khác nhau giữa chư Phật, chư Bồ Tát và những vị thần
phàm tục ở địa phương và sùng bái cúng
kiến tất cả những vị ấy như nhau. Trong chùa Phật giáo lại có những sinh
hoạt không phải của Phật giáo như lên đồng,
đoán mệnh... Những sinh hoạt đó chỉ là tập tục dân gian hay tín
ngưỡng dân gian mà thôi.
Cầu nguyện cho thân nhân quá
vãng
Thí dụ, người ta nghĩ rằng việc
đốt hàng mã hay tiền âm phủ cho thân
nhân quá vãng chính là cách mà Phật giáo thờ phụng tổ tiên. Theo tín
ngưỡng dân gian thì người chết sẽ đi vào
âm cảnh na ná như trần cảnh; cũng có nhà cửa, quần áo; cũng có xe cộ và
tiền bạc... Người thân trong trần cảnh muốn thể hiện tấm lòng hiếu thảo
qua việc phụng dưỡng cho ông bà, cha mẹ hay người thân
đã chết. Họ cũng muốn ngăn
ngừa những hồn ma bị quên lãng hiện về làm hại nên họ bèn
đốt lầu kho, quần áo, tiền giả... để cung
phụng cho người đã chết. Họ tin rằng thiêu
đốt hàng hóa sẽ khiến cho số hàng hóa
trên được chuyển qua cõi âm và người
thân của họ sẽ hưởng dụng.
Việc
đốt hàng mã bằng giấy bồi thuộc về tập
tục thờ cúng tổ tiên chớ không phải là Phật giáo. Theo Phật giáo, khi mệnh
chung, người ta không đi xuống âm phủ hay âm
cảnh. Thật ra sau khi chết họ đi vào trạng thái trung ấm trước khi
tái sinh để có một sắc thân khác. Trạng thái
trung ấm này có thể chỉ chớp nhoáng trong một tích tắc hay kéo dài
trong 49 ngày, sau đó sẽ đi tái sinh. Những
sinh linh trong trạng thái trung ấm không có khả năng giao tiếp với chúng
ta và chúng ta cũng không có khả năng
giao tiếp với những sinh linh đó. Chỉ có những sinh linh khác cũng ở trong
trạng thái trung ấm và những người có thiên nhãn nhờ vào thiền lực
mới có thể nhận thức được những sinh linh
trong trạng thái trung ấm này.
Kết thúc trạng thái trung ấm,
người ta liền tái sinh vào một trong 6 cảnh giới là chư thiên, bán thiên,
loài người, loài súc sinh, loài ngạ quỷ và tội nhân của
địa ngục. Chỉ có một số sinh linh tái sinh làm
ma quỷ, tức là sống trong cảnh giới ngạ quỷ hay quỷ
đói, chớ không phải ai chết cũng phải sinh làm
hồn ma trong cảnh ngạ quỷ cả. Nên nhớ rằng dù sinh vào trong cảnh giới nào
đi nữa thì việc ấy chỉ có tính chất
tạm thời chớ không vĩnh viễn. Hạnh nghiệp trước
đây của một người sẽ có tác động chính đối
với cảnh giới mà người ấy sẽ tái sinh.
Những người thân
đã chết của chúng ta sẽ có của cải tài
sản tùy theo phước lực và cảnh giới mà những người ấy sống. Thí dụ, nếu bà
ngoại đã từ trần cách
đây một năm, và hiện nay bà
đã tái sinh vào một cảnh giới nào
đó. Nếu ngoại tái sinh làm người thì
giờ đây bà là một baby mấy tháng tuổi
có chút xíu đang nằm trong nôi. "Bà
ngoại baby" hay là "ông ngoại baby" này (người ta có thể thay
đổi giới tính khi tái sinh) sẽ được cha mẹ
(mới) nuôi dưỡng và chăm sóc các việc
ăn mặc. Chúng ta không thể cung cấp quần áo trẻ sơ sinh cho "bà
ngoại baby" bằng cách đốt những miếng giấy
xếp cắt na ná như quần áo trẻ em được.
Dĩ nhiên là chúng ta cảm thấy
thương nhớ người thân đã mệnh chung
nhưng quả là không có lợi lạc gì cả nếu chúng ta nhờ những người trung
gian để liên lạc với người quá vãng.
Chúng ta nên nhớ rằng lời đầu tiên mà
Ðức Phật dạy là sự chóng vánh của kiếp sống con người và nếu chúng ta chấp
nhận việc ra đi của người thân yêu thì
tâm thức chúng ta sẽ có nhiều tịnh lạc hơn.
Trợ giúp cho thân nhân hay bạn
bè đã chết là
điều tốt đẹp và Phật giáo có chỉ dạy
những công việc để trợ giúp cho thân nhân quá
cố. Chúng ta có thể đem của cải tài sản của người
đã chết
để làm việc từ thiện, giúp người khốn khó hay cúng dường cho Phật
Pháp và những hành giả chân chánh. Chúng ta cũng có thể tổ chức những buổi
lễ cầu nguyện cho người chết rồi hồi hướng công
đức của những việc làm thiện lành trên
cho người thân đã mất.
Chúng ta không thể nào chuyển
tải các thiện nghiệp của chúng ta cho một người nào khác giống như chuyển
tiền từ tài khoản trong ngân hàng của chúng ta sang một tài khoản khác vì
người hành động chính là người thể
nghiệm kết quả tốt hay xấu của hành động đó.
Tuy nhiên bằng cách hồi hướng công đức
mà chúng ta đã tạo
được cho người đã khuất, chúng ta tạo
ra một định hướng lực nhờ đó mà những
nghiệp thiện mà người chết đã tạo
được từ trước dễ dàng trổ quả lành.
Những dấu ấn thiện nghiệp trong dòng tâm thức của người
đã chết giống như những hạt giống
đã gieo ở một cánh
đồng. Những lời cầu nguyện và việc hồi
hướng công đức của chúng ta giống như tưới
nước và bón phân giúp cho hạt giống lành
được phát triển nhanh chóng để hỗ trợ cho
người chết.
Cách tốt nhất
để giúp cho cha mẹ chúng ta được tái sinh vào
cảnh giới an lành là ngay khi cha mẹ còn sống hãy khuyến khích cha mẹ làm
các điều lành và không làm những
điều ác nữa. Chúng ta nên khích lệ gia
đình phát tâm bố thí và tu tập tâm
kiên nhẫn đối với mọi người. Chúng ta cũng
không nên yêu cầu một người nào đó
trong gia đình thay cho chúng ta nói lời sai trái hay lừa gạt người
khác để thu lợi cho gia đình. Ðược như
vậy, khi mệnh chung những người trong gia đình
của chúng ta sẽ có nhiều nghiệp tốt và còn rất ít nghiệp xấu phải mang
theo qua kiếp sống mới trong tương lai.
Lễ cúng cô hồn và lễ hội Vu Lan
Bồn
Nhiều người dân ở châu Á vẫn
còn rất mù mờ về lễ cúng cô hồn. Lễ cúng cô hồn là một lễ hội không thuộc
về Phật giáo mà thuộc về tín ngưỡng dân gian. Lễ cúng này thường nhập
nhằng với lễ hội Vu Lan Bồn của Phật giáo cũng tổ chức vào ngày Rằm trong
tháng bảy. Hai lễ hội hòa lẫn với nhau vì cùng xảy ra vào tháng bảy âm
lịch và cùng có đối tượng tưởng nhớ là
những người thân đã quá vãng. Tuy
nhiên có sự khác nhau về phương diện giáo lý và nghi thức thể hiện.
Trong tín ngưỡng dân gian,
người ta sắm sửa lễ vật gồm phẩm thực và nhang
đèn, xếp
đặt lên bàn thờ tổ tiên hay trước di ảnh của người chết rồi cúng
vái song song với việc đốt giấy tiền, vàng
bạc và đồ hàng mã, cầu nguyện người
chết sẽ cảm ứng chứng chiếu và hưởng dụng phẩm vật cúng dâng. Theo tín
ngưỡng dân gian thì suốt tháng bảy các vong hồn sống trong
địa ngục được thả tự do trở về lang thang trên
trần gian kiếm sống. Người ta cúng phẩm vật cho những hồn ma này, cung ứng
những thứ cần thiết cho chúng để cho những
vong hồn vất vưởng đó chẳng những không làm hại mà còn phù hộ cho
gia đình
được bình an, làm ăn được phát đạt, thành
tựu...
Tuy nhiên, như
đã giải thích ở trên, không phải ai
chết rồi cũng trở thành những hồn ma và đốt hàng
mã không thể làm cho đồ đạc chuyển tới tay
những hồn ma được... Theo Phật giáo những người tạm thời sinh vào
đọa xứ như địa ngục, quỷ đói... thì
không có ngày nào gọi là ngày nghỉ lễ trong tháng bảy
để họ được trở về lang thang, vất vưởng ở cõi
trần gian.
Lễ hội Vu Lan Bồn vào ngày Rằm
tháng bảy có nguồn gốc từ bài kinh Vu Lan Bồn. Bài kinh này chỉ có trong
tạng kinh Trung Quốc (không có trong tạng kinh Tây Tạng, cũng không có
trong tạng kinh Pali). Bài kinh này kể lại câu chuyện của Tôn giả
Mục-kiền-liên, một trong những vị đại đệ tử
của Ðức Phật, với thiên nhãn thấy được
rằng người mẹ của mình đã bị
tái sinh vào cảnh giới ngạ quỷ. Mục-kiền-liên bèn ân cần mang thức
ăn đến dâng cho mẹ. Người mẹ liền cất giấu
thức ăn vì keo kiết đến mức không muốn
san sẻ chút thức ăn ấy cho ai khác. Sau đó khi người mẹ lấy thức ăn ấy ra
để dùng thì than ôi thức ăn ấy đã
hư thiâu mất rồi. Rất buồn khổ, Mục-kiền-liên muốn cứu
độ thân mẫu nhưng không biết làm sao.
Mục-kiền-liên về kể lể sự tình
với Ðức Phật và được dạy rằng phải làm
lễ cúng dường thực phẩm và vật dụng đến tăng
chúng, cầu thỉnh tăng chúng ra sức thiền định rồi đem công đức hồi hướng
cho người mẹ. Ngài Mục-kiền-liên thực hiện việc này vào ngày Rằm
tháng bảy và phước lành đã khiến cho
những thiện nghiệp mà người mẹ đã làm
từ đời trước chín muồi. Không những bà
thoát kiếp quỷ đói mà còn
được sinh vào cảnh giới an lạc.
Vì vậy mà
đông đảo tín đồ Phật giáo Trung Quốc và
Nhật Bản thực hành lễ Vu Lan Bồn với việc cúng dường lên Tam Bảo, thỉnh
cầu tăng chúng làm lễ tụng kinh cầu
nguyện và thực hành thiền định rồi hồi hướng
phước lành cho bạn bè và thân nhân đã
quá vãng. Ðó là sự khác biệt chủ yếu về nội dung và ý nghĩa giữa lễ Vu Lan
Bồn và lễ cúng cô hồn trong ngày Rằm tháng bảy.
Ma quỷ và thần thánh
Theo Phật giáo, một số người
sau khi chết có thể sinh làm ma quỷ tùy theo những công việc mà những
người ấy đã làm trong quá khứ. Trong 6
cảnh giới thì đó là cảnh giới quỷ
đói. Cũng có người được sinh vào thiên
giới. Chúng ta có thể nói chuyện với hai cảnh giới này nhờ các người trung
gian.
Nói chung, khi người trung gian
nhập vào trạng thái xuất thần thì ý thức của người ấy tạm thời bị áp chế
và một vong hồn hay một vị thiên nào đó sử
dụng thân thể của người ấy để nói chuyện. Có những vong hồn có ích lợi
nhưng cũng có những vong hồn gây hại tương tự như trong cõi trần
gian có người giúp ích cho chúng ta nhưng cũng có người làm hại chúng ta.
Cả ma quỷ lẫn chư thiên đều còn tánh
phàm và còn phải tiếp tục sinh tử luân hồi. Cả hai dạng sinh linh này
đều không có trí tuệ và lòng từ viên
mãn như chư Phật. Một số ma quỷ và chư thiên có thiên nhãn trong chừng mực
nào đó. Vì vậy mà
đôi khi những dự đoán của những sinh linh này
rất chính xác, nhưng cũng có khi không đúng
chút nào. Những sinh linh này có khi tự nhận là một người thân
đã chết hoặc một vị Bồ Tát nhưng chưa
hẳn là đúng như vậy.
Việc giao tiếp với vong hồn hay
thần linh thông qua một xác đồng thuộc về tín
ngưỡng dân gian. Ðức Phật không dạy gì về việc này. Ðức Phật chỉ
giảng dạy con đường đi đến giác ngộ và
khuyến khích chúng ta rèn luyện trí tuệ để tự
mình quyết định sự việc. Chúng ta nên
luôn luôn phản tỉnh xem hành động mà
chúng ta sắp làm có tính chất đạo đức hay
không. Hành động đó xuất phát từ lòng
từ ái chân chính hay từ tâm sân giận, từ tâm thí xả hay từ tâm lượng hẹp
hòi?
Nhiều người rất sợ bị ma quỷ
làm hại. Ma quỷ chỉ có thể làm hại người nào
đã tạo duyên bị hại - có nghĩa là nếu người ấy
đã làm hại người khác trong những kiếp
quá khứ. Sợ ma quỷ là việc vô ích. Càng lo sợ hoang
đường là càng khiến cho ma quỷ
đến làm hại mà thôi. Có khi không có
ma quỷ thật sự nào cả mà chỉ có một ma quỷ tưởng tượng do tâm ý của một
người quá lo sợ tạo nên mà thôi; con ma do người ấy tưởng tượng tạo ra lại
làm hại trở lại người ấy.
Nằm chiêm bao thấy người
đã chết không có nghĩa là người chết
trở về viếng thăm mình. Hầu hết những
giấc chiêm bao như vậy là sản phẩm của trí tưởng tượng mạnh mẽ của chúng
ta. Khi chúng ta nằm mơ thấy một trái táo thì
đó không phải là táo thật đâu. Cũng
như thế, khi chúng ta nằm mơ thấy người thân thì người mà chúng ta
thấy không phải thật đâu.
Khi người nào
đó cảm thấy sợ hãi
đối với các ma quỷ hay đang bị ma quỷ làm
hại thì phương thuốc hữu hiệu nhất là phép quy y và phương pháp tu tập
lòng từ ái. Nếu chúng ta hình dung ra linh ảnh của chư Phật, Tôn Pháp và Tăng-già
rồi tha thiết khát ngưỡng cầu được quy y thì
ma quỷ không thể làm hại chúng ta và nỗi lo sợ sẽ nhanh chóng tan biến.
Ma quỷ giống con người ở chỗ là
muốn có hạnh phúc và không muốn có đau khổ.
Hiểu được điều này chúng ta có thể khởi lên lòng từ ái
đối với những hồn ma hay quỷ đói và
nguyện cho những sinh linh đó thoát khỏi mọi
điều khổ não. Một mặt, lòng từ ái khiến cho chúng ta thoát khỏi
trạng thái sợ sệt vì chúng ta đã hướng
tâm đến tha nhân - hướng tâm tới những vong
linh chớ không còn quan tâm nhiều đến
bản thân của chúng ta nữa. Mặt khác, gần như không ai có ý định làm
hại người có lòng từ ái đối với mình,
ma quỷ sẽ không làm hại những người cầu nguyện cho chúng.
Tóm lại, là người có trí chúng
ta nên tu tập theo những lời mà Ðức Phật đã
dạy như Tứ thánh đế và con
đường từng bước đưa đến đạo quả giác ngộ, chớ
nên dây dưa với ma quỷ. Chúng ta nên xem những hồn ma hay quỷ
đói như những sinh linh; chúng đều là
đối tượng để chúng ta tu tập tâm từ bi.
Phong thủy và bói toán
Phong thủy là việc
định đặt vị trí và phương hướng của
nhà cửa, bàn ghế, mồ mả... nhằm mang lại may mắn và thịnh vượng. Ðó là một
phương thuật của văn hoá Á Ðông. Phong
thủy không thuộc về Phật giáo, mặc dầu một số nhà sư Trung Quốc làm việc
này. Chúng ta cần hiểu rằng các nhà sư có thể chơi cờ tướng nhưng không
thể vì vậy mà chúng ta có thể cho rằng cờ tướng thuộc về Phật giáo. Thuật
phong thủy thuộc về nền văn hóa chung của một
khu vực gồm nhiều quốc gia.
Một số Phật tử và ngay cả một
số những người không phải là Phật tử cũng đi
coi bói. Tuy nhiên điều đó không có
nghĩa là việc coi bói thuộc về Phật giáo. Dù rằng người ta thích
đi tham vấn những ông hay bà thầy bói
nhưng nên nhớ rằng đặt nặng niềm tin vào
những lời phỏng đoán thì không sáng
suốt chút nào. Ðức Ðạt-lai Lạt-ma thường bày tỏ quan
điểm, "Chúng ta chỉ biết
được tương lai khi nó thực sự xảy ra."
Hỏi một vị tăng
hay ni về con số chính xác để mua vé số hầu trúng thưởng là một
việc không chính đáng. Có người còn
mang cả vòng quay số tới trước bàn thờ Phật
để quay và hy vọng là Phật sẽ phù hộ cho mình tìm ra
được con số may mắn cũng là một việc
làm không đúng. Nên nhớ rằng Ðức Phật
đã khuyên chúng ta không nên tiêu pha
tiền của vào việc cờ bạc.
Thiên nhãn
Một số người cảm thấy rất phấn
khởi trước những năng lực huyền bí và
ra sức tu tập những mong đạt được những năng
lực siêu nhiên đó. Rất tiếc, mục tiêu
chơn chánh của việc tu tập theo Phật giáo thì không phải là
để đạt được thiên nhãn, hay các năng
lực siêu phàm khác mà là để đạt được
sự giác ngộ hầu làm lợi lạc quần sinh.
Những dạng thiên nhãn thông
thường có thể đạt được do những duyên
cớ khác nhau. Có thể là do phước báo hay do chí nguyện của người ta trong
kiếp quá khứ. Dạng thiên nhãn thông thường này không phải lúc nào cũng
đáng tin cậy và sẽ tan mất khi mệnh
chung.
Thiên nhãn chân chánh và có thể
tin cậy được phải là dạng thiên nhãn
có được do công phu thiền định. Ðây là
"tác dụng phụ" của công phu thiền định, cũng
như khi người ta mua gạo thì tất nhiên người ta có thêm
được cái bọc để đựng gạo vậy. Vì vậy
chúng ta không cần phải đặt thiên nhãn
làm một mục tiêu đơn lẻ để tu tập.
Chính mục
đích tu tập đóng vai trò quyết
định xem những năng lực tinh thần siêu
phàm này có lợi lạc hay không có lợi lạc. Những người có mục
đích là danh vọng và lợi
đắc vật chất khi tu tập những năng lực huyền
bí thì động cơ của người đó mang tính
chất tục lụy. Những người tỏ ra kiêu mạn và khoe khoang năng
lực thiên nhãn của mình thì có nguy cơ dùng những năng
lực đó để làm tăng trưởng tự ngã
chớ không phải để chế ngự nó. Họ có thể lạm
dụng năng lực thiên nhãn và gây nên
đau khổ cho bản thân họ và cho người khác. Vì vậy nên lòng từ bi vô
lượng và bình đẳng vô biên
đối với tất cả sinh linh là yếu tố cốt
lõi trong việc tu tập và sử dụng những năng
lực siêu nhiên một cách sáng suốt.
Ðức Phật cấm các
đệ tử khoe khoang những gì mà họ
đã chứng
đắc và sử dụng những năng lực siêu
phàm chỉ để khoe khoang. Những người tu tập
chân chính đều là những người rất khiêm tốn. Những người này chỉ
thích lặng lẽ giúp cho cuộc đời mà
không muốn ai chú ý hay kính ngưỡng cả.
Có
được thiên nhãn cũng chẳng phải là
điều gì ghê gớm. Tất cả chúng ta có lẽ
đã từng có thiên nhãn trong những kiếp trước nhưng rồi nó chẳng
giúp ích gì cho chúng ta bao nhiêu vì nó đã
để chúng ta tiếp tục trôi lăn trong vòng
tử sinh khổ não với những tâm thái nhiễu loạn và nghiệp quả nặng nề.
Tu tập theo con
đường đưa đến giác ngộ mới chính là
cách mang lại lợi lạc lâu dài cho bản thân và mọi người. Vì vậy chúng ta
nên sử dụng cơ may to lớn của kiếp sống này
để học hỏi và tu tập Chánh pháp. "Thần thông tối thượng" là một
trái tim nhân ái. "Thiên nhãn tối thượng" là cảm quan về trách nhiệm chung
đối với sự khang lạc của vạn loại sinh linh.
Những phẩm tính này hiếm có hơn và giá trị hơn những năng
lực siêu phàm.
Nếu chúng ta chân thành hướng
tới sự giác ngộ hầu làm lợi lạc cho vạn loại sinh linh thì
điều cốt yếu là chúng ta phải phân
biệt được những gì thuộc về con
đường mà Ðức Phật
đã giảng giải và những gì thuộc tập
tục dân gian, thuộc về mê tín hay thuộc về những tà thuyết. Ðể
đạt được như vậy chúng ta nên siêng năng
đi nghe những vị đạo sư có phẩm chất thuyết giảng, rồi suy nghiệm cẩn thận
những lời thuyết giảng đó và đặt những
câu hỏi để giải tỏa những vấn nạn. Nhờ vào việc tu tập
đúng theo con đường Chánh đạo, chúng ta sẽ có
thể đạt được sự giải thoát giác ngộ hoàn toàn.
XX. HÀI HÒA TRONG
TÔN GIÁO
^
Ða dạng là lợi lạc
Những lời dạy mà tôi
đã được
nghe trong khóa thiền đầu tiên đã
làm thay đổi sâu sắc cuộc đời của tôi. Những
lời dạy đó gây ấn tượng mạnh trong lòng tôi không phải vì
đó là những lời Ðức Phật dạy mà vì
đó là những lời dạy có ý nghĩa lớn.
Tôi chẳng để tâm đến việc người nào
đã dạy như vậy, tôi cũng chẳng
để tâm tới việc lời dạy đó thuộc về tôn giáo
nào, tôn giáo đó tên gì. Tại
sao vậy? Tại vì điều mà tôi cảm kích
thật sự là ý nghĩa tốt đẹp của lời dạy đó và
giá trị to lớn của lời dạy đó trong đời sống
hằng ngày của tôi.
Cái thuở
đầu tiên
đó, tôi không hề biết những danh từ to lớn, những tên gọi
đầy ấn tượng như Ðại Thừa, Nguyên
Thủy... Thật ra, tôi chẳng màng đến danh từ nào
cả. Cái thuở đầu tiên
đó tôi cũng chẳng hiểu những danh từ chỉ cho
các giáo phái của Phật giáo Tây Tạng như Nyingma, Kargyu, Gelu và
Sakya. Còn Thiền Tông, Tịnh Ðộ Tông, Mật Tông, Kim Cang Thừa
đối với tôi lúc ấy chỉ là những danh
xưng, những tên gọi. Ðến ngày hôm nay tôi cảm thấy không dễ chịu chút nào
khi bị người ta hỏi: "Chị đi theo thừa nào
vậy?" hoặc "Chị đi theo tông nào
vậy?". Tại sao tôi lại cảm thấy không dễ chịu khi có ai
đó hỏi những câu hỏi thuộc loại như thế? Tại
vì sâu thẳm trong lòng thì tôi chỉ thuần túy là một con người trong
muôn vạn con người đang tìm cầu hạnh
phúc và tìm cách để cho đời sống của tôi có ý
nghĩa và có lợi lạc cho những người khác. Như thế là
đủ.
Ngày nay con người thường xuyên
bị phân chia thành nhóm này khối kia chỉ vì những danh hiệu và những tên
gọi. Thay vì chúng ta nên tìm hiểu ý nghĩa và nội dung
đích thực thì chúng ta lại nắm giữ và
chấp mắc vào danh hiệu và tên gọi. Thay vì chúng ta cố gắng tìm hiểu một
người thực sự là người như thế nào và người
đó thực sự tin tưởng cái gì thì chúng ta lại dựa vào tên gọi hay
danh hiệu của người đó mà bình phẩm và
kỳ thị. Chúng ta mường tượng ra một ý nghĩa chung chung cho một tên gọi
hay danh hiệu nào đó rồi cứ yên chí
cho rằng ai mang tên gọi hay danh hiệu như thế thì
đại để là người như vậy. Ðầu óc hẹp
hòi của chúng ta nghĩ rằng: "Nếu họ là một người Phật tử Nguyên Thủy,
thì họ sẽ không tin tưởng những giáo lý của Ðại Thừa. Nếu họ là một người
Thiên Chúa giáo thì họ không tin theo lời dạy của Phật giáo. Nếu họ có
niềm tin tôn giáo thì họ không còn tinh thần khoa học nữa..."
Thiên trọng về
đầu óc tư duy thuần lý nên người ta
suy nghĩ, "Tôi là thế này, thế này; và họ là thế kia, thế kia"
để rồi tranh luận với nhau. Ðiều này
đã xảy ra giữa những người
đều là con chung của Ðức Phật Thích-ca
Mâu-ni; điều này cũng xảy ra giữa
người theo Phật giáo và người theo tôn giáo khác. Cũng may là không có
cuộc chiến tranh nào mà người ta nhân danh Ðức Phật
để đánh nhau; cũng may là không có
cuộc chiến tranh nào mà người ta nhân danh bảo vệ
đạo Phật để giết nhau, cũng không có cuộc
chiến tranh nào mà người ta phát động
dưới danh nghĩa là truyền bá đạo Phật.
Tuy nhiên, bất cứ một quan điểm nào
có tính chất hẹp hòi, cục bộ đều có tai hại,
không những nó làm hỏng đi sự tiến bộ
tâm linh của chúng ta mà nó còn tạo ra sự xung
đột giữa con người với con người.
Bây giờ chúng ta thử phân tích
xem đầu óc cục bộ làm hại sự tiến bộ
tâm linh của chúng ta như thế nào?
Trong
đạo Phật, trí tuệ và từ bi là hai phẩm
chất mà chúng ta cần phải làm cho phát triển. Nếu chúng ta chấp chặt vào
tôn giáo của chúng ta thì chúng ta sẽ cảm thấy bị xúc phạm khi gặp một
người ngoại đạo không tin tưởng điều mà
chúng ta đang tin tưởng; không kính thờ những
gì mà chúng ta đang kính thờ. Khi đó
chúng ta sẽ bực tức và manh động; khi
đó chúng ta ra sức bảo vệ cho niềm tin của chúng ta và công kích
người kia.
Ðến lúc này thì chúng ta
đã không
đủ sáng suốt để tìm hiểu sự thật nữa, chúng ta chỉ có một việc duy
nhất trong đầu óc là bênh vực cho tôn
giáo của chúng ta cho bằng được. Lý do duy
nhất là vì đó là tôn giáo của
chúng ta. Một tâm lượng hẹp hòi và sân giận như vậy sẽ tạo nên những vết
hằn đen tối của ác nghiệp trong tâm thức.
Những nghiệp xấu này sẽ che ngăn,
khiến cho trí tuệ của chúng ta không thể tăng trưởng hay phát triển cao siêu
hơn được nữa.
Mặt khác, tâm sân giận là tâm
đối nghịch với lòng từ vì lòng từ là
một tấm lòng mong muốn cho tất cả mọi người
đều đạt được hạnh phúc và thoát khỏi mọi khổ
đau.
Rõ ràng,
đầu óc cục bộ đã cản trở, không cho năng
lực trí tuệ và tấm lòng từ ái của chúng ta phát triển. Ðầu óc cục
bộ sẽ không đưa chúng ta đến sự giác ngộ,
ngược lại nó sẽ đưa chúng ta càng ngày càng xa sự giác ngộ, giải
thoát và an lạc.
Hài hòa giữa những truyền thống
khác nhau trong Phật giáo
Khi
đã có
được một cái nhìn tổng quan về con
đường đưa tới sự giác ngộ thì chúng ta hiểu
được rằng giáo pháp của Ðức Phật là
những bài học mà Ngài đã dạy cho nhiều
người khác nhau, với nhiều căn cơ, nhiều
khuynh hướng khác nhau, để cho tất cả mọi người và từng mỗi người
đều biết cách tu tập phù hợp nhất với
cá nhân mình. Không có lời dạy nào mà Ðức Phật tuyên thuyết ra
để cho chúng ta bài bác hay phê bình
cả. Vì mỗi lời dạy chỉ thích hợp với một trình
độ, một tâm lượng nào
đó, hay một giai đoạn nào
đó trong quá trình tu tập nên nếu
chúng ta cứ phê bình giáo pháp này hay những lời dạy kia mà không chịu ra
sức thực nghiệm và tự thân nỗ lực tu tập thì có nghĩa là chúng ta
đang từ bỏ những giáo pháp, những phương tiện
có thể dẫn chúng ta đến giác ngộ.
Tuy nhiên, nói như thế không có
nghĩa là chúng ta cần phải tu tập tất cả giáo pháp hay tất cả những lời
dạy ngay tức thì. Giáo pháp của Ðức Phật thật là mênh mông và sâu thẳm,
chúng ta phải tu học từ từ. Chúng ta nên tu tập những giáo pháp nào phù
hợp với căn tánh của chúng ta và những
lời dạy nào mà chúng ta cảm thấy mình hạp duyên và có thể tu ngay bây giờ.
Hãy tu tiến từng bước một và làm cho giáo pháp của Ðức Phật thấm dần dần
vào cuộc sống tu học hàng ngày của chúng ta. Ðôi khi chúng ta tạm bỏ qua
một bên pháp môn này hay pháp môn kia; điều
đó không có nghĩa là chúng ta không thừa nhận pháp môn
đó mà chỉ vì pháp môn
đó không hạp duyên, không thuộc phạm
vi tu tập trong giai đoạn đó của chúng ta mà
thôi.
Người ta có khuynh hướng muốn
dùng thứ tốt nhất, muốn theo pháp môn cao siêu nhất. Nhưng "tốt nhất" hay
"cao siêu nhất" có nghĩa là gì? Sách nhi đồng
là tốt nhất cho trẻ em và sách của người
đã trưởng thành là tốt nhất cho người
lớn. Sách về hàng hải tốt nhất cho người đi
biển và sách về sơn lâm tốt nhất cho người leo núi... Chúng ta
không thể nói sách nhi đồng là sách
tốt nhất, cũng không thể nói sách của người trưởng thành là sách tốt
nhất... Tương tự như thế, sách tiếng Việt là tốt nhất cho những người chỉ
biết tiếng Việt mà thôi, nhưng đối với một
người chỉ biết tiếng Hoa thì sách vở tiếng Hoa là tốt nhất. Chẳng
thể nào khẳng định được cái nào là cái
"tốt nhất" cho tất cả mọi người.
Ðiều chủ yếu ở
đây là hãy nhận thức rằng không phải
tất cả mọi người đều giống nhau. Chúng ta có
thể thích món ăn Việt Nam nhưng người kia lại thích món ăn của Pháp chẳng
hạn. Nhưng điều đáng ghi nhận là cả hai loại món
ăn đều bổ dưỡng và duy trì
được sức khỏe. Tương tự như vậy, người này
tu theo truyền thống Nguyên Thủy, người kia tu theo truyền thống Ðại Thừa
nhưng cả hai truyền thống đều giúp cho người
ta tiến triển trên con đường giải
thoát. Có thể nói rộng hơn rằng, một nhóm người này theo Phật giáo
còn một nhóm người kia thì theo một hệ thống triết học không phải là Phật
giáo. Cả hai nhóm người đều có được những lợi
lạc và thăng tiến miễn là cả
hai hệ thống tư tưởng đều khuyến khích người
ta tránh xa những việc làm gây tổn hại cho người khác và ra sức làm
những điều có lợi cho mọi người càng
nhiều càng tốt.
Chúng ta
đừng phê bình những tông phái khác
nhau trong đạo Phật chỉ vì phương pháp
hành trì của họ khác với phương pháp hành trì của chúng ta. Chẳng hạn như
một số người cảm thấy phấn chấn với việc cúng dường, tế lễ và cầu nguyện.
Một số người khác thì thấy những việc đó
không là gì cả, họ lại thích ngồi yên
để thiền định hay tư duy quán chiếu. Không phải mọi người trong chúng ta
đều giống nhau, mà chúng ta cũng không nên giống nhau. Ðiều tuyệt
vời là có rất nhiều tông phái khác nhau cùng tồn tại trong
đạo Phật và nhờ vậy mà mọi người có
thể chọn lựa để tìm ra một tông phái
hợp duyên nhất với cá tính của mình mà tu tiến.
Cũng vậy chúng ta
đừng nên chỉ trích những lời dạy nào
của Ðức Phật chỉ vì chúng ta cảm thấy rằng những lời dạy
đó không hợp duyên với chúng ta. Ðức
Phật đã nói lên những pháp thoại phù
hợp với căn tánh của người nghe. Ðức
Phật đã diễn bày giáo lý vô ngã trên
nhiều phương diện khác nhau tùy theo căn cơ
của thính chúng. Do đó mà bốn tông phái Tây Tạng (Nyingma,
Kargyu, Gelu và Sakya) đã
được khai sáng, mỗi tông phái dựa trên
những bộ kinh khác nhau và có những khẳng quyết khác nhau về ý nghĩa của
giáo lý vô ngã theo cách riêng của mình.
Thái
độ khinh thị bất cứ một quan điểm hay một
tông phái nào là thái độ không sáng
suốt, mỗi một tông phái hợp duyên với một dạng căn
tánh nào đó, phù hợp với một
trình độ tâm thức nào
đó. Chúng ta cũng chớ nên cao ngạo mà
suy nghĩ rằng: "Ta đã
đạt được sự nhận thức cao nhất rồi, ta không
cần phải biết thêm điều gì hay
một sự nhận thức nào khác cao hơn nữa cả." Thực tế, các vị
đạo sư vĩ đại đều nói rằng việc nhận thức
được vô ngã tính một cách rốt ráo tối hậu là một việc làm vô cùng
khó khăn cần những nỗ lực rất lớn lao và
bền bỉ. Chỉ khi nào chúng ta đạt được sự nhận
thức về vô ngã tính của tất cả những tông phái khác nhau thì lúc
đó chúng ta mới có thể đạt được một sự nhận
thức tối hậu về vô ngã tính.
Sự
đa dạng của những quan điểm triết học rất là hữu ích vì làm cho
chúng ta hứng thú trong việc học hỏi, làm cho chúng ta băn
khoăn: "Nhận thức tối hậu là gì? Các pháp thực sự tồn tại như
thế nào?" Ðể giải đáp thỏa đáng điều trên
chúng ta phải học hỏi và kiểm nghiệm tất cả các nhận thức
để tìm kiếm ra
được nhận thức tối hậu. Nhờ vào quá
trình học hỏi và kiểm nghiệm đó mà trí
tuệ của chúng ta tăng trưởng. Nên xác
định rằng việc nhận thức tánh không
không thể thực hiện bằng cách lặp đi lặp lại
trong đầu óc một câu hay một đoạn giáo lý nào
đó mà phải dựa trên sự hiểu biết có
được nhờ vào việc tư duy về nhiều nhận
thức triết học khác nhau.
Chúng ta cũng không nên chỉ
trích những tông phái khác khi những tông phái
đó sử dụng những danh từ không giống với
những danh từ mà chúng ta sử dụng. Một danh từ có thể có những hàm
nghĩa khác nhau với những tông phái khác nhau. Nếu chúng ta không nhớ
điều thực tế này thì chúng ta có thể
đọc một quyển kinh sách của một tông phái
khác rồi hiểu nghĩa của một từ vựng nào
đó theo cách hiểu riêng của tông phái
của chúng ta. Làm như vậy chúng ta sẽ hiểu sai lạc ý nghĩa thực sự của
danh từ đó. Như thế thì tất nhiên là
những giáo lý chứa trong quyển sách mà ta đọc
không thể hiển lộ ra một nghĩa lý gì cả. Ngược lại, nếu chúng ta
chịu khó tìm học để có một kiến thức rộng rãi
thì chúng ta sẽ hiểu được ý nghĩa đích thực
của danh từ đó trong văn cảnh đặc biệt của riêng nó và nhận ra rằng
những truyền thống tuy khác nhau nhưng cùng hướng
đến một mục đích giống nhau.
Ðề cập
đến sự khác biệt của những danh từ được dùng
trong bốn tông phái Phật giáo Tây Tạng (Nyingma, Kargyu, Gelu and
Sakya) để diễn đạt trạng thái tối hậu
trên con đường tu tiến, Ðức
Ðạt-lai Lạt-ma trong tác phẩm Lòng Từ, Sự Sáng Suốt và Trí Tuệ
đã viết: "Khi
đã vượt thoát
được ngục tù của
đầu óc cục bộ rồi thì chúng ta sẽ nhận
ra rất nhiều điều mới lạ, thú vị và
làm thức tỉnh trí năng vô tận đang tiềm tàng
trong bản thân của chúng ta. Chúng ta sẽ thấy
được những bộ phái khác nhau đều được xây dựng trên một nền tảng tư
tưởng căn bản như nhau."
Những lời thệ nguyện của một vị
Bồ Tát và những lời thệ nguyện theo truyền thống Kim Cang Thừa
đều chứa đựng những lời ngăn cấm không cho hành
giả khinh thị bất cứ một lời dạy nào của Ðức Phật. Kinh Tổng Trì có
dạy: "Này Văn Thù Sư Lợi, người nào
xem một số lời dạy này của Như Lai là tốt đẹp
và xem một số lời dạy khác của Như Lai là không tốt
đẹp thì người
đó đã hủy báng Chánh pháp. Người nào
nói rằng lời dạy này là hợp lý, lời dạy kia là phi lý... hoặc lời dạy này
chỉ dành cho bậc Bồ Tát mà thôi, lời dạy kia mới dành cho thính chúng phổ
thông... thì người đó đã hủy báng
Chánh pháp."
Hài hòa giữa Phật giáo và những
tôn giáo khác
Những vị lãnh
đạo những tôn giáo vĩ đại trên thế
giới đã và
đang cùng nhau tìm kiếm những phương
cách để làm lợi lạc cho chúng sinh qua
việc trao đổi những kinh nghiệm tâm linh với
nhau. Tuy nhiên những tín đồ có đầu óc
hẹp hòi, nông cạn thì lại chấp chặt những tên gọi của những kinh
nghiệm tâm linh và tên gọi của những triết thuyết rồi tranh chấp với người
không đồng tình với mình hoặc tranh
chấp với những người có tín ngưỡng khác tên gọi của tín ngưỡng mà mình
đang theo. Trong lịch sử nhân loại, số lượng
những người bị giết vì không đồng tín
ngưỡng thật là kinh hồn. Không có vị giáo chủ nào của những tôn
giáo trên thế giới lại vui lòng khi thấy rằng vì nhân danh mình, nhân danh
tôn giáo của mình mà con người đã phải
chịu cảnh hành hạ, chém giết, máu đổ thịt rơi
nhiều như thế.
Tâm hồn của bậc thánh thì không
vướng mắc vào những danh hiệu hay mỹ hiệu. Vì sao? Vì cái mà vị ấy tìm cầu
là nội dung và ý nghĩa, là sự hòa hợp và lòng thương yêu. Bậc thánh không
cần phải chứng tỏ rằng chỉ có mình là chân chánh và giáo lý của mình là
phương cách duy nhất. Hầu hết những vị lãnh
đạo tôn giáo lớn trên thế giới đều
sống một đời sống giản dị và tìm thấy niềm an lạc trong tự thân.
Những vị ấy không trông mong những lời ca tụng hay tài sản, thế lực hay sự
vinh quang. Những thánh nhân như vậy không bao giờ có
đầu óc thù nghịch và hẹp hòi cục bộ,
không bao giờ có thành kiến tôn giáo. Những thánh nhân
đó có chung một hoài bão là làm sao
tín đồ của mình
được sống hạnh phúc trong một thế giới hòa
bình với vạn loại sinh linh.
Tất cả các tôn giáo
đều có chung những điểm chủ yếu sau đây: (1)
Ðều nhận thức rằng chỉ tạo ra sự phồn thịnh về mặt vật chất mà thôi
thì không phải là con đường đưa đến an vui;
(2) Trạng thái an lạc thuộc tâm linh thì cao cấp hơn so với những
trạng thái khoái lạc có được thông qua các
giác quan (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân) của con người; (3) Ðều ra sức
khuyến khích và giúp đỡ con người hoàn
thiện bản thân qua việc tu dưỡng tánh kiên nhẫn, lòng thương yêu và ý thức
tôn trọng mọi người; (4) Ðều muốn con người tăng
cường thiện cảm với con người và biểu hiện thiện cảm
đó qua việc phục vụ cho tha nhân; (5)
Ðể đạt được mục đích này tất cả các
tôn giáo và tín ngưỡng đều nêu cao
những giá trị đạo đức để giúp con người chế
ngự hành vi của mình. Trong tác phẩm Lòng Từ, Sự Sáng Suốt và
Trí Tuệ, Ðức Ðạt-lai Lạt-ma đã
nói:
"Mục tiêu của tất cả sự tu
tập tôn giáo đều giống nhau là lòng
thương yêu, tánh chân thành và ý thức tôn trọng sự thật. Phong cách sống
của tất cả những người có thực tu, thực học là an vui và tự tại. Những lời
dạy về đức tính bao dung và tấm lòng
từ ái đều giống nhau. Tất cả các tôn giáo đều
có mục đích cơ bản là lợi lạc nhân sinh, tuy là tiến hành theo
phương thức riêng, khác biệt nhau nhưng mỗi tôn giáo
đều ra sức giáo hóa con người để cho con
người trở nên tốt hơn và thánh thiện hơn. Nếu chúng ta quá trọng
thị và quá chấp chặt vào nền triết học, tôn giáo, hay học thuyết của riêng
chúng ta; rồi tìm cách áp đặt nền triết học,
tôn giáo hay học thuyết của riêng chúng ta lên thân phận của tha
nhân thì hậu quả sẽ là bất an và rối khổ. Về căn
bản mà nói thì tất cả những bậc giáo chủ vĩ
đại như Thích-ca, Jê-su, Mô-ha-mét...
đã sáng lập ra những giáo thuyết tôn
giáo với mục đích là giúp ích cho mọi
người. Thích-ca, Jê-su, Mô-ha-mét... không hề hướng
đến mục đích lợi lạc riêng cho bản
thân và cũng không hề nghĩ đến việc tạo ra thêm
những rối khổ và bất an cho cuộc đời vốn đã
có khá nhiều rối khổ và bất an rồi."
Cốt lõi của Phật giáo là sự
sáng suốt và lòng thương yêu. Chúng ta có thể diễn
đạt hay biểu lộ và thực hiện sự sáng
suốt và lòng thương yêu này mà không cần phải vận dụng
đến những từ ngữ cao siêu trong nền
triết học Phật giáo. Cốt lõi của giáo lý Thiên Chúa giáo, Ấn Ðộ giáo, Do
Thái giáo, Hồi giáo cũng là đạo đức và
lòng thương yêu. Trí sáng suốt, tâm hồn đạo
đức và lòng thương yêu là những phẩm chất có giá trị phổ quát, trùm
khắp tất cả không gian và thời gian trong vũ trụ này.
Về phương diện triết lý thì có
những khác biệt - tôn giáo này tin có một
đấng sáng tạo ra vũ trụ và thế gian, trong khi tôn giáo khác như
Phật giáo thì lại không tin như thế. Vì vậy một kẻ ngây thơ mới nói rằng
triết lý của tất cả các tôn giáo đều giống
nhau. Có lẽ chỉ có những người đã đắc
đạo thì mới có thể thấy là chúng giống nhau. Những người bình
thường như chúng ta (xin lỗi những vị phi thường) chỉ có thể nghĩ
rằng những sở đắc tâm linh mầu nhiệm của
những bậc thánh trong tất cả các tôn giáo đều giống nhau, nhưng khi diễn
đạt lại cho tín đồ nghe thì những bậc thánh ấy lại vận dụng những
hệ thống thuật ngữ, danh từ và những hệ thống khái niệm khác nhau. Chữ
nghĩa và lời nói đã không
đủ sức trình bày rốt ráo hết
được những sự thật tâm linh mầu nhiệm đó. Khi
đã hiện thân thành những chữ nghĩa và lời nói thì chúng chỉ là một
phiên bản phục chế từ những sự thật tâm linh mầu nhiệm
đó. Do vậy những kinh nghiệm tâm linh mầu
nhiệm có thể là giống nhau nhưng chữ nghĩa, danh từ, khái niệm và
cách nói để diễn đạt chúng thì lại
khác nhau.
Tuy nhiên
đối với những người căn cơ bình thường
như chúng ta (xin lỗi những vị phi thường) thì chữ nghĩa, danh từ
và khái niệm vẫn có vai trò quan trọng trong việc hướng dẫn cho chúng ta
trên con đường đi đến chỗ đạt được kinh
nghiệm tâm linh. Do vậy, chúng ta phải học hỏi, phân tích nhiều triết
thuyết khác nhau để có thể biết chắc một triết thuyết cụ thể nào có
thể giúp cho chúng ta một cách tốt đẹp nhất
trong việc thanh lọc thân tâm và phát triển những phẩm chất cao quý
đang tiềm tàng trong bản thân của
chúng ta. Chúng ta không cần phải chỉ trích người khác vì triết thuyết mà
họ ham thích không giống với triết thuyết mà chúng ta
đang ham thích. Mặc dù chúng ta có thể
thảo luận và thậm chí tranh luận về mặt triết học với nhau
để chỉ ra những điểm không nhất quán của
triết thuyết này và nêu ra những phẩm chất tốt
đẹp của triết thuyết kia. Nhưng làm
như vậy không có nghĩa là chúng ta khinh thị những người tin vào một triết
thuyết cụ thể nào đó.
Theo quan
điểm Phật giáo thì sự
đa dạng phong phú của triết thuyết là
có lợi lạc. Vì sao? Vì không phải ai cũng thấy sự vật một cách giống nhau.
Con người ta có trình độ khác nhau, cảm thức
khác nhau, tánh khí khác nhau nên nếu có nhiều tôn giáo khác nhau
cùng hiện diện thì thật là lợi lạc. Nhờ vậy người ta có thể chọn lựa tôn
giáo nào hợp duyên với cá nhân mình nhất mà tin theo và hành trì. Thật là
một chuyện khủng khiếp nếu mà tất cả mọi người trên thế giới này
đều phải chấp nhận một khuôn mẫu tôn giáo
nhất định nào đó và tất cả mọi
người đều phải suy nghĩ giống y nhau theo
khuôn mẫu của một triết thuyết nào đó.
Thật may, điều khủng khiếp trên không thể xảy ra. Ðức Ðạt-lai
Lạt-ma có nói:
"Tôi nghĩ rằng có nhiều dạng
tín ngưỡng khác nhau là hữu ích. Ðó là một sự sung túc và giàu có: con
người có nhiều hình thức thể hiện, nhiều cách thức
để trình bày về luân lý
đạo đức. Hãy luôn luôn nhớ rằng con
người trên thế gian thật là đông đảo, thật là
nhiều kiểu, nhiều hạng, nhiều tâm tư, nhiều tính cách khác nhau, nhiều cảm
thức khác nhau thì chúng ta sẽ thấy rằng có nhiều dạng tín ngưỡng khác
nhau, nhiều dạng tôn giáo khác nhau là hữu ích."
Ðối thoại giữa các tôn giáo
Ở Âu châu, Bắc Mỹ và Úc châu
càng lúc càng có nhiều cuộc đối thoại giữa
các tôn giáo. Khi Ðức Ðạt-lai Lạt-ma
đến Âu châu thì Ngài đã làm
thượng khách của tòa thánh Vatican. Một giám mục Tin Lành (Episcopalian)
cấp cao đã giới thiệu Ðức Ðạt-lai
Lạt-ma cho thính giả của ông ta tại Ðại giáo Ðường Westminster vào năm
1985. Những nhà sư Tây Tạng và ni cô Tây Tạng
đã đến
viếng thăm những tu viện Gia-tô giáo ở Hoa Kỳ; những tu sĩ và nữ tu
sĩ thuộc giáo hội Gia-tô giáo Hoa Kỳ ngược lại
đã đến và
đang tu học tại những tu viện Phật giáo ở
Nhật Bản. Trong nội bộ Phật giáo hiện nay cũng đã có những cuộc hội
nghị và hội thảo mang tầm vóc quốc tế. Những cuộc hội họp này
đều có đại diện của tất cả các truyền thống,
các tông phái, các sơn môn Phật giáo trên thế giới tham dự. Trên
đây chỉ nêu ra một vài sự kiện
điển hình chứ thật ra còn nhiều sự
kiện mang tính chất toàn cầu có ý nghĩa như thế
đã diễn ra.
Mặc dầu ngày nay sự kiện các
nhà lãnh đạo của những tôn giáo lớn trên
thế giới họp mặt và học hỏi lẫn nhau là một sự kiện góp phần rất quan
trọng vào nền hòa bình của thế giới. Chúng ta cũng nên ý thức rằng
đối với những người tu học bình thường
như chúng ta (xin lỗi những vị phi thường) thì việc gặp gỡ và học
hỏi với những người đang tu theo tôn giáo
khác cũng quan trọng không kém. Những cuộc hội thoại giữa các tôn giáo
không những giúp cho chúng ta có thể cùng nhau cầu nguyện, cùng
nhau thiền quán và chia sẻ những kinh nghiệm riêng về sự an lạc nội tâm mà
còn giúp cho chúng ta tránh được sự cuồng
tín, hóa giải hiểu lầm và làm tan đi
tâm trạng sợ sệt đối với nhau.
Chính bản thân tôi
đã có
được nhiều lợi ích qua những cuộc nói chuyện, bàn luận với những
người thuộc tôn giáo khác. Tôi đã có
được sự hiểu biết tốt hơn về cơ chế hoạt động
của tâm hồn con người, tôi đã có được
sự hiểu biết tốt hơn về phương thức để truyền đạt cho người nghe sao cho
phù hợp và tương ứng với phương thức mà chính người nghe dùng
để nắm bắt vấn đề. Tâm hồn của tôi trở nên
linh hoạt hơn và tôi có thể vượt qua hàng rào danh từ, ngôn ngữ mà người
khác sử dụng để đi sâu, nắm bắt được những ý
nghĩa mà người đó muốn diễn đạt. Tôi
cũng đã tiếp thu được một số lời dạy
tuyệt diệu. Tôi nhớ một lần nọ, khi một nữ tu sĩ bề trên của Gia-tô
giáo đã tu trên 50 năm
kể cho tôi nghe về những tầng bậc khác nhau trên con
đường tu tiến và những chướng ngại khó
khăn mà bản thân bà ta
đã vượt qua, tôi khám phá ra rằng câu
chuyện của bà có nhiều điểm tương đồng với
quá trình tu tập của Phật giáo. Ðiều này khiến cho tôi, một nữ tu
sĩ trẻ tuổi hơn, có thêm đảm lực để vượt qua
những thời kỳ khó khăn của quá trình tu tập.
Một lần khác tôi có dịp nói
chuyện với một nữ giám mục dòng Báp Tít và chúng tôi
đã trao
đổi những kinh nghiệm của nhau vì chúng tôi
đều là nữ tu trong tôn giáo. Lần nói
chuyện này thật là lợi lạc và đầy phấn khởi.
Tôi lại có dịp nói chuyện với một nữ giáo sĩ của Do Thái giáo, tôi vô cùng
kinh ngạc khi biết được rằng một số phương
thức lễ nghi của Do Thái giáo cổ đại lại tương tự với những phương thức lễ
nghi của Phật giáo. Khi đọc một quyển sách về phương pháp quán chiếu của
Thiên Chúa giáo tôi lại nhận ra nhiều
điểm tương tự với "tổ sư thiền" của Phật giáo Tây Tạng. Những điều như thế
giúp cho tôi nhận chân được cả tính chất đa dạng và tính chất nhất
thể trong tư tưởng tôn giáo của loài người.
Nhận chân
được tôn giáo và tín ngưỡng của người
khác không hề làm bất ổn cho việc tinh tấn hành trì Phật giáo của chúng
ta. Ngược lại, khi mà chúng ta có thể nhìn xuyên qua ngôn ngữ và khái niệm
để đi sâu vào nắm bắt
được điều mà ngôn ngữ và khái niệm
muốn diễn đạt, khi mà chúng ta có thể
vượt qua được những sự khác biệt hời hợt bên
ngoài để đi sâu vào nắm bắt
được một mục đích chung nhất sâu xa bên
trong thì sức mạnh trí tuệ và lòng từ bi của chúng ta sẽ phát triển và
niềm tin của chúng ta đối với Ngôi Tam Bảo
trở thành niềm tin bất động.
Chú
Thích:
Biệt giải thoát luật nghi:
âm Phạn là Ba-la-đề-mộc-xoa, ở đây chỉ cho
loại giới được lãnh thọ và hành trì nhằm
để đem lại sự giải thoát cho chính người hành
trì đó mà thôi, tức là ai giữ giới
thì chỉ có người đó được lợi lạc. Có khi
Biệt giải thoát luật nghi còn được
giải thích là một tập hợp gồm những giới
điều, giữ được giới nào thì giải
thoát được sự ràng buộc mà giới
đó nêu lên. Thí dụ, một người giữ
được giới cấm sát sinh thì người
đó được giải thoát, không còn bị
trói buộc hay vướng mắc vào việc giết hại sinh mạng nữa; cũng vậy một
người giữ được giới cấm uống rượu thì
người ấy được giải thoát, không còn
bị trói buộc hay vướng mắc vào việc uống rượu nữa.
Tâm thái: chỉ cho trạng
thái, tình trạng hay hiện trạng của tâm thức hay tâm lý.
Tâm thái nhiễu loạn: chỉ
cho một trạng thái của tâm thức xao động,
phiền nhiễu, không thể tiến bộ được; tâm thức này là chướng ngại
cho việc tu tập, quấy nhiễu sức tinh tấn. Những quyển sách khác thì
thường dùng những từ phổ thông hơn như tam
độc, tham, sân, si, phiền não, cấu nhiễm, uế nhiễm...
Tâm thái viễn hành: chỉ
cho một trạng thái của tâm thức có tầm ảnh hưởng rộng, sức lan tỏa và
sức bao dung rất lớn phủ trùm mọi người, mọi loài.
---o0o---
Chân thành cám ơn Đại đức
Thích Minh Thành,
Tịnh xá Trung Tâm, Bình Thạnh, Sài Gòn, đã
gửi tặng bản vi tính. Thích Nguyên Tạng, 12-2006).
---o0o---
Trình bày: Nhị Tường
Cập nhật: 01-1-2006