Trang tiếng Việt

 Trang Nhà Quảng Đức

Trang tiếng Anh

Phật Giáo và Thời Đại


......... .

 

PHẬT GIÁO TRONG THẾ KỶ MỚI

PHẬT LỊCH 2540 – GIAO ĐIỂM

 

Tuyển tập 1

 

Nhiều tác giả

---o0o---

PHẦN MỘT

TỔNG QUAN 

PHẬT GIÁO VIỆT NAM TRƯỚC NGƯỠNG CỬA THẾ KỶ 21 

LÝ NGUYÊN QUÂN 

 

MỘT THÁI ĐỘ CẦN THIẾT

Như một con bệnh không thể chữa lành khi người ta chỉ tìm cách che đậy, trốn tránh hay loanh quanh với những lý luận mơ hồ, không ăn nhập gì với hiện trạng. Cũng không thể chữa lành khi bệnh thì nằm ở gan ruột mà lại đi lo chữa chạy ở ngoài da. Phật Giáo Việt Nam (PGVN) ngày nay, ngoài những thành tựu của quá khứ dễ khiến người Phật tử tự hào, ngoài các sức mạnh quần chúng còn lại sau nhiều lần bị phung phí; và bên cạnh những yếu tố tích cực có thể đóng góp cho một viễn ảnh tốt đẹp hơn, thì vẫn còn đó, những yếu tố tiêu cực ngay ở tự thân của nó - những yếu tố đã từng làm cho PGVN bị nghiêng ngửa, rã rời, tan nát và ngày càng tỏ ra như một căn bệnh trầm kha, không ai chữa trị và cũng không ai muốn chữa trị. Ngay cả việc nói đến nó không thôi, người ta cũng phải e sợ đủ thứ chuyện thì nói gì đến việc chữa trị. Khoan nói đến lý do của trạng huống tâm lý này. Chỉ cần ghi nhận, trạng huống tâm lý này phản ảnh một thái độ tiêu cực mà hậu quả là chính Phật Giáo bị thiệt thòi chứ không ai khác. Làm thế nào mà PGVN có thể vươn mình trỗi dậy làm ngọn đuốc soi sáng cho đời khi mà các trạng huống tâm lý này cứ mãi đè nặng nơi một đa số thầm lặng - những người từng hoài bão nhiều cho Phật Giáo? Làm sao mà PGVN có thể mở rộng được cánh cửa tương lai để đi tới khi mà nó cứ phải trói buộc mình vào cái tâm cảnh của một nỗi e sợ kỳ cục như thế này?

Hẳn nhiên là PGVN sẽ vẫn còn đó. Còn đó trong tâm hồn của con người Việt Nam dẫu cho người ta vô tình hoặc cố ý không biết đến sự có mặt của nó chăng nữa vì nó đã như nước thấm sâu vào lòng đất. Còn đó trong đời sống trí tuệ của con người Việt nam vì nó vốn không phải là một tôn giáo sống bằng những hình thức tín ngưỡng dị đoan; lại càng không phải sống bằng những hứa hẹn và đe dọa hão huyền mà vì nó vốn là tôn giáo của Trí Tuệ, là con đường chân thực đưa tới Sự Thực. Dẫu cho thế gian này có bị thiêu hủy hay chìm trong tăm tối vì sự tham tàn và ngu muội của con người chăng nữa thì Sự Thực vẫn là Sự Thực và con đường chân thực đưa tới Sự Thực vẫn là con đường chân thực đưa tới Sự Thực. Nhưng còn đó như thế nào là điều mà chúng ta nên nghĩ tới. Còn đó như một ngọn đuốc soi sáng cho đời hay như một cục than bị vùi lấp giữa đống tro tàn? Còn đó như một sức mạnh văn hóa mở đường đi tới cho con người hay như một bảo vật trong viện bảo tàng? Đó là những câu hỏi đặt ra cho những người còn ít nhiều hoài bão cho Phật Giáo Việt Nam lúc này, khi mà các trạng huống tâm lý nói đến trên đây đang đè nặng trên tâm hồn của người con Phật Việt Nam ở bên này và bên kia. Đó cũng là những câu hỏi đặt ra một thái độ cần có như một bước đầu cho những chuẩn bị nghiêm chỉnh để đi tới ở ngày mai.

Thái độ đó là gì? Là sự rời bỏ trạng huống tâm lý e sợ đã nói để có đủ can đảm nhìn lại mình như một tác nhân chủ yếu quyết định cho con đường đi tới của PGVN giữa hoàn cảnh ngổn ngang này. Hoàn cảnh ngổn ngang của lịch sử, của đời sống chính trị, văn hóa, kinh tế, xã hội… của đất nước trong mấy thập niên qua đã từng tác động mạnh mẽ - và chắc chắn cũng sẽ còn tác động mạnh mẽ - lên tấm thân của Phật Giáo. Nhưng hoàn cảnh y báo ấy, trong ánh sáng của giáo lý Phật, vốn không thể tách rời và càng không là năng lực chủ động quyết định cho tự thân chánh báo. Chúng ta cần nhận ra điều này để không tự ru ngủ mình và không phải tập trung tất cả thì giờ, năng lực cho những việc làm, dù có thân thiết, nhưng chưa phải là điều thiết cốt. Truy tầm những lý do cho bệnh trạng ở bên ngoài và đặt vào đấy trách nhiệm về bệnh trạng trong khi vi trùng thì ở ngay thân mình – như nhiều người đã làm một cách rất năng nổ - dù có thể là một điều rất nên, rất đáng nhưng chắc chắn là không đủ để chữa trị bệnh trạng. Đó là chưa kể đến, việc lo đối phó với hoàn cảnh ngổn ngang đến độ trở thành một vật kéo của chiếc xe hoàn cảnh thì lại còn tệ hại hơn cả hoàn cảnh tệ hại vì nó chính là cách tự đánh mất mình, tự hủy diệt mình một cách nhanh và gọn nhất. Đã không cứu được mình, đã tự đánh mất mình, tự hủy diệt mình như thế thì còn nói gì đến chuyện cứu ai bây giờ! 

Phật Đạo giữa thế gian là Bồ Tát Đạo. Trên con đường hoạt dụng của Bồ Tát ấy, người con Phật phải lấy Bồ Đề Tâm làm động cơ căn bản. Nhưng Bồ Đề Tâm chỉ có thể phát khởi khi có được thâm tâm và trước hết, là có được trực tâm. Trực tâm là cái tâm ngay thẳng, chất trực, không quanh co trá ngụy, không tự dối mình và dối người. Đó là cái tâm không e sợ, can đảm nhìn thẳng vào mình như một tác nhân chủ yếu để thấy ra đâu là cái gốc của bệnh, cái mầm của loạn. Đó chính là cái tâm quy định cho một thái độ cần thiết, bước đầu cho sự lên đường trở về tìm lại chính mình để cho Phật Giáo đúng là Phật Giáo chứ không phải là một cái gì khác mang danh Phật Giáo. 

 

HIỆN TRẠNG CỦA PGVN NGÀY NAY 

Ngoài những thành tựu và đổ vỡ mà ai cũng thấy và đã được nói đến nhiều – không kể đến những tiếng nói phô trương quá lố hay những xuyên tạc dối trá ở bên này và bên kia, PGVN ngày nay như đang ở trong một tình trạng phức tạp vừa có nhiều triển vọng vừa chứa đựng những nguy cơ hiểm họa khó lường. 

1.      Triển vọng trước hết là ở niềm tin Phật của quần chúng. Sau hơn nửa thế kỷ - và có thể kể xa hơn, gần 140 năm nay – dân tộc Việt Nam đã phải ở trong một chu kỳ lịch sử lệ thuộc vào những sức mạnh của thời đại xuất phát từ Tây Phương. Ở đó, những chế độ nối tiếp nhau liên tục đặt Phật Giáo vào trong cái thế của một kẻ bị trị; và vì vậy, bị khống chế và kềm hãm đủ thứ. Lại ở đó, chiến tranh thù hận, độc tài áp bức, sự tuyên truyền có tính cách tẩy não của những ý thức hệ tôn giáo, chính trị đang nắm trong tay sức mạnh của thời đại đã như cùng tập hợp lại để không cho PGVN trỗi dậy; thậm chí, để triệt hủy niềm tin Phật của quần chúng. Nhưng rõ ràng cho đến hôm nay, niềm tin Phật của quần chúng đã không dễ dàng bị triệt hủy và Phật Giáo vẫn còn đó như một tôn giáo của đa số với hơn 50% dân chúng tin theo như thống kê của chế độ đương quyền (vì tính cách lỏng lẻo của các tổ chức Phật Giáo xưa nay, trong thực tế con số này có thể lớn hơn nhiều). Những Lễ Hội Chùa Hương kéo dài trong nhiều tuần lễ với hàng hàng lớp lớp người tín mộ. Những mùa Phật Đản, Vu Lan, Tết Nguyên Đán… tràn ngập khách lễ bái hành hương ở khắp các chùa trên mọi miền đất nước như một cái gì rất xưa bừng sống dậy. Những lễ tang các bậc tôn túc với số người tham dự làm lo ngại cho cả nhà cầm quyền…  

Đó là những gì mà các quan sát viên và những người từng đi về Việt Nam đã chứng kiến và mô tã rải rác trên nhiều trang báo. Dưới những chế độ thực hiện chính sách triệt hủy Phật Giáo cách này cách khác trải dài hơn thế kỷ; những chủ thuyết, ý hệ chính trị xã hội cực đoan luôn đi theo cùng với sức mạnh quân sự, kinh tế của thời đại liên tục tấn công vào thành trì tín ngưỡng của dân tộc; với sự nghèo nàn cố hữu và ngay cả, với những đổ vỡ rạn nức ở ngay bản thân các tổ chức PGVN từ trước đến nay mà niềm tin Phật của quần chúng vẫn còn như vậy thực là một điều kỳ diệu. Điều kỳ diệu này cho phép ta nghĩ được rằng, ít nhất là cho đến lúc này, niềm tin Phật của quần chúng vẫn còn là một tiềm năng lớn, một trong những yếu tố lớn cho một triển vọng có thể có của PGVN ở ngày mai. 

2. Một yếu tố khác đóng góp vào triển vọng của PGVN là đa số trí thức Việt Nam đã từng quay lưng lại với tôn giáo ngày càng tiếp cận với Đạo Phật; và càng tiếp cận thì càng có khuynh hướng quay về với Phật Giáo do bởi nhận ra rằng, Đạo Phật thực sự không giống với các tôn giáo khác. 

Không giống với các tôn giáo khác. Sự thực này được nhìn ra là một yếu tố có tính cách quyết định cho thái độ và khuynh hướng của người trí thức Việt Nam ngày nay. Tôn giáo là một thực thể của xã hội loài người. Lịch sử văn minh, văn hóa của con người đã có không ít những đóng góp của tôn giáo. Nhưng đồng thời, ở một mặt, tôn giáo cũng đã đóng góp không ít vào những thảm họa lịch sử. Lịch sử còn đó, những cuộc chiến tranh tôn giáo được gọi là Thánh Chiến (The Holy War) trải dài trong thời Trung cổ ở Âu Châu. Lịch sử cũng đang phơi bày những cuộc chiến tranh diễn ra trong thời cận và hiện đại ở khắp nơi trên thế giới có động cơ tôn giáo, những chiến tranh ở Trung Đông, Ái Nhĩ Lan, ở Ấn Độ, Phi Luật Tân, ở Phi Châu... Đó là chưa kể đến những thảm kịch Jonestown, Waco…, mặc dù trong một phạm vi nhỏ hơn, nhưng đã là những biểu hiện lòng cuồng tín tôn giáo đến độ làm ngạc nhiên, bàng hoàng cả những kẻ còn mê tín vào tôn giáo. Đó cũng là chưa kể đến những cuộc hôn nhân khác tôn giáo đã phải bị ép uổng hoặc gãy đổ khiến nhiều người phải đau khổ thế nào; và còn nữa, những tín điều, giáo điều, những lời phán truyền đầy dẫy trong các sách sử tôn giáo mà ngay cả người có đầu óc bình thường cũng không thể không đặt lên câu hỏi về bản chất và ý nghĩa của tôn giáo.  

Giữa bầu khí tôn giáo cần và đang được tra vấn đó thì Phật Giáo như riêng mình một cõi. Không từng can dự vào bất kỳ một cuộc chiến tranh tôn giáo nào xưa nay, không từng đẩy con người đến chỗ cuồng tín ở bất cứ đâu, không chứa đựng một điều gì huyền mị trong kinh sách – ngoài những biểu lộ cảnh giới của tâm linh mà con người chưa vươn tới được. Cho nên, không chỉ là yếu tố Thần (Gods) làm cho Phật Giáo khác với các tôn giáo khác mà ngay cả thực tế lịch sử và đời sống tín ngưỡng, người ta cũng không thể dùng định nghĩa và khái niệm tôn giáo chung chung đem áp dụng cho Phật Giáo. Không phải là vấn đề hơn hay thua, mạnh hay yếu nhưng rõ ràng là, Phật Giáo thực sự khác biệt với các tôn giáo khác. Điều này có ý nghĩa rất lớn nếu ta hiểu được cái lý do mà người trí thức Tây Phương ngày càng ngưỡng mộ Phật Giáo và tìm đến để học hỏi.

Người trí thức Việt Nam ngày nay, trong buổi hoàng hôn của những chủ nghĩa, ý hệ hoang tưởng một thời được tôn thờ đưa đến những đổ vỡ trong tâm hồn và đời sống, phải đứng trước ngã ba đường để đi tìm một nền tảng tư tưởng và đạo lý cho cuộc sống. Các tôn giáo dễ dàng là các cửa ngõ cho một lựa chọn mới này. Ở đó, Phật Giáo hiện ra như một tôn giáo của Từ Bi, Bất Bạo động, của Trí Tuệ, Hỷ Xả - khác biệt với tất cả các tôn giáo khác trên mặt tư tưởng cũng như trên thực tế lịch sử, sẽ trở thành một cửa ngõ cho những tâm hồn khao khát sự an lạc và những đầu óc khát vọng chân lý. Một số không nhỏ các nhà trí thức Việt Nam ở Việt Nam và ở hải ngoại đang tìm về với Phật Giáo như một lựa chọn mới này, và đã có không ít những đóng góp trí tuệ vào ý hướng xây dựng một nền tảng tư tưởng và đạo lý cho dân tộc Việt Nam giữa lúc tinh thần chao đảo hiện nay.

Những biểu hiện cho khuynh hướng trí tuệ tìm về Phật Giáo này đang quy tụ ở nhiều nơi: Ở Việt Nam, các thiền viện dưới sự hướng dẫn của Thiền Sư Thanh Từ, các trường Cao Cấp Phật Học, các Viện Nghiên Cứu Phật Học và ngay cả trong một vài sinh hoạt của Viện Khoa Học Xã Hội mấy năm lại đây mà buổi Hội Thảo về Tuệ Trung Thượng Sỹ là một điển hình… Ở hải ngoại, Làng Mai dưới sự hướng dẫn của Thiền Sư Nhất Hạnh, và các chi nhánh của nó ở nhiều nơi, các tạp chí Phật Giáo hoặc có màu sắc Phật Giáo mà đường hướng nhiều khi rất khác biệt nhau (Phật Giáo Việt Nam, Giao Điểm, Tin Phật, Hoa Sen, Chân Nguyên, Bông Sen, Viên Giác, Phật Giáo Hải Ngoại…)

3.      Một triển vọng đáng kể khác là những trung tâm tu học được thiết lập với những truyền thống tu tập được xây dựng, tái tạo hoặc cách tân. Như xương sống của cơ thể, những trung tâm tu học và truyền thống tu tập đã là yếu tố quyết định tối hậu cho lịch sử hưng vong của Phật Giáo xưa nay. Thử tưởng tượng, Phật Giáo Trung Hoa mà không có các bậc Cổ Đức đời đời nối tiếp thiết dựng các Đạo Tràng Dịch Kinh, Giảng Kinh, nói Pháp, lập thành các Pháp môn tu tập Thiền, Tịnh và các Tòng lâm hướng dẫn đồ chúng tu tập thì di sản của Phật Giáo Trung Hoa còn có gì? Như Phật Giáo Nhật Bản, không phải là Tổng Hội Phật Giáo Nhật Bản - thường được xem là cơ cấu đại diện cho Phật Giáo - nắm mạng mạch của Phật Giáo ở đây mà chính là hệ thống các Tông Phái với những sắc thái linh hoạt và truyền thống tu tập khác nhau được giữ gìn đã tạo nên các sức sống cho Phật Giáo xứ này. Phật Giáo Tây Tạng ngày nay là một ví dụ rõ nét khác. Trong khi Tây Tạng đang phải chịu đựng một trong những thảm kịch đau thương nhất của lịch sử các dân tộc mà tương lai chưa biết thế nào thì Phật Giáo Tây Tạng, theo cùng tình cảnh lưu vong của một phần dân tộc họ, lại đang ảnh hưởng lớn trong đời sống tâm linh và trí tuệ của con người ở Tây Phương. Được vậy không chỉ vì những huyền thoại được nói nhiều về xứ này; cũng không chỉ vì những hình thức khá kỳ dị trong sinh hoạt tôn giáo của họ (vì huyền thoại và những hình thức nếu có làm cho người ta lưu tâm đến thì cũng chỉ nhất thời) mà chính là ở cốt tủy, Phật Giáo Tây Tạng còn đó những truyền thống tu tập với những kinh nghiệm tâm linh thực sự.

Phật Giáo Việt Nam, ít ra là từ 1963 trở về sau, đã bị cuốn hút vào cơn lốc của thời thế để không có được sự quan tâm đúng mức, nói gì đến việc đáp ứng nhu cầu sinh tử nầy của Phật Giáo. Dù chúng ta có đó, những đời sống tâm linh tỏa sáng thành những tấm gương đạo hạnh đáng ngưỡng mộ nhưng đó chỉ là những trường hợp cá biệt; chúng ta cũng có đó những Tu Viện, Phật Học Viện nhưng nề nếp tu học và sinh hoạt không đủ để tạo nên những truyền thống tu tập cho hơn một thế hệ. Phải đợi đến sau này, trong nghịch cảnh nhiễu nhương của vận nước, vận đạo, PGVN mới có được những bậc tôn túc quan tâm và thực hiện những trung tâm tu học và xây dựng lại những truyền thống tu tập. Các Thiền Viện ở trong nước với Thiền Sư Thanh Từ quy tụ đông đảo đồ chúng đang làm sống dậy bầu khí tu Thiền, kết hợp truyền thống Tổ Sư Thiền ở Trung Hoa với truyền thống Thiền Trúc Lâm đời Trần của Việt Nam. Trước và song song với nó, và trên những phạm vi ảnh hưởng nhỏ hơn, có những Đạo Tràng Liên Hữu tu tập Tịnh Độ, pháp môn Niệm Phật Công đức rải rác ở Trung và Nam.

Trong khi ở hải ngoại, Làng Mai ở Pháp trở thành một trung tâm Thiền nổi tiếng với Thiền Sư Nhất Hạnh, đưa phương pháp Thiền trong truyền thống Kinh Tạng Phật giáo áp dụng vào cuộc sống của con người xã hội hiện nay, quy tụ hằng năm rất nhiều người từ khắp nơi trên thế giới và từ những truyền thống tôn giáo khác nhau đến tu học. Có nhiều nhóm Thiền sinh Việt Nam và ngoại quốc đang áp dụng phương pháp Thiền tập này và sinh hoạt tu tập khá đều đặn. Có những nơi vận dụng phương pháp Thiền tập này kết hợp với nề nếp tu tập vốn có ở Việt Nam trước đây như ở một số chùa, Tu Viện tại miền Bắc California, Texas, Massachusetts…

Việc tái dựng các truyền thống tu tập với sự có mặt của các trung tâm tu học nói trên là một yếu tố đáng khích lệ lúc này khi nhìn về viễn ảnh của PGVN ngày mai. Càng đáng khích lệ hơn khi quần chúng Phật tử ngày càng qui tụ về các trung tâm tu học, thể hiện tấm lòng thiết tha cầu tu, cầu học và đưa sự tu học trở thành một nhu cầu thiết yếu trong cuộc sống. Tu học trở thành một nhu cầu, đó hẳn là một dấu hiệu có tính cách quần chúng đáng mừng nhất trong hai thập niên cuối của thế kỷ này. Mặc dù không ồ ạt nhưng tác động tích cực và thầm lặng của nó vào con đường đi tới của PGVN chắc chắn sẽ được thấy rõ về lâu về dài sau này.

4. Cũng là những yếu tố tích cực góp phần vào triển vọng của PGVN là những thành tựu trong một chừng mực nhất định của hai tổ chức Giáo Hội hiện nay ở Việt Nam.

Không kể đến những thành tựu trước năm 1975, Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất (GHPGVNTN), trong mấy năm lại đây, đứng trên vị trí cố hữu của mình, đã lên tiếng cho những khát vọng của dân tộc và của chính Phật Giáo. Đặt trong vị trí của một tổ chức tôn giáo lớn mà lại không thể công khai hoạt động và trong liên hệ với cảnh ngộ chung của dân tộc, sự lên tiếng của GHPGVNTN phải được xem là can đảm và cần thiết. Can đảm bởi vì sự lên tiếng đó đã phải trả giá bằng giá của nhiều hy sinh, ngay cả hy sinh thân mạng. Và đó là một trong những cách thế biểu lộ tinh thần xứng đáng được ngưỡng mộ của người Phật Tử Việt. Cần thiết vì nhu cầu chuyển hóa đất nước đòi hỏi phải có những tiếng nói khác với tiếng nói của người cầm quyền, những tiếng nói xuất phát từ người dân bị áp bức bất công và nói là nói cho những khát vọng của họ. Cũng cần thiết vì nó góp phần khẳng định con đường của PGVN khi đối diện với cái khổ của con người – con đường không nằm ở bên này hay bên kia mà vượt qua tất cả mọi thế đối nghịch tương tranh của con người trong những hoàn cảnh lịch sử nhất định. Tiếc thay, tiếng nói của lương tâm đó đã không được nghe một cách nghiêm chỉnh như chính nó. Nhưng dù không được nghe một cách nghiêm chỉnh lúc này thì âm hưởng của tiếng nói đó cũng sẽ còn để góp phần định hướng cho con đường đi tới của PGVN giữa những tình thế còn nhiều phức tạp sau này.

Trong khi đó, Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam (GHPGVN), trong những giới hạn lịch sử và tính chất của nó, cũng đã có những thành tựu đáng kể. Không nói đến những chùa chiền được tái tạo và xây dựng – không hẳn là do Giáo Hội này, GHPGVN ít nhất đã làm được hai điều có ý nghĩa lớn:

Một là đã thực hiện được hệ thống các trường Phật Học từ Cơ Bản đến Cao Cấp và từ Nam đến Bắc để đào tạo các thế hệ Tăng sĩ cho ngày mai. Hẳn nhiên còn nhiều giới hạn trong việc tổ chức, trong nội dung chương trình và phương pháp giáo dục và vì vậy, liên hệ đến phẩm chất đào tạo, nhưng sự hình thành một hệ thống như vậy với số lượng Tăng ni sinh theo học đông đảo đã là điều có ý nghĩa lớn cho sau này. Nó chứng tỏ tấm lòng thiết tha với tương lai của PGVN của những nhà lãnh đạo Giáo Hội này; và chắc chắn thành quả đào tạo của nó sẽ góp phần quyết định cho tương lai của PGVN như tấm lòng hoài bão của những người đã ra công thực hiện.

Hai là Giáo Hội này đã tổ chức và thực hiện được bước đầu, Đại Tạng Kinh Việt Nam. Đây là một nỗ lực không chỉ tùy thuộc vào tài chánh mà còn vào khả năng trí tuệ trên nhiều lãnh vực nghiên cứu, dịch thuật mà nếu không tập hợp được các khả năng này thì không dễ làm gì được. Trong khi Phật Giáo ở các nước Trung Hoa, Nhật Bản, Tây Tạng, Đại Hàn và phần lớn các nước trong truyền thống Nam truyền đã có Đại Tạng từ lâu; và ngay cả Âu Mỹ mà lịch sử du nhập và phát triển Phật Giáo đang còn mới mẻ nhưng công trình dịch thuật, nghiên cứu kinh điển Phật Giáo đã hết sức đồ sộ thì gia tài của PGVN, trên lãnh vực này, thực là ít ỏi. Cho nên, việc thực hiện Đại Tạng Kinh Việt nam là một đóng góp lớn vào sự nghiệp trí tuệ đang còn nghèo nàn của PGVN và là một công trình cần thiết cho những thế hệ học Phật ở Việt Nam hôm nay và ngày mai.

Những yếu tố đáng kể cho nhìn ra triển vọng của PGVN là đó. Nhưng bên cạnh và ngay nơi một số yếu tố đầy triển vọng này, PGVN cũng đang có nhiều nguy cơ hiểm họa.

1. Một đa số quần chúng Việt Nam vẫn còn niềm tin Phật nhưng đó là niềm tin có quá nhiều tính chất tiêu cực và có nhiều những tác động tiêu cực ở ngoài vào trong khi không có nhiều những nỗ lực điều hướng và giữ gìn niềm tin này ở các tổ chức Phật Giáo. Niềm tin Phật đó vốn không đơn thuần mà bị pha trộn với nhiều hình thái tín ngưỡng dân gian đầy những mê tín và dị đoan. Tin Phật, tin nhân quả đó nhưng cũng tin vào bói toán, cầu đảo, vào sự thưởng phạt của đủ loại thần, thánh, ma, quỷ; và vì vậy, Đạo Phật vốn là đạo của Trí Tuệ, đã và đang còn bị nhìn bởi một số đông người như là Đạo của mê tín, dị đoan, hủ lậu. Ở miền Bắc – như được ghi nhận bởi nhiều người - niềm tin Phật của quần chúng trỗi dậy mạnh mẽ nhưng đồng thời cũng mạnh mẽ không kém, sự trỗi dậy của nhiều hình thức tín ngưỡng dị đoan của nhiều người “làm ăn” ở những hình thức tín ngưỡng này. Trong quá khứ, những hình thức này có thể đã là cái thành trì tín ngưỡng chống đỡ lại sức công phá của những giáo điều, tín điều ngoại nhập vốn cũng mê tín và dị đoan không kém.

Nhưng trong tương lai không xa, đất nước đi vào con đường Tây phương hóa, như một điều không thể tránh – ít ra là trên mặt kinh tế - con đường lấy dục vọng làm động cơ thúc đẩy và vì vậy có sức cám dỗ mãnh liệt và kéo theo nó là cả những thành quả của khoa học, kỹ thuật làm thay đổi não trạng và khuynh hướng sống của con người, một đạo Phật gắn liền với những mê tín, dị đoan chắc gì không bị lung lay, nghiêng đổ? Một Đạo Phật mê tín bị lung lay, nghiêng đổ chẳng có gì là đáng tiếc – đáng mừng là khác – nhưng nghiêng đổ để rồi, không có một Đạo Phật chánh tín thay vào thì không chỉ là một nguy cơ suy tàn của Phật Giáo mà còn là cả một hiểm họa cho dân tộc trên mặt đạo đức. Một Đạo Phật chánh tín cho quần chúng không có, nguy cơ đó không phải trách nhiệm ở quần chúng mà là ở những người đang giữ gìn mạng mạch của Phật Giáo ngày nay.

Cũng trong viễn tượng của một xã hội Việt Nam có nhiều thay đổi và thay đổi với một tốc độ rất nhanh, những hiện tượng tiêu cực trong Phật Giáo hiện nay - đặc biệt là ở cơ cấu tổ chức và ở giới Tăng sĩ trên cả hai mặt phẩm chất đạo đức và khả năng - nếu không sớm điều phục thì chỉ trở thành đối tượng cho những khai thác không mấy lương thiện của nhiều thế lực khác mà thời nào cũng có, góp phần lay đổ niềm tin Phật của quần chúng và mở lớn cơ nguy suy tàn của PGVN mà thôi.

Ngay với một thành phần không nhỏ giới trí thức Việt Nam đang tìm về Phật Giáo như tìm về một nền tảng tư tưởng và đạo lý cho đời sống cũng sẽ không làm gì được nếu như Phật Giáo không có được môi trường thích hợp cho những sinh hoạt trí tuệ; và nếu như giới này chỉ thấy được cái hay của Đạo Phật trong kinh sách và trong quá khứ mà không thấy được cái hay của Đạo Phật trong hiện thực đời sống và xã hội trước mặt. Chánh Pháp, cuối cùng, may lắm thì chỉ còn với một số cá nhân mà không thể trở nên ngọn đuốc hướng đạo cho đời sống tinh thần của ngay cả quần chúng Phật tử, nói gì đến xã hội.

2. Nguy cơ suy tàn trên đây vốn liên hệ tới vai trò của các tổ chức Phật Giáo và phẩm chất của người Tu sĩ Phật Giáo.

Tổ chức Phật Giáo trong mấy mươi năm nay cứ như một tấm thân ốm yếu bệnh hoạn lại cứ phải đắm trong một bầu không khí ô nhiễm. Ốm yếu, bệnh hoạn vì như chưa bao giờ Phật Giáo Việt Nam có được những chuẩn bị đầy đủ cả về lý thuyết lẫn thực tế cho một tổ chức Giáo Hội vừa muốn giữ lại tinh thần của Tổ chức Tăng đoàn thời nguyên thủy; vừa muốn có đủ giáo quyền để đảm nhiệm tất cả các mặt thế trị phức tạp như các tổ chức tôn giáo ở Tây Phương. Rõ ràng đây là một ý hướng nhằm giải đáp những yêu cầu đặt ra cho một tổ chức tôn giáo trong xã hội hiện nay; và ở trường hợp của PGVN, còn là cái yêu cầu bức thiết của hoàn cảnh lịch sử lâu đời không cho phép PGVN thu mình lại trong bốn bức tường của Thiền môn. Nhưng rõ ràng, hai ý muốn đó chứa đựng một nghịch lý đã không được trả lời thỏa đáng trên thực tế. Và vì vậy mà, Tăng đoàn trở nên lỏng lẻo trong đời sống hành trì và tổ chức Giáo Hội thì không đủ sức chủ động được các mặt thế trị phức tạp.

Tăng đoàn trở nên lỏng lẻo vì thiếu đi cái xương sống của nó là những truyền thống tu tập - điều mà một tổ chức Giáo Hội – dù cho có đủ giáo quyền đi chăng nữa – không thể đảm nhiệm được. Sự thiếu vắng những truyền thống tu tập, ngoài hai thời công phu và khóa lễ Tịnh độ ở các chùa, viện, đã làm cho đời sống người Tu sĩ thiếu nội lực tâm linh và phẩm chất người Tu sĩ ngày càng yếu kém trên cả hai mặt đạo đức và khả năng. Thiếu nội lực và yếu kém phẩm chất mà lại mang thân vào đời để đảm nhiệm các mặt thế trị phức tạp của một tổ chức Giáo Hội như yêu cầu mong muốn thì thật khó tránh được cái “họa sát thân”. Cái họa đã rõ, ít ra là từ sau 1963 đến nay. Ngoại trừ một số vị giữ mình nghiêm mật, còn một số lớn khác đã không tránh được cái “bả lợi danh” của thế tục. Hỡi ôi! Đức Phật như một gương mẫu vẹn toàn đã vức bỏ tất cả để thành tựu được tất cả mà ngày nay, một số Tu sĩ hành đạo lại chỉ muốn ôm giữ tất cả để phải mất tất cả thì làm sao mà Phật Giáo thoát cảnh suy tàn! Một giáo lý cao đẹp chứa đầy tinh thần Từ Bi, Trí Tuệ, Vị Tha, Vô Ngã… mà ngày nay, một số người con Phật càng sống, càng hành đạo thì bản ngã như lại càng to, càng lớn, càng thích loạn ngôn và múa may trên sân khấu đời. Nguy cơ khó tránh được là vậy.

Các tổ chức Giáo Hội, cũng vì vậy mà không chủ động được các mặt thế trị phức tạp. Trái lại, chính các mặt thế trị này lại lôi cuốn các tổ chức Giáo Hội vào trong vũng lầy của nó để có muốn dứt ra cũng không được. Hậu quả là, các hoạt động của Phật Giáo trên các mặt thế trị bị rơi vào trong những cực đoan bên này, bên kia trong cái thế đối nghịch của hoàn cảnh lịch sử và xã hội; để cuối cùng, nhiều khi không tránh được cái thảm cảnh “gà nhà bôi mặt đá nhau”. Con đường của Phật Giáo vốn là Trung Đạo, là con đường vượt trên và vượt qua các cực đoan đối nghịch trong tư tưởng và hành động và chỉ như vậy mới hiện thực được mục đích của nó giải thoát con người khỏi mọi sự ràng buộc đau khổ. Thì ở đây, các tổ chức Giáo Hội lại cứ bị du vào cái thế “mua dây buộc mình”. Đối nghịch giữa tổ chức này với tổ chức khác là điều khó tránh dù cùng là Phật Giáo với nhau. Càng khó tránh hơn là cái hiện tượng đối nghịch xung khắc ngay trong cùng một tổ chức Phật Giáo. Bởi vì, ở đây – như mọi tổ chức thế tục của con người – các mâu thuẫn về quan niệm, khuynh hướng, sở thích và tánh khí của cá nhân không lúc nào mà không phát sanh; và khi không có gì chế ngự được nó thì mâu thuẫn trở thành xung khắc đối nghịch.

Đường lối chính sách của tổ chức Phật Giáo, nếu có, cuối cùng chỉ có trên lý thuyết, còn trong thực tế thì hoàn toàn tùy thuộc vào khuynh hướng, sở thích, cảm tính của các cá nhân lãnh đạo, điều hành và theo sự tác động, ảnh hưởng, chi phối ở bên ngoài vốn đã đầy những trang chấp, đối nghịch. “Dở hay âu cũng tính trời, biết sao!” Đó là căn bệnh trầm kha của các tổ chức Phật Giáo. Ba cửa thanh tịnh của nhà Phật, Không, Vô Tướng, Vô Tác như chỉ còn trên trang kinh để thay vào đó, ba cửa Hữu (Tham), Tướng (Sân), Tác (Si) mở rộng để cho ngôi nhà Phật Giáo tràn ngập các mùi vị của thế tục; và sinh lực của nó bị cuốn trôi vào những hoạt động thế tục. Mối nguy thực đã quá rõ. Càng nguy hơn khi nó phải đắm mình trong một bầu không khí ô nhiễm của lòng người ly tán vì sự ngăn cách của đủ thứ cảnh ngộ và chướng ngại; của hoàn cảnh chính trị, xã hội nhiễu nhương và của bao nhiêu thế lực chỉ muốn lợi dụng và biến Phật Giáo thành con cờ của họ.

3.              Một mối nguy khác có tính cách lịch sử giai đoạn nhưng lại ở trên một quy mô lớn, ảnh hưởng toàn diện lên các sinh hoạt của PGVN hiện nay là sự hiện diện song hành của hai tổ chức Giáo Hội ở Việt Nam: Giáo Hội PGVN Thống Nhất và Giáo Hội PGVN. Mặc dầu cả hai Giáo Hội đều có những đóng góp có ý nghĩa như đã nói; *và mặc dầu, đứng ở những vị trí khác nhau, người ta có thể có những cái nhìn khác nhau về mỗi Giáo Hội; nhưng, ngay cả sự hiện diện song hành của hai Giáo Hội vốn đã tiềm ẩn những cơ nguy khó lường.

Không như mối liên hệ kiểu “ai tu phận nấy” giữa các tổ chức Tông phái với những truyền thống, pháp môn tu tập khác nhau - điều mà PGVN có nhưng đang thiếu, đang cần. Cũng không như mối liên hệ thân hữu dễ dàng được thiết lập giữa các tổ chức Giáo Hội tập hợp các thành phần khác nhau và sinh hoạt trong những môi trường, khu vực khác nhau của cùng một tôn giáo - điều mà PGVN có nhưng đang thiếu, đang cần. Cũng không như mối liên hệ thân hữu dễ dàng được thiết lập giữa các tổ chức Giáo Hội tập hợp thành các thành phần khác nhau và sinh hoạt trong những môi trường, khu vực khác nhau của cùng một tôn giáo - điều mà PGVN cũng đã từng có và không bao giờ phải trở thành vấn đề. Mối liên hệ giữa GHPGVN và GHPGVN TN có nhiều yếu tố phức tạp, tế nhị lại chịu sự tác động nặng nề của tâm cảm và hoàn cảnh chính trị không mấy “xuôi chèo mát mái” của đất nước; và vì vậy mà trở thành vấn đề. Một bộ phận lớn của GHPGVN là GHPGVNTN. Nhưng không vì vậy mà ta có thể nói, đây là hai Giáo Hội anh em dù giữa hai Giáo hội có nhiều thầy trò, anh em với nhau. Một Giáo Hội thì ép mình theo thời thế để duy trì mối đạo; và vì vậy làm được nhiều việc nhưng cũng chịu nhiều nỗi đắng cay. Một Giáo Hội thì không chịu ép mình theo thời thế để nói tiếng nói cho những bất công, áp bức nên không làm được gì nhiều nhưng khẳng định được tinh thần có tính cách truyền thống của người Phật tử Việt Nam. Hai Giáo Hội biểu lộ hai thái độ phản ứng có tính cách nghịch hướng trước thời thế; và cả hai thái độ đều có những lý do thích đáng của nó.

Việc nhận ra những lý do thích đáng này để bao dung được nhau không phải là điều khó, nếu ta vượt qua được những xúc cảm nhất thời và không để cho những tác động tiêu cực ở bên ngoài chi phối để nhìn ra được Con Đường Lớn của PGVN giữa những nghịch cảnh vốn đã rất đau long. Tiết thay, tác động tiêu cực của các thế lực bên ngoài quá nặng, kích động các mối xúc cảm nhất thời khiến cho việc nhìn nhận nhau, bao dung nhau thành khó. Càng khó hơn khi có một số người - ở cả hai - đứng hẳn vào trong quỹ đạo của các thế lực này để kết án lẫn nhau, tạo nên các màn “chỉ điểm, đấu tố” nhau một cách kỳ cục, khó coi chưa từng có trong lịch sử Phật Giáo. Đó là mối nguy thứ nhất đã được thấy của hiện trạng song hành hai Giáo Hội.

Giáo Hội nào cũng có thầy. Thầy nào - bất kể chánh hay tà, chân hay ngụy, đấu tố hay bị đấu tố - cũng có một số người theo. Theo để học đạo. Đó là điều quá quý và không có gì để nói. Điều đáng nói là, những người theo để lợi dụng hoặc bị lợi dụng hoặc theo vì cảm tính hay vì chút liên hệ nào đó. Mối nguy nói đến trên đây sẽ không còn giới hạn trong một vài cá nhân liên hệ mà đã và sẽ mở rộng ra trong quần chúng đi theo này. Quần chúng lại là lớp người dễ bị kích động tâm lý - nhất là lúc nào cũng có sẵn người làm công việc kích động này và ở trong bầu khí đầy nghi kỵ, tranh chấp, thù nghịch bởi nhiều cảnh huống phân ly hiện nay. Đến đây thì không chỉ là tình trạng ngăn cách, phân hóa, bất hợp tác giữa các khuynh hướng Phật Giáo mà là sự xung khắc thù nghịch giữa các khối lực quần chúng Phật Tử. Sẽ có nhiều lý lẽ để biện minh cho sự xung khắc, thù nghịch này của mỗi bên - nhất là cái lý lẽ nhị nguyên phi Phật Giáo “chánh-tà, chân-ngụy” đã được nói đến nhiều. Nhưng điều đó có ích gì hay chỉ xé nát và chôn vùi Phật Giáo trong bầu khí hận thù ở khắp mọi nơi và di lụy lâu dài cho các thế hệ Tăng ni và Phật tử mai sau. Đó là mối nguy thứ hai mà hiện trạng song hành hai Giáo Hội đã và sẽ chỉ làm cho nó ngày một thêm rộng, thêm sâu.

Ngay đến đặt sự hiện diện hai Giáo Hội này vào một hoàn cảnh bình thường – nghĩa là như tất cả mọi tổ chức trong xã hội, “đường ai nấy đi” để không có nữa, các màn đấu tố và thái độ thù nghịch nhau – điều tốt đẹp nhất mà có người đã nghĩ tới và mong muốn – thì vì những liên hệ phức tạp của chúng, sự hiện diện song hành này cũng không thể trở thành bình thường. Chỉ những mặc cảm, thành kiến sâu dày đã có không thôi mà lại ở vào tình trạng “không thể không gặp nhau” trong đời sống và trên các mặt hoạt động vì những liên hệ và tánh cách của nó, những va chạm thường xuyên là điều không thể tránh. Cũng là hoạt động từ thiện xã hội cho cùng một đối tượng nạn nhân đó mà gặp nhau không thể “tay bắt mặt mừng”như với một tổ chức tôn giáo khác cũng đã là khó nói, cũng đủ tạo nên những dư luận không mấy tốt đẹp và sự hoang mang dao động trong quần chúng huống gì những va chạm khó tránh. Oán tằng hội khổ là vậy. Rồi với những cơ sở hiện nay của Phật Giáo và những cơ sở mà bên này, bên kia đang đòi hỏi trả lại cho Phật Giáo, việc xác định chủ quyền của nó thuộc Giáo Hội này, Giáo Hội kia cũng không phải là điều giản dị; và ai đảm bảo, sẽ không có những tranh chấp làm tổn thương cho Phật Giáo sau này? Đó là mối nguy “tốt nhất” của hiện trạng song hành hai Giáo Hội.

 

TRƯỚC NGƯỠNG CỬA THẾ KỶ 21

Đất nước Việt Nam đang thay đổi. PGVN cũng không thể ở mãi trong tình trạng như hiện nay. Nhưng thay đổi như thế nào?

Phật Giáo là một tôn giáo không có giáo điều nên là tôn giáo có khả năng thích ứng nhất với mọi đổi thay của hoàn cảnh; lại là một tôn giáo, tự bản chất, không trụ vào bất cứ pháp tướng nào. Ngay cả Pháp tướng Niết Bàn mà cũng không thì huống gì các pháp tướng lịch sử và thời đại mà bản chất của nó chỉ là vô thường, vô ngã, chỉ là không.

Trên bình diện tuyệt đối, “Chánh pháp cũng phải xả hà huống là phi pháp”. Âm vang của lời kinh đủ cho người có chí nguyện tu học và phụng sự Phật Pháp bình thản đi giữa mọi cơ nguy và đau khổ mà sống trọn chí nguyện của mình. Nhưng trên bình diện tục đế của đời sống nhân văn và xã hội và với tất cả những liên hệ duyên khởi, người hoài tâm cho Đạo không thể không nhìn vào những triển vọng và cơ nguy của Đạo trong khi thực hiện chí nguyện của mình. Nhìn vào để thấy, để biết. Biết đường mà đi. Biết cửa mà vào. Biết nguy cho Đạo để tránh. Biết an cho Đạo để làm. Biết tất cả đó là Pháp sinh diệt vô thường để không vướng mắc, kẹt dính vào đâu. Lại biết tất cả đó đều là nơi để thành tựu tất cả công hạnh tu tập để không hề chán nản, để trải lòng, trải thân ra mà trọn nên chí nguyện cho Đạo, cho Đời. Đó là những gì mà các bậc Thầy Tổ xưa đã từng nêu gương để mở ra Con Đường Lớn của PGVN.

Con Đường Lớn của PGVN là gì? 

Đó là con đường không trụ, không bám vào bất cứ cực đoan đối nghịch nào trong mọi hoàn cảnh, mọi nơi, mọi thời. Mạng sống của con người và của lịch sử đã phải bị kềm hãm giữa hai bờ của những cực đoan đối nghịch ngay từ thưở bắt đầu của nó; và vì thế, đã không một ngày nào trên mặt đất mà không có chiến tranh, thù hận. Con đường của Phật Giáo là con đường giải thoát - giải thoát con người khỏi mọi ngục tù của những thành kiến, tà kiến, thiên kiến, biên kiến, ngục tù của những quan niệm, ý hệ cực đoan, những động lực mù quáng đã gieo rắc chiến tranh, hận thù ở khắp nơi. Ý thức về tất cả những tai họa đã có, đang có và sẽ có cho dân, cho nước, cho đạo, PGVN không thể để mình bị kẹt dính vào đâu trong những cực đoan đối nghịch mới có thể hiện thực được con đường giải thoát này.

Đó là con đường không trụ, không bám vào bất cứ một pháp tướng lịch sử và thời đại nào. Mọi pháp tướng đều là không tướng, đều là giả hợp, vô thường, tạm bợ. Những pháp tướng lịch sử và thời đại của PGVN hiện nay đều là những phương tiện để hành đạo, để thực hiện công hạnh độ sanh của người con Phật Việt Nam chứ không thể và không nên là cửa ngỏ cho những lợi danh có tính cách thế tục là đầu mối cho những tranh chấp, tạo thành các cơ nguy cho Đạo. Mặc dù các pháp tướng đều cần thiết và có vai trò của nó – và vì vậy, cần được quan tâm, giữ gìn, xây dựng sao cho phù hợp với tinh thần Phật Giáo, với truyền thống và với nhu cầu của hoàn cảnh, thời đại – nhưng điều thiết yếu không phải là ôm giữ những pháp tướng này mà làm gì, làm thế nào để - bằng vào những pháp tướng đó - hiện thực được Đạo Phật trong đời sống của con người và xã hội cho hôm nay và mai sau. 

Đó là con đường của sự sống - sự sống cụ thể của con người trong những điều kiện tâm sinh lý và môi trường thiên nhiên xã hội, chính trị, văn hóa, kinh tế… của nó. Một Đạo Phật thực sự, vì vậy, không thể không đối diện với những vấn đề của con người - những vấn đề căn bản của hiện sinh cũng như những vấn đề mà hoàn cảnh và thời đại đặt ra cho nó. Đối diện để cung ứng những phương pháp trị liệu và chuyển hóa chứ không phải để tạo thêm vấn đề cho con người. Chỉ với những phương pháp trị liệu và chuyển hóa này mà sự có mặt của Đạo Phật mới thực sự có ý nghĩa.

Trong hoàn cảnh của Việt Nam hiện nay, cái cần có để cho Phật Giáo là con đường của sự sống là một Đạo Phật chánh tín cho quần chúng để đối trị với những mê tín đang còn đầy dẫy; là một nền giáo dục đặt căn bản ở sự tự giáo dục và việc tái dựng những truyền thống tu tập để đối trị với tình trạng sa đọa tâm linh của con người ngày nay – trong đó có cả giới Tu sĩ – đang bị cuốn trôi vào khuynh hướng hưởng thụ và tìm kiếm hư danh; và để có được cho đời, những bậc thầy có chí nguyện và hoài bão, có phẩm cách đạo đức và khả năng làm công việc đối trị và chuyển hóa này. Sau nữa, một sự nghiệp Trí Tuệ của PGVN cần được trân trọng xây dựng bên cạnh những xây dựng khác để cho cuối cùng, PGVN không phải chỉ còn lại những đống tro tàn của một thời ngổn ngang mà còn đó, một ngọn đuốc sáng cho dân tộc tìm lại được Phẩm Giá và thấy được đường đi về sự Thanh Bình, An Lạc và Chân Lý sau khi đã đánh đổi quá nhiều đau thương, mất mát.

Giữa biển trần mờ mịt, đâu chánh, đâu tà, đâu chân, đâu ngụy?  Nói bao nhiêu cũng chỉ là nói mộng huống chi là những cãi cọ với ngôn từ. Kỳ cùng, có lẽ chỉ có sự sống của con người với những đau khổ và hạnh phúc của nó mới cho được câu trả lời đích thực.

Phật Giáo Việt Nam trước ngưỡng cửa Thế Kỷ 21. Triển vọng và cơ nguy. Tất cả đều đang có mặt và đang góp phần. Có Con Đường Lớn của PGVN dẫn con người Việt Nam đến trước ngưỡng cửa thế kỷ 21 hay là chỉ còn đó những trò chơi vẽ vời cảnh thế gian của tâm thức mộng mị trước khi khép lại cánh cửa cửa thế kỷ này? Kỳ cùng, cũng có lẽ, chỉ có người mang cái danh Phật Tử Việt Nam, Tu sĩ hay không là Tu Sĩ, với cái tâm và cuộc sống hiện thể của nó, mới quyết định được cho câu trả lời.

Đem tấm lòng thành viết để hiến cúng Đức Phật và dâng đến những tâm hồn đã từng khóc cười với Phật Giáo Việt Nam. 

  Lý Nguyên Quân

Những ngày cuối năm 1996.

 

 

 

PHẬT GIÁO: SINH LỘ CHO NHÂN LOẠI? 

TINH TIẾN 

Nhân Loại? Lịch sử thành văn ghi lại nhiều chiến tranh hơn hòa bình, nhiều áp bức hơn tự do, nhiều tranh chấp hơn đối thoại… Có thể nào khác được không khi Tham, Sân, Si, Mạn, Nghi và Ác Kiến là sáu thuộc tính bản chất nhất của nhân thể, cũng có nghĩa là từ vô thỉ. Nhưng chỉ là vậy thôi sao, khi nhân loại cũng là Phật tính, là Bồ Tát Hạnh, là các tâm sở Dục như khát vọng tới lý tưởng, Thắng Giải như khả năng Chính Tri, Tinh Tiến như nỗ lực tự vượt mình, Định Tuệ như giải pháp toàn năng… Tương quan của hai thiên hướng nội tại này, hai lực đẩy câu sinh này trong thời đại hiện nay và triển vọng trong thế kỷ 21 sẽ ra sao?

Hãy nhìn thẳng, với mức độ Chân lượng tối đa, vào những gì đưa tới hiện trạng của nền Văn Minh Nhân Loại trong những thập niên cuối này, vì thế có nhiều khả năng và trên nhiều vị thế được kéo dài và khuếch đại cho những năm sau 2000. Muốn viện dẫn cái gì đi nữa, muốn huênh hoang kiểu nào đi nữa, dù truyền thống văn hóa, dù giá trị Châu Á, dù minh triết Phương Đông,… thực tế là toàn cầu đang sống dưới dấu ấn của nền Văn Minh Phương Tây hiện hình trên các lĩnh vực kinh tế, quân sự, chính trị, văn hóa, … nghĩa là trên các lĩnh vực chủ đạo của hiện thực nhân sinh.

Vậy thì ta buộc phải bước nhanh trở xuôi từ…

Thời Trung Cổ Châu Âu đặc trưng hóa bởi sự bỏ quên con người như một cứu cánh cho các hoạt động của chính họ, sao nhãng con người như một homo sapiens đối trước những thách thức của Tự Nhiên. Cái gì mâu thuẫn với Tự Nhiên, cái ấy sớm muộn rồi ra cũng sẽ tiêu vong. Vậy mà Con Người, tạm nói Tham, Nghi; tạm nói Sân, Ác Kiến; tạm nói Si, Mạn như những tiềm phục câu sinh của Chủ Nghĩa Cá Nhân, của lối sống thực dụng, của bạo lực cách mạng. Cho nên thời Phục Hưng, rồi thế kỷ Ánh Sáng, từng bước, qua đấu tranh bằng lý luận và qua lý luận bằng đấu tranh, đã phục hồi và đăng quang cái tư cách Cứu Cánh cái tính năng Lý Trí của Con Người. Trong giai đoạn vinh quang của sự Tiến Hóa chói lọi này, Pascal, Berkeley đã dịch sao lại Lock, Descartes được hỗ trợ cực kỳ hữu hiệu bởi Newton, Darwin. Vả chăng, trên hiện thực lịch sử, đường hướng duy lý và thực dụng, tinh thần nhân bản và duy vật, đã tự biện minh hùng hồn biết bao, qua biết bao những kỳ tích tiến hóa huy hoàng từ trên 300 năm nay trên các lĩnh vực cá nhân và cộng đồng, quốc gia và quốc tế. Làm sao khoa học tự nhiên có thể lớn mạnh đủ để giành hết thắng lợi này đến thắng lợi khác cho Phúc Lợi của Con Người, hay cũng vậy, cho Ngũ Dục: Sắc, Tài, Danh, Thực, Thụy? Làm sao khoa học nhân văn lại có thể trưởng thành đủ để phát triển sâu rộng Dân Chủ, Tự Do, Bình Đẳng trong nội bộ quốc gia như những giải pháp cho cuộc xung đột giữa các tâm sở Phẫn, Hận, Não, Tật… và Giải Đãi, Phóng Dật, Thất Niệm, Bất Tín… nếu Con Người như một thực thể hiện sinh lại bốc hơi trong tư thế bao trùm của một Đấng Toàn Năng được đại diện bởi một thế lực xã hội có, ở đâu cũng vậy, và thời nào cũng thế, có tính Phàm nhiều hơn tính Thánh; nếu Con Người như một hữu thể nhận thức lại bị hóa giải trong ánh hào quang rực sáng của một Đấng Toàn Tri phát biểu qua một thẩm quyền phán quyết bất khả kháng?

Không thể chối bỏ được rằng trong hơn 300 năm qua, trên bình diện hiện sinh, nhân loại đã chế ngự được nhiều tai ương mà trước đó được xem là vô phương khắc phục như đói rét, bệnh tật,…; trên bình diện nhận thức, đã vén mở được bức màn che phủ các thế giới vi mô và siêu vĩ mô mà trước đó được xem là nằm ngoài cảnh giới của sáu Liễu Biệt Thức: Nhãn, Nhĩ, Tỷ, Thiệt, Thân, Ý, tức là ngoài toàn bộ (?) khả năng tri giác và trí tuệ của Con Người. Nhiên liệu vận hành các tiến bộ văn minh này được khai thác trong các kho thiên hướng ngũ dục và lý trí hướng ngoại; và khai thác ngày càng triệt để…

 

Trên lý thuyết, 

Ngũ Dục, đó là phương diện tác dụng của cấu tạo nhân thể “ngô hữu thân” định hình hóa trong khuôn đúc của Cộng Nghiệp và Biệt Nghiệp, hay nói một cách thô thiển theo khoa học, của thể chế xã hội và ADN. Lý trí hướng ngoại, đó là một phương thức phản xạ trí tuệ hay pháp chấp câu sinh và hậu đắc tạo dựng bởi Ý Thức hay Thức Thứ Sáu thao tác trên thông tin, tư liệu của tiền ngũ thức và dựa vào sự đạo diễn của Mạc-na (Manas) hay Thức Thứ Bảy. Ngũ Dục không tự ấn định cho nó một ranh giới cuối cùng và con người hiện đại say sưa buông thả vô hạn độ trong đại dương cực phân biệt của xã hội tiêu thụ. Lý trí hướng ngoại ngày một Mạn và Kiêu trước những thành tích chói lọi thu hoạch trên con đường Làm Chủ Tự Nhiên của nó, từ đó sự tương xung tương khắc ngày càng ác liệt giữa Con Người và, hay cái tưởng đâu là Trí Tuệ Nhân Loại và bên đối tác, Tự Nhiên khách quan.

Ngũ Dục nơi mỗi cá nhân, mà nhiều khi được xếp vào hạng mục Nhân Quyền; Ngũ Dục nơi mỗi cộng đồng, mà nhiều khi được xếp vào hạng mục Tự Quyết, không dễ gì tìm ra cách thỏa mãn, ngoài con đường xung đột vũ trang và chưa vũ trang, đừng nói vội sự thỏa mãn nọ tất yếu đẻ ra truy cầu kia, và cứ thế, cứ thế cho đến một ngày “đẹp trời” Ngũ Dục của tất cả được hóa giải trong chiếc “nấm” Ngũ Dục mà một nhóm điên khùng dựng lên dưới chiêu bài văn minh, tôn giáo, chính nghĩa, chủ quyền… Ngũ Dục được vuốt ve, chiều chuộng ngày một âu yếm hơn, mặc nhiên tự đồng nhất hoá với Văn Minh, dưới sức nặng thuyết phục cực lớn đến nỗi dường như không còn cách nào cho phương châm thiểu dục của Lão Tử, diệt dục của Đức Thích Ca có cơ may cất lên được tiếng nói, dù chỉ thều thào.

Lý Trí hướng ngoại, bên cạnh kỳ tích thượng tri thiên văn, hạ tri địa lý, trung tri nhân sự, bằng những thành tựu ngoại thân hóa của nó, tức là những computer trí tuệ, đang ngày càng được tôn vinh như một quyền năng không bị hạn cục trong bất kỳ một khuôn viên nào từ sự truy tìm Chân Lý. Đồng thời, mỉa mai thay, và cũng đáng đời thay, đang tự ngày càng xói mòn bản thân nó: cần gì nữa sự rèn luyện trí năng một khi robot có thể làm thay và làm tốt hơn.

 

Và trên thực địa, 

Các thành viên của nhóm G7, mục tiêu lý tưởng cho phần còn lại của nhân loại, không phải là thiên đường cho các chủ thể cấu thành: tội ác, bạo lực, ma túy, Sida, gia đình phân rã, đức tin tiêu vong, đạo đức tàn lụi, lý tưởng thiếu vắng… Kể gì đến phần còn lại, ở đây, nếu không muốn nói, còn tệ hơn.

Làm sao khác được nếu Con Người chỉ chuyên chú vào Ngũ Dục như lý do tồn tại của nó, các Ngũ Dục hoặc không được thỏa mãn và không bao giờ được thỏa mãn đầy đủ, hoặc chính nó thị hiện qua các hiện tượng. Tội ác ư? Đó là Tài; Sida ư? Đó là Sắc; Ma túy ư? Đó là Thụy; Bạo lực ư? Đó là Danh; Trọng bệnh ư? Đó là Thực. Hoặc lẫn lộn, và lẫn lộn trong gia đình, đức tin, đạo đức, lý tưởng. 

Nói riêng Bạo Lực. Phải chăng bạo lực chỉ giới hạn trong một chiếc ô tô đầy ắp chất nổ quy ước TNT đủ làm sập cả một cao ốc ở Oklahoma City, Colombo… trong những tràng tiểu liên hoặc tiếng nổ của một quả lựu đạn trên một đường phố ở Alger, Cairo,… hay vì nhân loại đang tiến cực nhanh trên con đường công nghệ dân sự cung cấp trở lại cho công nghệ quân sự, vật liệu làm bom nguyên tử cỡ nhỏ, như kết quả của xu hướng phi hàng loạt hóa (demassification) sản xuất, có thể tìm mua ngay… ở đầu phố, theo đúng thông báo của Builden, chuyên gia về vũ khí hạt nhân: “nếu không phải trong đời tôi, thì có thể trong một tương lai gần, vũ khí hạt nhân sẽ được phổ biến đến tận tay cá nhân, có thể các cá nhân sẽ chế tạo được vũ khí hạt nhân bằng nguyên liệu đang lưu hành trên thị trường thương mại”, và nhân loại văn minh đương đại thiếu gì Trọc Đầu, Báo Đen, Hổ Tamil… 

Ngũ Dục, dưới tấm khăn phủ hữu phú loè loẹt màu chính nghĩa là phát triển sản xuất, nâng cao đời sống, phú cường tổ quốc, thị hiện trên đường hướng không ai dám phản bác để chuốc lấy danh vị phản bội, ít nữa mất gốc, và từ đó, và đồng thời cùng với cái bóng của nó, sự hủy diệt cân bằng sinh thái, sự ô nhiễm môi trường sống còn, sự phá vỡ thượng tầng ozon, sự thù địch trong quan hệ xã hội, sự vị kỷ trong nếp nghĩ và ứng xử… Con Người của Ngũ Dục, của xã hội tiêu thụ, của phát triển kinh tế,… có thể nào hợp lý hóa Ý Thức của họ về những hiểm họa đang đè nặng lên một Trái Đất đang lâm nguy và đang hẹp dần bằng những lời kêu gọi vu vơ, hàm hồ, lỗi thời của Thanh Tâm, của Quả Dục, của Ngũ Giới, của Thập Hạnh Balamật. Lý Trí… Hữu Phú sao được! Một khi nhờ tính năng này Con Người vượt lên đứng đầu muôn loài và có tham vọng tranh ngôi bá chủ với Thượng Đế.

Hãy tạm xét thành tích của Lý Trí hay Trí Tuệ Hướng Ngoại trên ba bình diện:

-  Quốc Nội: bởi vì một trong hai thuộc tính của Lý Trí là truy cầu cái Lợi, cái lợi cho bản thân, cho phe nhóm, cho giai cấp (nặng tính lý thuyết), cho dân tộc (như một ngộ nhận). Cái lợi được thực hiện thường xuyên và “hồn nhiên” qua “cuộc chiến tranh của tất cả chống lại tất cả”, chi tiết hóa trên xung đột giữa cá nhân, giữa phe nhóm, những giai cấp một bên, trong khuôn viên của một cộng đồng, cực đoan dưới hình thức cách mạng, nhiều lúc dưới là cờ “phải đạo” của một Nhà Nước tập quyền bá đạo hay cực tri, một bên trên trường….

-  Quốc tế: qua xung đột quốc gia với quốc gia, liên minh tung với liên minh hoành. Quan hệ giữa các quốc gia được tiêu chuẩn hóa trước hết và trên hết trên tình trạng chiến tranh hay hòa bình. Mà chiến tranh thì khỏi nói, phi lý và ngu xuẩn đã rành rành, chẳng thế mà cùng với Lý Trí của toàn nhân loại văn minh, Lý trí của một H.G. Well, năm 1914 ngay trên cửa ngỏ của Thế Chiến I: “Không có gì rõ ràng hơn đối với con người đầu thế kỷ XX là việc chiến tranh sẽ nhanh chóng trở thành điều không thể có được”; của một Henry Ford, năm 1928, gần đúng một giáp trước Thế Chiến II: “Con Người đang trở nên quá thông minh nên không thể để xảy ra một cuộc chiến tranh lớn khác nữa”. Và thảm hại hơn nữa, mới đây thôi, với sự hỗ trợ của đủ loại computer toàn năng, sau khi “bức tường Berlin” sụp đổ và chiến tranh lạnh giữa “Đế Quốc” và “Dân Chủ” tàn lụi, niềm hy vọng của lý trí, của niềm tự hào của Con Người, đã nhanh chóng nhường chỗ cho một tình thế rất bi quan của … của hiện thực; từ đó nỗi nuối tiếc một thời Nhị Phân… dù sao xác xuất sống còn của nhân loại còn đủ lớn trong những bàn tay của Lý Trí siêu cường. Nuối tiếc vô lý, vì sớm muộn gì, bất kỳ quốc gia nào, ngay cả khi nó đang chết đói, vẫn có thể tống tiền, bắt chẹt phần còn lại của thế giới bằng thói bần cùng liều thân của một Chí Phèo hạt nhân hóa, dù là một thứ hạt nhân hóa hạng bét. 

Tính chất Chính Trị của hai phần trên có tính ngàn đời, nhưng ít nữa về lâu về dài, không thể có sắc thái biệt lập với cái sắc thái nhân học đang chịu những biến động cực lớn có nguy cơ làm thay đổi cả cấu trúc sinh hóa của nhân thể. 

-  Đặc thù của Hiện Đại: Nếu Lý Trí Hướng Ngoại không loại trừ nhận thức về mối liên hệ công sinh như một điều kiện căn bản cho tồn tại cá nhân thì, trong hiện thực của những cộng đồng hiện đại đang ngày càng manh múng về mặt cấu trúc như hậu quả của xu thế manh múng trên các lĩnh vực sản xuất, thông tin, tín ngưỡng, văn hóa, giáo dục… nó khó tránh khỏi tác động của một thúc đẩy tách rời nó ra khỏi mối liên hệ cộng sinh. Hiện tượng này càng được tăng cường bởi tính phù du ngày càng rõ nét của mối quan hệ giữa con người với con người, giữa con người với đồ dùng và nơi cư ngụ, bởi tính độc lập của con người đối với các cơ chế mà trước kia có ý nghĩa sống còn. Cái liên hệ mật thiết nhất, liên hệ trong hôn nhân, đang rã rời qua số liệu ly dị, qua các hình thức hôn nhân không đăng ký (concubinage), hôn nhân theo hợp đồng, theo nhóm, cả giữa những người đồng tính. Cái liên hệ thiêng liêng nhất, tưởng đâu là tự nhiên cũng bị phi tự nhiên hóa là tình mẫu tử, đang bị pha loãng trong một nghề nghiệp mới, nghề làm cha mẹ chuyên nghiệp, mà lý do phát sinh là nhằm giúp các bậc cha mẹ sinh học có nhiều thời gian hơn cho… họ.  

Tiến bộ khoa học, kỹ thuật đẩy nhanh tốc độ sản xuất và nhịp độ đổi mới hàng tiêu dùng đến mức ngày nay hầu như  bất cứ  đồ  vật nào đặt vào tay người tiêu dùng chỉ để vứt vào sọt rác một thời gian ngắn sau. Ý niệm sở hữu phai nhạt cùng với những tình cảm đối với nơi mà có cả trăm lý do khiến người ta phải hay muốn rời bỏ sau một thời lượng cư trú ít nhiều dài ngắn. Cũng chính nhờ tính năng, hiệu năng, của nền sản xuất phi hàng loạt hóa, trực tiếp ảnh hưởng lên quyền hạn của các tổ chức của giới chủ, của Nhà Nước quan liêu và mệnh lệnh, mà con người tìm được những mảnh đất cho tự do ngày càng rộng thoáng hơn. Cái ý nghĩa quan trọng nhất và khẩn cấp nhất, trong mọi ý nghĩa có thể tìm ra từ hiện thực trên, ấy là… 

Nếu sang thế kỷ 21 Nhân Loại có thể không phạm phải cái ngu xuẩn lớn nhất là cuộc xung đột hạt nhân giữa các quốc gia - một điều cho tới nay không mấy chắc chắn, vì trên đống gạch vữa của Bức Tường Berlin, đã rất nhanh hiện rõ tham vọng bá quyền của… , chúng tôi rất tán thưởng quan điểm của ẩn sĩ Hammoud về sự sổ lồng của các âm hồn tà giáo – thì một hiểm họa mới, ngay bây giờ đây, đã thế chỗ rồi: nó còn trầm trọng hơn cái mà Huntington đã giả định, sự đụng độ giữa các nền văn minh, nó… chúng tôi muốn nói tới hiểm họa về một nhân loại vô chính phủ, về cái mà Vivekananda đã gọi là thể hỗn hống (amalgame) và giờ đây trở thành cực bác tạp, cực ô trọc hay PHÂN BIỆT. Tình hình là như vậy đó khi ta nghĩ đến các nhóm sắc tộc Kurd, Tchéchène, Tamil, Serbe, Croate, Bosnia… kể  cả những hình thức mới trong những nước văn minh của Lữ Đoàn Đỏ Ý, “Con Đường Sáng” Perou, khi ta nghĩ đến những tai họa khủng bố đã xảy ra rồi trên bầu trời, dưới mặt biển và sẽ dứt khoát xảy ra cả trên siêu xa lộ thông tin mà dấu hiệu báo trước là những đàn virus điện tử đang đe dọa nhiều cơ quan Nhà Nước, tổ chức tư nhân; khi ta nghĩ đến những stress mà từ đó cuộc sống vũ bão hiện đại sẽ làm nảy sinh những anh điên, chị khùng, có trong tay không chỉ hơi độc sarin (theo Seaquist, chiến lược gia ở Bộ Quốc Phòng Mỹ: “một xí nghiệp hóa dược cũng có khả năng chế tạo vũ khí sinh học”), và rồi đây cả những trái mìn siêu nhỏ tự tái sinh và v.v…. Cho nên…, nhưng còn quá hẹp hòi và lạc quan, Warren Christopher cảnh cáo: “Nếu chúng ta không tìm ra được biện pháp nào đó để các nhóm sắc tộc khác nhau có thể chung sống trong một đất nước… thì chúng ta sẽ có 5000 quốc gia, so với trên 100 như chúng ta hiện có”. Biện pháp nào? Hơn nữa rõ ràng Ngoại Trưởng Mỹ mới chỉ xem xét mặt chính trị của vấn đề. Bao quát hơn, trong cuộc gặp mặt giữa các cựu nguyên thủ quốc gia ở Colorado Springs, tháng 10-1995, cố Tổng Thống Pháp F. Mitterand nhận định: “Điều tuyệt đối cần cấp là năm 2000 phải định ra được các quyền của những nhóm thiểu số… Nếu không chúng ta sẽ chứng kiến sự tan rã và phân hủy rộng lớn, mà không ai còn đứng ngoài được nữa”. 

Và quan trọng hơn, cấp bách hơn và trực tiếp liên quan tới cuộc hội thảo này, khi ta nghĩ đến những giáo phái Davidiens, Hamas, “Đền Thờ Mặt Trời”, Aum Shinrikyo… đang mọc lên như nấm khắp mọi hang cùng ngõ hẻm. Giáo phái… Tôn Giáo… Tại sao vậy và ý nghĩa gì? 

 

Nói đến Tôn Giáo…, trước hết và một cách phổ biến, đó là niềm tin vào sự hiện hữu của Đấng Thượng Đế được quan niệm qua hình tượng và tính cách con người lý tưởng hóa cực điểm. Đấng Thượng Đế, với tư cách ấy, “buộc” phải sáng tạo ra toàn bộ cái vũ trụ hiện thực này, và “buộc” phải có quyền lực tuyệt đối lên bất kỳ cái gì nằm trong vũ trụ ấy. Đồng thời, về sự hiện hữu của Linh Hồn như một sở thuộc của mỗi cá nhân, đặc trưng hóa cá nhân ấy và tồn tại vĩnh hằng. 

Niềm tin này được trình bày lại và chi tiết hóa cho các mặt tâm linh và thế tục trong một hệ thống giáo điều nối tiếp nhau ít nhiều logic, bởi những tổ chức xã hội, một số rất nhanh chóng trở thành những thế lực xã hội hùng mạnh mà các tâm sở tham, mạn, sân, tật, san, phẫn, biên kiến, kiến thủ… nổi trội hơn nhiều lần các tâm sở tàm, quý, tinh tiến, vô tham, vô sân, bất hại, hành xả… mặc dù họ vẫn luôn luôn nhắc nhở, đòi hỏi các tín đồ phải trì giới nghiêm khắc, mà giới thì ở tôn giáo nào cũng vậy, đều ít nhiều đồng nghĩa với các tâm sở thiện, cũng là các biện pháp phòng ngừa, khống chế Ngũ Dục. 

Là đồng minh rất gần gũi, có thể gọi là nguồn dự trữ chiến lược của tôn giáo, mặc dù vẫn thường xuyên bị tôn giáo chối bỏ, hất hủi một cách hết sực khinh bỉ và Cực Kỳ Phi lý (!), mê tín dị đoan cũng tự định nghĩa trên niềm tin và sự hiện hữu của các sức mạnh siêu tự nhiên, những hữu thể siêu tự nhiên theo nghĩa không thể, về phía con người, tùy ý tri giác trực tiếp bằng các giác quan hoặc những công cụ khuếch đại, nhưng lại có thể gây nên những tác động vào sự sống còn của mỗi người thông qua những thủ pháp mà trình tự nhân quả không nằm trong tri thức duy lý khoa học. Niềm tin loại này rất phổ biến trong nhân loại tuy có nồng độ rất khác nhau và không được “chủ thuyết hóa” bởi một lực xã hội nào và nhất là thường không bày tỏ một quan điểm cụ thể về một Thượng Đế “có tên họ”, hình như bởi vì đó là tàn dư của giai đoạn vật linh luận và phiếm thần luận. 

Sự đăng quang của Lý Trí Hướng Ngoại lên ngôi thống trị Trí Tuệ đã thực hiện được trong 300 năm qua những kỳ tích chói lọi của Khoa Học và Kỹ Thuật, đã xây dựng được những xã hội công dân dân chủ và tự do, những phẩm chất xứng đáng nhất của con người với tư cách sinh vật xã hội; cả hai tổng hợp vào nửa sau của thế kỷ 20, trong xã hội tiêu thụ, lúc đầu như một thành công bất khả phản bác của những tư tưởng Ánh Sáng, rồi rất nhanh như những hiểm họa tiềm phục mà chính những tư tưởng ấy phải trả giá. 

Và trước hết, tất cả đều có ý nghĩa, đều có tác dụng đẩy lùi Thượng Đế, và cùng với Ngài, “đẩy lùi các tôn giáo vào bóng tối”. Tình hình là như vậy, và không thể khác được; vài tiếng nói lẻ tẻ từ Pascal đến Einstein, từ Schopenhauer đến Bergson, lại là tiếng nói của Thế Trí Biện Thông (trừ Pascal) không thể vực tôn giáo khỏi sự tàn lụi của nó, bởi vì: 

-                Trên mặt Lý: Tôn giáo phải có Thượng Đế, Thượng Đế là Đấng Sáng Tạo, Sáng Tạo là sáng tạo trong thời gian, có nghĩa là Thượng Đế tồn tại trong thời gian, và người ta tự hỏi, trước thời điểm bắt đầu Sáng Tạo, Ngài làm gì? Thượng Đế có quyền lực tuyệt đối lên Vạn Vật – lên vạn vật là lên vạn vật trong không gian, có nghĩa là Thượng Đế tồn tại trong không gian và người ta tự hỏi, trước thời điểm Sáng Tạo, Ngài ở đâu? Chưa kể quyền lực dựa trên phán xét, sự triền phược vào một thể vô định hình là Thị Phi! là Thiện Ác! 

-                Trên mặt Sự: Bằng những lập luận có đằng sau nó cả loạt thực nghiệm chính xác và chặt chẽ, có đằng trước nó sức mạnh của chính những lập luận ấy vật chất hóa, khoa học đã buộc tôn giáo phải từ bỏ, chí ít phải hiệu chỉnh hết giáo điều này đến giáo điều khác mà ngày xưa nó đã dại dột chi tiết hóa và khẳng quyết quá sớm. Đồng thời trước những vấn nạn nóng bỏng của nhân loại, tư duy duy lý khoa học đã đẩy nhiều tôn giáo vào thế lấn bấn, lúng túng, như hiện thân của sự bất lực và vô năng, giữa giải pháp và giáo điều. Ngoài ra, vì Dân Chủ và Tự Do không hề kiêng nể, dè mặt bất kỳ ai, dù Thánh hay Phàm, vậy mà tôn giáo nào cũng đều muốn quảng bá đạo học của mình, mở rộng quần chúng tín đồ, do đó phải được tổ chức chặt chẽ, khoa học (!) do đó phải có một hệ thống lãnh đạo quan liêu, do đó… thôi thì… cho nên… Và trong cả trăm, cả ngàn những tệ hại, tạm nói cái bé nhất mà Krisnamurti đã phát hiện từ lâu “Ngày nay may ra Phật Giáo chỉ còn tồn tại ở những nơi không có bóng dáng Thượng Đế”. 

Cho nên từ Friedrich Nietzsche (1844-1900) Thượng Đế đã chết, và cách nay vài ba thập kỷ, người ta đã tính chuyện thành lập khoa Thần Học về cái Chết của Thượng Đế. Dĩ nhiên cùng với Ngài, cả tôn giáo vốn lấy Ngài làm lý do tồn tại. Và như vậy tất cả đều quá hợp lý! Có điều… Lý Trí Khoa Học chưa hề bao giờ vét cạn được hiện thực nhân sinh và vũ trụ. Cho nên… và Chứng cớ là… 

Trong vài ba thập kỷ qua, nhân loại đã chứng kiến vụ bội thu của hàng vạn, hàng chục vạn những giáo phái trong các nước đang dẫn đầu nền văn minh hiện đại, tức là văn minh khoa học, duy lý và vật chất chủ nghĩa. Có những giáo phái đã trở thành nguy hiểm cho an toàn và ổn định của cả một quốc gia; có những giáo phái đã tiến lên chiếm vị trí trọng yếu về mặt ảnh hưởng và quyền lực đối với xã hội. Aum Shinrikyo làm nảy sinh vấn đề an ninh không chỉ trong phạm vi một đất nước; và Ikeda, người cầm đầu giáo phái Soka Gakkai được đánh giá là nhân vật có thế lực nhất ở Nhật: tổ chức Cứu Rỗi Toàn Thống đang thách thức sự sống còn của Nhà Nước Algérie… Cạnh đó, cả một quốc gia, cả một khu vực nữa, Iran, Iraq, Khối Hồi Giáo, Khối Nho Giáo,…. Đã 10 năm rồi, bản án tử hình vẫn lủng lẳng trên đầu người công dân của nước Anh Salmon Rushdie như một cái tát vào mặt nền Văn Minh Đương Đại, Duy Lý và Pháp Trị; và việc trục xuất Talisman Nasrin ra khỏi tổ quốc của bà dù sao cũng phải được xem như dấu hiệu của sự đồng thanh tương ứng. Và tuy phải đạo hơn và ôn hòa hơn, Lý Quang Diệu hay Mohamed Matin có ý nghĩa gì nếu không phải cũng là những manh nha… Cho nên ở nhiều nơi trong thế giới Văn Minh đương đại, người ta, những nhà khoa học hay những người có tư duy khoa học, đang phải xem xét rất nghiêm túc một vấn đề rất khẩn trương: “Sự Phục Thù của Chúa” đang thị hiện vào những năm cuối của thế kỷ này và chắc chắn sẽ được thi hành ác liệt và tàn bạo hơn nhiều. 

Không phải là nhà khoa học, cũng không phải là người có tư duy khoa học, chúng tôi cũng không thấy trong những hiện tượng trên, dấu hiệu cho sự phục thù của Chúa; chỉ thấy ở đó dấu hiệu, dù đôi lúc và đôi nơi, có nhuốm sắc màu ảm đạm, cho khuynh hướng đi về tâm linh của nhân loại. Thực ra, đợi chi cho đến những năm này! Ngay từ đầu thế kỷ 20, Charles Lancelin đã tiên đoán “Khoa Học Huyền Bí sẽ là khoa học của thế kỷ 20”. Và rồi trước khi “thế kỷ 21 là Thế Kỷ Tâm Linh”, George Velgel đã thông báo: “Phi thế tục hóa thế giới là một trong những hiện tượng xã hội nổi bật của thế kỷ 20”. 

Chứng cớ, đó là sự kiện, và thế đã quá đủ. Tuy nhiên chúng ta có thể “bàn chơi” về Tại Sao và Thế Nào vậy. 

- Nếu Khoa Học một mặt cứ khư khư tinh thần quyết định luận của Vật Lý Newton và tinh thần bài trung của logic Aristote mà, hoặc chính vì thế vẫn, hoặc không vì thế không, tiếp tục tiến lên đánh đâu thắng đó trên khắp các trận địa của hiện thực nhân sinh thì quả thực tôn giáo còn phải ấp a, ấp úng, gãi đầu gãi tai tự bào chữa cho quyền sống của nó trước tòa án của Trí Tuệ Nhân Loại như nó từng làm thế từ thời Phục Hưng đến đầu thế kỷ 20. Song, từ thuyết Tương Đối trở lại nay, người ta không còn tìm đâu ra được cái thái độ tự chủ đầy ngạo mạn của Laplace, trái lại, dễ dàng nhận ra ở khắp nơi, hoặc một R. Feynman “Khoa học chẳng cho ta biết cái gì hết…, chẳng chứng minh cái gì hết”, hoặc một D. Hilbert “Trong Toán học, người ta không biết người ta đang nói cái gì và những điều người ta nói có đúng không”, hoặc một A. Zadeh, hoặc một Heisenberg… nhất là Heisenberg: Nguyên Lý Bất Định giáng một đòn chí tử vào quyền độc tôn của Khoa Học với tư cách những phán quyết sắt thép và đơn trị. Nói cách khác, chính khoa học thế kỷ 20 đã thu hẹp vương quốc của Tất Yếu bằng sự thừa nhận đế quốc của Ngẫu Nhiên. Cũng là tự thu hẹp quyền lực và oai phong của chính nó và mặc nhiên cho phép mọi khả năng cơ hội hiện thực. Từ đó cái Vô Lý của Tôn Giáo không còn là một luận cứ đủ để phản bát quyền tồn tại của Tôn Giáo. 

Lại càng như vậy, cái Vô Lý của Thượng Đế. Ngược lại là đằng khác. Chính Khoa Học đôi lúc không khỏi… “Ôi! Thời oanh liệt.. ôi Feuerbach, ôi Karl Marx…”. Chẳng hạn, gần đây nhất, góp phần vào một bản hợp tấu bắt đầu cũng đã lâu rồi, nhà bác học nổi tiếng thế giới Trịnh Xuân Thuận rất tin vào sự hiện hữu của Thượng Đế chỉ bởi vì, dựa vào tính toán của ông và các đồng nghiệp, vũ trụ này đã được tạo dựng theo một chương trình được thi công chính xác đến từng một phần tỷ tỷ giây. Để đảm bảo được sự chính xác kinh khủng này – kinh khủng đối với ai? một giây mà đã là ngắn à? “Một satna bao gồm toàn bộ thời gian từ vô thỉ đến vô chung” - phải có một Đấng Thượng Đế đứng ra chủ trì chứ không thể mặc nhiên giao phó cho Ngẫu Nhiên được. Thì ra nhà bác học rất tài năng và đạo đức ấy, vốn sợ Ngẫu Nhiên như nước sợ Chân Không, tin rằng Thượng Đế có thực vì Ngài rất giỏi, giỏi bằng Con Người: chẳng phải cái gọi là chính xác đến một phần tỷ tỷ tỷ ấy chính là sản phẩm của Con Người, thậm chí của một số người nào đó hay sao? Mà những người này thì quá thật đến nỗi câu hỏi “Tôi là Ai?” trở thành quá lố đối với họ! Thêm nữa chẳng phải chính Trịnh Xuân Thuận đã khẳng định ngay trên bìa cuốn sách: Và Con Người đã tạo ra Vũ Trụ! - Thế kỷ 20 là thế kỷ của thông tin, của giao lưu và kỹ thuật trắc nghiệm. Chính trong tình hình này mà nhiều hiện tượng mới gần gần đây thôi còn bị Khoa Học, và những người theo đuôi nó, đáng chú ý nhất là Tôn Giáo, ném thẳng tay vào sọt rác của mê tín dị đoan mà không cần xem xét thật giả gì hết, giờ đây lại được lôi ra, rồi kiểm tra, rồi đo đạc, rồi thí nghiệm, và cuối cùng trong nhiều trường hợp người ta buộc phải rụt rè công nhận “khoa học chưa giải thích được” thay vì nói thẳng ra và ít ngu xuẩn hơn “nằm ngoài logic khoa học.” 

Từ đó, người bạn đồng minh trung thành, tuy thường bị rẻ rúng, của tôn giáo, dần dần ngẩng cao đầu, nói năng đàng hoàng với thiên hạ, tuy nhiều lúc, do tự ti lâu năm lại thêm ít học, cứ tự làm mình lố bịch bằng cách vay mượn dăm ba chiếc lá nho khoa học rất rẻ tiền. Cũng có nghĩa là Tôn Giáo giờ đây đã hiểu ra hoặc phải hiểu ra rằng nó không cần quá rụt rè, khúm núm trước Khoa Học nữa mà cần hiên ngang hơn, tự tin hơn, đứng vững hai chân trên mảnh đất của nó. 

-                Thế kỷ 20, trong toàn bộ nền văn minh nhân loại đến lúc đó, là đỉnh cao nhất của những thành tích kỳ vĩ mà Khoa Học và Kỹ Thuật đã thực hiện trên hiện thực cũng đủ làm các tôn giáo phải kính nể, đồng thời cũng là đỉnh cao của biết bao nhiêu cái… chúng tôi đã sơ sơ nói qua một vài chi tiết. Và thế kỷ ấy, kiêu mạn là thế, lại đang sắp kết thức trong hồi chuông róng rả báo tin Chúa đang trở lại, Chúa tái sinh, và kinh khủng hơn hết, Chúa… phục thù! 

Chúng ta vừa bàn chơi ba động lực của khuynh hướng về tâm linh nhưng có một sự kiện không phải là nói chơi, đó là Tôn Giáo, bất kỳ tôn giáo nào, không hề tham gia tí nào vào sự hình thành bất kỳ một động lực nào trong ba động lực trên, bất kỳ… kể cả Phật Giáo. Mặc dù cả ba động lực ấy đều tìm được đáp án, vượt quá cả nội dung mà con người hiện đại đặt ra cho chúng trong kinh luận của Nhà Phật. 

Trong tất cả các tôn giáo, các hệ tư tưởng duy tâm, duy nhất chỉ có Đạo Phật đã làm được điều cực kỳ vĩ đại, đủ vô hiệu hóa mọi thách thức của Trí Tuệ Con Người trong mọi thời đại, trước mắt trong thế kỷ 21, ngay cả với mọi giả định về sự phát triển không thể hình dung được của Khoa Học và Kỹ Thuật, ấy là Đạo Phật đã phủ định: Thượng Đế như nguyên nhân đầu tiên của Tồn Tại

Và  Linh Hồn như sở thuộc cá nhân, như lý do cho tín ngưỡng và tu tập. 

Mỗi nền Văn Minh đều hình dung Thượng Đế trong một mô hình riêng, có tính đặc thù về các mặt truyền thống, dân tộc, địa lý, lịch sử, … Thượng Đế Brahma hay Ishvara của người Ấn Độ, Đức Thích Ca tuy có thừa nhận chức năng coi sóc vũ trụ của Ngài, cái vũ trụ trong tri kiến của chúng sinh trong cõi Ta Bà, nhưng Đức Phật không đánh giá Ngài cao lắm, vẫn xếp Ngài vào giỏ Lục Đạo liên tục rỉ chảy vào vòng Luân Hồi; chính bản thân Thượng Đế này cũng tự phản tỉnh tính hạn chế của mình nên Ngài vẫn thường xuyên đến nghe Đức Phật thuyết pháp. Vậy ai đóng vai Thượng Đế Toàn Năng Toàn Tri bây giờ? 

Mặc dù Đức Thích Ca đã nói trắng ra, không úp mở, vòng vo, bóng gió: “Thiên thượng, thiên hạ duy Ngã độc tôn” mặc dù cái tài tính toán chính xác và sắp xếp chi li trong vòng 10-43 giây sau bức tường Planck chẳng ăn nhằm gì so với “Như Lai… cho đến giọt nước ở ngoài hằng sa thế giới, cũng biết số mục, không rời nơi đạo trường mà hiện khắp cả Mười Phương Thế Giới”,

“Thân ta bao trùm mười phương hư không vô tận ;

Trên đầu một mảnh lông hiện ra các cõi nước, ngồi trong một hạt bụi mà chuyển Đại Pháp Luân” 

nhưng Đức Phật lại không tự cho mình cái tư cách sáng thế, không phải vì Người, thái Tử Sidartha, dòng họ Gautama, con của Quốc Vương Suddhodana, mới sinh ra vào năm… nào có ăn nhằm gì với tuổi của vũ trụ ít nhất là 15 tỷ năm; đơn giản chỉ bởi vì… 

Đối trước cái vũ trụ quan sát được này (l’univers observable) – mà theo một giả thuyết thiên văn hiện đại về vũ trụ muôn thể (univers multiples) chỉ là một thứ bọt bèo (bulle) mất tăm trong một cái siêu vũ bọt bèo (bulle méta-univers), cái này đến lượt nó lại mất tăm trong… và cứ thế vô tận - Đức Phật có cái tư cách bình đẳng với bất kỳ một chúng sinh nào; nghĩa là một bộ phận? một thành phần? một mô hình thu nhỏ của Vũ Trụ. Không, toàn những câu chuyện trẻ con vì nó vẫn không giải quyết được vấn đề nguyên nhân, vần đề phát sinh. Ấy vậy mà và trái lại, Đức Phật, và cùng với Ngài mỗi người chúng ta, đều có cái Tư Cách SÁNG THẾ: “Núi sông, thế giới, và hư không đều là vật trong CHÂN TÂM hiện ra… Các ông thấy có núi, có sông, có thế giới, có chúng sinh vì các ông đều Mang Bệnh Nhặm Mắt (tức là Vô Minh ) từ vô thỉ… Toàn thể các chúng sinh trong Mười Phương Thế Giới đều do Vô Minh Vọng Động từ vô thỉ nên cùng Vọng Tưởng có thế giới như thế, có chúng sinh như thế hiện ra”. 

Hãy tạm tưởng tượng con mắt của chúng ta có thể xuyên sâu vào cấu trúc nguyên tử của vạn pháp thì ta dễ hình dung, dễ tiếp cận tính chân lý tuyệt vời của khẳng định cực kỳ phi lý trên (!). Nhưng Đức Phật đâu thèm dừng lại ở mức nguyên tử, hay hạt quarks, hay gì gì đi nữa: “Cái giới hạn về sắc tướng đến Hạt Lân Hư là cùng tột. Nếu có thể làm phân rã hạt lân hư này một lần nữa thì sẽ có Hư Không”. Rõ ràng: “Tính của SẮC là CHÂN KHÔNG”. 

Cái Chân Không xuất hiện thay thế cho sự tiêu vong của Lân Hư như lượng tử của vật chất, và ta không khỏi liên tưởng đến thí nghiệm bắn phá hạt cơ bản mới đây nhất làm mất tiêu vật chất trong Trường Chân Không Vật Lý. Mà Vật Chất chính là Không Gian, vì ngày nay Không Gian không còn được quan niệm như cái Chứa trống rỗng mà như tính cách của vật chất: Vật Chất tạo ra Không Gian chứ không phải Không Gian chứa vật chất. 

Thế còn Thời Gian thì sao? Cái thành phần cấu tạo thứ hai của Vũ Trụ? Chẳng phải Đức Phật vẫn nói đến Luân Hồi, đến Nhân Duyên, đến Quả Báo… và tất cả đều tất yếu diễn ra trong thời gian chứ còn trong cái gì khác nữa: “Ta nói thuyết nhân duyên là đúng về phần sự tướng chỉ các pháp trong thế gian mà nói, chứ không phải chỉ do Lý Tính Tuyệt Đối vậy”. 

Giống như chúng ta đang sống nhởn nhơ trên Trái Đất này với giờ, với phút, với giây, có cái chính xác của vàng ròng, nhưng nếu ta rời khỏi Trái Đất với tốc độ gần bằng tốc độ tuyệt đối, hoặc lọt vào hố đen, hoặc vọt ra hố trắng… Đại khái các pháp trong thế gian và Lý Tính Tuyệt Đối khác nhau như vậy. Nhưng còn Tam Thế Chư Phật? Ông  Duy Ma Cật đã đỡ lời Đức Thích Ca: “Do văn tự thế tục ghi chép nên nói có ba đời chứ chẳng phải Bồ Đề (tức là Trí Tuệ Tối Thượng) có Đời Đã Qua, Đời Sẽ Tới và Đời Hiện Nay”. 

Tóm lại, qua ống kính Võ Phân Biệt của Trí Viên Thành Thực trên Vương Quốc của Chân Đế: “Cả cái Tự Nhiên ấy, cả cái Nhân Duyên ấy đều do CHÂN TÂM vọng động ra cả” Mà Chân Tâm thì ai chẳng có, ai chẳng là chính Nó: “Cái CHÂN TÂM CỦA ÔNG, sao ông không tự nhận lấy, lại cần ta chỉ CHÂN TÂM cho nữa?” 

Nó có dáng dấp của Linh Hồn mà thoát khỏi cái Vô Lý cực lớn là tính Cá Ngã vĩnh hằng. Còn Vọng Động? Đã là chuyện ảo, chuyện huyễn, như một giấc mơ, sao còn phải quá bận tâm đến Tại Sao hay Thế Nào, như ông Phú Lâu Na: “Chân Tâm bản nhiên thanh tịnh, vân hà hốt nhiên sinh sơn hà, đại địa?”.

Vậy là? bởi vì khoa học lý thuyết đang ngày càng, và không thể làm khác được, dấn bước trên con đường hóa giải hai thành tố cơ bản và duy nhất của Tồn Tại là Không Gian và Thời Gian, cho nên, không phải chỉ riêng cho thế kỷ 21 mà cho muôn đời sau này, Đạo Phật đã đem lại câu trả lời không bao giờ có thể vượt quá cho những câu hỏi về bản thể, về vũ trụ. Nhưng Con Người, nhưng chính chúng ta đang sống đây, có những nhu cầu trực tiếp, với những vấn đề cấp bách, trước những hiểm nguy gần kề mà phần trên chúng tôi đã điểm sơ sơ, tất cả còn khẩn thiết hơn, hiện thực hơn nhiều lần những vấn đề vũ trụ luận hay bản thể luận. Đạo Phật tuyệt vời thật, nhưng là tuyệt vời trong thế giới siêu việt cái cõi đời tầm thường mà quá thật này. Vậy nó có ích gì cho con người tầm thường và quá thực là chúng ta đây không?

Cái Vĩ Đại thứ hai của Đạo Phật là những đối sách rất thực dụng của nó cho con nguời trên Tục Đế, dựa trên mặt thứ hai, mặt Vọng của CHÂN TÂM: “Tính của KHÔNG là CHÂN SẮC”. 

Nếu chúng ta chưa vượt được trường hấp dẫn của những chủng tử hữu lậu đã huấn tập mà còn bị câu thúc bởi cấu tạo sinh lý, bởi phân tử ADN, bởi tri thức đã học hỏi, bởi cảnh quan văn hóa, lịch sử… nghĩa là bởi Kiếp Trược, Kiến Trược, Phiền Não Trược, Chúng Sinh Trược…Nếu chúng ta vẫn tin rằng ta là cái Có Thật trước nhất, đối trước cái Có Thật khác là Thế Giới và Chúng Sinh thù địch nhiều hơn thân thiện, thì Đạo Phật còn chỉ ra một cái Có Thật không kém, đó là luận Nhân Quả, luật Luân Hồi. Đây là một răn đe, hoặc một động viên cho con người đang hướng thân, khẩu, ý của mình vào con đường Thập Ác hay Thập Thiện. Thiên Đường và Địa Ngục đều có thật hết, với những ai tin rằng có thật cái Ngũ Dục mà họ gắn bó và hành động và suy nghĩ dưới sức đẩy của sáu Căn Bản Phiền Não hay 21 Thiện Tâm Sở.

Tất nhiên Tôn Giáo nào cũng đều khuyên người ta làm ta làm điều thiện, tránh điều ác với một phần thưởng Thiên Đường hay một trừng phạt Địa Ngục mà chỉ Thượng Đế mới quyết định, và quyết định một lần là xong hẳn cho mỗi người. Đạo Phật cũng chỉ rõ những gì đang chờ đợi con người thiện và ác, những gì ấy không do sự áp đặt hay ban phát của ai hết mà chỉ đến với họ từ chính bản thân họ, và đến trên rất nhiều quốc độ - tam thiên Đại thiên thế giới – và đến dưới mười dạng sinh tồn: Địa Ngục, Ngạ Quỷ, Súc Sinh, Atula, Nhân, Thiên, Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ Tát, Phật, trong một vòng tròn bất tuyệt cho sáu loại đầu. Như vậy, lời dạy của Đức Phật, rất phù hợp với phương hướng suy nghĩ của nhân loại văn minh vừa thừa nhận tính tất yếu, vừa thừa nhận tính tự do: con người không phải chỉ là một con rối trong tay của một cái Nghiệp như một tiền định mà còn là quyền tự do lựa chọn hoặc dừng Nghiệp hoặc chuyển Nghiệp.

Nhưng những hiện tượng này có thật không? Con người hiện đại có nhiều biện pháp trắc nghiệm, và Đức Phật đã chỉ ra một phương thức ngày càng chinh phục được Trí Tuệ Nhân Loại, đó là Tọa Thiền.

Chúng tôi không đề cập ở đây những lợi ích của Tọa Thiền cho đời sống hiện sinh mà ai cũng đã biết cả, cũng không đề cập tới hiệu lực của Tọa Thiền đối với sự thủ đắc các quyền năng siêu việt quy luật vật lý học mà ta dễ phải công nhận; chúng tôi chỉ muốn lướt nhanh cái tính năng giác ngộ từng phần mà Tọa Thiền đem lại cho hành giả về vấn đề cốt tử của con người, tức là vấn đề “Tôi là Ai”, từ đó Thế Giới này là gì, từ đó, sao lại khác được, chí ít một cuộc sống hòa bình, thăng tiến tâm linh trên Trái Đất này, bởi vì chúng tôi tin tưởng sắt đá rằng qua Tọa Thiền chúng ta sẽ từng bước thể nghiệm được, sinh nghiệm được nhận định bất hủ của ngài Milarepa: “Hai ngụy thuyết căn bản của tư tưởng con người: Tin vào thực tại của những gì chỉ thuộc về Hiện Tượng và tin vào sự hiện hữu của Bản Ngã”. 

Chúng tôi nghĩ rằng sự tiến hóa thế tục của Nhân Loại sẽ được đo và chỉ được đo bằng một loại thước, cái thước của Dân Chủ và Tự Do. Những phẩm chất ấy vốn dĩ lại nằm trong Đạo Phật nhiều hơn bất kỳ một hệ tư tưởng nào mà con người đã và sẽ nghĩ ra. Đức Phật, mặc dù tất cả những vinh danh Thế Tôn, Thiên Nhân Sư, Điều Ngự Trượng Phu, Vô Thượng, Chính Biến Giác Tri, … vẫn khẳng định: “Ta là một vị Phật đã thành, các người là những vị Phật sẽ thành”,thành ở đâu? “Ta thành Phật trong Tâm Chúng Sinh”. 

Khi Ngài còn tại thế và đi truyền pháp, Ngài thường dùng “phương tiện” để giáo độ, từ đó ngay cả những lời dạy của Ngài cũng không được Ngài gán cho cái ý nghĩa của giáo huấn tuyệt đối: “Pháp của ta như bè để qua sông. Khi đã qua được sông rồi còn dùng bè làm gì nữa”. Như vậy Pháp của Phật chỉ có tác dụng của một gợi ý: “Các người hãy tự thắp đuốc lên mà đi, mồi lửa vào Chính Pháp của ta”. 

Tinh thần Dân Chủ và Tự Do của Đạo Phật thực là vô địch, cho nên một người vốn chưa có danh vị Bồ Tát hay A La Hán, hay Thanh Văn, Duyên Giác, thậm chí cũng chẳng có địa vị trong giáo đoàn tăng lữ như các ông A Nan, Ca Diếp, Ưu Ba Ly,… mà vẫn có cái tư cách thuyết pháp cho tứ chúng, cho cả Bồ Tát, cả A La Hán, ngang bằng với Đức Phật, đó là Ngài cư sĩ áo trắng Duy Ma Cật. Mà Ngài lại toàn thuyết những pháp trái ngược với những lời dạy có tính kinh điển của Đức Thế Tôn, tỷ như: “Nếu Bồ Tát thi hành những việc trái đạo, đó là Bồ Tát thông đạt Đạo Phật”. Thông đạt đến mức: “Chẳng lìa dâm, nô,…; chẳng cắt si, ái…; chẳng thấy Phật, chẳng nghe Pháp; sáu sư ngoại đạo là thầy, kết bạn với chúng ma; chê Phật, khinh Pháp, chẳng nhập chúng Tăng”. 

Chúng tôi không bàn đến ở đây tinh thần tương đối luận của Ngài Duy Ma Cật, chỉ lưu ý rằng trong Tục Đế vốn có tính tương đối, mặc dù vậy Đạo Phật không hề là vương quốc của tùy tiện, hay chủ nghĩa hư vô: “Tuy hành lẽ Không, nhưng trồng các cội lành, tuy hành lẽ Vô Tướng nhưng độ các chúng sinh, tuy hành lẽ Vô Tác nhưng thị hiện thụ lấy thân sống, tuy hành lẽ Vô Khởi nhưng khởi tất cả các nết lành”. 

Với loại sơ cơ, lưỡi gươm luân hồi nhân quả lúc nào cũng lủng lẳng trên đầu họ như một răn đe; với loại lợi căn, Tọa Thiền có tác dụng của ánh sáng soi rọi phương tiện thiện xảo. Có lẽ vì chưa thấy rõ hiệu năng tuyệt đối của Tọa Thiền như phương pháp tu luyện cơ sở trên nguyên lý bao quát “Tam Giới Duy Tâm, Vạn Pháp Duy Thức” và phương pháp truyền đạo theo tinh thần “phương tiện” cho từng đối tượng và trình độ, cho nên một con người (hết sức đáng kính) như Giáo Hoàng John Paul II vẫn tự cho phép mình phát biểu một nhận định rất đáng tiếc về đạo Phật.

Không ai cứu được con người, kể cả Đức Phật, ngoại trừ chính bản thân họ. Tương lai của Nhân Loại trong thế kỷ 21 sẽ ra sao? Đạo Phật chỉ là một gợi ý, dù có tính tối ưu vì phù hợp sát nhất với đường hướng tiến hóa của Trí Tuệ Nhân Loại, nhưng nó vẫn chẳng phải là một đảm bảo tuyết đối. Lại càng như vậy khi…

Thực sự, trên những tiêu chí “khoa học”, chúng tôi không đủ tư cách và hiểu biết để bàn về Đạo Phật trong hiện trạng và phương hướng triển vọng trong tương lai trên phạm vi thế giới. Ngay cả trên phạm vị quốc gia! Nhưng với tư cách một kẻ thất phu thành thực có đôi chút ý thức về “vũ trụ giai phận sự” và đã thấy, đã nghe, đã sống, chúng tôi vẫn mạnh dạn trình bày đôi điều suy nghĩ nông cạn và nhận xét phiến diện về tình hình Phật Giáo Việt Nam.

Trong vài thập kỷ qua, đất nước này đã trải qua nhiều biến động, cuốn hút một tôn giáo đứng ngoài tục giới như Phật Giáo vào dòng thác cuồng nộ của nó và do đó gây nên những phân biệt không đáng có trong nội bộ Phật Giáo vốn, trong cứu cánh, chỉ quan tâm đến cái khổ làm người theo nghĩa luân hồi và nhìn nhận vũ trụ này chỉ như một trò huyễn hóa “Bồ Tát quán chúng sinh như một vị ảo sư nhìn thấy người ảo hóa của mình”.

Căn cứ trên thực tiễn hành xử của giới tăng ni, chúng tôi được gặp không nhiều lắm các vị tu hành thấm nhuần cái yếu nghĩa đó của Đạo Phật, đủ không để mình sa đà vào những hoạt động thế tục và phù hoa không liên quan gì đến mục đích cứu độ của Phật Giáo. Từ đó, một hậu quả trực tiếp, gần như tất yếu, là hiện tượng trì giới thiếu nghiêm khắc khá phổ biến trong hàng ngũ Tăng Già. Mặc dù, trên mặt đời, trì giới là tư cách, là danh dự, là “quyền hành nghề” của người tu hành, cũng là của toàn thể Giáo Hội; trên mặt đạo, trì giới là yêu cầu số một, có tính bản thể cho Định, Tuệ hiện thực hóa, đặng tiến tới Cứu Cánh của Đạo. Vì vậy việc đầu tiên phải làm cho mọi Giáo Hội Phật Giáo hay Hội Phật giáo, danh xưng là gì đi nữa, là phải thanh lọc triệt để hàng ngũ tăng ni trên tiêu chuẩn trì giới, thay vì nói quá nhiều đến những vấn đề chung cục chỉ có tác dụng tha hóa người tu hành trên cả hai lĩnh vực Lý và Sự.

Ngay cả những vấn đề nội bộ, tức là liên quan đến Tiểu Thừa và Đại Thừa. Chúng tôi nghĩ rằng nếu như bằng cỗ xe nhỏ mỗi cá nhân nhà tu hành có khả năng hiện thực để đi đến những cấp bậc nào đó chỉ của thế giới hiện tượng thôi, chưa dám nói đến Niết Bán, Tịnh Thổ chi cả, trên những nẻo đường của Thiền Định, là điều có thể quan niệm được, hình dung được trên cơ sở thực nghiệm, thì chúng tôi lại thấy yêu cầu và bản nguyện chở thật nhiều người trên cỗ xe thật lớn đế cùng đến Niết Bàn thật vui là một tham vọng thật cao mà thật tế chưa có một Hội Phật Giáo nào đã làm được, dù cho trên những tiêu chí thật đơn giản, thật sơ lược của lý thuyết. Cho nên, thay vì quá lắm lời tự đề cao cái tư cách Đại Thừa, và dựa vào một số lời lẽ trong trong Kinh Luận mà miệt thị đạo hữu Tiểu Thừa của mình, các Hội Phật Giáo nên dành thì giờ và sức lực vào cố gắng làm giảm nhẹ những đau khổ tầm thường của con người thế tục bằng cách thường xuyên thực thi hạnh Bố Thí trong cả ba nội dung Tài, Pháp và Vô Úy, bắt đầu bằng sự phản tỉnh của bản thân trên các “thuộc tính nhân thể” là Tham, Giải Đãi và Úy của chính mình. Chính ở đây sẽ được đánh giá bởi Nhân Loại thế tục, mà Hội Phật Giáo nào cũng cần đến, vai trò và vị trí của Phật Giáo trong những bước tiến hóa của văn minh nhân loại.

Một phương tiện cực kỳ hữu hiệu liên quan đến hiệu lực của Pháp Thí mà tiếc thay cho đến nay các Hội Phật Giáo đều đã bỏ qua, đều đã không biết quan tâm đúng mức trong thực tiễn nhân sinh đương đại. Nếu ở nước Ấn Độ cổ vào thời đại Đức Phật tại thế, mọi người đều tin mà không đặt vấn đề gì về tính hiện thực của các hiện tượng siêu tự nhiên và các quyền năng huyền bí thì thật quá tự nhiên, quá hữu lý, quá hợp đạo việc Đức Phật cấm các môn đồ của mình thi triển thần thông và xếp vào loại tà giáo tất cả những môn phái tu hành chỉ nhằm sở đắc những quyền năng khuynh đảo con người và sự vật. Nhưng vào thời đại chúng ta đang sống đây, trong tinh thần duy lý và dưới sức ép của Khoa Học và Kỹ Thuật, người ta dễ dàng phản bác những chuyện trên, xem đó chỉ là di lụy của một thời bán khai, ấu trĩ, với sự đồng tình của không ít tăng ni, Phật tử quá ngây thơ mà cứ tưởng mình khoa học và hiện đại, thì chính những việc đó lại là những bằng cứ bất khả kháng cho các luận thuyết Duy Tâm trong đó Đạo Phật đứng hàng đầu.

Vì vậy Giáo Hội Phật Giáo phải nghiêm túc nghiên cứu, sưu tầm các hiện tượng thần bí, lấy đó làm căn cứ sơ đẳng, làm phương tiện thiện xảo để giáo hóa hàng sơ cơ khoa học và duy lý những luận thuyết cao siêu cũng là siêu thực, phi lý trong Kinh Luận Phật Giáo; phải dành vị trí đặc biệt cho Mật Tông, Thiên Thai Tông… không kém gì Thiền Tông, Tịnh Độ Tông…; phải hỗ trợ tích cực Mật Tông để tông phái này làm tròn được sứ mệnh của vị Hộ Pháp đối trước những đợt tấn công ác liệt của Khoa Học, Kỹ Thuật, của tinh thần duy lý, vật chất, thay vì các nhà thuyết giảng Phật Giáo mải mê mô phỏng những phương pháp luận trong thế kỷ trước của các bộ môn khoa học xã hội Phương Tây, cứ tưởng làm như vậy là trang bị được cho mình cái diện mạo hiện đại hấp dẫn lắm.

Mặt khác, kho tàng Kinh Luận Phật Giáo chứa đựng đến vô hạn những giáo huấn mà các lý thuyết khoa học hiện đại và những phát hiện thực nghiệm mới nhất có thể được dùng làm những minh họa ít nhiều thành công, đây phải là một phương hướng hoạt động mà Hội Phật Giáo cần đặt ra cho các Phật Tử đang làm công tác khoa học ở ngoài đời, thay vì Hội Phật Giáo hớn hở chộp lấy như một bằng cớ chứng minh giúp, như một chất liệu trang trí hộ cho bản thân họ, thay vì lo cử các tăng ni ưu tú vào các trường cao cấp thế tục để mang về cho Hội những Sở Tri Chướng Phương Tây rồi ra chỉ có cái ý nghĩa của việc “nuôi ong tay áo”.

Tạm thời cuối cùng, những không phải là dưới cùng, các tông phái Phật Giáo cần phải hiểu bản thân mình như sự thị hiện của Phật Giáo trên một phương diện của cái “hiện thực huyễn hóa” có nhiều cấp độ này, thay vì công kích nhau loạn xạ, miệt thị nhau bằng những luận điểm nhiều khi rất hẹp hòi, tầm thường, thậm chí cả ngu xuẩn nữa. Các tông phái Phật Giáo thật sự phải coi nhau là những vị Bồ Tát có sứ mệnh khác nhau trong những quốc độ khác nhau, khác nhau như các ngài Quán Âm, Thế Chí, Văn Thù, Phổ Hiền, Di Lặc, Long Thụ, A Nan, Ca Diếp… đối trước những chúng sinh khác nhau, không bao giờ được phép tự coi mình là người thừa kế duy nhất của Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Một lần nữa, xin cho phép chúng tôi tự giới thiệu chỉ là một thứ Phật tử dân dã, đã thành thực, ít ra trong một lúc bộc phát của vài ba thiện tâm sở từ cái tâm chúng sinh của mình, bày tỏ đôi ba ý nghĩ và nhận xét mà chắc rằng rồi ra có nhiều cơ may được Giáo Hội Phật Giáo quan phương dành cho những lời phê phán không thương tiếc, mà chư tôn đức và chư thiện hữu trí thức trong hội thảo này đã dành cho một sự chú ý nhỏ nhoi nào đó, mà chúng tôi xin ghi nhận như một ân thưởng quá quý báu và chúng tôi chỉ biết đáp lại bằng tấm lòng thành thực.

Tinh Tiến

20.02.1996

 

 

NHỮNG VẤN ĐỀ TRƯỚC MẮT ĐỐI VỚI PHẬT GIÁO VIỆT NAM

THÍCH TRUNG ĐẠO  

 

Đạo Phật xuất hiện cách đây hơn 25 thế kỷ, trải qua những thăng trầm của lịch sử, từng chịu đựng biết bao thử thách khắc nghiệt, nhưng vẫn đứng vững và mỗi ngày một lớn mạnh, là vì nó có đủ ba yếu tố: khế lý, khế cơ và khế thời. Trên phương diện khế lý, đương nhiên lấy nguồn cảm hứng từ sự giác ngộ của đức Thế tôn dưới cội bồ đề, nhưng về phương diện khế cơ và khế thời, các sứ giả của Như Lai cần khéo léo vận dụng tinh thần tùy duyên bất biến của giáo pháp để đáp ứng được mọi căn cơ và nhu cầu thời đại, thì hiệu quả của chánh pháp mới phát huy một cách sinh động. 

I.           GIỚI LUẬT, CẦN PHẢI CẬP NHẬT HÓA 

Tất cả mọi tổ chức, mọi đoàn thể muốn được ổn định và tồn tại, nhất thiết phải có những điều lệ làm kỷ cương và những tôn chỉ để hoạt động. Nếu không có những điều lệ làm cương lĩnh, chắc chắn tổ chức ấy không tồn tại lâu dài. Cũng thế, một tôn giáo muốn đạt được mục đích cao cả, cần phải có những giới luật thích hợp làm cơ sở mới duy trì được sự thanh tịnh. Chính đức Phật đã dạy: “Tỳ ni tạng trụ, Phật pháp diệc trụ, Tỳ ni tạng diệt, Phật pháp diệc diệt”. (Giới luật còn thì Phật pháp còn, Giới luật mất thì Phật pháp cũng mất).  

Như vậy, giới luật chính là mạng mạch của Phật Giáo, và chỉ có đức Phật mới có đủ thẩm quyền chỉ định, điều đó ai cũng hiểu. Thế nhưng, thời đại của chúng ta cách Phật đã 25 thế kỷ, do thời thế biến thiên, hoàn cảnh thay đổi, nên những điều Phật quy định trước kia, tuy ngày nay đại bộ vẫn còn giữ được giá trị hiện thực, nhưng có một ít chi tiết đã tỏ ra không còn phù hợp với căn cơ của chúng sinh và hoàn cảnh hiện tại. Nếu không điều chỉnh kịp thời, thì tác dụng của giới luật chắc chắn sẽ bị hạn chế không ít. Do đó, thiết tưởng giáo hội cần có một số quy định mới cho phù hợp với những sinh hoạt của Tăng ni trong giai đoạn hiện tại, có như vậy mới phát huy được tác dụng của giới luật một cách trọn vẹn. Vấn đề này, chính Đức Phật xưa kia đã căn dặn: “Này các Tỳ kheo, tuy là những điều do Ta chế định, nhưng nếu không phù hợp với phong tục tập quán của địa phương đó, thì không nên áp dụng. Trái lại, có những điều không do Ta quy định, nhưng vốn là phong tục tập quán của địa phương ấy, thì không thể không thi hành” (Ngũ Phần Luật, ĐTK, 1421, tr 153a). 

Đó là tinh thần uyển chuyển của giới luật do Phật dạy. Và chúng ta cũng biết rằng Quốc gia nào không muốn cho Hiến Pháp và Luật pháp của mình bị lỗi thời và vô hiệu lực, thì Hiến pháp và Luật pháp ấy phải luôn luôn được tu chỉnh và bổ sung kịp thời. Nhưng, muốn cho pháp luật của quốc gia hay giới luật của tôn giáo phát huy đầy đủ tác dụng của nó, không gì hơn là nhờ đến phương tiện giáo dục hỗ trợ. 

II.            TẦM QUAN TRỌNG CỦA GIÁO DỤC PHẬT GIÁO. 

Cổ đức từng nói: “Ngọc bất trác bất thành khí, nhân bất học bất tri lý”. (Ngọc không mài không thành vật quí, người không học không thông đạo lý). Hiện nay, vấn đề giáo dục Phật Giáo - chủ yếu là dành cho Tăng Ni quả thật có những khởi sắc đáng khích lệ. Thế nhưng trên thực tế, vẫn chưa đáp ứng một cách đầy đủ nhu cầu học hỏi của Tăng Ni. Do đó, thiết nghĩ, Giáo hội nên đặt vai trò giáo dục lên tầm quan trọng hàng đầu trong những Phật sự cấp bách hiện nay. Đồng thời những người giữa vai trò giáo dục phải có thực chất, đủ uy tín, và phương thức tổ chức giảng dạy phải tương đối nghiêm túc, có quy củ. Có như thế mới đạt được hiệu quả tốt nhất. Khi một ngôi trường được phép hoạt động, không những trình độ hiểu biết của người học trò được mở rộng, mà cùng lúc kiến thức của người thầy cũng được nâng cao. Mà hễ trình độ Phật học và thế học của Tăng ni được nâng lên đúng mức, thì sức mạnh của Phật giáo tự nhiên được củng cố; nhờ đó, những lệch lạc và lủng củng ít nhiều tiềm tàng trong hàng ngũ Phật giáo dần dần sẽ bị loại trừ. 

Vấn đề cấp thiết nhất hiện nay đối với công tác giáo dục là thiếu sách giáo khoa Phật học, không những thiếu, mà hầu như chưa có. Chúng tôi đề nghị: Hiện thời những sách giáo khoa nào mà các nước khác đã soạn sẵn có thể dùng được, thì chúng ta dịch sang tiếng Việt để sử dụng, còn loại sách giáo khoa nào chưa có thì bắt buộc phải biên soạn. Có thể sách mới biên soạn lần đầu chưa được hoàn bị, nhưng qua thời gian, chúng ta sẽ hoàn chỉnh dần dần, chứ không nên cầu toàn trách bị. Thế nhưng, nếu muốn cho sự giáo dục đạt đến mức độ hoàn chỉnh, tất yếu phải có Tam tạng giáo điển bằng tiếng Việt. Đó là một trong những yêu cầu bức thiết nhất hiện nay của Phật Giáo Việt Nam. 

III.             ĐẠI TẠNG VIỆT NAM, MỘT YÊU CẦU BỨC THIẾT 

Nhìn các nước Phật Giáo chung quanh chúng ta, gần như nước nào cũng đã có Tam tạng giáo điển bằng tiếng mẹ đẻ, chỉ có Việt Nam đến nay vẫn chưa có. Nguồn Tam tạng giáo điển gồm có hai: Hán tạng của Phật giáo Bắc truyền và Tạng Pali của Phật giáo Nam truyền. 

Về Hán tạng, hơn nửa thế kỷ qua, có những vị tôn túc đã cố gắng phiên dịch sang tiếng Việt được một số kinh luận đáng kể, nhưng so với toàn bộ Đại tạng vẫn còn chưa thấm vào đâu. Tuy vậy, những công trình ấy thật vô cùng quí giá. Nhờ đó mà trình độ phật học của Tăng ni Phật tử ngày càng tiến bộ rõ rệt. Nhưng hình như công việc phiên dịch chưa được phân công đồng bộ và hợp lý, vì trong lúc còn nhiều dịch giả dịch đi dịch lại nhiều lần. Đề nghị từ nay, khi phiên dịch, các dịch giả nên tham khảo thư mục Phật giáo Việt Nam, xem những bộ kinh luận nào chưa phiên dịch thì hãy phiên dịch, còn bộ nào đã có người dịch tương đối tạm ổn thì khỏi phiên dịch, để đỡ tốn thì giờ. Ngoại trừ những bản dịch chưa đạt thì đương nhiên phải dịch lại. Về thư mục dùng để tham khảo thì trước năm 1975 đã có hai bản: Một bản do thầy Tuệ Sĩ soạn, và một bản do nhà sách Minh Đức biên soạn. Nhưng từ đó đến nay, số lượng kinh sách đã gia tăng khá nhiều, do vậy, khi phiên dịch cần phải tham khảo thêm. 

Về Tam tạng Pali, sau bao năm miệt mài, cho đến nay Hòa Thượng Minh Châu đã dịch gần xong Tạng kinh, còn Tạng luật và Tạng luận cũng đã có vài vị tôn túc bên Nam tông dịch được một ít. Công việc còn lại sẽ có các vị hậu bối tiếp tục trong thời gian sắp đến. 

Chúng ta có thể nói rằng, chỉ khi nào hai Tạng kinh Nam truyền và Bắc truyền được phiên dịch đầy đủ sang tiếng Việt thì trình độ Phật học ở nước ta mới được kể là ngang tầm với thời đại và quốc tế. Đành rằng hiện nay có một số vị tôn túc đọc được Tam tạng bằng tiếng nước ngoài, nhưng số này rất hiếm, và cũng không phải yêu cầu mà chúng ta mong đợi. Điều chúng ta mong muốn là trình độ Phật học của quảng đại Tăng ni Phật tử Việt Nam phải tương đương với các nước có nền Phật học tiên tiến như Nhật Bản, Đài Loan vv… hiện nay.

 IV.              LỢI ÍCH CỦA TẠNG KINH BẰNG TIẾNG VIỆT 

Khi hai Tạng kinh được dịch đầy đủ sang tiếng Việt, mọi người sẽ có cơ hội nghiên cứu, học hỏi, nhờ đó, mà thấy được giá trị siêu việt của giáo lý đức Phật, biết những giáo lý nào do các vị Bồ tát Thánh Tăng khai triển sau này và vì sao phải khai triển. (Phải chăng vì muốn cho bánh xe Chánh pháp luôn luôn vận chuyển, ngõ hầu đáp ứng được mọi thời đại và mọi căn cơ của chúng sinh?). 

Một điều lợi ích khác mà chúng ta thấy rất rõ là những ai quan tâm tìm hiểu cả hai Tạng kinh sẽ dễ dàng rút ra một điểm nhất quán xuyên suốt trong giáo lý đức Phật; nhờ đó sẽ thông cảm được trước những bất đồng của các tông phái khác, để cùng nhau chung sức chung lòng quyết tâm phụng sự chánh pháp.

 Xưa kia, khi Ngài Huyền Trang (602-664) chưa đi du học, nghe các vị pháp sư thuyết giảng có đôi chổ bất đồng, khiến cho Ngài rất hoang mang, không hiểu vì sao cùng là Phật pháp mà lại có những dị biệt như vậy. Nhưng sau khi sang Ấn Độ du học, Ngài học kinh luận của tất cả các bộ phái Phật giáo với một thái độ khách quan, không thành kiến. Nhờ vậy, Ngài nhận ra được chung điểm nhất trí của giáo pháp, rồi soạn ra bộ Hội Tông Luận, xiển dương giáo nghĩa Nhất thừa của đạo Phật. Do đó, Ngài đã chiến thắng cực kỳ vẻ vang trong tất cả các cuộc tranh luận với các vị luận chủ, kể cả các vị giáo trưởng của ngoại đạo. Đáng tiếc là bộ Hội Tông luận của Ngài sau đó bị thất truyền. 

Khi nhận xét về ảnh hưởng của Phật Giáo tại Trung Quốc, học giả Lương Khải Siêu nói: “Nhờ công trình phiên dịch Tam tạng kinh điển Phật giáo của các nhà Phật học mà kho tàng ngôn ngữ Trung Quốc giàu thêm được 35.000 từ”. Như vậy, nếu hai tạng kinh được Việt hóa toàn toàn, chắc chắn ngôn ngữ Việt Nam cũng sẽ phong phú thêm không phải là ít. Thế thì, đâu phải chỉ có Phật giáo mới có lợi mà nền văn học Việt Nam cũng được lợi ích rất nhiều. 

Điều quan trọng hơn nữa là khi có đầy đủ Đại Tạng kinh Việt Nam, các học giả sẽ có phương tiện nghiên cứu Phật học một cách đứng đắn, nhờ đó sẽ tránh được rất nhiều những ngộ nhận lệch lạc về Phật giáo. Và giả sử có kẻ nào đó vẫn cố tình hiểu sai, hoặc ác ý xuyên tạc Phật Giáo, thì chúng ta sẽ có cơ sở vững chắc để đối thoại với họ một cách nghiêm túc. 

 

V.                 THÁI ĐỘ CẦN CÓ TRƯỚC NHỮNG SỰ CHỈ TRÍCH PHẬT GIÁO 

Những trường hợp ngộ nhận, phê phán hoặc chỉ trích Phật giáo, khái quát có thể xếp thành ba loại: 

1.              Những chỉ trích phát xuất từ thiện chí xây dựng, vì muốn bảo vệ tính chất trong sáng của đạo Phật, hoặc vì bức xúc trước những suy thoái lệch lạc của Phật Giáo mà lên tiếng phê phán. Gặp trường hợp này, người Phật tử cần phải chân thành tiếp thu, thẳng thắn công nhận, và nỗ lực khắc phục những mặt yếu kém và lệch lạc đang tiềm tàng trong nội bộ Phật giáo. 

2.              Những chỉ trích phát xuất từ sự ngộ nhận, hoặc vì ganh tị, hoặc vì những động cơ thiếu lương thiện, cố ý tung hỏa mù, làm cho công chúng hoang mang, gây ảnh hưởng không tốt, nhằm triệt hạ uy tín của Phật giáo. Đứng trước tình huống này, thiết tưởng người Phật tự phải thẳng thắn đối thoại, trình bày rõ lẽ phải trái, làm cho chân lý được sáng tỏ, để trấn an mọi nỗi hoang mang. Nhưng phải giữ thái độ bình tĩnh nhã nhặn và công bằng, tránh những lời lẽ có tính cách gay gắt hoặc khiếm nhã. Như người xưa từng nhắc nhở: “Kỷ sở bất dục vật thí ư nhân, kỷ sợ dục giả khả thi ư nhân” (Những gì mình không muốn thì chớ làm cho người, những gì mình muốn thì nên làm cho người).  

Điều này chính đức Phật cũng đã dạy: “Nầy các Tỳ kheo, khi có người hủy báng Ta, hủy báng Pháp hay hủy báng Tăng, các ngươi không nên phẫn nộ, mà phải nói rõ những điểm không đúng sự thật là không đúng sự thật: - Như thế này, điểm này không chính xác, việc này không có giữa chúng tôi; việc này không xảy ra giữa chúng tôi. Trái lại, này các Tỳ kheo, nếu cò nguời tán thán Ta, tán thán Pháp hay tán thán Tăng, thì các ngươi không nên đắc chí, mà hãy công nhận những gì đúng sự thật là đúng sự thật: - Như thế này, điểm này đúng sự thật, như thế này, điểm này chính xác; việc này có giữa chúng tôi; việc này đã xảy ra giữa chúng tôi” (Trường Bộ I, tr.14, ấn hành 1991, thuộc Đại Tạng Kinh Việt Nam). 

3.              Những lời chỉ trích phát xuất từ ác ý hồ đồ, thiển cận hoặc nhảm nhí, và không có ảnh hưởng hay tác dụng gì đáng kể. Thiết tưởng, đứng trước trường hợp này, chúng ta không cần phải lên tiếng đối thoại, mà nên giữ im lặng. Nhưng không phải không làm gì cả, mà phải cố gắng trình bày thật súc tích những đặc trưng của Phật giáo, như các đức tính từ bi trí tuyệ, tinh thần vô ngã vị tha, nhập thế tích cực của đạo Phật, cho mọi người thấy rõ. Một khi chân lý được cực lực tuyên dương, thì mọi tà thuyết tự nhiên sẽ bị đào thải một cách thảm hại; cũng như khi vầng thái dương xuất hiện, thì mọi bóng tối tức khắc bị xua tan, chìm vào trong tàn lụi.  

Trên đây, chúng tôi chỉ nêu lên vài suy nghĩ thô thiển và những trăn trở có tính cách thời thượng, rất mong được sự thông cảm và chia sẽ của mọi người. Nếu các bạn tôn túc và những Phật tử giàu lòng nhiệt thành thấy có những điểm nào đồng tình được, xin hãy lên tiếng hưởng ứng, khai triển rộng rãi, để ai nấy đều nhận thức được vấn đề. Chính ý kiến của các vị mới đủ trọng lượng làm cho thao thức trăn trở kia biến thành những việc khả thi, những Phật sự ưu tiên mà Giáo hội phải quan tâm thực hiện.  

Thích Trung Đạo

PHẬT GIÁO VIỆT NAM THẾ KỶ XXI

MINH CHI

 

Hoan nghênh tạp chí Giao Điểm có sáng kiến đề xuất chủ đề “Phật Giáo Việt Nam Trong Thế Kỷ Mới”, và mời đông đảo các nhà Phật học trong và ngoài nước tham gia viết bài và tham luận. Tôi là người trong nước cho nên cho phép tôi phát biểu nhiều về Phật Giáo Việt Nam, Phật Giáo ở trong nước. Nếu trong bài, tôi có đề cập đến Phật Giáo nước ngoài, thì cũng chỉ để liên hệ và so sánh.  

Theo tôi, Phật Giáo Việt Nam cần thiết để các nhà Phật học trong nước cũng như nước ngoài nước quan tâm nghiên cứu vì những lý do sau đây: 

1.              Phật Giáo Việt Nam có một bề dày lịch sử đáng kể suốt hơn 18 thế kỷ

Chính cái bề dày lịch sử này tạo cho Phật Giáo và Việt Nam cơ hội tiếp xúc và hòa nhập vào nhau nhuần nhuyễn khiến cho nhà thơ cận đại Hồ Dzếnh có thể viết:

“Trang sử Phật,

Đồng thời là trang sử Việt

Trải bao độ hưng suy,

Có nguy mà chẳng mất” 

Trong quá trình tiếp xúc và hội nhập lâu dài đó, đặc biệt là dưới hai triều đại Lý Trần, Phật Giáo thật sự là quốc giáo với những ông vua Phật tử xuất sắc như Lý Thái Tông và Lý Thánh Tông, Trần Thái Tông và Trần Nhân Tông. Thời đại Lý Trần cung cấp cho chúng ta mô hình một Phật Giáo gắn bó với dân tộc và phục vụ dân tộc, mà vẫn không làm tổn thương gì đến những chân giá trị tâm linh của đạo. Hai cuộc kháng chiến thắng lợi của nhà Lý chống quân Tống và của nhà Trần chống quân Nguyên đều diễn ra trong thời kỳ thịnh nhất của đạo Phật, với hệ tư tưởng chủ đạo và vũ trụ quan và nhân sinh quan Phật Giáo. Và hệ tư tưởng đó quyết không phải là một hệ tư tưởng tiêu cực, bi quan, lánh đời như một vài Nho gia muốn gán ép vì ganh tỵ. Ai bảo chỉ có đạo Khổng mới lo được cho dân, cho nước, còn đạo Phật chỉ chuyên lo chuyện người chết và thế giới bên kia, còn đạo Khổng mới thật sự lo chuyện người sống và chuyện đời nay? Đạo Phật đời Lý Trần đã dứt khoát trả lời vấn đề này của Tống Nho, và trả lời bằng thực tế của những thành tích giữ nước và dựng nước vẻ vang chói lọi. Trong những thế kỷ gần đây, Phật Giáo Việt Nam không có vấn đề chạy theo ngoại bang mà còn tích cực đóng góp vào công trình đánh đuổi ngoại xâm, giữ gìn giang sơn gấm vóc. 

Về sự đóng góp của Phật Giáo đời Trần, Viện Nghiên Cứu Phật Học Việt Nam đã có công trình nghiên cứu, xuất bản dưới tiêu đề “Thiền Học Đời Trần”’ trong đó tôi có viết bài Tổng Kết, mà một số tập san Phật Giáo của Việt Kiều ở Pháp và Mỹ có đăng lại. Ở đây, tôi không trở lại vấn đề này nữa. Tất nhiên, mô hình Phật đời Lý hay đời Trần không thể sao chép y nguyên thành mô hình của Phật Giáo Việt Nam ở thế kỷ 21, mặc dù có một số người muốn vậy. Vì làm như vậy sẽ là giáo điều, mà Phật Giáo Lý Trần là một Phật Giáo không giáo điều, không chấp tướng. Lẽ nào chúng ta lại đối đãi với Phật Giáo Lý Trần với thái độ giáo điều và chấp tướng?  

Khi suy nghĩ về Phật Giáo Việt Nam ở thế kỷ 21, thì mô hình Phật Giáo Lý- Trần chỉ là một tư liệu tham khảo tốt mà thôi. Một ví dụ, có một số nhà phật học nước ngoài muốn và đã đề nghị Phật Giáo nên có quy chế quốc giáo như là dưới thời Lý-Trần hay là như ở Lào, Campuchia và Thái Lan hiện nay. Tôi cho rằng đó là một ý muốn và đề nghị rất thiện chí nhưng không cần thiết. Quý vị cứ đọc quyển “Lịch Sử Phật Giáo Việt Nam” do Việt Triết thuộc Ủy Ban Khoa Học Xã Hội Việt Nam thì rõ. Hiện nay mà đòi cho Phật Giáo Việt Nam có quy chế quốc giáo chỉ là gây thêm khó khăn cho Phật Giáo Việt Nam mà thôi. Tuy nhiên, dẫu không đòi có một quy chế như vậy nhưng chúng ta vẫn khẳng định một cách dứt khoát là Phật Giáo đã từng có một bề dày lịch sử hơn 18 thế kỷ ở Việt Nam, và trong quá trình lịch sử đó, Phật Giáo đã thật sự hội nhập vào nền văn hóa Việt Nam, như một thành tố không thể chia cắt của nền văn hóa Việt Nam và xã hội Việt Nam.  

Chúng ta cũng khẳng định là Phật Giáo đã cống hiến cho dân tộc Việt Nam những chân giá trị tinh thần, đã từng thể hiện sáng chói trong sự nghiệp cứu nước và dựng nước của hai thời đại Lý và Trần và cả các thời bị ngoại bang đô hộ Phật Giáo đã không làm tay sai cho ngoại bang mà đứng lên chống lại… Nói tóm lại, Phật Giáo hội nhập lâu đời vào nền văn hóa Việt Nam, gắn bó với xã hội Việt Nam và dân tộc Việt Nam trong mọi bước đi thăng trầm của lịch sử, nhưng tuyệt đối không đánh mất những giá trị tâm linh siêu việt, toàn cầu, có tính vũ trụ của nó (Xem chú thích I ở cuối bài). Đó là một trong những nét đặc sắc của mô hình Phật Giáo Việt Nam ở thế kỷ XXI sắp đến này. Tôi gọi đó là đặc sắc thứ nhất của Phật Giáo Việt Nam, một đặc sắc không thể bỏ qua được, khi chúng ta bàn về Phật Giáo Việt Nam ở thế kỷ 21.

 

2.              Truyền thống bình đẳng và dân chủ của Phật Giáo Việt Nam 

Tất nhiên, trong những văn bản chính thức của Phật Giáo Việt Nam, không có các khái niệm và từ ngữ bình đẳng và dân chủ. Thế nhưng tinh thần bình đẳng và dân chủ thì có, và có rất rõ. Xin nêu một số ví dụ: Phật Giáo Việt Nam từ sớm đã có quy chế nữ tu sĩ: Sa Di Ni và Tỷ Kheo Ni. Một Tỷ Kheo Ni đời Lý là Ni Sư Diệu Nhân là một Tổ thuộc thế hệ thứ 17 giòng Thiền Tỳ Ni Đa Lưu Chi. Hiện nay, ở Việt Nam số Ni đông hơn số Tăng rất nhiều. Trong khi đó, thì ở các nước Đông Nam Á láng giềng, theo Phật Giáo Nam Tông, như Thái Lan, Campuchia, Lào, Myanmar (Miến Điện) đều không có phụ nữ xuất gia. Phụ nữ có thể cạo đầu, ở tu viện, nhưng chỉ được mặc áo trắng, không được mặc áo vàng và hưởng các quyền lợi của tu sĩ. Tình hình này, theo tôi không đúng với tinh thần bình đẳng của đạo Phật, mà cũng không phù hợp với lời dạy của Phật Thích Ca. Bởi vì, theo đúng lời Phật nói với ông A Nan, thì phụ nữ có thể giác ngộ và giải thoát, chứng quả A La Hán như nam giới vậy. Trong Kinh tạng Pali, có cuốn “Trưởng Lão Ni Kệ” chép các bài kệ giác ngộ của các Tỷ Kheo Ni, dưới thời Phật đã chứng quả A La Hán. 

Một dấu hiệu bình đẳng và dân chủ khác của Phật Giáo Việt Nam là vị trí của hàng cư sĩ. Lịch sử Phật Giáo Việt Nam ghi nhận có những cư sĩ chiếm vị trí hàng đầu trong giới Phật học nước nhà, được cả hàng tại gia cũng như xuất gia tôn trọng, không khác gì những bậc thầy trong đạo. Xin đơn cử ở đây một vài vị mà tất cả chúng ta đều biết tiếng: Vua Lý Thái Tông, đời Lý, được xem như là học trò đắc pháp của Thiền Sư Thiền Lão thuộc thế hệ thứ 6 giòng Thiền Vô Ngôn Thông, và vua cũng được xem là một vị Tổ thuộc thế hệ thứ 7 của dòng Thiền này.  

Vua Lý Thánh Tông, cũng không xuất gia, nhưng cũng được suy tôn là học trò đắc pháp của Thiền Sư Thảo Đường, và được xem như là vị Tổ thứ 2 của dòng Thiền Thảo Đường. Dòng Thiền Vô Ngôn Thông còn có hai cư sĩ xuất sắc nữa là Thông Thiên (thuộc thế hệ thứ 13) và Ứng Thuận (thuộc thế hệ thứ 15). Phật Giáo đời Trần có Trần Thái Tông, là ông vua khai sáng ra triều nhà Trần, và là tác giả cuốn “Khóa Hư Lục” nổi tiếng, và nhất là cư sĩ Tuệ Trung, vị thầy đáng kính của Trần Nhân Tông, là ông vua xuất gia, là sơ Tổ của phái Thiền Trúc Lâm. 

Lịch sử Phật Giáo Việt Nam cận và hiện đại cũng ghi tên nhiều vị cư sĩ tài ba, như cụ Tâm Minh Lê Đình Thám, người đã sáng lập ra “An Nam Phật Học Hội”, sáng lập ra trường Phật Học Báo Quốc để đào tạo lớp Tăng tài trẻ, sáng lập và làm Tổng biên tập tờ báo Phật học “Viên Âm”. Ông cũng sáng lập ra Đoàn “Phật Học Đức Dục”, nhằm truyền bá đạo Phật trong giới thanh niên trí thức thời bấy giờ. Tác giả bài này cũng là một trong những thành viên đầu tiên của Đoàn Phật Học Đức Dục, mà bác sĩ Lê Đình Thám từng là người sáng lập và bảo trợ. Đoàn đã xuất bản một số sách Phật học, viết theo thể văn mới và có nội dung thiết thực cho nên đã có tiếng vang nhất định trong giới thanh niên nam nữ học sinh lúc bấy giờ. Ở ngoài Bắc cũng vào thời ấy, song song với việc thành lập Hội Phật Giáo Bắc Kỳ, cũng có nhiều cư sĩ có trình độ Phật học cao, như các cư sĩ Thiều Chửu, tổng biên tập báo “Đuốc Tuệ”’, Trần Văn Giáp, Lê Dư, Nguyễn Trọng Thuật (ông này là thư ký Ban Nghiên Cứu Phật Học, được thành lập vào tháng 1 năm 1935). Ở Nam Kỳ lúc bấy giờ, nổi danh nhất là cụ Chánh Trí Mai Thọ Truyền, người sáng lập ra Hội Phật Học Nam Kỳ, có trụ sở tại chùa Xá Lợi.  

Bình đẳng giữa nam và nữ, bình đẳng giữa xuất gia và tại gia, sự bình đẳng đó, theo tôi là điều kiện tiên quyết của mọi triển vọng phát triển lành mạnh của Phật Giáo Việt Nam, hiện nay cũng như ở thế kỷ XXI. Tôi nhấn mạnh vấn đề này vì nó phù hợp với truyền thống bình đẳng vốn có của Phật Giáo Việt nam, đã được minh chứng qua cả bao thế hệ cư sĩ nổi danh trong làng Thiền Việt Nam, và được Trần Thái Tông tóm gọn trong câu sau đây, có thể là phương châm chỉ đạo cho Phật Giáo Việt Nam, từ nay và mãi mãi về sau: “Mạc vấn đại ẩn tiểu ẩn, hư biệt tại gia xuất gia bất câu tăng tục, chỉ yếu biện tâm bổn vô nam nữ, hà tu trước tướng “ (Khoá Hư Lục) ; Dịch: “Không kể là ẩn dật lớn hay nhỏ, không kể là tại gia hay xuất gia, tăng hay tục, điều cốt yếu là biện tâm, vốn không phân biệt nam nữ, sao lại còn chấp tướng”. 

Rõ ràng, Phật Giáo mà Trần Thái Tông quan niệm không phải là Phật Giáo của riêng người xuất gia, của riêng giới Tăng lữ, càng không phải là Phật Giáo của riêng nam giới xuất gia, như hiện nay ở các nước Đông Nam Á theo Phật Giáo Nam Tông… mà là một Phật Giáo thật sự bình đẳng của cả nam và nữ, của cả xuất gia và tại gia, nghĩa là của tất cả mọi người. Trong câu trích dẫn của Trần Thái Tông trên đây, có các từ đại ẩn, tiểu ẩn. Đại ẩn là sống giữa đời mà vẫn tu đạo và vui với đạo, đúng như lời của Trần Nhân Tông (cháu ruột Trần Thái Tông) trong bài thơ chữ Hán kết thúc bài phú “Cư Trần Lạc Đạo” của Vua: 

“Cư trần lạc đạo thả tùy duyên,

Cơ tắc xan kề, khốn tắc miên”

Dịch: “Ở đời vui đạo hãy tùy duyên,

Hễ đói thì ăn, mệt ngủ liền”. 

Đó là lối tu ẩn dật lớn, còn tu ở chùa, lánh vào núi mà tu chỉ là tiểu ẩn, tức là lối tu ẩn dật nhỏ. Đúng như vậy, Phật Giáo chỉ cho chúng ta một phương pháp tu hành không cần phải cạo đầu vào chùa, không cần lánh lên núi sống cô độc một mình, mà sống ngay giữa đời như người bình thường mà vẫn giác ngộ và giải thoát. Tôi tin rằng, chừng nào mà Phật Giáo còn hạn chế và khép mình trong chùa chiền và giới Tăng lữ, thì khó mà nói Phật Giáo có gốc rễ sâu bền trong một quốc gia xã hội. 

Hiện nay, những người Việt Nam bình thường kể cả một số người mác xít, chỉ cảm thấy có nhu cầu đến chùa thật sự khi có người thân thuộc qua đời, hay là khi có người ốm nặng. Chỉ trong những trường hợp như vậy, người ta mới tổ chức lễ cầu siêu và cầu an. Đó chính là tâm lý rất phiến diện cho rằng đạo Phật cần cho người chết và người ốm, chứ không cần cho người sống và khoẻ mạnh! Đây đúng là quan niệm tàn dư của Tống Nho hủ lậu, vẫn còn ảnh hưởng rơi rớt trong quần chúng nhân dân ta. 

Tôi tin là Phật Giáo Việt Nam ở thế kỷ XXI phải là một Phật Giáo tiếp nối tư tưởng bình đẳng và dân chủ, không những về tinh thần mà cả trong thiết chế và tổ chức nữa. Thí dụ: Chúng ta sẽ nghiên cứu lại quy chế “bát kính pháp” (xem chú thích I cuối bài), đặt Ni chúng vào một địa vị thấp kém hơn Tăng chúng rất nhiều. Chúng ta cần nghiên cứu bối cảnh xã hội-lịch sử của quy chế đó. Có người đặt câu hỏi: Phải chăng xã hội thời Phật là một xã hội phân biệt đẳng cấp và rất trọng nam khinh nữ. Do đó, Phật đặt ra quy chế bát kính pháp trên thực tế là để bảo vệ nữ giới khỏi bị nam giới quấy rối? Một lý do nữa là Luật tạng, trong Đại hội kiết tập lần thứ nhất ở thành Vương Xá đã được kiết tập theo tinh thần bảo thủ của Thượng tọa Bộ, lúc bấy giờ chiếm đa số trong số A La Hán tham gia cuộc kiết tập? Dù sao, thì một quy chế như vậy không còn thích hợp nữa trong thế giới hiện tại, đặc biệt là ở xã hội Việt Nam, với người phụ nữ “tay hòm chìa khóa”, nắm quyền tài chính trong gia đình (Lệnh ông không bằng cồng bà). 

Quan hệ nam nữ trong Chúng cũng như ngoài xã hội là một loại quan hệ thật sự bình đẳng, hai bên nam nữ phải thật sự tôn trọng nhau. Tôi nghĩ, quan hệ giữa tại gia và xuất gia, giữa cư sĩ và tu sĩ cũng phải thấm nhuần một tinh thần bình đẳng và dân chủ như vậy.

 

3. Vị trí của tu sĩ và chùa trong thời đại mới 

Hiện nay, ở nước ta, vị trí của tu sĩ Phật Giáo nổi bật nhất là trong các lễ lạc ở chùa, đặc biệt là trong các lễ cầu siêu và cầu an. Cũng như nhà chùa chủ yếu là nơi tu sĩ tổ chức và chủ trì mọi lễ lạc tôn giáo, tất nhiên là có ngoại lệ, nhưng ngoại lệ ít lắm. Tôi không phủ nhận tác dụng an ủi tạm thời của các lễ lạc tôn giáo, trong đó có các lễ cầu siêu và cầu an. Nhưng tình hình sẽ thế nào, nếu trong tương lai, giáo lý về nghiệp của đạo Phật được phổ biến rộng rãi, trở thành kim chỉ nam cho mọi hành vi ứng xử của Phật tử. Đến khi ấy, mọi người Phật tử đều giác ngộ rằng, “con người là chủ nhân của nghiệp, là kẻ thừa tự của nghiệp, nghiệp là quyến thuộc, nghiệp là thai tạng… (Trung Bộ Kinh 3, Kinh Tiểu Nghiệp Phân Biệt, Bản dịch Thích Minh Châu), tất cả mọi chuyện hạnh phúc hay bất hạnh xảy ra trong đời mình, đều là do nghiệp, tức là do những hành động nơi ý, lời nói và thân của mình làm ra từ trước, chứ không do một Thượng đế hay quỷ thần nào an bài… Muốn có đời sống an vui, hạnh phúc thì chỉ có một cách là tạo nghiệp thiện, nghiệp lành, trừ bỏ mọi nghiệp ác, nghiệp bất thiện…Đúng theo lời dạy của Phật:

“Chư ác mạc tác,

Chúng thiện phụng hành,

Tự tịnh kỳ ý,

Thị chư Phật ngôn”.

 

Nghĩa: Bỏ mọi điều ác,

Làm mọi điều lành

Tự làm trong sạch tâm ý,

Là lời dạy chư Phật” (Kinh Pháp Cú) 

Chỉ có bản thân mình, với ý nghĩ trong sạch, lời nói trong sạch, hành động trong sạch mới có thể làm trong sạch được bản thân mình, chứ không phải chỉ đi chùa, lễ bái, gọi Tăng bằng thầy và xưng con là có thể rửa sạch mọi tội lỗi mình đã phạm và tiếp tục phạm. Tu sĩ là biểu trưng sống động của giác ngộ và giải thoát. Nhờ tâm của họ được giải thoát cho nên mọi hành động của họ, lời nói của họ cũng có đạo vị giải thoát. Nếu được như vậy, họ xứng đáng là bậc đạo sư tâm linh, có khả năng hướng dẫn mọi người trên con đường giác ngộ và giải thoát. Đó là vị trí phải có, nên có của người tu sĩ Phật Giáo trong tương lai, ở thế kỷ  XXI. Còn nếu họ không chịu học tập, không lo tu hành, chỉ lo đi cúng và được lợi dưỡng nhiều nhờ đi cúng, thì họ chỉ là thầy cúng, chứ đâu có phải là đạo sư tâm linh, đâu có phải là biểu trưng sống động của đạo giải thoát và giác ngộ. Chúng ta hãy để cho họ yên vị trong nghề thầy cúng. Nghề đó cũng cần thiết đối với những người bất hạnh, cần được an ủi, cần được giúp đỡ. Nhưng họ không được rao truyền rằng, mọi người hãy đến chùa, đến với họ, thì tự khắc mọi nghiệp chướng sẽ tiêu trừ, mọi tội lỗi sẽ được rửa sạch! Rao truyền như vậy thì Phật Giáo bị đồng hóa với một số tôn giáo khác, và phải chăng là bật đèn xanh cho mọi tội ác, bởi lẽ, cứ phạm tội ác rồi đến chùa cúng lễ và mọi tội ác sẽ được rửa sạch, có khác nào bọn mafia quốc tế rửa sạch đồng đôla vấy máu qua các thao tác ngân hàng vậy! (Xem chú thích III cuối bài). 

Tôi nhắc lại là tôi không thể phê bình và phủ nhận tác dụng của lễ bái, mặc dù tác dụng đó là rất hạn chế và mang nhiều tính phương tiện hơn là cứu cánh. Tôi chỉ phê bình những ai, dù tăng hay tục, rao truyền rằng, cứ đi chùa, mời chư Tăng làm lễ cầu an, cúng đường trai tăng là mọi tội ác được tiêu trừ, mọi nghiệp chướng được xóa sạch. Nói như vậy, có khác nào nói, người gây nhiều oán thù, chỉ việc đi chùa Hương, đến suốt Giải Oan, múc nước ở suối giải oan uống, thì mọi oán thù đều xóa sạch! Một người có chút lương tri, chứ không cần có trình độ Phật học cao, cũng nhận thấy là muốn giải oan, thì phải thay đổi nếp sống, nghĩa là sống thiện, không tự mình gây oán thù thêm nữa, thêm bạn bớt thù… chứ không thể xuống tắm ở suối Giải Oan hay là uống nước suối Giải Oan là có thể giải trừ mọi oán thù do tự mình gây ra. 

Khi Phật còn tại thế, Ngài đã bác thuyết “tế đàn vạn năng” của Bà La Môn Giáo. Lẽ nào Phật Giáo Việt Nam ở thế kỷ XXI lại vẫn đi lại con đường “tế lễ vạn năng” của Bà La Môn Giáo hay sao? 

Lễ bái ở chùa, lễ cầu siêu và cầu an đều trong chừng mực nó an ủi tinh thần người chết cũng như người sống, nó nhắc nhủ mọi người dự lễ noi theo lời dạy của Phật làm mọi điều lành, tránh mọi điều dữ v.v… Chứ lễ bái đâu có khả năng rửa sạch tội lỗi nếu tâm vẫn còn bất thiện? Phật Giáo Việt Nam ở thế kỷ XXI phải là Phật Giáo của lý trí, không thể dung túng những tập tục mê tín dị đoan có thể là nguồn lợi dưỡng đáng kể và người có trí không thể chấp nhận được. Ở đây, một lần nữa, chúng ta nhắc lại câu của nhà bác học Albert Einstein ca ngợi “Phật Giáo như một tôn giáo đáp ứng được những yêu cầu của khoa học hiện đại” (Xem chú thích II ở cuối bài). Đồng thời, Phật Giáo cũng là tôn giáo rất nhân bản, nó tôn vinh giá trị con người như là chủ nhân của cuộc sống của mình, chứ không phải là kẻ cầu xin quỷ thần ban ơn, ban phước. 

Vị trí của chùa Việt Nam – ít nhất là các chùa tiêu biểu – cũng phải có sự thay đổi trong thời đại mới, ở thế kỷ XXI. Chùa Phật, vẫn là nơi tiến hành các khoá lễ giản dị, nhưng giàu ý nghĩa biểu trưng, đồng thời phải là một trung tâm Phật học, một cơ sở văn hóa lớn hoặc nhỏ, với thư viện có đầy đủ ba Tạng kinh điển, với những sách Phật học và thế học có giá trị, bằng tiếng Việt và bằng các thứ tiếng khác, một nơi giảng pháp, một nơi tọa đàm giáo lý, một nơi hành thiền và trao đổi kinh nghiệm hành thiền, một nơi làm các công tác văn hóa và từ thiện, một nơi có phong cảnh đẹp, có nhiều cây và hoa, một danh lam thắng cảnh. Nói tóm lại, chùa Phật là một nơi mà cảnh vật cũng như người (tu sĩ) đều toát lên đạo vị giải thoát và giác ngộ của đạo Phật. 

Đáng tiếc là hiện nay, trong Nam cũng như ngoài Bắc có một số chùa (không phải là số đông! Mong sao được như vậy) đã thật sự biến thành những nơi tấp nập cho người ra vào xin xăm, xin thẻ, nhờ thầy xem đất, xem tướng, bói toán. Những ngôi chùa trông bề ngoài khang trang to lớn, người ra vào như đi chợ, khói hương nghi ngút, nhưng thật ra chỉ là những chùa thiếu hương vị giải thoát, thiếu nhận thức đâu là phương tiện, đâu là cứu cánh của Phật Giáo. Ngôi chùa Việt Nam ở thế kỷ XXI không thể như vậy được. 

Ở đây, nhân tiện, tôi muốn nói đôi chút về “cái tệ” hái lộc chùa đầu xuân. Tệ này rất là phổ biến ở miền Bắc. Ở trong Nam, cũng có nhưng ít hơn. Cứ đến mùa xuân hàng năm người tấp nập đi chùa hái lộc để cầu phước, khiến cho sau đêm mồng một Tết ta là vườn các chùa đều xơ xác, nhiều cây cành lá bị bóc trụi. Nếu tục lệ hái lộc chùa là một truyền thống của Phật Giáo Việt Nam đi chăng nữa, thì truyền thống hái lộc đó phải được cải tiến, vì không, nó sẽ mâu thuẫn với truyền thống và đạo đức môi trường, vốn là một truyền thống tốt đẹp của Phật Giáo nói chung và Phật Giáo Việt Nam nói riêng. Dần dần nên thay thế tục lệ hái lộc bằng phong trào trồng lộc ở vườn chùa, mỗi năm vào ngày xuân đến. Tất cả mọi phật tử cần tranh thủ bảo vệ, tôn tạo và phát triển vườn chùa, biến mỗi vườn chùa thành một công viên quốc gia tầm cỡ nhỏ (miniature national park). Theo tôi, đây là một vấn đề cấp thiết, không nên chờ đợi đến thế kỷ XXI mới bắt tay làm, mà phải bắt tay làm ngay trong mùa xuân tới. Phật Giáo Việt Nam ở thế kỷ XXI phải là một Phật Giáo bảo vệ môi trường, kể cả môi trường nhân văn và môi trường thiên nhiên, biến mỗi cảnh chùa thành một phong cảnh Bụt thật sự, đúng theo tinh thần của câu: “Đất vua, chùa làng, phong cảnh Bụt”. 

 

4. Phật Giáo Việt Nam tôn vinh con người, giúp cho con người sống hạnh phúc, hoàn thiện nhân cách và cống hiến tối đa 

Trong thế kỷ sắp tới, giá trị nhân bản phải là giá trị của mọi giá trị, là thước đo của mọi giá trị. Mọi phát kiến khoa học, mọi sáng tạo văn học nghệ thuật tôn giáo cần được đánh giá theo góc độ đó, dựa vào tiêu chuẩn nó đề cao giá trị nhân bản hay không, có đem lại thêm hạnh phúc cho con người hay không hay ngược lại chỉ là tang tóc, và bất hạnh, có hay không khích lệ ý chí vươn lên, và nỗ lực sáng tạo của con người, hay là ngược lại chỉ làm xói mòn ý chí của con người, khuyên con người cam chịu sự an bài của số phận. 

Lịch sử Phật Giáo Việt Nam ghi nhận nhiều lời của các nhà Phật học, hay các Thiền Sư khẳng định vị trí quý trọng của con người. Thí dụ các câu:

“Nhậm vận thịnh suy vô bố úy,

Thịnh suy như lộ thảo đầu phô” (Thiền Sư Vạn Hạnh đời Lý)

Dịch ý: Khéo léo vận dụng (quy luật) thịnh suy thì không còn sợ hãi,

(Nhưng đối với ta) thịnh hay suy cũng là (mong manh) như hạt sương trên đầu ngọn cỏ.

 

“Mê chi cầu Phật

Hoặc chi cầu Thiền

Thiền Phật vô cầu…!” (Diệu Nhân – Ni Sư đời Lý)

Dịch ý: Mê mới cầu Phật

Hoặc mới cầu Thiền

Không cầu Phật, không cầu Thiền”.

 

“Nam nhi tự hữu xung thiên chi,

Hưu hướng Như Lai hành xứ hành” (Thiền Sư Quảng Nghiêm đời Lý)

Dịch ý: Làm trai có ý chí cao vọt đến trời,

Thôi, không đi lại con đường của Phật nữa. 

Chúng ta hỏi: Tại sao là Thiền Sư, là học trò Phật mà lại có những tư tưởng và lời nói trái thường như vậy? Đó là vì, trước khi nhập Niết Bàn, Phật đã từng khuyên học trò rằng phải dựa vào bản thân mình, đừng có dựa vào cái gì khác, phải lấy mình làm ngọn đèn, phải tự thắp đuốc lên mà đi… (Xem các Kinh Đại Bát Niết Bàn - Trường Bộ Kinh I và Kinh Du Hành - Trường A Hàm I). Khác biệt với giáo chủ các tôn giáo khác, đức Phật Thích Ca luôn khuyên mọi người hãy tin tưởng vào khả năng của chính mình để thành tựu giác ngộ và giải thoát. Ngài nói: “Ta là Phật đã thành, các người là những vị Phật sẽ thành”. Trên thực tế, Phật đã đặt chúng ta ở một vị trí bình đẳng với Phật, khi Ngài nói một câu như vậy. Trong bài Kinh: “Các vị ở Kesaputta”, thuộc Tăng Chi Bộ tập I, một lần nữa, Phật lại đặt niềm tin của mình vào con người có khả năng phân biệt đúng sai, thiện ác, chứ không cần dựa vào sách vở, dư luận, truyền thống, hay bất cứ một sức mạnh nào khác ở bên ngoài: 

Này các Kalamas, chớ có tin vì nghe truyền thuyết, chớ có tin vì theo truyền thống, chớ có tin vì nghe người ta nói, chớ có tin vì được kinh điển truyền tụng, chớ có tin vì đó là lý luận siêu hình, chớ có tin vì điều đó đúng theo một lập trường, chớ có tin vào những dữ kiện được đánh giá hời hợt, chớ có tin vì điều đó phù hợp với định kiến của mình, chớ có tin vì điều đó được bậc đạo sư của mình nói ra. Nhưng này các Kalamas, khi nào tự mình biết rõ như sau: Các điều này là bất thiện, các điều này là có hại, các điều này bị những người có trí chỉ trích, các điều này thực hiện sẽ đem lại bất hạnh và khổ đau. Này các Kalamas, khi biết rõ như vậy, thì hãy từ bỏ các điều ấy đi” (Tăng Chi Bộ Kinh I. Kinh: Các Vị ở Kesapputa, trang 338). 

Bài Kinh trích dẫn trên đây có nhiều bản Hán dịch, Việt dịch và Anh dịch, nội dung chỉ có khác nhau đôi chút nhưng ý tứ chung của bài Kinh là con người có khả năng tự mình phán đoán, qua tư duy lô gíc và thực nghiệm đánh giá mọi điều thiện và bất thiện, đúng và sai, v.v…. Bài này tuy được phát biểu cách đây hơn hai nghìn năm nhưng đến nay vẫn mang tính thời đại nóng hổi. Nó có giá trị một thông điệp gửi cho cả loài người, ở ngưỡng cửa của thế kỷ XXI này, khi loài người đang còn xâu xé tàn sát nhau bởi những định kiến vô lý về sự khác biệt của tôn giáo và tư tưởng hệ, về sắc tộc và chủng tộc, những định kiến mà bất cứ một đầu óc lành mạnh và tỉnh táo nào cũng nhận thấy là trái thường, phi đạo đức, làm sao mà vẫn lôi kéo được hàng vạn, hàng triệu người vào những cuộc chiến tranh và thảm sát, đôi khi mang quy mô diệt chủng, không phải chỉ xảy ra ở Châu Phi hay châu Á lạc hậu, mà ngay cả ở giữa lòng Châu Âu vốn tự xưng là văn minh và khai sáng! 

Đạo Phật ở thế kỷ XXI có nhiệm vụ đánh thức, khơi dậy niềm tin của con người ở khả năng phán xét phải trái, thiện ác của bản thân mình, nhất định không nghe theo kẻ cơ hội và giáo điều, dù chúng mang nhãn hiệu gì. Tôi rất tâm đắc với những lời phát biểu sau đây của hai ông Vua đầu đời Trần, cả hai đều là những nhà Phật học lỗi lạc, tức là Trần Thái Tông và Trần Nhân Tông. Trần Thái Tông viết trong Khóa Hư Lục: “Ngã thân tức Phật thân thị, vô hữu nhị tướng”. Nghĩa: Thân ta tức là thân Phật, không có hai tướng! 

Rõ ràng, Trần Thái Tông nói câu trên, không phải là nói cho riêng mình mà là nói cho tất cả mọi người, mọi chúng sanh. Ông viết trong Khóa Hư Lục: “Khái thức Bồ Đề giác tính, cá cá viên thành…” Nghĩa là “sao lại không biết tính giác Bồ Đề, mọi người đều có đầy đủ…” (Khóa Hư Lục – Bài “Khuyến Phát Tâm Văn”). Ý tứ là tất cả mọi người, tất cả chúng sanh đều có đầu đủ bản tánh giác ngộ ở trong mình, bản tính đó là Phật tánh, là cái khả năng vốn có của mỗi người chúng ta sẽ thành Phật trong tương lai. 

Trần Nhân Tông cũng nói lại tư tưởng đó của ông nội là Trần Thái Tông, nhưng với một giọng văn dân dã hơn:

“Bụt ở trong nhà,

Chẳng phải tìm xa,

Nhân khuẩy bổn, nên ta tìm Bụt.

Chỉn mới hay chính Bụt là ta” (Cư Trần Lạc Đạo Phú – Hoàng Xuân Hãn dịch nôm)

Chữ khuẩy bổn là quên mất gốc. 

Có thể nói Phật Giáo Việt Nam đã tôn vinh con người lên địa vị Phật, địa vị của bậc Thánh giác ngộ tối cao, bậc Thánh đã đạt tới cảnh giới bất tử, an lạc tuyệt đối, giác ngộ hoàn toàn. Chúng ta vốn là Phật nhưng lại không tự biết, cho nên cứ đi tìm Phật ở đâu đâu, không chịu quay đầu lại tìm Phật ở trong bản thân mình. Nhân dân Việt Nam có câu: “Phật ở trong nhà, cầu Thích Ca ở ngoài đường”. Tôi xin phép thay ba chữ ở ngoài  đường bằng các chữ tại chùa. Vì chùa có tượng Phật, có ông Phật bằng gỗ, sơn son thếp vàng, nhưng ông Phật thật chính là ở trong chúng ta. 

Thế kỷ XXI là thế kỷ của khoa học, của một Phật Giáo Việt Nam “đáp ứng mọi yêu cầu của khoa học hiện đại”. Thế kỷ XXI cũng là thế kỷ của những giá trị nhân bản, thế kỷ của con Người. Phật Giáo Việt Nam ở thế kỷ XXI cũng phải là Phật Giáo tiếp nối truyền thống rất nhân bản, một Phật Giáo tôn vinh con người và phục vụ con người, đáp ứng những yêu cầu tâm linh cao đẹp nhất của con người. 

Hiện nay, có một vài nhà Thiền Việt Nam (họ là số ít, nhưng ảnh hưởng của họ không nhỏ) thường nhấn mạnh tính siêu lý trí của Thiền và coi nhẹ mọi thao tác tư duy lô gíc. Họ thích thú với những câu trái thường như ngày là đêm, đêm là ngày, cực ác là thiện, cực thiện là ác… Tôi rất tôn trọng lối tu của quý vị nhà Thiền đó, nhưng theo tôi, tuyên truyền rộng rãi một lối suy nghĩ trái thường như vậy là không có lợi, thậm chí còn rất là có hại nữa. Vì với lối tu và lối suy nghĩ như vậy, chúng ta sẽ mặc nhiên tự biến chúng ta thành những người trái thường, lập dị, đồng thời cũng biến đạo Phật thành một cái gì huyền bí, xa lạ với con người và xã hội loài người. Đạo Phật đề cao trí tuệ thực nghiệm, mà sách Phật thường gọi là tu tuệ. Chữ tu ở đây, tôi hiểu là thực nghiệm. Bất cứ một chân lý nào, dù là siêu việt như là Niết Bàn Phật Giáo, hay là những chân lý tương đối của thế giới hiện tượng, đều phải qua thực nghiệm mới có thể nắm bắt một cách thấu đáo được. Thí dụ, chúng ta có thể nhờ tra tự điển mà biết được say rượu đại khái là do uống nhiều rượu, hơi men bốc lên đầu làm cho đầu óc người mất tỉnh táo… nhưng đích thực say rượu là thế nào thì chỉ có uống rượu đến say mới biết, nghĩa là phải tự mình thực nghiệm uống rượu mới biết. Nói cách khác, tu tuệ không phải là sự hiểu biết do xuất gia, ở chùa mà có, mà lo do thực nghiệm mà có. Thực nghiệm ở đây là sống, thực hành, chứ không có nghĩa gì khác. Einstein, khi nói tới đạo Phật tương lai, cũng nói tới thực nghiệm: 

“Covering both the natural and the spiritual, it should be based on a religious sense, arising from the experience of all things, natural and spiritual, as a meaningful unity” . Dịch: Bao quát cả (thế giới) tự nhiên và tâm linh, nó phải dựa trên một ý thức tôn giáo, nảy sinh từ sự thực nghiệm mọi sự vật, tự nhiên và tâm linh, như là một tổng thể có ý nghĩa. 

Đúng như là nhà bác học Einstein nói, tất cả mọi vấn đề, thuộc lĩnh vực khoa học tự nhiên, cũng như thuộc lĩnh vực tâm linh, đều phải qua thực nghiệm mới có thể nắm bắt một cách thấu đáo. Tuy đạo Phật đề cao trí tuệ thực nghiệm, nhưng nó cũng không xem nhẹ trí tuệ học hỏi và trí tuệ tư duy, mà sách Phật thường gọi là văn tuệ (học hỏi mà biết) và tư tuệ (tư duy mà biết). Chúng ta nhớ lại lời Phật nói với những người Kalamas, khi Phật nói đến “những điều bị những người có trí chỉ trích”, thì đó là văn tuệ, còn khi Phật nói “tự mình biết rõ các điều này là bất thiện, là có hại…”, đó tức là tư tuệ, là hiểu biết do tự mình tư duy. Còn khi Phật nói “các điều này, nếu thực hiện sẽ đemlại bất hạnh và khổ đau” đó tức là tu tuệ, hiểu biết bằng thực nghiệm. Như vậy, khi có người nói chân lý tối hậu Niết Bàn (là siêu việt lý trí, tư duy lô gíc) thì họ nói đúng, nhưng khi họ phủ nhận mọi giá trị của văn tuệ và tu tuệ, mọi giá trị của học hỏi và tư duy lô gíc, thì họ phạm sai lầm. Nếu thế, thì Phật Thích Ca tán thán ông A Nan là “đa văn” tức là Phật sai lầm hay sao? 

Không phải như vậy, văn tuệ và tư tuệ đều có giá trị của nó. Chân giá trị con người chính là ở chỗ nó biết học hỏi những điều nó chưa biết, và ở chỗ có biết tư duy, lập luận một cách lô gíc. Tư duy lô gíc nhằm phân biệt phải trái, thiện, ác là một đặc sắc đáng quý của con người. Tại sao con người lại bỏ rơi đặc sắc đáng quý đó, để rồi nghe theo một số người đầu cơ, lập ra đủ mọi giáo phái kỳ quặc, tuyên truyền các thuyết về ngày tận thế, về sống buông thả tình dục để tìm những cảm giác siêu việt, tuyên truyền nam nữ sống khoả thân thành bầy! Chính lúc này, hơn lúc nào khác, Phật Giáo phải đề cao khả năng tư duy độc lập của con người để tìm ra lẽ phải, để phân biệt chính, tà, thiện ác. Vừa rồi, tôi nói người đầu cơ tôn giáo. Nhưng người đầu cơ chính trị cũng nguy hại không kém. Chính họ rao truyền những định kiến phân biệt tôn giáo, chủng tộc, sắc tộc và dân tộc hẹp hòi dẫn tới những cuộc chiến tranh và xung đột triền miên, đôi khi bột phát thành những cuộc tàn sát có quy mô diệt chủng! 

Phật Giáo Việt Nam ở thế kỷ XXI phải thật sự và xứng đáng là Phật Giáo của trí tuệ, Phật Giáo của những người có trí, không có mê tín và cuồng tín, tự mình nương tựa vào chính mình, không tìm một nơi nương tựa nào khác, tự mình thắp đuốc lên mà đi, tự mình lấy mình làm ngọn đèn, lấy chánh pháp làm ngọn đèn v.v… như Phật thường khuyên bảo. 

Nếu không có lý trí, không có khả năng tư duy, thì đúng như Blaise Pascal nói con người là một thứ lau sậy hèn yếu mà thôi, thế nhưng con người biết tư duy, và khả năng tư duy đó nâng cao con người lên địa vị tối linh giữa các loài động và thực vật (L’home n’est qu’un Roseau mais un Roseau pensant – Pascal. Người chỉ là một thứ lau sậy, nhưng là một thứ lau sậy biết tư duy). 

 

5. Phật Giáo Việt Nam ở thế kỷ XXI sẽ là một Phật Giáo biện tâm và hướng nội 

Thế giới hiện đại là một thế giới ồn ào, náo loạn, sôi động. Ngoại cảnh càng ồn ào, náo loạn và sôi động bao nhiêu thì nội tâm càng cần được yên tĩnh, bình lặng và trong sáng bấy nhiêu. Phật Giáo biện tâm và hướng nội sẽ giúp con người thành tựu được một nội tâm như vậy. Hướng nội là để cân bằng với hướng ngoại. Một tờ báo phương Tây đã dùng ảnh dụ sinh động ví von người hiện đại như một người có một chân buộc vào chiếc máy bay phản lực còn chân kia thì buộc vào một xe bò kéo! Một tờ báo khác viết, về mặc khoa học vật lý thì người Mỹ đang ở thời đại nguyên tử, nhưng về mặt tâm lý học thì người Mỹ đang ở thời đại đồ đá! Tâm lý học Phật Giáo có thể điều chỉnh tình trạng mất cân bằng đó của con người hiện đại. Có lẽ vì vậy mà Thiền học Phật Giáo đã tỏ ra rất hấp dẫn đối với người phương Tây, trong gần một thập kỷ lại đây, và trong quyển sách “The Way of Zen” (Con Đường Thiền), tác giả, một người Tây Phương, Alan W. Watts viết: “Thiền là một trong những quà tặng quý báu nhất của châu Á cho thế giới” (Zen is one of the most precious gift of Asia to the world – The Way of Zen p.3). 

Nhưng xu thế hướng nội của Phật Giáo Việt Nam còn có một cội rễ sâu xa hơn: Tức là đối với Phật Giáo, chân lý không phải là năm ở bên ngoài mà là ở bên trong của mỗi người chúng ta. Tư tưởng đó xuyên suốt lịch sử Phật Giáo Việt Nam từ khi Phật Giáo du nhập vào đất nước ta.  Các phương pháp điều thân, điều tâm được áp dụng trong các phái Thiền Việt Nam chủ yếu là nhằm điều hòa nội tâm (điều thân hay điều hơi thở chỉ là phương tiện), nhằm chuyển dần nội tâm từ tán loạn trở thành định tĩnh, từ chỗ hướng ngoại, chạy theo thanh sắc v.v… chuyển thành hướng nội, từ chỗ mê mờ trở thành sáng suốt, từ chỗ thô động, bất kham trở thành nhu nhuyễn dễ sử dụng, hướng tâm đến đâu là tuỳ theo ý mình. Một người tu tập tâm và điều hòa được tâm như thế sẽ là một người có sức mạnh phi thường! Sớ giải Kinh Kim Cang có câu: “Tâm chế nhất xứ, vô sự bất biện”. Nghĩa là tâm được chế ngự vào một nơi thì không có việc gì mà không làm được! 

Trong Kinh tạng Pali, thường ghi lời Phật khuyến khích học trò mình tu tập tâm, chế ngự và điều phục tâm:

“Khó nắm giữ, khinh động,

Theo các dụng quay cuồng,

Lành thay! điều phục tâm.

Tâm điều an lạc đến. (Pháp Cú. Kệ 35)

 

Kẻ thù hại kẻ thù

Oan gia hại oan gia

Không bằng tâm hướng tà

Gây ác cho tự thân.

Điều cha mẹ bà con

Không có thể làm được,

Tâm hướng chánh làm được

Làm được tốt đẹp hơn. (Pháp Cú. Kệ 42-43) 

Chỉ có hướng nội, thật sự tu tập tâm và điều phục tâm, chúng ta mới có thể đạt tới kết quả như vậy. Vì sao? Vì trong con người chúng ta, tâm là kẻ làm chủ. Tâm nghĩ ác, thì lời nói tùy theo cũng ác, thân hành động cũng ác. Trái lại, nếu tâm nghĩ thiện, thì lời nói cũng thiện và thân hành động cũng thiện. Trong Kinh Phật cũng thường nói tâm của Phật sáng suốt, thuần tịnh, nhu nhuyễn dễ sử dụng, cho nên nếu Phật hướng tâm nhớ lại các kiếp trước của mình, thì Phật nhớ lại tường tận không phải là một, hai, kiếp sống mà vô lượng kiếp về trước. Quyền năng siêu nhiên nhớ lại các kiếp sống trước như vậy, sách Phật gọi là túc mạng thông, hay túc mạng minh. Với tâm sáng suốt, thuần tịnh, nhu nhuyễn dễ sử dụng, Phật còn có nhiều quyền năng siêu nhiên khác nữa, mà sách Phật gọi là sáu quyền năng siêu nhiên hay sáu phép thần thông. 

Trên đây, tôi đã nói thẳng, nói thật tâm tư của tôi đối với Phật Giáo Việt Nam ở thế kỷ XXI. Ý kiến chân thành, nhưng lời văn có thể vụng về. Rất mong ban biên tập Giao Điểm lượng thứ và quý đọc giả gần xa thông cảm. 

Tôi cầu mong cho đến thế kỷ XXI này, (còn bao lâu nữa đâu) Tăng Ni Phật Tử trong nước hòa hợp, Phật tử trong nước và ngoài nước đều hòa hợp, Phật tử Việt Nam và Phật tử cả thế giới hòa hợp. Dưới ánh sáng của hạnh lục hòa của Phật Giáo, cả thế giới là Phật Giáo hay không phải Phật Giáo cũng hòa hợp, không khác gì một quốc gia thống nhất mà tất cả chúng ta đều là công dân, là thành viên. Giấc mơ muôn thuở “Bốn biển đều là anh em” (tứ hải giai huynh đệ) sẽ được thực hiện. Trên thế giới sẽ không còn chiến tranh nữa. 

Minh Chi

(Viện Nghiên Cứu Phật Học Việt Nam,

Trưởng Ban Phật Giáo Việt Nam) 

 

Phần chú thích

I.        Bát kính pháp là tám phép ứng xử của Ni đối với Tăng, trong đó có các phép như: Ni dù trăm tuổi, khi thấy Tỳ Kheo Tăng mới thọ giới, cũng phải đứng dậy đón tiếp, hỏi han, lễ bái, thỉnh ngồi.

        Ni không được cử tội Tỳ Kheo tăng… nhưng Tỳ Kheo Tăng được nói lỗi Tỳ Kheo Ni v.v…

        Đơn cử hai phép ứng xử trên, cũng đủ thấy những người cho rằng thuyết “Bát kính pháp” không được bình đẳng, cũng là có lý vậy. 

II. Toàn câu của Albert Einstein nói về đạo Phật như sau (trong bài, tôi chỉ trích một phần, không trích dẫn hết):

“The religion of the future will be a cosmic religion. It would transcent a personal God and avoid dogmas and theology. Covering both the natural and spiritual, it should be based on a religious sense, arising from the experience of all things, natural and spiritual, as a meaningful unity. Buddhism answers this description. If there is any religion that would scope with modern scientific needs, it would be Buddhism”.

Dịch: Tôn giáo tương lai sẽ là một tôn giáo vũ trụ. Nó phải vượt trên một Thượng Đế cá nhân, tránh giáo điều và thần học. Bao quát cả hai lĩnh vực tự nhiên và tâm linh, nó phải dựa trên một ý thức tôn giáo, nảy sinh từ sự thực nghiệm của mọi sự vật, tự nhiên và tâm linh, (được quan niệm) như một thể thống nhất có ý nghĩa. Phật Giáo đáp ứng một mô tả như vậy. Nếu có một tôn giáo thỏa mãn được những yêu cầu của khoa học hiện đại, thì tôn giáo đó là đạo Phật

III. Tư tưởng tu sĩ có thể rửa tội cho tín đồ cũng bị phê bình ngay cả trong nội bộ của đạo Gia Tô. Chứng cớ là câu sau đây của Thomas Paine, trong cuốn “The Age of Reason” trang 100: “Tư tưởng cho rằng… tu sĩ có thể rửa tội, tuy là hình như nó không tồn tại nữa, đã gây tổn thương cho tình cảm nhân loại và chuẩn bị cho con người phạm đủ mọi tội ác”. The Age of Reason – Thomas Paine. Page 100. (The idea… that priests could forgive sins, though it seems to exist no longer, had blunted the feelings of humanity and prepared men for the commission of all crimes)

 Tư liệu tham khảo chính:

  1. Thiền Học Đời Trần, Viện Nghiên Cứu Phật Học chủ biên và xuất bản 1991.
  2. Khóa Hư Lục, Trần Thái Tông, Bản Hán. Bản Việt của Đào Duy Anh
  3. Cư Trần Lạc Đạo Phú, Trần Nhân Tông, Hoàng Xuân Hãn dịch nôm
  4. Tỷ Kheo Ni Giới - Giới Đàn Ni, Thích Minh Phát soạn dịch. Thành Hội Phật Giáo thành phố Hồ Chí Minh xuất bản
  5. Trung Bộ Kinh III, bản dịch Thích Minh Châu
  6. Kinh Pháp Cú, bản dịch Thích Minh Châu
  7. Thơ Văn Lý Trần, Tập 1 và 3, Viện Văn Học xuất bản
  8. Trường Bộ Kinh I, bản dịch Thích Minh Châu
  9. Trường A Hàm I, bản dịch Thích Thiện Siêu
  10. Tăng Chi Bộ I, Bài Kinh: Các vị ở Kesaputta. Bản dịch Thích Minh Châu.

 

 

NHỮNG ĐẠI PHÁP NẠN CỦA PHẬT GIÁO VIỆT NAM

HỒNG NGỌC

 

Viết bài cho tuyển tập “Phật Giáo Trong Thế Kỷ Mới” theo phương pháp Tứ Diệu Đế, như ban chủ trương Giao Điểm đề nghị, là một việc có phần khó cho tôi. Vì, trước hết, có một số vấn đề, lúc mô tả hiện tượng thì chính nó đã hàm chứa nguyên nhân tạo tác và cũng hé mở phương thức giải quyết rồi. 

Thứ hai, có những sự kiện, cứ để chúng ẩn ẩn, hiện diện, hay qua bóng dáng mờ mờ ảo ảo sẽ làm cho đọc giả có óc suy tưởng và diễn dịch dồi dào hơn, và do đó sẽ có nhiều sáng kiến độc đáo cho các phương thức giải quyết. Tôi nghĩ như thế sẽ tốt đẹp hơn là nói thẳng, nói thực, nhiều lúc sẽ thiếu tế nhị và thiếu ái ngữ. 

Điểm cuối cùng là, dẫu cố gắng đến đâu nhưng nếu có vài ý, vài câu, vài đoạn không được đẹp cho lắm thì quí “đọc giả” cũng hiểu được rằng trong một thời đại mà quyền tự do ngôn luận được công nhận như một điều kiện phổ quát thì vài câu nói thì thào của tôi cũng chẳng lấy đó làm quan trọng, mà tốt hơn là nên suy nghĩ những điều trình bày ấy có đúng hay không. Một thí dụ cụ thể là, cựu Bộ Trưởng Quốc Phòng Hoa Kỳ, Mc Namara, viết cả quyển sách nói rằng, trong cuộc chiến trước đây, Việt Nam là kẻ chính nghĩa và Hoa Kỳ là kẻ phi nghĩa. Nói như thế, nhưng ông cũng chẳng bị bỏ tù hoặc bị chụp mũ là Cộng Sản bao giờ. 

Với vài nhận định nêu trên, tôi viết bài góp ý ngắn này tùy theo ngòi bút đẩy đưa, nhớ gì viết đó. Và cũng chỉ viết được vài khía cạnh nhỏ của một số vấn đề. Trong cách nhìn có tính “ham hố” vì có quá nhiều điều muốn viết muốn nói nhưng chua thể thực hiện, nên chỉ nêu ra một số “hiện tượng” để từ đó hi vọng chúng ta sẽ có biện pháp sửa đổi.

 

I.       ĐẠI PHÁP NẠN TẠI HẢI NGOẠI 

1. Người lãnh đạo không thể đi sau quần chúng 

Lúc bỏ nước ra đi từ năm 1975, đa số hàng tôn túc đều có mộng “lấp biển vá trời”, mang một hoài bão lớn lao cho một cuộc hành trình mới. Nhưng lúc được định cư một thời gian, các mộng ước lúc đầu dần dần trôi theo mây gió, mà nguyên nhân chính yếu là do hàng cư sĩ gây ra. Thay vì khuyến khích giúp đỡ tăng ni tu và học, các tín đồ đã góp tiền dựng lập chùa để có nơi tới lui học đạo, cầu an, cầu siêu, ký linh, ký tự. Đó là một việc làm cần thiết, nhưng lúc có chùa, đa số các hội viên đều bận rộn lo kế sinh nhai, nên tất cả từ việc lớn đến việc nhỏ đều phó thác cho vị trụ trì. Như thế, người Phật tử đã biến vị thầy của mình thành người “nô lệ” cho cái cơ sở vật chất ấy, không còn thì giờ để tu và học thêm, ngay cả thiếu thì giờ để đọc sách, báo bằng Việt ngữ chứ chưa nói đến ngoại ngữ, hay học một môn ngoại điển nào, mà một người sống trên một quốc gia khác, nên biết ít nhiều ngôn ngữ của họ để giao thiệp.

 Hậu quả của vấn đề là, hơn 20 năm qua ở hải ngoại, trong lúc xã hội ngày càng phát triển, kiến thức con người ngày càng mở rộng, thì một số ít các vị lãnh đạo của chúng ta chỉ sử dụng mớ kiến thức học được từ trước năm 1975, mà nhiều lúc, có những điều hay, học được thì đã quên bớt, và có cái đã lỗi thời thì không biết để bỏ đi. Như thế, người Phật tử đã vô tình biến người lãnh đạo của mình tụt hậu, đi sau quần chúng, làm sao lãnh đạo có kết quả tốt được. 

Có người sẽ lý luận rằng, đức Khổng Tử, Phật Thích Ca đâu có học nhiều đâu mà cũng được tán tụng là vạn thế sư biểu, cũng được xưng hô là thiên nhân chi đạo sư. Có thể nói rằng, hầu hết chúng ta không phải là Khổng Tử và chỉ là Phật sẽ thành. Do đó, trong xã hội ngày nay, đòi hỏi người lãnh đạo trước hết phải có tu và thứ đến là phải có học. Nếu sở học, nhất là phần nội điển thấp hơn quần chúng làm sao lãnh đạo được quần chúng. 

Trong lãnh vực Gia Đình Phật Tử (GĐPT) cũng thế. Các huynh trưởng kỳ cựu là những người rất tốt, gần suốt cuộc đời xã thân vì lý tưởng GĐPT, sống chết vì đạo, nhất là qua các thời kỳ nhiễu nhương của thế sự nhân tâm. Nhưng hoàn cảnh xã hội và trình độ nhận thức của thế hệ trẻ ngày nay, đòi hỏi thành phần huynh trưởng kỳ cựu phải cập nhật hóa tư tưởng của mình, chương trình và phương pháp sinh hoạt cũng phải đổi mới cho thích hợp với thời đại tân tiến. Thí dụ, thời xưa, lúc khoa học còn thô sơ, con người phải dùng đến các tín hiệu để liên lạc với nhau, nhưng ngày nay, với điện thoại cầm tay không cần dây (cordless), chúng ta có thể liên lạc được với nhau một cách dễ dàng ngay cả giữa cảnh núi rừng hoang dã. Một bản tin quan trọng cách xa vạn dặm, từ Úc gởi qua Hoa Kỳ, chẳng hạn, chỉ cần vài phút là có thể gửi bằng máy fax, đâu cần phải thổi còi, phất cờ tín hiệu. Đây là một thí dụ trong muôn ngàn vấn đề cần phải cải đổi để phát triển và tồn tại còn không thì GĐPT chỉ còn là các lớp Việt ngữ, hoặc nơi gặp gỡ của giới trẻ với lứa tuổi dưới 18 mà thôi, vì lúc lên đại học, các đoàn sinh này cảm thấy GĐPT không phải là môi trường để họ có được những tiếp thu mới, và người huynh trưởng của họ về khả năng không làm cho họ học thêm được nhiều điều cần thiết. Bởi thế, chúng ta thấy, tại các đô thị, sự sút giảm số lượng đoàn sinh GĐPT có trình độ đại học. Nói rõ hơn, lúc vào đại học, có nhiều em thiếu niên thiếu nữ không còn tiếp tục đến với GĐPT nữa, mà nguyên nhân chính là nơi đây không còn cung ứng cho họ một số kiến thức mới như lúc còn là đoàn sinh oanh vũ. 

Tại chùa của H.T. Thích Đức Niệm miền Nam California, tháng 11, 1981, sau đám tang của huynh trưởng Phan Bản Cẩn, tôi có trình bày tình trạng này với một số anh chị em huynh trưởng cao cấp như anh Nguyễn Hữu Liêm (hiện tại là luật sư, ở San Jose, California), nhưng có lẽ quá sớm đối với nhiều vị ngoại trừ anh Nguyễn Hữu Liêm.

 

2. Nạn lạm phát chùa chiền 

Lúc người Phật tử trong nước đọc báo thấy người Việt hải ngoại lập được hơn 250 cảnh chùa. Họ nghĩ rằng tất cả các chùa đều có mái cong, có rồng, có phụng, có trúc, có mai, với cảnh trí u huyền lưng lưng thoát tục, nhưng thực tế không phải vậy. Hiện nay có khoảng trên 20 chùa xây cất có quy củ, số còn lại chỉ là một căn nhà nhỏ (và nhiều vùng cũng chỉ nên có như vậy thôi) với giá tiền mua khoảng dưới 100.000 Mỹ kim. Trả trước 20.000 (hai chục ngàn), số còn lại trả góp khoảng 30 năm, mỗi tháng khoảng 600 Mỹ kim, tiền lời 8% mỗi năm. Nếu trả không được ngân hàng sẽ tịch thu. Do đó, tháng nào vị trụ trì cũng lo nghĩ xoay sở cho đủ tiền trả nợ hàng tháng. Đó là chưa kể tiền điện, điện thoại, nước, gas (chất đốt), thuế và tiền bảo trì. Cũng có chùa, cơ sở nhỏ, nội dung sinh hoạt chưa có tầm cỡ, nhưng dùng danh từ hơi lớn hơn như Quốc Tế, Thế Giới… Danh và Thực chưa phải là một cặp xứng đôi. 

Mặc dầu khó khăn về tài chánh, nhưng nhiều nơi làm chùa không phải vì nhu cầu tín ngưỡng mà vi nhu cầu cá nhân. Có vài người làm chùa cũng để thỏa mãn cái ngã hơn là vì nhu cầu thực tế. Vì thế, có nơi, chùa cách nhau chỉ vài con đường mà số lượng tín đồ quá ít không phải có nhiều chùa như thế. Đó là chưa kể khoảng chừng 15 đến 20 năm nữa là tối đa, chùa sẽ không có bổn đạo, vì số Phật tử lớn tuổi đã qua đời, lớp trẻ thì ít đến vì nhiều lý do: ngôn ngữ bất đồng, thầy nói tiếng Việt mà Phật tử của thế hệ mới đa phần nói tiếng Anh, tiếng Pháp…, trình độ văn hóa chênh lệch, cách tổ chức và nghi lễ không đáp ứng với lối nhìn của thời đại. Đó là chưa nói đến đa số Phật tử ngoại quốc (gốc không phải là người Việt) lại là thành phần hoàn toàn bất đồng ngôn ngữ với nhiều vị thầy của Phật Giáo Việt Nam ở nước ngoài. Hơn 50 năm trước đây, người Nhật phần lớn ở Hạ Uy Di (Hawaii), và người Hoa tại California đã đi con đường mà Phật Giáo Việt Nam tại hải ngoại đang nhầm lẫn ngày hôm nay. Kết quả là, hàng trăm ngôi chùa của hai cộng đồng Phật tử này bị xoá tên trên bản đồ Mỹ Quốc. Hoặc có vài chùa đồ sộ còn lại tại các đảo ở Hawaii, nhưng chỉ để làm cảnh trí cho khách du lịch hơn là chốn thanh quy tu học như trước đây. Rất tiếc, các gương trước mắt ấy, nhưng nhiều người Phật tử chúng ta không học được bài học đích đáng nào, mà cứ vẫn đi vào con đường thất bại của hai cộng đồng Nhật và Hoa nói trên. Tình trạng này, tôi cũng đã có dịp báo động trong buổi họp thành lập Tổng Hội Phật Giáo Việt Nam tại Hoa Kỳ năm 1980 tại Thiền Viện, số 928 S. New Hampshire, Los Angeles, California, USA, do cố H.T. Thiên Ân làm viện trưởng. 

Nếu nhìn vào lịch sử truyền bá Phật Giáo của các vị tổ sư Ấn Độ và Trung Hoa vào Giao Châu trong các thế kỷ trước, và các vị sư đem đạo Phật Việt Nam vào cộng đồng phương Tây ngày nay, chúng ta rất lấy làm tiếc, nhưng cơ hội vẫn còn, nếu hàng Phật tử xuất gia và tại gia ý thức được vấn đề và có chương trình cụ thể. 

Một con số ước lượng là, Phật Giáo Việt Nam tại hải ngoại mỗi năm phải tốn mất 6 triệu Mỹ kim (mỗi chùa tốn 2 ngànMỹ kim mỗi tháng, 250 chùa, nhân cho 12 tháng) để duy trì và trả nợ tiền mượn ngân hàng mua nhà làm chùa. Nếu số lượng 250 “ngôi” chùa giảm xuống chỉ còn một nửa thì Phật Giáo Việt Nam có thể dành được 3 triệu Mỹ kim mỗi năm để phát triển Phật Giáo trong nước và hải ngoại. Đó là chưa nói đến số lượng còn lại một nửa này (125 ngôi chùa), nếu không có lối truyền đạo nhắm vào người bản xứ, như các vị tổ sư Ấn Độ và Trung Hoa sang Việt Nam trong các thế kỷ trước, thì số chùa còn lại này sẽ bị vắng bóng tại hải ngoại như đã trình bày ở trên. 

Do đó, người Phật tử cúng đường tiền làm chùa thế nào để chánh pháp của đức Như Lai được lưu truyền, chứ không nên thiếu cân nhắc để như đem muối bỏ biển, có thể không được phước mà còn thêm tội, và người có trách nhiệm nên làm thế nào để pháp Lục hòa của Phật được áp dụng, tránh bớt một số việc làm không cần thiết. 

3. Phe ta đánh phe mình 

Một cách tổng quát, tương đối hơn 20 năm qua các giáo phái Tin Lành Việt Nam tại hải ngoại hầu như không làm chính trị, nói rõ hơn là không chống Cộng. Do đó, hiện nay họ truyền đạo rất dễ tại Việt Nam, không ai để ý hoặc nghi ngờ. Trong khi đó cũng có tôn giáo không còn chống Cộng như trước, mà chuyển qua chiến lược ném đá dấu tay tinh vi hơn, xúi dục kẻ khác chống Cộng giùm để tạo áp lực trong nước. 

Về phía Phật Giáo, thì một số đã trúng kế, múc nước cho kẻ khác rửa chân mà cứ tưởng rằng mình là kẻ “anh hùng chống Cộng”. Một cách khách quan, có thể nói được rằng, vài vị trong hàng tôn túc, mấy năm qua làm quá nhiều về những công việc mà họ có kinh nghiệm quá ít. Bỏ sở trường, làm sở đoản. Sở trường của quí ngài là tu, học, làm tấm gương đạo hạnh cho thiên hạ soi chung. Nói như giáo sư Cao Huy Thuần “có tu thì có tất cả”, không tu thì mồ mả và nhang khói chẳng còn (HN). Nhưng buồn thay, một vài vị chống Cộng có tính hung hăng, mất tư cách, không nghiên cứu tường tận để biết cái nào nên chống cái nào nên bênh, nếu chống thì chống cách nào, bênh thì nên bênh ai bỏ ai, bênh cái đúng, chống cái sai. Chứ không thể làm chính trị theo kiểu con bò rừng, cứ thấy màu đỏ là húc. Mà điển hình là H.T. Thanh Từ, T.T. Khế Chơn, T.T. Phước Trí bị mấy thầy chụp cho cái mũ là Cộng Sản, là tôn giáo vận. Cũng như nhiều năm trước đây có hai, ba thầy ra thông báo lên án chụp mũ H.T. Trí Thủ và H.T. Đôn Hậu nhưng vài tháng sau đó chính mấy vị này lại cử hành lễ truy điệu. Có thể nói rằng, có vài người lợi dụng chiêu bài chống Cộng để chống nhau, tạo sự chia rẽ trong hàng tôn túc, tạo hố sâu giữa Phật tử trong và ngoài nước để có lợi cho ngoại nhân. Chống Cộng thiếu ý thức đã xé nát tập thể tăng tín đồ ra nhiều mảnh. 

Nếu để ý vào các vị “anh hùng chống cộng” này chúng ta sẽ thấy. Lần đại hội Thanh Niên Thiên Chúa Giáo tại Denver, Colorado, Hoa Kỳ bốn năm trước đây, có treo cờ đỏ sao vàng (để lấy lòng), nhưng chúng ta không thấy mấy vị “anh hùng” này chống. Hoặc có nhiều chức sắc Thiên Chúa Giáo từ Việt Nam ra quyên góp tiền tại các nhà thờ ở hải ngoại, chúng ta cũng không thấy mấy “anh hùng” nêu trên ra tuyên cáo chống mà chỉ thấy tình trạng phe ta chống phá phe mình. Đó là chưa kể một số viên chức trong một giáo hội hiện nay giả vờ chống Cộng để che đậy việc buôn bán đầu tư tại Việt Nam, hoặc có vị soạn “kế hoạch kinh tế” du lịch để đầu tư trong nước. Đưa ra hai dẫn chứng này, tôi không hàm ý chụp mũ hai vị là Cộng Sản, nhưng để cho thấy cái mâu thuẫn của vấn đề và cái khó của tình thế. Cũng có một vị khác trong hàng tôn túc hiện đang có chức vụ trong giáo hội, bị dư luận nghi rằng CIA đã móc nối, vì lúc tị nạn trong trại, chỉ ở lại có ba ngày thì được bốc ra ngay, mà không cần qua các thủ tục và qui chế của người tị nạn. 

Nếu ai không chống Cộng, thì bị vài tờ báo có khuynh hướng TCG chụp mũ là Cộng Sản, người đó phải viết bài chống Cộng để minh oan. Như thế, là trúng kế thêm một lần nữa. Thí dụ, hồi tháng 6, 1996, tại Colorado, một bài báo ký tên là Bạch Long đăng trong bản tin Chiến Hữu. Bái viết nói rằng Phật Giáo chống Cộng cò mồi, chống giả hiệu, H.T. Huyền Quang là tên Công Sản. Vì từ đầu năm 1996, GHPGVNTNHN tại Hoa Kỳ không chống Cộng hăng như trước. Lời lẽ của bài viết rất thiếu văn hóa, đáng lý ra, tự nó đã cho thấy giá trị của bài viết như thế nào rồi. Nhưng ngày 10.7.1996, thấy có bức thư của chùa Như Lai viết lên án Cộng Sản để minh oan.  

Người Phật tử rất đau lòng lúc thấy vài đài phát thanh và truyền hình thân TCG (như đài Little Saigon tại quận Cam) không phỏng vấn những vị tôn túc có đạo cao đức trọng, có tầm nhìn xa thấy rộng nhưng thường thấy họ phỏng vấn một vài vị mà tác phong còn thấp kém và kiến thức thì giới hạn, để làm cho thính giả khán giả dèm pha. Tệ hại hơn, là vài vị trong số này lại thích xuất hiện trên đài. 

Bỏ sở trường, làm sở đoản, đi từ trúng kế này đến mắc mưu khác. Tâm của các vị nói đây rất tốt, nhưng sở trường về chính trị muôn mặt quá thô thiển, không biết áp dụng khế lý khế cơ chuyển phát luân vào thời đại mới. Việc làm thiếu nghiên cứu tường tận của vài vị này rất nguy hiểm cho Phật Giáo. 

4. Phật giáo chưa có tầm vóc, vì đệ tử Phật chỉ còn một chúng 

Lúc Phật chuyển pháp luân 26 thế kỷ trước đệ tử của ngài có bốn chúng: tỳ kheo, tỳ kheo ni, ưu bà tắc (nam cư sĩ), ưu bà di (nữ cư sĩ). Qua các thời đại, Phật Giáo thịnh hành như thời vua A Dục tại Ấn Độ, thời nhà Đường tại Trung Hoa, và thời Lý Trần tại Việt Nam, đệ tử Phật cũng còn bốn chúng hỗ trợ, tương tác lẫn nhau để truyền trì chánh pháp. Nhưng tại Việt Nam, nhất là sau 1963, vì thời cuộc nhiễu nhương, Phật Giáo đi vào con đường tục đế hơn thánh đế, nạn lạm dụng quyền hành, lợi dụng danh nghĩa của một thiểu số cư sĩ để tiến thân, nhất là qua các thời kỳ ứng cử bầu cử. Do đó, các tổ chức giáo hội rất thận trọng trong việc mời một số cư sĩ có khả năng đảm đương công việc của giáo hội. Tuy nhiên, cũng có một số quý thầy trong vài tổ chức Phật Giáo trong cũng như ngoài nước, thấy mấy ông cư sĩ “khó bảo”, nên bao quát tất cả các chức vụ ngay cả các công việc mà hàng tăng giới thiếu kinh nghiệm, như vấn đề chính trị, kinh tế và ngoại giao. Có nơi, hình ảnh của cư sĩ trong giáo hội là chỉ để “làm kiểng” hơn là cộng tác chia xẻ các trọng trách. Một vài tổ chức giáo hội hiện nay, trong nước cũng như hải ngoại, thậm chí có nhiều vị tăng cũng như tục nhận chức vụ, nhưng suốt một nhiệm kỳ (vài năm) công việc cũng chẳng thấy thực hiện được bao nhiêu điều đã được giao phó. Nhưng đến kỳ đại hội, cũng thấy có những bản tường trình “ngoạn mục”, những bài diễn văn “nảy lửa” mà nội dung và kết quả thì còn khiêm tốn. 

Vì thế, Phật Giáo cần phải điều chỉnh phương pháp tổ chức, sử dụng nhân sự đúng khả năng, qui định và theo dõi các chường trình đã đề xuất. Phật tử tại gia phải qui kính tam bảo, thực sự hộ trì chánh pháp. Bốn chúng đệ tử của Phật lúc nào cũng phối hợp chặc chẽ bổ túc cho nhau để bước vào thế kỷ mới.

 

I. ĐẠI PHÁP NẠN TRONG NƯỚC 

Lúc gặp vài vị trong giáo hội nói rằng Phật Giáo tại Việt Nam gặp đại pháp nạn, tôi thăm hỏi quan điểm của các đại pháp nạn. Có vị đã trả lời tiền hậu bất nhất, rất xa rời với hiện thực. Tôi có đề nghị nên về Việt Nam để điều nghiên vấn đề tường tận, không nên phỏng đoán tình hình và phản ứng theo cảm tính. Trăm nghe không bằng một thấy. Đối với Phật tử trong nước cũng thế, không nên có tinh thần trọng ngoại, vọng ngoại rất sai lầm. Không phải cái gì có nhãn hiệu nước ngoài là đều tốt đẹp cả. Có điều mà chúng ta không thể tưởng tượng nổi, nhưng có thật, như cuộc thăm dò khoa học cho thấy trên 50% thế hệ trưởng thành của người Hoa Kỳ không biết quả đất quay quanh mặt trời, mỗi năm một lần, vì kinh thánh dạy rằng quả đất phẳng, có cột trụ chống đỡ do Chúa tạo ra, đứng yên một chỗ, mặt trời quay quanh quả đất, nên họ bị ám ảnh từ nhỏ đến lớn (Xin xem cuốn Ki Tô Giáo, Từ Thực Chất Đến Huyền Thoại, và báo West Coast Times, 24.05.1996). Thí dụ: Pháp Quốc là trưởng nữ của tòa thánh Vatican, nhưng hiện nay có 5% Phật Giáo, 6% Tin Lành (theo tuần báo Mai California) và chỉ có khoảng 15% Thiên Chúa còn thực hành tín ngưỡng (in a traditional Roman Catholic country where only about 15% actively practice their faith, Los Angeles Times, Friday, 20.09.1996). 

Tóm lại, vì thiếu nghiên cứu tường tận vấn đề, nên bên trong nạn nhân của bên ngoài, bên ngoài nạn nhân của bên trong, vấn đề có phần lệch lạc thiếu chính xác. Nói vậy, tôi không có ý cho rằng các vần đề đều sai mà có cái đúng. Nhưng nên biết cái nào đúng cái nào sai. Nên nhìn vấn đề trong tương quan tương duyên của khế cơ khế lý. Thực tế, Phật Giáo Việt Nam có mấy đại pháp nạn mà phần lớn là tại hải ngoại như đã nêu trên, và sau đây là vài pháp nạn trong nước. 

  1. Nạn tăng ni lạm phát, lượng cao, phẩm thấp

Sau 1975, số lượng tăng ni trẻ tại Việt Nam gia tăng nhanh chóng, nhất là những năm gần đây, số Phật tử trẻ xuất gia đông đảo do vài nguyên nhân chính sau đây:

Lúc thâm hiểu được phần nào giáo lý căn bản của Phật, hàng cư sĩ phát nguyện xuất gia để truyền trì chánh pháp, đem lại lợi ích cho quần sanh. Với cái sơ tâm xuất gia mạnh mẽ, ấp ủ trong lòng hoài bão cao quý ấy, nếu được giáo dưỡng đúng mức, thành phần đông đảo quý hóa này sẽ trở thành những bậc trưởng tử  lỗi lạc của đức Như Lai, nắm giữ mạng mạch của Phật Giáo. Bên cạnh những tâm hồn quí báu ấy, cũng có một số rất ít vì hoàn cảnh kinh tế, hoặc vài lý do cá biệt khác nên muốn xa lìa cuộc đời trần thế. Dẫu động cơ nào đưa người Phật tử đến cửa Phật, mà nếu duyên may gặp được vị bổn sư chỉ dạy có phương pháp, gặp được môi trường đào tạo hữu hiệu, thì hàng sơ tâm xuất gia này sẽ là những viên ngọc quí cho Phật Giáo. 

Rất tiếc, một số ít quí vị trụ trì đã nhận chúng xuất gia thiếu cân nhắc, và thiếu nhiều phương diện. Một số ít trường Phật học lại thiếu các vị giáo thọ tài ba, và thiếu phương pháp sư phạm hiện đại, nên vấn đề tu và học của tăng ni thiếu hẳn chất lượng. Nhiều lớp học, mang nặng không khí buồn tẻ, chán nản, kéo dài nhiều năm nhưng kết quả không được như ý muốn. Thí dụ, cuốn kinh Tứ Thập Nhị Chương (có 42 chương rất ngắn), thay vì chỉ dạy mất 10 giờ là xong, có trường, thầy dạy mất từ bốn đến sáu tháng. Nếu tình trạng này không cải tiến kịp thời, thì đó là một đại pháp nạn cho tiền đồ Phật Giáo, vì số lượng tăng ni quá lớn mà phẩm chất vẫn còn khiêm tốn. Chôn vùi thời gian nhiều năm, trong trường lớp, nhưng kết quả thu thập thì còn quá ít. 

Nếu người xuất gia có đạo hạnh kém, kiến thức thô thiển, nhất là về Phật pháp, sẽ làm cho tín đồ ối đố dèm pha, thiếu kính trọng và người ngoài khai thác. Hệ quả của vấn đề là, thay vì quy y Phật Pháp Tăng, tín đồ sẽ quy y với ngoại đạo tà giáo. Tình trạng này không những ảnh hưởng tai hại cho cơ đồ Phật Giáo mà còn làm lung lay nền tảng đạo đức của quốc gia xã hội. Đây cũng là quốc nạn, nguyên nhân do pháp nạn nói trên. Một hôm viếng thăm ngôi chùa tại Long Thành, tỉnh Đồng Nai, tôi thấy số lượng quí chú mới xuất gia tăng từ bốn vị năm 1991, đến 42 vị năm 1995. Tôi phát biểu nửa đùa, nửa thật với vị trụ trì, cũng là chỗ quen thân, rằng thầy nhận người xuất gia quá nhiều là thầy phá Phật Giáo. Vị thầy hiền lành, cẩn trọng hỏi lý do. Tôi kính cẩn thưa rằng, một vị trụ trì lúc thu nhận người xuất gia phải có ba điều kiện tối thiểu: 

Một, có cơm áo để nuôi, nếu phải dùng phần lớn thì giờ để làm rẫy canh tác cho cuộc sống thì không có thì giờ để tu và học. Hai, phải có phương tiện để học cả nội điển lẫn ngoại điển. Ba, thầy phải có thì giờ để hướng dẫn đời sống nội tâm. Kinh nghiệm đời cho thấy, đa số con cái của các gia đình người Hoa (hay thành phần có cửa hàng buôn bán) rất hư hỏng. Vì cha mẹ lo buôn bán, con do người giúp việc nuôi và giáo dục trực tiếp. Như thế, người ở đóng vai làm cha làm mẹ và làm thầy giáo của các đứa bé. Điều đó cho thấy thì giờ cha mẹ dành cho con cũng như thì giờ thầy dành cho đệ tử rất cần thiết, ảnh hưởng đến tư tưởng và nếp sống của thành phần son trẻ. 

Nếu thiếu ba điều kiện cần thiết nêu trên, một số đệ tử lớn lên, có thể sẽ trở thành hiện tượng mà tôi vô phép gọi là “Đường đường tăng tướng, dung mạo khả nghi” thì rất đại họa cho Phật Giáo. Một cư sĩ lúc có hành động thiếu “đạo đức” chỉ mang tiếng cho một gia đình. Nhưng một vị tu sĩ mô phạm thiếu hạnh, sẽ mang tiếng cho cả một tập thể. 

Người Phật tử được dạy rằng “y pháp bất y nhân” nhưng bên cạnh đó, họ cũng được giáo huấn “tăng đáo cũng như Phật Lai”, xem thầy như vị Phật sống. Nếu niềm tin hay thần tượng của họ bị sụp đổ thì cả vũ trụ trong lòng họ cũng sẽ đổ theo. Nói như ý của một triết gia, con người trụy lạc trong dục vọng, còn mất mát ít hơn là mất mát sự tin tưởng say sưa trong lòng họ.

 

  1. Chưa có một chương trình thiết thực đối với các Phật tử xa đô thị

Nếu tại hải ngoại có vài nơi làm chùa không phải do nhu cầu tín ngưỡng mà vì nhu cầu cá nhân, thì ở trong nước cũng có vài nơi như thế. Một số tăng ni có đệ tử hay thân nhân ở nước ngoài, nên việc quyên góp tiền làm chùa hay tu bổ, nhiều lúc, trở nên một phong trào. Nhưng rất tiếc, là phong trào này chỉ chú trọng đến các tỉnh và đô thị lớn, còn các chùa làng, các nơi hẻo lánh xa thành phố rất ít được quan tâm, nhất là tại Bắc Việt, nơi đó tình trạng bị chiến tranh lâu năm và số người vược biên lại quá ít, nên sự cúng đường đóng góp của Phật tử nước ngoài, so với miền Trung và Nam, quả tình là quá cách biệt. Lục Tổ Huệ Năng dạy, Phật vô nam bắc, nhưng nhiều Phật tử Việt kiều chúng ta thích giúp tại địa phương mình hơn là các nơi khác. Vì thế Phật Giáo miền Bắc ít phát triển về mọi mặt. 

Tình trạng lập chùa mới, tu bổ chùa cũ thiếu sự phối trí đồng đều, thì thành phần nhân sự cũng không kém phần trở ngại. Số lượng tăng ni tại Việt Nam trên 20 ngàn, nhưng có được bao nhiêu vị đủ trình độ để làm trụ trì và giảng sư. Có được bao nhiêu vị chịu dấn thân đi đến các vùng quê để thuyết pháp độ sinh. Nhiều quận, xã thôn, 10 năm chưa thấy được bóng dáng một vị sư trong các buổi trong các buổi lễ, còn tại đô thị thì tình trạng tấp nập với những chiếc áo nâu, áo vàng tung bay phất phới. 

 

II. VÀI GÓP Ý CẢI THIỆN 

Để cải thiện các khuyết điểm nêu trên, tôi xin đề nghị vài ý kiến thô thiển. 

1. Tùy theo nhu cầu tín ngưỡng, phương tiện tài chánh, số lượng tín đồ và hoàn cảnh kinh tế của quần chúng địa phương, để giới hạn hoặc gia tăng số lượng xây chùa mới, sửa chùa cũ. Phật Giáo là một tôn giáo đem vui cứu khổ, do đó, không nên làm những ngôi chùa quá nguy nga đồ sộ trước sự nghèo đói của quần chúng, và kêu gọi tín đồ cúng đường đóng góp quá nhiều hoặc làm chùa dư thừa như một vài nơi tại hải ngoại. Số lượng chùa thì nhiều nhưng chẳng có bao nhiêu cái đáng giá.

2. Phải có tiêu chuẩn tối thiểu về cơ sở vật chất, tài chánh và thì giờ của một vị trụ trì lúc thu nhận đệ tử mới, phải trắc nghiệm, tập sự một thời gian trước lúc cho xuống tóc.

3. Mở các khóa tu huấn cấp tốc và định kỳ, để bồi dưỡng kiến thức sư phạm mới cho quí vị giáo sư, giáo thọ của các trường Phật Học.

4. Mở khóa giảng dạy bằng phương pháp hiện đại, đào luyện cấp tốc hoặc tu huấn cho quý vị trụ trì và giảng sư để cung ứng cho nhu cầu phát triển Phật Giáo và thăng tiến quốc gia trong thời đại mới. Nếu không có các khoá huấn luyện tu học thì như đẩy người ra khơi mà không cung cấp hành trang.

5. Mở lớp học hàm thụ cho các cư sĩ nhất là các vùng xa đô thị.

6. Muốn phát triển mạnh, hài hòa, không gây đàm tiếu, Phật Giáo Việt Nam trong và ngoài nước có nên suy nghĩ một dòng tu mới bên cạnh dòng thanh tịnh xuất gia hiện có? Dòng này đặt tên là dòng Pháp Sư (Dharma teacher) hay nói nôm na là thầy giảng đạo như mục sư Tin Lành. Dòng pháp sư có quyền lập gia đình, giới luật, nhiệm vụ và y phục khác với giới thanh tịnh, xuất gia. Thật ra đây không phải là điều mới mẻ. Nếu đọc sử Phật Giáo đời Trần, chúng ta thấy, vua Trần Nhân Tông, sư tổ phái Trúc Lâm, không những gọi ngài Tuệ Trung là pháp sư mà xưng tụng là Thượng Sĩ (tức là Bồ Tát) mặc dầu ngài Tuệ Trung có gia đình vợ con. Phật giáo Nhật Bản mạnh, nhờ có sự cải cách. Nhiều vị thiền sư nổi tiếng của một môn phái thiền tại Nhật có gia đình, mà điển hình là thiền sư Suzuki, đạo hạnh và tư tưởng của ngài nhất là bộ Thiền Luận đã dẫn hàng triệu người trí thức Tây Phương đến với đạo Phật. Hiện nay, Phật Giáo Tích Lan (tiểu thừa) tại Hoa Kỳ đang có khóa huấn luyện khoảng trên 20 vị pháp sư, và sư bà Karuna, đệ tử của cố H.T. Thiên Ân cũng làm lễ thọ giới cho vài vị (nam) pháp sư người Hoa Kỳ tại Los Angeles, California. 

Đây là một gợi ý mới mẻ đối với Phật tử Việt Nam trong nước, nhưng thời đại cũng cho thấy, cần phải uyển chuyển hợp khế lý khế cơ. Ai có thể thanh tịnh xuất gia càng quí, tấm gương mô phạm muôn đời, nhưng nếu không được trọn vẹn thì nên công khai. Và vị nào từ hàng cư sĩ vào thọ giới và theo dòng pháp sư một thời gian, nếu cảm thấy có thể thanh qui phạm hạnh được, thì giáo hội sẽ làm lễ thọ giới để tiến lên hàng thanh tịnh xuất gia. Như thế, còn hơn là một vài chú mới xuất gia vài năm, nằm trong thế kẹt, tiến thối lưỡng nan. Nếu không có lối thoát đã dự liệu, Phật giáo sẽ gặp trở ngại lớn. 

7. Phật tử tại gia trong và ngoài nước nên qui kính Tam Bảo nhiều hơn nữa, xóa bỏ tất cả các dị biệt, nếu có, từ trước, tham gia tích cực vào các cương trình hoằng dương Phật pháp vào thời đại. Ủng hộ các chương trình bổ ích, cụ thể, từ chối tham gia các công tác Phật sự thiếu nghiên cứu và không thích hợp với khế lý khế cơ mà Phật đã dạy. 

Hải ngoại có khoảng gần một triệu Phật tử, nếu tất cả đều ý thức được vấn đề, nỗ lực và tích cực, thường xuyên mỗi năm, mỗi người đóng góp một Mỹ Kim (tổng cộng 1 triệu Mỹ kim mỗi năm) cho bảy chương trình trên. Như thế, Phật Giáo Việt Nam mới có tầm vóc để góp phần vào việc làm tốt đời, đẹp đạo.  

8. Điều kiện của một giáo hội mạnh theo kiểu tôn giáo Tây Phương: Ki Tô Giáo (Thiên Chúa và Tin Lành) mạnh nhờ áp dụng năm điều kiện sau: Huấn luyện, Tổ chức, Đoàn kết, Có tiền, Cuồng tín. Đưa ra năm điều kiện trên, tôi không hàm ý là Phật Giáo muốn mạnh thì phải bắt chước kẻ khác như những việc mà họ đã và đang làm:

-         Dẫn đường hoặc oa rập với các phong trào chiếm thuộc địa trước đây để có tiền

-         Dùng sự hăm dọa như Chúa đày địa ngục, hoặc “tẩy não” để tín đồ trở nên cuồng tín ngu muội cho dễ bảo,

-         Lúc đầu, giúp đỡ, nhưng sau khi đã tẩy não thì bảo phải đóng 10% lợi tức hàng tháng vào nhà thờ, nếu không “Chúa sẽ đày xuống địa ngục”(nhiều giáo phái Tin Lành ở Mỹ áp dụng). 

Thời đại này, họ áp dụng con đường xâm chiếm lãnh thổ qua cuốn kinh Thánh và qua lá phiếu. Chúng ta hãy nghe lời phát biểu thấm thía của vị lãnh giãi thưởng Nobel về hòa bình năm 1984 là giám mục Desmond Tutu, đã than thở cho số phận các nước Phi Châu của ông như sau: 

“Chúng tôi có đất, các giáo sĩ có cuốn Kinh Thánh. Chúng tôi tin họ và cầu nguyện với cuốn Kinh Thánh trong tay và hai mắt nhắm lại. Lúc mở mắt, chúng tôi có cuốn Kinh Thánh còn các giáo sĩ có tất cả đất đai của chúng tôi”. (We have our lands and they came with their Bible. We believe in them and we pray with the Bible in our hands and our eyes closed. When we open our eyes, we have the Bible and they have our lands. Trích trong cuốn Tại Sao Không Theo Đạo Chúa trang 189, 1994). 

Ngoài ra một vài tổ chức có tính tôn giáo áp dụng sáu kế hoạch dài hạn và ngắn hạn như sau: 

a.       Ném đá dấu tay, xúi dục kẻ khác chống Cộng để tạo mậu thuẫn. Mà tiếc thay nhiều người bị trúng kế, dọn cỗ cho họ xơi.

b.      Dùng phương tiện ngoại giao cấp cao làm giảm thiểu căng thẳng giữa đôi bên để bành trướng.

c.       Đút lót, hối lộ các cơ quan công quyền để phát triển.

d.      Đưa một số khoa bảng giúp việc cho các cơ quan nhưng thực chất là để lấy tin và làm nội gián.

e.       Tạo điều kiện, giúp phương tiện du học cho một số thành phần trẻ để trồng người, đợi chờ cơ hội chính trị lúc thời cơ đến.

g.       Thay đổi niềm tin người sắc tộc để lập các quốc gia nhỏ trong một quốc gia lớn. 

Phật Giáo không có và sẽ không bao giờ có các sách lược và kế hoạch thế tục nói trên, nhưng nêu ra để quí độc giả kiểm nghiệm. 

Nhìn vào các tổ chức Phật Giáo, chúng ta không tránh khỏi các điều buồn sau đây:

· Người Tây Phương đang ồ ạt từ bỏ tín ngưỡng lâu đời của họ thì Phật Giáo thiếu người có tài đức để đáp ứng.

· Mấy “cậu Ấm” (danh từ của GS Trần Chung Ngọc trong Phật Giáo Hải Ngoại) trúng kế ngoại đạo nhiều lần và cả tin về sách lược của ngoại nhân, quá hố nhưng vẫn chưa thức tỉnh.

· “Thiên hạ” đi đến các hang cùng ngõ hẻm trên quê hương bằng hai chân, bằng xe đạp, xe gắn máy, ngay cả trực thăng và phi cơ phản lực, thì một vài đoàn thể nhỏ của Phật Giáo vẫn còn nhốn nháo, ngây thơ, đạp lên nhau, bỏ sở trường theo sở đoản. Thật đáng tiếc.

· Khoa học vừa khám phá trên Hỏa Tinh, hàng triệu năm về trước có đời sống sinh vật. Điều đó nói lên rằng, quả đất không phải là trung tâm của hoàn vũ do Thượng Đế an bày, và điều đó cũng xác quyết lời đức Phật nói về tam thiên đại thiên thế giới và thế giới hoa tạng được mô tả trong kinh Hoa Nghiêm. Và mới đây, Giáo Hoàng John Paul II thừa nhận thuyết tiến hóa của Darwin, nghĩa là công nhận thủy tổ loài người không phải do ông A-dong và bà E-va sinh ra như thánh kinh dạy, và cũng một lần nữa xác định lời dạy của Đức Phật về thuyết tiến hóa. Phật nói “Tất cả chúng sanh đều sẽ thành Phật”. Câu nói này bao gồm đầy đủ nội dung và ý nghĩa thuyết tiến hóa của Darwin. Trước những khám phá mới của khoa học về đời sống sinh vật trên Hỏa Tinh, và sự công nhận sai lầm của Ki Tô Giáo về thuyết tiến hóa, người Phật tử rất hãnh diện mình là đệ tử Phật, nhưng cũng không khỏi bùi ngùi vì sự trì trệ của vài tổ chức Phật Giáo trong và ngoài nước hiện nay. 

Hồng Ngọc

Nov. 15, 1996

 

 

 


* Và có thể nói thêm: Giáo Hội này làm được những điều mà Giáo Hội kia không thể làm được; và vì vậy, những đóng góp đó có tính cách bổ sung cho nhau chứ không trái chống nhau.

---o0o---

[Mục Lục ] [ Phần 1 ] [ Phần 2] [Phần3][Phần 4]

 ---o0o---

Trình bày: Nhị Tường
Cập nhật: 1-11-2004


Webmaster:quangduc@quangduc.com

Trở về trang Phật Giáo và Thời Đại

Đầu trang

 

Biên tập nội dung: Tỳ Kheo Thích Nguyên Tạng
Xin gởi bài mới và ý kiến đóng góp cho Trang Nhà qua địa chỉ: quangduc@quangduc.com
Địa chỉ gởi thư: Tu Viện Quảng Đức, 105 Lynch Road, Fawkner, Vic. 3060. Tel: 61. 03. 9357 3544