BỔN PHẬN LÀM
NGƯỜI HIỀN NHÂN
Thích Nhựt Long
Lời tựa
Những
nhà văn chương đạo đức, những bậc thầy đời là một kiến thức xây dựng
cho đời một lối sống ổn định hạnh phúc chung.
Bao giờ
hạnh phúc có liên quan với nhau hạnh phúc đó tồn tại. Những hạnh phúc
ích kỷ cá nhân, hưởng thụ trên mồ hôi nước mắt của người khác chỉ gây
căm hờn không tồn tại.
Bổn phận
làm người nên bậc hiền nhân: là xử thế có một luật quân bình sự tương
quan đối đãi nhau, lấy bụng ta ra bụng người mà nảy sanh ra quân bình,
cũng gọi là luật xử thế, chớ không ai đặt ra nó, lẽ phải duy nhất của
bổn phận làm người hiền nhân, chỉ có một lẽ phải là luật chớ không thể
nào hai phải được.
Không
thể nào nói cái phải của người này là cái quấy của người kia, cái phải
của thời này là cái quấy của thời khác được. Nếu có việc hai phải là
phương tiện, người ta gọi là quyền biến không phải cơ bản, hẳn đó là
phương tiện cá nhân chưa phải quần chúng mà cái quân bình cho nhau mới
là được đặt vấn đề để thực hành.
Người ta
nói phần đông là phải phần ít là quấy. Không! Không nhất định như vậy
được, mà phải quấy là do người biết nhận định phải tìm nguyên lý nó là
một không hai phải bao giờ.
Một
người cha nuôi con đúng tuổi cho ăn học là phải, nhưng một người khác
đem con cho ở đợ để lấy tiền cũng là phải. Vì người mạnh khỏe có tiền
dư khả năng cho con ăn học là phải, không cho con ăn học là quấy. Còn
người nầy nghèo túng đói đau không tiền thuốc men nên đem con đợ là
phải; nhưng cố nhịn chịu hoặc vay mượn chờ mạnh rồi trả không đợ con
là phải hơn. Như vậy người nghèo đợ con là tạm quyền thôi không sao
phải được.
Những
điều mà cái phải phương Tây không như cái phải phương Đông, trái lại
cái quấy ở phương Đông là cái phải ở phương Tây.
Người
phương Tây gặp nhau chào bằng cách bắt tay, lại còn phân biệt bắt tay
người vợ của bạn trước rồi mới bắt tay người chồng sau, như vậy là cái
phải ở phương Tây.
Còn
người phương Đông chào nhau bằng cách chắp tay xá, và xá người đàn ông
trước, như vậy là cái phải ở phương Đông.
Trên đây
là hai cái phải ? Hay là ở đâu theo đó, tuỳ xứ tuỳ người trong đó ta
phải cân nhắc và đặt câu hỏi ? Hai cách, cách nào lịch sự ? Phải hơn
kém chứ!
Luôn
luôn là một phải, tôi muốn nói quân bình là luật xử thế ở trên quả địa
cầu này vẫn là một phải không bao giờ chênh lệch.
Làm cho
xong trách nhiệm vị trí trong bổn phận làm người là bậc Hiền-Nhân đáng
kính rồi mới bước lên bậc Thánh; hay là tu-thiền vì theo Lục-Tổ dạy:
“Xúc cảnh bất động thị đại-thừa thiền“ có nghĩa là chạm cảnh tâm không
động là Đại-Thừa Thiền. Ngày nay dạy Đạo Thiền cho người Phật tử mà
không quan tâm đến bậc Hiền, người xử thế không xong, và cũng không
dạy, mà chỉ dạy Thiền không thì không bao giờ kết quả.
Xưa vua
Trần Nhân Tôn ngồi trên ngôi vị vua mà tu ngộ Thiền là vì biết làm
tròn trách nhiệm thương dân thương nước mà tu chứng.
Ngày nay
người ở vị trí nào làm tròn trách nhiệm rồi mới có thể tu Thiền. Soạn
giả tuy cố gắng cống hiến cho Đạo và Đời nhưng còn mong bậc cao minh
chỉ giáo cho.
Bần tăng
THÍCH NHỰT LONG
BỔN PHẬN LÀM NGƯỜI HIỀN NHÂN
Lấy
tinh thần lợi tha vô ngã thành thật xây dựng cho nhau dựa theo nguyên
tắc từ-bi, bình đẳng, từ xưa đến nay đã có nhiều thời làm và cũng có
lắm lúc bị bỏ lãng đi; thời nào có thực hành theo đó thì thời đó có
nhiều hạnh phúc cho nhân quần xã hội, trái lại thời nào mà bỏ đạo đức
từ bi, bình đẳng thì thời đó mất sự quân bình, nhân dân bị xáo trộn
điêu đứng khổ sở đầy khốc hại.
Từ bi là
ban vui cứu khổ, chính con người cùng con người ban vui cứu khổ cho
nhau chứ không phải thần thánh nào ban vui cứu khổ được, chỉ có Phật
dạy cho ta làm.
Như vậy
đạo từ bi xây dựng cho nhau có quy tắc gọi là luật xử thế.
Xử thế
có phương pháp gọi là luật. Hòa nhã chia sớt nhau gọi là xử, chung
nhau sống gọi là thế. Luật này bắt tay cùng nhau chia phần xây dựng
chung. Không phải tự tay ai làm ra luật này, mà chung nhau sống quân
bình gọi là luật xử thế. Bắt tay nhau chia phần mà lo cho đời thành ra
mọi người đều có bổn phận và làm nên bậc hiền nhân.
Bổn phận
hay là bổn phần, phần có phần chính, phần phụ; mỗi người khi đứng vào
vị trí nào phải làm tròn phần chánh (bổn phận), ngoài ra còn một ít
phần phụ (chi phần).
Từ xưa
đến nay, người ta chỉ xoay qua xoay lại hai đường lối là : Nhân trị
hay pháp trị, cũng gọi là nhu và cương. Lấy nhu mà trị dễ cảm hóa
thiên về tình cảm; cương trị là căng thẳng theo pháp luật hình luật
trị răn dạy thiên về lý trí.
Vẫn theo
hai lề lối trên xoay qua xoay lại, không khi nào thăng bằng được, nếu
có được thì chỉ tạm thời thôi, về khi dùng nhu thì lần đến chúng khinh
nhờn mất trật tự; trái lại dùng cương để trị lâu ngày dân chúng sanh
ra thán oán.
Hiền
nhân xử thế không phải cương không phải nhu mà dung hòa cả cương và
nhu. Từ bi và trí tuệ phối lại quân bình mới tồn tại. Dung hòa quân
bình là duy nhất nên gọi lý có một mà thôi.
Hiền
nhân xử thế là một cán cân công bằng, chia cho người từ giai đoạn thay
phiên nhau mà làm; làm cho tròn là nên tốt và hạnh phúc, không làm
tròn thì hư xấu là khổ không sao hơn được.
Ở đây
chỉ dẫn tích rồi phê bình lợi và hại, người không làm tròn hại như thế
nào? Người làm tròn lợi như thế nào? Và người xưa làm như vậy đúng
không, đúng ở chỗ nào ? Không đúng ở chỗ nào? Còn về phần chi tiết của
bổn phận chỉ nói sơ thôi, vì vậy cho nên không có chương mục, chỉ đại
khái có 20 bổn phận:
1 - Bổn phận thầy đối với trò
2 - Học trò đối với thầy
3 - Cha đối với con
4 - Con đối với cha
5 - Mẹ đối với con
6 - Con đối với mẹ
7 - Mẹ chồng nàng dâu
8 - Chồng đối với vợ
9 - Vợ đối với chồng
10 - Bổn phận người lãnh đạo
11 - Bổn phận người làm dân
12 - Anh đối với em
13 - Em đối với anh
14 - Đối với bằng hữu
15 - Với bà con chòm xóm
16 - Chủ đối với
người làm công
17 - Người làm công đối với
chủ
18 - Nam nữ đối với nhau
19 - Đối với cầm thú
20 - Những điều
phải có để làm người hiền.
1. BỔN PHẬN THẦY ĐỐI VỚI TRÒ
Sửa điều
dở cho ai chớ nghiêm khắc quá.
Dạy
điều hay cho ai chớ cao xa quá.
Làm
ông thầy dạy cho học trò là nắm bảy mươi phần trăm quyền hướng đạo cho
thế hệ, thật là quan trọng. Dạy học mà chỉ chuyên văn chương mong cho
học trò đỗ đạt để được tiếng, hay hưởng lương bổng thôi, thật là lầm
to lắm vậy.
Khi bước
vào ngưỡng cửa nhà trường thì học trò đã đặt một niềm tin và sợ thầy
rồi. Như vậy ngay ban sơ bổn phận ông thầy phải làm cho học trò giữ
mãi tư tưởng đó, thì sự làm bổn phận ông thầy không thấy khó nữa.
Điều căn
bản là ông thầy phải gương mẫu đạo đức đúng với tư cách làm người đàng
hoàng, luân thường lễ hạnh và dạy điều đó cho học trò, rồi sau dạy văn
chương “tiên học lễ hậu học văn“: Trước dạy lễ rồi sau dạy văn.
Văn
chương là con dao bén hai lưỡi
Văn
chương là mũi nhọn hai đầu
Văn
chương là cô gái đẹp
Văn
chương là một vũ tướng vô địch.
Con dao
bén trong tay người đạo đức, họ sẽ dọn gai góc phá rừng hoang trở
thành đường đi tốt, ruộng vườn thạnh mậu; trong tay kẻ ác là cướp của
giết người gây ra cảnh đau thương thảm khốc!
Mũi nhọn
hai đầu trở qua cũng hại trở lại cũng hại, người ác học giỏi cũng thế,
học giỏi chỉ trợ duyên thêm đạo ác.
Cô gái
đẹp quyến rũ người rồi tự do dẫn dắt theo ý muốn; muốn làm thiện thì
cô gái tăng thêm vẻ đẹp, làm ác thì trở thành xấu xí ghê tởm.
Vũ tướng
phục vụ chính nghĩa thì lợi nước an dân; tham lam tàn bạo thì làm cho
dân tình điêu đứng nhà tan cửa nát chết chóc chia ly, thành tan nước
mất.
Cũng thế
văn chương đem ra xây dựng đạo đức phục vụ cho xã hội dạy dỗ cho nhân
dân thì lợi nước an dân đời hưởng thái bình; dùng để phục vụ cho tham
lam xảo quyệt độc tài mưu toan danh lợi thì trở thành một lợi khí tàn
ác nhân dân điêu đứng nuốt hận ngàn đời.
Ngòi bút
là con dao bén hai lưỡi. Bổn phận ông thầy là một người đạo đức văn
chương, dạy học trò để sử dụng con dao, mũi nhọn, cô gái đẹp, vũ tướng
thì tất cả đều phục thiện làm nên hiền nhân.
THƯỜNG TUNG VÀ LÃO TỬ
Thường
Tung đau nặng nằm trên giường, Lão Tử đến thăm hỏi rằng:
- Tôi
xem tiên sinh bệnh nặng, dám hỏi tiên sinh còn câu gì để dạy thêm đệ
tử chúng con học nữa chăng?
Thường
Tung nói:
- Qua
chỗ cố hương mà xuống xe người biết điều ấy chưa?
Lão Tử
thưa:
- Qua
chỗ cố hương mà xuống xe có phải là người không quên quê cha đất tổ
không?
- Ừ!
Phải đấy! Qua chỗ cây cao mà bước rảo chân, ngươi biết điều ấy chưa?
- Qua
chỗ cây cao mà bước rảo chân là kính bực già cả phải vậy không?
- Ừ!
Phải đấy!
Thường
Tung há miệng ra rồi hỏi:
- Lưỡi
ta còn không?
Lão Tử
thưa:
- Còn.
- Răng
ta còn không?
- Rụng
hết cả.
- Thế
ngươi có hiểu điều đó không?
Lão Tử
nói:
- Ôi!
Lưỡi mà còn có phải tại mềm không? Răng mà rụng hết có phải tại cứng
không?
- Ừ!
Phải đấy! Việc đời đại để như thế cả; ta không còn gì để nói cùng các
ngươi nữa.
Luận
Dạy học
căn bản cho học trò là văn nói về lễ văn chương về hiền nhu há chẳng
phải lễ và văn gồm học cả cũng là một thuyết dạy dung hòa cho học trò
- tất cả người đều học trò - đối xử với nhau được quân bình là điều
quan hệ đầu tiên; mà cũng là lời trối trăn di chúc cho học trò sau
cùng.
Thường
Tung đến chết vẫn giữ tư cách gương mẫu và vẫn đem những điều gương
mẫu dạy cho đệ tử. Coi như điều đó là quan trọng nhất không gì hơn nên
ngài nói : Ta không còn gì để nói với các ngươi nữa.
Là không
còn gì hơn những điều đó, làm được vậy là nên hiền nhân vậy.
TỪ TUÂN
MINH DẠY MÃNH LƯỢC
Từ
Tuân Minh người ở Hoài Âm, vóc người to lớn mồ côi thưở nhỏ, tánh hiếu
học. Khi mười bảy tuổi theo học với Mao Linh Hòa rồi sang học với
Vương Thông ở Sơn Đông, rồi bỏ qua Yên, lại bỏ Yên sang Triệu học với
Trương Ngô Quý.
Ngô Quý
dạy học trò rất đông, Tuân Minh dụng tâm học vài tháng, rồi nói riêng
với bạn rằng:
- Thầy
ta danh tiếng tuy lừng lẫy, song nghĩa lý không được quán triệt, phàm
những câu thầy giảng thuyết phần nhiều không được thỏa mãn. Ta định đi
tìm thầy khác vậy.
Rồi cùng
với Mãnh Lược sang Phạm Vương học với Tôn Mãi Đức, nhưng học vừa một
năm Tuân Minh lại bỏ đi.
Mãnh
Lược nói với Tuân Minh rằng:
- Anh
tuổi còn trẻ theo thầy học hành, chẳng chịu chuyên học một thầy, cứ
nay thầy này mai thầy khác, nay tìm đến mai bỏ đi, xa xôi ngàn dặm,
học hành như vậy sợ không thành được.
Tuân
Minh nói:
- Ta nay
mới biết chỗ ở của ông thầy, đích thật là ông thầy.
Mãnh
Lược hỏi:
- Ở đâu?
Tuân
Minh chỉ vào tâm nói:
- Đây,
chính là chỗ này.
Luận
Học tất
phải nhờ thầy, tục ngữ nói:
“Không
thầy đố mầy làm nên“.
Thật vậy
học không thầy làm sao nên được, nhưng chỗ bí yếu là tại tâm; đâu nên
bắt buộc học trò cứ học theo mình, mình là người chỉ đường, còn đi
đường là của mỗi người học trò.
Tuân
Minh dạy Mãnh Lược học hỏi ông thầy tự tâm, là chổ chí thật của mỗi
người đều có, mà dạy như vậy là mong cầu học trò tiến bộ hơn mình. Làm
thầy không tự cao mà mong học trò tiến bộ hơn mình là bổn phận cao qúy
của ông thầy.
Nếu phân
tích ra điều nầy là con người có con tim và khối óc, tim thiên về tình
cảm, óc thiên về lý trí. Lý trí dụng cương, tình cảm dụng nhu. Nay
Tuân Minh chỉ học tâm là dạy phải lấy nhu mà xử thế . Đây là lối dạy
qui tâm và cũng là lối dung hòa quân bình nữa vì thầy lấy quyền dạy
cho học trò, nhưng cho học trò có chút quyền tự xét. Hay nói cách khác
hơn là thầy đem cái hay dạy học trò rồi cho học trò tự khai thác cái
hay của mình. Làm thầy không độc đoán văn chương xưa không quyết định,
bất cứ việc gì càng ngày càng tiến bộ ắt có những cái hay mới sửa đổi,
mới để nên bậc hiền nhân.
“Các
người phải tự thắp đuốc mà đi“.
“Lời ta
dạy như ngón tay chỉ trăng, các người nhơn ngón tay mà vượt tầm mắt
lên mới thấy trăng“.
Lời của
Bổn Sư Thích Ca:
Bổn phận
đạo sư phải là thầy.
Oai nghi
đức hạnh trọn nên đầy.
Nêu
chiếc thoàn từ vượt lối này.
Gươm huệ
long lanh trừ lục tặc.
Đèn từ
chói lọi phá đêm dài.
Một cành
nở nhụy rừng thơm ngát.
Thành
đạo một người độ vạn người.
2. BỔN PHẬN HỌC TRÒ ĐỐI VỚI
THẦY
Muốn
cho có một cán cân quân bình trật tự cho xã hội phải có sự tương đối,
tương xứng: Thầy đã làm tròn bổn phận đối với trò, lẽ tất nhiên trò
phải đối với thầy.
Cha mẹ
sanh ta xác thân, nuôi nấng ta hình vóc. Thầy dạy ta về mặt văn chương
đạo lý, nuôi dưỡng ta to lớn về mặt tinh thần. Ân cha mẹ nặng nề bao
nhiêu thì ơn thầy cao cả bấy nhiêu. Chỉ có nuôi lớn xác thân mà thiếu
tinh thần đạo đức thì không ra con người .
Vậy học
trò đối với thầy, phải biết công ơn dạy dỗ, làm thế nào để đền bù lại,
bằng hai cách:
Tùy khả
năng giúp đỡ về vật chất, và quyết định theo con đường đạo đức cho nên
danh hiền cũng là nên danh thầy.
Lại nữa
sự học bất cứ ai hay hơn là mình học không câu nệ tuổi tác:
“ Bất sĩ
hạ vấn “.
Huỳnh Đế
học với Quảng Thành, Thiện Tài đồng tử học năm mươi ba nơi, Tổ Huệ Khả
chặt tay cầu pháp, Khổng Tử học với Hạng Thát.
KHỔNG TỬ
HỌC HẠNG THÁT
Khổng
Tử tên là Khưu, tên chữ Trọng Ni, dạy học ở phía Tây nước Lỗ. Một hôm
ngồi xe cùng đồ chúng đi du ngoạn, giữa đường gặp một số trẻ chơi
giỡn, có một đứa không đùa giỡn.
Khổng Tử
dừng xe lại hỏi:
- Riêng
ngươi không giỡn là sao?
Tiểu Nhi
đáp:
- Chơi
giỡn không ích, áo rách khó vá, trên làm nhục cha mẹ dưới đến người
trong nhà, ắt có tranh đấu, nhọc mà không công, vốn không ích nên tôi
không giỡn.
Tiểu Nhi
đáp rồi bèn cúi đầu lượm gạch làm thành.
Khổng Tử
rất quý hỏi:
- Sao
không tránh xe?
- Từ xưa
đến nay xe tránh thành, chớ thành tránh xe bao giờ?
Khổng Tử
liền xuống xe luận nói, xuống xe rồi hỏi rằng:
- Ngươi
tuổi còn nhỏ sao lại xảo trá vậy?
Tiểu Nhi
đáp:
- Người
sanh ba tuổi phân biệt cha mẹ, thỏ sanh ba ngày chạy cùng mẫu ruộng,
cá sanh ba ngày lội cùng sông hồ, trời sanh tự nhiên có gì xảo trá?
Khổng Tử
hỏi:
- Ngươi
ở làng nào, xóm nào, họ gì, tên gì, tự là gì?
Tiểu Nhi
đáp:
- Tôi ở
làng Thường ấp Tệ, họ Hạng tên Thát, chưa có tên chữ.
Khổng Tử
nói:
- Ta
muốn cùng ngươi du ngoạn, ý ngươi thế nào?
Tiểu Nhi
đáp:
- Nhà có
cha nghiêm phải nghe theo, nhà có mẹ hiền phải lo nuôi dưỡng, nhà có
anh hiền cần phải thuận theo, nhà có em dại cần phải dạy bảo, nhà có
thầy sáng cần phải lo học, đâu có nhàn rỗi mà du ngoạn.
Khổng Tử
nói:
- Trong
xe ta có ba mươi hai con cờ, ta cùng ngươi đánh bạc, ý ngươi thế nào?
Tiểu Nhi
đáp:
- Vua mê
cờ bạc, không xem bốn biển, chư hầu mê cờ bạc hư hại chánh kỷ, nho sĩ
mê cờ bạc phế bỏ học vấn, tiểu nhơn mê cờ bạc hư việc nhà, đày tớ mê
cờ bạc ắt bị roi vọt, người nông mê cờ bạc ruộng mùa thất thời, cho
nên không cờ bạc.
Khổng Tử
nói :
- Ta
muốn cùng ngươi bình thiên hạ, ý ngươi thế nào?
Tiểu Nhi
đáp:
- Thiên
hạ không thế bình: hoặc có núi rừng, hoặc có sông hồ, hoặc có vương
hầu, hoặc có tôi tớ. Ban bằng núi rừng chim thú ở đâu? Lấp bằng sông
hồ cá trạnh về đâu? Trừ bỏ vương hầu dân nhiều thị phi; bỏ hết tôi tớ
quân tử nhờ ai? Thiên hạ minh man đâu thế bình được?
Khổng Tử
hỏi:
- Ngươi
biết trong thiên hạ, lửa gì không khói? Nước gì không cá? Núi gì không
đá? Người nào không vợ? Gái nào không chồng? Trâu gì không nghé? Ngựa
gì không con? Thế nào quân tử? Thế nào tiểu nhơn? Thế nào không đủ?
Khi nào có thừa? Thành nào không chợ? Người nào không tên chữ?
Tiểu Nhi
đáp:
- Lửa
đóm không khói, nước giếng không cá, núi đất không đá, người tiên
không vợ, ngọc nữ không chồng, trâu đất không nghé, ngựa cây không
con, hiền là quân tử, ngu là tiểu nhơn. Ngày xuân không đủ, ngày hạ có
thừa, hoành thành không chợ, tiểu nhơn không tên chữ.
Khổng Tử
hỏi:
- Ngươi
biết cha mẹ thân hay chồng vợ thân?
Tiểu Nhi
đáp :
- Cha mẹ
thân, chồng vợ không thân.
Khổng Tử
nói :
- Chồng
vợ sống đồng chăn, chết đồng huyệt sao gọi là không thân?
Tiểu Nhi
đáp:
- Người
sanh không vợ như xe không bánh, không bánh thì tạo bánh xe mới, vợ
chết bèn cưới vợ mới, con gái nhà hiền ắt có chồng qúy. Mười gian nhà
rộng gác một đòn dông, ba cửa song, sáu cửa sổ không bằng ánh sáng cửa
cái, các sao tuy sáng không bằng trăng sáng. Ân cha mẹ không quên vậy.
Khổng Tử
khen rằng:
- Hiền
thay! Hiền thay!
Tiểu Nhi
hỏi Khổng Tử rằng:
- Nãy
giờ ngài hỏi Thát, Thát mỗi mỗi đều đáp, nay Thát cầu người dạy một
lời, cho Thát biết thêm xin ngài chớ bỏ:
- Vịt,
ngỗng sao nổi? Hồng nhạn sao kêu lớn? Tùng lá sao mùa đông vẫn xanh?
Khổng Tử
đáp:
- Vịt,
ngỗng hay nổi nhờ có nhiều lông. Hồng nhạn kêu lớn nhờ có cổ dài. Tùng
lá mùa đông vẫn xanh nhờ đặc ruột.
Tiểu Nhi
nói:
- Không
phải vậy! Cá trạnh hay nổi nào có nhiều lông. Ếch, ễnh ương kêu vang
nào có cổ dài. Tre-trúc mùa đông vẫn xanh nào có đặc ruột.
Tiểu Nhi
lại hỏi:
- Trên
trời bao la có bao nhiêu sao?
Khổng Tử
nói:
- Nãy
giờ bàn việc dưới đất đâu nói việc trời?
Tiểu Nhi
hỏi:
- Dưới
đất minh mang có bao nhiêu nhà?
Khổng Tử
nói:
- Nên
luận việc trước mặt, đâu nên nói trời luận đất?
Tiểu Nhi
hỏi:
- Như
luận việc trước mặt thì có bao nhiêu lông mày ?
Khổng Tử
cười mà không đáp, day lại kêu các đệ tử nói rằng:
- Hậu
sanh khả uý! Nào dè sự cầu học đâu hơn bữa nay.
Rồi lên
xe đi.
Luận
Qua giai
thoại trên ta thấy đức Khổng Tử còn kính một em bé thông minh, huống
gì chúng ta là học trò mà không kính nể thầy.
Sự kính
nể này quan trọng lan ra cả một trường đời, nếu học trò quý sự học,
biết nể thầy thì xã hội chỗ nào cũng là chỗ ta học, thời nào ta cũng
cung kính dè dặt học hỏi, người nào ta cũng cung kính nghe học, học
thêm với nhau thì xã hội này có gì đẹp bằng, đó là then chốt thêm cho
cán cân quân bình nên bậc hiền nhân vậy.
THẦY TĂNG
TỬ HỌC VỚI ĐỨC KHỔNG TỬ
Tăng
Tử nói với đức Khổng Tử:
- Tôi
biết thầy có ba điều, tôi học mãi mà chưa làm được:
1) Thấy
người ta có một điều phải mà quên cả trăm điều quấy của người ấy là
thầy dể tánh.
2) Thấy
người ta có điều gì phải thì vui vẻ như mình có, thế là thầy không
ganh tỵ.
3) Điều
gì phải nhất quyết làm rồi mới nói thế là thầy chịu khó.
Nhà thầy
là người dễ tính, không ganh tỵ hay chịu khó, ba điều đó tôi học mãi
mà chưa có thể làm được.
Luận
Thầy
Tăng Tử vừa biết học vừa biết trọng cái đáng trọng thầy:
Biết
học là biết học về đức độ trước để sau này nên danh phận một bậc hiền
nhân quân tử, được một sự nghiệp có giá trị; không vì chuộng hư danh
chỉ khư khư học lấy mớ văn chương để mong đỗ đạt giành được địa vị
quyền thế vô đạo đức.
Biết
trọng đức của thầy hơn trọng tài ba, biết rằng tài đức phải đi dôi
nhưng nếu ông thầy chỉ khư khư có một việc tài mà không có đức thì thà
ta lánh đi xa còn hơn.
Đã học
với bực thầy có tài có đức rồi thì ta phải biết ơn thầy để bù lại thầy
đã vì ta mà dạy dỗ cho ta nên bậc hiền nhân vậy.
ĐỨC KHỔNG
TỬ HỌC VỚI LÃO ĐAM
Đức
Khổng Tử từ nước Lỗ vào kinh đô nhà Chu, hỏi lễ với Lão Đam, hỏi nhạc
với Trành Hoằng. Xem xét cả giao xã, minh đường cùng triều đình tôn
miếu.
Khi ra
về, Lão Đam theo tiễn chân và nói rằng:
- Ta
nghe người giàu sang tiễn người thì dụng của cải, người nhân hậu tiễn
người thì dùng lời nói, ta không giàu sang nhưng mang tiếng là nhân
hậu, vậy xin tiễn người bằng lời nói vậy:
- Này!
Phàm kẻ sĩ đời nay, những người thông minh sâu sắc, xét nét mà có khi
thiệt mạng đều là kẻ hay chê bai nghị luận tâm sự người ta cả; những
người biện bác rộng rãi xa xôi, mà có khi khổ thân đều là kẻ hay bói
móc phơi bày tội lỗi người ta cả.
Đức
Khổng Tử nói:
- Vâng,
xin kính theo lời dạy.
Luận
Học trò
kính thầy cốt là kính trọng lời nói phải. Khi Lão Đam nói dứt lời đức
Khổng Tử đã tỏ lòng kính trọng chân thật tự nơi cõi lòng mà thốt ra
lời nói :
“Vâng
xin kính theo lời dạy“.
Ta là
học trò nên học theo đức Khổng Tử. Vậy học trò đối với thầy phải biết
công ơn dạy dỗ làm thế nào để bù lại:
*
Phải tôn trọng thầy như cha mẹ, phải noi gương mẫu thầy (nếu là ông
thầy gương mẫu).
*
Phải thăm nom giúp đỡ thầy khi nghèo túng đau ốm.
*
Phải nghĩ đến sự nghiệp quốc dân để làm nên nghiệp cho vui lòng thầy.
Người
hiền nhân quân tử rất trọng học và kính thầy sẽ nên bậc hiền nhân vậy.
“Thầy
như lạch nước dòng sông
Nếu
không lòng lạch nước thông bao giờ
Trong
mắt người có ngươi mới tỏ
Sách
không thầy mới ngỏ làm sao?
Xưa nay
giáo pháp truyền trao
Không
thầy há dễ mặt nào nên thân “.
( Kệ
của Hòa thượng Thiên Thai )
3. BỔN PHẬN CHA ĐỐI VỚI CON
Tuy
nói là cha mẹ sanh con xác thân, thầy sanh con tinh thần, nhưng thầy
dạy trò dù sao cũng nặng về mặt văn chương hơn là luân lý tình cảm gia
đình.
Tình cảm
luân lý về gia đình là cốt cán bổn phận của người cha. Trước tiên
người cha phải nuôi con, cho con được ấm no là điều kiện tiên quyết,
dầu nghèo khổ cách nào, có thể hạn chế chớ không thể không mà được.
Tôi đã
thấy nhiều người cha làm không tròn bổn phận, làm cha chỉ cứ đòi quyền
làm cha, làm như vậy sao gọi “Phụ từ tử hiếu“ và mất thăng bằng cho
cán cân xã hội không phải ít.
Trường
hợp như anh A lớn lên được sống trong gia đình giàu sang, rồi từ nhỏ
đến lớn khi có con chỉ biết ăn không ngồi rồi, khỏi phải lo nuôi dưỡng
gì cho con hết, chẳng những vậy mà còn phung phí ăn chơi cho đến khi
con được mười hai mười ba tuổi thì sự nghiệp tiêu tan hết sạch. Anh A
đã không làm được chút nào bổn phận làm cha, bây giờ lại đòi quyền làm
cha nói với con rằng:
- Tao
sanh bây ra, nuôi bây lớn, giờ đây bây phải nuôi lại tao. Rồi đem con
cho ở đợ lấy tiền ăn nữa, không biết gì đến sự ngu dốt cực khổ của
con, mãi đến già chết con cũng còn ở đợ mà trừ không hết nợ.
Rồi thì
đứa con đó sẽ thành đứa con hoang vì đâu có được thừa hưởng gì của
cha, đâu có đến trường học hỏi. Đành là nó đứa con hoang không hơn
được.
Trong xã
hội, trẻ hoang vẫn còn, cộng thêm số trẻ sớm mất cha mẹ mà lại không
được ai chăm sóc thì rất dễ sinh trộm cắp, móc túi, giật đồ, cướp bóc,
xì ke...
Thử tìm
tâm lý thực hành tình cảm xem coi tại em đó đi hoang hay tại người cha
không làm tròn bổn phận bỏ cho nó đi hoang không phải tự tánh nó
hoang.
Thí dụ
anh B sanh con rồi không lo cho con cơm ăn áo mặc, bỏ lăn lóc vất vả
nhờ cơm dư canh thừa của cô dì chú bác chòm xóm; sống nheo nhóc ốm gầy
miễn cưỡng sống còn, về tinh thần mất hết tình cảm cha con, mẹ con
trong cảnh lạt lẽo và tập quen tánh ăn nói thô lỗ tục tằn. Tuy ốm gầy
nhưng độ mười ba mười bốn tuổi cũng có khả năng làm được ít việc. Bây
giờ anh B lấy quyền làm cha, đem con cho ở đợ chăn trâu bò cho ông
Xoài, ông Ổi lấy tiền để tiêu xài. Cực khổ quá đứa con vô phước ấy
chịu không kham, phần bị chủ đánh đập mắng chửi dồn dập:
Sáng sớm
hốt phân quét chuồng, rồi lùa trâu ra đồng, đói, lạnh, muỗi mòng bu
cắn, tay chân lở loét, đến chín mười giờ mới lùa trâu về bụng đói tay
run mắt mờ, mới ăn được bữa cơm thừa. Trong những cơn bụng đói hoành
hành cho nên thấy trái dừa, trái cam, bất cứ vật gì ăn được là nó đớp
ngay và ăn ngon lành; nhiều khi đồng bọn tụ năm tụ bảy trộm gà trộm
vịt gạo nếp nồi niêu đem ra đồng nấu ăn, cứ mỗi lần bị bắt là phải đòn
bầm mình, sưng mặt quẹo tay què chân, bị đòn bịnh đau ốm không ai biết
tới, rồi sáng sớm cũng phải lùa trâu ra đồng như thường lệ.
Khổ sở
hoành hành lâu ngày em mong mỏi mãn tháng hết năm lại về nhưng chưa
mãn năm nầy thì người cha lãnh tiền năm khác rồi chừng nào mới mãn?
Cực khổ
dằng dai em đánh bạo trốn về nhà, ông cha lại bất chấp phải quấy cứ
đánh mắng:
- Mầy đồ
bất hiếu! Sanh mầy ra nuôi đến lớn giờ nầy cho mầy ở để lấy tiền, trả
công ơn tao, rồi mầy trốn về, chủ nợ đến cào nhà cho mầy xem.
Rồi bị
cha đánh đập, ở nhà không được, đến ở không kham, lẽ tất nhiên em phải
đi hoang; rồi cùng d0ồng nghiệp tụ năm tụ bảy đánh liều, ăn cắp vặt,
móc túi để mua ăn, lắm lúc đói quá, bươi móc những đống rác lượm những
vỏ úng trái thúi ăn càn ăn bừa.
Có nhiều
lần móc túi, mánh khoé giựt tiền bị cảnh sát bắt được thì tha hồ mà ăn
đòn. Người ta nói em bé gan lì lợm. Không gan dạ ai chịu cho, không lì
lợm chết đói sao?
Bây giờ
ta hãy đặt ra một vấn đề ổn thỏa - đặt ra thôi - để xem coi em đó vốn
có tánh hoang hay tại xã hội tệ hại thúc đẩy em đi hoang?
Có người
bảo:
- Anh B,
anh nên suy nghĩ lại, con anh đi hoang là tại anh thiếu bổn phận làm
cha, lại dành quyền làm cha quá lạm, nên nó chịu không kham túng thế
phải bỏ đi hoang. Nay tôi đứng ra làm mạnh thường quân, cho anh số bạc
và còn giúp anh nhiều lần nữa, anh hãy tìm con an ủi nó đem về nuôi
nấng, xem coi nó có chịu về hay là nó thích đi hoang?
Anh B
vẫn còn chút lương tâm, thoạt nghĩ đến tình cha con, và được sự giúp
đỡ của mạnh thường quân, lãnh số tiền rồi đi tìm con.
- Ồ! Kìa
con ta! Cảm động quá khi thấy con mình lang thang rách rưới, đang bươi
xới đống rác moi lấy cùi dứa nhai lấy nhai để.
Chợt
thấy cha nó sợ quá tự nghĩ: Mình đã bỏ trốn chắc chủ nợ làm dữ, nay
cha bắt đem về thế nào cũng phải chết về đòn bọng.
Nó liền
đâm đầu chạy lẫn vào đám đông rồi chuồn mất. Bây giờ anh B mới thấm
thía lòng đau buốt mà ra nước mắt. Anh cố gắng rình mò quyết tìm cho
được con.
May
thằng nhỏ vừa trong ngõ hẻm chui ra không kịp thấy cha nó chợp cánh
tay, nó run lên và xỉu.
Ôm con
vào lòng …
Em bé
nghe giọt nước mắt ấm nhểu trên mặt nó mở mắt ra thấy cha chưa kịp nói
gì.
Anh B
liền nói:
- Con!
Con giận cha lắm phải không con? Ôi! Cha tệ bạc, con giận cha là phải.
Nó nói:
- Con sợ
cha chứ con không dám giận.
- Bây
giờ cha đã biết thương con, tìm kiếm suốt mấy hôm liền mới gặp con,
thế rồi con bỏ chạy làm cho cha quá đau khổ buồn tủi. Bây giờ cha
thương con hơn thương mình, bao nhiêu sự yêu thương cha trút hết cho
con. Đem con về cha làm tròn bổn phận cha.
Em bé
lòng nhẹ lên ôm chầm lấy cha, miệng nó nói:
- Con
đói lắm!
- Con
hãy lê lại quầy hàng cha sẽ cho con ăn.
Em bé
rất sung sướng xem như trên đời này chưa có gì bằng. Em ăn ngon lành
no nê rồi theo cha về nhà.
Vấn đề
đặt ra, nhưng kỳ thật nó sống động về tâm lý hẳn như vậy. Nếu có người
làm cha tệ bạc, bỏ con đi hoang như vậy nay làm như anh B xem coi có
xảy ra như vậy không?
Quả
quyết như vậy. Đọc chuyện xưa ta há chẳng ghét kẻ làm cha lạm quyền
quá trớn gây thiệt hại tiêu tan cả gia đình sự nghiệp mà còn ảnh hưởng
tai hại đến quốc dân xã hội.
VỆ TUYÊN
VƯƠNG
Vệ
Tuyên Vương có thói xấu đê hèn đắm mê Di Khương là dì ghẻ sanh ra công
tử Cấp Tử, giao cho công tử Chức trông nom dạy dỗ.
Khi công
tử Cấp được mười sáu tuổi, Vệ Công cho người sang hỏi con gái vua Tề
về làm vợ cho con mình. Nhưng sau Tuyên Vương nghe nói con gái Tề tên
là Tuyên Khương nhan sắc đẹp tợ tiên nga, liền đem lòng tham muốn, mới
nghĩ ra kế:
Cất tòa
lầu tuyệt đẹp nơi sông Tân Kỳ lấy tên là Tân Đài, rồi sai Cấp Tử làm
sứ qua nước Tống.
Cấp Tử
đi rồi Tuyên Vương sai công tử Tiết sang Tề rước nàng Tuyên Khương về
Tân Đài rồi Tuyên Vương ở luôn đó lấy Tuyên Khương làm vợ. Tuyên
Khương là gái lả lơi nên cũng ưng thuận để hưởng giàu sang.
Khi Cấp
Tử đi sứ về Tuyên Vương bảo Cấp đến Tân Đài ra mắt Tuyên Khương gọi
bằng kế mẫu. Mặc dầu hành động ngang trái, nhưng Cấp Tử là người thuần
hậu xem việc trăng hoa là thói thường tình lòng không màng đến, nên
nghe theo, và lòng hiếu thảo cũng không trách cha.
Sau
Tuyên Khương sanh đặng hai con trai tên là Thọ và Sóc. Vệ Tuyên Vương
trước kia mê đắm Di Khương thì tình cha con đối với công tử Cấp rất
đậm đà; nay mê nàng Tuyên Khương thì bao nhiêu tình thương trước đều
đổ dồn về Thọ và Sóc, lại còn quyết truyền ngôi cho Thọ.
Nhưng
không thế được Tuyên Vương đã làm thất đức làm sao ổn định được.
Thọ và
Sóc là hai anh em ruột mà tánh tình khác nhau. Thọ là bực hiền đức
thương công tử Cấp như anh ruột, còn Sóc thì độc ác nham hiểm đã ghét
công tử Cấp lại còn quyết giành ngôi của Thọ sau nầy. Sóc định tìm mưu
hại Cấp Tử và lần sẽ hại Thọ cho trọn bề an hưởng.
Nhân
nhằm ngày sanh nhựt của Cấp Tử, công tử Thọ làm lễ chúc mừng, trong
tiệc đó có công tử Sóc đến dự; thấy Thọ và Cấp rất thân mật, chán ghét
bỏ ra về và đặt điều nói với mẹ rằng:
- Con vì
anh em đến dự tiệc với Cấp Tử thế mà Cấp Tử oa loa rồi uống rượu say
nói bướng rằng: “Mẹ mầy là vợ của ta vì vua Tề trước kia định gả cho
ta, sau này rồi cũng về ta mày kêu ta bằng cha mới phải“.
Tuyên
Khương tin theo, chờ Tuyên Vương vào cung bèn khóc lóc thuật lại và
nói thêm:
- Cấp Tử
nói lời lỗ mãng còn cố tình làm nhục thiếp và có ý độc sau nầy. Thiếp
đã được nghe nó nói! Mẹ ta là Di Khương, vợ của ông nội ta mà cha ta
lấy làm vợ, thì Tuyên Khương này là vợ của ta sau này ta lấy lại còn
lấy cả ngôi nữa.
Tuyên
Vương nghe nói giận đỏ cả mặt kêu công tử Thọ vào hỏi.
Công tử
Thọ nói:
- Thưa
thân phụ trong bữa tiệc có con ở đến mãn, Cấp Tử vẫn vui vẻ không khi
nào nói việc đó, vả lại con biết Cấp Tử là người chí hiếu không bao
giờ lỗ mãng.
Tuyên
Vương không nói gì được nhưng lại đòi Di Khương đến, đem nhiều lời dọa
nạt mắng nhiếc thậm tệ. Di Khương đau lòng không chịu nổi liền về cung
thắt cổ mà chết.
Cấp Tử
khóc xỉu, nhưng chỉ thầm lặng.
Giết
được Di Khương rồi, công tử Sóc thêm lo sợ ngày ngày hối thúc mẹ tìm
cách giết cho được Cấp Tử.
Tuyên
Khương khóc nói với Tuyên Vương rằng:
- Thế
nào Cấp Tử cũng vì mẹ mà báo thù, nếu chúa công thương mẹ con thiếp mà
không giết Cấp Tử, đó chỉ là hại mẹ con thiếp mà thôi, không thế nào
mẹ con thiếp ở đây được, xin chúa công cho mẹ con thiếp về Tề sớm hay
hơn.
Tuyên
Vương liền hứa sẽ giết Cấp Tử nhưng phải tìm cách cho ổn thỏa tránh
tiếng.
Nhân khi
Tề Hy Công sang mượn quân, Tuyên Vương liền sai Cấp Tử cầm cờ tiết
trắng sang xứ Tề rồi cho Sóc hay sai người chận đường mà giết đi.
Công tử
Sóc rất mừng bèn họp côn đồ mà dặn rằng:
- Các
ngươi hãy đến trước phục sẳn chỗ đường giáp ranh thủy bộ, hễ thấy ai
cầm cờ tiết trắng đến đó thì cứ ùa ra giết lấy đầu bỏ vô thùng đem về
phục lịnh được trọng thưởng.
Tuyên
Khương hay được việc đó mừng rỡ lộ ra mặt, công tử Thọ thấy sanh nghi
liền dọ hỏi, Tuyên Khương ngỡ Thọ đã biết nên đem việc đó nói hết.
Công tử
Thọ thất kinh nhưng giả làm vui, biết cha mẹ và em đã quyết không sao
can được bèn đến chổ công tử Cấp nói rõ việc đó.
Nghe rồi
công tử Cấp ngồi thừ ra không nói gì hết.
Công tử
Thọ khuyên:
- Đường
đây đi qua xứ Tề phải ngang qua Sằn Giả giáp tuyến đường sông lên
đường bộ, nơi đó nguy hiểm tánh mạng. Thế tình như vậy, giờ đây anh
nên trốn sang nước khác cho thoát chết rồi sau sẽ xoay trở.
Cấp Tử
không chịu nói:
- Nếu
phụ vương có ý giết con thì ta còn sống cũng chẳng ích gì. Nếu ta sống
đến ngày nào đó ta không tranh thì cũng có người lấy danh nghĩa ta mà
tranh đánh lại cha ta, giòng họ ta phải quấy gì cũng lâm vào cảnh nồi
da xáo thịt, ta chết hay hơn vậy.
Nói xong
Cấp Tử đi lãnh cờ tiết rồi từ biệt công tử Thọ xuống thuyền mà đi.
Công tử
Thọ can không được đành đứng nhìn theo và nghĩ thầm:
- Anh ta
là người hiếu thảo, lại thêm trọng tình huynh đệ, nếu anh ta chết lòng
ta nào yên được. Anh ta chết như vậy không thức tỉnh được cha mẹ ta,
bây giờ ta phải chết thế anh ta may ra cha mẹ còn thức tỉnh mà đem lại
sự yên ổn trong gia đình, nhân dân khỏi điêu linh đồ thán, thế mới hay
hơn.
Nghĩ thế
rồi hối hả chọn một con thuyền nhỏ có thế đi nhanh, chọn hai tên tuỳ
tùng đủ sức khỏe để chèo rượt theo cho kịp thuyền Cấp Tử dự tiệc chia
tay.
Hai tên
tùy tùng đâu biết việc gì bị giục thúc ráng sức chèo mồ hôi ra ướt cả
mình.
Thuyền
vừa theo kịp công tử Thọ bảo hai thuyền cặp lại rồi mời công tử Cấp
qua thuyền mình.
Cấp Tử
hỏi:
- Em
theo anh để làm gì?
Công tử
Thọ nói:
- Ngày
chia ly mà anh vội vã ra đi em chưa được tâm tình cùng anh, nên em cố
theo và đem rượu thịt, dâng anh chén rượu tiển hành để tỏ lòng thương
mến.
Nói xong
rót đầy ly rượu tay bưng chưa kịp trao cho Cấp Tử thì nước mắt rớt vào
ly rượu.
Công tử
Thọ khóc nói:
- Em vô
lễ làm nước mắt rơi vào chén rượu.
Chưa kịp
hết lời Cấp Tử liền với bưng chén rượu có nước mắt uống liền và nói:
- Anh
mong đặng uống chén rượu có nước mắt của em để giữ nỗi thâm tình của
em sống mãi trong lòng anh.
Hai anh
em rót rượu trao qua trao lại, vừa uống vừa khóc, khóc và uống nước
mắt lẫn nhau, càng uống càng nồng nàn tình nghĩa.
Nhưng
công tử Thọ giữ thế không cho say và cố ép cho Cấp Tử uống say vùi đến
ngã ra bất tỉnh.
Công tử
Thọ ôm anh mà khóc, rồi nói với bọn thủ hạ rằng:
- Lệnh
vua sai đi rất gấp mà anh ta lỡ say, sợ trễ ta phải đi thế mới được.
Nói rồi
liền nhổ cây cờ trắng cặm qua ghe mình, rồi viết thư giao lại cho tuỳ
tùng dặn chờ Cấp Tử tỉnh rượu hãy trao lại.
Xong rồi
đốc hai tên chèo ghe mình thẳng đến Sằn Giả. Thuyền vừa đến ghé vào
giáp tuyến đường bộ, bọn côn đồ thấy cờ tiết trắng chạy ù ra. Công tử
Thọ nói:
- Ta là
Cấp Tử phụng mệnh chúa công sang sứ nước Tống sao bọn ngươi dám ngăn
cản?
Bọn côn
đồ đắc ý nói:
- Chính
chúng ta đến đây để lấy đầu Cấp Tử vậy.
Nói rồi
ùa vào chém lấy đầu công tử Thọ đoạt lấy cờ tiết cắm xuống ghe chèo
về. Bọn gia nhân của công tử Thọ kinh sợ chạy mất hết.
Tỉnh
rượu mở mắt ra, Cấp Tử không thấy em mình lại nhận được bức thơ, lòng
rất kinh sợ, mở thơ ra xem có vài dòng chữ:
- “Em
chết thay anh, anh hãy qua nước khác lánh nạn“.
Cấp Tử
khóc ồ lên, bảo tùy tùng:
- Chúng
bay hãy chèo thuyền mau kẻo bọn côn đồ giết em ta chết mất.
Chủ ra
lịnh bọn tùy tùng ráng sức chèo, dưới trời đêm trăng sáng thuyền vượt
sóng phăng phăng. Cấp Tử sốt lòng thúc liên hồi, bọn tùy tùng sợ điếng
lên chèo theo trối chết, thuyền phóng nhanh như gió. Bỗng thấy bóng
thuyền có cờ tiết, Cấp Tử hét to lên:
- Thật
may mắn cho em ta còn sống!
Nhưng kẻ
tùy tùng nhìn kỹ chiếc thuyền kia ngược chiều trở lại liền nói cho Cấp
Tử biết.
Cấp Tử
ngơ ngác khi thuyền đến gần, thấy bọn côn đồ gươm giáo cầm tay còn đẫm
máu.
Cấp Tử
hét to:
- Ôi
thôi! Còn gì em ta đã chết!
Bọn côn
đồ ngơ ngẩn, Cấp Tử nói tiếp :
- Ta đây
mới là Cấp Tử, vì ta có tội nên cha ta mới sai bọn ngươi giết ta, chớ
em ta nào có tội tình gì?
Nghe vậy
bọn côn đồ biết mình giết lầm lấy làm sợ hãi bèn bàn nhỏ với nhau:
- Tình
thế nầy thì phải giết luôn Cấp Tử lấy hai đầu bỏ chung về chuộc tội.
Nói xong
chúng áp qua thuyền chặt đầu Cấp Tử rồi chèo thuyền về, bỏ mặc bọn tùy
tùng đi đâu thì đi.
Về đến,
bọn côn đồ đem hai cái đầu và lá cờ dâng cho công tử Sóc, lòng vẫn lo
sợ vì giết lầm. Biết rõ, chẳng những công tử Sóc không quở phạt mà còn
trọng thưởng nhiều lụa là vàng bạc rất hậu, rồi vào cung cho mẹ hay tự
sự như vậy.
Tuyên
Khuyên nửa mừng nửa buồn, mừng vì giết được Cấp Tử, buồn vì nỗi con
mình bị chết.
Những
nhà chép sách có làm bài thơ:
“Hai
chiếc đầu rơi một mối tình
Hồn oan
ôm hận khóc xuân xanh
Lòng cha
ví có không thương xót
Thà
chết cho toàn nghĩa đệ huynh“.
Luận
Làm cha
đã không tròn bổn phận lại còn coi con như là một con vật hy sinh, tàn
ác như vậy là do động cơ sắc dục thúc đẩy mà ra. Vệ Tuyên Vương khi
chưa có nàng Tuyên Vương thì vẫn trọn tình thương, và vẫn lo lập gia
đình cho, nhưng khi nghe nói sắc đẹp rồi thì không còn nghĩ vì tình
cha con nữa.
Ta không
thể dư giờ để chửi bới thói xấu ấy mà ta chỉ nên thấy chổ yếu sắc đẹp
nó làm cho nhiều người mất cả lương tri, mà ta nên tự tỉnh lập chí cho
ra con người với đời. Nếu tự mình làm chủ được không bị sắc đẹp sai
khiến thì như Vệ Tuyên Vương cứ giữ lấy tự chủ mà xử sự công bình cho
vợ con, thì cũng nắm được cán cân công bình, và còn giữ được hạnh phúc
cho gia đình, quốc gia nhiều hơn người khác được.
Vệ Tuyên
Vương làm cha có hai đứa con qúi mà không biết dùng, để nghe lời con
đàn bà ác độc, giết hại hết hai đứa con hiếu thảo, còn lại một đứa con
tàn bạo sau này ngồi trên đầu thiên hạ mà tác oai tác quái.
Thật chỉ
có một việc là không làm tròn bổn phận làm cha mà gây khổ cho cả nhà
hư cả nước thật không tưởng tượng được.
LY HỒN
Đời
Đường, người Trương Dật có người con gái tên Trương Thiếu Nương, thưở
còn bé cha đã hứa gả cho Vương Trụ. Sau khi Thiếu Nương lớn lên,
Trương Dật lại cải hôn định gả cho nơi khác, Thiếu Nương buồn rầu sanh
bệnh trầm trọng. Vương Trụ buồn rầu bỏ quê về Trường An để học hành,
trên đường đi bằng thuyền Vương Trụ vẫn buồn thương nhớ người hôn thê,
một hôm thuyền ghé tạm vào bờ bổng gặp Thiếu Nương tìm đến, hai người
mừng rỡ dắt nhau về Trường An chung sống. Sau ba năm đặng hai con khi
đó hai vợ chồng dắt nhau về thăm cha mẹ và để tạ tội với Trương Dật.
Trương
Dật xem thấy thất kinh và ngạc nhiên vì Thiếu Nương bịnh nặng ba năm
vẫn còn nằm tại nhà, lẽ nào Thiếu Nương nào theo Vương Trụ sanh đặng
hai con. Chừng gọi nàng con ra hai xác lại hoàn một.(1)
Chú
thích :
(1) Rút
trong Danh nhân từ điển.
Luận
Tệ tục
làm sui gia chọn môn đăng hộ đối, làm cha mẹ giành trọn quyền, thường
nói rằng: “Áo mặc sao qua khỏi đầu“, bổn phận làm con hễ cha mẹ đặt
đâu con ngồi đó không được cãi. Thật tai hại lớn vì nơi mà con không
hợp ý đồng tâm, rồi bắt buộc cùng nhau thành vợ chồng, tránh sao sau
này khỏi xảy ra cuộc chia ly tan vỡ, hoặc ôm hận suốt đời.
Làm cha
nên dạy con, cân nhắc lợi hại cho con biết còn việc trăm năm hệ trọng
của con có ảnh hưởng cho cả gia đình đến quốc gia nữa, nên chia quyền
cho con được chọn lựa, mới đem lại hạnh phúc. Chia chúc quyền cho con
là đem lại cán cân quân bình hiển nhiên là lên bậc hiền nhân.
Tạo hạnh
phúc cho con là tạo điều kiện an vui cho quốc gia xã hội vậy, vì:
“Tiên trị kỳ gia hậu trị kỳ quốc“ thứ ổn định xã hội.
Trương
Dật đã lầm to, may mà con không chết lại được đoàn viên với vị hôn
phu, mà trở về làm cho Trương Dật sáng mắt thêm ra. Mà đây cũng là một
bàn tay cầm bút điểm nhãn cho người mù vậy.
THẠCH
THÁC GIẾT CON
Vệ
Trang Công lấy cung nữ sanh công tử Chu Hu. Chu Hu tánh hung bạo nhưng
Vệ Trang Công rất quí mến. Do đó Chu Hu mỗi ngày một lộng hành, bất
chấp pháp luật.
Quan đại
phu là Thạch Thác khuyên Vệ Trang Công nên tìm cách ngăn chặn Chu Hu
để có hại sau này. Nhưng Vệ Trang Công bỏ qua. Thạch Thác cũng có đứa
con tên là Thạch Hậu cũng a tùng theo Chu Hu hoang chơi.
Thạch
Thác đã nhiều lần đánh mắng mà không được Thạch Hậu đã không nghe mà
còn bỏ nhà vào thành ở luôn với Chu Hu. Thạch Thác đành bó tay trước
đứa con ngỗ nghịch.
Sau Vệ
Trang Công mất, Vệ Hoàn Công lên nối ngôi nhu nhược không làm gì nên
việc.
Bây giờ
Chu Hu không còn kiêng nể ai nữa, bèn bàn với Thạch Hậu mưu toan chiếm
ngôi.
Nhân lúc
Vệ Hoàn Công đi điếu tang Vua Bình Vương nhà Châu, Chu Hu hội ý kiến
với Thạch Hậu.
Thạch
Hậu nói:
- Đó là
cơ hội tốt, ngày mai công tử bày tiệc rượu tiễn hành đưa chúa công đi,
tôi sẽ phục quân sẳn ở phòng tiệc. Lúc ăn uống công tử thừa cơ rút
gươm giết chúa công đi, thì lo gì không đoạt được ngôi.
Chu Hu
nghe theo làm y như vậy đâm chết Vệ Hoàn Công. Lúc đó Thạch Hậu dẫn
quân bảo vệ Chu Hu lên ngôi.
Chu Hu
lên ngôi ba ngày, ngoài thành dân chúng không phục náo loạn. Chu Hu
liền kêu Thạch Hậu nói:
- Ta
chưa có đức thiên hạ không sợ oai quyền nay phải làm thế nào cho lòng
người nể phục?
Thạch
Hậu nói:
- Muốn
cho dân chúng phục phải bắt những người dân chúng phục ra làm việc cho
mình thì dân chúng sẽ phục theo. Cha tôi trước kia làm quan ai cũng
phục, nay chúa công hãy triệu cha tôi vào triều phụ chánh thì ai cũng
phục, mà giữ vững được ngôi vị
Chu Hu
nghe theo lời, sai người đem một cặp bạch bích và năm trăm hộc gạo
trắng đến cầu Thạch Thác vào triều để bàn việc.
Thạch
Thác giả đau từ chối không nhận. Chu Hu nói với Thạch Hậu:
- Cha
của khanh không chịu vào triều, ý của ta muốn đến đó hỏi kế có nên
không?
Thạch
Hậu nói:
- Chúa
công đến đó không ắt đặng giúp kế, để tôi lấy lệnh vua mà triệu cha
tôi thì hay.
Nói rồi
Thạch Hậu về nhà tỏ lời kính mến của Chu Hu và có ý rước cha vào
triều. Thạch Thác hỏi:
- Tân
quân muốn cha vào triều để làm gì?
Thạch
Hậu thưa:
- Vì tân
quân mới lên ngôi lòng dân không phục sợ ngôi báu không an nên muốn
được sự chỉ giáo của phụ thân.
Thạch
Thác nói:
- Các
nước chư hầu, nước nào lên ngôi cũng phải có lệnh của vua nhà Châu mới
an lòng dân được, nay tân quân muốn như vậy phải vào chầu vua nhà
Châu, khi được chấp thuận ban áo mão thì trong nước sẽ an.
Thạch
Hậu nói:
- Lời
thân phụ dạy rất phải, nhưng tân quân chưa được lệnh mà vào chầu lòng
nghi sợ. Vậy phải có người đến tâu trước mới xong.
Thạch
Thác nói:
- Nếu
cần có người tâu trước thì có Trần Hầu là người đặng nhà Châu trọng
dụng. Vừa rồi Trần đã đem quân giúp nước ta giúp ta mà đánh Trịnh nên
Trần với ta rất thân mật. Vậy con cùng tân quân cứ đích thân qua Trần
cầu người vào chầu nhà Châu mà tâu việc này trước cho thì xong.
Thạch
Hậu được lời rất mừng về tâu lại với Chu Hu. Chu Hu mừng lắm liền sắm
sửa lễ vật cùng Thạch Hậu sang Trần. Khi đến nước Trần được lịnh cho
rước vào, vừa mới vào đến triều chưa kịp nói lời nào hết, bị kẻ tả hữu
xông vào bắt trói quách rồi xô xuống đất.
Trần Hầu
liền đưa bức mật thư của Thạch Thác, dặn nhờ bắt giùm hai tên phản tặc
cho Chu Hu và Thạch Hậu thấy. Hai người chỉ kêu trời không biết nói gì
được nữa.
Trần Hầu
sai đem Thạch Hậu nhốt ở Trần Đô, còn Chu Hu nhốt nơi Bộc Ấp cho hai
người không còn liên lạc nhau, rồi sai người báo tin cho Thạch Thác
hay.
Thạch
Thác từ khi từ quan về nhà luôn không hề đi đâu nữa, nay hay tin Trần
Hầu đã bắt giùm hai tên phản tặc, liền vội vã vào triều hội bá quan
nghị bàn.
Lúc đó
bá quan đủ mặt, Thạch Thác liền lấy thư của Trần Hầu đọc cho mọi người
nghe.
Nghe
xong các quan đều nói: đây là việc lớn của nước nhà, chúng tôi mong
cậy vào ý kiến của người cả.
Thạch
Thác nói:
- Hai
đứa phản loạn này không thể dung tha tội đáng chém đầu, vậy ai có thể
qua Trần hành quyết việc này?
Quan
Thái tể Xú bước ra xin lãnh lịnh đi các quan triều đồng thanh xin giao
cho Thái tể, nhưng xin chém đầu Chu Hu còn Thạch Hậu là kẻ a tòng xin
châm chế.
Thạch
Thác nổi giận hét to lên:
- Thạch
Hậu con ở gia đình ngỗ nghịch tôi làm cha bất lực, còn đối với nước nó
là tên phản loạn. Chính vì nó mà Chu Hu phản nghịch nay mà tha Thạch
Hậu là tôi có tình riêng nhỏ mà bỏ việc lớn sao? Tôi phải thân hành
đến đó để chém đứa con ngỗ nghịch loạn thần ấy mà chuộc tội cho gia
đình họ Thạch.
Nhụ
Dương Kiên nói:
- Xin
lão quan chớ giận, để tôi đi thay cho. Thạch Thác liền sai Thái tể
sang Bộc Ấp chém Chu Hu, còn Nhụ Dương Kiên đến Trần Đô chém đầu Thạch
Hầu.
Lại sai
đem xe giá qua nước Hình rước công tử Tấn về lên ngôi.
Thái tể
và Nhụ Dương Kiên qua đến ra mắt Trần Hầu rồi Thái tể thẳng đến Bộc
Ấp, Chu Hu xem thấy mừng rỡ nói:
- Ngươi
đến để cứu ta.
Thái tể
cười nói:
- Vâng,
ta đến để cứu ngươi bỏ xác thân đê hèn xấu hổ đó đi!
Chu Hu
lớn tiếng:
- Ngươi
là bề tôi của ta sao dám phạm đến ta?
Thái tể
nói:
- Nước
Vệ đã có người làm tôi mà giết vua, nay ta làm theo.
Nói rồi
vung gươm chém đầu.
Còn Nhụ
Dương Kiên đến Trần Đô lôi Thạch Hậu ra, Thạch Hậu nói:
- Ngươi
muốn chém ta phải có lịnh của cha ta.
Nhụ
Dương Kiên nói:
- Vâng!
Ta không dám cãi ngươi, ta lãnh lịnh của cha ngươi đến chém ngươi đây.
Nói xong
chém liền.
Luận
Thạch
Thác đã tròn bổn phận làm cha trong sự nuôi con, không làm tròn bổn
phận dạy con, nhưng cũng dùng hai pháp trị đầy đủ. Trị được là trị,
trị không được phải giết để cứu nước không vì việc nhỏ mà bỏ việc lớn
được.
Đức Phật
đã dạy đệ tử:
- “Ví
như người tập ngựa ban đầu lấy nhu mà tập vỗ vềø vuốt ve cho nó nghe
theo để kéo xe; như nó không nghe phải dùng cương mà trị, dùng roi
đánh đập cho nó sợ mà nghe theo“.
Có vị Tỳ
Kheo hỏi:
- Nếu
như dùng nhu và cương mà nó không nghe theo thì sao?
Người
nuôi ngựa kia dùng nhu, cương mà trị không được thì họ sẽ giết đi để
bán thịt.
Phật lấy
luật mà dạy Tỳ Kheo cũng thế dùng nhu, cương mà trị không được thì
cũng giết đi.
Tỳ Kheo
nói : Phật là từ bi mà giết người sao?
Phật
dạy:
- Ta
không giết nhưng người ấy dạy không được, thì người ấy không còn sống
trong Phật pháp nữa, họ còn sống mà tâm hồn đã chết rồi vậy.
Còn
Thạch Thác đã làm tròn bổn phận làm cha, là nuôi con và dạy, nay dạy
không được thì cũng không giết con, nhưng giết tên phản thần để cứu
nước vậy.
Đây là
theo luật quân bình phải xem thế nào là trọng thế nào là khinh, lẽ tất
nhiên phải vì quốc dân mà xử không thiên vị được.
Việc
công trước là vậy.
Nước Tề
ỷ mạnh đem quân đánh Lỗ khi đến ranh giới hai nước, trông thấy người
đàn bà tay bồng một đứa bé tay dắt một đứa bé, thấy quân Tề đến liền
bỏ đứa bé trên tay xuống mà bồng đứa bé kia chạy trốn, đứa bé bị bỏ
lại la khóc mà cũng không ngoảnh lại.
Tướng Tề
thấy lạ truyền quân bắt cho được người đàn bà đến hỏi. Người đàn bà ấy
đáp:
- Đứa bé
tôi bồng đi là cháu còn đứa bé tôi bỏ lại là con, lo cho con là việc
tư, lo cho cháu là việc công, nên tôi phải hy sinh việc tư mà lo cho
việc công vậy.
Tướng Tề
nghe nói liền lấy vàng bạc cho người đàn bà rồi cho đi, dừng binh lại
cho người về tâu với vua Tề rằng: Nước Lỗ chưa đánh được vì một người
đàn bà mà biết lo việc công như vậy thì cả nước quan dân như vậy ta
làm sao đánh được.
Vua Tề
cho là phải, truyền lịnh rút quân.
Sau vua
Lỗ hay được việc đó, liền sai người đem thưởng cho người đàn bà hai
trăm tấm lụa và phong cho hai chữ: “Nghĩa cô“(1).
Thạch
Thác giết con không đau khổ bằng người đàn bà kia bỏ đứa con thương
mến vô tội thật lấy làm cảm động, nhưng vì việc công mà hy sinh. Còn
Thạch Thác giết con là nên giết cho nó không còn gây thêm tội ác nữa,
tức nhiên vớt vát cho phần nào về tội lỗi, mà cứu được nước khỏi lầm
than uất hận.
Thạch
Thác giết con là làm tròn bổn phận làm cha đúng bậc hiền nhân vậy.
PHẬT TỬ
MINH CƯƠNG
Năm
1962, tôi(1) đi
làm Phật sự tại chùa Hương Sa Đéc, chùa nằm tại phía Tây thành phố.
Hòa thượng trụ trì có kể cho tôi nghe, một Phật tử pháp danh Minh
Cương đã làm tròn bổn phận làm cha:
Minh
Cương vợ chết sớm để lại ba con một gái lớn và hai trai, nhà nghèo
Minh Cương làm nghề thợ mộc nuôi con; mặc dầu mới tuổi ba mươi còn
nhiều nơi quyến rũ về tình duyên, nhưng vì sợ cảnh mẹ gà con vịt, và
chấp nhận nối duyên thừa thì cha con không còn trọn vẹn.
Nhờ vậy
mà cha con cùng sống trong cảnh gia đình được bù trả lại là “Phụ từ tử
hiếu“. Con gái của Minh Cương nhờ cha nuôi cho ăn học sau làm mụ trong
nhà bảo sanh được bao nhiêu lương đều đem về cho cha. Đã nhiều nơi dạm
hỏi mà cô chưa chịu.
Cô nói:
- Mẹ tôi
chết sớm, cha tôi phải cực khổ nuôi chị em tôi nay vừa làm nên, hai em
còn ăn học, như tôi lấy chồng làm sao phụ với cha lo cho em tôi. Vả
lại cha tôi đã cực khổ với chị em tôi nhiều rồi, nay tuổi đã lớn sức
yếu, tôi còn bổn phận lo cho em chưa lấy chồng được.
Mãi đến
khi hai em đỗ đạt ra dạy học có lương bổng rồi cô ấy mới chịu lấy
chồng.
Làm tròn
bổn phận làm cha mà gia đình đầy đủ hạnh phúc an vui, hạnh phúc này
ảnh hưởng cho xã hội và quốc gia rất lớn vậy.
Bổn phận
làm cha phải nuôi con, đó là quyết định dù nghèo nàn cũng phải ra sức
làm để nuôi con, cho con ăn học đừng để dốt nát; nuôi con mà để cho
con dốt nát, đó là nuôi kẻ gian tà không nữa thì cũng một đứa sau nầy
hư cả đời con cháu tương lai đen tối.
Bỏ cho
đàn con dại, dốt nát sống nheo nhốt trên đời, không khác nào lùa đàn
cừu non vào rừng hoang làm mồi cho thú dữ.
Chẳng
những nuôi con cho con ăn học mà còn phải dành dụm chút ít để lo đôi
lứa cho con, cũng không được giành trọn quyền trong việc hôn nhân của
con mà phải cho con chút quyền chọn lựa, nhưng không phải bỏ mặc, mà
người cha phải cân nhắc chỉ dạy cho con, để cho con suy xét và chọn
lựa cho vừa ý.
Vì đó là
trước tiên của con người, hôn nhân tốt đẹp rồi mới đến quốc gia xã hội
Nếu như
của cải sự nghiệp nhiều phải tương phân cho phân minh tránh sự tranh
giành về sau. Điều quan trọng là cha phải gương mẫu cho con, nên lấy
ân đức để lại cho con, đừng quá khổ thân mà để của cải cho con, đó chỉ
là chuốc lấy sự tranh đoạt về sau.
Theo Nho
đã dạy:
“Tích
kim lưu ủ tử tôn, tử tôn vị tất năng thủ.
Tích thơ
lưu ủ tử tôn, tử tôn vị tất năng đọc.
Tích âm
đức lưu ủ tử tôn trường cửu chi kế“.
Nghĩa
là:
Chứa
vàng để cho con cháu, con cháu chưa ắt giữ đặng.
Chứa
sách để cho con cháu, con cháu chưa ắt đã đọc.
Chỉ có
chứa âm đức cho con cháu là kế lâu dài.
Loài
chim kể cả loài sanh vật,sanh con sanh trứng ấp ủ nuôi nấng, đến khi
con biết chạy, biết bay mà vẫn theo mớm mồi cho con.
Làm cha
theo luật xử thế không phải khắt khe hay là ai bắt buộc, mà đó là chỉ
theo đà cán cân quân bình của luật thiên nhiên phải làm tròn để rồi
hưởng quyền làm cha. Và nên bậc hiền nhân.
Khuyên
chớ xem thường bổn phận cha
Xem kìa
mặt nhựt chuyển không qua
Quét tan
sương tuyết nên quang lộ
Sưởi ấm
thôn quê nổi tiếng nhà
Hổ phụ
tương sanh tài hổ tử
Long
Tông truyền nối bổn long nha
Làm cha
đâu dễ ngồi an hưởng
Trọng
trách nặng nề cả quốc gia.
4. BỔN PHẬN CON ĐỐI VỚI CHA
Ta!
Mỗi người mở mắt chào đời, không cha nhờ ai cơm ăn áo mặc, không mẹ ai
săn sóc chăm nom. Không nương gá nhờ cha mẹ để sanh làm người tu tiến,
thì suốt ngàn đời chỉ làm ma trơi quỷ cỏ, từ xưa đến nay không bao giờ
hồn ma mà tu nên đạo bao giờ. Chỉ có con người bằng xác thịt để tu học
trên đường đời này vậy.
Chúng ta
có thể chia ra hai thời gian, thời thơ ấu cha mẹ nuôi ta, ta hưởng ân
huệ làm con; thời lớn khôn ta phải lãnh lấy bổn phận làm con.
Có lắm
người suốt đời hưởng ân huệ của cha để lại, không có một chút gì để
đền bù lại cả. Từ khi mở mắt chào đời đã sống trong nhung lụa, cao
lương mỹ vị sung sướng đầy đủ, lớn lên sẳn tiền của mà ăn chơi suốt
đời không hết. Có công gì đâu mà gọi là hiếu, hay hoàn cảnh nhưng vậy
không làm gì hơn, chỉ có nhà nghèo mới biết con thảo hay sao?
Không!
Hiền nhân không nhận điều đó, nhà nghèo mới hay con thảo là về vật
chất, đó chỉ là mới được nữa phần thôi, hay đó chỉ là phần phụ; mà còn
hiếu thảo về phần tinh thần đạo đức nữa, lấy lẻ phải làm người hiền
nhân quân tử đối với quốc dân cho vui lòng cha mẹ hiếu thảo đó mới là
theo luật quân bình cho xã hội, tuy hiếu thảo mà không hạn cuộc cá
nhân gia đình.
Ai bảo
là đặng hiếu mất trung, hay đặng trung mất hiếu mà ở cảnh nào ta cũng
tùy nghi tròn trung tròn hiếu. Hay hơn nữa là ta hãy giải quyết mau
rằng: Trong trung có hiếu, trong hiếu có trung.
HIẾU TỬ
VÀ TRUNG THẦN
Vương
Dương làm quan Thứ sử, lúc đi kinh lược ở Hàng Châu khi sắp qua con
đường nguy hiểm cheo leo bèn than rằng:
- Thân
ta là thân của cha mẹ ta, ta nỡ nào xông pha vào chỗ nguy hiểm đến
tính mạng này!
Bèn trở
về nhà rồi cáo bệnh từ quan.
Vương
Tôn đến thay Vương Dương, khi đi kinh lược đến con đường đó hỏi nha
lại rằng:
- Có
phải con đường này mà quan Thứ sử trước không dám đi không?
Nha lại
thưa: Phải.
Vương
Tôn quát lên bảo cứ đi mà nói rằng:
- Vương
Dương trước là hiếu tử, còn Vương Tôn này là trung thần vậy.
Luận
Tại sao
phân tách ra trung thần và hiếu tử riêng, và nếu phân tách riêng thì
không phải là luật quân bình xử thế của hiền nhân.
Từ xưa
đến nay không biết bao nhiêu người, hể đặng trung là tròn hiếu, và vì
hiếu trọn trung; ngược lại mất trung là mất hiếu, mất hiếu là mất
trung.
Như
trường hợp trên là sao?
Đó là
chủ trương cá nhân của hai người đó thôi, ta thử bàn:
Con
đường của hai vị quan đó đi, một trở về một đi là con đường nguy hiểm
gì? Hầm hố hay giặc cướp? Như hầm hố thì sao ta không bắt chước Ngu
Công? Ngu Công san bằng cả hai ngọn núi lớn là việc khó lâu dài, còn
việc san bằng con đường mà dân cả xứ Hàng Châu ra làm, thì há đi chẳng
an toàn mà đặng tròn trung tròn hiếu sao?
Còn như
đường có giặc cướp thì không thể họp quân binh cả tỉnh để tảo trừ được
sao?
Có làm
được như vậy ta vẫn giữ được cả trung hiếu hơn nữa nếu ta làm được
trung là sự hiển vinh cho cha mẹ và hiếu là phải làm việc trung ấy mới
nên hiền nhân.
Bổn phận
làm con phải nuôi dưỡng cha mẹ, sớm thăm tối viếng, phải làm vui lòng
cha mẹ, phải làm việc phải với quốc dân xã hội để tiếng cho cha mẹ.
Cha mẹ có làm điều gì sái quấy làm con phải can ngăn, can trực tiếp
không được thì phải can gián tiếp, nhờ người can cho cha mẹ bỏ tà về
chánh.
Theo Nho
dạy: Con chí hiếu can không đặng phải nghe theo cha.
“ Can
bất đắc nhi tùng chi “.
Cứ lấy
lý trí mà xét làm như vậy không ổn và như vậy chỉ xử sự gia đình không
phải xử thế. Nếu can không đặng để mình cha làm ác hại còn ít, nếu a
tùng làm theo cha là ác lớn tài trời. Hơn nữa nếu để cha làm ác thì
quả ác sẽ đến cha chịu khổ, can được cha là đỡ khổ cho cha, không a
tùng làm ác theo cha để cho cha nhẹ khổ. Chi bằng can không đặng thì
tránh đi tìm phương cứu vãng hoặc chuộc tội còn hơn.
ĐIỀN VĂN
CAN CHA
Điền
Văn là con của Điền Anh, ít tuổi mà rất khôn ngoan, thấy cha làm quan
hay vụ lợi riêng, một hôm nhàn rỗi hỏi cha rằng:
- Con
của con cha gọi là gì?
- Gọi là
cháu.
- Cháu
của đứa cháu gọi là gì?
- Gọi là
chít.
- Con
của chít gọi là gì?
Điền Anh
nói:
- Ai còn
biết gọi là gì cho được?
Điền Văn
nói:
- Cha
làm tướng nước Tề trải qua đến nay ba đời vua, giàu có hàng ức vạn mà
môn hạ không có người nào hiền tài cả. Con nghe nhà quan tướng võ tất
có quan tướng võ giỏi. Nay cha mặc áo gấm vóc mà người giỏi trong nước
vẫn đói khát. Cha quên việc công ích hiện đời của dân, của nước chỉ
chăm lo chứa của cải để dành sau nầy cho kẻ mà không biết gọi nó là
gì, không biết nó thiện hay ác, con trộm nghĩ như thế thật quái lạ lắm
…
Điền Anh
cho là phải.
Luận
Can
cha mà nói trúng chỗ, đôi khi cha cũng nghe theo, cha làm ác mà con
không can để cha gây tội lỗi là bất hiếu và a tùng theo là đại bất
hiếu sao nên người hiền được.
TĂNG SÂM
Tăng
Sâm là con chí hiếu, một hôm ra đồng làm ruộng với cha, gặp khi người
cha giận lấy hèo đánh Tăng Sâm chịu đòn đến chết giấc.
Lát sau
tỉnh dậy sợ cha buồn Sâm lại cào chân cha và hát xem như không có gì.
Nhưng
sau Khổng Tử nghe được quở rằng:
- Làm
như vậy là bất hiếu, khi cha nóng giận đánh đập thì phải chạy đi, nếu
để lỡ bị đánh chết làm cho cha mang tiếng bất nhân.
LÝ KÝ
Thời
Việt Vương có nàng con gái tên Lý Ký bán mình chuộc tội cho cha. Theo
tục lệ trong làng cứ mỗi năm phải nộp cho Thần Rắn một người, thì Thần
không làm tai hại. Lý Ký liền bán mình cho làng đem nạp cho Thần, để
lấy tiền chuộc tội cho cha. Nhưng sau Lý Ký mưu giết được rắn vua liền
nạp dụng nàng vào làm Hậu Phi. Tục gọi nàng Lý Ký là ả Lý trong truyện
Kiều có câu:
“Dâng
thơ đã thẹn nàng Oanh
Lại
thua ả Lý bán mình chuộc cha“.
Luận
Bổn phận
làm con chí hiếu là vậy, những sự hy sinh về hiếu thảo thường được quả
báo tốt hiện tại như Lý Ký từ một người dân hy sinh cứu cha liền được
quả báo tốt hiển vinh. Đọc đoạn nầy ta thấy rõ trong câu hiếu có
trung.
Làm con
dù ngèo khổ cũng phải làm thuê làm mướn để lấy tiền về nuôi cha mẹ.
Cho đến khi cha mẹ khuất bóng Tử Lộ vẫn còn than tiếc:
“Mộc
dục tịnh nhi phong bất tức
Tử dục
dưỡng nhi phụ bất tồn“.
Nghĩa
là:
Cây muốn
đứng yên mà gió không ngừng
Con muốn
nuôi dưỡng mà cha mẹ không còn.
Có người
vì nhà nghèo túng thiếu nhưng lòng hiếu thảo phải tham lam trộm cắp để
nuôi cha mẹ, nhưng làm như vậy là bất hiếu vì làm mất thanh danh của
cha mẹ.
Cho
nên dầu nghèo khổ thế nào, làm con phải làm thuê làm mướn để nuôi cha
mẹ nếu phải tạm quyền để cha mẹ no ấm mà không hại đến người khác thì
nên quyền biến không nên câu nệ, như Giới Tử Thôi :
GIỚI TỬ
THÔI
Giới
Tử Thôi phò công tử Trùng Nhĩ lánh nạn, nhiều nỗi gian lao khổ sở, khi
đói quá tìm không đâu ra món ăn, Tử Thôi tự lóc thịt bắp vế nấu cho
Trùng Nhĩ ăn khỏi chết đói. Đến khi về nước, Trùng Nhĩ lên ngôi lấy
hiệu là Tấn Văn Công.
Tấn Văn
Công lên ngôi rồi phong quan cho tất cả những người có công phò tá
mình nhưng lại quên Tử Thôi không nói tới. Mẹ của Tử Thôi thấy lâu nay
mẹ con quá cực khổ đói khát nên khuyên Tử Thôi nhắc cho Tấn Văn Công
nhớ việc đó để hưởng chút bổng lộc.
Tử Thôi
lại khuyên mẹ thà chịu chết chứ không nhắc. Sau Văn Công nhớ đi tìm,
Tử Thôi cõng mẹ vào non Miêu Trước mà trốn. Tấn Văn Công tìm mãi mà
không được liền cho nổi lửa đốt non, định cho Tử Thôi thế nào cũng vì
hiếu mà cõng mẹ chạy ra. Không dè Tử Thôi với mẹ chịu chết cháy không
ra.
Văn Công
lấy làm hối hận thương tiếc, sai người cất miễu cắt đất phong thờ Giới
Tử Thôi.
Luận
Người ta
vẫn biết sự học để làm nên công nghiệp cho quốc dân, lấy tài thi thố
an bang cứu nước là sự nghiệp chính và chán ghét hư danh học để lấy
bằng cấp ngồi lúc lắc ăn lương. Nhưng vì lòng hiếu thảo cũng tạm làm
để lấy tiền nuôi cha mẹ thay. Huống gì Giới Tử Thôi quá câu nệ đành để
cho mẹ già đau khổ suốt đời. Nếu làm việc phi nhân đạo hại dân bán
nước để nuôi cha mẹ điều đó thật không thể được. Còn Tử Thôi sau khi
Tấn Văn Công hối lỗi tìm kiếm cho ra mặt làm quan thì cũng vẹn cả ba
bề:
1) Không
ai dị nghị vì Văn Công hối lỗi không phải Tử Thôi van cầu.
2) Tử
Thôi ra mặt làm cho vua vui mừng.
3) Mẹ
của Tử Thôi được no ấm lúc tuổi già đâu để chịu chết thảm thiết như
vậy.
Tử Thôi
ra mắt là tròn trung tròn hiếu; quá hờn dỗi vì lòng tự ái chịu chết là
bất hiếu thiếu trung vậy.
Việc của
Tử Thôi là để nói với người không có công mà mạo xưng để được địa vị,
xem đó là thẹn, không phải là việc hiếu trung.
Hiếu
hạnh sẽ cảm hóa được người và làm nên được danh phận, lợi ích cho xã
hội, hiếu hạnh cảm động đến trời, thần khâm, qủy phục. Người có hiếu
hạnh là người đáng tin dùng cho quốc dân xã hội. Ta không thể tin
rằng: người bất hiếu mà làm nên được việc bao giờ. Người trí không bao
giờ đem việc lớn mà giao cho người bất hiếu.
ÔNG
THUẤN
Ông
Thuấn họ Ngu tên Đô Quân ở đất Diên Khư, mẹ mất sớm, cha là Cổ Tẩu
tánh tình hung bạo, lại cưới vợ khác có con tên là Tượng. Cha mê vợ lẽ
thương con lẽ, nghe lời dèm xiểm mà ghét con ruột, dì ghẻ ghét con
chồng, em khác mẹ không thương anh, bao nhiêu sự ghét trên đời nầy đều
đổ dồn ông Thuấn, lại còn âm mưu giết hại nữa.
Có lần
Cổ Tẩu sai Thuấn lợp lẫm lúa, Thuấn lên cao, ở dưới đất rút thang đốt
lẫm, nhờ có nón lớn bọc gió Thuấn nhảy xuống an toàn.
Lần khác
Cổ Tẩu sai đào giếng, khi đào xuống sâu rồi cùng Tượng là em khác mẹ
với Thuấn lấp giếng. Thuấn cứ sợ trước nên đào hang núp khỏi chết và
lên được.
Đất Hàm
Tân có nhiều thú dữ, Cổ Tẩu sai Thuấn đến đó làm đồ gốm cho thú dữ ăn
đi. Thuấn đến làm đồ gốm, hầm đồ không móp méo. Thú dữ hóa ra hiền như
cừu dê.
Người ta
nói:
“Hiếu
chí ư địa vạn vật hóa thành“.
Nghĩa
là:
Hiếu
cảm điển xứ sở muôn vật đều tốt.
Đàm Lôi
Trạch là nơi sóng dữ không ai dám đến, Cổ Tẩu sai Thuấn đến chài cá.
Thuấn đến đó liền sóng lặng gió êm.
Người ta
nói:
“Hiếu
chí ư thiên phong điều võ thuận“.
Nghĩa
là:
Hiếu
cảm lòng trời mưa hòa gió thuận.
Sau Cổ
Tẩu sai ông Thuấn cày ruộng ở Lịch Sơn, buộc ba làm ngày không xong có
tội. Thuấn đến nhìn thửa ruộng mênh mông ba ngày không sao làm kịp,
rồi bèn ngước mặt mà khóc. Cảm động, voi ra cày ruộng, chim xuống nhổ
cỏ.
Dù sống
trong gia đình tàn nhẫn như thế mà không khi nàobuồn than, Thuấn lại
thường cầu nguyện cho cha mẹ ghẻ và em được bình an. Lòng chí hiếu
tiếng đồn khắp thiên hạ, vua Nghiêu hay được liền rước Thuấn về và gả
hết hai người con gái là Nga Hoàng và Nữ Anh, lại giao chín con trai
cho Thuấn dạy dỗ. Sau vua Nghiêu truyền ngôi cho Thuấn.
Người ta
cho rằng:
“Hiếu
chí ư nhơn chúng phúc hàng trăn“.
Hiếu cảm
lòng người muôn phúc đều về.
Từ xưa
đến nay, chữ hiếu được đứng hàng đầu trong trăm kinh ngàn sách (Thiên
kinh vạn quyển hiếu nghĩa vi tiên).
Hiếu
hạnh thành đạo như Mục Kiều Liên
Hiếu
hạnh làm nên nghiệp lớn như vua Thuấn
Hiếu
hạnh dạy đạo, Khổng Tử là bậc thánh.
Hiếu
hạnh nên danh như Tử Lộ
Hiếu
hạnh rạng tiếng như Mạnh Tử.
Hạnh
phúc và xây dựng cho gia đình, quốc gia xã hội chỉ có hạnh hiếu làm
nên.
Hiếu
là thánh đức đạo tình ba
Sáng
tợ ngọc châu nổi tiếng nhà.
Trăm
hạnh con người trên hiếu thảo
Bốn
mùa thế giới thủ xuân hoa
Tề
gia chẳng trọn đời vô dụng
Hiếu
đạo không rồi thế bất hòa
Hiếu cả
qủy thần đều cảm phục
Trị
bình thiên hạ hiếu tề gia.
5. BỔN PHẬN MẸ ĐỐI VỚI CON
Làm
cha nuôi con lo bên ngoài, còn mẹ nuôi con bên trong gần gũi không xa
rời gang tấc. Làm cha dạy con khi khôn lớn, làm mẹ dạy con thuở ấu
thơ. Bổn phận mẹ nuôi con rất quan trọng về vật chất thể xác, thân thể
của con; nếu không cẩn thận cho con nhiều khi để bệnh tật xâm nhập đứa
con còn non nớt, tai hại đứa trẻ lớn lên sẽ chịu suốt đời. Nuôi con
cần cho con có một xác thân tráng kiện là điều tiên quyết cho đời đứa
con, cho một đời người, vì “Một tinh thần minh mẫn trong thể xác tráng
kiện“ vậy.
Khi con
lên ba người mẹ bắt đầu gây cho con ăn sâu vào tâm não tư tưởng đức
tánh tốt. Làm mẹ mà không cẩn thận để cho con quen miệng hổn và những
tật xấu ban đầu thì sau nầy muốn sửa lại không dễ dàng được. Đứa bé
mới lớn lên tâm hồn còn trong trắng.
Nho nói:
“Nhơn
chi sơ tánh bổn thiện, tánh tương cận tập tương viễn, cẩu bất giáo
tánh nãi thiên“.
Nghĩa
là:
Con
người ban sơ tánh vốn lành; do tánh gần tập quen lần xa sự lành, bỏ
không dạy tánh bèn dời.
Phật
dạy:
“Nhơn
chi sơ tánh vô ký“.
Nghĩa
là:
Người
ban sơ tánh không nhứt định thiện hay ác, tánh vốn không thiện ác, do
tập quen thành thiện hay ác.
Tâm hồn
trẻ thơ trong trắng như tờ giấy trắng, rồi lần lần nhuộm tô màu vàng,
đen, trắng, đỏ. Quan trọng thay cho sự nuôi dạy con lúc ban sơ làm mẹ
không thể hời hợt được. Đa số người hầu hết cưng con lúc tuổi còn non
nớt, mà làm hư cả đời người con, thật là quan trọng bổn phận làm mẹ
phải chú ý.
MẠNH MẪU
DẠY CON
Thuở
Mạnh Tử lên năm Mạnh Mẫu nhà ở chung xóm làng làm heo. Thường thấy làm
heo, Mạnh Tử cũng bắt chước lấy khúc chuối giả làm heo mổ xẻ chơi.
Thấy vậy Mạnh Mẫu liền dời đi nơi khác, lại đến xóm làm đồ gốm Mạnh Tử
cũng bắt chước lấy đất nặn làm nồi niêu chơi. Mạnh Mẫu nghĩ nghề nầy
không phải là nghề của con ta liền dời nhà đến gần trường học. Bây giờ
Mạnh Tử cũng lấy lá làm giấy, lấy cây làm viết giả đi học và lớn lên
đúng tuổi vào trường học, nhưng một hôm ham chơi bỏ học về nhà. Thấy
vậy Mạnh Mẫu đang dệt vải liền lấy dao cắt ngang tấm vải đứt lìa ra,
rồi kêu Mạnh Tử mà mắng rằng:
- Mầy
ham chơi bỏ học như tấm vải kia dệt chưa rồi bị cắt, thử còn xài vào
đâu được nữa?
Hiểu
được ý mẹ từ đó Mạnh Tử bắt đầu siêng học.
Mạnh Tử
mà làm nên được là nhờ người mẹ khéo dạy con, giá như bỏ liều thì sau
nầy Mạnh Tử không làm hàng heo thì cũng là nghề gốm mà thôi. Nho đã
nói:
“Tích
Mạnh Mẫu trạch lân xử
Tử bất
học đoạn cơ tử“.
Nghĩa là
:
Xưa Mạnh
Mẫu chọn xóm ở
Con
không học đoạn khung cửi.
Làm mẹ
phải trút hết tình thương cho con, nhưng chẳng may chồng chết trước,
người mẹ phải thay chồng dạy con dầu nặng nề cũng phải làm tròn bổn
phận. Không ai thương con bằng mẹ thương con.
“Không
gì ngon hơn cơm với cá
Không ai
thương bằng má với con“.
Làm mẹ
sau khi chồng chết lại tái giá thì luật xử thế không khắt khe gì điều
đó, nếu người đó vẫn giữ được tròn bổn phận làm mẹ. Nhưng ít có hay
không có bao giờ người đàn bà tái giá mà làm bổn phận làm mẹ đối với
con bởi tình mẹ thương con đã bị sứt mẻ, không còn thâm sâu nữa. Người
ta nói mẹ gà con vịt vì cha vịt không bao giờ nuôi con gà.
Điều
quan trọng hơn cả là bổn phận mẹ dạy con gái và dạy không bằng gương
mẫu cho con học theo.
Đời nay
chủ trương nam nữ bình quyền, nhưng thời xưa đã có những bậc nữ anh
hùng đã đuổi giặc cứu nước. Bình quyền là vậy còn phần tứ đức của
người đàn bà nào ai bỏ được, điều đó bổn phận làm mẹ phải có đủ để rồi
dạy con gái.
“Tại gia
tùng phụ “.
Nghĩa
là:
Ở tại
nhà phải nghe lời cha.
“Xuất
giá tùng phu“.
Nghĩa
là:
Có
chồng thì theo chồng.
“Phu
tử tùng tử“.
Nghĩa
là:
Chồng
chết phải nương náu theo con.
Đó gọi
là: “Tam tùng“.
Tứ đức
là: công, dung, ngôn và hạnh.
Nghĩa
là:
Công là:
nội công của người đàn bà lo việc trong nhà.
Dung là:
dung nhi cử chỉ, ăn mặc nghiêm nghị.
Ngôn là:
lời nói ôn hòa dịu dàng chân thật.
Hạnh là:
đức hạnh hiếu từ, trinh liệt, hiền lương.
Đó là
những điều mà bổn phận làm mẹ tự mình phải làm và dạy cho con gái.
Trong
gia đình người chồng, người cha có tài làm nên sự nghiệp lớn nhưng vợ
con hư hèn thì chí lớn không thành đạt. Trong gia đình vợ con nghiêm
nghị, trinh liệt, hiền ngoan là một điều khích lệ cho nam nhi bước lên
danh phận.
Bổn phận
làm mẹ quan trọng thế, há chẳng thận trọng sao? Dạy con gái cho nên để
sau nầy đảm đang trong gia đình, để cho người trượng phu vững chí mà
làm nên trong thiên hạ, thật là bổn phận làm mẹ nặng nề, có trách
nhiệm với xã hội mà ngày nay người ta đánh giá được đưa lên hàng đầu
là bà mẹ hiền Việt Nam.
Mênh
mông bể cả rộng bao la
Lòng mẹ
thương con trọng quá đa
Bé bổng
con con con của mẹ
Lớn lao
trọng trọng trọng cho nhà
Nam nhi
chí cả con liệt phụ
Phụ nữ
lòng hiền mẹ quốc gia
Còn thuở
nên ba thời mẹ dạy
Thành
nhân nhờ đó chấn thinh gia.
6. BỔN PHẬN CON ĐỐI VỚI MẸ
Bổn
phận làm con đối với cha cho trọn, thì là làm con đối với cha mẹ rồi,
nhưng phần lớn là như vậy, còn phần tiểu tiết có nhiều khía cạnh khác.
Cha
thương con tuy cũng tha thiết, nhưng lòng khẳng khái không trìu mến
bằng mẹ. Mẹ thương con thật là đậm đà, không nỡ xa lìa trong giây lát.
Vì vậy mà con đối với mẹ dù lập công danh cũng không nỡ xa mẹ, trừ ra
trường hợp bất đắc dĩ mới xa lìa. Dầu có xa lìa cũng phải luôn luôn
liên lạc thư từ để an ủi thăm non cho mẹ yên lòng.
Người mẹ
hay lo sợ hơn người cha, nên bổn phận làm con phải làm cho mẹ an tâm.
MẸ SỢ
SÉT
V
ương
Thôi người thời Tam Quốc, cha làm quan nhà Ngụy, sau bị Tây Tấn diệt
Ngụy, cha cũng bị giết. Vương Thôi đau xót thường phục bên mộ cha mà
khóc mãi. Tương truyền nước mắt Vương Thôi chảy quá nhiều làm cho cây
Trắc bên mộ khô tươi trở lại. Vương Thôi suốt đời không bao giờ day
mặt về phía Tây vì thương mà tỏ lòng không phục nhà Tây Tấn. Mẹ Vương
Thôi lúc sinh thời hay sợ sấm, sau khi mẹ mất rồi, mỗi lần mưa mây sấm
sét ông chạy ra mồ mà khóc lên tiếng rằng: Thưa mẹ có con đây.
Mẹ hiền
sợ tiếng sấm
Hồn dầu
về suối vàng
Khi nghe
tiếng sấm động
Đến
mồ mẹ bao che.
Luận
Lòng
hiếu thảo của Vương Thôi đến khi mẹ chết mà còn tưởng như sống bao giờ
quên. Nhờ vậy mà thiên hạ đều kính mến, cho đến nhà Tây Tấn là kẻ thù
với Thôi mà vẫn bỏ thù cầu Thôi làm quan, nhưng Thôi một mặt từ chối,
Tây Tấn cũng không khiển trách vì Vương Thôi là người cả quốc dân đều
kính mến.
Vương
Thôi không ra làm quan cho Tây Tấn, là trung với Ngụy hiếu với cha mẹ,
thật là tròn bổn phận làm con vậy; ở gia đình tròn hiếu, ngoài quốc
dân cảm mến, thật có một chữ hiếu mà xử thế tròn đủ đáng là hiền nhân
vậy.
TRÁI XANH
MÌNH ĂN TRÁI CHÍN ĐỂ MẸ
Thái
Thuận đời nhà Hán, mồ côi cha từ thuở nhỏ, nhà rất nghèo. Thái Thuận
hết lòng thờ mẹ, gặp năm thất mùa loạn lạc đói kém, Thái Thuận vào
rừng tìm trái cây, trái nào chín bỏ qua một bên, trái nào xanh để qua
một bên. Tướng giặc là Xích My xem thấy hỏi để riêng chi vậy?
Thái
Thuận đáp:
- Trái
nào chín ngọt để dành mẹ tôi, trái nào xanh chua là của tôi.
Xích My
khen Thái Thuận là người con có hiếu liền truyền quân cho một thúng
gạo và một đùi thịt.
Qủa
chín dành cho mẹ
Bụng
đói nước mắt thâm bâu
Xích
My ngợi khen đại hiếu
Tặng cho
gạo thịt ơn sâu.
Luận
Giặc đói
thịt gạo qúy hơn vàng bạc, mà còn cảm phục người hiếu thảo đem cho
không tiếc. Kinh sách nói: Hiếu thảo vi tiên là phải.
Hiếu
hạnh sẽ làm nên tất cả mọi việc cho xã hội. Hiếu hạnh là nguồn gốc làm
nên hiền nhân.
Phần
phụ:
BỔN PHẬN
CON RỂ VÀ CHA MẸ VỢ ĐỐI VỚI NHAU
Đã
tròn bổn phận đối với cha mẹ ruột thì lấy đó mà
đối với cha mẹ vợ.
Đã tròn
bổn phận làm cha mẹ thì lấy đó mà đối với con rể.
Nhưng
cũng phải tùy theo hoàn cảnh mà có khác: Cha mẹ vợ chỉ có sanh một gái
thì đối với rể như là đối với con ruột, vì còn ai nữa đâu. Con rể mà
đối cha mẹ vợ chỉ sanh có một vợ mình thì bổn phận rể đối với cha mẹ
vợ như cha mẹ ruột vì còn ai vô lo cho nữa đâu.
Thông
thường cha mẹ vợ có con đông thì phần con rể là phần phụ, nhưng chồng
cũng phải cho vợ trợ lo cho tương xứng.
Đại khái
là vậy còn phần tiểu tiết thì tuỳ theo hoàn cảnh mà xử sự với nhau cho
quân bình, trong trăm hạnh mà xử đặng tròn thì tiên vi hiếu thứ vi dân
là cao đẹp nhất.
Vẫn một
vài cố sự về hoàn cảnh cha vợ chàng rể, rồi sẽ mượn đó mà luận ra.
UNG CỦ VÀ
TỀ TÚC
Vua
Trịnh Trang Công chết, con trưởng là công tử Hốt lên ngôi là Trịnh
Chiêu Công. Con thứ là công tử Đột sang quê mẹ về nước Tống, Tống
Trang Công có ý giúp công tử Đột về đoạt ngôi anh.
Trịnh
Chiêu Công hay được liền sai Tề Túc đi sứ sang Tống để dò xét tình
hình của công tử Đột.
Nhưng Tề
Túc qua Tống bị bắt giam buộc phải đem công tử Đột về nước làm vua, và
buộc Tề Túc phải gả con gái cho Ung Củ vì biết Ung Củ là người tâm
phúc của công tử Đột.
Buộc Tề
Túc phải cho người về Tề đem con gái qua Tống gả cho Ung Củ để làm con
tin và buộc ăn thề.
Tề Túc
kẹt trong thế bí và thấy cần giải quyết cho ổn thỏa, hai nước khỏi
giao tranh nên làm theo lời hứa.
Sau cuộc
đảo chánh Tề Túc đưa công tử Đột về làm vua tức là vua Trịnh Lệ Công,
nhưng Trịnh Lệ Công về giết anh làm vua lòng người không phục, Tề Túc
phải cầm quyền nhiếp chánh.
Trịnh Lệ
Công lên ngôi, Ung Củ làm đại thần theo phò. Một hôm trời mát Trịnh Lệ
Công dạo ở huê viên có Ung Củ theo phò. Thấy đàn chim bay ca hát véo
von, Trịnh Lệ Công mủi lòng than:
- Ôi!
Loài điểu thú còn vui hơn ta!
Ung Củ
nói:
- Trời
xuân muôn hoa tươi đẹp sao Chúa công lại buồn?
Trịnh Lệ
Công ứa nước mắt nói:
- Loài
chim được tự do không có ai áp chế, còn ta làm vua mà mất quyền không
bằng loài chim.
Ung Củ
nói:
- Tôi
thiết tưởng làm con, không giải được phiền não cho cha là bất hiếu,
làm tôi không giúp vua khỏi cơn hoạn nạn là bất trung. Nếu chúa công
tin dùng tôi, thì dầu việc khó khăn gì tôi cũng không từ chối.
Trịnh Lệ
Công đuổi hết kẻ tả hữu ra rồi hỏi:
- Ngươi
là rể của Tề Túc kia mà?
Ung Củ
đáp:
- Tuy là
rể thật, song tình cha con đâu bằng vua tôi, Tề Túc gả con cho tôi là
bị vua Tống bắt buộc chớ đâu phải ý muốn.
Trịnh
Lệï Công nói:
- Nếu
ngươi có cách gì giết đặng Tề Túc ta sẽ phong cho người làm Thượng
khanh.
Ung Củ
nói:
- Xứ
Đông Giao bị quân Tống cướp bóc, dân chúng khổ sở; chúa công nên sai
Tề Túc đến đó chiêu an, tôi là con rể lợi dụng việc đó mà làm tiệc
tiễn hành, bỏ thuốc độc mà giết Tề Túc là xong.
Trịnh Lệ
Công nói:
- Kế đó
rất hay nhưng phải cẩn thận lắm mới được.
Ung Củ
lãnh lịnh ra về lại nghĩ đến vợ Tế Thị lòng hơi lo sợ lộ ra vẻ mặt bất
bình tĩnh.
Tế Thị
thấy thế hỏi:
- Hôm
nay trong triều có việc gì quan trọng chăng?
Ung Củ
xoay mặt chỗ khác đáp:
- Không
có việc gì cả.
Tế Thị
không tin được lòng lại nghi thêm nhưng hỏi chồng không chịu nói, bèn
phục rượu cho Ung Củ uống say mèm, đợi Ung Củ say ngủ mơ màng, Tế Thị
kề miệng vô tai nói lớn rằng:
- Này,
chúa công sai mày giết Tề Túc mày quên rồi sao?
Đang say
ngủ mà nghe tiếng như vậy, Ung Củ vẫn nhắm mắt nói:
- Tôi
đâu dám quên.
Tế Thị
nghe vậy là rõ biết tâm trạng của chồng nên thất kinh, và tự nghĩ mà
khóc rằng:
- Có thể
vậy được sao? Hay say rồi nói sảng?
Sáng ra
Tế Thị nói:
- Tướng
quân định giết phụ thân tôi, việc ấy tôi đã biết.
Ung Củ
giật mình nhìn vợ nói:
- Ôi! Lạ
kìa! Ta khi nào dám làm như vậy, sao phu nhân lại nói thế?
Tế Thị
nói:
- Hôm
qua tướng công say rượu đã nói chuyện đó với thiếp rồi còn giấu gì
nữa?
Ung Củ
nhột mặt nói:
- Nếu có
như vậy phu nhân nghĩ sao?
Tế Thị
lòng ngao ngán nhưng giả vờ nói:
- Đã lấy
chồng thì phải theo chồng chớ còn biết cách nào.
Ung Củ
ngỡ thật bèn đem câu chuyện nói hết cho vợ nghe.
Tế Thị
nói:
- Phụ
thân của thiếp tánh cẩn thận không biết chịu đi không, vậy để thiếp
vào dò xem ý kiến thế nào.
Ung Củ
nói:
- Nếu
việc thành, tôi giữ chức Thượng khanh thì vợ chồng chung hưởng trọn
đời.
Tối hôm
đó Tế Thị vào tư dinh thăm mẹ nhưng hơi buồn bã và đem việc luân
thường hỏi:
- Chồng
với cha bên nào trọng?
Nghe
hỏi, Tề phu nhân hơi ngạc nhiên nói:
- Sao
con lại hỏi vậy? Chồng với cha bên nào chẳng trọng?
- Nhưng
giữa chồng với cha có điều tranh đoạt nhau thì trọng bên nào?
- Cha ân
cao vợ chồng nghĩa nặng, mất chồng có thể lấy chồng khác, còn cha mẹ
ân cao mất không tìm được.
Nghe vậy
Tế Thị ôm mẹ khóc và nói:
- Như
vậy con quyết vì cha không vì chồng.
Rồi đem
hết chuyện Ung Củ kể cho mẹ nghe.
Tề Túc
phu nhân nói:
- Việc
nầy kín miệng để mẹ tự lo.
Sáng hôm
sau Trịnh Lệ Công sai Tề Túc đến Đông Giao để ủy lạo dân chúng, còn
Ung Củ bày tiệc tiễn hành rất long trọng.
Tề Túc
về nhà lo hành trang rồi sai công tử Ất đem một trăm quân gác nơi quán
dịch, Ung Củ cũng dẫn quân hầu đến đó.
Tề Túc
nói:
- Ta vì
lịnh vua, ngươi bày tiễn đưa làm gì?
Ung Củ
nói:
- Nhân
nhạc phụ đi xa, cũng là ngày tiết xuân vui vẻ con dâng chén rượu, xin
nhạc phụ thương tình con rể.
Tề Túc
tay bưng ly rượu tay nắm Ung Củ cười nói:
- Đây là
ý của vua hay tình của con?
Ung Củ
thưa:
- Đây là
lòng của con mà cũng là ý của vua.
Tề Túc
hét to:
- Khốn
nạn! Đồ phản phúc dám hại ta như thế!
Ung Củ
sợ hãi kêu quân cầu cứu. Trịnh Lệ Công sai đoàn ngự lâm quân đến cứu
nhưng công tử Ất đánh chặn phải chạy về.
Tề Túc
sai chém đầu Ung Củ.
Trịnh Lệ
Công hay đặng sợ quá bèn trốn sang nước khác.
Luận
Vừa đọc
qua đoạn này thấy ngay là Ung Củ trung thần còn Tề Túc là loạn thần.
Nhưng xét lại Ung Củ tham danh mà bất nghĩa: dua nịnh theo Trịnh Lệ
Công là tham danh, mưu hại cha vợ là bất nghĩa. Vả lại mưu hại Tề Túc
không phải Trịnh Lệ Công đưa ra, nếu lịnh vua đưa ra mà Ung Củ làm
theo thì còn gọi chút là đặng trung mất nghĩa. Nhưng không phải thế,
Trịnh Lệ Công nếu chẳng thắng được Trịnh Trang Công thì vẫn là tên
phản thần Công tử Đột, nay đặng ngồi trên ngai vàng cũng vẫn mang danh
là tàn bạo giết anh cướp ngôi, đâu có đáng gì mà phải trung với bạo
chúa. Tề Túc nắm quyền là muốn cho phục lòng dân, vì người dân không
phục Trịnh Lệ Công, sự đó ai cũng thấy rõ. Vì vua mà giết anh cướp
ngôi, nếu mà trọn quyền độc tài thì sự tàn bạo càng hơn nữa.
Tuy Ung
Củ không làm được chưa á quyền nhưng ta thấy hắn là kẻ bất nghĩa, tham
danh thì sự gì làm được là hắn làm ngay.
Ung Củ
bất trung lại không làm tròn bổn phận con rể đối với cha vợ. Còn Tề
Túc đối với Ung Củ không có lỗi gì. vì nó là tên loạn thần không phải
là con rể nữa.
Ở trường
hợp này chỉ vì tham danh lợi mà xảy ra tất cả, chứ nhưng đứng vào hoàn
cảnh Ung Củ mà muốn xử sự cho tròn trung tròn hiếu không khó gì. Nếu
như vua mà có ý hại Tề Túc thì can không nên a dua theo thì làm gì có
như vậy; còn như Tề Túc có á quyền mà hại trung thần làm khổ nhân dân,
thì nên bàn cùng vợ là Tế Thị mà khuyên can cha vợ tưởng cũng không
khó.
Không
phải bàn suông việc của người ta mà đây là kinh nghiệm xưa mà liệu nay
vậy.
TRÒN
TRUNG HIẾU NGHĨA
Hoàng
Phủ Kính lãnh lịnh vua Nguyên đi dẹp giặc bị vây khốn, Lưu Tiệp tư
thông với giặc phao tin Hoàng Phủ Kính đầu giặc. Vua Nguyên ra lịnh
bắt hết họ Hoàng Phủ, Hoàng Phủ Thiếu Hoa con trai Hoàng Phủ Kính phải
trốn ở nhà bạn là Lưu Khuê Bích con của Lưu Tiệp. Khuê Bích mưu giết
Hoàng Phủ Thiếu Hoa, em khác mẹ của Khuê Bích là Lưu Yến Ngọc thấy anh
và cha làm việc gian ác, liền lén đến báo tin cho Hoàng Phủ Thiếu Hoa
nhờ đó trốn khỏi, thành ra hai bên có cảm tình với nhau.
Đến khi
Thiếu Hoa cải tên đổi dạng, thi trúng được lãnh lịnh vua Nguyên ra dẹp
giặc, bắt được thơ của Lưu Tiệp tư thông với giặc. Hoàng Phủ Kính liền
về trào minh oan. Vua Nguyên biết rõ được mưu gian bán nước của Lưu
Tiệp, liền bắt hết dòng họ Lưu hạ ngục chờ ngày xử quyết, còn Hoàng
Phủ Kính được phục chức, Hoàng Phủ Thiếu Hoa đặng thăng chức.
Khi đó
Lưu Yến Ngọc trốn khỏi, nhưng lòng thương cha nên trở về dâng thơ xin
thế mạng cha. Hoàng Phủ Thiếu Hoa đã có tình nghĩa với nhau, vì nhớ ơn
trước nhờ Lưu Yến Ngọc đã cứu sống và hai bên đã có tình nghĩa với
nhau. Nên tâu với vua Nguyên xin tha tội chết cho cha vợ, chỉ giết Lưu
Khuê Bích để răn chúng mà thôi. Hoàng Phủ Thiếu Hoa giữ tròn chung
thủy nên cưới Lưu Yến Ngọc làm vợ.
Luận
Tuy
Lưu Tiệp là thù của nhà họ Hoàng Phủ, nhưng Lưu Yến Ngọc là đại ân của
nhà họ Hoàng Phủ. Muốn báo ân sâu ấy Hoàng Phủ Thiếu Hoa khi chưa cưới
Lưu Yến Ngọc nhưng cũng đinh ninh sẽ cưới Yến Ngọc làm vợ. Đã là
thương vợ thì phải nghĩ đến bổn phận làm rể, thế nên đổi oán làm ân,
lấy ân trả oán cho tròn bổn phận rể con, nổi bật là hiền nhân.
7. BỔN PHẬN MẸ CHỒNG VÀ
NÀNG DÂU
Ở
trong gia đình, xưa nay mẹ chồng nàng dâu thường hay mâu thuẫn xung
đột nhau, hay xảy ra đổ vỡ gây chia rẽ rất trầm trọng lan tràn khắp xã
hội.
Mẹ chồng
và nàng dâu sống chung chạ gần gũi nhau. Con gái sống gần bên mẹ chồng
và xa cha mẹ ruột suốt đời; mẹ chồng gần gũi với nàng dâu và xa con
gái suốt đời. Thế thường người ta nói:
“Xa thì
thương gần thì thường“.
Và tục
ngữ có câu:
“Bát
trong xống sao khỏi khua động“.
Thế rồi
cứ coi việc mâu thuẫn giữa mẹ chồng và nàng dâu là thường, dâu hung dữ
thì lấn hiếp mẹ chồng, mẹ chồng tệ ác thì lấn hiếp nàng dâu là cái ung
độc trong gia đình.
Đầu tiên
là nàng dâu phải làm tròn bổn phận đối với mẹ chồng, phải biết chìu
chuộng vì đây là nơi dung thân suốt đời vậy.
Nhưng mẹ
chồng phải biết thương dâu nhiều hơn vì là sự phục vụ cho mình cho gia
đình mình, không ai nhiều hơn đâu.
Đôi bên
phải tự biết mà đối xử nhau, thương chồng trước phải thương mẹ chồng,
thương con nhiều phải thương dâu.
Phải tự
biết mà đối xử nhau cho ôn hòa, tốt đẹp được huân bình thành ra luật
xử thế chớ không ai đặt ra. Nếu đặt ra luật mà không hợp thời thì
không ai thèm nghe, mà luật hợp thời là hiền nhân vậy.
Xảy ra
mâu thuẫn giữa mẹ chồng nàng dâu là do nàng dâu nhiều hơn, ít có mẹ
chồng ác độc như Lâm Sanh Xuân Nương.
Truyện
Lâm Sanh Xuân Nương, mẹ chồng ác độc bao nhiêu, lại nổi bật
nàng dâu hiền đức của Xuân Nương bấy nhiêu.
Anh
chồng đã biết rõ mẹ chồng nàng dâu mâu thuẫn nhau là tại vợ (nàng dâu)
nên đã mài dao dạy vợ:
Ngày xưa
có người nông dân quê mùa mà hiền lành hiếu thảo. Anh ta cưới phải
người vợ thiếu đức, còn bà mẹ cũng tự ái. Trong gia đình, mẹ chồng
nàng dâu cứ lục đục, gây gổ hoài làm anh ta buồn bực không làm ăn gì
được.
Muốn cho
hòa nhau cứ mỗi lần vắng mặt vợ anh giả vờ nghe theo mẹ, mỗi lần nói
chuyện riêng với vợ thì anh giả vờ nghe theo vợ. Nhưng làm như vậy
không sao yên được càng ngày càng căng thẳng hơn lên, mẹ chồng nàng
dâu càng gây gổ hơn nữa. Anh chồng đứng cửa giữa đâm ra chán nản.
Nhưng
anh nông dân nghĩ ra kế, bèn đi ra chợ mua con dao bầu thật to đem về
cứ mỗi ngày đem ra mài, mài xong đem vô cất. Rồi bữa khác lấy ra mài,
mài xong đem vô cất. Người vợ thấy lạ hỏi nhiều lần anh không trả lời.
Hỏi nhiều lần lắm anh làm như cực chẳng đã mới nói:
- Anh
mài dao để có dịp giết mẹ đấy, mẹ già rồi trước sau gì cũng chết, thà
giết cho xong chứ để cứ cãi cọ rầy rà hoài, em làm dâu không nhịn
được, thêm xóm giềng chê cười để có ích lợi gì ?
Người vợ
lại sợ sự giết mẹ là táo bạo nên nói với chồng hoãn lại coi đã. Người
chồng nói:
- Nếu
hoãn lại thì em hãy ráng hiếu thuận với mẹ coi sao?
Người vợ
nghe lời, liền từ đó hết lòng nhường nhịn và cung kính phụng dưỡng. Lẽ
tất nhiên được người dâu như vậy mẹ chồng liền đổi tánh ghét ra tình
thương mà trong nhà được vui vẻ.
Lâu sau
anh chồng nói với vợ rằng:
- Kỳ
hoãn đã lâu, nay phải giết mẹ cho rồi.
Người vợ
nói:
- Nay mẹ
đã đổi tánh hiền lương, xin anh đừng giết.
Người
chồng nói:
- Thế là
tại lâu nay em làm dâu mà ngỗ nghịch với mẹ chồng mới xảy ra cảnh rầy
rà nhau mãi, anh mài dao là để giết em đó.
Người vợ nghe nói thất kinh, biết là mẹ chồng nàng dâu mà xảy ra cảnh
nghịch nhau là tại mình (nàng dâu) không nói được gì hết.
Nghe
được, bà mẹ giải hòa và nhận rằng do cả hai bên nay nên dung hòa mẹ
con ta nhận đặng vậy rồi thì từ nay nên bỏ qua, cả nhà yên vui làm ăn.
Từ đó
trong nhà, mẹ chồng nàng dâu rất hòa thuận, nhờ đó mà anh nông dân vui
vẻ phấn chấn làm ăn rất phát đạt.
Luận
Tâm lý
của người đàn bà muốn làm ăn cho dư dả, để dành của cải cho con cái,
nhưng cái nguồn làm nên sự nghiệp của cải không biết do chỗ vui vẻ hòa
nhã mà làm nên; chỉ muốn giữ của sợ nuôi cha mẹ, sợ chi phí thù tạc
lại muốn cho chồng phải làm lụng cho nhiều bóp bụng, chịu nhục giữ
của, không ngờ đó là mầm mống mâu thuẫn sanh ra rầy rà, buồn bã, tan
nát đổ vỡ.
Mẹ chồng
nàng dâu không thuận nhau, cứ gây gổ luôn làm cho anh chồng đi thôi về
đến nhà nghe thấy sự hơn thua, phải quấy rầy rà, gây gổ dai dẳng như
vậy, khổ như cảnh địa ngục thì còn lòng dạ đâu lo làm ăn. Nhiều khi
buồn bực quá đâm ra rượu chè ăn chơi, lắm lúc không muốn về nhà, gia
đình suy sụp hư nát bắt đầu từ đó.
Hỡi các
người làm mẹ chồng nên chú ý
Hỡi các
nàng dâu nên chú ý nhiều hơn.
ĐƯỜNG THỊ
Đường
Thị vợ họ Thôi ở với mẹ chồng rất có hiếu. Mẹ chồng già quá rụng hết
răng không ăn được. Hằng ngày Đường Thị tắm rửa thật sạch rồi cho mẹ
chồng bú, nhờ vậy mà mẹ chồng sống được mấy năm nữa. Cảm ơn lòng hiếu
thảo của nàng dâu, mẹ chồng không biết lấy gì để trả ơn, lúc sắp chết
liền khấn nguyện Phật trời cho sau này dâu của Đường Thị cũng hiếu
thảo như vậy.
Quả
nhiên sau dâu của nhà họ Thôi người nào cũng hiếu thảo với mẹ chồng.
Nhờ vậy mà họ Thôi phát đạt vinh hiển.
Lòng
hiếu thảo ai hơn Đường Thị
Mẹ rụng
răng không thể nhai cơm
Lòng
thường phụng dưỡng sớm hôm
Đường
Thị cho bú thế cơm mẹ già
Lòng cảm
động dâu ta hiếu thảo
Sắp lâm
chung đảo cáo phật trời
Xin cho
dâu thảo đời đời
Vào nhà
Thôi Thị đền bồi trọng ơn
Ơn nghĩa
ấy cảm lên trời phật
Nhà họ
Thôi nối tiếp dâu hiền
Phước
lành nổi tiếng lưu truyền
Ai muốn
vinh hiển noi hiền làm dâu.
Lấy bài
nầy kết luận cho mẹ chồng nàng dâu và muốn có dâu hiền phải làm tròn
bổn phận làm dâu xong rồi kế đến thay làm tròn bổn phận mẹ chồng.
8. BỔN PHẬN CHỒNG ĐỐI VỚI VỢ
Chồng
vợ có hòa thuận thì gia đình mới hạnh phúc, ảnh hưởng quốc dân an lạc,
xã hội hòa bình.
Đại để
làm chồng:
Phải lấy
sự chân thật thương yêu vợ, lấy sự công bình có phần trợ giúp cho cha
mẹ vợ, việc đối xử hai bên công bình, để cho vợ khỏi buồn tủi vì không
được đền đáp công ơn cha mẹ họ hàng bên mình.
Không
nên sớm mận tối đào làm sứt mẻ tình thương, phải cho vợ chút quyền
tham gia sự gia đình, nên giao tiền bạc cho vợ cất giữ, sự xài tiền
bạc phải có sự đồng ý chung, nên cho vợ sắm mặc cho trang nghiêm với
người, ăn uống phải có giờ khắc, không nên say sưa làm buồn khổ vợ
con.
Gia đình
hạnh phúc bắt đầu từ nơi chồng vợ biết làm tròn bổn phận đối xử với
nhau đâu dễ xem thường được.
Làm
chồng bạc ác gây tai hại cho gia đình bấy nhiêu; thì làm tròn bổn phận
đem lại hạnh phúc cho gia đình bấy nhiêu.
Từ cổ
chí kim có những bậc vua chúa, cho đến sĩ phu, công hầu khanh tướng kể
rất nhiều người tệ bạc với vợ ghi đầy rẫy trong truyện sách, lật trang
sách nào cũng gặp, đọc đoạn nào cũng có.
VUA
KIỆT:
Cuối đời
nhà Hạ vua Kiệt đem quân đánh quân Hữu Thi, Hữu Thi thua đem dâng Muội
Hỷ để cầu hòa. Vua Kiệt say mê Muội Hỷ sanh tâm bạc ác phế chánh hậu,
bị Thành Thang diệt đi.
VUA TRỤ:
Cuối đời
nhà Ân vua Trụ đam mê Đắc Kỷ, chặt tay khoét mắt Khương hoàng hậu bị
nhà Châu tru diệt.
U VƯƠNG:
Là Thái
tử Cung Niết con vua Tuyên Vương nhà Châu say mê sắc đẹp Bao Tự phế
chánh cung là Thân Hậu, sau bị Khương Nhung bầm thây, Bao Tự bị bắt.
Bốn nước
Tấn, Tần, Vệ, Trịnh về giải vây, Khương Nhung bỏ chạy Bao Tự phải tự
tử.
Vệ Tương
Công có vợ là Di Khương sanh con là Cấp Tử, sau lại mê nàng Tuyên
Khương có hai con nữa là Thọ và Sóc. Sóc âm mưu với mẹ giết Cấp Tử
giết lầm cả Thọ sau bị Kiềm Mâu giành ngôi.
Tề Tương
Công thông dâm với nàng Văn Khương sau bị Liêm Xứng đè chặt làm hai
khúc.
Tề Ý
Công làm vua có chánh hậu có cung phi mỹ nữ rất nhiều, thế mà còn đoạt
vợ quan đại phu Diêm Chức. Sau Diêm Chức hiệp với Bính Súc chặt đầu Tề
Ý Công ném xuống ao.
Tề Trang
Công mê nàng Đường Khương là vợ quan đại phu Thôi Chữ, bị Đường Vô Cữu
bắn rớt xuống lầu mà chết.
Thôi Chữ
mê tiểu thiếp phế con dòng chánh là Thôi Thành và Thôi Cương. Hai anh
em tức giận đến cầu với Khánh Phong giết giùm bọn con dì ghẻ. Khánh
Phong sai Lư Bồ Kiết đến giết sạch cả nhà đoạt của. Thôi Chữ tức mình
cũng thắt cổ mà chết.
Lỗ Định
Công hy hữu được Khổng Tử làm tướng quốc nhờ đó mà nước được cường
thạnh dân tình an ổn. Tề Cảnh Công thấy thế sợ nước Lỗ mạnh sẽ dòm ngó
nước mình nên đem dâng cho Lỗ Định Công đoàn nữ nhạc. Khổng Tử can Lỗ
Định Công, vì mê sắc không nghe, thâu dùng đoàn nữ nhạc rồi say mê.
Khổng Tử bỏ đi, Lỗ Định Công bị suy nhược.
Ngô Hạp
Lư mê Tây Thi sau bị mất nước phải thắt cổ mà chết và còn nhiều không
kể hết.
Những
người mê sắc, lẽ tất nhiên không làm tròn bổn phận làm chồng và chuyển
đến không làm tròn được những bổn phận khác của đời người, chẳng những
tự rước họa vào thân mà còn gieo rắc tai họa cho gia đình, quốc dân xã
hội đau khổ.
Người
làm tròn bổn phận làm chồng rất ít. Muốn tìm một vài mẩu chuyện về làm
chồng gương mẫu phải vất vả lắm bỏ công nhiều, coi sách nhiều, lật
nhiều trang mới tìm ra.
BÁ LÝ HỀ
Bá
Lý Hề tự Tỉnh Bá, người nước Ngu, ba mươi tuổi mới cưới vợ sanh được
một con trai tên là Mạnh Minh.
Ở nước
Ngu không có người tiến cử, Bá Lý Hề muốn lập công danh phải sang nước
khác nhưng nhà nghèo khổ, bi đát không biết nhờ ai. Vợ là Đỗ Thị
khuyên chồng ra đi không nên vì bận bịu gia đình mà bỏ chí lớn của nam
nhi. Khi chồng đi nhà nghèo chỉ có một con gà lại không có củi. Đỗ Thị
mổ gà lấy phên làm củi nấu gà tiễn chồng.
Lý Hề
nói:
- Nàng
lấy phêh nấu gà tiễn anh, rồi gió sương lạnh lùng lòng anh lấy làm đau
khổ.
Đỗ Thị
nói:
- Người
lạnh không bằng lòng người lạnh, người lạnh không sợ, sợ lòng người
lạnh lẽo phôi pha xin chàng nhớ lấy.
Từ giã
vợ ra đi, bây giờ Bá Lý Hề tuổi đã bốn mươi đến đất Chất không tìm ra
việc làm phải ăn xin. Kiển Thúc xem thấy biết Bá Lý Hề là người hiền,
bèn cùng nhau kết bạn. Lớn hơn một tuổi Kiển Thúc làm anh, Lý Hề làm
em. Hai anh em cùng nhau chung nghèo hèn, phận số bèn dẫn nhau đến
nước Châu giữ trâu mướn cho vương tử Đối để lấy tiền nuôi thân. Lâu
ngày không ai tiến cử, Bá Lý Hề định trở về quê, Kiển Thúc có người
quen ở nước Ngu tên Cung Chi Kỳ nên cùng theo Lý Hề đến nước Ngu.
Về đến
quê nhà Bá Lý Hề hỏi ra thì vợ con không còn ở đó nữa vì không sống
nổi phải bỏ đi mất. Kiển Thúc vào ra mắt Cung Chi Kỳ xin tiến cử Bá Lý
Hề là người tài. Nhờ Cung Chi Kỳ tiến cử, vua Ngu liền dùng Bá Lý Hề
cho làm chức Đại phu.
Nhưng
sau Kiển Thúc nói với Bá Lý Hề rằng:
- Ta
nhận thấy vua Ngu là người thiển cận, tự đắc không phải người hiền.
Bá Lý Hề
nói:
- Em vì
nghèo khổ không chỗ dung thân nên cũng phải tạm.
Kiển
Thúc nói:
- Còn
anh bây giờ cũng tạm chia tay, sau này em hãy qua đến nước Tống làng
Minh Lộc tìm anh.
Nói xong
Kiển Thúc từ giã Lý Hề mà đi.
Nước Ngu
mất, Bá Lý Hề trốn sang Tấn, vua Tấn gả con cho Tần sai Lý Hề phò Bá
Cơ đưa dâu sang Tần.
Lý Hề
đưa dâu lòng hổ thẹn liền bỏ trốn sang Tống nhưng bị giặc cướp nghẽn
đường phải sang ngang qua Sở. Đến giữa đường rừng, Lý Hề gặp người thợ
săn tưởng Lý Hề là người phiến loạn liền bắt trói lại.
Bá Lý Hề
đưa tay chịu trói và điềm tĩnh nói:
- Tôi là
người nước Ngu vì mất nước nên qua đây.
Người
thợ săn hỏi:
- Ngươi
làm nghề gì?
- Tôi
làm nghề nuôi trâu.
Người
thợ săn liền mở trói đem Bá Lý Hề về cho nuôi trâu.
Bá Lý Hề
nuôi trâu rất mau lớn, chóng mập, tiếng đồn đến tai vua Sở. Vua liền
cho mời Bá Lý Hề hỏi:
- Nhà
ngươi nuôi trâu cách nào mà hay vậy?
Bá Hề
tâu:
- Cho
trâu ăn có điều độ, không bắt trâu làm quá sức, thường siêng năng chăm
sóc sạch sẽ.
Vua Sở
nói:
- Nuôi
trâu ngựa cũng thế. Liền cho Bá Lý Hề làm chức Ngữ Nha, cho ra nuôi
ngựa ở Đông Hải.
Nhắc lại
Tần Mục Công, một hôm nhàn rỗi xem sổ đưa dâu của nước Tấn thấy có tên
Bá Lý Hề mà không có mặt, bèn kêu công tử Trí hỏi:
- Tên Bá
Lý Hề trong sổ đưa dâu sao không thấy mặt?
Công tử
Trí thưa:
- Bá Lý
Hề người nước Ngu khi đưa dâu trốn đi rồi. Bá Lý Hề là người hiền,
biết vua Ngu không thể can được nên không dự đến, nhưng khi vua Ngu
mất nước theo vua Ngu qua Tấn mà không phò Tấn là trung, kẻ có tài
nhưng chưa gặp thời đó thôi.
Tần Mục
Công nói:
- Nếu ta
được Bá Lý Hề thì hay lắm!
Công Tôn
Chi nói:
- Tôi
nghe nói vợ con Bá Lý Hề sang Sở, vậy sai người qua đó dò xem.
Tần Mục
Công liền sai người đem lễ vật sang Sở dò xem có Bá Lý Hề xin chuộc
về.
Công Tôn
Chi thưa:
- Vua Sở
không biết Bá Lý Hề là người hiền tài nên nay đã cho chăn ngựa. Nay mà
chúa công cho người đem lễ vật sang chuộc, không khác nào cho vua Sở
biết, ắt vua Sở sẽ giữ lại mà dùng.
Tần Mục
Công khen phải, rồi sai người đem năm bộ da dê biếu cho vua Sở nói
rằng: Bá Lý Hề là kẻ tiện có tội với Tần trốn sang quý quốc, xin cho
bắt về trị tội làm gương nên sai tôi qua biếu cho quí quốc năm bộ da
dê xin bắt phạm nhân về.
Vua Sở
muốn làm vui lòng vua Tần nên sai bắt Bá Lý Hề giao trả. Bá Lý Hề bị
bắt người người đều thương xót, nhiều người than khóc cho số phận Bá
Lý Hề nhưng Bá Lý Hề cười nói:
- Các
bạn chớ buồn vì vua Tần muốn đem tôi về đó thôi.
Về đến
Tần, Công Tôn Chi đã ra tận ngoài ải đón rước vào triều yết kiến Tần
Mục Công.
Tần Mục
Công hỏi Bá Lý Hề:
- Năm
nay ngươi bao nhiêu tuổi?
- Hơn
bảy mươi tuổi.
- Tiếc
thay ta gặp ngươi quá trễ, tuổi quá già!
Bá Lý Hề
nói:
- Nếu
vào rừng đốn củi, xuống sông chèo ghe thì tôi tuổi già thật nhưng nếu
lo về việc nước, định bá đồ vương thì tôi vẫn còn trẻ. Xưa Lã Vọng hơn
tám mươi tuổi còn ngồi câu cá Sông Vị, Văn Vương rước về làm nên
nghiệp đế cho nhà Châu, như nay tôi còn trẻ hơn Lã Vọng mười tuổi.
Tần Mục
Công đem lòng kính phục và đem việc nước bàn lợi hại với Bá Lý Hề. Lý
Hề luận rất cao kiến làm cho Tần Mục Công bái phục liền phong cho Bá
Lý Hề chức Thượng khanh, giữ cả quyền hành trong nước.
Bá Lý Hề
đang chăn trâu nay đến thời cơ được làm quan to, lòng vẫn không quên
liền tiến cử cho Kiển Thúc, Tần Mục Công nghe theo cho người rước về.
Vợ con
Bá Lý Hề đói rách đi khắp nơi tìm kế sanh nhai, sau cùng đến nước Tần
làm nghề giặt mướn nuôi thân qua ngày, con là Mạnh Minh lêu lổng chơi
bời không lo làm ăn gì cả.
Nay Đỗ
Thị hay được chồng làm quan, lại vì thân phận hèn hạ không dám nhìn,
nhiều lần thấy Bá Lý Hề mão cao áo rộng ngồi xe đi ngang nhưng lòng lo
ngại tránh đi.
Đỗ Thị
liền xin vào dinh Bá Lý Hề giặt mướn, cố ý để cho Bá Lý Hề có nhìn
không. Hôm ấy Bá Lý Hề ngồi nghe phường nhạc đàn hát. Đỗ Thị liền nói
với nhạc trưởng xin cho mình hát và đàn. Nhạc trưởng liền đưa cho Đỗ
Thị cây đàn, đàn thử, Đỗ Thị liền đàn tiếng bi a, rả riết cả chúng đều
vỗ tay khen hay.
Nhạc
trưởng liền vào giới thiệu với Bá Lý Hề cho vào. Đỗ Thị bước vào sân
cầm đàn, Bá Lý Hề vẫn không biết, cứ tưởng là phường hát. Bỗng nghe
tiếng đờn nỉ non với giọng hát:
Bá Lý Hề!
Năm bộ da dê!
Nhớ ngày ly biệt
Mổ gà mái ấy,
Nấu nồi cơm vàng
Tình thiết tha!
Nay phú quý
Nở đành quên nhau
Bá Lý Hề!
Năm bộ da dê!
Cha ăn thịt cá
Con đói khát dài
Chồng mặc áo gấm
Vợ giặt thuê hoài
Nay phú quý
Nở đành quên nhau
Bá Lý Hề!
Năm bộ da dê!
Nhớ ngày xưa
Chàng ra đi
Nàng đành biệt ly
Nay chàng ngồi đó
Thiếp chẳng dám gần
Nỡ quên nhau sao?
Bá Lý Hề
nghe biết rõ là vợ mình liền bước xuống ôm vợ mà khóc! Lại hỏi đến
con.
Đỗ Thị
nói:
- Thằng
nhỏ theo người đàng xóm chơi rong.
Bá Lý Hề
sai người rước con về, vợ chồng cha con đoàn tụ.
Tần Mục
Công hay được lấy làm cảm động liền phong cho Mạnh Minh làm chức Đại
phu.
ĐOÀN DOÃN
LUÂN
Đoàn
Doãn Luân con ông Đoàn Doãn Nghi vốn dòng họ Lê. Ông Đoàn Doãn Nghi
nằm mộng thấy thần tặng cho họ Đoàn, nên mới đổi họ, người quê ở Hiếu
Phạm.
Đoàn
Doãn Luân thi đỗ tiến sĩ nổi tiếng văn tài lỗi lạc nhưng không ưa
chuộng công danh chốn quan trường, chỉ ưa nhàn lạc ngồi nhà dạy học.
Ông là người có dạ thủy chung, làm tròn bổn phận con, anh và bổn phận
làm chồng.
Đoàn
Doãn Luân dạm hỏi con gái của tiến sĩ Lê Hữu Mưu ở làng Hương Xá,
huyện Mỹ Hào. Khi chưa thành hôn, vị hôn thê của ông bịnh trái mùa,
sau khi lành bịnh dung nhan không còn tươi đẹp nữa. Nhạc gia ông Doãn
Luân thấy vậy liền xin từ hôn nhân. Doãn Luân trả lời rằng:
- Dung
nhan thay đổi nhưng lòng người không thay đổi, khi đã hứa hẹn rồi thì
không vì nhan sắc mà quên lời hứa được.
Tự thân
ông Doãn Luân thanh cao nên gia đình sau rất hạnh phúc cảm mến cả
thiên hạ.
Bần tiện
chi giao bất khả hạ đàng.
Vua
Quang Võ đời Đông Hán có người chị là Hồ Dương công chúa góa chồng,
vua muốn tìm người bạn trăm năm cho chị liền đem hết danh sách các
quan trong triều hỏi ý kiến chị, công chúa nói:
- Tất cả
các quan trong triều chỉ có Tống Hoằng là người đủ tư cách và nghi
biểu khác thường, những người khác không sao bì kịp.
Quang Võ
biết ý chị đã vừa lòng Tống Hoằng liền bảo chị ở sau bình phong, rồi
cho đòi Tống Hoằng đến vua nói:
Ta nghe
tục ngữ có câu:
“Phú
dịch giao qúi dịch thê “.
Nghĩa
là:
Giàu đổi
bạn sang đổi vợ có phải không?
Tống
Hoằng liền quỳ xuống tâu:
“Bần
tiện chi giao mạc khả vong, tào khang chi thê bất khả hạ đàng “.
Có nghĩa
là:
Bè bạn
giao du với nhau khi nghèo nay giàu sang không quên nhau; nghĩ tấm
mảnh tình vợ chồng khi nghèo khổ, đến hồi vinh hiển không nên phụ
nhau.
Vua
Quang Võ nghe rồi rất phục, và nói với chị:
- Việc
hôn nhân không thành được, con người như vậy không thể đem danh lợi mà
cám dỗ được.
Nhị Độ
Mai có câu:
“Hạ
đường dám lụy tiếng này với ai “.
HỨA DOÃN
Vợ
Hứa Doãn là Nguyễn Thị nhan sắc kém lắm. Khi cha mẹ mới cưới về cho
Hứa Doãn, lễ xong trông thấy vợ xấu muốn bỏ đi, bèn hỏi:
- Đàn bà
có bốn đức, nàng được mấy?
Nguyễn
Thị lễ phép cung kính nói rằng:
- Trong
bốn đức, thiếp chỉ thiếu dung mà thôi.
Rồi hỏi
lại:
- Thiếp
trộm nghe kẻ sĩ có trăm hạnh, dám hỏi chàng được mấy?
Hứa Doãn
đáp:
- Ta đủ
trăm hạnh.
- Trăm
hạnh thì đức là đầu, sao chàng hiếu sắc không hiếu đức?
Hứa Doãn
không trả lời được, nhìn kỹ thấy vợ có một cử chỉ đẹp, cái đẹp ở tâm
hồn, bao nhiêu buồn ghét liền tiêu tan hết; bây giờ chỉ còn lòng kính
mến cái nết na, đức độ của Nguyễn Thị. Từ đó Hứa Doãn đem lòng thương
yêu vợ và chung thủy đến già.
Luận
Chung
thủy của Hứa Doãn trọng về đức tánh nết na. Đức tánh trẻ cũng thế, già
cũng thế còn nhan sắc trẻ đẹp, già nua xấu xí, người biết trọng đức
tánh không chuộng nhan sắc lẽ tất nhiên là chung thủy.
Người
giữ được chung thủy ở gia đình, thì đến quốc gia xã hội, người vẫn là
tốt đẹp dầu làm việc gì.
ÁN TỬ
Vua
Cảnh Công có người con gái yêu, muốn gả cho Án Tử. Một hôm vua ăn tiệc
tại nhà Án Tử, thấy vợ Án Tử liền hỏi:
- Nội tử
của tướng công đấy phải không?
Án Tử
thưa:
- Vâng,
phải.
Vua nói:
- Ôi!
Người sao mà xem vừa già vừa xấu, quả nhân có đứa con gái trẻ đẹp, xin
cho về hầu tướng công nghĩ sao?
Án Tử
đứng dậy thưa rằng:
- Nội tử
tôi tuy già xấu, nhưng cùng tôi ăn ở khi còn trẻ đẹp. Xưa nay đàn bà
lấy chồng lúc trẻ đẹp để nhờ lúc già, nội tử tôi nhờ cậy tôi, và tôi
cũng nhờ cậy. Nay mà vua muốn ban ơn, chắc cũng không muốn cho tôi ăn
ở bội bạc.
Nói rồi
Án Tử cúi lạy xin từ.
Luận
Những
mẩu chuyện người làm tròn bổn phận làm chồng trên đây, là những người
có một tinh thần dũng cảm thắng được tình dục, để giữ tròn bổn phận,
thật là đạo đức tánh cao cả. Thông thường thấy sắc đẹp thì lòng dục si
làm mù quáng liền, người lanh trí can đảm vén được mây mù giữ được tâm
bình tĩnh sáng suốt thật không phải dễ.
Tuy
là khó nhưng tâm quyết nhất định làm người thì phải làm cho tròn, nếu
không làm được thì mất tư cách con người. Phải noi gương tốt trên để
trở nên bậc hiền nhân.
9. BỔN PHẬN VỢ ĐỐI VỚI CHỒNG
Tròn
bổn phận làm vợ, kế đến bổn phận làm mẹ, nhờ làm xong bổn phận làm vợ
sẽ là một đức độ đủ quyền dạy con. Nếu bổn phận làm vợ kể cả bổn phận
làm dâu mà không tròn, rồi những bổn phận kế tiếp đều hỏng hết cả. Vậy
bổn phận làm vợ là một nền tảng xây dựng cho gia đình, quốc dân, xã
hội không phải nhỏ.
Đại khái
bổn phận làm vợ phải giữ tròn tiết hạnh với chồng; phải phụng dưỡng
cha mẹ chồng là phần chánh, mặc dù chồng cho phụng dưỡng cha mẹ ruột
là phần phụ. Chồng đã giao phó cất giữ tiền của, nhưng không được trọn
quyền xài phí, những việc xài quan trọng phải hỏi chồng. Khi chồng
nóng giận phải nhịn chớ nóng tánh hỗn ẩu cãi vã, chờ khi chồng hết
giận lấy lời nhỏ nhẹ mà giãi bày. Và còn rất nhiều chi tiết ở đây chỉ
nói sơ lược, chỗ cần nói và nêu gương tốt xấu, lợi hại của người xưa
để lấy đó mà xét nay.
HẠ CƠ
Hạ
Cơ con gái vua Trịnh sắc đẹp bậc nhất thời ấy, Hạ Cơ đầu tiên lấy công
tử Man. Công tử Man chết sớm, Hạ Cơ lại lấy Ngư Thúc sanh đặng đứa con
tên Hạ Trung Thư rồi Ngư Thúc cũng chết.
Sau Hạ
Cơ lấy Khổng Ninh lại tư thông với Hàng Nghi Phủ rồi lấy luôn Trần
Linh Công cả ba một lượt.
Hạ Trung
Thư thấy việc dâm loạn ấy lấy làm bực tức không dằn nổi, bèn mặc giáp
nhung tay kiếm dẫn một toán quân bao vây hét lớn:
- Hãy
bắt lũ dâm tặc cho ta.
Khổng
Ninh và Hàng Nghi Phủ bỏ chạy trước. Hạ Cơ hay được bỏ chạy vào phòng,
Trần Linh Công chạy theo nhưng bị Hạ Trung Thư kịp đến đón chẹn cửa
phòng. Trần Linh Công nhớ chỗ chuồng ngựa có tường thấp chạy đến đó,
phóng ra nhưng bị Hạ Trung Thư bắn theo một mũi tên ghim thủng bụng
nhào xuống tắt thở.
Sau Hạ
Trung Thư bị vua Sở giết chết.
Thơ Vân
Tiên có câu:
“Hạ Cơ
tuổi ấy cũng vừa
Sớm đưa
Nghi Phủ tối ngừa Linh Công“.
VỢ TRANG TỬ
Trang
Tử là người nước Tống đời Lương Huệ Vương. Trang Tử đi chơi thấy con
cua cái lột, cua đực giữ miệng hang, đến khi cua đực lột, cua cái dẫn
cua đực khác đến xé thây cua đực ăn, lại thấy người đàn bà quạt mồ
chồng theo lời trối của chồng, mong cho mồ mau khô, đi lấy chồng khác.
Trang Tử về nhà đem việc đó nói lại vợ nghe.
Vợ Trang
Tử nghe xong phun nước miếng chê rằng:
- Thứ
đàn bà bội bạc, chồng mới chết toan đi lấy chồng.
Trang Tử
có phép thuật, nghe vợ nói vậy liền giả đau rồi chết, trước khi chết
dặn vợ quàn ba tháng mười ngày rồi chôn.
Trong
khi quàn trong nhà vắng, nửa đêm Trang Tử hiện ra một chàng trai đẹp
đến gõ cửa, nói là lỡ đường xin ngủ nhờ một đêm.
Vợ Trang
Tử thấy người đẹp mà mê mẩn, quên đi tất cả liêm sĩ lễ phép, lại gần
quyến rũ, chàng trai ấy liền ưng thuận, nhưng chưa kịp liền ngã lăn ra
đau bụng như tắt thở.
Vợ Trang
Tử hoảng sợ hỏi trước kia có đau bụng không? Cần thuốc gì uống cho
hết?
Chàng
trai nói:
- Trước
kia cũng có đau bụng như vậy cần có sọ người uống hết ngay, nay đến
đây quê lạ đất người làm sao có, chắc phải chết.
Nghe nói
vậy, vợ Trang Tử liền chạy ra sau chỗ nhà quàn, lấy búa dứt néo định
lấy sọ chồng mình cho tình nhân uống.
Nào dè
vừa cạy nắp hàng ra, Trang Tử ngồi dậy cười ngất. Vợ thẹn quá xỉu mà
chết.
HAI CON RẮN
Ngày
xưa ở tỉnh Sơn Tây có chàng thợ săn tên Dã Tràng. Một hôm Dã Tràng đi
săn ngang qua hang núi thấy hai vợ chồng nhà rắn. Rắn cái có bông đốm
đẹp lắm, thấy rắn sống hạnh phúc Dã Tràng không động tới, lại hay theo
dõi cuộc đời của rắn.
Ngày kia
thấy rắn cái nằm bất lực với bộ vỏ mới lột, lại thấy rắn đực ngậm mồi
về cho rắn cái ăn và giữ gìn cho rắn cái nằm yên. Không bao lâu rắn
cái cứng cáp lại, đến phiên rắn đực nằm bất động, rắn cái đã không
chăm sóc lại còn bò đến chỗ khuất, tự tình với rắn đực khác.
Nhìn
thấy thú tình lãnh đạm nào khác nhân tình thế thái, Dã Tràng giương
cung bắn hai con rắn lang chạ đó, nhưng mũi tên chỉ trúng rắn cái chết
tại chỗ, còn rắn đực chạy mất.
Rắn đực
trông hoài không thấy vợ về, mãi đến khi cứng cáp liền đi kiếm gặp vợ
chết ở ven rừng bên cạnh, mình có mũi tên Dã Tràng. Rắn đực bực tức
căm thù liền bò thẳng đến nhà Dã Tràng núp trên nhà chờ dịp trả thù.
Trong khi chờ cơ hành động, rắn ta nghe Dã Tràng nói với vợ:
- Trong
dịp săn bắn hôm nọ, tôi làm một việc hợp lý: loài rắn mà cũng lăng
loàn như người, khi con cái lột vỏ thì con đực tha mồi và gìn giữ, đến
lúc con đực lột thì con cái lại thừa cơ đi tư tình ới con rắn đực
khác. Thấy sự tàn nhẫn đó, tôi liền giương cung bắn hai con rắn khốn
nạn đó chết cho rồi, không dè mũi tên chỉ trúng con rắn cái chết còn
con rắn đực kia chạy mất.
Vỡ lẽ
ra, rắn đực biết Dã Tràng là người ơn của mình liền bò xuống bái từ
rồi bò đi. Đêm sau trong khi chưa ngủ, rắn đực bò đến nhả cho Dã Tràng
viên ngọc rồi bỏ đi.
Dã Tràng
được ngọc rắn hễ ngậm vào là nghe được tất cả tiếng loài thú.
Luận
Loài thú
có tánh thú là dĩ nhiên, nhưng người có tánh thú thì chỉ là xác người
mà lòng thú.
DƯƠNG QUÝ PHI
Dương
quý phi tên thật là Dương Ngọc Hoàng là vợ của Thọ Vương Mao, vốn là
người có công với vua. Vì thấy mình có sắc đẹp mua chuộc được lòng
vua, liền bỏ Vương Mao vào hầu vua Đường Huyền Tôn, vì vậy mà có loạn
An Lộc Sơn sau này. Huyền Tôn rất sủng ái và gọi là Dương quý phi. An
Lộc Sơn làm loạn cũng vì tham luyến Dương quý phi. Cơn chạy loạn vua
đem Dương quý phi theo do đó mà giặc theo hoài khó chạy cho khỏi, đến
Mã Ngôi các quan ép phải thắt cổ Dương quý phi rồi mới chịu phò vua
chạy trốn.
Luận
Một
người đàn bà lang tâm, ở gia đình thì gia đình suy sụp, lên địa vị
vương giả thì nước mất dân nguy.
VỢ CHÂU MÃI THẦN
Châu
Mãi Thần đời nhà Hán rất nghèo mà chăm học, vừa gánh củi đi bán vừa
mang sách theo học. Người vợ chê ông nghèo định đi lấy chồng khác, Mãi
Thần khuyên:
- Nay
tôi bốn mươi tuổi, đến năm mươi tuổi thế nào cũng nên công danh, chúng
ta chung sống trong cảnh nghèo khổ đã lâu rồi, nay ráng chờ thêm thời
gian nữa để cùng nhau chung hưởng có gì đâu thay đổi.
Người vợ
nhất quyết không nghe, chờ Mãi Thần đi bán củi ở nhà xách gói đi lấy
một người nông dân khá giả.
Khi Mãi
Thần về thấy nhà vắng quạnh hiu, vợ đã bỏ đi, lấy làm chua xót, nhưng
vẫn cố gắng học hành, sau khi đậu đời vua Võ Đế được làm quan to.
Vợ Châu
Mãi Thần lại hối tiếc, ý muốn ở lại, tìm đến lạy cầu, Châu Mãi Thần
nói:
- Như
chén nước múc đổ xuống đất mà hốt lại được thì tôi sẽ đem nàng về.
Vợ Châu
Mãi Thần lại trở về bị người chồng mới mắng rằng:
- Người
thật chỉ biết giàu sang không biết gì tình nghĩa, thay đổi là chuyện
xấu xa tệ hại cho xã hội, mà ngươi xem thường không biết xấu hổ.
Xấu hổ
quá, vợ Châu Mãi Thần liền thắt cổ mà chết.
Luận
Lời
nói của anh nông dân thế vào cho câu kết luận bài nầy, nhưng kể ra vợ
Châu Mãi Thần biết xấu hổ chớ!
CON MUỖI HÚT MÁU
Thuở
xưa có người nông dân tên là Ngọc Tâm, tánh tình hiền hậu đơn giản,
quanh năm chuyên chú làm ăn, nhưng ác hại thay có người vợ thật đẹp
tên là Nhan Điệp, tánh tình lười biếng, tối ngày chỉ lo chải chuốt,
trang điểm ăn chơi.
Tình
nghĩa vợ chồng cũng tưởng đến bạc đầu, nhưng giữa chừng Nhan Điệp đau
lăn lộn rồi chết. Người chồng thương vợ quá, liền bán hết đồ đạc chở
xác vợ xuống thuyền, chở đi khắp nơi tìm người cầu cứu.
Ngày kia
thuyền đến chân núi, Ngọ Tâm ghé thuyền lại rồi lên núi, vừa lên đến
núi gặp một lão râu dài tóc bạc giống như tiên ông, chàng liền quỳ sụp
xuống xin cứu mạng cho vợ.
Vị tiên
ông thấy tình cảnh như vậy rất thương tâm nên bảo:
- Ta sẵn
lòng cứu vợ ngươi, nhưng sau này đừng ân hận.
Theo lời
tiên ông, Ngọc Tâm chích đầu ngón tay lấy ba giọt máu rưới lên mình
vợ, Nhan Điệp lần lần tỉnh dậy và khỏe mạnh như thường.
Thế là
hai vợ chồng quay thuyền trở về. Một tối kia thuyền ghé vào bến lạ,
Ngọc Tâm lên bờ đi mua thức ăn. Lúc đó bên cạnh có chiếc thuyền buôn
lớn, gã lái buôn thấy Nhan Điệp có sắc đẹp, liền tán tỉnh. Nhan Điệp
bằng lòng, liền qua thuyền khách buôn rồi rời bến.
Ngọc Tâm
quay trở lại thuyền thấy mất vợ, lấy làm khổ sở vội đuổi theo sau một
tháng trời mới gặp. Bây giờ Nhan Điệp là vợ lái buôn giàu có, Ngọc Tâm
thấy vợ phản bội mới bảo:
- Bây
giờ em được hoàn toàn tự do bỏ tôi, song tôi không muốn để gì kỷ niệm
nơi mình em, vậy hãy trả ba giọt máu mà trước kia tôi đã cứu sống em
lại.
Nhan
Điệp thấy sự dứt khoát dễ dàng, nên lấy kim chích máu đầu ngón tay,
máu vừa nhỏ ra ba giọt thì nàng ngã ra chết liền.
Dầu đã
chết mà người đàn bà phụ bạc kia vẫn luyến tiếc cõi đời, nên hóa thành
muỗi đêm đến theo Ngọc Tâm vo ve hút trộm máu, mong trở thành người;
nhưng bao giờ được, rồi đời đời phải làm muỗi(1).
(1) Thành
ngữ điển tích.
MẠNH QUANG
Mạnh
Quang người đời Hậu Hán nổi tiếng nữ trung liệt, vốn con nhà giàu
sang, ba mươi tuổi mà vẫn còn kén chồng, có người hỏi tại sao tuổi
chừng này mà không chịu lấy chồng?
Nàng
đáp:
- Nếu
tôi không làm được vợ Lương Hồng thì ở vậy suốt đời.
Lương Hồng cùng ở một huyện với Mạnh Quang, nhà nghèo vì hiếu thảo
nuôi cha mẹ mãi đến ba mươi tuổi mà chưa có vợ; nay nghe được lời của
Mạnh Quang bèn đến xin cưới về làm vợ.
Mạnh
Quang về nhà chồng vẫn quen theo lối phong lưu đài các, vẫn ăn mặc
xiêm y rực rỡ đeo vòng vàng chuỗi ngọc đầy cổ tay. Suốt bảy hôm Lương
Hồng không ngó tới.
Mạnh
Quang mới hỏi:
- Em có
làm gì không vừa ý phu quân không, mà đối xử với em tệ bạc vậy?
Lương
Hồng nói:
- Tôi
ước nguyện có một người vợ đức hạnh, cùng nhau chung thủy vui cảnh
nghè khổ, mặc áo bả hài gai, để chung lo buồn vui có nhau. Nay nhận
thấy nàng là con nhà đài các, phong lưu không hợp với sở nguyện của
tôi do đó tôi thất vọng.
Nghe
chồng nói vậy, Mạnh Quang liền cởi bỏ trâm cài lượt giắt, đi chân
không, dùng gai ghim búi tóc, ngày ngày theo chồng lo việc đồng ruộng
hết sức đắc lực, từ đó gia đình đầm ấm và hạnh phúc. Mỗi khi có vật gì
đem cho chồng thì nàng để trên khay bưng ngang mày mà trao, tỏ vẻ kính
nể chồng, do đó có câu:
“Cử án
tề mi “.
Trong
Kiều có câu:
“Đã cho
vào việc bố kình
Đạo
tòng phu ấy chữ trinh làm đầu “.
ĐÁ VỌNG PHU
Hòn
đá Vọng Phu ở tỉnh Bình Định, tương truyền có hai anh em, khi còn nhỏ
rủ nhau ra vườn chặt mía ăn, rủi khi róc mía bổ dao trúng đầu em gái
máu ra lênh láng, té xỉu. Thấy vậy người anh sợ quá bỏ đi mất, sau lại
làm nghề ghe chài.
Nơi quê
nhà, sau khi lành vết thương, sống với mẹ khi mẹ mất, một mình bơ vơ
đi lưu lạc, lại gặp lại anh nhưng không biết nhau, hai bên lại thương
nhau, đến thành việc vợ chồng và sanh được một con trai.
Một hôm
nhàn rỗi, chồng bắt chí cho vợ, thấy cái sẹo lớn trên đầu, sanh nghi
liền hỏi nguyên do? Người vợ không ngần ngại liền nói thật việc khi
còn nhỏ.
Nghe
xong câu chuyện, người chồng rất đau đớn, xấu hổ biết vợ là em gái của
mình, nhưng vẫn trầm tĩnh không thố lộ gì cho vợ biết việc lầm lẫn tai
hại này.
Đến khi
chuyến đánh cá, người chồng đem thuyền ra khơi rồi đi biệt tích không
về.
Vợ ngày
trông tin chồng mà vẫn biền biệt, liền ôm con thơ ra tận mé biển, leo
đứng trên hòn đá cao, nhìn ra trông chồng. Cứ mãi nhìn thuyền từ xa
ngỡ là thuyền của chồng nhưng đến gần không phải, lại phóng tầm mắt ra
xa nhìn chiếc thuyền khác, cứ mãi như vậy quên ăn bỏ ngủ không hay mỏi
mệt. Cuối cùng ngưòi đàn bà trinh tiết đau khổ ôm con mà hóa đá. Do đó
mới có đá vọng phu, gọi là hòn vọng phu.
“Đó là
hòn núi vọng phu
Là
người thiếu phụ ôm con trông chồng “.
ĐÁ TINH VỆ
Tương
truyền ngày xưa, con gái vua Viêm Đế vượt biển tìm chồng bị chìm
thuyền chết ở Đông Hải, hồn hóa thành chim Tinh Vệ vì hận bể sâu ngày
ngày tha đá lấp mong cho bể cạn.
Thơ có
câu:
“Đá Tinh
Vệ lấp Bể Đông
Hận thù
mong trả cạn dòng nghiệt oan “.
GƯƠNG VỠ LẠI LÀNH
Đời
Trần Hậu Chúa có người em gái là Lạc Xương công chúa nổi tiếng là tài
sắc, thêm văn chương lỗi lạc lại đức hạnh hơn người. Vua gả công chúa
cho phò mã Đức Ngôn. Đang lúc yên vui bỗng bị nhà Tùy đem quân đến
thôn tính tàn phá, vua tôi đều chạy thất lạc. Trong cơn cùng biến, Đức
Ngôn bảo vợ:
- Chúng
ta không thể thoát thân được, việc cùng phải biến, không thể nào quyến
luyến được, vì công chúa là người tài sắc quân giặc không thể để yên
đâu, vợ chồng ta không thể nào sum hợp nữa. Công chúa hãy trao cho
nhau một kỷ niệm và nhẫn nhục sống để sau này gặp nhau.
Công
chúa liền đập bể tấm gương và rồi trao cho chồng phân nửa, còn giữ
phân nửa, hẹn nhau sau nầy sống sót thì đúng vào ngày rằm tháng giêng
sẽ có người mang nửa mảnh gương này bán ở chợ Trường An, chàng nên nhớ
đến đó để tìm chước gặp nhau.
Nhà Trần
bị nhà Tùy diệt mất nhưng phò mã Đức Ngôn trốn thoát, còn công chúa
Lạc Xương bị tướng Tùy là Dương Tố bắt, vì công chúa có sắc đẹp nên
Dương Tố một mực yêu thương.
Đức Ngôn
sống lưu lạc rày đây mai đó, sau cùng đến thành Trường An nhằm ngày
rằm tháng giêng, lại gặp tỳ nữ rao bán mảnh gương giá rất cao không ai
hỏi đến. Đức Ngôn biết tỳ nữ nầy là Công chúa sai đi, liền đến gần mời
tỳ nữ vào tửu quán thết đãi xong, đem sự tình nói thật và xin được xem
mảnh gương. Đức Ngôn lại lấy mảnh gương của mình ráp lại y nguyên.
Đức Ngôn
lại làm một bài thơ:
Chiếu
dữ nhân câu khứ
Chiếu
qui nhân bất qui
Vô
phục hằng nga ảnh
Không
lưu minh nguyệt huy
Nghĩa: người đi gương cùng đi
Gương
về người không về
Bóng
trăng đâu chẳng thấy
Chỉ thấy
bóng trăng thề.
Xong rồi
trao hết hai mảnh gương và bài thơ cho tỳ nữ đem về.
Công
chúa tiếp được mảnh gương và bài thơ, không dằn lòng được, khóc than
bỏ ăn bỏ ngủ. Dương Tố hỏi, vì thương chồng quá không còn biết sợ sệt
gì cứ nói thiệt tự sự đầu đuôi. Nghe vậy Dương Tố lại thương tình liền
cho người tìm Đức Ngôn đến. Dương Tố lại bày ra tiệc rượu đãi Đức
Ngôn, lại cố ép Công chúa làm thơ.
Công
chúa liền ứng khẩu đọc ngay:
Kim
nhựt hà thiến khứ
Tôn
quan đới vị quan
Tiêu
đề câu bất cảm
Phương tiện tố nhân nam
Nghĩa: ngày nay vật đổi dời
Cũ
mới nhìn bỡ ngỡ
Muốn
cười không ra tiếng
Khó khăn
gẫm kiếp người.
Nghe
xong bài thơ, Dương Tố rất cảm động liền giao Công chúa lại cho Đức
Ngôn, còn cắt đất xứ Giang Nam cho vợ chồng cùng hưởng.
Nên có
câu: “Gương vỡ lại lành“. Để nói lên mối tình dang dở nửa chừng
rồi may mắn được sum hợp.
“Tưởng đâu tạo hóa đành hanh
Nào
hay gương vỡ lại lành như xưa “.
Luận
Xét theo
sử liệu tình duyên trên, người đọc thấy cảm động rồi cho ba nhân vật
đều phải. Rồi có cảnh huống nào như vậy mà người chồng quyết bảo vệ và
vợ quyết liều chết theo chồng cũng phải, đây thuyết người ta thường
cho là hai phải. Nhưng để ý một chút, ta thấy có một phải thôi vì ba
nhân vật trên tình cảm quyền tạm thôi.
Luật xử
thế cũng không khắt khe buộc tội cho ba nhân vật trên vì tình cảm biến
phải quyền, quyền có nghĩa là tạm.
Thử phân
tích ba nhân vật trên để tìm cho một lối phải sau nầy:
Trước là
Đức Ngôn tình cảm khốn cùng, bất khả kháng, không thể nào bảo bọc được
người vợ hiền, tự mình muốn lưu thân lại để lo cho nợ nước sau nầy
cũng không thể để cho vợ chết. Xử thế như vậy là làm tròn bổn phận làm
chồng. Nhưng sau lại không làm gì được cho nước nhà mà còn lê thân tìm
vợ là vào chỗ chết cũng là làm cho vợ buồn tủi rồi cũng chết. Trước
kia tự mình không nỡ chết, muốn sống lo cho nước, không nỡ để cho vợ
chết, rồi ngày nay đi đến chỗ chết cả hai thì lẽ phải trước kia không
còn nữa, may ra là dịp may hy hữu mà được sum hợp thôi. Dầu sum hợp
nhưng sao không thấy nổi nhục nhã ê chề cho đời thừa.
Còn Công
chúa đáng lý ra phải liều chết theo chồng mới phải, chỉ có con đường
đó là phải nhưng vì tình cảm nghe theo chồng lưu thân lại rồi phải làm
vợ Dương Tố, tủi hổ ê chề thì còn mong gì gương vỡ lại lành. May ra
chồng còn sống sót, may đặng Dương Tố thương tình cho vợ chồng sum hợp
là việc ít có. Nếu như Đức Ngôn chết, như Công chúa có con cùng Dương
Tố, như Dương Tố giết Đức Ngôn hoặc Dương Tố không trao trả lại thì
còn gì gỡ gạc.
Đó chỉ
là trường hợp đặc biệt ít có, mà người khách quan ai đọc đến chuyện
cảm động khoan dung.
Còn
Dương Tố trước kia là tướng thắng trận quyền thế trong tay, nếu thấy
sắc đẹp mà vẫn giữ được nghĩa khí quân tử, không say đắm mới là phải.
Đằng nầy vừa thấy sắc đẹp, là thú tính nổi lên làm theo dục vọng không
tự chủ được. Nhưng còn vớt vát lại phần nào là sau khi rõ tình cảm thì
còn chút lương tri cho Công chúa cùng Đức Ngôn sum hợp. Một cử chỉ
thay đổi có cảm tình.
Ba
người không ai phải tất cả, xử thế như vậy chưa hoàn toàn, người đàn
bà nầy không làm tròn bổn phận làm vợ.
VỢ NHẠC DƯƠNG TỬ
Theo
Hậu Hán Thư, vợ Nhạc Dương Tử là một người vợ hiền có đức tính tốt,
người thời đó gọi là: “kiết phụ“.
Một hôm
Dương Tử đi đường lượm được lọ vàng của người làm rơi. Anh ta mừng lắm
đem về khoe vợ.
Vợ nói:
- Thiếp
trộm nghe người sĩ không uống nước suối “Đạo Tuyền“, người liêm khiết
không nhận của “ta lay“, chàng nay lượm của rơi ngoài đường được lợi,
ô uế phẩm hạnh thử nên không?
Dương Tử
nghe nói sanh lòng hổ thẹn, bèn đem lọ vàng bỏ ra ngoài đồng. Rồi
Dương Tử từ giã vợ đi xa để học, học được một năm Dương Tử về thăm
nhà.
Vợ quỳ
xuống hỏi rằng:
- Chàng
về có việc gì không?
Dương Tử
nói:
- Ta đi
lâu về thăm nhà chớ không có việc gì cả.
Người vợ
liền cầm dao đến chỗ khung cửi đang dệt nói rằng:
- Lụa
nầy đang dệt đây là nhờ từ lúc nuôi tằm ươm tơ, kéo chỉ mắc lên khung
cửi. Nếu đánh đứt đi một sợi đến hàng tấc lần đến thước, như vậy là bỏ
hỏng có bao giờ chắp lại được, thì công phu từ trước đến nay đều hỏng
đi tất cả. Chàng đi học là để trở nên một người giỏi, nay đang học mà
bỏ trở về thì khác nào tấm lụa đang dệt mà bị cắt ngang không?
Dương Tử
nghe nói cảm động lắm, bèn trở đi học suốt bảy năm đến thành tài mới
về.
Vợ Dương
Tử ở nhà vừa làm vừa gởi tiền cho chồng ăn học, lại vừa nuôi nấng mẹ
chồng.
Nhạc
Dương Tử có vợ hiền như vậy nên sau được vinh hiển. Người sau khen vợ
Dương Tử là bậc hiền ngoan, biết cách khuyên chồng, trọn đạo làm vợ
trọn đời làm dâu.
Ngạn ngữ
có câu:
“Trai
khôn vì vợ
Gái
ngoan vì chồng“.
Hay câu:
“Giàu
vì bạn sang vì vợ“.
Luận
Làm tròn
bổn phận làm vợ đối với chồng trong việc xử thế, là việc lo cho xã
hội, giả như một người chỉ biết phụng sự cho chồng trọn niềm làm dâu
không chống trái, chỉ tùy theo chồng thôi không biết phân biệt phải
quấy. Như vậy chỉ làm tròn bổn phận người vợ trong gia đình thôi, chưa
phải là tròn bổn phận người vợ đối với chồng trong luật xử thế, chưa
phải là hiền nhân.
Ở đây,
vợ Dương Tử lại phải làm nuôi mẹ chồng để lo cho chồng ăn học, còn
phải làm nuôi cho chồng, trong khi đó người đàn bà làm tròn bổn phận
trong gia đình thôi, còn sự sống cho gia đình là bổn phận của chồng.
Hơn thế nữa là Nhạc Dương Tử nhờ có vợ khuyên mới làm nên.
Người
vợ như Dương Tử là tròn bổn phận hiền nhân vậy.
LƯ THỊ
Phòng
Huyền Linh danh tướng đời Đường, lúc còn hàn vi ông lâm bịnh nặng sợ
không thể sống đặng nên gọi vợ là Lư Thị đến bên giường mà bảo rằng:
- Bịnh
tình tôi nguy ngập, không thế nào sống đặng, nàng còn trẻ không nên ở
vậy thủ tiết mà oan uổng một đời. Vậy khi tôi mất, nàng nên lo liệu mà
ăn ở phải đạo với người chồng khác.
Lư Thị
nghe nói khóc nức nở, bèn vào trong phòng khoét bỏ một mắt để tỏ lòng
chung thủy với chồng, nếu chẳng may chồng có chết đi thì thân đã tàn
tật không còn ai dòm ngó mà đặng tròn tiết.
Nhưng
không bao lâu Phòng Huyền Linh lại hết bịnh, sau vào kinh thi đỗ cao
làm quan đến chức tể tướng. Để đáp lại tấm lòng chung thủy của vợ, ông
một mực yêu thương vợ không lấy tỳ thiếp, sống một đời giàu sang hạnh
phúc.
Luận
Làm vợ
mà để cho chồng có tỳ thiếp, cũng tại người vợ một phần nhỏ vậy. Vì
nếu người vợ đầy đủ tư cách đối xử, thờ phụng hiếu thảo với cha mẹ
chồng, tận tụy lo cho chồng, trọn tình chung thủy phải tỏ ra cử chỉ
trọn niềm chung thủy. Nhờ vậy cảm động lòng chồng sẽ đặng bù lại là
chung thủy với vợ.
Như
Phòng Huyền Linh làm đến quan tể tướng, đâu dễ gì không tỳ không
thiếp, nhưng vì cảm động lòng chung thủy của vợ nên đáp lại tấm lòng
cao cả ấy.
Hai vợ
chồng Phòng Huyền Linh là bậc hiền nhân.
Bài kinh của Lê Quý Đôn:
MẸ DẠY CON VỀ NHÀ CHỒNG
Vãng chi
nhữ gia, tất kính tất giới vô khả phu tử!
1) Mày
về nhà chồng phải kính, phải răn chớ trái lờiù chồng. Khuyên con giữ
đạo làm dâu, bà già nghĩ đã đến lắm vậy.
2) Phù
con dại cái mang, lẽ xưa nay vẫn thế. Khuyên con phải kính trọng chồng
há chẳng phải đạo lắm ru.
3) Mẹ
đưa con ra cửa ý nghĩ rằng: Trong phối định ba giềng đạo cả thực là
muôn hóa chí theo ra; mà hôn nhân hai họ giao vui há để một lời chỉ
trách đến.
4) Mẹ
đưa con ra mẹ càng nghĩ lắm con ạ!
5) Con,
con mẹ, mà dâu, dâu người vậy! Hoặc lời ăn tiếng nói chi ra tuồng, tức
lành đồn xa dữ đồn xa bảo rằng con, con chi còn nhỏ.
6) Dâu,
dâu người, mà con con mẹ vậy! Hoặc trong cửa trong nhà chi có chuyện,
lúc yêu nên tốt, ghét nên xấu, rồi xa trách mẹ chi không răn.
7) Về
nhà chồng phải kính phải răn, chớ có trái lời chồng con nhé!
8) Lúc ở
nhà nhờ mẹ nhờ cha, về nhà chồng nhờ chồng nhớ nghe con! Khôn chẳng
qua lẽ, khỏe chẳng qua lời, chớ bắt chước người xỏ chân lỗ mũi chi
lăng nhăng. Như vầy con, như vầy con: đi đến nơi về đến chốn, việc nhà
việc cửa cho siêng năng; hỏi thì nói, gọi thì thưa, thờ mẹ thờ cha cho
phải lễ. Kính lấy đấy! Răn lấy đấy! Liệu học ăn, học nói, học gói, học
mở; khi anh nó hoặc ra xô xát chi lời cũng tươi cũng đẹp, cũng vui
cười; chớ như ai học thói nhà ma mà hoặc con cà con kê chi kể lể.
9) Lúc ở
nhà là mẹ là con, về nhà chồng là dâu là con nhé! Khôn cho người vái
dại cho người thương, chớ bắt chước người thế mặc áo qua khỏi đầu chi
khủng khỉnh. Nghe chưa con? Nghe chưa con?Ăn có nơi nằm có chốn, có
chồng lời ăn nết ở cho ra tuồng, gọi thì dạ bảo thì vâng thờ mẹ cha
cho phải đạo. Kính vậy thay! Răn vậy thay! Chớ cậy khôn cậy khéo, cậy
duyên, cậy tài; khi anh nó nổi bầng bầng chi sắc, thì lạy, thì can,
thì lễ phép, đừng học chi những tuồng đĩ thõa, mà hoặc dây mơ rễ má
chi lôi thôi.
10) Đời
có kẻ xem chồng như đứa ăn đứa ở, thậm đến đều mầy tớ chi khinh. Chẳng
biết rằng: ngu si cũng thể chồng ta, dẫu rằng khôn khéo cũng ra chồng
người. Chẳng suy, chẳng nghĩ, lại ra đều cả vú lấp miệng em, sao chẳng
biết xấu chàng hổ ai chi lý! Mẹ khuyên con giữ đạo cương thường, khôn
hèn cũng chịu hay dở cũng đành, chớ hoặc sinh vênh vểnh chi môi, khi
anh nó giận quá sinh xằng, mẹ, con ắt vèo trôi chi tiếng.
11) Đời
mà kẻ giận chồng mà đánh con đánh cái, thậm đến điều mầy tao chi quá.
Chẳng biết rằng: Khôn ngoan cũng thể đàn bà, tuy là vụng dại cũng là
đàn ông. Bạ ăn bạ nói, lại ra điều múa rìu qua mắt thợ, sao chẳng biết
già đón non lẽ chi cơ? Mẹ khuyên con giữ nết thảo hiền, vọt roi cũng
chịu, yêu thương cũng nhờ, chớ hoặc lộ sầm sầm chi nét mặt, khi anh nó
nói dai thêm chuyện, cha con ắt phải vớ cọc chi cười.
12) Con
ơi nhập gia tùy tục, mẹ nhủ cho đạo vợ chi thường; xuất giá tùng phu
con phải giữ cho nhà chồng chi phép.
13) Thôi
mẹ về!
Bài văn
nầy khuyên răn cho người con gái làm dâu thật rất thâm thiết, dầu cho
là xưa nhưng nay cũng không thiếu được.
Ai cũng
công nhận rằng:
“Thiệt
nhu thường tồn, xỉ cang tắc chiết“.
Hay câu:
“Nhu
thắng cang nhược thắng cường“.
Thì bài
nầy của Lê Quý Đôn dạy cho người làm dâu rất đúng bậc hiền nhân.
10. BỔN PHẬN NGƯỜI LÃNH ĐẠO
Từ
xưa đến nay đạo giữ nước an dân chỉ có hai đường lối: nhân trị và pháp
trị hoặc nói dụng cương hay dụng nhu. Nhân nhu là lấy lòng nhân cảm
hóa dân chúng có tình cảm châm chế tha thứ khoan dung. Pháp cương là
lấy luật pháp răn trị gắt gao không chút tình cảm.
Dùng
nhân tuy dân chúng biết ơn, lần lần không biết sợ sanh khinh lờn rồi
làm bướng làm càn thành ra hỗn loạn mất trật tự khó hồi được.
Còn dùng
pháp trị dân chúng ai cũng kinh sợ tạm lấy lại trật tự an ninh nhưng
pháp luật khuôn khổ khắt khe, cứ mỗi lần người dân có lỗi nho nhỏ cũng
căng thẳng theo pháp luật, lần lần người dân là đối lập của nhà nước
họ sẽ thán oán.
Nếu như
dùng theo hai phương pháp trên mà người cầm quyền thanh liêm, chánh
trực thì cũng dễ bình trị không khó lắm.
Xưa nay
cứ xoay qua xoay lại, nhu cho đến dân chúng sanh lờn rồi trở lại
cương, cương cho đến dân chúng thán oán rồi trở lại nhu, sao ta không
tìm được một lối quân bình?
Ta không
dựa theo bên nào và cũng không bắt chước ai, chúng ta có óc phán đoán
kinh nghiệm tìm ra lối thích hợp để dung hòa giữa nhu và cương, nhân
và pháp. Với lương tâm thận trọng, trí óc minh mẫn dè dặt, luật là để
đối xử với nhau quân bình, giữa hai bên ấy ta chỉ xen vào một chữ “lễ“
đó là trung đạo. Lễ tức nhiên có thanh liêm chánh trực, giữ lễ mà
thẳng thắng thế là một lối dung hòa lẫn cương với nhu vậy.
Hành
pháp đúng luật nhưng lúc nào cũng lễ phép, lễ phải đủ nhân và pháp
thiếu một không thành lễ. Khi hành pháp cứ theo luật mà xử không thiên
vị, nhưng lúc nào cũng giữ lễ độ. Tội nhân họ có tội đương nhiên họ
phải chịu tội nhưng người hành pháp phải tôn nhân phẩm của họ dầu họ
đã mất nhân phẩm; không gọi tội nhân bằng mầy tao, hay con kia thằng
nọ, không mắng nhiếc chửi rủa, phải lấy lời nhỏ nhẹ lễ phép ôn hòa mà
thẳng thắng. Không thiên vị nhưng có lời thương tiếc an ủi, khuyên lơn
họ về sau không còn phạm tội nữa. Người hành pháp đối với tội nhân
không có thù oán gì cả và phải thông cảm tội nhân, cũng không thù oán
gì với người hành pháp.
Dung hòa
cương và nhu lấy lễ mà kết hợp thành luật nhưng căn bản là phải liêm
sỉ, chánh trực.
Viết
không hết lời, nói không hết ý, ở đây chỉ bàn về liêm sỉ, vô liêm sỉ,
từ ái, vô từ ái, lễ và vô lễ nhưng chi tiết quân bình nó sẽ hiện bày
trong đó là xử thế của bậc hiền nhân.
Tìm cái
hay của người xưa ta học theo, cái dở xấu ta tránh.
LỖ ĐỊNH CÔNG
Lỗ
Định Công thấy Khổng Phu Tử là người dùng lễ trị rất tài nên triệu về,
giao cho giữ chức tướng quốc chỉnh đốn kỷ cương trong nước dạy dân lấy
nhơn, lễ, nghĩa, trí, liêm, sỉ, từ ái. Chỉ có trong ba tháng về sau
phong tục nước Lỗ cải đổi, các quan lại liêm sỉ, từ ái, các nhà buôn
bán không man trá, trai gái phân biệt nhau, không người say sưa, hết
kẻ trộm cướp, trong nhà hòa thuận, hết người hung dữ, không còn hỗn
loạn, cho đến thấy của rơi người ta không thèm lượm. Các nước du lịch
đến được tiếp đãi khiêm tốn, họ nhìn thấy phong tục của nhân dân nước
Lỗ, vừa kính vừa sợ lo cho nước Lỗ bành trướng.
Dân nước
Lỗ làm bài ca để tôn trọng đức Khổng Tử, bài ca được tụng truyền đến
tai nước Tề. Cảnh Công sợ hãi nói với các quan:
- Nếu
vậy thời nước Tề sau nầy tất bị nước Lỗ chiếm mất, ta phải tìm cách đề
phòng.
Quan đại
phu là Di Lâu tâu:
- Muốn
cho nước Lỗ không cường thạnh ta nên ngăn đón lại. Bởi con người đặng
quyền thế thì hay sanh tự kiêu, thích ăn chơi, xin chúa công chọn mỹ
nữ cho đẹp tập cho sành vũ nhạc ca hát, rồi đem tặng cho vua Lỗ. Vua
Lỗ sẽ ham mê, tất sanh lười biếng bỏ lễ và Khổng ắt sẽ bỏ đi.
Tề Cảnh
Công cho là diệu kế, liền sai Lê Di chọn trong đám gái hát, lựa những
nàng thật xinh đẹp, tuổi độ trăng tròn, cả thảy tám mươi người chia
làm mười đội, cho mặc toàn gấm vóc, hàng ngày tập múa cho tinh diệu.
Khúc hát gọi là Khang nhạc có nhiều vũ điệu cám dỗ phi thường, lối
trình bày lạ mắt xưa nay chưa từng có.
Khi tập
luyện xong, Lê Di lại chọn một trăm hai chục con ngựa thật đẹp đủ màu
sắc trông kỳ thú, rồi sai đem dâng cho Lỗ Định Công.
Sứ giả
lại cất một rạp cao giáp ranh nước Lỗ, phía Đông thì bày đoàn nữ nhạc,
phía Tây thì bày đoàn ngựa rồi đệ thư vào dâng cho Lỗ Định Công.
Qui Tôn
Tư trước kia làm tướng quốc cho nước Lỗ sau giao lại cho Khổng Tử bỉnh
chánh làm cho nước hùng cường đem lòng ganh tỵ. Nay nghe nước Tề đem
dâng bộ nữ nhạc đẹp lắm lòng ham muốn, liền thay đổi y phục lén ra cửa
lao môn để xem. Gặp lúc đang tập diễn, tiếng ca lanh lảnh, điệu múa
dịu dàng phô bày sắc đẹp vang vọng tiếng hay. Qui Tôn Tư đứng xem lòng
ngây ngất như điên như dại.
Ngày hôm
sau lâm triều, Lỗ Định Công hỏi ý kiến về việc nước Tề dâng bộ nữ
nhạc. Qui Tôn Tư bước ra tâu:
- Đó là
lòng tốt của nước Tề, ta không nên từ chối.
Lỗ Định
Công nghe nói sắc đẹp của nữ nhạc lòng đã ham muốn, nay nghe Qui Tôn
Tư tâu như vậy rất hạp ý, nhưng còn chưa quyết định vì còn ngại làm
như vậy là sai lối trị nước của Khổng Tử.
Nhưng
khi bãi triều về sai người mời Qui Tôn Tư đến, cùng mình mặc đồ thường
phục lén đến xem. Tôn Tư lại lén sai người đến mật báo với viên nhạc
trưởng biết trước phải điêu luyện cho tinh vi, tiếng hát véo von, âm
nhạc kích thích điệu múa ẻo lả, làm cho vua Lỗ dù mặt sắt gan cây cũng
ngây ngất si tình.
Các thị
vệ khoe với Định Công còn đoàn ngựa trông đẹp lắm.
Lỗ Định
Công nói:
- Chỗ
này xem đẹp chán không đủ giờ để xem, có dư giờ đâu mà xem ngựa!
Về đêm
ấy Lỗ Định Công trằn trọc mãi không ngủ được, lòng ham muốn bồng bột
không còn tự chủ được, trước mắt cứ lởn vởn hình bóng giai nhân, bên
tai còn văng vẳng tiếng nhạc lời oanh thỏ thẻ.
Sáng hôm
sau Lỗ Định Công sợ đòi các quan e có nhiều ý kiến cản trở, chỉ đòi
một mình Qui Tôn Tư đến để viết thư phúc đáp nhận đoàn nữ nhạc, lại
lấy trăm nén vàng tặng cho sứ giả. Rồi đem bộ nữ nhạc vào cung chia
cho ba mươi người, còn đoàn ngựa giao cho Ngữ Nhân chăn nuôi.
Lỗ Định
Công và Qui Tôn Tư đặng đoàn nữ nhạc lòng mê man suốt ngày tháng không
còn nghĩ gì đến việc triều đình.
Khổng Tử
hay điều ấy than rằng:
- Thế là
nạn tai của dân nước Lỗ đã đến ngày điêu tàn rồi.
Học trò
của Khổng Tử là Trọng Do đứng bên cạnh nói:
- Chúa
công ham mê sắc đẹp, lười biếng bỏ việc triều đình, ta dầu can cũng
không ích gì, chỉ rước họa vào mình thôi, xin thầy đi nước khác hay
hơn.
Đức
Khổng Tử bỏ nước Lỗ sang Vệ rồi sang Tống.
Do đó mà
nước Lỗ đời này đến đời kia vẫn yếu hèn, dân tình hỗn loạn, quan lại
tham lam đua nhau giành ăn cho đến mất nước.
Luận
Đường
lối của Khổng Tử thật dung hòa, vì đạo ngài thường dạy đạo trung dung
về mọi mặt, bởi thuyết trung dung dụng lễ quân bình đem lại cho mọi
người dung hòa lẫn nhau không chênh lệch. Lễ lại là liêm sĩ không đam
mê tửu sắc. Nay Lỗ Đinh Công ham mê nữ sắc thì bao nhiêu liêm, sĩ, lễ,
nghĩa tất cả không còn, nước Lỗ lẽ tất nhiên phải yếu và mất.
TẤN LINH CÔNG
Tấn
Linh Công lúc tuổi già lại hoang dâm vô độ, thêm bạo ngược, chỉ ham mê
tửu sắc, không kể đến sự dân sự nước gì nữa, dùng quan đại phu Đồ Ngạn
Giả là một tên nịnh hót làm càn.
Tấn Linh
Công sai Đồ Ngạn Giả lập vườn hoa trong thành, tìm đủ thứ hoa thơm cỏ
lạ khắp nơi đem về ở đó. Trong vườn nhiều nhứt là hoa đào, cứ về mùa
xuân hoa nở rất đẹp mắt, giữa vườn có xây một cái đài cao lớn có ba
tầng gọi là Giáng Tiên Lầu.
Đồ Ngạn
Giả lấy vàng vua đem ra làm phân nửa, bỏ túi phân nửa còn tha hồ thâu
góp của dân chúng bốn phương, đem về làm giàu, lại còn bắt dân tình
làm công khổ sở, đói khát cơ cực mới thành ngôi đài nguy nga tráng lệ.
Hôm nọ
lên đài Tấn Linh Công nói với Đồ Ngạn Giả:
- Trên
lầu bắn chim chưa vui. Vậy ta với ngươi thi nhau bắn người mới vui.
Nếu bắn trúng con mắt thì thắng, bắn trúng mình chân tay không kể, bắn
trật thì phạt uống một vò rượu.
Nói xong
trao cho Đồ Ngạn Giả một cây cung, rồi hai người đua nhau bắn, dân
chúng đang xem múa hát bị bắn tên kẻ trúng đầu, người trúng tay bỏ
chạy miệng nguyền rủa vang trời.
Tấn Linh
Công giận lắm truyền quân sĩ bắn ra như mưa, chúng dân bị tên lớp chết
lớp bị thương kêu khóc ầm ĩ. Tấn Linh Công đứng trên lầu xem thấy vỗ
tay cười lớn nói với Đồ Ngạn Giả rằng:
- Ta
chơi ở trên lầu nầy chưa lúc nào vui bằng hôm nay.
Từ đó
người trong nước không ai dám đi ngang qua đài đó nữa.
Kế nhà
Châu đem biếu cho Tấn Linh Công một con mãnh khuyển tên gọi là Linh
Ngao, con chó nầy cao ba thước(1),
sắc lông đỏ như lửa, lại tinh khôn lắm, biết nghe theo ý chủ sai
khiến.
Mỗi khi
ai có lỗi lầm, Tấn Linh Công xúi cho con Linh Ngao cắn chết để làm trò
chơi. Con Linh Ngao được cấp dưỡng mỗi ngày một cân thịt, do Ngao Nô
nuôi dưỡng. Tấn Linh Công đi đâu thì con Linh Ngao dẫn đi theo, ai nấy
đều khiếp sợ, dân chúng đều chạy trốn.
Triệu
Thuẩn thấy vậy khuyên Tấn Linh Công nên sửa mình chuộng hiền bỏ dữ,
nhưng Tấn Linh Công vẫn thản nhiên không nghe lời can. Một hôm bãi
triều các quan lui về hết chỉ còn Sĩ Hội với Triệu Thuẩn ở nán lại.
Triệu Thuẩn nói với Sĩ Hội:
- Vua
không lo chính đạo, không kể đến nhân dân ắt cơ nghiệp nước Tấn điêu
tàn.
Sĩ Hội
cũng than thở buồn rầu. Giữa lúc đó bỗng cửa cung mở ra, bọn nội thị
khiêng một cái giỏ tre đi ra. Triệu Thuẩn hỏi:
- Tại
sao trong cung có cái giỏ tre khiêng ra?
Bọn nội
thị không đáp cứ cắm đầu khỉêng đi. Triệu Thuẩn nổi giận chạy đến hét:
- Các
ngươi không nói ta chém đầu.
Một
người trong bọn nói:
- Ngài
làm quan tể tướng muốn xem cứ xem, chúng tôi không dám nói vì lệnh cấm
của vua.
Triệu
Thuẩn đến gần thấy trong giỏ ló ra một cánh tay, liền giở ra xem thấy
một cái xác chết. Triệu Thuẩn hỏi:
- Xác
nầy của ai? Vì sao khiêng khỏi cung?
Một tên
nội thị thưa nhỏ:
- Đây là
tên nội thị nấu ăn cho chúa công, vừa rồi chúa công sai nấu thịt gấu,
người này nấu chưa kịp chín, chúa công nóng lòng đem chém.
Triệu
Thuẩn nói với Sĩ Hội:
- Vua là
người nắm giềng mối của quốc gia lo cho nhân dân, nếu coi mạng người
như cỏ rác thì thế nào giữ nước được, chúng ta phải can gián.
Sĩ Hội
nói:
- Để tôi
vào can trước, nếu vua không nghe, tể tướng hãy can sau.
Tấn Linh
Công đang ngồi trên ngự ỷ vỗ đầu con Linh Ngao đùa giỡn, thấy Sĩ Hội
vào biết là can mình liền nói :
- Ta
biết hối lỗi, các ngươi chớ lắm lời.
Sĩ Hội
lui ra nói lại, Triệu Thuẩn nói:
- Nếu kẻ
có lỗi mà biết sữa chữa thì tốt, chỉ sợ chúa công nói cho qua.
Sĩ Hội
nói:
- Nếu
chúa công biết hối lỗi ít ngày sẽ có chính lệnh.
Hai
người đặt hy vọng vào lòng rồi về dinh.
Hôm sau
Tấn Linh Công vẫn bỏ triều, ra chơi nơi vườn hoa như thường lệ. Triệu
Thuẩn nói với Sĩ Hội:
- Ta xem
hành động của chúa công như vậy là không phải sửa lỗi, ta phải đến
vườn hoa khuyên can mới được.
Nói xong
đến cửa hoa viên, đợi xe giá Tấn Linh Công đi ngang qua thì đón lại mà
yết kiến.
Thấy
Triệu Thuẩn đón mình, Tấn Linh Công hỏi:
- Ta
không có lịnh triệu sao ngươi lại đến?
Triệu
Thuẩn sụp lạy tâu:
- Dẫu
một vị vua vô đạo đến đâu, cũng không lấy việc giết người làm vui bao
giờ. Nay chúa công nuôi chó cho cắn người, bắn tên vào đầu dân chúng
để thi tài, giết kẻ nô bộc không đáng tội. Như vậy sao gọi là vua
hiền, thì ai chịu phụng thờ, xin chúa công nghĩ lại, nên tự hối cải ăn
năn may ra mới bảo tồn được nước Tấn.
Tấn Linh
Công nghe nói lòng thẹn, lật tay áo che mặt nói:
- Nhà
ngươi hãy lui về, ta chơi vui một hôm nữa ngày mai sẽ tự lo hối quá.
Triệu
Thuẩn nói:
- Người
thấy điều lỗi là tai họa thì phải lập tức chừa bỏ, sao còn hứa hẹn.
Chúa công đã cho việc chơi bời là trái mà còn lưu luyến thì chưa phải
thực muốn sửa đổi.
Nói xong
đứng chặn xe không cho vua đi.
Đồ Ngạn
Giả thấy thế nói:
- Quan
tể tướng can vua là đủ rồi, cản xe giá vua không sợ tội sao? Nếu có
điều gì xin để về triều thương nghị.
Tấn Linh
Công nói:
- Ta sẽ
triệu ngươi vào buổi triều sáng.
Triệu
Thuẩn bất đắc dĩ phải tránh qua một bên chừa lối cho Linh Công đi, rồi
trừng mắt ngó Đồ Ngạn Giả mắng rằng:
- Mầy là
đứa nịnh thần, nước nhà suy vong cũng tại mầy cả.
Đồ Ngạn
Giả nhếch miệng cười, rồi cùng Tấn Linh Công vào vườn hoa thưởng
ngoạn.
Trong
lúc đang vui cười, Đồ Ngạn Giả nhìn Tấn Linh Công thở dài nói:
- Tiếc
thay cuộc vui lần này là lần chót.
Tấn Linh
Công nói:
- Sao
quan đại phu lại nói vậy?
Đồ Ngạn
Giả nói:
- Tôi
chắc rằng từ nay tể tướng Triệu Thuẩn không để chúa công đến đây nữa.
Tấn Linh
Công giận nói:
- Từ xưa
đến nay chỉ có vua kềm chế bầy tôi, chớ bầy tôi sao lại kềm chế vua, ý
ta không muốn để kẻ nào áp bức ta.
Đồ Ngạn
Giả nói:
- Nếu
còn Triệu Thuẩn thì không bao giờ chúa công đặng tự do.
Tấn Linh
Công nói:
- Phải
làm cách nào để trừ được Triệu Thuẩn?
Đồ Ngạn
Giả nói:
- Tôi có
một người tên Thư Nghê, người ấy nghèo lâu nay được tôi chu cấp, vì
cám ơn tôi dẫu chết để đền ơn người ấy cũng không từ chối, nay sai Thư
Nghê giết Triệu Thuẩn ắt xong.
Tấn Linh
Công nói:
- Nếu
làm được việc ấy thì công của ngươi rất lớn.
Đêm hôm
ấy Đồ Ngạn Giả sai đòi Thư Nghê đến nói:
- Triệu
Thuẩn chuyên quyền, nay ta phụng chiếu vua sai ngươi đi giết Triệu
Thuẩn. Vậy ngươi nai nịt hẳn hòi, sáng mai chực ở cửa tư dinh Triệu
Thuẩn, chờ hắn ra thì xông vào đâm chết. Việc làm phải thận trọng đừng
để thất bại.
Thư Nghê
vâng mệnh, giắt con dao vào mình rồi thẳng đến tư dinh Triệu Thuẩn.
Lúc đó trời tờ mờ sáng, xe đã chực sẵn ở cửa, Thư Nghê lẻn vào trong
xem thấy Triệu Thuẩn đã mặc áo đai triều đầu đội mão, tay cầm hốt, vẻ
mặt trầm tư đang ngồi chờ đến giờ vào triều.
Thư Nghê
xem thấy thất kinh nghĩ rằng:
- Kẻ lo
việc nước là bậc trung thần, cớ sao nhà vua lại truyền giết đi? Nay ta
nghe theo giết tôi trung thần là bất trung, mà không giết trái lệnh là
bất tín.
Nghĩ rồi
liền đứng trước cửa nói lớn:
- Tôi là
Thư Nghê đây, thà là trái mệnh vua chớ không nỡ hại kẻ trung thần.
Nói xong
rút đao tự tử. Quân tùy tùng áp lại thì Thư Nghê đã tắt thở.
Quan xa
hữu là Đề Di Minh nói với Triệu Thuẩn:
- Vua
làm việc ám muội nhưng Thư Nghê thật đáng khen. Việc đã xảy ra nỗi
này, xin tể tướng chớ vào triều e có biến.
Triệu
Thuẩn nói:
- Vua đã
hẹn ta sáng vào triều thương nghị, nếu ta không đến là trái lịnh vua.
Việc sống chết của ta đâu bằng việc nước.
Nói xong
truyền quân đem xác Thư Nghê chôn dưới gốc cây rồi đi thẳng đến cửa
cung.
Tấn Linh
Công thấy Triệu Thuẩn không chết, đưa mắt ngó.
Đồ Ngạn
Giả nói:
- Thư
Nghê đi rồi, lại có tin Thư Nghê tự vẫn, tôi không rõ ý gì? Song cứ
như việc này thì cơ mưu đã thất bại.
Tấn Linh
Công hỏi:
- Thế
thì phải làm cách nào để trừ Triệu Thuẩn?
Đồ Ngạn
Giả nói:
- Ngày
mai chúa công vời Triệu Thuẩn vào cung uống rượu, phục quân sẵn sau
tường. Lúc đang uống rượu, chúa công bảo Triệu Thuẩn đưa gươm ra xem.
Tôi đứng bên chờ Triệu Thuẩn rút gươm khỏi vỏ, sẽ quát to rằng: Triệu
Thuẩn thí vua, sẽ hô võ quân giáp sĩ bắt Triệu Thuẩn giết đi. Như thế
bệ hạ khỏi mang tiếng giết đại thần.
Tấn Linh
Công cho là diệu kế, liền nói với Triệu Thuẩn rằng:
- Quan
tể tướng đã vì nước hết lòng khuyên ta sửa lỗi. Ta cảm ơn ấy nên đã
định ngày mai xin mời tể tướng vào cung ta đối ẩm để ghi nhớ ngày nay
ta sửa lỗi.
Sáng hôm
sau Triệu Thuẩn vâng mạng vào cung, có quan xa hữu là Đề Minh đi theo.
Khi bước
lên thềm, Đồ Ngạn Giả bảo Đề Minh:
- Nay
chúa công mời tể tướng uống rượu, cấm người khác không ai được bước
lên thềm cung.
Đề Minh
không biết nói sao đành đứng dưới thềm.
Triệu
Thuẩn bước lên thềm, sụp xuống lạy hai lạy rồi ngồi cùng Tấn Linh Công
dự tiệc.
Khi rượu
được vài tuần, Tấn Linh Công hỏi:
- Ta
nghe tể tướng có thanh gươm tốt lắm, vậy cho ta xem.
Triệu
Thuẩn không biết mình bị lừa, toan rút gươm đeo bên mình ra. Đề Minh
xem thấy thất kinh nói lớn:
- Bề tôi
đến hầu vua còn không được uống rượu quá chén, sao tể tướng dám rút
gươm trước mặt vua?
Triệu
Thuẩn hiểu ý đứng dậy ngay, tức thì Đề Minh bước lên kéo Triệu Thuẩn
xuống. Đồ Ngạn Giả biết cơ mưu bại lộ, liền hô con Linh Ngao đuổi cắn.
Triệu Thuẩn và Đề Minh chạy đến cửa cung thì con Linh Ngao đuổi kịp,
Đề Minh giựt cây dùi đồng đập con Linh Ngao gãy cổ.
Tấn Linh
Công tức giận hô giáp sĩ đuổi theo. Đề Minh đánh chặn cửa cung để cho
Triệu Thuẩn chạy. Quân giáp sĩ chém Đề Minh đứt làm hai đoạn.
Giữa lúc
đó Triệu Sóc hay cha bị nạn cũng vừa đem quân đến cứu.
Hai cha
con đánh đuổi quân giáp sĩ chạy trở về.
Triệu
Thuẩn nói:
- Cha
con ta không thể về dinh được mà phải tìm nơi lánh nạn.
Triệu
Sóc nói:
- Phụ
thân định đi đâu?
- Một là
sang nước Địch, hai là sang nước Tần. Bây giờ hai cha con ta ra cửa
Tây mà trốn đi.
Tuy
không giết được nhưng thấy Triệu Thuẩn đã trốn, Tấn Linh Công an lòng,
vì không còn ai cản trở nữa, rồi cùng cung quyến ra vườn hoa ở không
về cung nữa.
Triệu
Xuyên đi săn ở Tây Giao về gặp cha con Triệu Thuẩn đang tị nạn, liền
hỏi đầu đuôi tự sự.
Triệu
Thuẩn nói:
- Ta
không thể ở lại nữa được, ngươi hãy về tìm cách cứu lấy nước nhà.
Triệu
Xuyên nói:
- Thúc
phụ chớ sang nước khác vội, hãy đợi trong mấy ngày con dò xét tin tức
đã.
Triệu
Thuẩn nói:
- Nếu
vậy ta đóng quân ở Thủ Dương Sơn, còn ngươi phải cẩn thận kẻo mang vạ
vào thân.
Triệu
Xuyên từ biệt trở về kinh thành, nghe tin Tấn Linh Công đem cung quyến
ra ở nơi hoa viên, mới giả cách vào yết kiến để xin lỗi cho Triệu
Thuẩn.
Triệu
Xuyên tâu:
- Tôi
chính là người thân thích của Triệu Thuẩn. Nay Triệu Thuẩn có tội, tôi
đâu còn dám hầu chúa công, vậy chúa công cho phép tôi từ chức.
Tấn Linh
Công tin Triệu Xuyên thực lòng nên nói:
- Triệu
Thuẩn vô lễ, nhiều lần cưỡng ép ta nên ta mới giận, còn nhà ngươi có
can chi mà từ chức.
Triệu
Xuyên nói:
- Tôi
thiết tưởng vua chỉ quý hơn người là được cách ăn chơi thoả thích, nay
chúa công khiêm tốn chỉ có tạm vui như vậy mà tể tướng lại cản ngăn
thật là đắc tội. Nay tể tướng đã trốn đi rồi, thần xin phục vụ chúa
công đầy đủ chút vui để nhàn khi tuổi già có hại gì đâu? Nay Chúa công
lập hoa viên, nhạc khí mà thiếu mỹ nữ thì lấy gì mà vui. Tề Hoàn Công
xưa ngoài chánh cung ra, còn biết bao cung nữ. Tiên quân ta là Tấn Văn
Công lúc lưu vong đi đến đâu lấy vợ ở đó, lúc về nước đã ngoài sáu
mươi mà gái đẹp đầy cung.
Nay chúa
công lập hoa viên, thì cũng nên chọn mỹ nữ để thưởng thức ca múa cho
vui.
Tấn Linh
Công nói:
- Nhà
ngươi nói rất hạp ý ta, nay ta muốn tuyển gái đẹp nhưng chưa biết giao
cho ai?
Triệu
Xuyên nói:
- Việc
nầy giao cho đại phu Đồ Ngạn Giả là xong.
Tấn Linh
Công liền khiến Đồ Ngạn Giả đi tuyển gái đẹp, bất cứ trong thành ngoài
ấp ai có con gái đúng tuổi, đều phải đem dâng nạp để tuyển lựa, hạn
trong một tháng phải xong.
Đồ Ngạn
Giả đi rồi, Triệu Xuyên nói với Tấn Linh Công:
- Những
quân thị vệ trong vườn hoa rất ít, nếu xảy ra bất trắc khó xoay trở
cho kịp thời, nay tôi vừa mới tuyển được một số quân thị vệ xin chúa
công cho phép xung vào.
Tấn Linh
Công y tấu, Triệu Xuyên liền về dinh tuyển hai trăm giáp sĩ của mình.
Bọn giáp
sĩ thưa:
- Chẳng
hay tướng quân định sai chúng tôi đi đâu?
Triệu
Xuyên nói:
- Chúa
công vô đạo tàn ác với nhân dân, ham vui chơi chốn vườn hoa, lại sai
ta tuyển quân thị vệ để ngày đêm túc trực. Bọn ngươi ai cũng có vợ con
nếu đi vào đó bao giờ sum họp với gia đình?
Bọn giáp
sĩ than thở:
- Đứa
hôn quân vô đạo tàn ác còn trị nước ngày nào, tai họa còn chồng chất
lên đầu muôn dân ngày ấy. Nếu Triệu tể tướng mà còn ở nhà đâu có nỗi
này!
Triệu
Xuyên nói:
- Ta có
một ý kiến, muốn đem bàn với các ngươi chẳng biết có nên chăng?
Bọn giáp
sĩ nói:
- Nếu
tướng quân có cách gì cứu chúng tôi thoát ra khỏi cảnh khổ này, dầu
phải gian khổ đến đâu chúng tôi chẳng dám từ.
Triệu
Xuyên nói:
- Chỗ
vườn hoa không kín đáo bằng chốn thâm cung, đêm nay chờ đến canh hai
các ngươi xông vào Giáng Tiên Lầu đòi ban thưởng, lúc nào ta vẫy tay
áo ra hiệu các ngươi áp lên giết hôn quân đi, rồi triệu quan tể tướng
về mà lập vua khác.
Bọn giáp
sĩ đều đồng thanh: Xin tuân lệnh.
Đêm nay
Tấn Linh Công cùng Triệu Xuyên uống rượu trên lầu Giáng Tiên, vưà đến
canh hai bỗng nghe vườn hoa có tiếng huyên náo.
Triệu
Xuyên nói:
- Đây
chắc là quân thị vệ đánh đuổi những kẻ đi đêm, tôi xin ra phủ dụ để
chúng khỏi kinh động đến thánh giá.
Nói xong
Triệu Xuyên truyền thắp đèn lồng rồi từ trên đài bước xuống mở cửa.
Bọn giáp sĩ kéo vào. Triệu Xuyên bảo bọn giáp sĩ đứng dưới, rồi lên
nói với Tấn Linh Công rằng:
- Quân
sĩ hay chúa công ngự tiệc nên muốn xin ít lộc thừa chứ không có điều
chi.
Tấn Linh
Công truyền nội thị đem rượu thịt xuống lầu ban thưởng, rồi đứng trên
bao lơn xem xuống.
Triệu
Xuyên hô lớn:
- Chúa
công đã thân hành ra đây ban thưởng vậy các ngươi hãy lạy tạ.
Nói rồi
vẫy tay áo ra hiệu, quân sĩ trông thấy kéo nhau lên lầu.
Tấn Linh
Công sanh nghi, sợ sệt nói với Triệu Xuyên:
- Quân
sĩ lên đây để làm gì? Ngươi mau mau phải truyền cho chúng nó trở
xuống.
Triệu
Xuyên nói:
- Chúng
muốn lên yết kiến chúa công để cám ơn chúa công ban thưởng.
Tấn Linh
Công đã biết bị Triệu Xuyên lừa nhưng chưa kịp nói lời nào thì quân
giáp sĩ đã áp tới đâm chết.
Các quan
triều thần hay tin, họp nhau đón Triệu Thuẩn về lo việc nước.
Luận
Dân
lấy ăn làm gốc nước lấy dân làm mạnh, nay vua coi dân như cỏ rác thì
làm sao dân không oán ghét.
VƯƠNG TỬ ĐỐI
Vương
Tử Đối là con vua Trang Vương nhà Châu, mẹ là Diên Cơ. Trang Vương rất
mến thương Vương Tử Đối, sai quan đại phu là Sĩ Quốc làm thái thơ dạy
dỗ.
Vương Tử
Đối có tánh thích chơi trâu, một mình nuôi hơn hai trăm con trâu, ngày
nào cũng cho ăn uống rất kỹ lưỡng, lại cho trâu mặc toàn gấm vóc và
đặt tên là Văn Thú.
Tử Đối
đi đâu đàn trâu theo đó, dẫm nát cả ruộng vườn của dân chúng mà không
ai dám nói chi, chỉ để bụng căm hờn. Chẳng những vậy người dân nào tỏ
vẻ buồn tức là bị tội ngay; trong khi ruộng mình bị trâu dẫm đạp mà
vui lên thì yên.
Tử Đối
còn kết thân với năm quan đại phu là Quốc Vĩ, Biên Bá, Tử Cầm, Chúc
Quy, Thiểm Thủ là những kẻ có thế lực trong triều, lúc Châu Ly Vương
còn ở ngôi cũng phải nể.
Sau Châu
Ly Vương chết, con là Huệ Vương lên ngôi, Tử Đối là chú của vua ỷ mình
lên mặt cao ngạo, tác tung tác quái, hơn nữa dân chúng căm phẫn nhưng
vẫn phải bụm miệng.
Châu Huệ
Vương rất ghét tìm cách trấn áp Tử Đối nhưng bên trong có kẻ phản
nghịch, bên ngoài vua nước Vệ là cựu thù nhà Châu, nên đem binh giúp
Vương Tử Đối cướp ngôi, Châu Huệ Vương chạy trốn sang nước Yên.
Bây giờ
Trịnh Lệï Công muốn giúp nhà Châu để lấy oai trấn áp chư hầu, nên đem
quân đến đất Yên rước Châu Huệ Vương về, một mặt cho người sang hiểu
dụ Vương Tử Đối trả ngôi.
Vương Tử
Đối còn lưỡng lự chưa quyết.
Quốc Vĩ
quỳ tâu:
- Ngày
nay bệ hạ không khác nào kẻ cỡi cọp, nếu bước xuống ắt bị cọp ăn, vả
lại mình đang làm thiên tử mà trở xuống làm tôi không được. Trịnh Lệ
Công muốn lừa bệ hạ, xin bệ hạ chớ nghe.
Vương Tử
Đối nghe lời liền đuổi sứ Trịnh về nước. Trịnh Lệ Công nổi giận họp
binh với nước Quắc cất quân phò Châu Huệ Vương ồ ạt kéo đến Lạc Vương
vấn tội.
Vĩ Quốc
hay tin vội vã vào tâu với Vương Tử Đối nhưng Tử Đối mắc bận việc cho
trâu ăn nên không ra tiếp.
Vĩ Quốc
nói lớn:
- Việc
nguy lắm rồi!
Liền giả
lịnh vua sai các tướng đem quân ra đối địch. Quân sĩ và dân chúng nhà
Châu vốn ghét thù Vương Tử Đối nên bên ngoài thì dân chúng trợ lực cho
Châu Huệ Vương, bên trong quân sĩ ra khỏi thành đều bỏ chạy về phía
Châu Huệ Vương.
Vĩ Quốc
thấy thế vội vã thảo chiếu sai sứ sang nước Vệ cầu cứu, nhưng tờ chiếu
thảo chưa xong có quân vào báo: Châu Huệ vương đã vào ngự triều rồi.
Vĩ Quốc
biết thế không thoát thân được bèn rút gươm tự tử. Vương Tử Đối chạy
ra cửa Tây khiến Thạch Tốc lùa trâu chạy trước vì vẫn còn tiếc bầy
trâu không chịu bỏ, trâu quá mập đi chậm chạp, quân Trịnh đuổi theo
kịp bắt được Vương Tử Đối, Châu Huệ Vương khiến quân dẫn Vương Tử Đối
ra pháp trường xử trảm.
Luận
Sở
thích ai cũng có nhưng đó là việc tư riêng, không thể lấy việc chơi
của mình mà hành hạ dân chúng, một khi đã bị dân chúng ghét rồi, mà
còn muốn leo lên địa vị cao quyền thế lớn đó là lâm vào chỗ chết.
Vương Tử Đối đã coi dân chúng không bằng con trâu, đó là cái mầm mống
tan thân mất mạng, thế mà Vĩ Quốc lại mù quáng phò tá kẻ bạo ngược đó
là việc làm tự đem mình vào chỗ chết vậy.
VỆ Ý CÔNG
Vệ
Ý Công lên ngôi chín năm ròng rã mà không làm gì lợi dân ích nước cả,
cứ ngồi không mà hưởng lợi, thích chơi chim hạc.
Giống
chim này tánh ưa sạch sẽ, hình dung tao nhã, hát hay múa khéo.
Người
trong nước thấy vua ưa thích, đua nhau bắt chim hạc đem đến dâng rất
nhiều. Hễ chim nào tốt thì Vệ Ý Công thưởng cho người đó phẩm hàm
lương bổng, chim nào thật đẹp hơn, nhứt hạng nữa thì cấp cho người đó
hưởng lộc đại phu, xem như một triều đình chim hạc.
Mỗi khi
Vệ Ý Công đi đâu thì chim hạc theo đậu chung quanh xe giá, gọi là hạc
tướng quân. Những người nuôi chim hạc cho ăn lương bổng rất hậu, triều
đình phải thâu thuế rất nặng để đi tiêu cấp cho hạc.
Trong
triều có hai tên trung thần là Thạch Kỳ và Ninh Tốc can gián nhiều lần
nhưng Vệ Ý Công không nghe.
Chẳng
bao lâu quân Bắc Địch kéo đến đánh, gặp lúc Vệ Ý Công đang sai người
đẩy xe hạc đi chơi nghe báo thất kinh hạ lịnh gọi quân đi đánh giặc.
Dân nước
Vệ đều bỏ đi trốn hết không ai ra đầu quân. Vệ Ý Công sai quan Tư Đồ
bắt khắp nơi mới được năm trăm người dẫn về triều tra hỏi:
Dân
chúng thưa:
- Chúa
công dùng một giống vật có thể ngăn được giặc Bắc Địch hà tất phải gọi
dân chúng làm gì?
Vệ Ý
Công còn ngu muội hỏi:
- Giống
vật nào có thể đuổi giặc được?
Dân
thưa:
- Giống
chim hạc.
Vệ Ý
Công quát mắng:
- Giống
chim hạc làm thế nào đánh giặc cho được, các ngươi dám dùng lời khi
quân thế sao?
Dân
chúng vẫn không sợ đáp:
- Chim
hạc không biết đánh giặc thì nó là vô dụng, thế mà chúa công dùng vật
vô dụng cho hưởng lộc nước, còn kẻ hữu dụng thì lại bỏ đi, như vậy làm
sao cơn hữu sự dân chúng không bỏ.
Vệ Ý
Công tỉnh ngộ, dịu giọng nói:
- Nay ta
hối lỗi, ta sẽ theo ý dân đuổi hết chim hạc đi.
Thạch Kỳ
nói:
- Xin
chúa công hãy thực hành ngay ý định ấy, e trễ lắm rồi khó lấy lòng dân
lại được.
Vệ Ý
Công tức khắc cho người đuổi hết chim hạc, nhưng chim hạc lâu nay được
nuôi nấng quen nơi ăn chỗ ở, cứ quanh quẩn mãi trong cung.
Thạch Kỳ
và Ninh Tốc ra đứng giữa chợ giảng dụ dân chúng, nói rõ lòng hối hận
của Vệ Ý Công, dân chúng mới chịu nhập ngũ thì lúc đó quân Bắc Địch
đã kéo đến đất Huỳnh Trạch rồi.
Thạch Kỳ
bàn với Vệ Ý Công:
- Quân
Bắc Địch mạnh lắm chớ khinh thường, tôi xin sang nước Tề cầu cứu, nhờ
binh Tề giúp sức mới được.
Vệ Ý
Công nói:
- Ngày
trước Tề phụng mạng thiên tử đem quân chinh phạt nước ta dẫu không bắt
tội, nhưng từ ấy đến nay ta chưa sang tạ tội, nay chắc gì Tề chịu
giúp? Chi bằng ta quyết chiến với giặc một phen cho rồi.
Ninh Tốc
nói:
- Nếu
vậy chúa công hãy lo bảo vệ thành trì để tôi cầm quân quyết tử cho.
Vệ Ý
Công nói:
- Nếu ta
không thân hành ra trận, lòng căm thù của dân chúng không bao giờ cởi
mở.
Nói xong
trao cho Thạch Kỳ một cái ngọc quyết làm lịnh, dặn:
- Ta
giao việc nước cho khanh, hãy ráng vì ta mà làm tận tâm.
Lại giao
cho Ninh Tốc một mũi tên lịnh và nói:
- Khanh
ráng lo giữ thành, nếu không đánh lui được quân địch ta nguyện không
trở lại.
Thạch Kỳ
và Ninh Tốc đều ứa nước mắt nhìn Vệ Ý Công nghẹn ngào không nói được
lời.
Vệ Ý
Công đã ăn năn nhưng lòng oán hận của dân chúng đã lan tràn chưa
nguôi. Lúc đi đường, dân chúng hát lên nhiều câu còn đầy uất hận:
Hỡi chim
hạc ! Hỡi chim hạc !
Lầu son
bát ngát
Chim hạc
ăn lương
Đồng rẫy
ruộng nương
Dân
thưòng cày cấy
Hạc vui
chơi bay nhảy
Hạc
xuống ngựa lên xe
Dân cực
khổ trăm bề
Khi hữu
sự bắt lê ra chiến trận
Đi phen
này số phận mong manh.
Vệ Ý
Công nghe hát buồn rũ rượi. Khi đến đất Huỳnh Trạch trông thấy quân
Bắc Địch hàng ngũ lộn xộn, ngựa xe nghinh ngang không tề chỉnh. Cừ
Khổng nói:
- Quân
Bắc Địch như vậy mà bảo là mạnh, thật ta lầm to.
Nói xong
giục trống xua quân sĩ xáp chiến, quân Bắc Địch bỏ chạy, quân Vệ ào
đến chỗ phục binh ào ra đánh.
Quân Vệ
không có lòng đánh giặc, lại chưa có luyện tập thấy giặc quá mạnh liền
hè nhau bỏ chạy.
Tình thế
nguy ngập, Cừ Khổng nói:
- Tình
thế rất nguy, xin chúa công bỏ cờ hiệu thay y phục xuống xe chạy trốn
may ra thoát
được.
Vệ Ý
Công thở dài nói:
- Thà ta
liều chết để tạ tội với nhân dân còn hơn.
Cuối
cùng chết trong đám loạn quân.
Luận
Tôn
trọng dân chúng là tôn trọng nước, tôn trọng mình; nay xem dân thua
loài vật, nhân gieo đã lâu quả đến còn ăn năn sao kịp. Chà đạp dân
chúng là chà đạp đất nước, đó là tự chà đạp mình, phải thận trọng ngay
ban đầu, chớ để cho đến lúc lòng người đầy oán hận thì làm sao chuộc
lại được nữa.
Những
kẻ hại dân hại nước ai cũng ghét thì những người vì dân vì nước muôn
đời ai cũng ca tụng là bậc hiền nhân vậy.
HẬU TẮC
Hậu
Tắc là hiền thần đời vua Thuấn có công dạy dân cày cấy, làm quan điền
chính, đốt chằm ngăn thú, giữ cho dân cày cấy không giây phút nào xao
lãng. Ông thường nói:
- Dân
chúng mà đói khát là tội về tôi.
ÔNG VŨ
Lại
Ông Vũ thời với ông Tắc, giữ chức tư không coi
việc đê điều ngăn nước sông Hồng Hà khỏi bị ngập lụt cho dân
cày cấy. Công việc rất nhiều ông phải làm quần quật với dân, thường đi
ngang nhà vợ con mà không ghé thăm.
Ông tự
nói:
- Dân
chúng bị lụt hại thất mùa là tội về tôi.
Luận
Làm
quan mà thương dân như vậy làm gì nước không mạnh, dân không an. Trọng
dân là trọng nước cũng là trọng mình vậy. Thật đáng bậc hiền nhân vậy.
MẠNH THƯỜNG QUÂN
Mạnh
Thường Quân là con của Điền Anh làm Tướng quốc nước Tề. Thường Quân
tên thật là Điền Văn, khi mười tuổi đã giao du khắp nơi kết bạn bè rất
thiết, tân khách bạn bè của Điền Văn ra vào tới lui tấp nập. Sứ giả
các nước đến Tề cũng xin đến yết kiến Điền Văn.
Khi Điền
Anh mất, Điền Văn nối cha làm chức Tiết công và từ đó gọi là Mạnh
Thường Quân.
Mạnh
Thường Quân có xuất vốn cho dân đất Tiết vay. Năm đó Mạnh Thường Quân
sai Phùng Huyên sang đất Tiết đòi nợ và dặn khi về coi nhà này vật gì
không có thì mua.
Phùng
Huyên đến đất Tiết bảo dân chúng đem giấy nợ ra mà nói rằng:
- Chủ
tôi muốn làm việc nghĩa, sai tôi đến đây thăm bà con nhân dân và hủy
hết giấy nợ.
Nói xong
đốt hết giấy nợ rồi từ biệt ra về, khi về đến nhà Mạnh Thường Quân
hỏi, Phùng Huyên nói:
- Tướng
quân sai tôi đi đòi nợ rồi coi trong nhà vật gì không có thì mua, tôi
thấy nhà này đầy cả vật quý không thiếu, chỉ thiếu món nghĩa nên tôi
đã mua nghĩa hết rồi.
Mạnh
Thường Quân nghe nói bỏ qua.
Sau Mạnh
Thường Quân bị nạn cùng Phùng Huyên chạy sang đất Tiết. Khi vừa đến
nơi, dân đất Tiết hay tin liền đua nhau đón rước, chia nhau đãi ăn mỗi
ngày.
Phùng
Huyên nói với Mạnh Thường Quân rằng:
- Đó là
món nghĩa tôi mua cho ngài trước đấy.
Luận
Dân là
chỗ chân đứng cho người cầm quyền, nếu không nhờ Phùng Huyên mua nghĩa
cho thì Mạnh Thường Quân đến ngày nay không chỗ đứng yên để dung thân
vậy.
Người
hiền là Phùng Huyên vậy.
LIỄU TÔN NGUYÊN
Tiết
Tồn Nghĩa người ở Hà Đông sắp đi làm quan. Ông Liễu Tôn Nguyên làm
tiệc tiễn đưa ở bờ sông, rót chén rượu mời Tồn Nghĩa mà nói rằng:
- Phàm
ra làm quan ở hạt nào, phải biết chức phận của mình là người làm việc
cho dân chớ không phải bắt dân làm việc cho mình. Dân ở trong địa hạt
đã chịu nộp thuế để lấy tiền thuê quan giữ sự công bằng cho dân. Nay
ngán thay người ta ra làm quan, tiền thuế của dân là biết lấy cả, còn
công việc của dân thì trễ biếng, hoặc bắt dân phải làm, thường hay
dụng tâm ăn trộm của dân nữa.
Giả như
ta thuê một người làm việc trong nhà, nó đã lấy tiền thuê mà lười
biếng không làm việc, lại còn ăn cắp đồ vật trong nhà thì ắt ta giận
mà trách phạt và đuổi đi, là người mướn có thế lực. Còn dân ra tiền
thuê quan thì đằng thuê không có thế lực, còn người làm mướn có thế
lực nên dân không làm sao được. Thế lực dầu khác mà lý vẫn một. Kẻ làm
quan nếu còn biết công lý thì dân vui đóng tiền, quan cố làm đáng đồng
tiền thuê của dân.
Này Tồn
Nghĩa, ngươi trước đã làm quan huyện ở Linh Lăng hai năm, ngày ngày
dậy sớm, đêm đêm suy nghĩ, chính sự siêng năng, xử kiện công bằng, thu
thuế công minh, già trẻ không ai đem lòng thù ghét, ngươi thật biết sợ
và giữ gìn lắm, cho nên ngươi lấy tiền thuế của dân là rất đáng vậy.
Ta đây
chức nhỏ không được dự vào việc bàn bạc, xét công cho kẻ đi làm quan
để thăng thưởng hoặc giáng trách, ta chỉ biết ngươi đi làm quan nên
thưởng tiệc rượu này lấy lời trân trọng mà tiễn hành.
Luận
Lời nói
của Liễu Tôn Nguyên rất xác đáng. Vì dân đã ra nộp tiền thuế nhà nước
đã liệu số tiền đó mà thuê lại các quan sở ra làm việc, thì rõ là làm
thuê cho dân. Nay ra làm quan không làm cho dân, nếu làm quan mà tròn
bổn phận thì không còn phải có chuyện gì xãy ra nữa cả, sẽ nên danh
hiền vậy.
TÔN THÚC NGAO
Tôn
Thúc Ngao làm quan Lệnh doãn nước Sở, cả nước quan dân đều mừng.
Sau cùng
có một ông lão mặc áo vải đội mũ trắng đến viếng.
Tôn Thúc
Ngao thấy thế, ăn mặc chỉnh tề ra rước ông lão vào đến mời ngồi rồi
thưa rằng:
- Vua
chúng tôi không biết tôi là người bất tài, quá tin mà cho tôi làm quan
sợ có hại cho dân, ai ai đều đến chúc mừng, giờ ông lão đến viếng chắc
có ý kiến gì dạy cho chăng ?
Ông lão
nóiù:
- Thân
đã sang mà khinh người thì dân không chuộng, chức đã cao mà chuyên
quyền vua sanh ghét, lộc đã hậu mà không tri túc thì gặp phải vạ tai.
Tôn Thúc
Ngao vừa vái vừa nói:
- Xin
kính vâng lời. Xin lão ông dạy thêm.
Ông lão
nói:
- Chức
đã cao ý càng khiêm cung, quan đã to tâm càng tế nhị, lộc đã hậu càng
phải cẩn thận, chớ có lấy xằng lấy bậy. Ông được ba điều ấy là đủ an
dân vậy.
Luận
Có lắm
người làm quan lớn biết khiêm tốn để học lẽ phải, nhưng ít ai nghĩ đến
cái lời nói phải xuất phát ở đâu? Những người quan chức dưới mình, kẻ
phú hào đến mình những người ấy không ai dám nói lời thẳng thắng với
mình vì họ sợ chạm tự ái, sợ mất chức, sợ bị ghét hại, bị phạt vạ tổn
tài hao của, có ai dám nói đâu, quan dân cả nước mà chỉ có ông lão áo
vải dám nói thôi. Ông lão áo vải có đủ yếu tố để nói: Già rồi không
còn cầu cạnh tương lai, áo vải nghèo nàn không sợ mất của, là người
dân không còn sợ mất chức, là yếu đuối không còn sợ chết.
Tôn Thúc
Ngao biết rõ tâm lý đó nên trọng ông lão để cầu học, thực hành đúng
theo ba điều của ông lão nói thì an thân, lợi dân ích nước, còn gì qúi
hơn. Thật đáng là bậc hiền nhân vậy.
Quan
thời Ngụy chỉ ưa tiếp khách quan, khách giàu, còn dân nghèo muốn thấy
được mặt quan là cả một vấn đề khó.
UY HẬU NƯỚC TRIỆU
Vua
nước Tề sai sứ đem thơ sang hỏi thăm bà Uy Hậu nước Triệu.
Uy Hậu
chưa xem thơ đã hỏi sứ rằng:
- Năm
nay trúng mùa chăng? Dân bình an chăng? Vua mạnh khoẻ chăng?
Sứ giả
nghe hỏi không bằng lòng nói rằng:
- Tôi
vâng mạng vua nước tôi sang sứ bên này, thái hậu không hỏi đến vua
trước lại hỏi mùa màng, hỏi dân tình sau cùng mới hỏi đến Vua. Ai đời
bỏ gốc mà chú vào ngọn là sao?
Uy Hậu
nói:
- Không
phải vậy! Nếu không có mùa màng thì dân lấy đâu mà sống, không có dân
lấy đâu mà có vua? Nên ta hỏi mùa màng trước rồi đến dân sau cùng đến
vua, ấy là chú vào gốc ấy chớù!
Nói song
Uy Hậu hỏi luôn rằng:
- Chung
Ly Tử là sĩ tử bên ấy được bình yên chớ? Người ấy có lương ăn cũng vậy
không lương ăn cũng vậy, có áo mặc cũng thế không áo mặc cũng thế, ấy
là người giúp vua mà nuôi dân đấy, sao đến bây giờ chưa chịu ra làm
quan?
Nghiệp
Dương Tử bên ấy cũng bình an chớ? Người ấy thương xót kẻ quan quả, chu
cấp kẻ cô độc, chẩn tế kẻ khốn cùng, giúp đỡ kẻ túng quẫn, thế là
người ấy giúp vua để sinh tức cho dân, sao đến bây giờ chưa cho ra làm
quan? Người con gái ở Bắc cung tên Anh Nhi Tử cũng vẫn bình yên chớ?
Người ấy bỏ cả đồ trang sức, đúng tuổi không lấy chồng để lo nuôi cha
mẹ. Ấy là người làm gương cho nhân dân làm theo biết lo nuôi cha mẹ.
Người con gái ấy mà không được vào chầu thì vua nước Tề làm sao trị
dân được ?
À! Còn
thằng Tử Trọng ở Ô Lăng vẫn còn đấy chứ? Người ấy trên không chọn
ngay, dưới không trị được nhà, giữa không kết giao với ai. Thế là
người này dạy dân làm điều vô dụng, sao đến bây giờ chưa chịu giết đi?
Hỏi hết
câu chuyện, Uy Hậu mới xem thơ.
Luận
Nho có
câu:
“Mộc hữu
bổn, thủy hữu nguyên”.
Nghĩa
là:
Cây có
gốc, nước có nguồn là muốn nói nguồn gốc chung của loài người.Thế mà
có lắm khi người ta lấy gốc làm ngọn, lấy suối làm nguồn, làm cho thế
lực khuynh nguy nhân dân điên đảo. Ai cũng biết nói nước lấy dân làm
gốc, dân lấy ăn làm cốt nhưng đến việc làm thì lo cho ngọn trước.
Bà Uy
Thái Hậu đã nhắc nhở đến dân trước vua sau, nhưng chú trọng là dò xét
biết người nào lo cho dân mà tiến cử, người không biết lo còn hại dân
là trị tội.
Người
biết lo cho dân, chọn người lo cho dân mà giao phó, thì nước mạnh dân
an.
Bà Uy
Thái Hậu là bậc hiền nhân vậy.
LÝ THÁNH TÔN
(1054–1072)
Thái
tử Nhật Tôn nối ngôi Thái Tôn hiệu là Thánh Tôn nhà Lý, đổi quốc hiệu
là Đại Việt niên hiệu Long Thụy Thái Bình (1054). Ngài là một ông vua
nhân từ, thương dân như con.
Những
ngày mùa lạnh, ngài thường nghĩ đến tù phạm và kẻ nghèo. Nhân có một
năm đến mùa rét hơn thường lệ, Thánh Tôn bảo những quan hầu cận rằng:
- Trẫm ở
trong cung ăn mặc như thế này mà còn rét, nghĩ những tù phạm bị giam
trong ngục, bị trói buộc, cơm không có ăn áo không có mặc, vả lại có
người xét hỏi chưa xong, tội hay oan, lỡ rét quá chết thì thật thương
lắm.
Nói rồi
liền sai lấy chăn chiếu cho tù nằm và mỗi ngày cho ăn hai bữa đầy.
Lại một
hôm Thánh Tôn ra ngự ở điện Thiên Khánh xét án, có Động Thiên công
chúa đứng hầu bên cạnh, ngài chỉ công chúa mà nói rằng:
- Lòng
trẫm yêu dân như yêu con trẫm vậy, hiềm vì trăm họ ngu dại làm càn
phải tội, trẫm lấy làm thương lắm; vậy từ nay về sau, tội gì cũng giảm
nhẹ bớt đi.
Thánh
Tôn có lòng từ bi bác như vậy cho nên nhân dân đều mến phục, lại được
Thiền sư Thảo Đường ra làm Quốc sư để giúp vua, sự an dân thêm phần
đặc sắc.
Luận
Thế là
đời vua Lý Thánh Tôn được ích nước lợi dân nhờ biết thương dân vậy, sự
thương dân đời nhà Lý có truyền thống do ảnh hưởng đạo từ bi.
Nói
chung làø nước Việt Nam qua các triều đại xưa như các thời Đinh, Lê,
Lý, Trần, đều áp dụng thuyết từ bi mà trị dân, thời nào cũng có bậc
thiền sư ra giúp nước an dân làm cho nhà hưng nước thạnh. Ngày nay dân
giàu nước mạnh là nhờ người trên biết lo cho dân.
TRẦN ANH TÔN
Trần
Anh Tôn nối ngôi vua Nhân Tôn, học trò của Pháp Loa tôn sư.
Niên
hiệu Hưng Long năm 31, thái thượng hoàng Nhân Tôn ngự Chiêm Thành về,
vua Anh Tôn thiết một đàn tràng lớn gọi là “Vô lượng Phật pháp” ở chùa
Phổ Minh hành lễ và phát chẩn cho dân nghèo khắp cả nước. Nhân dân
trong nước đều cảm mến, đều đua nhau một lòng giúp nước.
Được
lòng dân là hiền nhân vậy.
PHAN THANH GIẢN
Phan
Thanh Giản tự là Tịnh Bá và Đạm Như, hiệu là Lương Khê, biệt hiệu là
Mai Xuyên, sanh vào ngày 12 tháng 10 năm Bính Thìn ở làng Tân Thạnh,
huyện Vĩnh Bình, phủ Định Viễn, hiện nay là làng Bảo Thạnh, quận Ba
Tri, tỉnh Kiến Hòa.
Phan
Thanh Giản đỗ tiến sĩ vào năm 1826, tháng tám năm ấy được bổ chức Hàn
lâm viện biên tu.
Khi ông
về quê thăm nhà, nhớ người bạn cũ hiện đang cày ruộng, ông liền đổi y
phục như thường dân, đầu đội nón lá tìm đến nhà người bạn. Lúc bấy giờ
người bạn đang cày ruộng, ông liền nằm nhà chờ mãi đến xế chiều người
bạn mới về.
Thấy
Phan Thanh Giản ăn bận như xưa, người bạn không hay biết gì việc quan
chức, nên thân thiết mừng rỡ và dọn cơm với bông súng chấm mắm kho.
Phan Thanh Giản ngồi chõng tre ăn cơm với bạn ngon lành.
Có lần
Phan Thanh Giản đi ngoài đường, có tên dân vác cây tre đi trước xoay
trở ngọn tre trúng trán. Người dân ngó lại thấy cụ Phan đổ máu, kinh
hồn muốn bỏ chạy. Cụ Phan kêu lại rồi nắm tay ân cần chỉ ngọn tre mà
nói rằng:
- Sau có
đốn tre chặt rồi lấy búa dần cho tà chót ngọn tre, để lỡ có đụng ai
cũng không sao.
Nói
xong, cụ Phan bảo tên ấy vác tre đi.
Luận
Đây
là một cử chỉ bình dân và thương dân ít có, là bậc hiền nhân.
TỪ DŨ
Từ
Dũ tức là đức Từ Dũ, một hiền phụ ở nước ta cuối thế kỷ XIX, tên là
Phan Thị Hàng, trưởng nữ của ông Phan Văn Hưng. Bà Từ Dũ là vợ vua
Thiệu Trị Hiến Chương hoàng đế.
Bà sinh
ngày 19 tháng 5 năm Canh Ngọ, quê quán ở làng Gò Công, huyện Tân Hòa,
tỉnh Gia Định, nay là Gò Công.
Ngay từ
thuở nhỏ, bà nổi tiếng thông minh và hiền đức, tính tình hiếu thuận.
Năm 14 tuổi, bà được Thuận Thiên Cao Thái hoàng thái hậu triệu vào
chầu cháu trai là hoàng tử Miên Tông. Năm 1841, Miên Tông lên ngôi tức
là Thiệu Trị, bà được phong làm cung tần.
Vua Tự
Đức lên ngôi tức là con bà Từ Dũ, mãi đến ngày rằm tháng hai(1849)
nhân dịp khánh thành cung Gia Thọ, bà không chịu nhận tôn là hoàng
thái hậu, và có lời dụ rằng:
“Ta nay
đã được thiên hạ phụng sự thì nên lo những việc thiên hạ đang lo. Năm
nay không đặng mùa, nhân dân không được sung sướng chính lúc hoàng đế
phải chăm lo, lòng ta nỡ nào thản nhiên. Vả lại ta vốn kiệm ước, chẳng
chuộng phù hoa, không ngờ ngày nay đã hưởng được tôn vinh, ta thường e
sợ lo tu tỉnh không rồi, huống chi gia thêm hư danh để ta còn nặng cái
lỗi thất đức sao, vậy thì sở thính ấy bãi đi, chỉ nguyện chư công và
quần thần lo giúp chính trị, giáo dục thế nào cho ta thấy được thái
bình thịnh trị an dân thì không chi vui bằng”.
Luận
Xưa
người đàn bà thông thường bổn phận trong phạm vi gia đình ít có lo
ngoài gia đình. Đức Từ Dũ tỏ ra một đức cao siêu thể hiện nam nữ bình
quyền chung lo cho dân cho nước. Bà đã hiểu dụ, dạy vua quan qua bài
dụ rất rõ ràng về việc an dân, không trọng hư danh. Bà Từ Dũ thật lòng
thương dân thương nước, cho nên nhân dân ai cũng kính mến ca tụng là
bậc hiền.
Từ
xưa đến nay, thời nào người trên tàn bạo hại dân thì nước mất nhà tan,
nhân dân đồ thán. Còn thời nào người trên thương dân lo cho dân thì
thường hay được nước thịnh dân an bền vững.
11. BỔN PHẬN NGƯỜI DÂN
Người
dân mà có đạo đức tốt có học thức cùng nhau đối xử tốt đẹp, vui từ nơi
gia đình hòa đến chòm xóm, bình đẳng với xã hội là do người dân làm
tròn bổn phận.
Chánh
phận làm dân phải thực hành năm yếu tố thì người trên ngồi không dân
cũng an nước cũng mạnh. Năm yếu tố là:
1. Không
giết hại:
a) Không
giết hại chúng sanh vì nhân giết hại gây căm thù là mầm mống đao binh.
Nếu giết
người thì hiện gây căm thù với người sống hiện đời, người chết ôm hận
mãi mãi đến đời sau.
Giết vật
gây căm thù đời sau vì loài vật hết nghiệp sanh làm người, hẳn sẽ vì
hận tiền căn mà gây sự giết hại triền miên.
b) Vô cớ
không được sát hại. Đối với loài sinh vật nhỏ cũng không sát hại vô
cớ, trừ ra khi nào làm vườn ruộng vô tình va chạm, không nên cố sát.
c) Không
sát hại là lòng từ bi nhưng từ bi trong trí huệ: xưa ở Ấn Độ có vị Bồ
tát đi chung với đoàn lái buôn, nhân phát giác ra có bọn cướp len lẫn
trong đó chờ thuyền ra khơi sẽ giết hết đoàn lái buôn mà cướp của. Bồ
tát thương cả hai phe: Nếu để bọn cướp giết người, nó phải chịu tội
nhiều đời nhiều kiếp, thương phe lái buôn vô tội mà bị chết oan mất
của. Bồ tát nghĩ thế rồi vận dụng quyền tiên hạ thủ vi cường thừa cơ
giết chết tên chúa đảng, bọn cướp liền rã không còn cướp được, đoàn
lái buôn được yên.
Người ta
nói: Không sát sanh thì làm sao cứu nước trị dân? Thì câu chuyện trên
trả lời rồi vậy.
Trong
giới sát sanh có bài kệ:
“Nhứt
thiết chúng sanh vô sát nghiệp
Thập
phương hà xứ động đao binh
Gia gia
hộ hộ thường tu thiện
Thiên hạ
hà sầu bất thái bình “.
Dịch:
Tất cả
chúng sanh không nghiệp sát
Mười
phương nào có động đao binh
Nhà nhà
chốn chốn đều tu thiện
Làm gì
thiên hạ chẳng thái bình.
2. Không
tham gian trộm cắp:
Tài vật
của cải, lớn quý như vàng bạc châu báu cho đến vật nhỏ như cây kim
ngọn nến, trái ớt lá trầu quyền sở hữu của người, không cho không được
lấy.
Cho đến
những việc tham gian lường thăng tráo đấu cân non dạ thiếu lường công
hối lộ, tham nhũng đều thuộc về tội tham cả. Tranh giành tham gian gây
căm thù đến chỗ giết hại lẫn nhau, chiến tranh cũng do tham mà ra.
Không
tham gian trộm cắp tất nhiên không còn xáo trộn, hết hiềm thù, không
thuyết phục mà thiên hạ vẫn hòa bình.
3.
Không tà dâm:
Ngoài
việc vợ chồng ra, làm việc tà bậy với người khác gọi là tà dâm.
Điều này
tai hại rất lớn, người tà dâm đam mê sắc đẹp, làm điên đảo luân
thường, sử sách ghi rất rõ nhiều về việc sắc đẹp làm hư nhà hại nước.
“Sắc bất
ba đào dị nịch nhân“: Sắc đẹp không phải sóng mà dễ làm chìm đắm người
ta. Tất cả người biết giữ lễ không làm việc tà bậy thì nhà sẽ an nước
đặng thạnh.
4. Không
vọng ngữ:
(Vọng
ngữ có bốn):
a) Nói
láo: việc có nói không, không nói có, thấy nói không, không thấy nói
thấy.
b) Nói
lưỡi hai chiều: Tới đây nói kia, tới kia nói đây, đâm thọc hai đầu gây
sự bất hòa, trước mặt cho là phải, sau lưng cho là quấy, trước mặt
khen, sau lưng thì chê.
c) Nói
thêu dệt: Chuyện ít nói ra nhiều, việc nhiều bớt ít, chuyện hiền sửa
thành dữ, chuyện dữ sửa ra hiền, quấy nói là phải, phải nói là quấy.
d) Nói
thô ác: Mắng nhiếc chửi rủa nhục mạ người làm cho người căm tức, hoặc
hăm dọa làm cho người sợ sệt.
Nói láo
không còn ai tin dùng (nhơn vô tín bất lập), mất sự đoàn kết gây chia
rẽ làm lạc hướng chân thật.
Trừ ra
khi nào nói để cứu mạng, hoặc nói để có lợi người, không vì mình mà
nói láo.
e) Không
uống rượu:
Say rượu
có những điều tai hại cho mình và người:
1) Thân
hay bịnh tật
2) Của
cải rơi mất
3) Trí
huệ dần kém
4) Hay
nghe lời quấy
5) Ưa
người tâng bốc xiểm nịnh
6) Hay
sanh hận rầy đánh
7) Ưa
giết hại
8) Lòng
tham dục nổi lên
9) Sự
nghiệp không thành
10)
Sanh con có con rượu, ưa rượu
Người
say rượu không còn ai tin dùng, say không bao giờ làm tròn bổn phận
nào được cả.
Trừ khi
bị bịnh tạm dùng thuốc rượu.
Nếu
người dân mà giữ được năm điều này là tròn cả nhân, lễ, nghĩa, trí và
tín.
Nhân bất
sát
Nghĩa
bất đạo (trộm cắp)
Lễ bất
tà dâm
Tri bất
ẩm tửu
Tín bất
vọng ngữ.
Dân mà
giữ trọn như vậy là tròn bổn phận, người cầm quyền không trị cũng
không loạn. Tuy nhiên nói là bổn phận làm dân, mà người cầm quyền phải
làm cho đầy đủ bổn phận làm dân rồi dạy dân. Người dân mà đủ năm giới
là nên tư cách là hiền nhân vậy.
12. ANH ĐỐI VỚI EM
Anh
em hòa thuận với nhau là sự an vui hạnh phúc cho gia đình, ảnh hưởng
cho quốc dân xã hội không phải nhỏ.
Bổn phận
làm anh phải làm trước những gì phải làm trong gia đình, phải gương
mẫu để dạy em, khi cha mẹ qua đời phải thay cha dạy em (quyền huynh
thế phụ), em nghèo phải giúp đỡ cho em. Dạy không bằng gương mẫu. Nếu
làm anh mà không làm tròn bổn phận, làm một người dân rượu chè say
sưa, ăn chơi bạc bài bê tha sắc dục, tham lam tật đố thì làm sao dạy
em, bảo sao em khỏi những tật xấu đó được. Làm anh mà đủ nhơn, lễ,
nghĩa, trí, tín, liêm sĩ nhu hòa rồi lấy đó mà dạy em làm sao em
không nghe theo được. Trừ ra một vài đứa quá cừ khôi ngổ nghịch, đứa
ngỗ nghịch làm cha cũng phải bó tay, đó là trường hợp bất khả kháng,
khỏi phải bàn đến.
Xem sử
sách ít gặp những người anh giết em để giành của cướp công, mà em giết
anh để giành ngôi đoạt của nhiều hơn. Người anh giành hết của cải
không chịu chia gia tài cho em ở chuyện ngụ ngôn “Ăn khế trả vàng” là
chuyện một người anh giành hết gia tài không chia cho em, sau bị chết
chìm nơi đáy biển.
Thường
tình gia đình nào cũng vậy, phần đông anh em trong nhà vẫn lục đục
nhau về của cải hoặc địa vị dầu bên ngoài ra vẻ hòa mục, ít ai chịu hy
sinh để nhường lẫn nhau.
TRẦN NHÂN
TÔN
Trần
Nhân Tôn là thái tử Khâm, con vua Trần Thánh Tôn, năm mười sáu tuổi
Khâm được lập lên làm hoàng thái tử, ngài cố nhường ngôi cho em nhưng
vua cha không chịu.
Một hôm
ngài trèo thành trốn đi định vào núi Yên Tử tìm thiền sư học đạo nhưng
đến chùa Đông Cứu trời hừng sáng, trong mình quá mệt mới vào nằm nghỉ
trong tháp chùa. Sư trụ trì chùa thấy ngài tướng mạo khác thường, liền
làm cơm chay thết đãi.
Vua cha
hay tin sai các quan tìm gặp, ngài miễn cưỡng phải về và sau phải lên
ngôi.
Lòng
thật tình tha thiết với tình nghĩa anh em mà ngài muốn nhường ngôi,
lại tỏ ra không ham ngai vàng địa vị, làm cho anh em kính phục, quần
thần trung hậu mà an dân lợi nước nên bậc hiền nhân đáng gọi là minh
quân.
13. EM ĐỐI VỚI ANH
Anh
đã làm tròn nghĩa vụ cao cả thì công ơn của người anh, bổn phận người
em phải lo cho tròn bổn phận.
Như vậy
bổn phận người em phải biết tôn trọng khi người anh đã gương mẫu tốt
thì em xem anh như là người thay thế cha, thay quyền cha làm em phải
tuân theo.
Những
đứa em tệ bạc hay bè đảng lấn hiếp còn anh thì hay nhường nhịn thành
ra sự lấn hiếp càng ngày càng nhiều làm cho gia đình xáo trộn, gây ra
tệ hại cho quốc dân xã hội rất bi đát.
CUNG THÚC
ĐOẠN
Trịnh
Trang Công tên là Ngộ Sanh lên ngôi. Em là Cung Thúc Đoạn muốn tranh
ngôi với anh, mẹï là Khương Thị lại thương Cung Thúc Đoạn hơn nên
thường toan tính cho Cung Thúc Đoạn cướp ngôi.
Khương
Thị thấy Trịnh Trang Công làm vua mà em không có quyền hành gì mới nói
với Trịnh Trang Công rằng:
- Con
được nối ngôi cha làm chúa nước Trịnh, đất đai rộng mấy trăm dặm ngoài
mà để em con quản thủ một chỗ nhỏ con đành lòng sao?
Trịnh
Trang Công hỏi:
- Ý mẫu
hậu như thế nào xin cho con biết?
Khương
Thị nói:
- Nếu
quả con trọng tình ruột thịt thì việc gì không cắt đất Chế Ấp phong
cho em?
Trang
Công thưa:
- Chế Ấp
là nơi hiểm địa, tiên vương đã có lời di chúc không nên đem phong cho
ai. Trừ chỗ ấy ra, mẫu hậu muốn chỗ nào con xin vâng lời.
- Vậy
thì phong cho đoạn nơi đất Kinh Thành.
Trịnh
Trang Công làm thinh không nói.
Khương
Thị giận nói:
- Như
vậy thì tốt hơn con đuổi em con ra khỏi nước để kiếm chỗ dung thân.
Trịnh
Trang Công nói :
- Thưa
mẫu hậu, con đâu dám làm như vậy!
Hôm sau
Trang Công cho đòi Cung Thúc Đoạn vào phong cho đất Kinh Thành. Quan
Đại phu can:
- Kinh
Thành rộng lớn dân đông chẳng kém gì Dinh Vương, nếu phong cho Cung
Thúc Đoạn ắt sanh hậu hoạn sau này.
Trang
Công nói :
- Lệnh
của mẹ ta, ta đâu dám cãi.
Cung
Thúc Đoạn được phong đất Kinh Thành bèn bái tạ lui ra, vào cung từ
biệt Khương Thị để đi nhậïm chức. Khương Thị đuổi hết kẻ tả hữu ra rồi
nói:
- Anh
con không nghĩ tình cốt nhục bạc đãi con từ lâu. Hôm nay sở dĩ con
được phong đất Kinh Thành là nhờ mẹ cố nài nỉ lắm mới được. Nay con
đến Kinh Thành phải lo luyện tập binh mã dự bị lương thảo sẵn, lúc nào
có cơ hội mẹ sẽ tin con hay để kéo binh về đánh lấy, thì cái ngôi của
Ngộ Sanh sẽ về tay con không khó.
Cung
Thúc Đoạn lãnh lịnh rồi từ giã đến Kinh Thành ngày đêm luyện tập binh
mã, tích thảo đồn lương, chờ cơ hội khởi sự.
Việc ấy
thấu tai nhưng Trịnh Trang Công không nói.
Công tử
Lữ thấy thế nói với Trang Công:
- Thái
Thúc Đoạn ỷ bên trong có mẫu hậu yêu vì, bên ngoài đất Kinh Thành là
nơi hiểm yếu luyện binh mã mưu chiếm giang sơn nước Trịnh, xin chúa
công cho tôi đem quân đến đó bắt Đoạn đem về trị tội.
- Thúc
Đoạn tuy vô đạo, song tội lỗi chưa rõ ràng, nếu ta giết đi không khỏi
đau lòng mẹ ta.Hơn nữa trong tình ruột thịt ta không khỏi mang tiếng
là bất nghĩa.
Công tử
Lữ than:
- Tình
ruột thịt làm cho ta không giải quyết được việc lớn. Nếu chúa công
trọng tình ruột thịt thì không khỏi tai vạ.
- Nếu
Thúc Đoạn có âm mưu tạo phản thì một ngày sẽ rõ ràng hơn. Tội lỗi đã
rõ thì dù ta có trừng phạt bằng cách nào mẹ ta không thể trách ta bất
nhân bất nghĩa được.
Công tử
Lữ cúi đầu nói:
- Kiến
thức chúa công rất cao diệu, tôi không thể sánh được. Chỉ e thế lực
của Thúc Đoạn mỗi ngày một mạnh thêm, sau này khó trừ được.
Trịnh
Trang Công trầm ngâm nói:
- Thế
thì bây giờ phải làm sao để mẹ ta khỏi oán trách ta là vô đạo?
Công tử
Lữ nói:
- Đã lâu
chúa công lo việc Thúc Đoạn không vào chầu thiên tử nhà Châu, nay nhân
dịp này chúa công giả cách vào chầu nhà Châu cho Thúc Đoạn ngỡ thật,
đem quân đùến làm loạn. Tôi xin đem quân đến phục sẵn ở đất Kinh Thành
đợi Thúc Đoạn kéo quân, chừng đó sẽ lẻn vào chiếm giữ. Còn chúa công
cũng đem một đạo quân theo đường tắt đánh ụp vào, Thúc Đoạn dầu có
cánh cũng không thể trốn thoát được.
Trịnh
Trang Công cho là kế hay, hôm sau tuyên bố với quần thần giao Tề Túc
coi việc triều chính, rồi sửa soạn vào chầu vua nhà Châu.
Khương
Thị hay tin ấy mừng lắm, viết một mật thơ sai người tâm phúc đem đến
Kinh Thành trao cho Thúc Đoạn, trong thơ ước hẹn nội trong trung tuần
tháng phải đem binh về chiếm đoạt.
Công tử
Lữ biết trước, sai người phục nơi yếu lộ, quả nhiên bắt được người đem
thơ ấy, bèn giết quách rồi đem thơ về trao cho Trịnh Trang Công. Trang
Công rất đau lòng nhưng không thể vì tình máu mủ mà dung tha kẻ phản
nghịch được, bèn phong thơ lại như cũ rồi sai người tâm phúc của mình
đem thơ đến Kinh Thành giao cho Thúc Đoạn.
Được
thơ, Thúc Đoạn hẹn ngày động binh và dặn Khương Thị đến ngày ấy, dựng
trong thành một đại kỳ để biết chỗ tiếp ứng.
Đến ngày
ấy, Trịnh Trang Công ngấm ngầm đóng quân ở Lẫm Giêng, còn công tử Lữ
ngầm kéo quân đến Kinh Thành. Bởi vậy, Cung Thúc Đoạn vừa kéo quân ra
khỏi thành thì công tử Lữ liền kéo quân vào chiếm Kinh Thành, nổi lửa
đốt cả dinh trại, khói lên mịt trời. Thúc Đoạn biết có biến liền đem
quân trở lại tiếp ứng, chẳng ngờ bị Trịnh Trang Công kéo quân đến tiêu
diệt. Thúc Đoạn không còn đường chạy phải đem tàn quân đến cung thành
là chỗ đất được phong khi trước, nhưng cung thành là một ấp nhỏ làm
sao cự lại binh triều nên chẳng bao lâu thành bị phá.
Thúc
Đoạn ngước mặt lên trời than:
- Mẹ ta
đã gạt ta, còn mặt mũi nào trông thấy anh ta nữa!
Nói rồi
rút dao tự vẫn.
Luận
Nếu Thúc
Đoạn biết tình cốt nhục, biết bổn phận làm em, biết kính trọng anh thì
đâu có xảy ra cảnh nồi da nấu thịt. Tự mình làm không tròn bổn phận
phải đền tội đã đành, còn gieo rắc tai hại cho bao nhiêu sinh mạng của
quân binh vô tội, ảnh hưởng khổ sở đến dân tình thật là tai hại. Trang
Công là bậc hiền nhân vậy.
CÔNG TỬ
CỦ VÀ CÔNG TỬ TIỂU BẠCH
T ề
Tương Công có hai người con trai lớn là công tử Củ và công tử Tiểu
Bạch, hai anh em ruột tuy không phải con dòng đích nhưng Tề Tương Công
thấy đã lớn nên cần dạy dỗ. Do đó Bảo Thúc Nha được cử làm sư phó dạy
công tử Tiểu Bạch, Quản Di Ngô (Quản Trọng) làm sư phó dạy công tử Củ.
Quản
Trọng giao ước với Thúc Nha:
- Tề
Tương Công có hai người con, tuy dòng thứ nhưng không có dòng chánh,
thì dòng thứ sau nầy cũng được nối ngôi. Bây giờ chúng ta lãnh một đứa
mà dạy, nếu sau nầy người nào được nối ngôi thì chúng ta tiến dẫn nhau
mà làm quan.
Bảo Thúc
Nha khen phải. Quản Trọng lãnh công tử Củ có Thiệu Hốt theo hầu.
Sau Tề
Tương Công ham mê săn bắn thường bỏ triều chính, ra nơi đất Chước tư
tình với nàng Văn Khương.
Thúc Nha
thấy vậy nói với công tử Tiểu Bạch:
- Chúa
công dâm loạn dân tình không phục, tôi e trong nước có loạn biến chẳng
lâu. Công tử nên tỏ lời khuyên can.
Tiểu
Bạch y lời, một hôm vào tâu:
- Phụ
thân đi săn bắn nơi đất Chước thiên hạ dị nghị rất nhiều, xin phụ thân
tỵ hiềm đừng đến đó nữa.
Tương
Công nổi giận xách giày chọi Tiểu Bạch mà hét:
- Mày là
con nít biết gì chuyện người lớn mà nói.
Tiểu
Bạch thất kinh chạy về nói lại với Bảo Thúc Nha. Thúc Nha buồn bã nói:
- Đã
không bỏ được lòng tà thì tai họa đến. Vậy công tử cùng tôi sang nước
khác lánh nạn ngày sau sẽ tính.
Tiểu
Bạch hỏi:
- Bây
giờ phải qua nước nào?
Thúc Nha
nói:
- Nước
lớn ỷ mạnh, tánh tình hay thay đổi bất thường, còn nước nhỏ thì thủ
phận ít sanh chuyện lôi thôi. Vậy ta nên sang nước Cử, gần gũi nước
nhà sau có về cũng tiện.
Tiểu
Bạch theo Thúc Nha trốn sang nước Cử.
Khi đó
Quản Trọng cùng Thiệu Hốt đem công tử Củ sang lánh nạn ở nước Lỗ.
Cách
không lâu, Tề Tương Công bị giết, công tử Vô Tri lên ngôi nhưng vì bất
tài nhu nhược nên bị quần thần giết đi, làm cho nước Tề rối loạn không
vua.
Khi hay
tin nước Tề không vua, Quản Trọng sợ công tử Tiểu Bạch về trước giành
ngôi, nên vào chầu vua Lỗ, xin cấp cho ba mươi cỗ xe và quân. Lỗ Trang
Công y lời cấp quân. Quản Trọng kéo quân đi.
Ngay khi
đó nơi nước Cử, công tử Tiểu Bạch đã hay tin liền bàn với Bảo Thúc Nha
mượn trăm cỗ xe hộ tống về nước. Quản Trọng hay tin vội vã đuổi theo,
vừa thấy Tiểu Bạch, Quản Trọng nói:
- Từ
ngày cách mặt nhau công tử vẫn mạnh?
- Nhờ
trời, tôi vẫn được mạnh.
- Chẳng
hay công tử kéo quân đi đâu mà gấp vậy?
- Tôi về
cư tang cho phụ thân tôi.
Quản
Trọng nói:
- Việc
cư tang có công tử Củ là anh cả, còn công tử là em thì vội gì về, xin
đình lại.
Bảo Thúc
Nha nói:
- Chúng
ta ai vì chúa nấy, xin Quản Trọng chớ nhiều lời.
Quản
Trọng muốn cản lại nhưng thấy Tiểu Bạch quân đông hơn mình nên không
dám cự, bèn rút tên nhắm ngay Tiểu Bạch mà bắn một mũi. Tiểu Bạch la
lên một tiếng trào máu miệng té ngửa trên xe. Thúc Nha thất kinh lật
đật đến cứu, bọn tùy tùng xem thấy khóc lên.
Quản
Trọng tin chắc Tiểu Bạch đã chết vội vàng quay ngựa chạy về, lòng mừng
nghĩ thầm:
- Công
tử có phước lắm, thế là ngôi báu không còn lo ai giành nữa.
Nhưng
công tử Tiểu Bạch không chết, mũi tên chỉ xuyên qua bâu áo. Lanh trí,
Tiểu Bạch biết tài bắn của Quản Trọng, nên giả vờ ngã ngử cắn môi phun
máu để Quản Trọng tưởng chết.
Khi rõ
Tiểu Bạch không chết và không bị thương tích gì, Thúc Nha liền thay áo
cho Tiểu Bạch rồi giấu vào cỗ xe riêng, hối quân về Tề đô.
Quản
Trọng về đến Lỗ yêu cầu cử binh đưa công tử Củ về nước, nhưng về đến
biên giới hay tin công tử Tiểu Bạch đã lên ngôi lấy hiệu là Tề Hoàn
Công. Thế Quản Trọng thua trí Thúc Nha.
Quản
Trọng và Thiệu Hốt tức mình phò công tử Củ về Lỗ xin cử binh đánh Tề,
để giành lại ngôi cho công tử Củ.
Hai bên
đánh nhau, Lỗ Trang Công thua luôn mấy trận liền, cuốn cờ kéo bại binh
về nước.
Tề Hoàn
Công giành đặng ngôi của anh chưa vừa lòng, lại viết thơ sai sứ sang
Lỗ buộc phải giết công tử Củ, bằng không sẽ đem binh sang đánh.
Lỗ Trang
Công sợ hãi đã cho giết công tử Củ rồi bắt Quản Trọng, Thiệu Hốt bỏ
vào tù xa. Thiệu Hốt tự vận chết, còn Quản Trọng chịu ngồi tù xa về
Tề.
Luận
Anh em
ruột mà giành ngôi, lỗi tại em vì anh như công tử Củ được thế cha lên
ngôi là lẽ phải. Thế mà cướp được ngôi của anh, lại còn sai sứ sang Lỗ
buộc giết anh để trị tội. Tội gì? Tội bại binh? Tội cướp ngôi?
Chỉ
có địa vị danh lợi, không cần biết gì đạo nghĩa cả. Bảo Thúc Nha và
Quản Trọng là bạn thiết của nhau, nói bạn thiết là về mặt sách vỡ xưa
phê bình như vậy, nay ta xét thấy chỉ có Thúc Nha mới là một mực
nhường nhịn cho bạn thôi. Trái lại Quản Trọng lợi hại mưu mô lấn lướt
với bạn, hắn là đứa gian ác chứ không phải bạn gì cả.
Hai
người lãnh làm sư phó dạy cho công tử. Họ dạy gì? Đầu tiên là Quản
Trọng đưa ra kế độc là hứa hẹn mỗi người dạy để sau này giành ngôi với
nhau. Họ dạy gì? Nếu nói dạy chánh trị thì không phải, dạy chánh trị
là dạy cho nước nhà được yên trị, dàn xếp cho ngôi thứ trong nước đưọc
trật tự, anh em không tranh ngôi nhau, cho khỏi cảnh nồi da nấu thịt,
tương tàn tương sát lẫn nhau, dân chúng khỏi khổ quân binh khỏi sát
phạt lẫn nhau, cho nước thạnh nhà an mới gọi là chánh trị chớ.
Đằng này
họ không dạy gì đạo đức liêm sĩ lễ nghĩa, mà chỉ dạy anh em mưu mô
giành giựt để tranh quyền, đoạt lợi gây ra cảnh đầu rơi máu đổ oan
uổng, họa chiến tranh dân tình khổ sở, quân binh nội bộ chết chóc,
chánh trị lạ thế? Thật là đại ác họ tạo ra hôn quân Tề Hoàn Công.
Còn hai
anh em nhà Tề, là anh em với nhau anh phải tự chủ, làm anh không nên
nghe kẻ làm thầy là xu thời phụ thế hại em; em cũng phải tự chủ lấy
mình đâu nên nghe kẻ mưu cầu danh lợi để giành ngôi hại anh mình, dầu
người ấy là thầy học của mình, họ là kẻ ác không phải là thầy nữa.
Giá như
hai nhà kia đem đạo đức mà dạy cho hai anh em nhà Tề biết lễ nghĩa trí
tín thì anh em hòa mục, anh lên ngôi em làm tướng thì hai nhà thầy kia
mất địa vị gì?
Tóm
lại bốn nhân vật là ác nhân nếu họ xử sự cho đúng thì nên bậc hiền
nhân vậy.
LÊ LONG
ĐỈNH
Các
hoàng tử anh em nhà họ Tiền Lê là: Đông Thành vương Ngân Tích, Trung
Quốc vương Long Kính. Khai Minh vương Long Đĩnh tranh nhau nổi loạn,
giành nhau suốt tám tháng trường từ mùa Xuân đến mùa Đông năm 1004,
Long Việt mới thực thụ lên ngôi. Còn Ngân Tích bỏ trốn bị người ở là
Thạch Hà giết chết.
Long
Việt lên ngôi chỉ được có ba ngày thì Long Đỉnh sai người trèo tường
vào cung giết đi. Long Đĩnh lại tự lập lên ngôi lấy hiệu là Minh Quang
Hiếu hoàng đế.
Long
Đỉnh bạo ngược giết hại nhiều tôi trung và tàn hại nhân dân vô tội,
lại hoang dâm vô độ đến kiệt sức không ngồi được, thường khi lâm triều
nằm mà ngự nên gọi là Ngọa Triều.
Long
Đỉnh ở ngôi bốn năm là mất, chấm dứt đời Lê sang đời Lý.
Luận
Cảnh
tương tàn tương sát của anh em nhà họ Lê gây tai họa thảm khốc cho
nhân dân...… May mà có sự dàn xếp của Thiền sư Vạn Hạnh cùng các cụ
quan cựu thần đưa Lý Công Uẩn thay thế lên ngôi giữ vững bờ cõi khỏi
phải lọt vào tay nhà Tống bên Tàu.
Tệ hại
là em giết anh, tội ương ngạnh của Long Đĩnh nếu không chết sớm thì
ngày kia cũng bị tan thân vì sự căm thù của nhân dân, họ là ác nhân.
Làm
em mà tròn bổn phận đâu có nông nỗi.
HAI ANH
EM NHÀ NÔNG
(Truyện ngụ ngôn)
Hai
anh em nhà nông cha mẹ chết sớm, anh em sống nghề làm ruộng gần nhau.
Đến mùa gặt hái, anh em có lúa đang đổ đống ngoài đồng.
Đêm đến,
người em nghĩ rằng:
- Ta
chưa có vợ con, chỉ có một mình không ăn xài bao nhiêu, còn anh ta có
vợ con đông sự tiêu xài rất nhiều, vậy ta đem lúa của ta phụ cho anh
ta mới phải.
Nghĩ
xong bèn gánh lúa của mình lén đem đổ vào đống lúa của anh.
Người
anh lại nghĩ rằng:
- Ta lớn
có vợ con sẽ có nhiều người lo, còn em ta có một mình không ai lo, vả
lại em ta cần có dư dả ra còn lập gia đình, vậy ta nên đem bớt lúa của
ta cho em ta mới phải.
Nghĩ
xong người anh liền gánh lúa của mình đem đổ cho em.
Gánh lúa
giữa đàng gặp nhau, cảm động quá hai anh em ôm nhau khóc.
Luận
Thật là
hai anh em lý tưởng, nếu được như vậy thì gia đình hạnh phúc, xã hội
yên vui.
Đời nay
nhiều gia đình tuy thấy bên ngoài hòa nhã, kỳ thật sự hòa nhã chênh
lệch không huân bình được. Vì hòa là do anh quá nhường cho em để cho
được tạm yên, nếu tranh cãi sợ người ngoài chê cười, hoặc em chịu thua
thiệt để gia đình tạm yên thôi.
Mong sao
con người thời nay tiến bộ văn minh hơn, cùng nhau chung sống giữ cán
cân quân bình ở gia đình, thì quốc dân xã hội lần lần không còn chênh
nghiêng, nếu được như vậy thì thế giới này là Cực lạc vậy.
14. ĐỐI VỚI BẰNG HỮU
Trên
đường xa xôi dịu vợi, đoàn người lũ lượt đi và cứ đi mãi. Không lẽ ta
cứ lầm lì trôi bước, xung quanh ta hai bên ta đều là kẻ lữ hành, há
không chuyện trò nhau, hoặc tạm nghỉ chân, tâm sự cùng nhau, trao đổi
nhau, nhờ vả nhau.
An ủi ta
không ai hơn bạn, nói thẳng với ta không ai hơn bạn.
Tục ngữ
có câu :
“Ăn cơm
nhờ canh
Tu hành
nhờ bạn“.
Tu là
sửa, sửa quấy cho nhau, nhắc nhở cho nhau. Hơn nữa sự học hỏi hẳn là
nhờ thầy nhưng vẫn còn nhiều khía cạnh nhờ bạn.
Nho nói
:
“Học
sư bất như học hữu“.
Học thầy
không như học bạn vì bạn là thân mật với nhau mà trao đổi bàn luận cho
nhau, đối với thầy tôn kính trên ta một bực không dám thân mật, còn
bạn bè gần gũi thân mật hơn.
Bạn hữu
là chỗ thân mật nương tựa nhau bao nhiêu thì cần xét lấy bổn phận, đặt
đúng với bổn phận, phải đôi bên bù đắp cho nhau tương xứng quân bình
không chênh lệch thì mới có sự ích chung. Giả như ta có khả năng nhẫn
trong khi đó bạn ta cứ lấn hiếp mưu mô tranh giành của ta, thế mà ta
vui nhẫn để cho bạn ta vui vẻ. Như vậy bạn ta bị ta đầu độc rồi đấy,
vì người ta vẫn thấy vẫn biết, họ cho bạn ta là người gian trá lừa
phỉnh thì còn gì với đời ?
Nếu được
bạn bè đôi bên đối đãi tương xứng nhau, phỏng như ta hơn hay bạn ta
hơn thì không còn nghĩa là bạn nữa. Trong chữ bạn đổi nghĩa tương
đồng. Xét xưa lừa nay, học trước làm sau.
TÔN TẨN
BÀNG QUYÊN
Tôn
Tẩn nước Tề đời Xuân Thu, Bàng Quyên người nước Ngụy, đồng thời đều
theo học với Quỉ Cốc tiên sanh về môn binh pháp.
Học được
ba năm Bàng Quyên tự cho mình là giỏi, một hôm gánh nước gặp người đi
đường cho biết nước Ngụy đang chiêu hiền.
Nghe tin
này, Bàng Quyên vội muốn sớm lập công danh cho thiên hạ biết tài sức
của mình, nhưng chưa tiện nói ra.
Thế mà
Quỉ Cốc tiên sanh đã biết ý của Bàng Quyên nên nói:
- Nhà
ngươi đã gặp thời, nên xuống núi mà lập công danh phú quí.
Hết sức
vui mừng được thầy cho, Bàng Quyên liền quỳ sụp xuống lạy và nói:
- Đệ tử
đã nghĩ việc đó, nhưng thời vận chưa biết ra sao?
Tiên
sanh nói:
- Ngươi
hãy đi bẻ một cành hoa đem vô đây ta đoán cho.
Bàng
Quyên liền ra khỏi động rảo khắp tìm hoa, cố tìm cho được cành hoa
tươi đẹp thì quẻ mới tốt. Nhưng gặp mùa hè hoa ít nở lá úa cành khô,
tìm mãi gặp được bụi hoa cỏ, Bàng Quyên liền nhổ cả gốc rễ, nhổ rồi
nghĩ thầm:
Loại hoa
này mềm cành yếu, không phải giống quí nên bỏ đi, rồi tìm mãi không có
hoa nào nữa, bèn trở lại lượm cành hoa khi nãy lại giấu trong tay áo
trở về động.
Thấy
thầy còn ngồi chờ, Bàng Quyên nói :
- Tìm
không có hoa.
Tiên
sanh nói:
- Đã có
hoa trong tay áo sao lại nói không ?
Bàng
Quyên liền lấy hoa trình lên.
Tiên
Sanh trầm ngâm nhìn hoa vừa nói:
- Hoa
này tên gọi Mã Đâu Linh, khi nở một lượt mười hai nụ, là điềm ứng số
thời gian ngươi được nên danh phận. Hoa này có ánh sáng mặt trời liền
héo, ứng về tính tình ngươi hay ganh hiềm hại người. Vậy nên nhớ việc
này sửa mình mới được, ta cho ngươi tám chữ nên nhớ : Ngộ dương thị
vinh, ngộ mã vinh thất. Nghĩa là gặp dê thì nên, gặp ngựa là hỏng.
Bàng
Quyên lạy tạ nói:
- Lời
thầy dạy con không dám quên.
Nói xong
từ giã. Tôn Tẩn theo đưa Bàng Quyên xuống tận chân núi, Bàng Quyên
thấy vậy nói:
- Tôi và
anh lâu nay chung học cùng thầy, vậy sau này làm nên tôi sẽ tiến cử
đặng anh em ta cùng nhau chung hưởng.
Tôn Tẩn
nói:
- Hiền
đệ có nhớ lời dặn chăng?
Bàng
Quyên nói :
- Nếu
tôi sai lời hứa, sau này sẽ bị muôn ngàn mũi tên mà chết.
Bàng
Quyên đi rồi, Quỉ Cốc ra lịnh cho các đệ tử mỗi đêm phải thay phiên
thức canh chuột đừng cho khuấy động phòng thầy.
Các đệ
tử y theo, thay phiên mà canh chuột, tới phiên Tôn Tẩn canh, tiên sanh
liền mở gối lấy ra một quyển đưa cho Tôn Tẩn mà nói:
- Xưa
Tôn Vũ là ông nội của ngươi làm ra ba thiên binh pháp này ghi vào
quyển sách đem phò Ngô Hạp Lư phá được nước Sở, sau Hạp Lư lấy quyển
sách này đựng vào hòm sắt chôn dưới đài Cô Tô, sau bị quân Việt đốt
đài quyển sách đó mất luôn.
Ta là
bạn thân của Tôn Vũ được xem quyển sách này lại chép ra những phương
pháp bí mật tài đều đầy đủ trong đó cả. Nay ta thấy nhà ngươi hiền đức
nên giao cho quyển sách này để phò vua giúp nước. Ngươi nên noi gương
tổ phụ của ngươi là bậc tài đức, tuy đã qua đời rồi mà danh thơm vẫn
còn.
Tôn Tẩn
nhớ đó mà học thành tài.
Còn Bàng
Quyên xuống núi vào chầu Ngụy Huệ Dương gặp lúc vua đang ăn thịt dê,
Bàng Quyên rất mừng nghĩ rằng : thầy ta đã nói trước “gặp dê thì vinh”
lời nói ứng vận rất đúng.
Ngụy
Vương thấy Bàng Quyên tướng mạo khôi ngô, hỏi về binh pháp Bàng Quyên
tự khoe mình là đệ tử của Quỉ Cốc tiên sanh, lại giải bày về binh pháp
nghe cũng thông, Ngụy Vương rất vừa lòng liền phong cho Bàng Quyên là
tướng soái.
Bàng
Quyên sửa sang việc nước làm cho nước Ngụy được cường thạnh, nhưng
không bao giờ nhắc đến Tôn Tẩn.
Mặc Địch
cùng học với Tôn Tẩn, cảm mến Tôn Tẩn nên đến nước Ngụy, nghe Bàng
Quyên không có ý tiến cử Tôn Tẩn, nên vào xin yết kiến Ngụy Vương.
Ngụy
Vương đã từng nghe danh hiền sĩ Mặc Địch nên kính nể sai người ra rước
vào bàn luận.
Mặc Địch
nói:
- Tôi
vốn có quen với cháu nội của Tôn Vũ là Tôn Tẩn hiện đang là học trò
của Quỉ Cốc tiên sanh, người này có tài đức có thể giúp cho đại vương
được, vì Tôn Tẩn được binh phù bí truyền của nội tổ, so với Bàng Quyên
thì Tôn Tẩn hơn gấp mười lần.
Nói xong
Mặc Địch từ giã ra đi.
Ngụy
Vương liền cho đòi Bàng Quyên mà trách rằng:
- Ta
nghe Tôn Tẩn có binh pháp bí truyền của tổ phụ, lại là bạn đồng học
với tướng soái, sao tướng soái không vì ta mà tiến cử Tôn Tẩn?
Bàng
Quyên nói trớ rằng:
- Tôi
vẫn biết Tôn Tẩn là người tài, nhưng vì là người của nước Tề nên không
dám tiến cử đó thôi.
Ngụy
Vương nói:
- Người
biết dùng kẻ sĩ thì đâu phải chọn người nước mình mà được.
Túng
thế, Bàng Quyên nói:
- Như
đại vương muốn dùng Tôn Tẩn, tôi viết thơ sai người đến mời không khó.
Bàng
Quyên tuy nói ngoài miệng mà lòng không vui, sợ Tôn Tẩn tài hơn mình,
sẽ được trọng dụng hơn, nhưng cũng phải viết thơ mời Tôn Tẩn trao cho
Ngụy Vương.
Ngụy
Vương rất trịnh trọng lấy vàng ròng và xe tứ mã sai người cầm thơ đi
rước Tôn Tẩn.
Tôn Tẩn
được thơ liền đem lên trình thầy.
Qủi Cốc
tiên sanh thấy trong thơ Bàng Quyên không có một lời thăm thầy, biết
là đứa bội nghĩa.
Xét lại
Tôn Tẩn không thể nào cùng chung với Bàng Quyên mà làm nên công danh
được. Song không phụ lòng Ngụy Vương nên cho Tôn Tẩn đi, lại bảo Tôn
Tẩn đi hái cành hoa bói thử.
Tôn Tẩn
thấy trên án có cành hoa, bèn rút một cành đem trình thầy rồi đem cắm
lại.
Tiên
sanh nói:
- Cành
hoa này đã bị bẻ không còn nguyên vẹn, tuyết này tháng chín hoa bị
tuyết sương đầm đìa nhưng không rơi rụng, bị sự phá hoại nhưngkhông hề
chi, hoa lại được cắm trong bình người đều quí mến. Vậy số phận của
ngươi truân chuyên thân bị tàn phá nhưng không đến nỗi, sau được nên
danh phận ở quê hương.
Tôn Tẩn
khi giã biệt, Quỉ Cốc lại giao cho một cẩm nang khi nào nguy khốn hãy
mở ra xem.
Tôn Tẩn
khi đến Ngụy vào ra mắt Bàng Quyên. Quyên rất ngạo nghễ, tiếp đón Tôn
Tẩn như chủ với tớ, rồi dẫn Tôn Tẩn đến ra mắt Ngụy Vương.
Ngụy
Vương khi thấy Tôn Tẩn lại bước xuống ngai vàng tiếp đón rất cung kính
làm cho Bàng Quyên bất bình thêm.
Tôn Tẩn
thi lễ lại Ngụy Vương rồi nói:
- Tôi là
kẻ hèn ở thôn dã mà được đại vương dùng đại lễ đón rước thật lấy làm
hổ thẹn.
Ngụy
Vương nói:
- Ta đã
được nghe Mặc Địch nói tài đức của tráng sĩ khiến lòng ta kính mến.
Không
đợi bàn luận, Ngụy Vương liền phong cho Tôn Tẩn làm quân sư.
Bàng
Quyên kiếm cách cản khéo nói:
- Tôn
Tẩn là bạn lại là bậc đàn anh của tôi nay lại giữ chức dưới tôi, xin
để Tôn Tẩn lập công rồi tôi nhường chức cho mới phải.
Thế là
Tôn Tẩn cũng vẫn là một nhân sĩ trắng tay.
Rồi từ
đó đi đi lại lại giả làm thân thiết với Tôn Tẩn, để dò la học trộm
binh thư Tôn Võ bí truyền.
Ngụy
Vương lại muốn thử tài Tôn Tẩn, nên bày ra cuộc thao diễn cho Bàng
Quyên và Tôn Tẩn đấu diễn.
Bàng
Quyên lập ra bao nhiêu trận đều bị Tôn Tẩn phá hết, Tôn Tẩn mới lập ra
một trận, Bàng Quyên điên đầu không biết lối phá lại hỏi nhỏ Tôn Tẩn
là trận gì?
Tôn Tẩn
thật tình cứ nói:
- Đó là
trận Điên đảo bát môn.
Lại còn
giải thích:
- Nếu
cần thì trận biến ra trường xà địch tướng khó mà ngừa được.
Bàng
Quyên lại đến gần tâu nhỏ với Ngụy Vương như vậy. Ngụy Vương kêu Tôn
Tẩn lại hỏi, Tôn Tẩn cũng nói như vậy. Ngụy Vương cho là Bàng Quyên,
Tôn Tẩn tài như nhau lòng rất vui mừng.
Bàng
Quyên về suy nghĩ thấy mình thua Tôn Tẩn rất xa, lòng ganh ghét bừng
bốc, bèn nghĩ ra một kế, viết một bức thư sai Đinh Ất giả làm khách
buôn và dặn đem đưa thơ cho Tôn Tẩn phải nói như vầy... như vầy…
Một hôm
Tôn Tẩn đi chầu về gặp người nói tiếng nước Tề xưng là Đinh Ất, quê ở
Lâm Tri, buôn bán ở đất Châu, Tôn Bình và Tôn Trác có nhờ tôi cầm thơ
đến động Quỷ Cốc giao cho Tôn Tẩn nhưng đến đó mới hay Tôn Tẩn đã ra
phò Nguỵ rồi, nên tôi phải đến đây trao thơ này .
Nói xong
giao thơ, Tôn Tẩn mở thơ ra xem trong thơ nói: Người nhà gặp tai biến
nhà cửa tan nát, nay nhờ vua Tề thương cho về làng cũ, nên nay gởi thơ
này gọi Tôn Tẩn nên về Tề mà lập nghiệp.
Tôn Tẩn
xem thơ của hai anh, lòng cảm xúc khóc ròng lại viết một phong thơ hồi
đáp, Đinh Ất lãnh thơ về giao cho Bàng Quyên. Bàng Quyên lại nhái
tuồng chữ thêm sau một câu: ”Em tuy làm quan nước Ngụy nhưng lòng
riêng vẫn nặng quê hương, một ngày nào em sẽ tìm cách về Tề để cùng
nhau sum họp”.
Rồi đem
thơ vào dâng cho Ngụy Vương mà tâu rằng:
- Tôn
Tẩn phò Ngụy vẫn lo Tề nếu không liệu trước sẽ có hại sau.
Ngụy
Vương nói:
- Có lẽ
ta chưa trọng dụng nên Tôn Tẩn mới có ý về Tề.
Bàng
Quyên nói:
- Tổ phụ
của Tôn Tẩn làm tướng nước Ngô, rồi cũng bỏ Ngô về Tề, đất tổ quê cha
ai mà quên được, lòng người không muốn ở Ngụy. Đại vương trọng dụng
không ích gì. Tôn Tẩn có tài cũng như tôi, nếu để cho về Tề thì vua Tề
cậy có người tài sẽ khởi tranh hùng với ta, chi bằng giết đi, thì khỏi
lo hậu họa về sau.
Ngụy
Vương không bằng lòng, nói:
- Tôn
Tẩn nếu không muốn phò Ngụy thì đến đây để làm gì, tội trạng chưa rõ,
nếu ta giết đi e oan cho người lại mang tiếng bạo ngược với kẻ sĩ.
Bàng
Quyên liền trớ lời:
- Đại
vương nói rất phải, vậy để tôi tìm cách khuyên bảo cho Tôn Tẩn bỏ ý
định về quê, nếu như thế không đặng sẽ xử sự sau.
Ngụy
Vương cho là phải. Bàng Quyên về giả cách hỏi Tôn Tẩn:
- Tôi
được nghe đại huynh được thơ nhà gởi đến?
Tôn Tẩn
nào biết được lòng thâm độc của Bàng Quyên nên nói thật. Bàng Quyên
nói:
- Ai
cũng vậy, tình quê hương anh em ruột thịt xa cách nhau, sau đại huynh
không tâu với Ngụy Vương xin về vài tháng để thăm quê hương rồi trở
lại?
- Tôi sợ
đại vương chưa rõ lòng tôi rồi sanh nghi.
Bàng
Quyên nói:
- Vậy
thì có tôi, đại huynh tâu xin về vài tháng tôi giúp lời cho.
Tôn Tẩn
tưởng thiệt hẹn ngày mai sẽ vào tâu xin về.
Đêm đó
Bàng Quyên đến yết kiến gấp với Ngụy Vương; Ngụy vương cho vào, Bàng
Quyên tâu:
- Tôi vì
muốn cho Tôn Tẩn ở lại để đồng lực phò Ngụy Vương nhưng Tôn Tẩn chí
quyết về Tề. Như Tôn Tẩn có vào triều xin về thì đại vương hãy bắt tội
là tư thông với giặc rồi giao cho tôi trị tội. Tôi sẽ có cách làm cho
Tôn Tẩn phải phục Ngụy không về Tề.
Ngụy
Vương nghe theo. Hôm sau Tôn Tẩn dâng sớ xin nghỉ hai tháng về thăm
quê hương.
Ngụy
Vương cả giận, phê vào sớ buộc tội tư thông với giặc rồi sai nội thị
bắt trói Tôn Tẩn đem giao cho Bàng Quyên trị tội.
Khi đem
đến dinh, Bàng Quyên giả bộ điếng người. Nội thị lại giao cho Bàng
Quyên trị tội.
Bàng
Quyên nói:
- Đại
huynh bị hàm oan, tiểu đệ phải liều chết vào triều minh oan mới đưọc.
Vào
triều Bàng Quyên lại tâu với Ngụy Vương rằng:
- Tôn
Tẩn tội đáng chết nhưng vì lòng nhân đức của đại vương tha tội chết,
phải chặt chân, cho Tôn Tẩn thành phế nhân không còn làm gì được,ta
khỏi lo hậu hoạn sau nầy.
Ngụy
Vương y lời.
Bàng
Quyên trở về nói với Tôn Tẩn:
- Đại
vương ra lệnh giết đại huynh, em thiết tha khổ gián lắm mới được tha
tội chết nhưng phải chặt chân và thích chữ vào mặt để răn chúng theo
luật nước Ngụy.
Tôn Tẩn
nói:
- Thầy
có nói số tôi phải bị tàn hại thì may sao hiền đệ giải cứu khỏi phải
tội chết, ơn đó tôi không dám quên.
Bàng
Quyên truyền quân trói Tôn Tẩn lại rồi tự cầm gươm chặt hai bàn chân
mất đi phân nửa rồi thích vào mặt bốn chữ “tư thông ngoại quốc”. Tôn
Tẩn ngất xỉu.
Bàng
Quyên giả bộ kêu khóc, cho người lấy vải băng bó cho Tôn Tẩn, rồi sai
khiêng để ở thư quán.
Bàng
Quyên giả cho người chăm sóc tử tế, cách hai tháng sau tuy bớt đau
nhưng Tôn Tẩn vẫn ngồi một chỗ chưa đi được.
Tôn Tẩn
bớt đau, Bàng Quyên đến thăm nói:
- Nay
đại huynh bị tàn phế thật uổng công học tập không đem ra sử dụng được
nữa. Vậy xinđại huynh có binh thơ bí yếu của Tôn Vũ hãy biên để cho em
hầu an bang tế thế.
Tôn Tẩn
nhận lời. Bàng Quyên liền trao giấy mực, lại sai Thành Nghi là đứa ở
lo cơm nưóc.
Một hôm
đứa ở bồng con của Bàng Quyên đến thư quán chơi, đứa nhỏ phát thinh
nói:
- Cha ta
bảo ngươi viết xong rồi sẽ giết.
Đứa ở
thất kinh bồng đứa nhỏ chạy về và giấu nhẹm chuyện đó.
Giờ đây
Tôn Tẩn mới rõ Bàng Quyên là đứa nham hiểm sâu độc, muốn thoát thân
chưa biết làm sao? Lại nhớ đến cẩm nang thầy cho liền mở ra xem chỉ
thấy một chữ “cuồng”.
Liền
chiều hôm ấy, Tôn Tẩn xé hết mấy trang giấy đã biên, miệng lảm nhảm
khi cười khi khóc, khi chửi rủa bâng quơ.
Thành
Nghi đem cơm, Tôn Tẩn không ăn lại đổ đi rồi mắng chửi, chà mắt đỏ hoe
lên.
Thành
Nghi liền chạy về báo tin, Bàng Quyên vẫn nghi, chờ Thành Nghi đem cơm
Bàng Quyên theo đến xem thấy Tôn Tẩn chửi lảm nhảm rồi hất mâm cơm
xuống đất lại lượm đất ăn. Ăn xong khóc ngất rồi ôm Bàng Quyên miệng
nói:
- Quỉ
Cốc tiên sanh cứu mạng con! Cứu mạng con!
Bàng
Quyên nói:
- Tôi là
Bàng Quyên, đại huynh không nhận ra sao?
Tôn Tẩn
không chịu buông, ôm Bàng Quyên miệng la:
- Xin
tiên sanh cứu mạng.
Bàng
Quyên phải sai kẻ gỡ ra, rồi khiêng bỏ vào chuồng heo để thử.
Tôn Tẩn
bị khiêng bỏ vào chuồng heo, cũng chịu khổ nhục kế cứ nằm vùi trong
đó.
Thế là
Bàng Quyên ngỡ là Tôn Tẩn điên thật nên không để ý nữa. Từ đó thả lỏng
mặc ý Tôn Tẩn đi đâu thì đi. Tuy vậy Bàng Quyên vẫn cho người theo dõi
rồi về báo tin mỗi ngày coi Tôn Tẩn đi đâu.
Mặc Địch
đi chơi ở nước Tề nơi nhà Điền Kỵ, có người học trò tên Cầm Hoạt ở
nước Ngụy về, đem việc Tôn Tẩn bị chặt chân nói lại, hiện nay đã điên
đi lang thang.
Mặc Địch
bèn đem tài năng của Tôn Tẩn mà nói với Điền Kỵ, lại cho biết Tôn Tẩn
bị Bàng Quyên ghét ganh mà hãm hại, hiện nay Tôn Tẩn giả điên làm kế
thoát thân.
Điền Kỵ
liền vào tâu với Tề Uy Vương, Uy Vương muốn đem Tôn Tẩn về, Điền Kỵ
bày kế:
- Nên
sai người đem trà ngon đến cho Ngụy Vương, Cầm Hoạt giả làm quân hầu
rồi lén tìm Tôn Tẩn mà định đoạt.
Tề Uy
Vương liền sai Thuần Vu Ý làm sứ dâng trà, Cầm Hoạt làm quân hầu.
Khi vào
yết kiến Ngụy Vương, Cầm Hoạt giả dạo chơi tìm Tôn Tẩn, thấy Tôn Tẩn
đang ngồi dựa bờ giếng cạn, áo quần rách rưới bẩn thỉu, mặt mày tiều
tụy lem luốc, Cầm Hoạt lại gần nói nhỏ:
- Tôn
huynh khổ đến thế sao? Còn nhớ tôi không? Thầy tôi là Mặc Địch hay tôn
huynh mắc nạn nên lập kế với vua Tề sai Thuần Vu Ý làm sứ dâng trà,
còn tôi theo tìm tôn huynh tính kế rước về.
Tôn Tẩn
ứa nước mắt nhìn Cầm Hoạt nói:
- Bàng
Quyên nham hiểm hại tôi đến thế này và còn định giết nên tôi giả điên
tìm kế thoát thân nhưng chưa được vì hắn còn cho người nhà theo dò nên
chưa đi đặng.
Cầm Hoạt
nói:
- Không
sao, vì chúng tôi có kế sắp đặt rồi, xin tôn huynh yên lòng.
Đêm đến
Cầm Hoạt đem Tôn Tẩn giấu kín trong cổ xe rồi cho Dương Nghĩa giống tợ
Tôn Tẩn ăn mặc rách rưới đi lang thang ra chợ. Người ta ngỡ Tôn Tẩn,
không để ý xem làm chi.
Hôm sau
Thuần Vu Ý từ biệt Ngụy Vương rồi lên xe về nước một cách êm xuôi.
Dương
Nghĩa giả điên đến ba hôm biết Tôn Tẩn ra khỏi nước rồi mới cởi bỏ đồ
rách mà trốn về theo dễ dàng.
Quan địa
phương không thấy Tôn Tẩn đâu nữa liền về báo với Bàng Quyên. Bàng
Quyên cho là Tôn Tẩn đã nhảy xuống giếng chết rồi nên không cần gạn
hỏi nữa.
Thuần Vu
Ý đưa Tôn Tẩn về đến Lâm Tri mới tắm rửa và lấy y phục thay cho Tôn
Tẩn rồi đưa về ra mắt Tề Uy Vương.
Tề Uy
Vương muốn phong quan cho Tôn Tẩn nhưng Tôn Tẩu tâu:
- Tôi
chưa có công gì không dám nhận chức, lại sợ Bàng Quyên hay tôi làm
quan nước Tề sẽ sanh chuyện lôi thôi, chi bằng giấu nhẹm hay hơn.
Tề Uy
Vương nghe theo, liền cho Tôn Tẩn về ở nhà Điền Kỵ, Điền Kỵ rất quý
trọng Tôn Tẩn.
Nước Tề
có lệ đua ngựa, Điền Kỵ bị ngựa dở bị thua luôn. Điền Kỵ lại đưa Tôn
Tẩn đến trường đua để xem cuộc. Tôn Tẩn thấy ngựa của Điền Kỵ không
phải yếu lắm mà thua, Tôn Tẩn nói:
- Ngày
mai đua ngựa tôi sẽ giúp ngài thắng.
Điền Kỵ
nói:
- Nếu
mai tiên sinh giúp cho tôi thắng thì tôi sẽ xin cuộc mười đồng vàng để
gỡ thua hôm nay.
Tôn Tẩn
nói:
- Điều
đó chắc được, xin ngài cứ thi hành.
Hôm sau
Điền Kỵ tâu với Uy Vương xin thi cuộc với các công tử mười đồng vàng
mỗi một vòng.
Tề Uy
Vương y lời, ra lệnh các công tử biết đem nạp mười đồng vàng mỗi một
vòng rồi dắt ngựa ra trường.
Tôn Tẩn
bảo Điền Kỵ rằng:
- Cả
thảy đều chọn ngựa khỏe để đua vòng nhất, vậy ngài chọn ngựa ba để đua
vòng nhất, ta thua vòng nhất để thắng hai vòng sau còn lời chán. Rồi
vòng hai ta đem ngựa nhất ra mà chọi với ngựa nhì của họ, cuối cùng ta
đem ngựa hạng nhì chọi với ngựa hạng ba của chúng, như thế là hai vòng
sau ta chắc thắng vậy.
Điền Kỵ
vỗ tay khen hay và y theo đó mà làm. Vòng thứ nhất Điền Kỵ thua sau xa
quá sức, khán giả vỗ tay cười ầm lên, cho Điền Kỵ thua cả đời.
Vòng thứ
hai Điền Kỵ lại thắng, khán giả vỗ tay reo lên hơn nữa, đến vòng thứ
ba Điền Kỵ lại thắng chưa từng có, khán giả ngạc nhiên vỗ tay reo dữ
dội, tiếng vang suốt cả giờ.
Vua Tề
lấy làm lạ hỏi:
- Hôm
nay sao ngựa nhà ngươi khỏe lạ lùng vậy?
Điền Kỵ
tâu:
- Không
phải sức ngựa mà thắng là do mưu của Tôn Tẩn.
Và kể
lại cho Uy Vương nghe. Tề Uy Vương rất khen và để ý Tôn Tẩn.
Bàng
Quyên không còn lo ngại gì Tôn Tẩn nữa nên tâu với Ngụy Vương xin đem
quân đánh Hàm Đang nước Triệu để lấy uy thế rồi lần đến nước Tề.
Ngụy
Vương nhận lời, Bàng Quyên liền kéo hùng quân đến vây đánh Hàm Đang.
Quân Triệu thua luôn mấy trận, Triệu Thành hầu sợ hãi bèn đem vàng và
đất Trung Sơn đút lót cho Tề xin cầu cứu.
Tề Uy
Vuơng liền phong cho Tôn Tẩn làm đại tướng kéo binh cứu Triệu, Tôn Tẩn
từ chối nói:
- Tôi là
kẻ bị hành hình mà được sống thừa, nếu làm đại tướng không khỏi bị chê
cười là nước Tề hết người, xin đại vương cử Điền Kỵ làm đại tướng là
hay.
Tề Uy
Vương liền cử Điền Kỵ làm đại tướng, còn Tôn Tẩn làm quân sư.
Tôn Tẩn
theo Điền Kỵ nhưng luôn giấu mặt, chỉ bày mưu cho Điền Kỵ. Điền Kỵ rất
tin tưởng Tôn Tẩn nên nói đâu nghe đó không có ý kiến khác.
Điền Kỵ
đem quân đi cứu Hàm Đang, Tôn Tẩn nói:
- Tướng
nước Triệu không địch nổi Bàng Quyên, ta đem quân đến đó ắt thành bị
hạ rồi còn gì mà cứu, chi bằng đóng quân giữa đuờng ra lệnh đi đánh
Tương Lăng, Bàng Quyên nghe hay đặng hoảng sợ tức khắc rút quân về ngă
giữ, như vậy Hàm Đang không cứu cũng không mất.
Điền Kỵ
nghe theo lời, quả nhiên Bàng Quyên chưa hạ Hàm Đang lại nghe tin
tướng nước Tề là Điền Kỵ đem quân đi đánh Tương Lăng. Hoảng sợ Bàng
Quyên phải rút quân về. Về đến Quế Lăng còn vài mươi dặm lại gặp quân
Tề, Bàng Quyên sai Bàng Thống ra đánh trước.
Tôn Tẩn
biết trước, sai tiểu tướng là Viêm Đạt đem quân phục sẵn, Bàng Thống
vừa kéo quân tới bị Viêm Đạt ồ ạt ra đánh thắng giết nhiều quân Ngụy
nhưng rồi bỏ chạy, Bàng Thống sợ kế không dám đuổi theo liền rút quân
về.
Bàng
Quyên nổi giận mắng vang, rồi dẫn đại binh đến nơi thấy quân Tề bày
trận tại Quế Lăng, Bàng Quyên nhìn biết là trận “Điên đảo bát môn” lúc
trước Tôn Tẩn bày ra liền sợ toát mồ hôi nghĩ thầm:
- Có lẽ
Tôn Tẩn đã về Tề chăng? Không lẽ Điền Kỵ lại biết trận này? Còn đang
suy nghĩ chợt thấy Điền Kỵ cỡi ngựa xông ra.
Bàng
Quyên kêu to tiếng:
- Ta
đánh Triệu có can chi đến Tề mà ngươi sanh sự gây rối?
Điền Kỵ
nói:
- Vô can
mà ngươi đánh Triệu là gây chiến, còn ta cứu Triệu là nghĩa khí. Nay
bọn ngươi là kẻ tiểu nhơn tham lợi ỷ mạnh hiếp yếu, còn ta là bậc quân
tử há dễ ngồi yên để bọn tiểu nhơn tung hoành sao?
Bàng
Quyên không biết xấu hổ, mắng rằng:
- Ngươi
chớ ngu muội không biết lượng sức mình dám vô lễ với ta như thế!
- Ngươi
chớ lớn lối hãy xem thử có biết trận này là trận gì không?
Bàng
Quyên nói:
- Đó là
trận đồ chơi con nít ở xứ ta cũng biết, đó là trận “Điên đảo bát môn”
ngươi mau xếp trận mà lui binh cho sớm để ta ra oai rồi ăn năn không
kịp.
- Bọn
phách lối chỉ nghe lóm nói càn, ta không thèm đấu miệng với ngươi, ta
biết bộ miệng của ngươi chỉ nói được mà làm không được. Vậy mau đầu
hàng kẻo chết uổng mạng.
Bàng
Quyên kinh sợ nghĩ thầm: Tôn Tẩn đã dàn trận này sẽ biến thành trường
xà hai đầu đánh úp lại không khéo bị vây, liền phân ba đạo binh giao
cho ba tướng Bàng Thông, Bàng Anh, Bàng Mao dặn hễ khi thấy trận biến
thì xông ra một lượt làm cho trận hai đầu không tiếp ứng nhau, tức
nhiên là phá được trận.
Còn Bàng
Quyên tự kéo năm ngàn quân xông vào mặt trận, liền thấy tám hướng mỗi
hướng có một lá cờ màu sắc khác nhau, bốn bên chỗ nào cũng có gươm
giáo san sát. Bàng Quyên sợ hãi, lại thấy gươm giáo rẽ ra, có một lá
cờ từ đàng xa đi lại nhìn thấy ba chữ: ”Tôn quân sư”.
Bàng
Quyên kinh khủng mồ hôi ra ướt đầm. Trong cơn nguy cấp, may có Bàng
Anh và Bàng Thông hộ tống lui ra. Còn Bàng Mao bị Điền Anh chém rơi
đầu, năm ngàn quân của Bàng Mao chết sạch.
Bàng
Quyên chạy thoát biết có Tôn Tẩn trong quân Tề nên sợ quá rút quân
trốn về.
Bàng
Quyên chạy rồi Điền Kỵ cũng rút quân về tâu lên vua Tề công việc thắng
trận và cứu được nước Triệu.
Từ đó Tề
Uy Vương rất kính trọng Điền Kỵ và Tôn Tẩn.
Sô Kỵ
lại ganh tỵ sợ ngôi tướng quốc sau này về tay Điền Kỵ và Tôn Tẩn, lại
đưọc Bàng Quyên sai người đem lễ vật tư thông, thúc đẩy Sô Kỵ tâu với
vua Tề đừng dùng Điền Kỵ và Tôn Tẩn.
Sô Kỵ
liền nghĩ ra kế sai Công Tôn Duyệt giả làm tâm phúc của Điền Kỵ ra chợ
nhờ bốc sư bói giùm một quẻ coi khởi cuộc đại sự được chưa? Bốc sư
nghe vậy sợ không chịu bói nhưng chưa biết nói sao, Công Tôn Duyệt
bước ra vừa khỏi thì bọn quân Sô Kỵ ào vào bắt bốc sư giao cho Sô Kỵ.
Sô Kỵ
liền vào chầu, tâu việc Điền Kỵ sai người đi bói như vậy có dẫn bốc sư
về làm chứng.
Tề Vương
tuởng thiệt nhưng không bắt tội Điền Kỵ, chỉ lãnh đạm ngờ vực thôi.
Hay được
việc như vậy, Điền Kỵ liền cáo bệnh xin từ chức, Tôn Tẩn cũng xin từ
chức về quê an dưỡng.
Bàng
Quyên hay tin như vậy rất yên lòng, liền vào tâu với Ngụy Vương xin
đem quân đánh nước Hàn vì nước Hàn là một nước yếu, đánh lấy Hàn để
thêm oai danh, Tề có đến cứu sẽ đánh luôn nước Tề.
Ngụy
Vương liền cho Bàng Quyên và thái tử Thân đi đánh nước Hàn.
Nước Tề
bây giờ Uy Vương đã mãn phần, Tề Tuyên Vương lên ngôi nghe Bàng Quyên
đánh Hàn bèn nghị sự cứu nước Hàn. Sô Kỵ cản không nên cứu.
Tề Tuyên
Vương lại triệu Điền Anh, Tôn Tẩn, Điền Kỵ. Điền Kỵ thì bàn xin cứu
nước Hàn, còn Tôn Tẩn không nói gì hết. Tuyên Vương hỏi, Tôn Tẩn phải
nói:
- Cứu
cùng không cứu cũng phải. Nước Ngụy ỷ mạnh đánh nước Hàn nếu không cứu
thì nước Hàn bị mất, thì Tề dễ gì yên thế nên cứu Hàn là phải. Nhưng
Ngụy đánh Hàn, Hàn chưa tổn một tên quân một tấc đất mà ta đến cứu là
rước lấy tổn thất về mình. Hàn được yên, ta chịu thiệt cứu Hàn không
nên.
Cứ theo
ý tôi thì hứa cứu Hàn, cho sứ giả về báo tin ấy, Hàn hầu sẽ hăng hái
mà đánh chờ hai bên kiệt sức, ta sẽ kéo binh đánh Ngụy là hay.
Tề Tuyên
Vương đắc ý liền cho sứ giả về báo tin sẽ đem binh cứu Hàn.
Hàn hầu
hay tin mừng rỡ ra sức chống Ngụy nhưng thế yếu cứ thua luôn, liền sai
sứ sang Tề thúc giục cứu viện.
Bây giờ
Tề Tuyên Vương sai Điền Kỵ làm tướng soái, Điền Anh làm phó, Tôn Tẩn
làm quân sư kéo binh cứu Hàn.
Tôn Tẩn
bàn rằng:
- Kéo
binh cứu Hàn là đương đầu với Ngụy phải mệt nhọc nhiều mới thắng, chi
bằng ta kéo quân qua thẳng kinh đô Ngụy. Bàng Quyên hay tin ắt hẳn rút
binh về, thế nào cũng đuổi sau đuôi đoàn quân ta, ta sẽ dụ Bàng Quyên
lâm trận.
Điền Kỵ
hỏi dụ thế nào?
Tôn Tẩn
nói:
- Ta đã
kéo quân qua Ngụy trước, Bàng Quyên rút quân về đuổi theo sau ta, ta
cứ vừa chạy vừa tiến về Ngụy, Bàng Quyên cứù theo dấu ta trên đường
về, hắn sẽ dò xét, ta cứ mỗi ngày dồn quân một chỗ đào mười vạn cái
bếp nấu ăn, ngày sau chỗ đồn quân ta đào năm vạn cái bếp và cứ mỗi
ngày ít đi như vậy Bàng Quyên cứ ngạo nghễ không đề phòng, sẽ lâm trận
của ta.
Điền Kỵ
khen hay, cho quân làm theo.
Bàng
Quyên trên đường về đến chỗ trú quân của Tề thấy bếp núc lạnh tanh,
cho đếm có cả mười vạn cái bếp, Bàng Quyên sợ sệt nghĩ: quân Tề đông
như vậy ta phải đề phòng mới được.
Hôm sau
đến chỗ trú quân Tề, Bàng Quyên tra cứu thấy còn năm vạn cái bếp, sau
thấy ít hơn chỉ còn hai vạn cái bếp. Cả mừng, Bàng Quyên kêu thái tử
Thân nói:
- Quân
Tề hèn nhát vùa kéo quân đến đây đã trốn đi hơn bốn phần, cứù xem số
bếp đó thì biết. Bọn Điền Kỵ bị quân tình bỏ trốn, nếu hay tin chặn
hậu thì chỉ còn bó tay chịu chết.
Nói xong
chia cho thái tử Thân hai vạn quân tinh nhuệ đuổi gấp theo quân Tề,
còn mình cùng Bàng Thông kéo đại binh theo sau tiếp ứng.
Điền Kỵ
và Tôn Tẩn kéo quân tới Mã Lăng, Tôn Tẩn liền bảo Điền Kỵ cho quân đốn
cây chẹn đường chỉ chừa lối nhỏ rồi cho quân mai phục hai bên chỉ dùng
cung nỏ không dùng gươm giáo vì cây cối ngổn ngang không xông pha
được. Đường bị chẹn nhỏ, quân Ngụy phải kéo quân giãn ra chen mà đi ở
giữa đường chừa một cây lớn chạm vào đó chữ ”Bàng Quyên chết tại Mã
Lăng”, lại sai hai tướng thiện xạ là Độc Cô Trần và Việt Đại dẫn hai
vạn quân cung nỏ phục tại đây ban đêm hễ thấy đèn đuốc dưới gốc cây
thì cứ bắn ngay vào đó. Còn lại bao nhiêu quân chia ra làm hai, Điền
Kỵ phục đoạn hậu, Tôn Tẩn và Điền Anh phục đoạn tiền, chờ nghe giữa
quân nổi xạ thì hai đầu nổi lên đánh úp vào.
Bàng
Quyên dẫn quân gấp đuổi theo đến Mã Lăng trời sẫm tối thấy cay cối
chẹn cả đường chỉ còn lối nhỏ ở giữa. Thái tử Thân thấy thế dừng lại,
Bàng Quyên nói lớn rằng:
- Quân
Tề sợ ta nên đốn cây chặn đường để tìm lối trốn.
Nói rồi
cho quân giãn ra đi hàng nhỏ chen vào giữa cấp tốc mà đi, đến gốc cây
quân sĩ thấy chữ lờ mờ báo tin, Bàng Quyên truyền nổi đuốc xem coi chữ
gì ? Đuốc sáng lên thấy rõ hàng chữ ”Bàng Quyên chết tại Mã Lăng”,
kinh hồn nhớ điềm thầy đoán xưa, Bàng Quyên la lên :
- Thôi
rồi! Ta bị thằng què lừa rồi!
Vừa dứt
lời thì quân Tề ùa ra loạn xạ. Bàng Quyên bị cả ngàn mũi tên, biết
mình không sống nổi liền rút gươm tự vận. Bàng Anh bị chết giữa đám
loạn quân. Quân Nguỵ lớp chết lớp hàng lớp chui vào rừng trốn. Thái tử
Thân bị Điền Anh bắt giao cho Điền Kỵ. Tôn Tẩn chặt đầu Bàng Quyên
treo trên xe rồi cùng Điền Kỵ thâu quân về.
Sau Tôn
Tẩn vào núi Thạch Lư tu đắc quả.
Luận
Bàng
Quyên phản bạn gây ra cảng đao binh kinh khủng, quân binh chết chóc,
dân chúng điêu linh. Bàng Quyên phải đền tội không chạy đâu khỏi. Trái
lại nếu tình bằng hữu giữa Tôn Tẩn và Bàng Quyên chân thật thì Ngụy Tề
hai nước tương thân tương ái nhân dân sẽ an lạc mà an hưởng thái bình.
Chỉ vì quyền lợi danh vọng mà Bàng Quyên phản bạn.
Tôn Tẩn
quá tin bạn mà chịu khổ suốt đời. Đời cần có bạn nhưng biết được lòng
bạn rồi mới tin chớ. Đành rằng biết được lòng người bạn là khó, dẫu
khó cũng phải biết mới được, chưa biết thì chớ vội tin, nhưng cũng
không khắt khe làm mất lòng bạn. Một khi biết được bạn không tốt nên
tránh xa thà không bạn còn hơn, nhưng đời không phải hết người, Tôn
Tẩn đã mất Bàng Quyên còn Mặc Địch với Điền Kỵ.
Tôn
Tẩn là bậc hiền nhân vậy.
BẢO THÚC, QUẢN DI NGÔ
Trở
lại vấn đề Bảo Thúc Nha và Quản Di Ngô (Quản Trọng). Bảo Thúc Nha và
Quản Trọng là hai người cùng nhau làm bạn tri kỷ từ thuở nghèo nàn.
Hai người hùn vốn đi buôn khi được lời. Quản Trọng giành phần nhiều
hơn, người ta nói với Thúc Nha: Quản Trọng là nguời xấu, tham lam.
Thúc Nha
nói:
- Không
phải thế đâu! Quản Trọng rất tốt, chỉ vì nhà nghèo không đủ chi dùng
mới giành phần nhiều.
Thúc Nha
và Quản Trọng vào quân ngũ, cứ ra trận thì Quản Trọng lùi lại sau,
người ta chê Quản Trọng là hèn nhát, Thúc Nha binh rằng:
- Quản
Trọng vì còn mẹ già nên phải giữ lấy thân thể để bảo dưỡng.
Sau Quản
Trọng làm chức thái phó dạy công tử Củ, còn Thúc Nha làm chức thái phó
dạy công tử Tiểu Bạch, hai công tử là anh em ruột con vua Tề.
Về sau
Tề có loạn, Thúc Nha phò công tử Tiểu Bạch sang nước Cử lánh nạn, còn
Quản Trọng phò công tử Củ sang Lỗ lánh nạn.
Khi vua
Tề chết, công tử Vô Tri lên ngôi nhưng cũng bị loạn chết. Bấy giờ quần
thần chỉ chờ hai công tử về lên ngôi là yên.
Hay được
tin lành Thúc Nha phò công tử Tiểu Bạch về bị Quản Trọng đón đường bắn
Tiểu Bạch để giành ngôi cho công tử Củ. Tiểu Bạch thoát chết về nước
lên ngôi lấy hiệu là Tề Hoàn Công .
Tề Hoàn
Công lên ngôi rồi sai Thấp Bằng sang Lỗ giết công tử Củ, khi đi Thúc
Nha dặn nên đem Quản Trọng về.
Thấp
Bằng sang Lỗ xin giết công tử Củ, vua Lỗ sợ oai nước Tề liền để cho
Thấp Bằng giết công tử Củ, Thiệu Hốt cũng phò công tử Củ thấy vậy tự
sát mà chết, còn Quản Trọng chịu ngồi tù xa về Tề.
Thúc Nha
lại lấy hết lời lẽ binh vực Quản Trọng và tiến cử vua Tề phong Quản
Trọng làm chức tướng quốc do Thúc Nha nhường lại.
Về sau
Quản Trọng đau yếu sắp chết, Tề Hoàn Công xin Quản Trọng tiến cử người
thay thế, Quản Trọng tiến cử người khác không hề nói tới Thúc Nha.
Tề Hoàn
Công hỏi:
- Sao
không tiến cử Thúc Nha?
Quản
Trọng nói:
- Thúc
Nha không thể giữ chức ấy.
Luận
Đôi bạn
thân của Quản Thúc được êm xuôi không xảy ra việc tranh hại lẫn nhau
kỳ thật không tốt đẹp gì cả, người sau không thể nào học theo đó được.
Về phần
Bảo Thúc Nha thì từ thỉ chí chung một mực nhường nhịn nhờ vậy mà được
êm xuôi và trên đời có một Bảo Thúc Nha không bao giờ có người thứ
hai.
Làm như
Bảo Thúc Nha thì có khả năng nhẫn nhưng bạn là để trao đổi xây dựng
cho nhau. Thúc Nha làm thế là để cho bạn mình, thiên hạ đều chê và như
vậy đã vô tình chơi với người bạn xấu.
Về
phần Quản Trọng đối với Thúc Nha không có tình nghĩa gì cả, trọn từ
trước đến sau hoàn toàn là tính hơn giành đặng, không có chút gì đáp
lại một tí gọi là.
Quản
Trọng nói Thúc Nha không tham làm tướng quốc là sao? Bảo là Thúc Nha
thua mình, đó là lời nói bướng thôi, còn về sự làm ta thấy Thúc Nha ăn
đứt Quản Trọng về mọi mặt: Quản Trọng dạy công tử Củ là anh đặng phần
nắm ngôi mà không phò lên ngôi được để cho chịu chết đau đớn thật là
làm không nên thân gì cả.
Khi
đi lánh nạn Thúc Nha biết trước nên sang nước Cử để phòng khi về nước
đường cho tiện. Còn Quản Trọng lại dại dột đưa công tử sang Lỗ là bị
hai việc sai lầm mà không biết : Một là lầm vua Lỗ là ông ngoại của
công tử Củ sẽ bảo hộ cho công tủ Củ, hai là lầm đường xa về không kịp.
Nếu như Quản Trọng hay Tiểu Bạch về giành ngôi rồi thì phải có trí đưa
công tử Củ tìm nước khác lánh nạn hoặc qua nhà Châu chẳng hạn có thể
sau giúp binh về đòi ngôi cho công tử Củ mà thị oai chư hầu được vì Tử
Củ là anh. Thế mà Quản Trọng không làm gì được cả chỉ chịu nhục về Tề
mà thọ hưởng giàu sang bất chánh, nay lại cho mình là hơn Thúc Nha.
Đáng
lý ra khi được Thúc Nha tiến cử, thì nên từ chức tướng quốc để cho
Thúc Nha làm còn mình giữ chức dưới để hiến kế như Tôn Tẩn khi về Tề
mới phải.
May
mà Thúc Nha nhanh trí đem công tử Tiểu Bạch về trước rồi lại y lời hứa
mà bảo bọc cho Quản Trọng khỏi chết lại nhường cho địa vị cao tột bực,
nếu Thúc Nha thất bại thì Quản Trọng phò Tử Củ lên ngôi chưa chắc gì
Thúc nha yên tâm, có yên thân là tha tội chết cho về làm dân là Thúc
Nha đội ơn mãn đời rồi.
Đời nay
chúng ta đáng chê Quản Trọng mà cũng không thể bắt chước Thúc Nha
được. Tình bằng hữu tương thân tuơng ái thì hai bên phải bù đắp với
nhau, nếu không bù đắp thì phải chân thật không nên lường gạt nhau mà
nên được. Họ là ác nhân.
BÁ NHA,
TỬ KỲ
Bá
Nha người nước Tống làm quan chức Thượng đại phu, có tài chơi đàn rất
giỏi, thường phàn nàn trong thiên hạ chưa ai có thể thưởng thức tiếng
đàn của mình. Một hôm đi sứ nước sở về đến Hàng Dương nhân đêm trăng
sáng gió mát cảnh vật nên thơ, Bá Nha liền cho thuyền ghé vào bờ lấy
đàn ra gảy, trên bờ Tử Kỳ đốn củi về ngang đứng dừng nghe trộm tiếng
đàn.
Cung đàn
trầm bổng lại đứt dây, Bá Nha cho rằng có người rình nghe, nhưng lại
nghĩ nơi đây rừng núi non chập chùng chắc là đạo tặc, liền cho quân rẽ
sào vào bờ tìm bắt, Tử Kỳ lên tiếng đáp:
- Tôi là
người đốn củi chợt qua đây nghe đại nhân gảy đàn hay nên trộm nghe,
chớ không phải là kẻ bất lương.
Bá Nha
không tin một kẻ tiều phu nhỏ tuổi lại biết nghe đàn tuyệt diệu của
mình liền hỏi:
- Ta đàn
bản gì ban nãy đó?
Tử Kỳ
không chút chần chừ đáp:
- Ngài
đàn bản Khổng Tử thương tiếc Nhan Hồi.
Bá Nha
nghe có ý trọng người am hiểu tiếng đàn, liền mời xuống ghe trà nước,
và lên dây gảy một bản đàn khác, tâm trí đang nghĩ ngợi chốn non cao -
Tử Kỳ khen:
- Tiếng
đàn cao vút, chí của người vời vợi như chốn non cao (nga nga hồ chí
tại sơn cao).
Bá Nha
lại đàn một bản khác, để tâm theo dòng nước chảy.
Tử Kỳ
lại khen:
- Chí
ngài cuồn cuộn như dòng nước chảy (dương dương hồ chí tại lưu thủy).
Bá Nha
nhìn nhận Tử Kỳ là bạn tri âm của mình biết thưởng thức tiếng đàn nên
rất quý mến liền cùng nhau kết tình bằng hũu gọi là tri âm. Bá Nha mời
Tử Kỳ theo mình về Tống để chung hưởng, Tử Kỳ cho biết mình còn cha mẹ
già phải phụng dưỡng. Bá Nha liền lấy ba nén vàng giao cho Tử Kỳ để lo
phụng dưỡng cho cha mẹ, khi từ biệt nhau hẹn sang năm ngày này sẽ
tương hội tại bến Hàm Dương.
Y hẹn,
năm sau Bá Nha vào triều tâu về thăm quê hương, đến bến cũ đem đàn ra
gảy bản đàn nghe sao như oán như than, Bá Nha sanh nghi liền tìm đến
nhà Chung Lão là cha của Tử Kỳ mới hay Tử Kỳ đã chết. Bá Nha thương
tiếc không nguôi, xin đến mả để thăm người bạn tri âm lần cuối cùng.
Đến bên mồ, Tử Kỳ bày ra đồ tế lễ, Bá Nha lấy đàn ra gảy một bản điếu
nghe thê thảm. Bá Nha khóc thảm thiết khi đàn xong liền đập nát cây
đàn thề trọn đời không đàn nữa. Rồi Bá Nha xin rước ông bà Chung về
Tống thay thế Tử Kỳ nuôi trọn đời.
Luận
Như trên
ta nhận thấy, tình bằng hữu phải có sự tương thân tương trợ quân bình
với nhau, nhưng sự quân bình không hẳn là tài của vật chất, mà quân
bình tôn trọng nhau về tài đức, hẳn không có sự lường gạt nhau. Bằng
hữu tri âm của đôi bạn Bá Nha - Tử Kỳ về mặt tinh thần rất cao, Tử Kỳ
chỉ biết nghe tiếng đàn mà Bá Nha thỏa mãn về tài nghệ của mình mà đôi
bên nên nghĩa kim bằng. Tử Kỳ không vì tài lợi mà chỉ tài đàn và đức
độ cuả Bá Nha, còn Bá Nha suốt đời chưa ai nghe được tiếng đàn của
mình, nay Tử Kỳ nghe đặng nên cho là người bạn tri âm duy nhất. Bá Nha
đã chung thủy đối với Tử Kỳ phụng duỡng thay bạn nuôi cha mẹ bạn suốt
đời. Bá Nha - Tử Kỳ là bậc hiền nhân vậy.
Thời nay
thấy tình bạn như Thúc Nha - Quản Trọng, như Bàng Quyên - Tôn Tẩn thì
có, còn tình bạn như Bá Nha - Tử Kỳ thì ít có lắm.
Xưa là
sao nay là sao?
Trăm năm
tình nghĩa dạt dào còn đây.
LƯU BÌNH, DƯƠNG LỄ
Lưu
Bình con nhà giàu có, cha mẹ chết sớm, cùng Dương Lễ làm bạn. Dương Lễ
vốn nhà nghèo khổ, nhờ Lưu Bình rất mật thiết ra tiền nuôi dưỡng cho
Dương Lễ ăn học. Đến khoa thi, hai anh em đều lên đường ứng thí.
Dương Lễ
nhờ chăm học nên thi đỗ, được bổ nhậm ra làm quan. Còn Lưu Bình vì hay
ăn chơi học kém nên thi rớt trở về, rồi ngày ngày cứ ăn chơi, sự học
chỉ lấy lệ nên thi rớt luôn. Lưu Bình buồn bực ăn chơi mãi cho đến khi
sự nghiệp sạch trơn, lại gặp thời loạn lạc phải bỏ xứ đi lang thang
vất vả đói khát.
Cùng khổ
quá, Lưu Bình tìm đến Dương Lễ nhưng Dương Lễ không tiếp sai quân ra
bảo: Quan lớn không có anh em với kẻ nghèo, nay tạm cho ngươi ở nhà
ngoài ăn cơm hẩm canh rau, uống nước lã. Nghĩ thân phận thầm tủi thẹn
giận người bạn vong ân bội nghĩa, Lưu Bình liền bỏ ra đi.
Ra ngoài
đường, Lưu Bình gặp người đàn bà trẻ đẹp, nàng ấy gợi chuyện hỏi thăm,
Lưu Bình đem chuyện mìmh nói hết cho nàng nghe.
Nàng ấy
tỏ ra lòng thương hoàn cảnh Lưu Bình, xin tình nguyện nuôi Lưu Bình
rồi cho ăn học thành tài, làm cho kẻ bội nghĩa vong ân sáng mắt và xin
Lưu Bình ăn học cho thành tài sẽ tính việc trăm năm. Lưu Bình cùng
quẫn và căm hận nên quyết chí học hành. Nhờ đó mà Lưu Bình học hành
ngày đêm không xao lãng, sau đến kỳ thi đậu, liền trở về nhà người đẹp
đại ân đã đi mất, Lưu Bình rất sầu não vì in trí rằng thi đậu sẽ làm
vui lòng người ân. Lưu Bình cố tìm nàng ấy mãi không gặp.
Bây giờ
Lưu Bình định đến Dương Lễ xem coi còn hành động gì nữa và xỉ mạ vào
mặt cho bỏ ghét.
Vừa đến
thì thấy Dương Lễ ra đón tiếp rất nồng hậu, Lưu Bình mặt giận phừng
phừng, vừa muốn mắng cho hả giận liền thấy người đàn bà nuôi mình đứng
phía sau chắp tay xá chào!
Lưu Bình
còn ngạc nhiên. Dương Lễ giới thiệu đây là vợ lẽ của tôi. Lưu Bình mặt
tái nhợt và cảm động ôm Dương Lễ mà khóc lại thốt ra lời:
- Ôi!
Đến nay tôi mới biết tôi chỉ là hạt sỏi nằm bên núi Thái Sơn!
Luận
Bằng hữu
như Lưu Bình Dương Lễ thật là chung thủy, chơn thật, không tranh
giành, chỉ nâng đỡ cho nhau.
Khi
Dương Lễ nghèo, Lưu Bình nuôi cho ăn học đến khi thành tài, đến lượt
bù lại muốn nâng đỡ cho bạn mình làm nên danh phận nên chọc tức rồi
cho vợ lẽ nuôi cho ăn học thành tài để bù lại công ơn nuôi dưỡng mình
khi trước.
Bằng hữu
ta đã hiểu thêm nghĩa chữ ”bằng” và đôi bên đều thương và lo cho nhau,
thế nên cả đôi bên đều tròn ân nghĩa.
Bằng
hữu với ta nên noi gương Lưu Bình và Dương Lễ. Họ là bậc hiền nhân
vậy.
15. ĐỐI VỚI BÀ CON XÓM GIỀNG
Nho
nói: “Nhứt cận lân nhì cận thân”.
Câu này
ta dịch ra : Bà con xa không bằng xóm giềng gần.
Sống
chung trong xã hội quan hệ với người gần và lấy đó làm môi giới đến
xa.Thân cận thường ngày giao tiếp với ta, nếu làm tròn bổn phận đối xử
quân bình thì người chòm xóm gần gũi là thân thiết; nhưng làm không
tròn bổn phận thì thường hay gây gổ sanh thù hiềm hơn người xa.
Ca dao
có câu: “Xa thì thương, gần thì thường”.
Bằng
cách nào ở chòm xóm phải có sự hòa nhã nhau, không thể oán ghét nhau
mà gần nhau cho được. Không nên oán thù với người xung quanh mà cần
thân thiết với người xung quanh ta.
ĐÔNG GIA THỰC PHẠN TÂY GIA
MIÊN
Điển
tích thành ngữ này là nhà ở giữa gây bất hòa hai nhà hai bên Đông và
Tây. Câu trên có nghĩa ăn cơm nhà phía Đông, ngủ nhà phía Tây.
Theo
điểm này là nhà ông già ở giữa có một con gái đẹp, hai chàng trai ở
hai bên đồng dạm nói, nhà phía Tây có chàng trai đẹp mà nghèo, nhà
phía Đông giàu mà có chàng trai xấu. Người cha hỏi ý con mình ưng bên
nào?
Người
con gái tham cả của lại cả sắc, nên nói: ăn cơm nhà phía Đông ngủ nhà
phía Tây. Như vậy là gây oán thù đôi bên.
BÁ NGUNG
Bá
Ngung đời Đường làm quan huyện đối với chòm xóm thật là thân thiết, có
lần người hàng xóm đau, ông một ngày thăm hai lượt nhưng khi hay tin
con đau vì nhà xa vì bận việc dân không về thăm được. Người thời ấy
rất kính trọng cử chỉ Bá Ngung.
Ông Bá
Ngung vẫn biết rằng: Mình vì chòm xóm gần là vì bên ngoài thôi, còn
thâm tâm thương lo cho con nhiều hơn. Nhưng ít ra bên ngoài cũng làm
được như vậy để gây cảm tình nhau. Và như vậy là tròn tư cách đối với
chòm xóm. Đối với chòm xóm mà gây thù oán là tai hại rất nhiều, không
khác nào ở chỗ đất đầy chông gai chung quanh chỉ là hầm hố, có ngày
cũng phải đạp gai lọt hố.
Trái lại
đối với chòm xóm xây dựng được tình thương thân mật ví cũng như ở chỗ
đất bằng rộng đi lại thong thả bình an vô sự.
TƯỚI DƯA
CHO XÓM GIỀNG
Tống
Tựu làm quan doãn ở biên thùy nước Lương giáp ranh nước Sở.
Người
đình trưởng ở nước Lương và người đình trưởng nước Sở hai người hai
bên cùng trồng dưa. Người nước Lương chăm làm và tưới luôn nên dưa
tốt. Còn bên nước Sở ít chăm sóc ít tưới nước nên dưa xấu.
Người
đình trưởng thấy dưa bên nước Lương tốt hơn dưa mình nên sinh ra ghen
ghét. Đêm đến lén sang cào phá dưa nước Lương héo chết đi một tí.
Sau
người đình trưởng nước Lương biết nói với trưởng lại ý muốn đem dân
qua cào dưa nước Sở trả thù, trưởng lại nói lên. Tống Tựu bảo:
- Ôi!
Sao làm thế được, làm như vậy chỉ gây oán chuốc vạ mà thôi. Nay ta bảo
đừng sang cào dưa người mà nên đêm đến lẻn sang tưới dưa người ta mà
đừng cho biết thì việc sẽ tốt đẹp.
Người
đình trưởng nghe lời Tống Tựu cứ vậy mà làm. Sau dưa bên Sở mỗi ngày
một tốt, người đình trưởng ở bên Sở lấy làm lạ, xét mãi mới biết người
bên nước Lương tưới giúp.
Quan
doãn nước Sở biết việc đó, tâu lên vua Sở. Vua Sở có ý buồn thẹn, nghĩ
rằng: Ngoài cái tội đi cào dưa, chắc còn nhiều việc khác rắc rối đáng
tội với người ta nữa. Vua bèn lấy của sai người sang nước Lương để tạ
tội và giao hảo.
Vua
Lương cũng cũng tin lòng thành thật nên hai nước giao hòa bền lâu.
Luận
Cổ ngữ
có câu:
“Chuyển
bại nhi vi công, nhân họa nhi vi phúc“
Nghĩa
là:
Xoay
cái bại làm thành cái thắng, nhân cái họa làm nên cái phúc.
Lão
Tử nói:”Báo oán dĩ đức” nghĩa là đem đức báo oán.
Người ta
đã làm không phải, sao lại bắt chước người ta?
Tuy
là ở biên giới,nhưng hai bên giáp nhau thành xóm giềng, tuy xóm giềng
mà khác nước cho nên ở biên giới thường hay xảy ra tranh giành phá
hoại xung đột lẫn nhau. Đôi bên nếu có xảy ra chiến tranh đao binh thì
hẳn có nhiều nguyên nhân nhỏ gây ra lớn, khi lớn rồi thì ai cũng bảo
thủ nước mình đến chừng đó chỉ mạnh đặng yếu thua không còn lấy ân báo
oán gì được.
Ngay
ban đầu có xảy ra việc nhỏ nhặt mà người ta biết lấy ăn báo oán như
Tống Tựu thì rất tốt đẹp không xãy ra việc lớn, hay ít có xảy ra. Còn
người ở chòm xóm trong một nước, tỉnh, huyện, xã là thân mật hơn như
cùng nhau cứ giữ phương châm: lấy ân báo oán thì làm gì chòm xóm không
được an vui.
Trong
chòm xóm nên có bổn phận chung nhau lo cho xóm, tùy khả năng giúp đỡ
kẻ nghèo khổ, người đau ốm, trẻ mồ côi không ai nuôi dưỡng chăm lo cho
trẻ em thất học được vào trường.Ta thường sợ trong xóm mà có kẻ lưu
manh mà kẻ lưu manh đó chính do đám trẻ vô chủ thất học mà ra. Những
trẻ thơ vô tội đáng thương tại ta không lo để rồi sau này chúng thành
ra đáng ghét.
Ta đã
thấy:
Mất
cha xa mẹ ở cùng bà
Tuổi
mới lên năm chịu xót xa
Sáng
sớm không cơm bà đến chợ
Buổi
mơi bụng đói bé ngồi nhà
Trông
người ném lá còn thừa bánh
Chờ
kẻ quăng bao dính chút quà
Thấy
mà thêm chạnh lòng chua xót
Trách kẻ
ngồi trên kể giọng ca.
Trong
xóm mà có kẻ thất học nghinh ngang ăn nói tục tĩu, trẻ lưu manh là
trách nhiệm ở xóm không lo. Đối với chòm xóm rất quan trọng với quốc
dân xã hội, vì thế ở đây ta có một ít phương châm căn bản:
1) Không
tham lam còn bố thí giúp đỡ:
Gặp
của cải tiền bạc của chòm xóm để sơ hở khôøng nên lấy, cần lấy cất giữ
giùm lên tiếng cho người biết trả lại chủ. Vật nhỏ cho đến cây kim, lá
trầu, trái ớt, cọng rau ta không nên tự lấy mà phải hỏi chủ cho rồi
mới lấy. Đồ vật dụng chòm xóm cần vui vẻ cho mượn, nếu có mượn làm
xong mau đem trả. Nếu có của cải dư dả nên thí cho chòm xóm hoặc cho
mượn nếu mượn phải y hẹn hoàn trả không nên thất hẹn.
2) Phải
lễ phép:
Chòm
xóm ra vào gặp mặt nhau chào hỏi cung kính, đến nhà xóm giềng thăm nom
phải nói thật lời phải ngồi có chỗ không vì thân thiết mà xông pha.
Nam nữ cùng nhau phải giữ lễ phép phân biệt, tiền bạc cho mượn qua lại
phải phân minh, không nên mượn hay cho mượn riêng với người chồng hay
người vợ, y hẹn không thất tín.
Chòm
xóm cùng nhau đôi bên muốn nên chồng vợ phải có hôn lễ đàng hoàng,
không nên nam nữ trêu cợt lả lơi mất phép lịch sự.
3) Phải
thủ tín:
Không
nên nói láo, chuyện có nói không , chuyện không nói có, không nói thêu
dệt, không nói lưỡi đôi chiều, không nói lời hung dữ thô lỗ. Nhất là
hứa hẹn với ai điều gì phải giữ lời hứa.
Người
mà thất tín không còn ai tin dùng được nữa. Nho có câu: “Nhơn vô tín
bất lập“ nghĩa là: Người không giữ chữ tín không còn làm nên.
Phải
cẩn thận lời nói, khi lỡ lời nói ra khó đuổi theo lấy lại, một lời nói
ra bốn ngựa khó đuổi theo “Nhứt ngôn thuyết quá, tứ mã nan truy“.
4) Phải
sáng suốt:
Cần sáng
suốt biết lẽ phải quấy, không nên say sưa chửi bới lông bông, la lối
om sòm mất trật tự, phải thường bình tĩnh đối với chòm xóm, không nên
nóng nảy hấp tấp, phải nhẫn nại.
5) Có
nghề nên chỉ cho nhau:
Phải
nâng đỡ sự làm ăn cho chòm xóm, có nghề nên tận tâm chỉ bảo cho nhau,
trong xóm có thể chung nhau làm một nghề cho phát đạt như: xóm ruộng,
xóm rẫy, xóm làm vườn, xóm chiếu, xóm đệm...
Đối
với chòm xóm mà quân bình không chênh nghiêng, không gây căm thù đó
là môi trường xây dựng hạnh phúc cho quốc dân xã hội rất trọng đại
vậy. Có như vậy mới đáng bậc hiền.
16. BỔN PHẬN CHỦ ĐỐI
VỚI NGƯỜI LÀM CÔNG
Xưa
nay phần này người ta coi thường, kẻ có tiền tung ra mướn người, mua
người rồi thì tha hồ sai khiến, mặc tình đánh đập hành hạ, người làm
công thành ra con vật hy sinh cho họ.
Mặc dù
chủ và tớ trong đó phải có phần bù đắp cho tương xứng, nhưng chủ là
người có tiền của còn tớ là kẻ nghèo hèn, chủ phải rộng rãi bao dung
cho tớ. Chủ nhà có độ lượng quân tử hay tiểu nhơn thường tình ở điểm
này.
CHÂU HẮC
MẶC
Tương
truyền ông Châu Hắc Mặc là nhà phú hộ không tin thuyết nhơn quả, lại
xem đầy tớ là con vật hy sinh cho mình. Muốn thử nghiệm xem thuyết
nhơn quả có hay không, một hôm Châu Hắc Mặc gạt tên đầy tớ vào rừng
rồi bất thần xô xuống hố lấp đá lại cho chết mất tích đi. Hắc Mặc lại
thề rằng: Chừng nào ngựa có sừng ta mới khai việc này. Rồi bỏ ra về
xem như không có việc gì hết.
Lâu ngày
vợ của người đầy tớ ở nhà cứ trông chồng biền biệt, rồi bồng con đi
lang thang, lại đến quan kiện ngớ ngẩn không ai biết manh mối gì cả.
Suốt năm trời không ai biết được gì cả, Châu Hắc Mặc cho rằng không có
nhân quả gì, không còn bận tâm nghĩ đến việc giết người vô cớ nữa, vả
lại có ai biết mà lo.
Năm sau
quan quận cũ đổi đi, quan mới về, người vợ của tên đầy tớ cũng đến
quan kiện về chồng mất tích. Ban đầu quan ngỡ là có bằng cớ cầm bút để
ghi, nhưng lời cáo không có gì ghi được, lại vô tình quan lại nghiêng
châu tạt vào nghiên mực. Quan lại liền ghi ba chữ: Châu Hắc Mặc. Có
nghĩa là nghiêng châu tạt vào nghiên mực thế là quan cho đây là thủ
phạm giết người, liền viết trát gởi về làng cho đòi tên Châu Hắc Mặc.
Khi bị
mời, Châu Hắc Mặc kinh hồn nhưng nghĩ rằng có gì làm cớ để trị tội,
nên thản nhiên đến gặp quan.
Quan
hỏi:
-
Ngươi là Châu Hắc Mặc có phải là thủ phạm giết chồng của bà này không?
Châu Hắc
Mặc chần chờ nghĩ thầm: Không lẽ ông này biết được sự làm bí ẩn của
mình, không có gì làm bằng cớ, nên một mực chối dài.
Quan
nói:
- Ta là
Mã Hữu Giác, ai cũng nghe danh xử án rất công minh, không bí ẩn nào
giấu được. Nay việc này ngươi làm cứ khai gặp ta không chối cãi được.
Châu Hắc
Mặc nghe tên quan là Mã Hữu Giác liền cả sợ thầm nghĩ: Mã Hữu Giác là
ngựa có sừng như vậy là ứng điềm thề khi trước, vậy nay đâu còn chối
cãi được nữa. Nghĩ như vậy rồi, Châu Hắc Mặc liền khai rõ đầu đuôi tự
sự muốn thử xem có nhân quả hay không mà ra.
Quan
liền xử tịch thu hết sự nghiệp của cải của Châu Hắc Mặc giao cho người
đàn bà kia nuôi con.
Đến lượt
hết của còn mình không, Châu Hắc Mặc phải đi ăn xin làm đầy tớ cho
người, khi biết được cái khổ của người ăn năn thì đã muộn.
Bậc hiền
nhân phải thấy cái khổ của người.
ÔN CÔNG
Ông Ôn
Công biệt hiệu là Tư Mã Quang, thi đỗ tiến sĩ, làm quan cho ba triều
Tống Nhân Tôn, Anh Tôn và Thần Tôn, vốn là người có lòng nhân từ biết
thương kẻ dưới. Thường hay thức khuya xem sách, mặc dầu có tên tớ già
nhưng Ôn Công có việc cần cứ đi làm lấy để tên tớ già ngủ yên giấc.
Về sau
Ôn Công làm đến tể tướng vẫn đối xử tử tế đối với lão bộc. Thật là bậc
đại hiền.
TRƯƠNG
THỊ
Thiếu
nữ Trương Thị về nhà chồng ở xứ Tô Thành, khi về nhà thăm cha mẹ ruột
có tên tì nữ mang hộp đồ nữ trang theo hầu, chẳng may giữa đường làm
rơi lâu sau mới hay liền trở lại tìm, thấy người tật chơn còn trẻ tuổi
ăn mày, ôm hộp đồ ngồi chờ, tên tì nữ hoảng hốt hỏi thì người ấy giao
trả lại và nói:
- Tôi đã
cùng khổ thế này mà còn tham thêm của vô cớ thì sẽ rước thêm tội khổ
nữa, còn mong sao khá được.
Tì nữ
mừng lắm, lấy chiếc thoa ra tạ ơn.
Người ăn
mày cười nói:
- Bao
nhiêu của kia mà còn không lấy lại lấy chiếc thoa sao?
Tì nữ
nói:
- Tôi
làm rớt mất hộp này thì phải chết chứ không làm sao được. May mà người
trả lại là cứu mạng sống cho tôi vậy, dầu người không mong báo đáp tôi
cũng không quên ơn. Nhà chủ tôi ở đường đó, chỗ đó về sau người đến
cửa tôi sẽ để phần cơm của tôi cho người ăn.
- Nhưng
cô ở trong nhà, tôi làm sao thấy được?
- Trước
nhà có cây trúc cao, người cứ rung cây là tôi biết.
Người ăn
mày sau cứ làm y lời, người tì nữ cứ đem cơm cho. Lâu ngày người nhà
biết được, chủ hỏi, tên thị tì nói thiệt, người chủ gọi tên ăn mày vào
nhà nuôi và sau gả tên tì nữ cho và cho vợ chồng nên nhà nên cửa.
Luận
Người
giàu sang nên phòng xa: “Ai mà giàu ba họ“.
Kẻ
nghèo khổ hy vọng tương lai: “Ai lại khó ba đời“.
Ai
cũng biết vui biết khổ chẳng qua người tốt số nhờ nhân lành đời trước,
kẻ vô phần ấy tại nhân xấu kiếp xưa.
Nên
xót thương kẻ dưới không nên bắt làm thái quá phải biết khi nóng lạnh,
đói bệnh của người ở. Nâng đỡ cho người tôi tớ là nâng đỡ cho xã hội
bình đẳng ấy là bậc hiền nhân vậy.
Ông
Ôn Công thương người lão bộc.
Ngôi
thượng quan lòng vẫn trọng người.
Họ
Trương thương đứa tì gia.
Giúp
cho xum hợp cửa nhà làm nên.
Xét
ra lẽ người trên kẻ dưới
Là
trợ nương giúp đỡ lẫn nhau.
Tánh
nhơn hiền chí sơn cao
Mà dòng
lưu thủy dạt dào trong veo.
17. NGƯỜI LÀM CÔNG ĐỐI VỚI
CHỦ
Một
người tớ trung thành đối với chủ là một tên tớ lý tưởng của cụ Đồ
Chiểu ai nghe cũng cảm động:
“Một
mình ở chốn đại đề
Người đi
khuyên giáo tối về quây đơm
Dốc lòng
trả nợ áo cơm
Sống cho
trọn thảo thác thơm danh hiền “
Một khi
chủ biết thương tớ, tất nhiên tớ phải biết bổn phận làm tròn với chủ.
Khi cùng quẫn đã lãnh thọ tiền của, của người thì có bổn phận phải đền
bù lại bằng công, Nho nói: “Thọ tài như thọ tiễn“ nghĩa là: Thọ lãnh
tiền của nặng nề như mang lấy mũi tên.
Tuy là
cơn nghèo cũng tạm phải làm cho người để nhờ hột cơm manh áo, nhưng ai
cũng hy vọng tương lai sẽ làm nên sự nghiệp của cải. Chớ hy vọng mong
cầu đó muốn được người tớ phải gieo nhân đức phải có bổn phận, làm
xong bổn phận với chủ, lãnh việc phải làm tròn, phải giữ gìn tài vật
của chủ, phải ngay thật…
Khi làm
nên sự nghiệp riêng vẫn nhớ ơn chủ, nghĩa xưa với chủ. Làm tròn bổn
phận người tớ đối với chủ nhà là một đơn vị nhỏ trong xã hội, nhưng
không thể xem thường được, vì là tự thân của người đó không có tánh
xấu đối với quần chúng, là một đơn số để thành đại số, không thể thiếu
được cũng đáng gọi là hiền nhân vậy.
18. NAM NỮ ĐỐI VỚI NHAU
Nam
nữ phân biệt giữ lễ cho nhau có thể “tương trợ bất tương thân“.
Giúp đỡ
nhau của cải lời nói, không nên gần gũi thân mật nhau. Tồi phong bại
tục, tệ hại cho xã hội do xem thường việc này mà ra. Không phải riêng
cho trai tơ gái góa mà chung cho cả nam nữ, trai tơ gái góa có xảy ra
việc đê hèn cũng chưa tệ hại mà trai có vợ, gái có chồng trong bà con
thân tộc mà giao tiếp thân mật ắt có nguy hại xảy ra những việc xấu xa
không thể tránh thù hận chết chóc do đây nhiều hơn hết.
VĂN
KHƯƠNG VỚI THẾ TỬ NHƯ NHI
Tề
Hy Công có hai người con gái rất xinh đẹp, người lớn tên Tuyên Khương
đã gả cho Vệ Hầu, còn người nhỏ tên là Văn Khương, nhan sắc tuyệt trần
lại học hành thông thái. Thái tử Như Nhi là anh cùng cha khác mẹ với
Văn Khương, diện mạo khôi ngô, lớn hơn Văn Khương hai tuổi.
Hai anh
em tới lui nhau từ khi nhỏ lần cho tới lớn. Tề Hy Công vì thương con
không bắt buộc giữ lễ phép. Khi Văn Khương bệnh nằm trên giường, Như
Nhi tới lui thăm viếng rồi ngồi luôn trên giường trò chuyện thành ra
tiêm nhiễm, bây giờ tình anh em đổi ra thành loạn đạo vô liêm sỉ. Đến
khi Tề Hy Công hay được thì hai anh em ra tình si mê hết giải cứu.
Kịp đến
Lỗ Hoàn Công sai sứ cầu hôn với Tề, Tề Hy Công liền gả Văn Khương về
Lỗ. Nhưng Văn Khương và Như Nhi vẫn thương nhớ nhau. Cách ít lâu Hy
Công chết, Như Nhi lên ngôi lấy hiệu là Tề Tương Công.
Bây giờ
Lỗ Hoàn Công về thăm Tề có đem vợ là Văn Khương theo. Khi đến sông Lạc
Thủy đã thấy Tương Công đón rước, hai bên tay bắt mặt mừng về kinh đô
đãi đằng rất trọng hậu.
Tiệc
mãn, Tề Tương Công xin phép Hoàn Công cho đưa Văn Khương vào hậu cung
thăm viếng các cung phi, Lỗ Hoàn Công chịu cho. Tề Tương Công dẫn Văn
Khương vào phòng kín đã đặt sẵn, hai anh em vui vầy đến sáng.
Lỗ Hoàn
Công ở ngoài đợi mãi sanh buồn, nghi chẳng biết chuyện gì ở bên trong
tường kín lầu cao. Lỗ Hoàn Công hỏi thăm dò xét mới hay Tương Công
không có chánh phi, chỉ có thứ phi là Liên Thị mà Tương Công đã ghét
bỏ.
Bây giờ
trưa lắm, Văn Khương mới từ trong đi ra. Lỗ Hoàn Công liền vào từ biệt
rồi ra về.
Tề Tương
Công nghĩ việc làm tồi bại của mình sợ không giấu được liền sai Thạch
Chi theo dò hỏi biết Hoàn Công đã rõ việc đó, Tề Tương Công liền sai
người đặt tiệc rượu nơi quán dịch bên ngoài rồi sai mời Lỗ Hoàn Công
tới đó để uống chén chia tay. Nhưng lúc quá buồn tức, Lỗ Hoàn Công
không biết gì nguy hiểm cứ uống giải sầu, vào tiệc cứ uống không cần
nói chuyện gì cả, uống cho đến say gục tại chỗ, Tề Tương Công sai Bành
Sanh phò để Hoàn Công lên xe đưa đi dặn nhỏ bảo giết đi.
Bành
Sanh có cựu thù với Hoàn Công, thấy Hoàn Công bất tỉnh bèn thò tay vào
hai bên be sườn bóp thật mạnh, Lỗ Hoàn Công la lên một tiếng to hộc
máu mà chết, rồi phao tin Lỗ Hoàn Công cảm chết cho đưa xác về nước,
còn Tề Tương Công lưu Văn Khương tại Bối Khâu cất cung để ở đó, từ đó
lấy cớ đi săn thường ra ở nơi đó.
Hai
tướng của Tề Tương Công là Liêm Xứng và Quản Chi có mối thù với Tương
Công, chờ Tương Công ra Bối Khâu phục binh bắt Tương Công chặt làm hai
liệng xuống ao.
Luận
Cái
tệ hại của anh em nhà Tề là do ban sơ không giữ lễ độ mà ra, lại nữa
vua cha là Tề Hy Công không nghiêm khắc để cho lửa gần rơm thì thú
tính không ngăn, làm con người mà lòng xấu hơn ác thú, gây cho xáo
trộn cả nước khổ sở cũng vì chút tình vui của thú tính.
NGƯỜI
NƯỚC LỖ
Người
nước Lỗ có người đàn ông ở một mình, bên xóm cũng có người đàn bà góa
ở một mình.
Nửa đêm
giông to gió lớn, nhà cửa của người đàn bà bị sập bèn sang xin ngủ
nhờ, người đàn ông đóng cửa không cho vô, người đàn bà đứng ngoài cửa
nói:
- Người
sao bất nhân không cho ta vào trú mưa?
Người
đàn ông đáp:
- Ta
nghe nói đàn ông, đàn bà sáu mươi tuổi trở lên mới ở chung được, nay
ngươi còn trẻ mà ta cũng còn trẻ cho nên ta không cho ngươi vào được.
Người
đàn bà nói:
- Sao
ngươi không làm theo Liễu Hạ Huệ ủ người con gái vào lòng mà không tai
tiếng gì?
Người
đàn ông nói:
- Liễu
Hạ Huệ làm như thế mà không tai tiếng, còn ta không làm như thế thì
cũng không tai tiếng gì. Cái bằng nhau là đồng không tai tiếng gì, còn
việc làm phải tùy khả năng mình không bắt chước ai được.
Khổng Tử
nghe câu chuyện khen rằng: Phải lắm, kẻ muốn học hạnh của Liễu Hạ Huệ
nhưng không nên bắt chước cách làm, nhưng bằng cách nào mà không hoen
ố thì cũng như Liễu Hạ Huệ, đồng bậc đại hiền vậy.
Luận
Sức lực
thắng nội tâm của người có hạn, tuy gần sắc lòng không lay động, nhưng
gần gũi lâu ngày gây ra sự bồng bột quá hạn, đến chừng đó còn thắng
được nữa không?
Không gì
hơn là nam nữ phải giữ lễ độ không nên thân mật mà gây tai hại. Thà
giữ chắc như anh chàng nước Lỗ hay hơn bắt chước Liễu Hạ Huệ, mà không
làm được như Liễu Hạ Huệ. Từ xưa đến nay chỉ có một không hai Liễu Hạ
Huệ, cho đến Quan Công bị Tào Tháo cho ở chung với hai chị dâu, Tháo
muốn làm cho Quan Công sanh lòng tà để sau này ở luôn với Tàu không về
Lưu nữa. Thế mà nghĩa khí như Quan Công còn phải chong đèn đọc sách
suốt đêm không dám làm như Liễu Hạ Huệ thay, huống gì người nay hơn
sao?
Sắc đẹp
là lửa dữ đốt cháy tất cả mà giỡn với lửa không tài nào khỏi bị cháy.
Những tội ác tày trời về sắc dục do không giữ lề mà ra.
Trong
kinh Di Giáo có đoạn Phật dạy:
“Cận sắc
như ngũ vật cận bàng hỏa
Nhứt như
khô thảo tài xúc tắc thiêu
Nhị như
khô mộc hư chi tắc nhiên
Tam như
thiết nhiên chi tắc dong
Tứ như
thủy bức chi khả hạt
Ngũ như
hư không nhậm kỳ hỏa phần"
Nghĩa
là:
Gần với sắc như năm vật gần lửa
1) Như
cỏ khô chạm lửa liền cháy
Dụ
cho người thường gần sắc liền si
2) Như
cây hơ lửa liền cháy
Dụ
cho người có học thức nhưng gần sắc lâu một chút rồi cũng đắm mê
3) Như
sắt lửa đốt cũng chảy
Dụ
cho người dày công tu tập rèn luyện thế mà cứ xông pha với sắc đẹp dù
lâu nhưng cũng xiêu ngã.
4) Như
nước đốt riết cũng khô
Dụ
cho bậc tu chứng ngũ thông mà chạm sắc cũng ngã.
5) Như
hư không mặc cho lửa cháy.
Dụ
cho bậc chứng được tánh chơn không tam muội (kiên cố) không còn cách
nào bị lay chuyển nữa.
Sám văn:
Sắc đẹp
dữ lửa nhạy ghê!
Như cỏ
gần lửa vừa xê cháy liền
Dụ cho
thông thường chòm giềng
Hửng hờ
nam nữ khó tuyền yên thân
Lại như
củi khô kề gần
Lửa phà
cũng cháy muôn phần tiêu tan
Như
người có học lo toan
Nhưng
gần với sắc khó toàn thân danh
Kìa như
sắt thép vững vàng
Nhưng
vào trong lửa khó toan đặng còn
Như
người hiền đức vuông tròn
Thế mà
gần sắc lâu lần hư vong
Còn như
nước lạnh hơn đồng
Lửa đốt
cũng phải cạn dòng khô khan
Như
người tu đã bền gan
Khinh
lờn với sắc muôn vàn uổng công
Đặng như
trống rỗng hư không
Mặc cho
lửa đốt có hồng hại chi
Ví như
người chứng chơn qui
Y nơi
Phật tánh không vì chuyển lay
Khó
thay! Người ơi! Nguy thay!
Thà nên
xa lánh còn hay hơn gần.
Trong
các bổn phận, phần nào cũng quan hệ thận trọng, nhưng bổn phận làm cha
mẹ coi như phần sơ khởi nuôi con nói riêng, nuôi con dạy con cho xã
hội sau này nói chung. Bổn phận làm cha mẹ phải làm tròn sứ mạng đó
nếu được tròn là lợi lớn cho xã hội, trái lại không làm tròn sứ mạng
đó thì là tai hại lớn cho xã hội.
Bổn phận
mà dạy con cho nam nữ không xảy ra tai hại xấu xa thì là tốt đẹp như
dòng nước trong thấm lòng đất mẹ. Trái lại để cho hoen ố tai hại xảy
ra thì không khác nào rừng lửa bừng lên một ngày kia sẽ thiêu rụi vũ
trụ.
19. ĐỐI VỚI CẦM THÚ
Dựa
theo khoa học mà nói: Người và vật có thể như nhau, cắt cổ lột da nó
biết đau biết giãy, lấy đó biết nó đau khổ; chim xổ lồng vỗ cánh cao
bay, cá gặp nước trương vi bơi lội; người ra khỏi ngục tù vội vã về
quê, lấy đó mà biết đồng khổ đồng vui.
Trên đời
chí hỉ là sống, chí thâm là chết, lòng tham sống sợ chết người vật như
nhau.
Sách Lễ
Ký viết: “Vô cố bất sát“. Khổng Phu Tử dạy: “Câu nhi bất vòng, qua bất
xạ túc“. Nghĩa là câu mà không lưới, bắn không bắn chim ngủ đêm, Mạnh
Tử nói: Nghe tiếng la không nỡ ăn thịt, thấy nó sống không nỡ thấy
chết, Tử Sân đào ao thả cá không ăn thịt thánh hiền xưa có lòng thương
vật như vậy.
Các
giống vật trong trời đất, giống nào cũng tham sống sợ chết, thế mà
chúng ta lại muốn ăn ngon miệng, nở đem giết hại chúng, làm việc thê
thảm như thế sao?
Ta nên
lấy lòng nhân từ đừng giết hại chúng tìm đủ mọi cách cứu mạng chúng
sống, thì phước đức ấy mà ta được sống.
Kinh
Dịch có câu: “Thiên địa chi đại đức viết sinh“, trời đất lấy việc hiếu
sinh mà làm đức lớn, thế mà người ta không theo luật trời đất mà giết
hại, há chẳng phải nghịch thiên bội địa sao? Thật là trái nhân đạo mất
lòng từ bi.
Ngài
Liên Trì có làm bài văn răn việc sát sanh mỗi câu thắm thiết, mỗi dòng
cảm thương thông cảm muôn loài.
Người
đời bảo nhau: Ta ăn thịt các loài vật đó là lẽ đương nhiên phải vậy,
nên tự ý sát sanh tích trữ oan nghiệp lâu thành thói quen mà không tự
biết sự mê lầm.
“Phàm
tri giả viết đồng thể“ Nghĩa là: phàm có giác tri là đồng thể mà còn
ăn thịt lẫn nhau thật là quái dị, nhưng không cho đó là quái dị, là vì
trước kia có người làm rồi, người lân cận làm theo lần lần thành quen
nên không còn biết ghê tởm, không biết việc đó là quấy mà lại còn cho
là phải. Nếu như bây giờ có người giết con để ăn thịt thì ta lấy làm
ghê tởm, tại sao vậy? Tại chưa quen thôi, nếu quen không còn ghê tởm
nữa, như loài vật ăn tươi nuốt sống lẫn nhau mà không ghê tởm là vì
quen vậy.
Những
điều lầm lẫn giết hại rất nhiều nhưng đây rút ra có bảy điều:
1) Ngày
sinh nhựt không nên sát sanh, nên ăn chay làm thiện, muốn cầu thọ mà
sát sanh chỉ giảm thọ mà thôi.
Xưa
Dưỡng Thái Tông ngày ăn sinh nhựt nhà vua vẫn không vui làm mặn cổ bàn
linh đình, chỉ chay lạt đơn giản, thế mà anh nhà giàu mới thâu đặng
mười thùng thóc đã ăn mừng sinh nhựt long trọng, anh ta hơn vua sao ?
Ngày
sinh nhựt ta được sinh thì ta nên làm cho chúng được sống, ta sống vui
ta nên để cho chúng vui sống là lý nhân đạo.
2) Đầy
tháng cho con không nên sát sanh hại vật. Vì ngày sanh đứa con cho đến
được đầy tháng là vui, ta yêu quý con ta như thế nào, giống vật yêu
quý con như thế đó, sao ta nỡ vì con mà giết chúng sao đành.
Xưa có
người đi săn, một hôm say rượu thấy đứa con mình tưởng là con dê cứ
giết ăn thịt, hôm sau tỉnh rượu mới hay con mình liền ngã ra chết
giấc. Lòng thương con như thế, vật thương con cũng như thế, sao nỡ
giết hại?
3) Tế lễ
tổ tiên không nên giết hại, theo lệ người ta thường giết sanh vật để
tế lễ, nhưng thử hỏi ngày giỗ kỵ mà ta bày cổ linh đình tổ tiên ông bà
ta có về hưởng không? Nếu nói là vì lòng thành kính mà dâng cúng, sao
ta không cúng chay đơn giản mà tinh khiết hơn không? Người trí không
nên sát hại để cúng.
Xưa
Lương Võ Đế giỗ tổ tiên bằng lúa mì, xem thế ta biết cúng tế không
phải dùng thịt cá ngon lạ, mà nên dùng rau cải thành tâm cúng giỗ là
tốt.
4) Ngày
cưới hỏi không nên sát sanh, ai cũng mong đôi lứa cùng nhau đến bạc
đầu không nỡ chia ly gián đoạn, vậy thì thử hỏi giết sanh vật để chúng
chịu chia ly chết chóc, làm như thế sẽ bị ảnh hưởng chết chóc chia ly
không tốt cho việc trăm năm đôi lứa,
5) Đãi
khách không nên giết hại, mà chỉ nên dùng rau dưa để mời bạn, vì ngày
gặp gỡ là ngày vui mà giết hại, làm việc đau đớn thảm thiết là không
trái lương tâm sao ?
6) Tế
thần không nên sát sanh, vì tế thần cầu thần phù hộ cho đặng phước
đức, mà trước khi tế ta đã làm việc thất đức rồi, thiện thần không
chứng sự sát hại cúng tế, ác thần thì lại ưa. Vậy thử hỏi ta cầu với
thiện thần hay cầu cạnh với ác thần?
7) Trong
việc mưu sinh không nên làm nghề săn bắn lưới bẩy mổ xẻ, vì mưu sanh
mà làm việc hại tử thì bị ảnh hưởng làm sao mưu sinh cho kết quả.
Chúng ta đối với mọi loài nên có tình thương không nên vô cớ mà sát
hại chúng sanh.
ĐIỀN TỬ
PHƯƠNG
Điền
Tử Phương là người đời Chiến Quốc, có tánh yêu thương loài vật một
cách tha thiết. Một hôm Tử Phương đi đường thấy con ngựa già ốm ăn cỏ
khô ngoài đồng liền hỏi người cày ruộng, người cày nói:
- Con
ngựa đó già không còn kéo xe nổi, lại già ốm quá không còn làm thịt
được nên chủ bỏ không nuôi nữa.
Tử
Phương nói:
- Sao tệ
bạc với loài thú quá như thế? Khi nó còn sức khoẻ làm việc cho mình
thì còn chăm nuôi, đến khi nó già yếu lại muốn làm thịt, không làm
thịt lại bỏ đi.
Nói xong
Tử Phương tìm đến người chủ con ngựa để mua đem về nuôi cho tới chết.
Tử
Phương thường nói:
- Loài
vật khi còn khoẻ mạnh làm lụng giúp cho ta được việc, đến khi chúng
già yếu bệnh tật ta không thể săn sóc chúng được sao?
Tử
Phương lại khuyên con cháu nên đối xử tử tế với loài vật như đối xử
với người vậy. Trâu, bò, ngựa, chó già yếu ông vẫn nuôi đến chết là
lòng thương bao la cao hơn bậc hiền.
SƯ VĨNH
MINH
Việt
Vương phục quốc khi đó Sư Vĩnh Minh chưa đi tu còn làm chức giữ kho
cho Việt Vương. Ông lấy của kho đem ra mua cá, tôm, chim chóc, các vật
phóng sanh sau bị phát giác mất của kho ông bị cầm tù. Việt Vương nghe
được việc ông lấy của kho phóng sanh, nên khi dặn quân đem ông ra hành
hình mặt không đổi sắc thì đừng giết. Lúc đem ra pháp trường, mặt ông
vẫn vui, quân hỏi, ông đáp:
- Tôi
đem của kho ra làm việc phóng sanh cứu được nhiều mạng sống, nay chết
sẽ sanh về Cực lạc có gì buồn.
Nghe vậy
Việt Vương tha, ông liền đi tu.
Có một
nhà sư ngủ mê thấy xuống âm phủ gặp vua Diêm vuơng ra chầu xem giống
Sư Vĩnh Minh lắm hỏi ra quả là Sư Vĩnh Minh,Việt Vương nghe lấy làm
kính phục cho là phóng sanh việc hiền ít có.
TỐNG GIAO
Tống
Giao và Tống Kỳ là hai anh em ruột đi thi trên đường thấy lũ kiến bị
nước ngập Giao lấy cây trúc làm cầu cho kiến bò lên gò khỏi chết. Có
thầy tướng số xem cho Giao nói Giao đã cứu muôn mạng sống. Giao nói:
- Nhà
nghèo làm gì có tiền cứu được người?
Thầy
tướng nói:
- Không
phải vậy, phàm cứu vật gì có mạng sống đều gọi là mạng.
Thầy
tướng bảo làm gì Giao cũng chiếm được thủ khoa kỳ thi này.
Đến khi
thi, Kỳ là em lại đỗ đầu mà Giao đỗ vào hạng thứ mười, song quan
trường nghĩ rằng em không đứng trên anh nên sửa cho Giao đậu thủ khoa,
còn Kỳ hạng mười. Tống Giao mới tin thầy tướng nói đúng.
MAO BỮU
Mao
Bữu đời nhà Tấn khi còn hàn vi thấy có người đem bán con rùa bèn mua
thả đi, sau làm võ tướng đánh thua trận, bí quá phải nhảy xuống sông
để trốn. Khi gần bị chìm, dưới chân có vật gì đỡ lên cho đến lúc lên
được bờ bên kia, xem lại là con rùa mình thả khi trước.
KHỔNG DU
Khổng
Du làm quan nhỏ đời Tấn, khi phóng sanh con rùa, rùa bơi đi còn ngoảnh
lại nhìn Du rồi mới lặn đi. Sau Khổng Du bỗng được phong tước hầu gọt
ấn lấy kiểu con rùa, nhưng lạ thay tên thợ gọt ấn thay đi sửa lại mấy
lần mà hình con rùa đầu ngoảnh lại, túng thế tên thợ phải đem ấn dâng
lên. Khổng Du lấy ấn nhìn thì rõ là hình con rùa đầu ngoảnh lại nhìn
mình khi xưa. Chợt hiểu ra Khổng Du biết là nhờ phóng sanh mà được
phong tước hầu.
ÔNG KHUẤT
SƯ
Ông
Khuất Sư có mua một con cá chép đỏ đem thả. Sau nằm mộng thấy Long
Vương mời xuống Long cung nói rằng:
- Ngươi
đoản mạng đến khi gần chết, nay vì cứu được con rồng nên sống thêm một
kỷ nữa.
TÙY HẦU
Tùy
Hầu đi sứ sang Tề, trên đường đi thấy một con rắn nằm trong đống cát
đầu rướm máu, Tùy Hầu lấy cây khều con rắn đem xuống nước thả đi.
Khi đi
sứ về đến chỗ đó thấy rắn ngậm chuỗi ngọc dâng, Tùy Hầu e dè không dám
lấy. Đêm đến ngủ chân đạp trúng rắn, chợt tỉnh rắn đi mất còn để lại
xâu chuỗi ngọc, Tùy Hầu biết đó là rắn đền ơn mình.
TRƯƠNG ĐỀ HÌNH
Trương
Đề Hình thường hay mua các giống vật rồi đem thả. Khi lâm chung kêu
con cháu đến bên giường mà trối lại rằng:
- Bình
sinh ta làm được nhiều phước lành, nay thiên sứ đến đây rước ta lên
thiên đình các con hãy ở lại.
Nói rồi
nhắm mắt chết nhẹ nhàng.
LÝ CẢNH
VĂN
Cảnh
Văn thường mua cá của thợ chài rồi đem thả xuống sông.
Ông làm
nghề luyện thuốc lâu năm, vì gần lửa lâu năm phát bệnh ung thư không
cứu chữa được. Khi mê man trên giường bệnh thấy cá đến nhả nước dãi,
thoa vào chỗ đau mát mẻ dễ chịu rồi bệnh lần lần hết hẳn.
DƯ TẢ TỪ
Đài
Loan năm Hàm Phong có loạn. Tả Từ làm quan dẹp giặc, anh em mỗi người
đóng quân một nơi không thông được thư từ cho nhau. Một hôm có hai
người khiêng con giải (ba ba) to đem bán đòi giá bốn đồng, Dư trả hai
đồng người đó không bán khiêng đi, con giải chảy nước mắt. Dư thấy
thương tình bèn trả đủ giá rồi đem thả. Khi tới sông, Dư nói với nó
rằng:
- Mầy là
con vật tinh khôn, vậy đưa giùm phong thơ này tới em ta, đó là mầy trả
ơn.
Con giải
lãnh thơ, sau một tháng có thơ của em phúc đáp rằng đặng thơ con giải
trao.
HỨA CHƠN
NHƯ
Hứa
Chơn Như tánh ưa săn bắn. Một hôm đi săn bắn trúng một con hươu con
ngã lăn ra, hươu mẹ liếm vết thương cho hươu con, một lát sau hươu con
chết, hươu mẹ cũng ngã chết theo.
Lấy làm
lạ, Hứa Chơn Như lấy dao mổ bụng hươu mẹ ra thấy đứt ruột. Hươu mẹ đứt
ruột vì thương con, Hứa Chơn Như cảm động hối lỗi bẻ nát cung tên, bỏ
vào núi tu, về sau đắc đạo.
VUA THÀNH
THANG
Vua
Thành Thang đời nhà Thương đi chơi gặp thợ săn, giăng lưới đón bắt thú
và khấn rằng:
- Mọi
vật trên trời bay xuống, dưới đất chui lên bốn phương kéo đến vướng
vào lưới ta.
Nhà vua
nghe vậy, bảo mở ra ba mặt lưới chừa một mặt, rồi bảo đổi lời cầu như
vầy:
- Muôn
vật muốn sang trái thì sang trái, muốn sang phải thì sang phải, muốn
bay lên cứ bay lên, muốn xuống cứ chui xuống, không cần bắt buộc cũng
vào lưới ta.
Do đó
người ta nói Thành Thang mở lưới thả chim.
CON VOI
CỦA VUA LÊ
Đời
nhà Lê vua có nuôi một con voi ngự rất khôn, vua làm cho nó ba cái dai
bằng vàng đeo vào cổ. Khi vua thăng, voi không chịu ai sử dụng nên bỏ
vào rừng ở trong đáy thùng, viên quan giữ voi gọi là quản tượng tên
Mậu. Bây giờ cũng về hưu già yếu, cửa nhà sa sút, quản tượng Mậu sống
trong cảnh nghèo túng. Một hôm nhân vào rừng tìm rễ cây về làm thuốc
uống. Trong khe Mậu đang lom khom đào rễ cây, con voi từ từ trong rừng
đi ra nhìn thấy người chăn cũ của nó. Mừng rỡ, voi liền lấy vòi quấn
vào mình Mậu. Kinh hãi, Mậu nghĩ rằng trước mình chăn giữ, bắt buộc
nó, nay nó trả thù chắc phải chết, nhưng voi cắm hai ngà xuống đất
nước mắt chảy ra, tỏ tình thương nhớ quản tượng. Voi lại lấy vòi quấn
vào tay Mậu để lên mấy cái đai vàng, cốt ý biểu Mậu đem về mà dùng.
Mậu bùi ngùi cảm động vì cử chỉ của con voi, nhưng cạy đai vàng làm
cho voi đau đớn, nên Mậu lắc đầu tỏ ý không nỡ. Voi biết ý cứ quấn tay
Mậu để luôn lên mấy cái đai vàng. Cực chẳng đã Mậu phải cạy, lấy cố
sức cậy đến tối mà không được. Mậu ra dấu với voi cho mình về, voi lại
không chịu, Mậu lại cạy nữa đến vã mồ hôi ra như tắm mà cái đai vàng
không ra, đến khuya Mậu sợ nói với voi rằng:
- Ông
Quận ơi, thân tôi già nua sức yếu không cạy được, nơi rừng núi nguy
hiểm xin ông tha cho tôi về.
Rồi cúi
đầu tỏ ý van lơn voi. Voi tỏ ý hiểu biết rồi quỳ hai chân trước xuống
để cho Mậu leo lên. Voi đưa Mậu về nhà, cả nhà thấy toan bỏ chạy, Mậu
xua tay nói lớn:
- Đừng
sợ, đây là ông Quận theo hầu đức vua ngày trước, nay gặp ta vào núi
nên đưa ta về.
Để thiết
đãi voi, Mậu sai vợ con đi ra vườn đốn mía cho voi ăn, trời gần sáng
voi muốn đi lại, dùng vòi đặt cha con Mậu lên lưng rồi đi vào rừng,
đến chỗ cũ hôm qua thì trời sáng hẳn, voi lấy tay Mậu để lên mấy cái
đai vàng. Mậu hiểu ý, hai cha con cạy được hai cái thì cổ voi đổ máu,
Mậu bảo thôi rồi kiếm cỏ thuốc thoa cho voi, rồi ôm chân voi mà khóc,
voi cũng bịn rịn khóc theo, rồi voi vào rừng, hai cha con đi về.
Nhờ hai
cái đai vàng mà gia đình quản tượng Mậu sống sung túc cho đến khi qua
đời.
Khi vua
Quang Trung ra Bắc Hà, nghe chuyện con voi có nghĩa, liền cho người
tìm mua nhưng tìm khắp nơi vẫn không thấy đâu. Từ đó về sau không ai
thấy voi đâu nữa. Vật có tính khôn, hiền nhân thương vật là phải.
Luận
Sống
trong vũ trụ trời đất mênh mông: người vật, núi sông, đất đai cây cối,
mây nước, gió lửa...…
Kể không
thể hết được chung quy lại theo Kinh Lăng Nghiêm có bảy đại:
1) Thủy
đại: là nước, nước từ hư không mây, sông, biển hồ, suối bên trong của
người là vạn vật là nước mắt mồ hôi, máu mủ, nhựa cây, nước tiểu, nước
miếng…
2) Thổ
đại: là đất, tất cả vật chất có hình sắc, xương thịt, cây đá, đồng
sắt, vàng bạc..., chung qui về đất.
3) Hỏa
đại: lửa bên ngoài, lửa cháy bên trong cơ thể người và muôn lòai là độ
nóng.
4)
Phong đại: gió trong cơ thể hơi thở và sự cử động.
5)
Không đại: hư không chỗ trống trong cơ thể.
6) Kiến
đại: là sự thấy.
7)
Thức đại: Nhận biết.
Gọi
chung là bảy đại (thất đại). Người và vật hữu tình có tánh biết, khi
sanh mượn chất đất biến thành nhân, nước biến thành máu, nước mắt, mồ
hôi, nước miếng, nước tiểu. Lửa tự sự ấm áp hư không là buồng phổi,
gió làm hơi thở và cử động. Kiến là sự thấy, thức là sự biết của người
và vật. Loài hữu tình gồm có bảy đại, loài vô tình không có hai đại
sau.
Đức
Tông Bổn nói rằng: Người và vật gốc chỉ có một chỉ khác là mê với ngộ,
thô với tế, cho nên có bậc thánh phàm có làm người có làm vật.
Xét ra
loài vật cũng một gốc như loài người, cho nên xem những điển tích trên
ta thấy loài vật biết trả ơn người, biết thương người, người cứu vật,
vật cứu người. Trái lại người hại vật, vật hại người, nếu kiếp nầy
không hại thì đời sau khi chúng hết nghiệp được sanh làm người, thì sẽ
hại lại người có oán thù với nó. Theo luật nhân quả tự nhiên của vũ
trụ là luật huân bình không sai chạy, Nho đã nhận: “Thiên võng khôi
khôi sơ nhi bất lậu“, nghĩa là: “Trời đất mênh mông mà nhơn quả một
mải lông cũng không lọt“.
Như vậy
người ta đối với cầm thú, vật có công với người không nên sát hại, mà
xét theo đây thì ta nên thương tất cả muôn loài có tánh biết, không
sát hại vì vạn vật đều có tánh biết đều đồng với người một gốc như
nhau.
Có người
hỏi:
- Trời
sanh muôn vật cốt để nuôi người, nếu chẳng giết nó mà ăn thì càng ngày
càng chật đất sao?
Đáp: Nếu
như vậy thì cứ nên sát hại người đi, để càng ngày càng chật đất sao?
Đức
Tông Bổn nói:
- Bởi
người giết vật mà ăn rất nhiều tội sa đọa nhiều phải sanh làm vật thêm
nhiều, bằng chẳng giết hại loài vật lần lần hết nghiệp sanh lên không
có người sanh trở xuống vật sẽ bớt lần đi. Chẳng giết vật thì chẳng có
người đọa địa ngục sẽ thành thiên đường, loài vật sẽ sanh làm người,
người lần lần chứng thánh.
Như trên
nói rằng trời sanh ra vật. Vậy trời nào sanh ra vật, cách sanh ra sao?
Và sanh hồi nào? Nếu nói trời sanh ra vật lẽ tất nhiên người cũng trời
sanh. Vậy người và vật đồng một cha, người và vật là anh em, ta là đàn
anh vật là đàn em, sao anh không có bổn phận thương em. Giết hại mà ăn
lại luận điệu nói trời sanh cho ta ăn, thà là ăn cứ làm thinh mà ăn
chớ đỗ lỗi cho trời. Trời nói sanh cho ta hồi nào sao không thấy sách
sử ghi chép? Trái lại sách sử có những câu: “Nhơn vật giữ đồng“, “Vạn
vật nhứt thể“, “Thiên địa hát sanh“, “Nguyên lai đồng tánh“, “Kiến kỳ
sát bất thực kỳ nhục”.
Bổn phận
đối với cầm thú là biết nghĩ đến loài vật có công với ta như : chó giữ
nhà, trâu cày ruộng, bò ngựa kéo xe, gà gáy sáng mà thương nuôi nó còn
các loài khác ta không nuôi nhưng không sát hại nó. Về tình thương là
nhơn vật đồng thể, nó cũng biết thương yêu biết đau khổ, biết ưa, biết
ghét, biết lo biết sợ như ta không khác, vì vậy ta không nở sát hại
nó.
Về nhân
quả nếu ta giết hại chúng, gây căm thù nhiều đời nhiều kiếp chúng sẽ
cộng nghiệp báo oán gây binh đao giết hại ghê tởm. Ta không nên giết
hại mà còn phóng thả cứu mạng nó để tạo phước chung cho thế gian.
Bài kệ
giới sát của Đức Tông Bổn:
Súc
sanh vật thể vốn người xưa
Người
vật xây vần kiếp rước đưa
Chẳng
muốn mang gông cùng đới giác
Sát
sanh xin khá nới tay chừa
Nếu
cả chúng sanh không sát hại
Mười
phương nào có động binh đao
Nhà
nhà trai giới đều tu thiện
Thiên hạ
lo gì chẳng thái bình.
Phật dạy
giới sát đứng đầu, muốn nên bậc thánh hiền phải có lòng từ bi quảng
đại.
Tự
thân bổn phận.
Phần
nầy thay cho phần kết luận của quyển sách nầy.
Nếu
tự thân mình giữ lễ là đủ luật, thì tất cả bổn phận của một đời từ trẻ
đến già đều đầy đủ.
Đại ý
trong quyển sách nầy, lấy chữ lễ làm luật quân bình tương ứng với luật
quân bình của vũ trụ, dung hòa giữa người với người và vật, do sự đối
đãi phản ứng mà tìm ra lẽ phải để xử sự với nhau gọi là luật chớ không
ai lập ra.
Chữ
lễ là gồm đủ cả, thiếu nhơn, nghĩa, tín, trí thì không ra lễ được. Đối
với tự thân phải đủ năm điều đó, người đủ năm điều đó thì không bao
giờ còn đụng chạm với ai, chẳng những không đụng chạm mà còn làm cho
người chung quanh rất vui lòng.
Ví
như người không mang gai góc đi đâu, cũng dễ dàng không bị vướng mắc;
trái lại không giữ năm điều đó có những thói tham, sân, si nổi lên như
mang gai đi đến đâu vướng mắc đó.
Đối
với tự thân phải biết thương thân tha thiết, phải bồi dưỡng thân bằng
tinh thần đạo đức.
Ai
cũng trọng thân sống người ta thường nói: Người sống hơn đống vàng câu
thì như vậy nhưng lối hiểu, giải và làm khác nhau. Người ta cho sống
là quý mà chỉ thiên sống về vật chất không nghĩ gì về sống tinh thần.
Vì vậy họ lo cho đời sống tự thân của họ, lo ăn cho đầy đủ món ngon
vật lạ, lo mặc cho xa hoa lộng lẫy xinh đẹp. Lo giành giựt lấy của để
ăn mặc giết hại sinh vật cho ngon béo để bồi dưỡng. Họ quý thân chừng
nào lại gây ra tội lỗi nhiều chừng ấy. Kinh Di Giáo nói: “Thân vi tội
tẩu“ thân là ở tội.
Người
giữ tròn bổn phận cũng trọng xác thân này, cần sống để tu hành và học
thêm, vì như sống mà tu tạo phước đức thì rất cần sống, còn như sống
mà tạo ác thà chết sớm còn hơn.
Sống lo
tu tạo thì sống cho xác thân rất đơn giản, chỉ cần có sức khoẻ để sống
thôi, đạm bạc cơm rau cũng đủ sống nhưng lấy tinh thần nuôi xác thân
căn bản hơn. Người ta nói: “Ăn để mà sống không phải sống để mà ăn“.
Người ta
cứ tưởng ăn cho nhiều để mà sống, họ đâu có biết nuôi sống bằng tinh
thần.
Theo
khoa học mà luận:
Như
ta thấy ở đồng ruộng có những con: rùa, cua, ếch, ốc mùa nước nổi từ
tháng sáu đến tháng mười đầy rau cỏ cho nó ăn, nước đầy khỏa cho nó
đi, nhưng khi đó người ta bắt được thấy nó ốm là tại sao?
Đến
tháng nắng từ 11 đến tháng 4, 5 là nước cạn khô, rùa và ốc chém dè
xuống đất đưa mũi lên hít dưỡng khí, ếch cua thì đào hang xuống sâu để
có nước mà sống, không đi được không có vật ăn. Thế thì khi người ta
bắt được thấy nó mập.
Không ăn
mà mập còn ăn lại ốm là tại sao?
Theo
khoa học mà giải thích:
- Các
thứ ấy mùa nước nổi mà nó ốm là vì tâm nó ham muốn quá nhiều: nó biết
có đủ thứ rau cỏ để nó ăn, cho nên nó muốn ăn món nầy rồi tìm món
khác, nó biết đi được nên muốn đi đây rồi đi đó, bạn bè gặp được nên
nó muốn gặp đây rồi gặp đó, vì sự ham muốn nổi lên thành dục vọng nóng
bốc thành lửa (tâm hồn) đốt hết chất bổ nên nó ăn nhiều mà vẫn ốm.
Còn
khi mùa khô cạn chúng phải chui xuống đất, đào hang xuống sâu ở một
chỗ không có món ăn, chúng biết như vậy cho nên không mong mỏi vì sự
ăn, không nghĩ tưởng vì sự gặp bạn bè,tâm thản nhiên không có dục hỏa,
cho nên chúng hít được bao nhiêu dưỡng khí nuôi trọn cho cơ thể nên
chúng mập.
Xét như
vậy cho ta thấy nuôi thân ăn là phần phụ mà phần chính là diệt dục trừ
tham muốn.
Vậy đối
với tự thân ta chỉ ăn đơn giản để mà sống cần nuôi dưỡng tinh thần
thanh tịnh.
Bổn phận
tự thân ta cần phải kiểm điểm hành vi của mình như nho nói: “Nhàn
trung kiểm điểm bình sanh sự, tịnh lý tư lương nhựt sở vi“.
Nghĩa
là: Cơn nhàn kiểm điểm việc làm của mình tốt hay xấu, nơi nhà vắng suy
nghĩ việc làm trong mỗi ngày phải hay quấy. Nhờ kiểm điểm suy xét như
vậy để tự biết mà sửa mình như các bậc hiền xưa.
QUAN TÀI CON
Tại
chùa Tô Châu có nhà sư tên Viên Thủ Trung tu hành đắc đạo.
Nhà sư
thường bày trên án thư gần chỗ ngồi một cỗ quan tài bằng gỗ bạch đàn,
độ ba tấc có cái nắp đậy mở được.
khách đến chơi
trông thấy cười rằng:
- Ngài
chế ra cái này để làm gì?
Sư đáp:
- Người
ta sống ắt có chết, mà chết thì vào ngay cái nầy. Ta thật lấy làm lạ
người đời ai cũng chỉ biết phú quý, công danh tài sắc, lo buồn vất vả
suốt đời, chẳng biết cái chết là gì? Như ta đây mỗi khi có việc không
vừa ý, ta cầm lấy cái nầy mà ngắm xem, là tức khắc trong tâm ta được
yên ổn, muôn ngàn tư lự đều được lâng lâng sạch không. Cái quan tài
con này đủ thay lời dạy lời răn của bậc nghiêm sư, là bài trăm bài
minh treo lên chỗ ngồi vậy.
Luận
Người
ta sở dĩ say mê theo danh vọng tài sắc, hay liều lĩnh làm việc gian ác
tàn nhẫn là vì hay nghĩ cái sống ở trước mặt mà quên cái chết ở sau
lưng. Cái chết là con ma ai cũng sợ, cũng ghét nhưng cái chết là ông
thầy, là bài thuốc chữa bao nhiêu bệnh tật xấu xa ở đời.
Muốn
sửa mình nên bậc hiền luôn nhớ đến cái chết.
Tự
thân anh hùng.
Anh
là chúa loài hoa, hùng là chúa loài thú nhưng nội tâm là: “Tự tri giả
anh, tự thắng giả hùng“, nghĩa là: Tự mình biết là anh, tự thắng được
dục vọng nội tâm là hùng.
Ngoại
cảnh dễ thắng nội tâm khó thắng, người tuy có sức mạnh như Hạng Võ
trăm trận trăm thắng, nhưng nội tâm rất tự kiêu tự đại không nghe lời
phải của ai, không thắng được tự tâm kiêu làm cho bao nhiêu sự nghiệp
công cán tiêu tan, cuối cùng phải cắt đầu trao cho đình trưởng. Thế
nên sức mạnh không phải anh hùng, mà anh hùng là phải biết tự thắng
dục vọng nội tâm.
Bổn
phận tự thân phải thắng lòng tham muốn, đừng để lòng tham muốn làm
chủ, một khi thắng đặng lòng tham muốn rồi thì xem như sẽ làm tròn
được tất cả bổn phận bậc hiền nhân.
BẤT SĨ HẠ VẤN
Tự
thân phải “bất sĩ hạ vấn“, nghĩa là: học hỏi kẻ dưới không có gì xấu
hổ. Bực hiền triết xưa thường hỏi kẻ dưới mình để có một ý niệm chính
xác về một vấn đề nào đó, không coi đó là việc xấu hổ mà cho là việc
tốt lắm vậy. Trái lại kẻ dốt nát lại tự kiêu cho mình là đủ không cần
học hỏi ai đó chỉ là:
“Ếch
ngồi đáy giếng xem trời hẹp“.
Bổn phận
tự thân phải quên mình cầu học mới mong tròn được.
BỐN HAY
Dương
Chấn người đất Quảng Tây, đời nhà Hán làm quan thái úy, tánh thanh
liêm chánh trực. Lúc làm thứ sử có tên Vương Mật làm lệnh doãn ở huyện
Xương Ấp. Mật lén đem mười lượng vàng để đền ơn trước. Dương Chấn
trách rằng:
- Ta
biết tài ngươi mà không biết lòng ta.
Vương
Mật cố năn nỉ:
- Đêm
hôm khuya khoắt có ai hay biết, ngài ngại gì?
Dương
Chấn nghiêm nét mặt nói:
- Sáng
thì có trời đất biết, tối thì có quỷ thần hay, ta biết ngươi biết. Chỗ
hay biết có bốn như vậy sao gọi là không ai biết?
Luận
Tự nơi
thân nhiều khi lòng tà nổi lên rồi còn biết tự thẹn; chiêm bao thấy
mình làm điều xấu nào ai hay biết, mà vẫn tự thẹn nơi lòng thay. Huống
gì thọ của hối người, lượm của rơi có nhiều nơi biết không thẹn lắm
sao?
Nho nói:
“Nhân gian tư ngữ thiên văn như lôi, ám thất khuy tâm thần mục như
điển". Nghĩa là người thế gian nói riêng lời nhỏ trời nghe như sấm,
trong nhà tối làm việc tà gian, mắt thần thấy sáng như điển, tự tâm tự
thẹn tự sửa lấy mình, không đợi người biết, đợi người biết mới thẹn là
xấu hổ nhiều lắm rồi, sứt mẻ uy tín cả rồi.
Làm sao
ngó xuống không thẹn cùng muôn loài cây cỏ, ngước lên không thẹn cùng
quỷ thần trời đất, như vậy là mới ngang với hiền thánh.
THẠCH CỦNG GIỮ TRÂU
Tổ
Bá Trượng hỏi Thạch Củng rằng:
- Ngươi
thường làm nghề gì?
Thạch
Củng thưa:
- Làm
nghề giữ trâu.
- Giữ
thế nào?
- Dây
vàm thường nắm nơi tay, mỗi khi trâu muốn hoang dẫm lúa mạ của người
ta liền nắm dây vàm kéo lại.
Bá
Trượng khen:
- Phải
vậy! Phải vậy!
Luận
Vẫn biết
Thạch Củng đâu có giữ trâu nhưng Tổ hỏi Củng đáp như vậy, ý tứ thầy
trò rất tương đắc:
Chỗ tu
tâm sửa thân của Thạch Củng là luôn luôn lúc nào cũng kềm chế vọng
tâm; lấy giới luật làm giàm mũi cho con trâu dục vọng, mỗi khi con
trâu nầy muốn phóng túng buông lung là dùng giàm kéo nó lại.
Tự thân
lấy đó mà sửa mình, giờ phút nào cũng xét nét cân nhắc cái tâm mình
biết là chơn vọng, như vọng là trừ ngay, biết được chơn thì bồi dưỡng
thêm lớn căn lành nên bậc hiền.
TRÌNH TỬ
SỬA MÌNH
Trình
Tử sau khi học đạo liền áp dụng phương pháp sửa mình hằng ngày bằng
hai cái lọ nhỏ. Cứ mỗi lần làm điều gì quấy ác, là lấy một hột đậu đen
bỏ vào cái lọ bên này, mỗi lần làm được điều lành là lượm hột đậu
trắng bỏ vào lọ bên kia.
Độ chừng
vài tháng sau đổ ra xem, đậu đen nhiều đậu trắng ít, ông liền cẩn thận
tránh điều ác cố làm lành, sau đổ đậu ra xem đậu đen ít đậu trắng
nhiều, về sau cố sửa mãi chỉ còn đậu trắng không còn đậu đen. Bây giờ
Trình Tử đã thành bực hiền.
Luận
Tự thân
tu sửa không phải học với ai, tuy nhiên cũng phải cần học, học là cốt
để hiểu rõ rồi tự sửa mình.
Không
học mà biết không phải Thánh là gì?
Học mà
biết không phải Hiền là gì?
Học mà
không biết không phải ngu là gì?
Những
điều thiện ác lớn thì ai cũng biết, còn những điều thiện ác nhỏ thì ít
ai quan tâm đến. Nho nói: “Không vì việc ác nhỏ mà làm, không vì việc
lành nhỏ mà không làm “.
Hằng
ngày xung quanh ta biết bao việc ác nhỏ và việc thiện nhỏ: chà đạp một
con kiến là ác rồi, thấy con kiến chới với trên mặt nước bỏ qua là ác
rồi, thấy vật bị khổ không cứu được, không để lòng thương là ác rồi,
nước sôi đổ vãi xuống đất là ác rồi.…
Khi đi
cố tránh con kiến là thiện rồi, vớt một con kiến đang chết chìm là
thiện rồi, thấy loài bé nhỏ biết trọng thương là thiện, lượm một miểng
chai ngoài đường là thiện, biết tâm niệm loài bé nhỏ là thiện.
Con chim
bé nhỏ
Chú nhái
tí hon
Chim hót
chíp chíp
Nhái kêu
en en
Bỗng nó
nhìn ta
Ông gì
lớn tổ bố!
20. NHỮNG ĐIỀU PHẢI
CÓ ĐỂ LÀM NGƯỜI HIỀN
N ho
nói: “Vi nhơn nan!Vi nhơn nan!". Làm người khó! Khó được làm người!
Do nhơn
duyên lành nào đời trước, nay ta được làm người đây? Thần thức tùy
theo nghiệp thiện hay ác mà thọ sanh: địa ngục ngạ quỷ, súc sanh, chim
bay thú chạy, cá nước thú rừng, bò bay máy cựa, giòi thây, lằn phẩn,
khó sanh đặng làm người mà ta đặng làm người đó là một việc quá khó
khăn mà ta được “vi nhơn nan“.
Biết bao
người sanh ra lớn lên bị tật nguyền mẻ sứt, đui, điếc, câm, ngọng khó
được toàn vẹn mà ta được toàn vẹn.
Biết bao
người vô phước mở mắt chào đời ở nơi thâm sơn cùng cốc, gành biển hẻo
lánh cam sống nơi rừng biển hiu quạnh, âm u, làm lụng quần quật đầu
tắt mặt tối, thiếu học, lạc hậu, khó sanh được chốn tụ lạc làng ấp đầy
đủ tiện nghi, văn minh mà ta được.
Đã sanh
nơi chốn tập trung, tiện nghi mà người quyết chí học hỏi lại khó, mà
ta được học hỏi thông minh.
Đã thông
minh mà bị biện thông thế trí thành ra thiển cận, chỉ thấy lợi trước
mắt mà không thấy cái hại sau lưng, chỉ biết lợi kiếp nầy không thấy
hại kiếp sau, đó là việc khó mà ta biết được.
Đến như
biết được thì ai cũng biết, nhưng làm là việc khó đó mới là thiên nan
vạn nan.
Ta đang
dừng lại chỗ khó nầy và muốn cho tròn tư cách con người, một bổn phận
của người hiền, những bổn phận mà bổn phận tự thân ta phải làm cho kỳ
được trước đã.
Những
điều kiện tự thân không thể thiếu được như sau:
1. Phải
có một thân thể tráng kiện:
Người có
kẻ đau ốm liên miên, ốm gầy khô khan, xanh xao vàng võ, mập mạp khỏe
mạnh sung túc. Những điều đó không phải ngẫu nhiên mà chính là do lấy
mọi người tạo nghiệp đời trước.
Đời
trước đã lỡ tạo rồi nay phải buông tay mà chịu sao? Không, ta phải cải
tạo cho đời sau. Đời người trôi qua rất mau, không bao lâu đâu, ta sẽ
có một thân sau, giờ đây ta lo cải sửa là vừa còn sợ trễ nữa.
Vì nhân
sát hại thái quá nên bị quả báo xấu ốm đau tàn tật; không sát hại mà
còn phóng sanh thì đời nầy nghiệp xấu nhẹ bớt đi, đời sau sẽ được thân
hình đầy đủ sức khỏe không bệnh tật và sống lâu.
2. Phải
có của cải để xử sự và sống:
Con
người nghèo nàn cơm không đủ ăn, áo không đủ ấm là do nhân trước tham
lam bỏn sẻn mà ra, không tham lam bỏn sẻn mà còn bố thí, thì đời nầy
vơi đi nổi khổ, đời sau sẽ được giàu có sự nghiệp của cải dư dật để
cho mặc tình làm việc phước thiện, nên danh mạnh thường quân, một nhà
từ thiện.
3. Phải
có một thân hình oai nghi tốt đẹp:
Người mà
có thân hình xấu xí ai thấy cũng ghê tởm, là do đời trước làm việc tà
dâm, tồi phong bại tục mà ra. Giờ đây ta được thân hình trang nghiêm
là nhờ không tà dâm và nên giữ cho trong sạch để đời sau có một tướng
mạo vừa oai nghi vừa đẹp ai cũng kính quý.
4.
Phải có giọng nói rõ ràng:
Người bị
câm, ngọng, liệu, trệ khẩu là do nhân đời trước vọng ngữ: đời nay ta
được giọng nói trong suốt rõ ràng, là nhờ không vọng ngữ lại hay nói
lời nói chánh mà đặng và cố gìn giữ mãi cho đời sau.
5.
Phải thông minh:
Người
quá mê tối là do đời trước say sưa thái quá mà ra, ngay những đời nầy
ta thấy người khi tỉnh, sáng suốt mà khi quá chén không còn biết gì
nữa; đời này ta đã tỉnh và còn giữ mãi cho đời sau nữa.
Bổn phận
tự thân năm điều kiện trên không thể thiếu được, dầu bây giờ chưa đủ
thì nên tạo cho tương lai không phải xa vời đâu, mà nên làm kẻo trễ.
Bổn phận
ta phải thương ta trước, rồi người mới thương ta sau, bởi tự hủy rồi
người mới hủy ta.
Thương
ta không phải chấp ngã, mà phải phá ngã chấp.
Ta
thương ta thật vô ngần
Muốn
cho tồn tại phải cần nghĩ xa
Thương người, người lại thương ta
Ấy tròn
bổn phận hiền hòa thế gian
Xét về
hiền xử thế là đối xử với nhau cho quân bình tốt đẹp, trong đó ta làm
tròn bổn phận tự thân là xong hết bảy phần làm tròn các bổn phận khác
rồi vậy.
Bổn phận
đối với nhau là người đối với người được quân bình tự do.
Phàm
mình muốn tự do thì đừng làm cho người và vật mất tự do vì mình là nên
bậc đại hiền vậy.
Bạn
thấy không khắp phương trời cao rộng
Là
hiện thân đại thiên thế giới
Quét
mây mờ đem nắng mới thơm hơn
Nhân
sinh chờ bước hẹn hò(1)
Hiền
là son thắm dành cho nụ cười.
Viết xong ngày 15 tháng Mạnh Hạ năm Giáp Tý (1984)
Bản sao xong ngày 10 tháng Quý Hạ năm Mậu Thìn (1988)
THÍCH NHỰT LONG