KIẾN THIẾT VĂN
MINH PHẬT GIÁO VIỆT NAM
Thích Đức Nhuận
Giá
trị của một học thuyết là ở chổ kiến thiết được một nền văn minh bằng học
thuyết đó. Phật Giáo Việt Nam đã có một thời tạo nên nền văn minh mới cho
dân tộc sau một thiên kỷ bị người Tàu cai trị.
Nền văn minh này chẳng những đã
chấm dứt nổi cảnh ngoại xâm và nội loạn, mà còn giác ngộ tinh thần dân tộc
lại với mình, để tổng hợp cả Tam giáo, thống nhất quốc gia, theo đúng tinh
thần Phật. Cho nên, xuyên qua lịch sử văn minh Phật thời Lý - Trần và nhận
xét rõ Tinh Thần Nhân Chủ Xã Hội Của Phật Giáo, tất nhiên ta đã có thể
hình dung ra nổi một nền văn minh Phật tương lai như thế nào. Vì nền văn
minh ấy, xưa cũng như nay, đều bắt nguồn ở tinh thần Phật, để xây dựng một
xã hội có Nhân Đạo, có Tự Do, Hạnh Phúc cho tất cả mọi người, mọi giống,
dù theo Phật Giáo hay không theo Phật Giáo.
Để chứng minh thêm cho nền văn
minh Phật vốn thực là như thế nào, trước hết cần phải có một quan niệm về
văn minh cho thật đúng nghĩa, để sau khi vào hành động có thể tránh khỏi
những đổ vỡ trong công cuộc kiến thiết, làm giảm giá trị của nền văn minh
Phật như đã được nói đến ở những phần trên.
1. QUAN NIỆM VỀ MÔT NỀN VĂN
MINH ĐÚNG NGHĨA
Hai tiếng ‘Văn Minh’ đã được
đem diễn tả từ đông sang tây, coi như hai loại khác nhau: Văn minh Đông
phương và văn minh Tây phương. Rồi nhỏ nhặt hơn nữa, là chia ra nhiều nền
văn minh riêng của từng địa phương, như: văn minh Hy Lạp, văn minh Ấn Độ,
văn minh Trung Hoa, văn minh Việt Nam v.v... Nếu quan niệm văn minh như
vậy thì chỉ có thể nhìn thấy một góc cạnh của nền văn minh toàn diện mà
thôi. Thí dụ khi nói tới văn minh Đông phương thì chỉ coi nó có giá trị về
mặt tinh thần đạo đức nhiều hơn về mặt tiến bộ vật chất. Còn nếu nói tới
văn minh Tây phương thì trần truồng chỉ có giá trị tiến bộ về vật chất hơn
về tinh thần đạo đức.
Mà sự thật lại là như vậy. Vì
từ khi nền văn minh Âu Châu tiến bộ thì lịch sử nhân loại, đã thấy diễn ra
những gì qua hai cuộc thế chiến và lịch sử nhân loại đã không nói lên được
những tiếng nói đẹp đẽ nào bên cạnh tiếng kêu hò diệt chủng, áp bức, thống
trị các giống da đỏ, da đen, da vàng dưới gót sắt của bọn thống trị?
Lại nữa, nếu lại quan niệm
rằng: văn minh chỉ là hưng thịnh của một quốc gia dân tộc, theo địa phương
chủ nghĩa, thì tức là đã đề cao chủ trương ăn cướp của bọn phong kiến thực
dân, qua tinh thần chủng tộc đó. Ví thử tự hỏi xem văn minh Trung Hoa đã
có được những giá trị gì, ngoài cái tinh thần tự túc tự mãn của người Hán,
trong việc diệc chủng ở bốn chung quanh, từ xưa tới nay? Ấy là chưa kể đến
những nề văn minh khác ở bên trời Âu, như tinh thần cách mạng 1789 của
Pháp, tinh thần dân chủ của Anh, tinh thần quốc xã của Đức v.v... tất cả
đều vẫn chỉ là những thứ văn minh ấy, kẻ chiến thắng nếu tự cho mình là
văn minh khi kẻ gieo rắc ánh sàng của văn minh cho kẻ khác, thì ‘kẻ khác’
- là bao nhiêu dân tộc chiến bại kia - lại nhìn ‘cái gọi là văn minh của
kẻ chiến thắng nọ’ là dã man hết chỗ nói.
Người Việt đã cảm thấy điều đó,
qua cột đồng Mã Viện của văn minh Trung Hoa, qua máy đoạn đầu dài
‘guillotine’ của văn minh Pháp quốc. Cho nên người Việt đã mất hết tin
tưởng vào những thứ văn minh nọ ngoài tin thần văn minh của Phật. Vì đạo
Phật không đến với mọi người bằng thế lực của ngoại xâm, đạo Phật không
đội lốt thống trị của một ngoại ban nào. Đạo Phật chẳng hề chủ trương giác
ngộ Phật tâm và Phật tính của mỗi con người, ở mỗi giai cấp, ở mỗi dân tộc
để cùng sống và giúp tiến hóa lẫn nhau, hầu xây dựng một xã hội có lý
tưởng nhân đạo, có lập trường Nhân Chủ, có ý thức nhân sinh thôi. Đó là
quan niệm văn minh của Phật Giáo vậy.
Vì thế, nói văn minh Phật Giáo
không có nghĩa là nói riêng đến tinh thần đạo đức Á Đông suông thôi, rồi
không nhấn vào tiến bộ khoa học, vào giải pháp áo cơm cho chúng sinh; hoặc
không có nghĩa là quá thiên về văn minh vật chất Tây phương kiểu xâm lược
dã man. Bởi đạo Phật lấy giác ngộ của con người để giải thoát Luân Hồi,
cải tạo Tự Nhiên và cải tạo Nhân Sinh thì không có một thứ tiến bộ kỹ
thuật khoa học nào lại đuổi kịp được, không một thứ đạo đức nào có thể bì
kịp khi Phật lấy ‘ơm làm lành đạo cả’ (y, bát), khi Phật lấy sự bình
đẳng về màu da, tiếng nói, về chủng tộc quyền lợi, ngụ trong câu: ‘Nhất
nhất chúng sanh đều bình đẳng’.
Rồi thử tự hỏi xem: những tiến
bộ về khoa học của các cường quốc trong cuộc chinh phục không gian đã làm
thay đổi được những gì quan trọng trong ba nghìn nghìn thế giới, và đã
thay đổi được những gì ngoài mọi khổ não do thiên nhiên tạo ra: sinh, lão,
bệnh, tử, nắng, mưa, gió, rét của cõi vô thường.
Rồi lại tự hỏi xem: nhân loại
đã tự giác ngộ để tiến bộ đến những bước nào, trong thập pháp giới của
Phật, đến như bản Hiến Chương Liên Hiệp Quốc cũng còn phải bổ túc bằng
Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền, mà nhân loại cũng vẫn chưa có ‘Nhân Quyền’
chưa có hòa bình, và vẫn cứ bị đe dọa thường xuyên.
Nhìn sang bức màng sắt, hàng
ngũ Quốc tế đại đồng của thế giới cộng sản cũng càng ngày càng đổ vỡ vì
tinh thần địa phương của mỗi quốc gia dân tộc đang nổi dậy. Phải chăng đó
là một thất bại của chủ trương văn minh kiểu Marxism: đã không giải quyết
nổi vấn đề quyền lợi sống còn của chủng tộc, lại thiếu tinh thần giác ngộ
của Nhân Chủ, trong việc xây dựng lý tưởng người? Nên cái nền tảng học
thuyết bắt nguồn từ triết lý Duy Vật quả là không xây dựng nổi một nền văn
minh nhân loại toàn diện.
Còn nhìn về bên này bức rào
thưa của Thế Giới Tự Do thì các cường quốc vẫn cứ mâu thuẫn nhau vì quyền
lợi, vẫn chưa ý thức được xem vai trò lịch sử tiến hóa của nhân loại phải
đi về đâu; và các nhược tiểu thì dù có giác ngộ chân lý Phật, có muốn xây
dựng một nền văn minh Phật, nhưng cũng vẫn còn cứ bị cản trở bởi tất cả
những cái gì là thiếu thông cảm, là thiếu giác ngộ của các cường quốc? Nên
thật là chưa có cơ xây dựng nổi một xã hội lý tưởng chung cũng như riêng,
theo ý muốn của nhân loại đang khắc khoải hoang mang.
Nói tóm lại, nhân loại vẫn còn
phải chờ sự giác ngộ về một quan niệm văn minh đúng nghĩa, như văn minh
Phật, mới có thể giải thoát khỏi những bế tắc của lịch sử, những mâu thuẫn
chiến tranh, hầu mang lại hòa bình, hạnh phúc và con người đang mong mỏi,
đợi chờ.
2. CHỦ TRƯƠNG KIẾN THIẾT VĂN
MINH PHẬT
Sau khi đã ý thức được thế nào
là một nền văn minh đúng nghĩa theo tin thần đạo Phật, không méo mó theo
riêng góc cạnh vật chất hay tinh thần, địa phương hay suốt mặt thì người
Phật tử mới có đủ căn bản giác ngộ để chủ trương xây dựng một nền văn minh
mới.
Mà xây dựng như thế nào đây?
a) Xây dựng văn minh Phật không
phải chỉ là việc đưa Phật Giáo ra nắm chính quyền, như một số chính khách
lầm tưởng, theo kiểu ‘tranh quyền cướp nước’ của thứ chính trị thiển cận.
Vì căn bản kiến thiết văn minh Phật là ở sự giác ngộ lý tưởng Phật, chứ
không ở sự tranh đoạt chính quyền.
b) Xây dựng văn minh Phật cũng
không phải là tìm cách tiêu diệt tất cả mọi nề văn minh khác, mọi gốc tôn
giáo khác, rồi để biến mình trở thành một chính thể độc tài, một tôn giáo
độc tôn. Vì hành động như vậy là phản lại tinh thần văn minh Phật: điểm
này đã được Phật Giáo Việt chứng minh, qua Triều Lý với chủ trương Tam
Giáo Đồng Lưu, để vừa phát huy tinh thần Phật, vừa giúp đỡ ngoại đạo, hòng
cùng sống và giúp tiến, theo luật Nhân Quả Biện Chứng, nghĩa là ‘không có
Cái Này thì chẳng có Cái Kia; cũng như Cái Này có thì Cái Kia cũng có; cả
hai’, ‘Cái Này và Cái Kia đều hỗ tương nhau mà sinh sinh hóa hóa’. Chính
vì lẽ sống còn cùng nhau đó mà chính quyền nhà Lý, tuy mang danh là chính
quyền của Phật Giáo do Phật Giáo tạo nên, bởi bàn tay của các vị Thượng
Tọa nhưng trên thực tế vẫn là chính quyền của toàn dân. Cho nên có thể nói
sự phồn thịnh của Nho Giáo, từ nhà Trần về sau, cũng bắt nguồn từ nhà Lý
vậy. Vì chính Phật Giáo Triều Lý đã khởi xướng nên việc xây Văn Miếu thời
đức Khổng Tử, họa hình Thất Thập Nhị Hiền, và mở khoa thi Tam Giáo. Rồi
cũng chính Phật Giáo Lý - Trần đã khai sinh ra vị Trạng Nguyên đầu tiên
của nước Việt, là Nguyễn Văn Thịnh, dù ông này sau có phạm tội phản quốc
mà nhà Lý cũng không nỡ khép vào tử tội.
c) Xây dựng văn minh Phật lại
cũng không phải là việc cất nên nhiều chùa chiền, bày ra nhiều lễ nghi để
mê hoặc nhân tâm, để rồi biến đạo Phật thành một thứ tôn giáo, như mọi tôn
giáo tà mị đã thấy trong xã hội loài người. Sau hết, dù Phật giáo cũng
chia rẽ hai ngả Đạo và Đời, dù Phật Giáo cũng đã mang ít nhiều hình thức
của một tôn giáo, nhưng đó chỉ là một khía cạnh hay là một phương tiện dể
dẫn dụ người ta đi tới chỗ giác ngộ giáo lý thôi.
Để chứng minh cho những nhận
xét trên, lịch sử Phật Giáo cũng đã có ghi những sự việc, như chuyện một
vị sư Trung Hoa khi đắc đạo đã đem chẻ tượng Phật trong chùa ra dùng làm
củi đun bếp rồi lý luận rằng: ‘Khi chưa giác ngộ đạo thì phải lấy tượng
Phật làm tượng trưng; còn khi đã giác ngộ rồi thì Phật ở trong lòng mình,
đâu còn ở pho tượng gỗ kia nữa mà không bỏ đi?’
Xây dựng văn minh Phật là giác
ngộ Phật tính ở ngay trong lòng mình, để xây dựng một lý tưởng. Trong xã
hội lý tưởng đó, con người làm chủ lấy mình, và làm chủ cả vũ trụ, không
có ai làm chúa loài người hết, Phật cũng không còn cần cứu độ ai nữa:
Chúng sanh đã biết tự cứu lấy mình, theo phương châm chỉ đạo của Phật, hay
của bất cứ một phương tiện nào khác, miễn sao con người có thể đạt tới
chân ý nghĩa của nền văn minh Phật Giáo.
3. XÃ HÔI LÝ TƯỞNG VĂN MINH
PHẬT
Ở hai phần trên đã thấy rõ quan
niệm về một nền văn minh đúng nghĩa và về một chủ trương Kiến Thiết Văn
Minh Phật Giáo, để sau này có thể ý thức rõ xã hội lý tưởng văn minh Phật
mà nhân loại phải đi tới.
a) Giác ngộ lập trường người để
tranh đãu với vũ trụ, hầu giải thoát cho con người khỏi khổ não bởi tự
nhiên, đồng thời biến cải và lợi dụng những luật tắc của tự nhiên để giúp
ích cho đời sống người, đó là chủ trương của Phật Giáo để giải cho con
người thoát kiếp luân hồi theo về ngả Đạo. Nhưng cũng còn là chủ trương
đem bộ óc và bàn tay của con người vào việc chinh phục vũ trụ ở ngả Đời,
như các nhà khoa học đang tiến tới. Vì chỉ có phương pháp tranh đãu với vũ
trụ để giải thoát cho con người khỏi bị thiên nhiên chi phối như thế mới
giúp cho con người tiến tới cõi hạnh phúc. Điều đáng tiếc hận cho nhân
loại từ trước tới nay là không mang sự giác ngộ tư tưởng, không đem phát
minh khoa học ra chinh phục vũ trụ, giúp ích cho đờI sống con người mà chỉ
nghĩ tới việc tiêu diệc lẫn nhau để sống một cách tối vô nhân đạo. Nên để
noi theo công việc khám phá vũ trụ để tìm tới Ba nghìn nghìn thế giới của
chư Phật, mãi đến nay nhân loại mới toan tính đến công cuộc chinh phục
không gian và tìm cách lên nguyệt cầu. Như vậy quả là Đức Phật đi trước
nhân loại về quan niệm chinh phục vũ trụ kể từ 2500 năm về trước, và không
biếc bao nhiêu năm về mai hậu nữa. Chúng ta tự hỏi, có lý thuyết nào, có
tôn giáo nào thấy trước và thấy rõ, thấy đúng như Đức Phật để đặt mình
ngang với Ngài chăng? Chính vì chủ trương giác ngộ của con người để chinh
phục vũ trụ, giải thoát nhân sinh, mà người ta quyết nghĩ rằng: Đạo Phật
là khoa học tối cao về cả hai mặt viễn kiến và thực chứng. Đối với người
Phật Giáo Việt ta hiện nay tuy chưa tiến bộ bằng người về khoa học chinh
phục không gian, nhưng với sự giác ngộ tinh thần Nhân Chủ để xây dựng một
nền triết học Duy Nhân tưởng như thế cũng đủ hơn người trong cuộc chiến
tranh ý thức hệ Duy Tâm và Duy Vật hiện tại rồi.
Chỉ có nền triết học Duy Nhân
mới đưa con ngườI thoát khỏi những ấu trĩ của hai ý thức hệ Tâm-Vật, hầu
mang lại hòa bình hạnh phúc cho nhân loại mà thôi.
b) Giác ngộ lập trường dân tộc
để hỗ tương sinh hoạt xã hội:
Mỗi dân tộc có một nguồn gốc
khác nhau, màu da, tiếng nói khác nhau. Cũng như mọi tư tưởng phát sinh
cũng do chỗ khác biệt về hoàn cảnh đó mà biến thái. Nên khi chung sống với
nhau thường phát sinh mâu thuẩn tư tưởng, kỳ thị nhau về chủng tộc, đánh
giá trị nhau về trình độ tiến hóa hay lạc hậu, để rồi xâm lược nhau ở trên
tất cả mọi địa hạt.
Điển hình cho sự xâm lược toàn
diện này, có thể lấy ngay xã hộI Việt làm thí dụ. Vì mảnh đất bé nhỏ này
đã chứa đựng bao trào lưu tư tưởng Đông Tây Kim Cổ, và đã chịu bao nhiêu
phen thống trị ngoại bang, nhưng nhờ có căn bản tư tưởng Việt vững, lập
trường dân tộc Việt bền, nên chúng ta không bị mất nguồn gốc, mất nòi
giống mà còn có thể hỗ tương với các nguồn tư tưởng khác, dân tộc khác để
sống tới ngày nay. Chủ trương Hỗ Tương Sinh Hoạt này có thể chia làm hai
thời kỳ:
Thời Thứ Nhất, là sau nạn Bắc
thuộc gần một nghìn năm đô hộ, dân tộc Việt lấy lại quyền Tự Chủ, nhưng
lòng người chia rẽ bởi ý thức hệ mới xâm nhập: Lão, Phật và Khổng, nên
không thể nào thống nhất để tự cường được. Mãi đến đời nhà Lý Phật Giáo
mới đứng ra làm công việc hỗ tương sinh hoạt cộng đồng Tam Giáo, để mở cho
nước Việt một thời đại mới.
Thời thứ hai, là xã hội hiện
tại thì người Việc được hấp thụ thêm văn hóa quốc tế, từ bốn phương mang
lại, nhưng vì chưa dung hòa kỹ nên mới sinh ra nhiều mâu thuẫn về tôn giáo
và đảng phái giai cấp, tranh dành nhau, chẳng khác gì thời Thập Nhị Sứ
Quân xưa. Tình trạng này chỉ có thể ổn định được nhờ phương pháp Hỗ Tương
Sinh Hoạt của Phật Giáo (như đã nói trong phần Nhân quả Biện Chứng). Điểm
đáng tiếc trong việc áp dụng phương pháp Hỗ Tương Sinh Hoạt của Phật Giáo
là ở chỗ Phật Giáo, sau ngày cách mạng 1-11-1963, đã bị tinh thần dân tộc
thúc đẩy quá mạnh, khiếm một số người ngộ nhận là Phật Giáo chủ trương tôn
giáo độc tôn. Thêm vào đó là những mặc cảm tầm thường của người đời cho
rằng: Phật Giáo chủ trương làm chính trị. Nên vội đưa ra những hành động
phá hoại lẫn nhau, khiến Phật Giáo vì đó mà chịu điều khen chê không đúng
sự thật. Nhưng nếu hiểu rõ chủ trương Hỗ Tương Sinh Hoạt của Phật Giáo ở
thời kỳ thứ nhất trên, tất phải tin tưởng rằng: Phật Giáo vẫn còn mang một
sứ mệnh trong công cuộc thống nhất dân tộc về góp phần giải quyết hòa bình
cho nhân loại ở tương lai. Mà lại không phải vì Phật Giáo hay vì một lẽ
riêng tư gì hết, ngoài lẽ sống còn của con người.
c) Giác ngộ tình thương của con
người để giải quyết hòa bình nhân loại:
Nhân loại chiến tranh vì Tham,
Sân , Si. Vì chính cái bệnh tham sân si đó đã tạo ra những nghiệp quả luân
hồi, hết thế hệ này qua thế hệ khác.
Hậu quả của hai cuộc thế chiến
vừa qua như thế nào, nhân loại hãy còn sợ hãi chưa quên. Nhưng muốn giải
quyết hòa bình tất không thể giác ngộ nhân đạo, lấy tình thương ra giải
quyết mọi mâu thuẫn như: tiêu diệt, thống trị, áp bức, bóc lột lẫn nhau.
Mà đích ra là phải thay vào đó bằng những công nghiệp đại nhân, đại nghĩa
là các việc giúp đỡ lẫn nhau để cùng sống và giúp tiến. Có thế thì nhân
loại mới mong có hòa bình được. Một triết gia kiêm chính trị gia Việt X,
Y. Lý Đông A cũng đã nói: ‘Nhân loại chiến tranh không phải vì văn minh
quá, hay ngu xuẩn quá, mà vì dưới đáy tầng thế giới còn nhiều áp bức quá.
Những áp bức đó dần dần lớn lên, gây thành những cuộc chiến tranh quy mô
hơn nữa. Cho nên sau chiến tranh người ta vẫn lo sợ còn có những cuộc
chiến tranh khác tiếp theo v.v...’. Đấy là tất cả những nguyên nhân phát
sinh ra chiến tranh và cũng là nguyên nhân để giải quyết hòa bình.
Nhân loại hiện đang đứng trước
cửa ngõ của một cuộc chiến tranh mới có pha màu sắc về tư tưởng, và nhân
loại cũng đang tìm biện pháp tránh chiến tranh đó. Vì cuộc thế chiến thứ
ba kia sẽ không còn kẻ thắng người bại: Tất cả thế giới loài người sẽ bị
tiêu diệt bởi nguyên tử lực, do các cường quốc chế tạo sẵn, dù chưa dám
đem ra để tự sát, Nếu nhân loại không sớm giác ngộ tình thương, nếu các
cường quốc còn cứ coi nhược tiểu là một mối lợi riêng tư để tranh chấp
nhau, để kéo dài chiến tranh ra mãi thì, chính các cường quốc sẽ bị suy
yếu, trước khi nhược tiểu sẽ bị tiêu diệt.
Chúng ta tự hỏi xem: Ai có thể
cứu được nhân loại thoát khỏi họa chiến tranh? Ngoài sự giác ngộ tình
thương của nhân loại để tự cứu lấy nhân loại thì còn biết trong mong vào
ai!
d) Giác ngộ lẽ công bằng xã
hội, trong việc xây dựng lại xã hội:
Theo lẽ tự nhiên, về mặt vật
lý, cái gì thiên lệch mất thăng bằng tất phải đổ vỡ. Cho nên, về mặt xã
hội cũng vậy, muốn tránh đổ vỡ cần phải thực hiện lẽ công bằng. Đức Phật
dạy: ‘Nhất nhất chúng sanh đều bình đẳng’. Vậy mà con người đã không sớm
giác ngộ nguyên tắc bình đẳng đầu tiên của xã hội là bình đảng giữa chúng
sinh, nghĩa là không thiên lệch rồi cho phép chủng tộc, giai cấp hay cá
nhân nào được ăn trên ngồi trốc dân tộc khác giai cấp khác hay cá nhân
khác.
Chủ nghĩa phong kiến đề cao tộc
đảng bị đào thải! Chủ nghĩa tư bản cá nhân cũng đang bị biến thể! Chủ
nghĩa cộng sản đề cao giai cấp vô sản cũng đang đi đến chỗ hủy diệt; chủ
nghĩa dân tộc độc tôn để lãnh đạo cả thế giới loài người cũng không còn lý
do tồn tại nữa. Tất cả đều thiên lệch và phi nhân, trái với lẽ công bằng
nên quốc gia loạn, quốc tế cũng loạn. Loạn mãi cho đến khi nào tất cả mọi
chủ nghĩa thiên lệch đều không còn tồn tại trong xã hội loài người được
nữa. Đành rằng xã hội loài người kết hợp từ cá nhân đến giai cấp và từ
quốc gia dân tộc đến thế giới loài người, nhưng không thể ‘ chỉ biết có
mình, không biết có người’ mà có thể yên được. Cho nên, lẽ sống hợp lý
nhất của nhân loại vẫn là ở chỗ ‘Bình’ và cùng hỗ tương nhau cùng sống và
tiến mãi. Có như thế mới không còn lo có tai họa chiến tranh nào xảy ra
tới cho loài người nữa.
e) Giác ngộ nội tâm mỗi con
người Phật:
‘Xã hội chi phối cả mọi người,
nhưng trái lại, ý chí của mọi người cũng có thể cải biến được xã hội’.
Nguyên tắc này rất hợp với tinh thần ‘Tự giác và giác tha’ của nhà Phật.
Vì sự giác ngộ của mỗi người, về Phật tính, sẽ gây ảnh hưởng tốt cho người
khác, chủ nghĩa dù hay đến đâu nhưng khi mang thi hành mà người không hay
sẽ đi đến thất bại. Đó là một nguyên tắc giác ngộ của Phật giáo hằng chủ
trương: Trước hết phải lấy giác ngộ nội tâm rồi sau mới tới giác ngộ xã
hội.
Tóm lại, việc Kiến Thiết Văn
Minh Phật Giáo phải làm bằng tất cả mọi phương châm chỉ đạo đúng đắn nhất,
không thiên lệch méo mó như người đời thường lầm tưởng. Nền văn minh đó,
nếu thực hiện được thì sẽ là một nền văn minh riêng của nhân loại, chứ
không phải văn minh riêng của Phật Giáo. Và ngay cả Đạo Phật cũng không
còn là Đạo Phật như giới hạn ngày nay.
Vì Phật là tất cả cái gì Toàn
Thiện, Toàn Chân, Toàn Mỹ của thế giới loài người xưa, nay và mai hậu.