PHẬT GIÁO TRONG THẾ KỶ MỚI
PHẬT LỊCH 2540 –
GIAO ĐIỂM
Tuyển tập 1
Nhiều tác giả
---o0o---
PHẦN MỘT
TỔNG QUAN
PHẬT GIÁO VIỆT NAM TRƯỚC NGƯỠNG
CỬA THẾ KỶ 21
LÝ NGUYÊN
QUÂN
MỘT THÁI ĐỘ CẦN THIẾT
Như một
con bệnh không thể chữa lành khi người ta chỉ tìm cách che đậy, trốn tránh
hay loanh quanh với những lý luận mơ hồ, không ăn nhập gì với hiện trạng.
Cũng không thể chữa lành khi bệnh thì nằm ở gan ruột mà lại đi lo chữa
chạy ở ngoài da. Phật Giáo Việt Nam (PGVN) ngày nay, ngoài những thành tựu
của quá khứ dễ khiến người Phật tử tự hào, ngoài các sức mạnh quần chúng
còn lại sau nhiều lần bị phung phí; và bên cạnh những yếu tố tích cực có
thể đóng góp cho một viễn ảnh tốt đẹp hơn, thì vẫn còn đó, những yếu tố
tiêu cực ngay ở tự thân của nó - những yếu tố đã từng làm cho PGVN bị
nghiêng ngửa, rã rời, tan nát và ngày càng tỏ ra như một căn bệnh trầm
kha, không ai chữa trị và cũng không ai muốn chữa trị. Ngay cả việc nói
đến nó không thôi, người ta cũng phải e sợ đủ thứ chuyện thì nói gì đến
việc chữa trị. Khoan nói đến lý do của trạng huống tâm lý này. Chỉ cần ghi
nhận, trạng huống tâm lý này phản ảnh một thái độ tiêu cực mà hậu quả là
chính Phật Giáo bị thiệt thòi chứ không ai khác. Làm thế nào mà PGVN có
thể vươn mình trỗi dậy làm ngọn đuốc soi sáng cho đời khi mà các trạng
huống tâm lý này cứ mãi đè nặng nơi một đa số thầm lặng - những người từng
hoài bão nhiều cho Phật Giáo? Làm sao mà PGVN có thể mở rộng được cánh cửa
tương lai để đi tới khi mà nó cứ phải trói buộc mình vào cái tâm cảnh của
một nỗi e sợ kỳ cục như thế này?
Hẳn nhiên
là PGVN sẽ vẫn còn đó. Còn đó trong tâm hồn của con người Việt Nam dẫu cho
người ta vô tình hoặc cố ý không biết đến sự có mặt của nó chăng nữa vì nó
đã như nước thấm sâu vào lòng đất. Còn đó trong đời sống trí tuệ của con
người Việt nam vì nó vốn không phải là một tôn giáo sống bằng những hình
thức tín ngưỡng dị đoan; lại càng không phải sống bằng những hứa hẹn và đe
dọa hão huyền mà vì nó vốn là tôn giáo của Trí Tuệ, là con đường chân thực
đưa tới Sự Thực. Dẫu cho thế gian này có bị thiêu hủy hay chìm trong tăm
tối vì sự tham tàn và ngu muội của con người chăng nữa thì Sự Thực vẫn là
Sự Thực và con đường chân thực đưa tới Sự Thực vẫn là con đường chân thực
đưa tới Sự Thực. Nhưng còn đó như thế nào là điều mà chúng ta nên nghĩ
tới. Còn đó như một ngọn đuốc soi sáng cho đời hay như một cục than bị vùi
lấp giữa đống tro tàn? Còn đó như một sức mạnh văn hóa mở đường đi tới cho
con người hay như một bảo vật trong viện bảo tàng? Đó là những câu hỏi đặt
ra cho những người còn ít nhiều hoài bão cho Phật Giáo Việt Nam lúc này,
khi mà các trạng huống tâm lý nói đến trên đây đang đè nặng trên tâm hồn
của người con Phật Việt Nam ở bên này và bên kia. Đó cũng là những câu hỏi
đặt ra một thái độ cần có như một bước đầu cho những chuẩn bị nghiêm chỉnh
để đi tới ở ngày mai.
Thái độ đó là gì? Là sự rời bỏ trạng huống tâm lý e sợ đã
nói để có đủ can đảm nhìn lại mình như một tác nhân chủ yếu quyết
định cho con đường đi tới của PGVN giữa hoàn cảnh ngổn ngang này. Hoàn
cảnh ngổn ngang của lịch sử, của đời sống chính trị, văn hóa, kinh tế, xã
hội… của đất nước trong mấy thập niên qua đã từng tác động mạnh mẽ - và
chắc chắn cũng sẽ còn tác động mạnh mẽ - lên tấm thân của Phật Giáo. Nhưng
hoàn cảnh y báo ấy, trong ánh sáng của giáo lý Phật, vốn không thể tách
rời và càng không là năng lực chủ động quyết định cho tự thân chánh báo.
Chúng ta cần nhận ra điều này để không tự ru ngủ mình và không phải tập
trung tất cả thì giờ, năng lực cho những việc làm, dù có thân thiết, nhưng
chưa phải là điều thiết cốt. Truy tầm những lý do cho bệnh trạng ở bên
ngoài và đặt vào đấy trách nhiệm về bệnh trạng trong khi vi trùng thì ở
ngay thân mình – như nhiều người đã làm một cách rất năng nổ - dù có thể
là một điều rất nên, rất đáng nhưng chắc chắn là không đủ để chữa trị bệnh
trạng. Đó là chưa kể đến, việc lo đối phó với hoàn cảnh ngổn ngang đến độ
trở thành một vật kéo của chiếc xe hoàn cảnh thì lại còn tệ hại hơn cả
hoàn cảnh tệ hại vì nó chính là cách tự đánh mất mình, tự hủy diệt mình
một cách nhanh và gọn nhất. Đã không cứu được mình, đã tự đánh mất mình,
tự hủy diệt mình như thế thì còn nói gì đến chuyện cứu ai bây giờ!
Phật Đạo giữa thế gian là Bồ Tát Đạo. Trên con
đường hoạt dụng của Bồ Tát ấy, người con Phật phải lấy Bồ Đề Tâm làm động
cơ căn bản. Nhưng Bồ Đề Tâm chỉ có thể phát khởi khi có được thâm tâm và
trước hết, là có được trực tâm. Trực tâm là cái tâm ngay thẳng, chất trực,
không quanh co trá ngụy, không tự dối mình và dối người. Đó là cái tâm
không e sợ, can đảm nhìn thẳng vào mình như một tác nhân chủ yếu để thấy
ra đâu là cái gốc của bệnh, cái mầm của loạn. Đó chính là cái tâm
quy định cho một thái độ cần thiết, bước đầu cho sự lên đường trở về tìm
lại chính mình để cho Phật Giáo đúng là Phật Giáo chứ không phải là một
cái gì khác mang danh Phật Giáo.
HIỆN
TRẠNG CỦA PGVN NGÀY NAY
Ngoài những thành tựu và đổ vỡ mà ai cũng thấy và đã được
nói đến nhiều – không kể đến những tiếng nói phô trương quá lố hay những
xuyên tạc dối trá ở bên này và bên kia, PGVN ngày nay như đang ở trong một
tình trạng phức tạp vừa có nhiều triển vọng vừa chứa đựng những nguy cơ
hiểm họa khó lường.
1.
Triển vọng trước hết là ở niềm tin Phật của quần chúng. Sau
hơn nửa thế kỷ - và có thể kể xa hơn, gần 140 năm nay – dân tộc Việt Nam
đã phải ở trong một chu kỳ lịch sử lệ thuộc vào những sức mạnh của thời
đại xuất phát từ Tây Phương. Ở đó, những chế độ nối tiếp nhau liên tục đặt
Phật Giáo vào trong cái thế của một kẻ bị trị; và vì vậy, bị khống chế và
kềm hãm đủ thứ. Lại ở đó, chiến tranh thù hận, độc tài áp bức, sự tuyên
truyền có tính cách tẩy não của những ý thức hệ tôn giáo, chính trị đang
nắm trong tay sức mạnh của thời đại đã như cùng tập hợp lại để không cho
PGVN trỗi dậy; thậm chí, để triệt hủy niềm tin Phật của quần chúng. Nhưng
rõ ràng cho đến hôm nay, niềm tin Phật của quần chúng đã không dễ dàng bị
triệt hủy và Phật Giáo vẫn còn đó như một tôn giáo của đa số với hơn 50%
dân chúng tin theo như thống kê của chế độ đương quyền (vì tính cách lỏng
lẻo của các tổ chức Phật Giáo xưa nay, trong thực tế con số này có thể lớn
hơn nhiều). Những Lễ Hội Chùa Hương kéo dài trong nhiều tuần lễ với hàng
hàng lớp lớp người tín mộ. Những mùa Phật Đản, Vu Lan, Tết Nguyên Đán…
tràn ngập khách lễ bái hành hương ở khắp các chùa trên mọi miền đất nước
như một cái gì rất xưa bừng sống dậy. Những lễ tang các bậc tôn túc với số
người tham dự làm lo ngại cho cả nhà cầm quyền…
Đó là những gì mà các quan sát viên và những người từng đi
về Việt Nam đã chứng kiến và mô tã rải rác trên nhiều trang báo. Dưới
những chế độ thực hiện chính sách triệt hủy Phật Giáo cách này cách khác
trải dài hơn thế kỷ; những chủ thuyết, ý hệ chính trị xã hội cực đoan luôn
đi theo cùng với sức mạnh quân sự, kinh tế của thời đại liên tục tấn công
vào thành trì tín ngưỡng của dân tộc; với sự nghèo nàn cố hữu và ngay cả,
với những đổ vỡ rạn nức ở ngay bản thân các tổ chức PGVN từ trước đến nay
mà niềm tin Phật của quần chúng vẫn còn như vậy thực là một điều kỳ
diệu. Điều kỳ diệu này cho phép ta nghĩ được rằng, ít nhất là cho đến
lúc này, niềm tin Phật của quần chúng vẫn còn là một tiềm năng lớn, một
trong những yếu tố lớn cho một triển vọng có thể có của PGVN ở ngày mai.
2.
Một yếu tố khác đóng góp vào triển vọng của PGVN là đa số trí
thức Việt Nam đã từng quay lưng lại với tôn giáo ngày càng tiếp cận
với Đạo Phật; và càng tiếp cận thì càng có khuynh hướng quay về với Phật
Giáo do bởi nhận ra rằng, Đạo Phật thực sự không giống với các tôn giáo
khác.
Không giống với các tôn giáo
khác. Sự thực này được nhìn ra là một yếu tố có tính cách quyết định cho
thái độ và khuynh hướng của người trí thức Việt Nam ngày nay. Tôn giáo là
một thực thể của xã hội loài người. Lịch sử văn minh, văn hóa của con
người đã có không ít những đóng góp của tôn giáo. Nhưng đồng thời, ở một
mặt, tôn giáo cũng đã đóng góp không ít vào những thảm họa lịch sử. Lịch
sử còn đó, những cuộc chiến tranh tôn giáo được gọi là Thánh Chiến (The
Holy War) trải dài trong thời Trung cổ ở Âu Châu. Lịch sử cũng đang phơi
bày những cuộc chiến tranh diễn ra trong thời cận và hiện đại ở khắp nơi
trên thế giới có động cơ tôn giáo, những chiến tranh ở Trung Đông, Ái Nhĩ
Lan, ở Ấn Độ, Phi Luật Tân, ở Phi Châu... Đó là chưa kể đến những thảm
kịch Jonestown, Waco…, mặc dù trong một phạm vi nhỏ hơn, nhưng đã là những
biểu hiện lòng cuồng tín tôn giáo đến độ làm ngạc nhiên, bàng hoàng cả
những kẻ còn mê tín vào tôn giáo. Đó cũng là chưa kể đến những cuộc hôn
nhân khác tôn giáo đã phải bị ép uổng hoặc gãy đổ khiến nhiều người phải
đau khổ thế nào; và còn nữa, những tín điều, giáo điều, những lời phán
truyền đầy dẫy trong các sách sử tôn giáo mà ngay cả người có đầu óc bình
thường cũng không thể không đặt lên câu hỏi về bản chất và ý nghĩa của tôn
giáo.
Giữa bầu khí tôn giáo cần và đang được tra vấn đó thì Phật
Giáo như riêng mình một cõi. Không từng can dự vào bất kỳ một cuộc chiến
tranh tôn giáo nào xưa nay, không từng đẩy con người đến chỗ cuồng tín ở
bất cứ đâu, không chứa đựng một điều gì huyền mị trong kinh sách – ngoài
những biểu lộ cảnh giới của tâm linh mà con người chưa vươn tới được. Cho
nên, không chỉ là yếu tố Thần (Gods) làm cho Phật Giáo khác với các tôn
giáo khác mà ngay cả thực tế lịch sử và đời sống tín ngưỡng, người ta cũng
không thể dùng định nghĩa và khái niệm tôn giáo chung chung đem áp dụng
cho Phật Giáo. Không phải là vấn đề hơn hay thua, mạnh hay yếu
nhưng rõ ràng là, Phật Giáo thực sự khác biệt với các tôn giáo khác. Điều
này có ý nghĩa rất lớn nếu ta hiểu được cái lý do mà người trí thức Tây
Phương ngày càng ngưỡng mộ Phật Giáo và tìm đến để học hỏi.
Người trí
thức Việt Nam ngày nay, trong buổi hoàng hôn của những chủ nghĩa, ý hệ
hoang tưởng một thời được tôn thờ đưa đến những đổ vỡ trong tâm hồn và đời
sống, phải đứng trước ngã ba đường để đi tìm một nền tảng tư tưởng và đạo
lý cho cuộc sống. Các tôn giáo dễ dàng là các cửa ngõ cho một lựa chọn mới
này. Ở đó, Phật Giáo hiện ra như một tôn giáo của Từ Bi, Bất Bạo động,
của Trí Tuệ, Hỷ Xả - khác biệt với tất cả các tôn giáo khác trên
mặt tư tưởng cũng như trên thực tế lịch sử, sẽ trở thành một cửa ngõ cho
những tâm hồn khao khát sự an lạc và những đầu óc khát vọng chân lý. Một
số không nhỏ các nhà trí thức Việt Nam ở Việt Nam và ở hải ngoại đang tìm
về với Phật Giáo như một lựa chọn mới này, và đã có không ít những đóng
góp trí tuệ vào ý hướng xây dựng một nền tảng tư tưởng và đạo lý cho dân
tộc Việt Nam giữa lúc tinh thần chao đảo hiện nay.
Những biểu hiện cho khuynh hướng trí tuệ tìm
về Phật Giáo này đang quy tụ ở nhiều nơi: Ở Việt Nam, các thiền viện dưới
sự hướng dẫn của Thiền Sư Thanh Từ, các trường Cao Cấp Phật Học, các Viện
Nghiên Cứu Phật Học và ngay cả trong một vài sinh hoạt của Viện Khoa Học
Xã Hội mấy năm lại đây mà buổi Hội Thảo về Tuệ Trung Thượng Sỹ là một điển
hình… Ở hải ngoại, Làng Mai dưới sự hướng dẫn của Thiền Sư Nhất Hạnh, và
các chi nhánh của nó ở nhiều nơi, các tạp chí Phật Giáo hoặc có màu sắc
Phật Giáo mà đường hướng nhiều khi rất khác biệt nhau (Phật Giáo Việt Nam,
Giao Điểm, Tin Phật, Hoa Sen, Chân Nguyên, Bông Sen, Viên Giác, Phật Giáo
Hải Ngoại…)
3. Một
triển vọng đáng kể khác là những trung tâm tu học được thiết lập với những
truyền thống tu tập được xây dựng, tái tạo hoặc cách tân. Như xương sống
của cơ thể, những trung tâm tu học và truyền thống tu tập đã là yếu tố
quyết định tối hậu cho lịch sử hưng vong của Phật Giáo xưa nay. Thử tưởng
tượng, Phật Giáo Trung Hoa mà không có các bậc Cổ Đức đời đời nối tiếp
thiết dựng các Đạo Tràng Dịch Kinh, Giảng Kinh, nói Pháp, lập thành các
Pháp môn tu tập Thiền, Tịnh và các Tòng lâm hướng dẫn đồ chúng tu tập thì
di sản của Phật Giáo Trung Hoa còn có gì? Như Phật Giáo Nhật Bản, không
phải là Tổng Hội Phật Giáo Nhật Bản - thường được xem là cơ cấu đại diện
cho Phật Giáo - nắm mạng mạch của Phật Giáo ở đây mà chính là hệ thống các
Tông Phái với những sắc thái linh hoạt và truyền thống tu tập khác nhau
được giữ gìn đã tạo nên các sức sống cho Phật Giáo xứ này. Phật Giáo Tây
Tạng ngày nay là một ví dụ rõ nét khác. Trong khi Tây Tạng đang phải chịu
đựng một trong những thảm kịch đau thương nhất của lịch sử các dân tộc mà
tương lai chưa biết thế nào thì Phật Giáo Tây Tạng, theo cùng tình cảnh
lưu vong của một phần dân tộc họ, lại đang ảnh hưởng lớn trong đời sống
tâm linh và trí tuệ của con người ở Tây Phương. Được vậy không chỉ vì
những huyền thoại được nói nhiều về xứ này; cũng không chỉ vì những hình
thức khá kỳ dị trong sinh hoạt tôn giáo của họ (vì huyền thoại và những
hình thức nếu có làm cho người ta lưu tâm đến thì cũng chỉ nhất thời) mà
chính là ở cốt tủy, Phật Giáo Tây Tạng còn đó những truyền thống tu tập
với những kinh nghiệm tâm linh thực sự.
Phật
Giáo Việt Nam, ít ra là từ 1963 trở về sau, đã bị cuốn hút vào cơn lốc của
thời thế để không có được sự quan tâm đúng mức, nói gì đến việc đáp ứng
nhu cầu sinh tử nầy của Phật Giáo. Dù chúng ta có đó, những đời sống tâm
linh tỏa sáng thành những tấm gương đạo hạnh đáng ngưỡng mộ nhưng đó chỉ
là những trường hợp cá biệt; chúng ta cũng có đó những Tu Viện, Phật Học
Viện nhưng nề nếp tu học và sinh hoạt không đủ để tạo nên những truyền
thống tu tập cho hơn một thế hệ. Phải đợi đến sau này, trong nghịch cảnh
nhiễu nhương của vận nước, vận đạo, PGVN mới có được những bậc tôn túc
quan tâm và thực hiện những trung tâm tu học và xây dựng lại những truyền
thống tu tập. Các Thiền Viện ở trong nước với Thiền Sư Thanh Từ quy tụ
đông đảo đồ chúng đang làm sống dậy bầu khí tu Thiền, kết hợp truyền thống
Tổ Sư Thiền ở Trung Hoa với truyền thống Thiền Trúc Lâm đời Trần của Việt
Nam. Trước và song song với nó, và trên những phạm vi ảnh hưởng nhỏ hơn,
có những Đạo Tràng Liên Hữu tu tập Tịnh Độ, pháp môn Niệm Phật Công đức
rải rác ở Trung và Nam.
Trong
khi ở hải ngoại, Làng Mai ở Pháp trở thành một trung tâm Thiền nổi tiếng
với Thiền Sư Nhất Hạnh, đưa phương pháp Thiền trong truyền thống Kinh Tạng
Phật giáo áp dụng vào cuộc sống của con người xã hội hiện nay, quy tụ hằng
năm rất nhiều người từ khắp nơi trên thế giới và từ những truyền thống tôn
giáo khác nhau đến tu học. Có nhiều nhóm Thiền sinh Việt Nam và ngoại quốc
đang áp dụng phương pháp Thiền tập này và sinh hoạt tu tập khá đều đặn. Có
những nơi vận dụng phương pháp Thiền tập này kết hợp với nề nếp tu tập vốn
có ở Việt Nam trước đây như ở một số chùa, Tu Viện tại miền Bắc
California, Texas, Massachusetts…
Việc
tái dựng các truyền thống tu tập với sự có mặt của các trung tâm tu học
nói trên là một yếu tố đáng khích lệ lúc này khi nhìn về viễn ảnh của PGVN
ngày mai. Càng đáng khích lệ hơn khi quần chúng Phật tử ngày càng qui tụ
về các trung tâm tu học, thể hiện tấm lòng thiết tha cầu tu, cầu học và
đưa sự tu học trở thành một nhu cầu thiết yếu trong cuộc sống. Tu học trở
thành một nhu cầu, đó hẳn là một dấu hiệu có tính cách quần chúng đáng
mừng nhất trong hai thập niên cuối của thế kỷ này. Mặc dù không ồ ạt nhưng
tác động tích cực và thầm lặng của nó vào con đường đi tới của PGVN chắc
chắn sẽ được thấy rõ về lâu về dài sau này.
4. Cũng là những yếu tố tích cực góp phần vào triển vọng của PGVN là
những thành tựu trong một chừng mực nhất định của hai tổ chức Giáo Hội
hiện nay ở Việt Nam.
Không
kể đến những thành tựu trước năm 1975, Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam
Thống Nhất (GHPGVNTN), trong mấy năm lại đây, đứng trên vị trí cố hữu
của mình, đã lên tiếng cho những khát vọng của dân tộc và của chính Phật
Giáo. Đặt trong vị trí của một tổ chức tôn giáo lớn mà lại không thể công
khai hoạt động và trong liên hệ với cảnh ngộ chung của dân tộc, sự lên
tiếng của GHPGVNTN phải được xem là can đảm và cần thiết. Can đảm
bởi vì sự lên tiếng đó đã phải trả giá bằng giá của nhiều hy sinh, ngay cả
hy sinh thân mạng. Và đó là một trong những cách thế biểu lộ tinh thần
xứng đáng được ngưỡng mộ của người Phật Tử Việt. Cần thiết vì nhu cầu
chuyển hóa đất nước đòi hỏi phải có những tiếng nói khác với tiếng nói của
người cầm quyền, những tiếng nói xuất phát từ người dân bị áp bức bất công
và nói là nói cho những khát vọng của họ. Cũng cần thiết vì nó góp phần
khẳng định con đường của PGVN khi đối diện với cái khổ của con người – con
đường không nằm ở bên này hay bên kia mà vượt qua tất cả mọi thế đối
nghịch tương tranh của con người trong những hoàn cảnh lịch sử nhất định.
Tiếc thay, tiếng nói của lương tâm đó đã không được nghe một cách nghiêm
chỉnh như chính nó. Nhưng dù không được nghe một cách nghiêm chỉnh lúc này
thì âm hưởng của tiếng nói đó cũng sẽ còn để góp phần định hướng cho con
đường đi tới của PGVN giữa những tình thế còn nhiều phức tạp sau này.
Trong
khi đó, Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam (GHPGVN), trong những giới hạn
lịch sử và tính chất của nó, cũng đã có những thành tựu đáng kể. Không nói
đến những chùa chiền được tái tạo và xây dựng – không hẳn là do Giáo Hội
này, GHPGVN ít nhất đã làm được hai điều có ý nghĩa lớn:
Một là
đã thực hiện được hệ thống các trường Phật Học từ Cơ Bản đến Cao
Cấp và từ Nam đến Bắc để đào tạo các thế hệ Tăng sĩ cho ngày mai. Hẳn
nhiên còn nhiều giới hạn trong việc tổ chức, trong nội dung chương trình
và phương pháp giáo dục và vì vậy, liên hệ đến phẩm chất đào tạo, nhưng sự
hình thành một hệ thống như vậy với số lượng Tăng ni sinh theo học đông
đảo đã là điều có ý nghĩa lớn cho sau này. Nó chứng tỏ tấm lòng thiết tha
với tương lai của PGVN của những nhà lãnh đạo Giáo Hội này; và chắc chắn
thành quả đào tạo của nó sẽ góp phần quyết định cho tương lai của PGVN như
tấm lòng hoài bão của những người đã ra công thực hiện.
Hai là
Giáo Hội này đã tổ chức và thực hiện được bước đầu, Đại Tạng Kinh Việt
Nam. Đây là một nỗ lực không chỉ tùy thuộc vào tài chánh mà còn vào
khả năng trí tuệ trên nhiều lãnh vực nghiên cứu, dịch thuật mà nếu không
tập hợp được các khả năng này thì không dễ làm gì được. Trong khi Phật
Giáo ở các nước Trung Hoa, Nhật Bản, Tây Tạng, Đại Hàn và phần lớn các
nước trong truyền thống Nam truyền đã có Đại Tạng từ lâu; và ngay cả Âu Mỹ
mà lịch sử du nhập và phát triển Phật Giáo đang còn mới mẻ nhưng công
trình dịch thuật, nghiên cứu kinh điển Phật Giáo đã hết sức đồ sộ thì gia
tài của PGVN, trên lãnh vực này, thực là ít ỏi. Cho nên, việc thực hiện
Đại Tạng Kinh Việt nam là một đóng góp lớn vào sự nghiệp trí tuệ đang còn
nghèo nàn của PGVN và là một công trình cần thiết cho những thế hệ học
Phật ở Việt Nam hôm nay và ngày mai.
Những
yếu tố đáng kể cho nhìn ra triển vọng của PGVN là đó. Nhưng bên cạnh và
ngay nơi một số yếu tố đầy triển vọng này, PGVN cũng đang có nhiều nguy
cơ hiểm họa.
1. Một đa số quần chúng Việt Nam vẫn còn niềm tin Phật nhưng đó là
niềm tin có quá nhiều tính chất tiêu cực và có nhiều những tác động tiêu
cực ở ngoài vào trong khi không có nhiều những nỗ lực điều hướng và giữ
gìn niềm tin này ở các tổ chức Phật Giáo. Niềm tin Phật đó vốn không đơn
thuần mà bị pha trộn với nhiều hình thái tín ngưỡng dân gian đầy những mê
tín và dị đoan. Tin Phật, tin nhân quả đó nhưng cũng tin vào bói toán, cầu
đảo, vào sự thưởng phạt của đủ loại thần, thánh, ma, quỷ; và vì vậy, Đạo
Phật vốn là đạo của Trí Tuệ, đã và đang còn bị nhìn bởi một số đông người
như là Đạo của mê tín, dị đoan, hủ lậu. Ở miền Bắc – như được ghi nhận bởi
nhiều người - niềm tin Phật của quần chúng trỗi dậy mạnh mẽ nhưng đồng
thời cũng mạnh mẽ không kém, sự trỗi dậy của nhiều hình thức tín ngưỡng dị
đoan của nhiều người “làm ăn” ở những hình thức tín ngưỡng này. Trong quá
khứ, những hình thức này có thể đã là cái thành trì tín ngưỡng chống đỡ
lại sức công phá của những giáo điều, tín điều ngoại nhập vốn cũng mê tín
và dị đoan không kém.
Nhưng
trong tương lai không xa, đất nước đi vào con đường Tây phương hóa, như
một điều không thể tránh – ít ra là trên mặt kinh tế - con đường lấy
dục vọng làm động cơ thúc đẩy và vì vậy có sức cám dỗ mãnh liệt và kéo
theo nó là cả những thành quả của khoa học, kỹ thuật làm thay đổi não
trạng và khuynh hướng sống của con người, một đạo Phật gắn liền với những
mê tín, dị đoan chắc gì không bị lung lay, nghiêng đổ? Một Đạo Phật mê tín
bị lung lay, nghiêng đổ chẳng có gì là đáng tiếc – đáng mừng là khác –
nhưng nghiêng đổ để rồi, không có một Đạo Phật chánh tín thay vào thì
không chỉ là một nguy cơ suy tàn của Phật Giáo mà còn là cả một hiểm họa
cho dân tộc trên mặt đạo đức. Một Đạo Phật chánh tín cho quần chúng không
có, nguy cơ đó không phải trách nhiệm ở quần chúng mà là ở những người
đang giữ gìn mạng mạch của Phật Giáo ngày nay.
Cũng trong viễn tượng của một xã hội Việt Nam
có nhiều thay đổi và thay đổi với một tốc độ rất nhanh, những hiện tượng
tiêu cực trong Phật Giáo hiện nay - đặc biệt là ở cơ cấu tổ chức và ở giới
Tăng sĩ trên cả hai mặt phẩm chất đạo đức và khả năng - nếu không sớm điều
phục thì chỉ trở thành đối tượng cho những khai thác không mấy lương thiện
của nhiều thế lực khác mà thời nào cũng có, góp phần lay đổ niềm tin Phật
của quần chúng và mở lớn cơ nguy suy tàn của PGVN mà thôi.
Ngay
với một thành phần không nhỏ giới trí thức Việt Nam đang tìm về Phật Giáo
như tìm về một nền tảng tư tưởng và đạo lý cho đời sống cũng sẽ không làm
gì được nếu như Phật Giáo không có được môi trường thích hợp cho những
sinh hoạt trí tuệ; và nếu như giới này chỉ thấy được cái hay của Đạo Phật
trong kinh sách và trong quá khứ mà không thấy được cái hay của Đạo Phật
trong hiện thực đời sống và xã hội trước mặt. Chánh Pháp, cuối cùng, may
lắm thì chỉ còn với một số cá nhân mà không thể trở nên ngọn đuốc hướng
đạo cho đời sống tinh thần của ngay cả quần chúng Phật tử, nói gì đến xã
hội.
2. Nguy cơ suy tàn trên đây vốn liên hệ tới vai trò của các tổ chức
Phật Giáo và phẩm chất của người Tu sĩ Phật Giáo.
Tổ chức
Phật Giáo trong mấy mươi năm nay cứ như một tấm thân ốm yếu bệnh hoạn lại
cứ phải đắm trong một bầu không khí ô nhiễm. Ốm yếu, bệnh hoạn vì như chưa
bao giờ Phật Giáo Việt Nam có được những chuẩn bị đầy đủ cả về lý thuyết
lẫn thực tế cho một tổ chức Giáo Hội vừa muốn giữ lại tinh thần của Tổ
chức Tăng đoàn thời nguyên thủy; vừa muốn có đủ giáo quyền để đảm nhiệm
tất cả các mặt thế trị phức tạp như các tổ chức tôn giáo ở Tây Phương. Rõ
ràng đây là một ý hướng nhằm giải đáp những yêu cầu đặt ra cho một tổ chức
tôn giáo trong xã hội hiện nay; và ở trường hợp của PGVN, còn là cái yêu
cầu bức thiết của hoàn cảnh lịch sử lâu đời không cho phép PGVN thu mình
lại trong bốn bức tường của Thiền môn. Nhưng rõ ràng, hai ý muốn đó chứa
đựng một nghịch lý đã không được trả lời thỏa đáng trên thực tế. Và vì vậy
mà, Tăng đoàn trở nên lỏng lẻo trong đời sống hành trì và tổ chức Giáo Hội
thì không đủ sức chủ động được các mặt thế trị phức tạp.
Tăng
đoàn trở nên lỏng lẻo vì thiếu đi cái xương sống của nó là những truyền
thống tu tập - điều mà một tổ chức Giáo Hội – dù cho có đủ giáo quyền đi
chăng nữa – không thể đảm nhiệm được. Sự thiếu vắng những truyền thống tu
tập, ngoài hai thời công phu và khóa lễ Tịnh độ ở các chùa, viện, đã làm
cho đời sống người Tu sĩ thiếu nội lực tâm linh và phẩm chất người Tu sĩ
ngày càng yếu kém trên cả hai mặt đạo đức và khả năng. Thiếu nội lực và
yếu kém phẩm chất mà lại mang thân vào đời để đảm nhiệm các mặt thế trị
phức tạp của một tổ chức Giáo Hội như yêu cầu mong muốn thì thật khó tránh
được cái “họa sát thân”. Cái họa đã rõ, ít ra là từ sau 1963 đến nay.
Ngoại trừ một số vị giữ mình nghiêm mật, còn một số lớn khác đã không
tránh được cái “bả lợi danh” của thế tục. Hỡi ôi! Đức Phật như một gương
mẫu vẹn toàn đã vức bỏ tất cả để thành tựu được tất cả mà ngày nay, một số
Tu sĩ hành đạo lại chỉ muốn ôm giữ tất cả để phải mất tất cả thì làm sao
mà Phật Giáo thoát cảnh suy tàn! Một giáo lý cao đẹp chứa đầy tinh thần Từ
Bi, Trí Tuệ, Vị Tha, Vô Ngã… mà ngày nay, một số người con Phật càng sống,
càng hành đạo thì bản ngã như lại càng to, càng lớn, càng thích loạn ngôn
và múa may trên sân khấu đời. Nguy cơ khó tránh được là vậy.
Các tổ
chức Giáo Hội, cũng vì vậy mà không chủ động được các mặt thế trị phức
tạp. Trái lại, chính các mặt thế trị này lại lôi cuốn các tổ chức Giáo Hội
vào trong vũng lầy của nó để có muốn dứt ra cũng không được. Hậu quả là,
các hoạt động của Phật Giáo trên các mặt thế trị bị rơi vào trong những
cực đoan bên này, bên kia trong cái thế đối nghịch của hoàn cảnh lịch sử
và xã hội; để cuối cùng, nhiều khi không tránh được cái thảm cảnh “gà
nhà bôi mặt đá nhau”. Con đường của Phật Giáo vốn là Trung Đạo,
là con đường vượt trên và vượt qua các cực đoan đối nghịch trong tư tưởng
và hành động và chỉ như vậy mới hiện thực được mục đích của nó giải thoát
con người khỏi mọi sự ràng buộc đau khổ. Thì ở đây, các tổ chức Giáo Hội
lại cứ bị du vào cái thế “mua dây buộc mình”. Đối nghịch giữa tổ
chức này với tổ chức khác là điều khó tránh dù cùng là Phật Giáo với nhau.
Càng khó tránh hơn là cái hiện tượng đối nghịch xung khắc ngay trong cùng
một tổ chức Phật Giáo. Bởi vì, ở đây – như mọi tổ chức thế tục của con
người – các mâu thuẫn về quan niệm, khuynh hướng, sở thích và tánh khí của
cá nhân không lúc nào mà không phát sanh; và khi không có gì chế ngự được
nó thì mâu thuẫn trở thành xung khắc đối nghịch.
Đường
lối chính sách của tổ chức Phật Giáo, nếu có, cuối cùng chỉ có trên lý
thuyết, còn trong thực tế thì hoàn toàn tùy thuộc vào khuynh hướng, sở
thích, cảm tính của các cá nhân lãnh đạo, điều hành và theo sự tác
động, ảnh hưởng, chi phối ở bên ngoài vốn đã đầy những trang chấp, đối
nghịch. “Dở hay âu cũng tính trời, biết sao!” Đó là căn bệnh trầm kha
của các tổ chức Phật Giáo. Ba cửa thanh tịnh của nhà Phật, Không, Vô
Tướng, Vô Tác như chỉ còn trên trang kinh để thay vào đó, ba cửa Hữu
(Tham), Tướng (Sân), Tác (Si) mở rộng để cho ngôi nhà Phật Giáo tràn ngập
các mùi vị của thế tục; và sinh lực của nó bị cuốn trôi vào những hoạt
động thế tục. Mối nguy thực đã quá rõ. Càng nguy hơn khi nó phải đắm mình
trong một bầu không khí ô nhiễm của lòng người ly tán vì sự ngăn cách của
đủ thứ cảnh ngộ và chướng ngại; của hoàn cảnh chính trị, xã hội nhiễu
nhương và của bao nhiêu thế lực chỉ muốn lợi dụng và biến Phật Giáo thành
con cờ của họ.
3.
Một mối nguy khác có tính cách lịch sử giai đoạn nhưng lại ở trên
một quy mô lớn, ảnh hưởng toàn diện lên các sinh hoạt của PGVN hiện nay là
sự hiện diện song hành của hai tổ chức Giáo Hội ở Việt Nam: Giáo Hội PGVN
Thống Nhất và Giáo Hội PGVN. Mặc dầu cả hai Giáo Hội đều có những đóng góp
có ý nghĩa như đã nói;
và mặc dầu, đứng ở những vị
trí khác nhau, người ta có thể có những cái nhìn khác nhau về mỗi Giáo
Hội; nhưng, ngay cả sự hiện diện song hành của hai Giáo Hội vốn đã tiềm ẩn
những cơ nguy khó lường.
Không
như mối liên hệ kiểu “ai tu phận nấy” giữa các tổ chức Tông phái với những
truyền thống, pháp môn tu tập khác nhau - điều mà PGVN có nhưng đang
thiếu, đang cần. Cũng không như mối liên hệ thân hữu dễ dàng được thiết
lập giữa các tổ chức Giáo Hội tập hợp các thành phần khác nhau và sinh
hoạt trong những môi trường, khu vực khác nhau của cùng một tôn giáo -
điều mà PGVN có nhưng đang thiếu, đang cần. Cũng không như mối liên hệ
thân hữu dễ dàng được thiết lập giữa các tổ chức Giáo Hội tập hợp thành
các thành phần khác nhau và sinh hoạt trong những môi trường, khu vực khác
nhau của cùng một tôn giáo - điều mà PGVN cũng đã từng có và không bao giờ
phải trở thành vấn đề. Mối liên hệ giữa GHPGVN và GHPGVN TN có nhiều yếu
tố phức tạp, tế nhị lại chịu sự tác động nặng nề của tâm cảm và hoàn cảnh
chính trị không mấy “xuôi chèo mát mái” của đất nước; và vì vậy mà trở
thành vấn đề. Một bộ phận lớn của GHPGVN là GHPGVNTN. Nhưng không vì vậy
mà ta có thể nói, đây là hai Giáo Hội anh em dù giữa hai Giáo hội có nhiều
thầy trò, anh em với nhau. Một Giáo Hội thì ép mình theo thời thế để duy
trì mối đạo; và vì vậy làm được nhiều việc nhưng cũng chịu nhiều nỗi đắng
cay. Một Giáo Hội thì không chịu ép mình theo thời thế để nói tiếng nói
cho những bất công, áp bức nên không làm được gì nhiều nhưng khẳng định
được tinh thần có tính cách truyền thống của người Phật tử Việt Nam. Hai
Giáo Hội biểu lộ hai thái độ phản ứng có tính cách nghịch hướng trước thời
thế; và cả hai thái độ đều có những lý do thích đáng của nó.
Việc
nhận ra những lý do thích đáng này để bao dung được nhau không phải
là điều khó, nếu ta vượt qua được những xúc cảm nhất thời và không để cho
những tác động tiêu cực ở bên ngoài chi phối để nhìn ra được Con Đường Lớn
của PGVN giữa những nghịch cảnh vốn đã rất đau long. Tiết thay, tác động
tiêu cực của các thế lực bên ngoài quá nặng, kích động các mối xúc cảm
nhất thời khiến cho việc nhìn nhận nhau, bao dung nhau thành khó. Càng khó
hơn khi có một số người - ở cả hai - đứng hẳn vào trong quỹ đạo của các
thế lực này để kết án lẫn nhau, tạo nên các màn “chỉ điểm, đấu tố”
nhau một cách kỳ cục, khó coi chưa từng có trong lịch sử Phật Giáo. Đó là
mối nguy thứ nhất đã được thấy của hiện trạng song hành hai Giáo Hội.
Giáo Hội nào cũng có thầy. Thầy nào - bất kể
chánh hay tà, chân hay ngụy, đấu tố hay bị đấu tố - cũng có một số người
theo. Theo để học đạo. Đó là điều quá quý và không có gì để nói. Điều đáng
nói là, những người theo để lợi dụng hoặc bị lợi dụng hoặc theo vì cảm
tính hay vì chút liên hệ nào đó. Mối nguy nói đến trên đây sẽ không còn
giới hạn trong một vài cá nhân liên hệ mà đã và sẽ mở rộng ra trong quần
chúng đi theo này. Quần chúng lại là lớp người dễ bị kích động tâm lý -
nhất là lúc nào cũng có sẵn người làm công việc kích động này và ở trong
bầu khí đầy nghi kỵ, tranh chấp, thù nghịch bởi nhiều cảnh huống phân ly
hiện nay. Đến đây thì không chỉ là tình trạng ngăn cách, phân hóa, bất hợp
tác giữa các khuynh hướng Phật Giáo mà là sự xung khắc thù nghịch giữa các
khối lực quần chúng Phật Tử. Sẽ có nhiều lý lẽ để biện minh cho sự xung
khắc, thù nghịch này của mỗi bên - nhất là cái lý lẽ nhị nguyên phi Phật
Giáo “chánh-tà, chân-ngụy” đã được nói đến nhiều. Nhưng điều đó có ích gì
hay chỉ xé nát và chôn vùi Phật Giáo trong bầu khí hận thù ở khắp mọi nơi
và di lụy lâu dài cho các thế hệ Tăng ni và Phật tử mai sau. Đó là mối
nguy thứ hai mà hiện trạng song hành hai Giáo Hội đã và sẽ chỉ làm cho nó
ngày một thêm rộng, thêm sâu.
Ngay
đến đặt sự hiện diện hai Giáo Hội này vào một hoàn cảnh bình thường –
nghĩa là như tất cả mọi tổ chức trong xã hội, “đường ai nấy đi” để không
có nữa, các màn đấu tố và thái độ thù nghịch nhau – điều tốt đẹp nhất mà
có người đã nghĩ tới và mong muốn – thì vì những liên hệ phức tạp của
chúng, sự hiện diện song hành này cũng không thể trở thành bình thường.
Chỉ những mặc cảm, thành kiến sâu dày đã có không thôi mà lại ở vào tình
trạng “không thể không gặp nhau” trong đời sống và trên các mặt
hoạt động vì những liên hệ và tánh cách của nó, những va chạm thường xuyên
là điều không thể tránh. Cũng là hoạt động từ thiện xã hội cho cùng một
đối tượng nạn nhân đó mà gặp nhau không thể “tay bắt mặt mừng”như
với một tổ chức tôn giáo khác cũng đã là khó nói, cũng đủ tạo nên những dư
luận không mấy tốt đẹp và sự hoang mang dao động trong quần chúng huống gì
những va chạm khó tránh. Oán tằng hội khổ là vậy. Rồi với những cơ sở hiện
nay của Phật Giáo và những cơ sở mà bên này, bên kia đang đòi hỏi trả lại
cho Phật Giáo, việc xác định chủ quyền của nó thuộc Giáo Hội này, Giáo Hội
kia cũng không phải là điều giản dị; và ai đảm bảo, sẽ không có những
tranh chấp làm tổn thương cho Phật Giáo sau này? Đó là mối nguy “tốt nhất”
của hiện trạng song hành hai Giáo Hội.
TRƯỚC
NGƯỠNG CỬA THẾ KỶ 21
Đất
nước Việt Nam đang thay đổi. PGVN cũng không thể ở mãi trong tình trạng
như hiện nay. Nhưng thay đổi như thế nào?
Phật
Giáo là một tôn giáo không có giáo điều nên là tôn giáo có khả năng thích
ứng nhất với mọi đổi thay của hoàn cảnh; lại là một tôn giáo, tự bản chất,
không trụ vào bất cứ pháp tướng nào. Ngay cả Pháp tướng Niết Bàn mà cũng
không thì huống gì các pháp tướng lịch sử và thời đại mà bản chất của nó
chỉ là vô thường, vô ngã, chỉ là không.
Trên
bình diện tuyệt đối, “Chánh pháp cũng phải xả hà huống là phi pháp”. Âm
vang của lời kinh đủ cho người có chí nguyện tu học và phụng sự Phật Pháp
bình thản đi giữa mọi cơ nguy và đau khổ mà sống trọn chí nguyện của mình.
Nhưng trên bình diện tục đế của đời sống nhân văn và xã hội và với tất cả
những liên hệ duyên khởi, người hoài tâm cho Đạo không thể không nhìn vào
những triển vọng và cơ nguy của Đạo trong khi thực hiện chí nguyện của
mình. Nhìn vào để thấy, để biết. Biết đường mà đi. Biết cửa mà vào. Biết
nguy cho Đạo để tránh. Biết an cho Đạo để làm. Biết tất cả đó là Pháp sinh
diệt vô thường để không vướng mắc, kẹt dính vào đâu. Lại biết tất cả đó
đều là nơi để thành tựu tất cả công hạnh tu tập để không hề chán nản, để
trải lòng, trải thân ra mà trọn nên chí nguyện cho Đạo, cho Đời. Đó là
những gì mà các bậc Thầy Tổ xưa đã từng nêu gương để mở ra Con Đường Lớn
của PGVN.
Con
Đường Lớn của PGVN là gì?
Đó là
con đường không trụ, không bám vào bất cứ cực đoan đối nghịch nào trong
mọi hoàn cảnh, mọi nơi, mọi thời. Mạng sống của con người và của lịch sử
đã phải bị kềm hãm giữa hai bờ của những cực đoan đối nghịch ngay từ thưở
bắt đầu của nó; và vì thế, đã không một ngày nào trên mặt đất mà không có
chiến tranh, thù hận. Con đường của Phật Giáo là con đường giải thoát -
giải thoát con người khỏi mọi ngục tù của những thành kiến, tà kiến, thiên
kiến, biên kiến, ngục tù của những quan niệm, ý hệ cực đoan, những động
lực mù quáng đã gieo rắc chiến tranh, hận thù ở khắp nơi. Ý thức về tất cả
những tai họa đã có, đang có và sẽ có cho dân, cho nước, cho đạo, PGVN
không thể để mình bị kẹt dính vào đâu trong những cực đoan đối nghịch
mới có thể hiện thực được con đường giải thoát này.
Đó
là con đường không trụ, không bám vào bất cứ một pháp tướng lịch sử và
thời đại nào. Mọi pháp tướng đều là không tướng, đều là giả hợp, vô
thường, tạm bợ. Những pháp tướng lịch sử và thời đại của PGVN hiện nay đều
là những phương tiện để hành đạo, để thực hiện công hạnh độ sanh của người
con Phật Việt Nam chứ không thể và không nên là cửa ngỏ cho những lợi danh
có tính cách thế tục là đầu mối cho những tranh chấp, tạo thành các cơ
nguy cho Đạo. Mặc dù các pháp tướng đều cần thiết và có vai trò của nó –
và vì vậy, cần được quan tâm, giữ gìn, xây dựng sao cho phù hợp với tinh
thần Phật Giáo, với truyền thống và với nhu cầu của hoàn cảnh, thời đại –
nhưng điều thiết yếu không phải là ôm giữ những pháp tướng này mà làm gì,
làm thế nào để - bằng vào những pháp tướng đó - hiện thực được Đạo Phật
trong đời sống của con người và xã hội cho hôm nay và mai sau.
Đó
là con đường của sự sống - sự sống cụ thể của con người trong những
điều kiện tâm sinh lý và môi trường thiên nhiên xã hội, chính trị, văn
hóa, kinh tế… của nó. Một Đạo Phật thực sự, vì vậy, không thể không đối
diện với những vấn đề của con người - những vấn đề căn bản của hiện sinh
cũng như những vấn đề mà hoàn cảnh và thời đại đặt ra cho nó. Đối diện để
cung ứng những phương pháp trị liệu và chuyển hóa chứ không phải để tạo
thêm vấn đề cho con người. Chỉ với những phương pháp trị liệu và chuyển
hóa này mà sự có mặt của Đạo Phật mới thực sự có ý nghĩa.
Trong
hoàn cảnh của Việt Nam hiện nay, cái cần có để cho Phật Giáo là con đường
của sự sống là một Đạo Phật chánh tín cho quần chúng để đối trị với những
mê tín đang còn đầy dẫy; là một nền giáo dục đặt căn bản ở sự tự giáo dục
và việc tái dựng những truyền thống tu tập để đối trị với tình trạng sa
đọa tâm linh của con người ngày nay – trong đó có cả giới Tu sĩ – đang bị
cuốn trôi vào khuynh hướng hưởng thụ và tìm kiếm hư danh; và để có được
cho đời, những bậc thầy có chí nguyện và hoài bão, có phẩm cách đạo đức và
khả năng làm công việc đối trị và chuyển hóa này. Sau nữa, một sự nghiệp
Trí Tuệ của PGVN cần được trân trọng xây dựng bên cạnh những xây dựng khác
để cho cuối cùng, PGVN không phải chỉ còn lại những đống tro tàn của một
thời ngổn ngang mà còn đó, một ngọn đuốc sáng cho dân tộc tìm lại được
Phẩm Giá và thấy được đường đi về sự Thanh Bình, An Lạc và Chân Lý sau khi
đã đánh đổi quá nhiều đau thương, mất mát.
Giữa
biển trần mờ mịt, đâu chánh, đâu tà, đâu chân, đâu ngụy? Nói bao nhiêu
cũng chỉ là nói mộng huống chi là những cãi cọ với ngôn từ. Kỳ cùng, có lẽ
chỉ có sự sống của con người với những đau khổ và hạnh phúc của nó mới cho
được câu trả lời đích thực.
Phật
Giáo Việt Nam trước ngưỡng cửa Thế Kỷ 21. Triển vọng và cơ nguy. Tất cả
đều đang có mặt và đang góp phần. Có Con Đường Lớn của PGVN dẫn con người
Việt Nam đến trước ngưỡng cửa thế kỷ 21 hay là chỉ còn đó những trò chơi
vẽ vời cảnh thế gian của tâm thức mộng mị trước khi khép lại cánh cửa cửa
thế kỷ này? Kỳ cùng, cũng có lẽ, chỉ có người mang cái danh Phật Tử Việt
Nam, Tu sĩ hay không là Tu Sĩ, với cái tâm và cuộc sống hiện thể của nó,
mới quyết định được cho câu trả lời.
Đem
tấm lòng thành viết để hiến cúng Đức Phật và dâng đến những tâm hồn đã
từng khóc cười với Phật Giáo Việt Nam.
Lý Nguyên Quân
Những ngày cuối năm 1996.
PHẬT GIÁO: SINH LỘ CHO NHÂN LOẠI?
TINH TIẾN
Nhân
Loại? Lịch sử thành văn ghi lại nhiều chiến tranh hơn hòa bình, nhiều áp
bức hơn tự do, nhiều tranh chấp hơn đối thoại… Có thể nào khác được không
khi Tham, Sân, Si, Mạn, Nghi và Ác Kiến là sáu thuộc tính bản chất nhất
của nhân thể, cũng có nghĩa là từ vô thỉ. Nhưng chỉ là vậy thôi sao, khi
nhân loại cũng là Phật tính, là Bồ Tát Hạnh, là các tâm sở Dục như khát
vọng tới lý tưởng, Thắng Giải như khả năng Chính Tri, Tinh Tiến như nỗ lực
tự vượt mình, Định Tuệ như giải pháp toàn năng… Tương quan của hai thiên
hướng nội tại này, hai lực đẩy câu sinh này trong thời đại hiện nay và
triển vọng trong thế kỷ 21 sẽ ra sao?
Hãy nhìn
thẳng, với mức độ Chân lượng tối đa, vào những gì đưa tới hiện trạng của
nền Văn Minh Nhân Loại trong những thập niên cuối này, vì thế có nhiều khả
năng và trên nhiều vị thế được kéo dài và khuếch đại cho những năm sau
2000. Muốn viện dẫn cái gì đi nữa, muốn huênh hoang kiểu nào đi nữa, dù
truyền thống văn hóa, dù giá trị Châu Á, dù minh triết Phương Đông,… thực
tế là toàn cầu đang sống dưới dấu ấn của nền Văn Minh Phương Tây hiện hình
trên các lĩnh vực kinh tế, quân sự, chính trị, văn hóa, … nghĩa là trên
các lĩnh vực chủ đạo của hiện thực nhân sinh.
Vậy thì
ta buộc phải bước nhanh trở xuôi từ…
Thời
Trung Cổ Châu Âu đặc trưng hóa bởi sự bỏ quên con người như một cứu cánh
cho các hoạt động của chính họ, sao nhãng con người như một homo sapiens
đối trước những thách thức của Tự Nhiên. Cái gì mâu thuẫn với Tự Nhiên,
cái ấy sớm muộn rồi ra cũng sẽ tiêu vong. Vậy mà Con Người, tạm nói Tham,
Nghi; tạm nói Sân, Ác Kiến; tạm nói Si, Mạn như những tiềm phục câu sinh
của Chủ Nghĩa Cá Nhân, của lối sống thực dụng, của bạo lực cách mạng. Cho
nên thời Phục Hưng, rồi thế kỷ Ánh Sáng, từng bước, qua đấu tranh bằng lý
luận và qua lý luận bằng đấu tranh, đã phục hồi và đăng quang cái tư cách
Cứu Cánh cái tính năng Lý Trí của Con Người. Trong giai đoạn vinh quang
của sự Tiến Hóa chói lọi này, Pascal, Berkeley đã dịch sao lại Lock,
Descartes được hỗ trợ cực kỳ hữu hiệu bởi Newton, Darwin. Vả chăng, trên
hiện thực lịch sử, đường hướng duy lý và thực dụng, tinh thần nhân bản và
duy vật, đã tự biện minh hùng hồn biết bao, qua biết bao những kỳ tích
tiến hóa huy hoàng từ trên 300 năm nay trên các lĩnh vực cá nhân và cộng
đồng, quốc gia và quốc tế. Làm sao khoa học tự nhiên có thể lớn mạnh đủ để
giành hết thắng lợi này đến thắng lợi khác cho Phúc Lợi của Con Người, hay
cũng vậy, cho Ngũ Dục: Sắc, Tài, Danh, Thực, Thụy? Làm sao khoa học nhân
văn lại có thể trưởng thành đủ để phát triển sâu rộng Dân Chủ, Tự Do, Bình
Đẳng trong nội bộ quốc gia như những giải pháp cho cuộc xung đột giữa các
tâm sở Phẫn, Hận, Não, Tật… và Giải Đãi, Phóng Dật, Thất Niệm, Bất Tín…
nếu Con Người như một thực thể hiện sinh lại bốc hơi trong tư thế bao trùm
của một Đấng Toàn Năng được đại diện bởi một thế lực xã hội có, ở đâu cũng
vậy, và thời nào cũng thế, có tính Phàm nhiều hơn tính Thánh; nếu Con
Người như một hữu thể nhận thức lại bị hóa giải trong ánh hào quang rực
sáng của một Đấng Toàn Tri phát biểu qua một thẩm quyền phán quyết bất khả
kháng?
Không
thể chối bỏ được rằng trong hơn 300 năm qua, trên bình diện hiện sinh,
nhân loại đã chế ngự được nhiều tai ương mà trước đó được xem là vô phương
khắc phục như đói rét, bệnh tật,…; trên bình diện nhận thức, đã vén mở
được bức màn che phủ các thế giới vi mô và siêu vĩ mô mà trước đó được xem
là nằm ngoài cảnh giới của sáu Liễu Biệt Thức: Nhãn, Nhĩ, Tỷ, Thiệt, Thân,
Ý, tức là ngoài toàn bộ (?) khả năng tri giác và trí tuệ của Con Người.
Nhiên liệu vận hành các tiến bộ văn minh này được khai thác trong các kho
thiên hướng ngũ dục và lý trí hướng ngoại; và khai thác ngày càng triệt
để…
Trên
lý thuyết,
Ngũ Dục,
đó là phương diện tác dụng của cấu tạo nhân thể “ngô hữu thân” định hình
hóa trong khuôn đúc của Cộng Nghiệp và Biệt Nghiệp, hay nói một cách thô
thiển theo khoa học, của thể chế xã hội và ADN. Lý trí hướng ngoại, đó là
một phương thức phản xạ trí tuệ hay pháp chấp câu sinh và hậu đắc tạo dựng
bởi Ý Thức hay Thức Thứ Sáu thao tác trên thông tin, tư liệu của tiền ngũ
thức và dựa vào sự đạo diễn của Mạc-na (Manas) hay Thức Thứ Bảy. Ngũ Dục
không tự ấn định cho nó một ranh giới cuối cùng và con người hiện đại say
sưa buông thả vô hạn độ trong đại dương cực phân biệt của xã hội tiêu thụ.
Lý trí hướng ngoại ngày một Mạn và Kiêu trước những thành tích chói lọi
thu hoạch trên con đường Làm Chủ Tự Nhiên của nó, từ đó sự tương xung
tương khắc ngày càng ác liệt giữa Con Người và, hay cái tưởng đâu là Trí
Tuệ Nhân Loại và bên đối tác, Tự Nhiên khách quan.
Ngũ Dục
nơi mỗi cá nhân, mà nhiều khi được xếp vào hạng mục Nhân Quyền; Ngũ Dục
nơi mỗi cộng đồng, mà nhiều khi được xếp vào hạng mục Tự Quyết, không dễ
gì tìm ra cách thỏa mãn, ngoài con đường xung đột vũ trang và chưa vũ
trang, đừng nói vội sự thỏa mãn nọ tất yếu đẻ ra truy cầu kia, và cứ thế,
cứ thế cho đến một ngày “đẹp trời” Ngũ Dục của tất cả được hóa giải trong
chiếc “nấm” Ngũ Dục mà một nhóm điên khùng dựng lên dưới chiêu bài văn
minh, tôn giáo, chính nghĩa, chủ quyền… Ngũ Dục được vuốt ve, chiều chuộng
ngày một âu yếm hơn, mặc nhiên tự đồng nhất hoá với Văn Minh, dưới sức
nặng thuyết phục cực lớn đến nỗi dường như không còn cách nào cho phương
châm thiểu dục của Lão Tử, diệt dục của Đức Thích Ca có cơ may cất lên
được tiếng nói, dù chỉ thều thào.
Lý Trí
hướng ngoại, bên cạnh kỳ tích thượng tri thiên văn, hạ tri địa lý, trung
tri nhân sự, bằng những thành tựu ngoại thân hóa của nó, tức là những
computer trí tuệ, đang ngày càng được tôn vinh như một quyền năng không bị
hạn cục trong bất kỳ một khuôn viên nào từ sự truy tìm Chân Lý. Đồng thời,
mỉa mai thay, và cũng đáng đời thay, đang tự ngày càng xói mòn bản thân
nó: cần gì nữa sự rèn luyện trí năng một khi robot có thể làm thay và làm
tốt hơn.
Và
trên thực địa,
Các
thành viên của nhóm G7, mục tiêu lý tưởng cho phần còn lại của nhân loại,
không phải là thiên đường cho các chủ thể cấu thành: tội ác, bạo lực, ma
túy, Sida, gia đình phân rã, đức tin tiêu vong, đạo đức tàn lụi, lý tưởng
thiếu vắng… Kể gì đến phần còn lại, ở đây, nếu không muốn nói, còn tệ hơn.
Làm sao
khác được nếu Con Người chỉ chuyên chú vào Ngũ Dục như lý do tồn tại của
nó, các Ngũ Dục hoặc không được thỏa mãn và không bao giờ được thỏa mãn
đầy đủ, hoặc chính nó thị hiện qua các hiện tượng. Tội ác ư?
Đó là Tài; Sida ư? Đó là Sắc; Ma túy ư? Đó là Thụy; Bạo
lực ư? Đó là Danh; Trọng bệnh ư? Đó là Thực. Hoặc lẫn lộn, và lẫn lộn
trong gia đình, đức tin, đạo đức, lý tưởng.
Nói riêng Bạo Lực. Phải chăng bạo lực chỉ giới hạn trong
một chiếc ô tô đầy ắp chất nổ quy ước TNT đủ làm sập cả một cao ốc ở
Oklahoma City, Colombo… trong những tràng tiểu liên hoặc tiếng nổ của một
quả lựu đạn trên một đường phố ở Alger, Cairo,… hay vì nhân loại đang tiến
cực nhanh trên con đường công nghệ dân sự cung cấp trở lại cho công nghệ
quân sự, vật liệu làm bom nguyên tử cỡ nhỏ, như kết quả của xu hướng phi
hàng loạt hóa (demassification) sản xuất, có thể tìm mua ngay… ở đầu phố,
theo đúng thông báo của Builden, chuyên gia về vũ khí hạt nhân: “nếu không
phải trong đời tôi, thì có thể trong một tương lai gần, vũ khí hạt nhân sẽ
được phổ biến đến tận tay cá nhân, có thể các cá nhân sẽ chế tạo được vũ
khí hạt nhân bằng nguyên liệu đang lưu hành trên thị trường thương mại”,
và nhân loại văn minh đương đại thiếu gì Trọc Đầu, Báo Đen, Hổ Tamil…
Ngũ Dục, dưới tấm khăn phủ hữu phú loè loẹt màu chính
nghĩa là phát triển sản xuất, nâng cao đời sống, phú cường tổ quốc, thị
hiện trên đường hướng không ai dám phản bác để chuốc lấy danh vị phản bội,
ít nữa mất gốc, và từ đó, và đồng thời cùng với cái bóng của nó, sự hủy
diệt cân bằng sinh thái, sự ô nhiễm môi trường sống còn, sự phá vỡ thượng
tầng ozon, sự thù địch trong quan hệ xã hội, sự vị kỷ trong nếp nghĩ và
ứng xử… Con Người của Ngũ Dục, của xã hội tiêu thụ, của phát triển kinh
tế,… có thể nào hợp lý hóa Ý Thức của họ về những hiểm họa đang đè nặng
lên một Trái Đất đang lâm nguy và đang hẹp dần bằng những lời kêu gọi vu
vơ, hàm hồ, lỗi thời của Thanh Tâm, của Quả Dục, của Ngũ Giới, của Thập
Hạnh Balamật. Lý Trí… Hữu Phú sao được! Một khi nhờ tính năng này Con
Người vượt lên đứng đầu muôn loài và có tham vọng tranh ngôi bá chủ với
Thượng Đế.
Hãy tạm xét thành tích của Lý Trí hay Trí Tuệ Hướng Ngoại
trên ba bình diện:
-
Quốc Nội: bởi vì một trong hai thuộc tính của Lý Trí là truy cầu
cái Lợi, cái lợi cho bản thân, cho phe nhóm, cho giai cấp (nặng tính lý
thuyết), cho dân tộc (như một ngộ nhận). Cái lợi được thực hiện thường
xuyên và “hồn nhiên” qua “cuộc chiến tranh của tất cả chống lại tất cả”,
chi tiết hóa trên xung đột giữa cá nhân, giữa phe nhóm, những giai cấp một
bên, trong khuôn viên của một cộng đồng, cực đoan dưới hình thức cách
mạng, nhiều lúc dưới là cờ “phải đạo” của một Nhà Nước tập quyền bá đạo
hay cực tri, một bên trên trường….
-
Quốc tế: qua xung đột quốc gia với quốc gia, liên minh tung với
liên minh hoành. Quan hệ giữa các quốc gia được tiêu chuẩn hóa trước hết
và trên hết trên tình trạng chiến tranh hay hòa bình. Mà chiến tranh thì
khỏi nói, phi lý và ngu xuẩn đã rành rành, chẳng thế mà cùng với Lý Trí
của toàn nhân loại văn minh, Lý trí của một H.G. Well, năm 1914 ngay trên
cửa ngỏ của Thế Chiến I: “Không có gì rõ ràng hơn đối với con người đầu
thế kỷ XX là việc chiến tranh sẽ nhanh chóng trở thành điều không thể có
được”; của một Henry Ford, năm 1928, gần đúng một giáp trước Thế Chiến II:
“Con Người đang trở nên quá thông minh nên không thể để xảy ra một cuộc
chiến tranh lớn khác nữa”. Và thảm hại hơn nữa, mới đây thôi, với sự hỗ
trợ của đủ loại computer toàn năng, sau khi “bức tường Berlin” sụp đổ và
chiến tranh lạnh giữa “Đế Quốc” và “Dân Chủ” tàn lụi, niềm hy vọng của lý
trí, của niềm tự hào của Con Người, đã nhanh chóng nhường chỗ cho một tình
thế rất bi quan của … của hiện thực; từ đó nỗi nuối tiếc một thời Nhị
Phân… dù sao xác xuất sống còn của nhân loại còn đủ lớn trong những bàn
tay của Lý Trí siêu cường. Nuối tiếc vô lý, vì sớm muộn gì, bất kỳ quốc
gia nào, ngay cả khi nó đang chết đói, vẫn có thể tống tiền, bắt chẹt phần
còn lại của thế giới bằng thói bần cùng liều thân của một Chí Phèo hạt
nhân hóa, dù là một thứ hạt nhân hóa hạng bét.
Tính chất Chính Trị của hai phần trên có tính ngàn đời,
nhưng ít nữa về lâu về dài, không thể có sắc thái biệt lập với cái sắc
thái nhân học đang chịu những biến động cực lớn có nguy cơ làm thay đổi cả
cấu trúc sinh hóa của nhân thể.
-
Đặc thù của Hiện Đại: Nếu Lý Trí Hướng Ngoại không loại trừ nhận
thức về mối liên hệ công sinh như một điều kiện căn bản cho tồn tại cá
nhân thì, trong hiện thực của những cộng đồng hiện đại đang ngày càng manh
múng về mặt cấu trúc như hậu quả của xu thế manh múng trên các lĩnh vực
sản xuất, thông tin, tín ngưỡng, văn hóa, giáo dục… nó khó tránh khỏi tác
động của một thúc đẩy tách rời nó ra khỏi mối liên hệ cộng sinh. Hiện
tượng này càng được tăng cường bởi tính phù du ngày càng rõ nét của mối
quan hệ giữa con người với con người, giữa con người với đồ dùng và nơi cư
ngụ, bởi tính độc lập của con người đối với các cơ chế mà trước kia có ý
nghĩa sống còn. Cái liên hệ mật thiết nhất, liên hệ trong hôn nhân, đang
rã rời qua số liệu ly dị, qua các hình thức hôn nhân không đăng ký
(concubinage), hôn nhân theo hợp đồng, theo nhóm, cả giữa những người đồng
tính. Cái liên hệ thiêng liêng nhất, tưởng đâu là tự nhiên cũng bị phi tự
nhiên hóa là tình mẫu tử, đang bị pha loãng trong một nghề nghiệp mới,
nghề làm cha mẹ chuyên nghiệp, mà lý do phát sinh là nhằm giúp các bậc cha
mẹ sinh học có nhiều thời gian hơn cho… họ.
Tiến bộ khoa học, kỹ thuật đẩy nhanh tốc độ sản xuất và
nhịp độ đổi mới hàng tiêu dùng đến mức ngày nay hầu như bất cứ đồ vật
nào đặt vào tay người tiêu dùng chỉ để vứt vào sọt rác một thời gian ngắn
sau. Ý niệm sở hữu phai nhạt cùng với những tình cảm đối với nơi mà có cả
trăm lý do khiến người ta phải hay muốn rời bỏ sau một thời lượng cư trú
ít nhiều dài ngắn. Cũng chính nhờ tính năng, hiệu năng, của nền sản xuất
phi hàng loạt hóa, trực tiếp ảnh hưởng lên quyền hạn của các tổ chức của
giới chủ, của Nhà Nước quan liêu và mệnh lệnh, mà con người tìm được những
mảnh đất cho tự do ngày càng rộng thoáng hơn. Cái ý nghĩa quan trọng nhất
và khẩn cấp nhất, trong mọi ý nghĩa có thể tìm ra từ hiện thực trên, ấy
là…
Nếu sang thế kỷ 21 Nhân Loại có thể không phạm phải cái
ngu xuẩn lớn nhất là cuộc xung đột hạt nhân giữa các quốc gia - một điều
cho tới nay không mấy chắc chắn, vì trên đống gạch vữa của Bức Tường
Berlin, đã rất nhanh hiện rõ tham vọng bá quyền của… , chúng tôi rất tán
thưởng quan điểm của ẩn sĩ Hammoud về sự sổ lồng của các âm hồn tà giáo –
thì một hiểm họa mới, ngay bây giờ đây, đã thế chỗ rồi: nó còn trầm trọng
hơn cái mà Huntington đã giả định, sự đụng độ giữa các nền văn minh, nó…
chúng tôi muốn nói tới hiểm họa về một nhân loại vô chính phủ, về cái mà
Vivekananda đã gọi là thể hỗn hống (amalgame) và giờ đây trở thành cực bác
tạp, cực ô trọc hay PHÂN BIỆT. Tình hình là như vậy đó khi ta nghĩ đến các
nhóm sắc tộc Kurd, Tchéchène, Tamil, Serbe, Croate, Bosnia… kể cả những
hình thức mới trong những nước văn minh của Lữ Đoàn Đỏ Ý, “Con Đường Sáng”
Perou, khi ta nghĩ đến những tai họa khủng bố đã xảy ra rồi trên bầu trời,
dưới mặt biển và sẽ dứt khoát xảy ra cả trên siêu xa lộ thông tin mà dấu
hiệu báo trước là những đàn virus điện tử đang đe dọa nhiều cơ quan
Nhà Nước, tổ chức tư nhân; khi ta nghĩ đến những stress mà từ đó cuộc sống
vũ bão hiện đại sẽ làm nảy sinh những anh điên, chị khùng, có trong tay
không chỉ hơi độc sarin (theo Seaquist, chiến lược gia ở Bộ Quốc Phòng Mỹ:
“một xí nghiệp hóa dược cũng có khả năng chế tạo vũ khí sinh học”), và rồi
đây cả những trái mìn siêu nhỏ tự tái sinh và v.v…. Cho nên…, nhưng còn
quá hẹp hòi và lạc quan, Warren Christopher cảnh cáo: “Nếu chúng ta không
tìm ra được biện pháp nào đó để các nhóm sắc tộc khác nhau có thể chung
sống trong một đất nước… thì chúng ta sẽ có 5000 quốc gia, so với trên 100
như chúng ta hiện có”. Biện pháp nào? Hơn nữa rõ ràng Ngoại Trưởng Mỹ mới
chỉ xem xét mặt chính trị của vấn đề. Bao quát hơn, trong cuộc gặp mặt
giữa các cựu nguyên thủ quốc gia ở Colorado Springs, tháng 10-1995, cố
Tổng Thống Pháp F. Mitterand nhận định: “Điều tuyệt đối cần cấp là năm
2000 phải định ra được các quyền của những nhóm thiểu số… Nếu không chúng
ta sẽ chứng kiến sự tan rã và phân hủy rộng lớn, mà không ai còn đứng
ngoài được nữa”.
Và quan trọng hơn, cấp bách hơn và trực tiếp liên quan tới
cuộc hội thảo này, khi ta nghĩ đến những giáo phái Davidiens, Hamas, “Đền
Thờ Mặt Trời”, Aum Shinrikyo… đang mọc lên như nấm khắp mọi hang cùng ngõ
hẻm. Giáo phái… Tôn Giáo… Tại sao vậy và ý nghĩa gì?
Nói đến Tôn Giáo…, trước hết và một cách phổ biến, đó là
niềm tin vào sự hiện hữu của Đấng Thượng Đế được quan niệm qua hình tượng
và tính cách con người lý tưởng hóa cực điểm. Đấng Thượng Đế, với tư cách
ấy, “buộc” phải sáng tạo ra toàn bộ cái vũ trụ hiện thực này, và “buộc”
phải có quyền lực tuyệt đối lên bất kỳ cái gì nằm trong vũ trụ ấy. Đồng
thời, về sự hiện hữu của Linh Hồn như một sở thuộc của mỗi cá nhân, đặc
trưng hóa cá nhân ấy và tồn tại vĩnh hằng.
Niềm tin này được trình bày lại và chi tiết hóa cho các
mặt tâm linh và thế tục trong một hệ thống giáo điều nối tiếp nhau ít
nhiều logic, bởi những tổ chức xã hội, một số rất nhanh chóng trở thành
những thế lực xã hội hùng mạnh mà các tâm sở tham, mạn, sân, tật, san,
phẫn, biên kiến, kiến thủ… nổi trội hơn nhiều lần các tâm sở tàm, quý,
tinh tiến, vô tham, vô sân, bất hại, hành xả… mặc dù họ vẫn luôn luôn nhắc
nhở, đòi hỏi các tín đồ phải trì giới nghiêm khắc, mà giới thì ở tôn giáo
nào cũng vậy, đều ít nhiều đồng nghĩa với các tâm sở thiện, cũng là các
biện pháp phòng ngừa, khống chế Ngũ Dục.
Là đồng minh rất gần gũi, có thể gọi là nguồn dự trữ chiến
lược của tôn giáo, mặc dù vẫn thường xuyên bị tôn giáo chối bỏ, hất hủi
một cách hết sực khinh bỉ và Cực Kỳ Phi lý (!), mê tín dị đoan cũng tự
định nghĩa trên niềm tin và sự hiện hữu của các sức mạnh siêu tự nhiên,
những hữu thể siêu tự nhiên theo nghĩa không thể, về phía con người, tùy ý
tri giác trực tiếp bằng các giác quan hoặc những công cụ khuếch đại, nhưng
lại có thể gây nên những tác động vào sự sống còn của mỗi người thông qua
những thủ pháp mà trình tự nhân quả không nằm trong tri thức duy lý khoa
học. Niềm tin loại này rất phổ biến trong nhân loại tuy có nồng độ rất
khác nhau và không được “chủ thuyết hóa” bởi một lực xã hội nào và nhất là
thường không bày tỏ một quan điểm cụ thể về một Thượng Đế “có tên họ”,
hình như bởi vì đó là tàn dư của giai đoạn vật linh luận và phiếm thần
luận.
Sự đăng quang của Lý Trí Hướng Ngoại lên ngôi thống trị
Trí Tuệ đã thực hiện được trong 300 năm qua những kỳ tích chói lọi của
Khoa Học và Kỹ Thuật, đã xây dựng được những xã hội công dân dân chủ và tự
do, những phẩm chất xứng đáng nhất của con người với tư cách sinh vật xã
hội; cả hai tổng hợp vào nửa sau của thế kỷ 20, trong xã hội tiêu thụ, lúc
đầu như một thành công bất khả phản bác của những tư tưởng Ánh Sáng, rồi
rất nhanh như những hiểm họa tiềm phục mà chính những tư tưởng ấy phải trả
giá.
Và trước hết, tất cả đều có ý nghĩa, đều có tác dụng đẩy
lùi Thượng Đế, và cùng với Ngài, “đẩy lùi các tôn giáo vào bóng tối”. Tình
hình là như vậy, và không thể khác được; vài tiếng nói lẻ tẻ từ Pascal đến
Einstein, từ Schopenhauer đến Bergson, lại là tiếng nói của Thế Trí Biện
Thông (trừ Pascal) không thể vực tôn giáo khỏi sự tàn lụi của nó, bởi vì:
-
Trên mặt Lý: Tôn giáo phải có Thượng Đế,
Thượng Đế là Đấng Sáng Tạo, Sáng Tạo là sáng tạo trong thời gian, có nghĩa
là Thượng Đế tồn tại trong thời gian, và người ta tự hỏi, trước thời điểm
bắt đầu Sáng Tạo, Ngài làm gì? Thượng Đế có quyền lực tuyệt đối lên Vạn
Vật – lên vạn vật là lên vạn vật trong không gian, có nghĩa là Thượng Đế
tồn tại trong không gian và người ta tự hỏi, trước thời điểm Sáng Tạo,
Ngài ở đâu? Chưa kể quyền lực dựa trên phán xét, sự triền phược vào một
thể vô định hình là Thị Phi! là Thiện Ác!
-
Trên mặt Sự: Bằng những lập luận có đằng sau
nó cả loạt thực nghiệm chính xác và chặt chẽ, có đằng trước nó sức mạnh
của chính những lập luận ấy vật chất hóa, khoa học đã buộc tôn giáo phải
từ bỏ, chí ít phải hiệu chỉnh hết giáo điều này đến giáo điều khác mà ngày
xưa nó đã dại dột chi tiết hóa và khẳng quyết quá sớm. Đồng thời trước
những vấn nạn nóng bỏng của nhân loại, tư duy duy lý khoa học đã đẩy nhiều
tôn giáo vào thế lấn bấn, lúng túng, như hiện thân của sự bất lực và vô
năng, giữa giải pháp và giáo điều. Ngoài ra, vì Dân Chủ và Tự Do không hề
kiêng nể, dè mặt bất kỳ ai, dù Thánh hay Phàm, vậy mà tôn giáo nào cũng
đều muốn quảng bá đạo học của mình, mở rộng quần chúng tín đồ, do đó phải
được tổ chức chặt chẽ, khoa học (!) do đó phải có một hệ thống lãnh đạo
quan liêu, do đó… thôi thì… cho nên… Và trong cả trăm, cả ngàn những tệ
hại, tạm nói cái bé nhất mà Krisnamurti đã phát hiện từ lâu “Ngày nay may
ra Phật Giáo chỉ còn tồn tại ở những nơi không có bóng dáng Thượng Đế”.
Cho nên từ Friedrich Nietzsche (1844-1900) Thượng Đế đã
chết, và cách nay vài ba thập kỷ, người ta đã tính chuyện thành lập khoa
Thần Học về cái Chết của Thượng Đế. Dĩ nhiên cùng với Ngài, cả tôn giáo
vốn lấy Ngài làm lý do tồn tại. Và như vậy tất cả đều quá hợp lý! Có điều…
Lý Trí Khoa Học chưa hề bao giờ vét cạn được hiện thực nhân sinh và vũ
trụ. Cho nên… và Chứng cớ là…
Trong vài ba thập kỷ qua, nhân loại đã chứng kiến vụ bội
thu của hàng vạn, hàng chục vạn những giáo phái trong các nước đang dẫn
đầu nền văn minh hiện đại, tức là văn minh khoa học, duy lý và vật chất
chủ nghĩa. Có những giáo phái đã trở thành nguy hiểm cho an toàn và ổn
định của cả một quốc gia; có những giáo phái đã tiến lên chiếm vị trí
trọng yếu về mặt ảnh hưởng và quyền lực đối với xã hội. Aum Shinrikyo làm
nảy sinh vấn đề an ninh không chỉ trong phạm vi một đất nước; và Ikeda,
người cầm đầu giáo phái Soka Gakkai được đánh giá là nhân vật có thế lực
nhất ở Nhật: tổ chức Cứu Rỗi Toàn Thống đang thách thức sự sống còn của
Nhà Nước Algérie… Cạnh đó, cả một quốc gia, cả một khu vực nữa, Iran,
Iraq, Khối Hồi Giáo, Khối Nho Giáo,…. Đã 10 năm rồi, bản án tử hình vẫn
lủng lẳng trên đầu người công dân của nước Anh Salmon Rushdie như một cái
tát vào mặt nền Văn Minh Đương Đại, Duy Lý và Pháp Trị; và việc trục xuất
Talisman Nasrin ra khỏi tổ quốc của bà dù sao cũng phải được xem như dấu
hiệu của sự đồng thanh tương ứng. Và tuy phải đạo hơn và ôn hòa hơn, Lý
Quang Diệu hay Mohamed Matin có ý nghĩa gì nếu không phải cũng là những
manh nha… Cho nên ở nhiều nơi trong thế giới Văn Minh đương đại, người ta,
những nhà khoa học hay những người có tư duy khoa học, đang phải xem xét
rất nghiêm túc một vấn đề rất khẩn trương: “Sự Phục Thù của Chúa” đang thị
hiện vào những năm cuối của thế kỷ này và chắc chắn sẽ được thi hành ác
liệt và tàn bạo hơn nhiều.
Không phải là nhà khoa học, cũng không phải là người có tư
duy khoa học, chúng tôi cũng không thấy trong những hiện tượng trên, dấu
hiệu cho sự phục thù của Chúa; chỉ thấy ở đó dấu hiệu, dù đôi lúc và đôi
nơi, có nhuốm sắc màu ảm đạm, cho khuynh hướng đi về tâm linh của nhân
loại. Thực ra, đợi chi cho đến những năm này! Ngay từ đầu thế kỷ 20,
Charles Lancelin đã tiên đoán “Khoa Học Huyền Bí sẽ là khoa học của thế kỷ
20”. Và rồi trước khi “thế kỷ 21 là Thế Kỷ Tâm Linh”, George Velgel đã
thông báo: “Phi thế tục hóa thế giới là một trong những hiện tượng xã hội
nổi bật của thế kỷ 20”.
Chứng cớ, đó là sự kiện, và thế đã quá đủ. Tuy nhiên chúng
ta có thể “bàn chơi” về Tại Sao và Thế Nào vậy.
- Nếu Khoa Học một mặt cứ khư khư tinh thần quyết định
luận của Vật Lý Newton và tinh thần bài trung của logic Aristote mà, hoặc
chính vì thế vẫn, hoặc không vì thế không, tiếp tục tiến lên đánh đâu
thắng đó trên khắp các trận địa của hiện thực nhân sinh thì quả thực tôn
giáo còn phải ấp a, ấp úng, gãi đầu gãi tai tự bào chữa cho quyền sống của
nó trước tòa án của Trí Tuệ Nhân Loại như nó từng làm thế từ thời Phục
Hưng đến đầu thế kỷ 20. Song, từ thuyết Tương Đối trở lại nay, người ta
không còn tìm đâu ra được cái thái độ tự chủ đầy ngạo mạn của Laplace,
trái lại, dễ dàng nhận ra ở khắp nơi, hoặc một R. Feynman “Khoa học chẳng
cho ta biết cái gì hết…, chẳng chứng minh cái gì hết”, hoặc một D. Hilbert
“Trong Toán học, người ta không biết người ta đang nói cái gì và những
điều người ta nói có đúng không”, hoặc một A. Zadeh, hoặc một Heisenberg…
nhất là Heisenberg: Nguyên Lý Bất Định giáng một đòn chí tử vào quyền độc
tôn của Khoa Học với tư cách những phán quyết sắt thép và đơn trị. Nói
cách khác, chính khoa học thế kỷ 20 đã thu hẹp vương quốc của Tất Yếu bằng
sự thừa nhận đế quốc của Ngẫu Nhiên. Cũng là tự thu hẹp quyền lực và oai
phong của chính nó và mặc nhiên cho phép mọi khả năng cơ hội hiện thực. Từ
đó cái Vô Lý của Tôn Giáo không còn là một luận cứ đủ để phản bát quyền
tồn tại của Tôn Giáo.
Lại càng như vậy, cái Vô Lý của Thượng Đế. Ngược lại là
đằng khác. Chính Khoa Học đôi lúc không khỏi… “Ôi! Thời oanh liệt.. ôi
Feuerbach, ôi Karl Marx…”. Chẳng hạn, gần đây nhất, góp phần vào một bản
hợp tấu bắt đầu cũng đã lâu rồi, nhà bác học nổi tiếng thế giới Trịnh Xuân
Thuận rất tin vào sự hiện hữu của Thượng Đế chỉ bởi vì, dựa vào tính toán
của ông và các đồng nghiệp, vũ trụ này đã được tạo dựng theo một chương
trình được thi công chính xác đến từng một phần tỷ tỷ giây. Để đảm bảo
được sự chính xác kinh khủng này – kinh khủng đối với ai? một giây mà đã
là ngắn à? “Một satna bao gồm toàn bộ thời gian từ vô thỉ đến vô chung” -
phải có một Đấng Thượng Đế đứng ra chủ trì chứ không thể mặc nhiên giao
phó cho Ngẫu Nhiên được. Thì ra nhà bác học rất tài năng và đạo đức ấy,
vốn sợ Ngẫu Nhiên như nước sợ Chân Không, tin rằng Thượng Đế có thực vì
Ngài rất giỏi, giỏi bằng Con Người: chẳng phải cái gọi là chính xác đến
một phần tỷ tỷ tỷ ấy chính là sản phẩm của Con Người, thậm chí của một số
người nào đó hay sao? Mà những người này thì quá thật đến nỗi câu hỏi “Tôi
là Ai?” trở thành quá lố đối với họ! Thêm nữa chẳng phải chính Trịnh Xuân
Thuận đã khẳng định ngay trên bìa cuốn sách: Và Con Người đã tạo ra Vũ
Trụ! - Thế kỷ 20 là thế kỷ của thông tin, của giao lưu và kỹ thuật trắc
nghiệm. Chính trong tình hình này mà nhiều hiện tượng mới gần gần đây thôi
còn bị Khoa Học, và những người theo đuôi nó, đáng chú ý nhất là Tôn Giáo,
ném thẳng tay vào sọt rác của mê tín dị đoan mà không cần xem xét thật giả
gì hết, giờ đây lại được lôi ra, rồi kiểm tra, rồi đo đạc, rồi thí nghiệm,
và cuối cùng trong nhiều trường hợp người ta buộc phải rụt rè công nhận
“khoa học chưa giải thích được” thay vì nói thẳng ra và ít ngu xuẩn hơn
“nằm ngoài logic khoa học.”
Từ đó, người bạn đồng minh trung thành, tuy thường bị rẻ
rúng, của tôn giáo, dần dần ngẩng cao đầu, nói năng đàng hoàng với thiên
hạ, tuy nhiều lúc, do tự ti lâu năm lại thêm ít học, cứ tự làm mình lố
bịch bằng cách vay mượn dăm ba chiếc lá nho khoa học rất rẻ tiền. Cũng có
nghĩa là Tôn Giáo giờ đây đã hiểu ra hoặc phải hiểu ra rằng nó không cần
quá rụt rè, khúm núm trước Khoa Học nữa mà cần hiên ngang hơn, tự tin hơn,
đứng vững hai chân trên mảnh đất của nó.
-
Thế kỷ 20, trong toàn bộ nền văn minh nhân
loại đến lúc đó, là đỉnh cao nhất của những thành tích kỳ vĩ mà Khoa Học
và Kỹ Thuật đã thực hiện trên hiện thực cũng đủ làm các tôn giáo phải kính
nể, đồng thời cũng là đỉnh cao của biết bao nhiêu cái… chúng tôi đã sơ sơ
nói qua một vài chi tiết. Và thế kỷ ấy, kiêu mạn là thế, lại đang sắp kết
thức trong hồi chuông róng rả báo tin Chúa đang trở lại, Chúa tái sinh, và
kinh khủng hơn hết, Chúa… phục thù!
Chúng ta vừa bàn chơi ba động lực của khuynh hướng về tâm
linh nhưng có một sự kiện không phải là nói chơi, đó là Tôn Giáo, bất kỳ
tôn giáo nào, không hề tham gia tí nào vào sự hình thành bất kỳ một động
lực nào trong ba động lực trên, bất kỳ… kể cả Phật Giáo. Mặc dù cả ba động
lực ấy đều tìm được đáp án, vượt quá cả nội dung mà con người hiện đại đặt
ra cho chúng trong kinh luận của Nhà Phật.
Trong tất cả các tôn giáo, các hệ tư tưởng duy tâm, duy
nhất chỉ có Đạo Phật đã làm được điều cực kỳ vĩ đại, đủ vô hiệu hóa mọi
thách thức của Trí Tuệ Con Người trong mọi thời đại, trước mắt trong thế
kỷ 21, ngay cả với mọi giả định về sự phát triển không thể hình dung được
của Khoa Học và Kỹ Thuật, ấy là Đạo Phật đã phủ định: Thượng Đế như
nguyên nhân đầu tiên của Tồn Tại
Và Linh Hồn như sở thuộc cá nhân, như lý do cho tín
ngưỡng và tu tập.
Mỗi nền Văn Minh đều hình dung Thượng Đế trong một mô hình
riêng, có tính đặc thù về các mặt truyền thống, dân tộc, địa lý, lịch sử,
… Thượng Đế Brahma hay Ishvara của người Ấn Độ, Đức Thích Ca tuy có thừa
nhận chức năng coi sóc vũ trụ của Ngài, cái vũ trụ trong tri kiến của
chúng sinh trong cõi Ta Bà, nhưng Đức Phật không đánh giá Ngài cao lắm,
vẫn xếp Ngài vào giỏ Lục Đạo liên tục rỉ chảy vào vòng Luân Hồi; chính bản
thân Thượng Đế này cũng tự phản tỉnh tính hạn chế của mình nên Ngài vẫn
thường xuyên đến nghe Đức Phật thuyết pháp. Vậy ai đóng vai Thượng Đế Toàn
Năng Toàn Tri bây giờ?
Mặc dù Đức Thích Ca đã nói trắng ra, không úp mở, vòng vo,
bóng gió: “Thiên thượng, thiên hạ duy Ngã độc tôn” mặc dù cái tài tính
toán chính xác và sắp xếp chi li trong vòng 10-43 giây sau bức
tường Planck chẳng ăn nhằm gì so với “Như Lai… cho đến giọt nước ở
ngoài hằng sa thế giới, cũng biết số mục, không rời nơi đạo trường mà hiện
khắp cả Mười Phương Thế Giới”,
“Thân ta bao trùm mười phương hư không vô tận ;
Trên đầu một mảnh lông hiện ra các cõi nước, ngồi trong
một hạt bụi mà chuyển Đại Pháp Luân”
nhưng Đức Phật lại không tự cho mình cái tư cách sáng thế,
không phải vì Người, thái Tử Sidartha, dòng họ Gautama, con của Quốc Vương
Suddhodana, mới sinh ra vào năm… nào có ăn nhằm gì với tuổi của vũ trụ ít
nhất là 15 tỷ năm; đơn giản chỉ bởi vì…
Đối trước cái vũ trụ quan sát được này (l’univers
observable) – mà theo một giả thuyết thiên văn hiện đại về vũ trụ muôn thể
(univers multiples) chỉ là một thứ bọt bèo (bulle) mất tăm trong một cái
siêu vũ bọt bèo (bulle méta-univers), cái này đến lượt nó lại mất tăm
trong… và cứ thế vô tận - Đức Phật có cái tư cách bình đẳng với bất kỳ một
chúng sinh nào; nghĩa là một bộ phận? một thành phần? một mô hình thu nhỏ
của Vũ Trụ. Không, toàn những câu chuyện trẻ con vì nó vẫn không giải
quyết được vấn đề nguyên nhân, vần đề phát sinh. Ấy vậy mà và trái lại,
Đức Phật, và cùng với Ngài mỗi người chúng ta, đều có cái Tư Cách SÁNG
THẾ: “Núi sông, thế giới, và hư không đều là vật trong CHÂN TÂM hiện
ra… Các ông thấy có núi, có sông, có thế giới, có chúng sinh vì các ông
đều Mang Bệnh Nhặm Mắt (tức là Vô Minh ) từ vô thỉ… Toàn thể các chúng
sinh trong Mười Phương Thế Giới đều do Vô Minh Vọng Động từ vô thỉ
nên cùng Vọng Tưởng có thế giới như thế, có chúng sinh như thế hiện ra”.
Hãy tạm tưởng tượng con mắt của chúng ta có thể xuyên sâu
vào cấu trúc nguyên tử của vạn pháp thì ta dễ hình dung, dễ tiếp cận tính
chân lý tuyệt vời của khẳng định cực kỳ phi lý trên (!). Nhưng Đức Phật
đâu thèm dừng lại ở mức nguyên tử, hay hạt quarks, hay gì gì đi nữa:
“Cái giới hạn về sắc tướng đến Hạt Lân Hư là cùng tột. Nếu có thể làm phân
rã hạt lân hư này một lần nữa thì sẽ có Hư Không”. Rõ ràng: “Tính
của SẮC là CHÂN KHÔNG”.
Cái Chân Không xuất hiện thay thế cho sự tiêu vong của Lân
Hư như lượng tử của vật chất, và ta không khỏi liên tưởng đến thí nghiệm
bắn phá hạt cơ bản mới đây nhất làm mất tiêu vật chất trong Trường Chân
Không Vật Lý. Mà Vật Chất chính là Không Gian, vì ngày nay Không Gian
không còn được quan niệm như cái Chứa trống rỗng mà như tính cách của vật
chất: Vật Chất tạo ra Không Gian chứ không phải Không Gian chứa vật chất.
Thế còn
Thời Gian thì sao? Cái thành phần cấu tạo thứ hai của Vũ Trụ? Chẳng phải
Đức Phật vẫn nói đến Luân Hồi, đến Nhân Duyên, đến Quả Báo… và tất cả đều
tất yếu diễn ra trong thời gian chứ còn trong cái gì khác nữa: “Ta nói
thuyết nhân duyên là đúng về phần sự tướng chỉ các pháp trong thế gian mà
nói, chứ không phải chỉ do Lý Tính Tuyệt Đối vậy”.
Giống
như chúng ta đang sống nhởn nhơ trên Trái Đất này với giờ, với phút, với
giây, có cái chính xác của vàng ròng, nhưng nếu ta rời khỏi Trái Đất với
tốc độ gần bằng tốc độ tuyệt đối, hoặc lọt vào hố đen, hoặc vọt ra hố
trắng… Đại khái các pháp trong thế gian và Lý Tính Tuyệt Đối khác nhau như
vậy. Nhưng còn Tam Thế Chư Phật? Ông Duy Ma Cật đã đỡ lời Đức Thích Ca:
“Do văn tự thế tục ghi chép nên nói có ba đời chứ chẳng phải Bồ Đề (tức
là Trí Tuệ Tối Thượng) có Đời Đã Qua, Đời Sẽ Tới và Đời Hiện Nay”.
Tóm lại,
qua ống kính Võ Phân Biệt của Trí Viên Thành Thực trên Vương Quốc của Chân
Đế: “Cả cái Tự Nhiên ấy, cả cái Nhân Duyên ấy đều do CHÂN TÂM vọng động
ra cả” Mà Chân Tâm thì ai chẳng có, ai chẳng là chính Nó: “Cái CHÂN
TÂM CỦA ÔNG, sao ông không tự nhận lấy, lại cần ta chỉ CHÂN TÂM cho nữa?”
Nó có
dáng dấp của Linh Hồn mà thoát khỏi cái Vô Lý cực lớn là tính Cá Ngã vĩnh
hằng. Còn Vọng Động? Đã là chuyện ảo, chuyện huyễn, như một giấc mơ, sao
còn phải quá bận tâm đến Tại Sao hay Thế Nào, như ông Phú Lâu Na: “Chân
Tâm bản nhiên thanh tịnh, vân hà hốt nhiên sinh sơn hà, đại địa?”.
Vậy là?
bởi vì khoa học lý thuyết đang ngày càng, và không thể làm khác được, dấn
bước trên con đường hóa giải hai thành tố cơ bản và duy nhất của Tồn Tại
là Không Gian và Thời Gian, cho nên, không phải chỉ riêng cho thế kỷ 21 mà
cho muôn đời sau này, Đạo Phật đã đem lại câu trả lời không bao giờ có thể
vượt quá cho những câu hỏi về bản thể, về vũ trụ. Nhưng Con Người, nhưng
chính chúng ta đang sống đây, có những nhu cầu trực tiếp, với những vấn đề
cấp bách, trước những hiểm nguy gần kề mà phần trên chúng tôi đã điểm sơ
sơ, tất cả còn khẩn thiết hơn, hiện thực hơn nhiều lần những vấn đề vũ trụ
luận hay bản thể luận. Đạo Phật tuyệt vời thật, nhưng là tuyệt vời trong
thế giới siêu việt cái cõi đời tầm thường mà quá thật này. Vậy nó có ích
gì cho con người tầm thường và quá thực là chúng ta đây không?
Cái Vĩ
Đại thứ hai của Đạo Phật là những đối sách rất thực dụng của nó cho con
nguời trên Tục Đế, dựa trên mặt thứ hai, mặt Vọng của CHÂN TÂM: “Tính
của KHÔNG là CHÂN SẮC”.
Nếu
chúng ta chưa vượt được trường hấp dẫn của những chủng tử hữu lậu đã huấn
tập mà còn bị câu thúc bởi cấu tạo sinh lý, bởi phân tử ADN, bởi tri thức
đã học hỏi, bởi cảnh quan văn hóa, lịch sử… nghĩa là bởi Kiếp Trược, Kiến
Trược, Phiền Não Trược, Chúng Sinh Trược…Nếu chúng ta vẫn tin rằng ta là
cái Có Thật trước nhất, đối trước cái Có Thật khác là Thế Giới và Chúng
Sinh thù địch nhiều hơn thân thiện, thì Đạo Phật còn chỉ ra một cái Có
Thật không kém, đó là luận Nhân Quả, luật Luân Hồi. Đây là một răn đe,
hoặc một động viên cho con người đang hướng thân, khẩu, ý của mình vào con
đường Thập Ác hay Thập Thiện. Thiên Đường và Địa Ngục đều có thật hết, với
những ai tin rằng có thật cái Ngũ Dục mà họ gắn bó và hành động và suy
nghĩ dưới sức đẩy của sáu Căn Bản Phiền Não hay 21 Thiện Tâm Sở.
Tất
nhiên Tôn Giáo nào cũng đều khuyên người ta làm ta làm điều thiện, tránh
điều ác với một phần thưởng Thiên Đường hay một trừng phạt Địa Ngục mà chỉ
Thượng Đế mới quyết định, và quyết định một lần là xong hẳn cho mỗi người.
Đạo Phật cũng chỉ rõ những gì đang chờ đợi con người thiện và ác, những gì
ấy không do sự áp đặt hay ban phát của ai hết mà chỉ đến với họ từ chính
bản thân họ, và đến trên rất nhiều quốc độ - tam thiên Đại thiên thế giới
– và đến dưới mười dạng sinh tồn: Địa Ngục, Ngạ Quỷ, Súc Sinh, Atula,
Nhân, Thiên, Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ Tát, Phật, trong một vòng tròn bất
tuyệt cho sáu loại đầu. Như vậy, lời dạy của Đức Phật, rất phù hợp với
phương hướng suy nghĩ của nhân loại văn minh vừa thừa nhận tính tất yếu,
vừa thừa nhận tính tự do: con người không phải chỉ là một con rối trong
tay của một cái Nghiệp như một tiền định mà còn là quyền tự do lựa chọn
hoặc dừng Nghiệp hoặc chuyển Nghiệp.
Nhưng
những hiện tượng này có thật không? Con người hiện đại có nhiều biện pháp
trắc nghiệm, và Đức Phật đã chỉ ra một phương thức ngày càng chinh phục
được Trí Tuệ Nhân Loại, đó là Tọa Thiền.
Chúng
tôi không đề cập ở đây những lợi ích của Tọa Thiền cho đời sống hiện sinh
mà ai cũng đã biết cả, cũng không đề cập tới hiệu lực của Tọa Thiền đối
với sự thủ đắc các quyền năng siêu việt quy luật vật lý học mà ta dễ phải
công nhận; chúng tôi chỉ muốn lướt nhanh cái tính năng giác ngộ từng phần
mà Tọa Thiền đem lại cho hành giả về vấn đề cốt tử của con người, tức là
vấn đề “Tôi là Ai”, từ đó Thế Giới này là gì, từ đó, sao lại khác được,
chí ít một cuộc sống hòa bình, thăng tiến tâm linh trên Trái Đất này, bởi
vì chúng tôi tin tưởng sắt đá rằng qua Tọa Thiền chúng ta sẽ từng bước thể
nghiệm được, sinh nghiệm được nhận định bất hủ của ngài Milarepa: “Hai
ngụy thuyết căn bản của tư tưởng con người: Tin vào thực tại của những gì
chỉ thuộc về Hiện Tượng và tin vào sự hiện hữu của Bản Ngã”.
Chúng
tôi nghĩ rằng sự tiến hóa thế tục của Nhân Loại sẽ được đo và chỉ được đo
bằng một loại thước, cái thước của Dân Chủ và Tự Do. Những phẩm chất ấy
vốn dĩ lại nằm trong Đạo Phật nhiều hơn bất kỳ một hệ tư tưởng nào mà con
người đã và sẽ nghĩ ra. Đức Phật, mặc dù tất cả những vinh danh Thế Tôn,
Thiên Nhân Sư, Điều Ngự Trượng Phu, Vô Thượng, Chính Biến Giác Tri, … vẫn
khẳng định: “Ta là một vị Phật đã thành, các người là những vị Phật sẽ
thành”,thành ở
đâu? “Ta thành Phật trong Tâm Chúng Sinh”.
Khi Ngài
còn tại thế và đi truyền pháp, Ngài thường dùng “phương tiện” để giáo độ,
từ đó ngay cả những lời dạy của Ngài cũng không được Ngài gán cho cái ý
nghĩa của giáo huấn tuyệt đối: “Pháp của ta như bè để qua sông. Khi đã
qua được sông rồi còn dùng bè làm gì nữa”. Như vậy Pháp của Phật chỉ
có tác dụng của một gợi ý: “Các người hãy tự thắp đuốc lên mà đi, mồi
lửa vào Chính Pháp của ta”.
Tinh
thần Dân Chủ và Tự Do của Đạo Phật thực là vô địch, cho nên một người vốn
chưa có danh vị Bồ Tát hay A La Hán, hay Thanh Văn, Duyên Giác, thậm chí
cũng chẳng có địa vị trong giáo đoàn tăng lữ như các ông A Nan, Ca Diếp,
Ưu Ba Ly,… mà vẫn có cái tư cách thuyết pháp cho tứ chúng, cho cả Bồ Tát,
cả A La Hán, ngang bằng với Đức Phật, đó là Ngài cư sĩ áo trắng Duy Ma
Cật. Mà Ngài lại toàn thuyết những pháp trái ngược với những lời dạy
có tính kinh điển của Đức Thế Tôn, tỷ như: “Nếu Bồ Tát thi hành những
việc trái đạo, đó là Bồ Tát thông đạt Đạo Phật”. Thông đạt đến mức:
“Chẳng lìa dâm, nô,…; chẳng cắt si, ái…; chẳng thấy Phật, chẳng nghe Pháp;
sáu sư ngoại đạo là thầy, kết bạn với chúng ma; chê Phật, khinh Pháp,
chẳng nhập chúng Tăng”.
Chúng
tôi không bàn đến ở đây tinh thần tương đối luận của Ngài Duy Ma Cật, chỉ
lưu ý rằng trong Tục Đế vốn có tính tương đối, mặc dù vậy Đạo Phật không
hề là vương quốc của tùy tiện, hay chủ nghĩa hư vô: “Tuy hành lẽ Không,
nhưng trồng các cội lành, tuy hành lẽ Vô Tướng nhưng độ các chúng sinh,
tuy hành lẽ Vô Tác nhưng thị hiện thụ lấy thân sống, tuy hành lẽ Vô Khởi
nhưng khởi tất cả các nết lành”.
Với loại
sơ cơ, lưỡi gươm luân hồi nhân quả lúc nào cũng lủng lẳng trên đầu họ như
một răn đe; với loại lợi căn, Tọa Thiền có tác dụng của ánh sáng soi rọi
phương tiện thiện xảo. Có lẽ vì chưa thấy rõ hiệu năng tuyệt đối của Tọa
Thiền như phương pháp tu luyện cơ sở trên nguyên lý bao quát “Tam Giới Duy
Tâm, Vạn Pháp Duy Thức” và phương pháp truyền đạo theo tinh thần “phương
tiện” cho từng đối tượng và trình độ, cho nên một con người (hết sức đáng
kính) như Giáo Hoàng John Paul II vẫn tự cho phép mình phát biểu một nhận
định rất đáng tiếc về đạo Phật.
Không ai
cứu được con người, kể cả Đức Phật, ngoại trừ chính bản thân họ. Tương lai
của Nhân Loại trong thế kỷ 21 sẽ ra sao? Đạo Phật chỉ là một gợi ý, dù có
tính tối ưu vì phù hợp sát nhất với đường hướng tiến hóa của Trí Tuệ Nhân
Loại, nhưng nó vẫn chẳng phải là một đảm bảo tuyết đối. Lại càng như vậy
khi…
Thực sự,
trên những tiêu chí “khoa học”, chúng tôi không đủ tư cách và hiểu biết để
bàn về Đạo Phật trong hiện trạng và phương hướng triển vọng trong tương
lai trên phạm vi thế giới. Ngay cả trên phạm vị quốc gia! Nhưng với tư
cách một kẻ thất phu thành thực có đôi chút ý thức về “vũ trụ giai phận
sự” và đã thấy, đã nghe, đã sống, chúng tôi vẫn mạnh dạn trình bày đôi
điều suy nghĩ nông cạn và nhận xét phiến diện về tình hình Phật Giáo Việt
Nam.
Trong
vài thập kỷ qua, đất nước này đã trải qua nhiều biến động, cuốn hút một
tôn giáo đứng ngoài tục giới như Phật Giáo vào dòng thác cuồng nộ của nó
và do đó gây nên những phân biệt không đáng có trong nội bộ Phật Giáo vốn,
trong cứu cánh, chỉ quan tâm đến cái khổ làm người theo nghĩa luân hồi và
nhìn nhận vũ trụ này chỉ như một trò huyễn hóa “Bồ Tát quán chúng sinh như
một vị ảo sư nhìn thấy người ảo hóa của mình”.
Căn cứ
trên thực tiễn hành xử của giới tăng ni, chúng tôi được gặp không nhiều
lắm các vị tu hành thấm nhuần cái yếu nghĩa đó của Đạo Phật, đủ không để
mình sa đà vào những hoạt động thế tục và phù hoa không liên quan gì đến
mục đích cứu độ của Phật Giáo. Từ đó, một hậu quả trực tiếp, gần như tất
yếu, là hiện tượng trì giới thiếu nghiêm khắc khá phổ biến trong hàng ngũ
Tăng Già. Mặc dù, trên mặt đời, trì giới là tư cách, là danh dự, là “quyền
hành nghề” của người tu hành, cũng là của toàn thể Giáo Hội; trên mặt đạo,
trì giới là yêu cầu số một, có tính bản thể cho Định, Tuệ hiện thực hóa,
đặng tiến tới Cứu Cánh của Đạo. Vì vậy việc đầu tiên phải làm cho mọi Giáo
Hội Phật Giáo hay Hội Phật giáo, danh xưng là gì đi nữa, là phải thanh lọc
triệt để hàng ngũ tăng ni trên tiêu chuẩn trì giới, thay vì nói quá nhiều
đến những vấn đề chung cục chỉ có tác dụng tha hóa người tu hành trên cả
hai lĩnh vực Lý và Sự.
Ngay cả
những vấn đề nội bộ, tức là liên quan đến Tiểu Thừa và Đại Thừa. Chúng tôi
nghĩ rằng nếu như bằng cỗ xe nhỏ mỗi cá nhân nhà tu hành có khả năng hiện
thực để đi đến những cấp bậc nào đó chỉ của thế giới hiện tượng thôi, chưa
dám nói đến Niết Bán, Tịnh Thổ chi cả, trên những nẻo đường của Thiền
Định, là điều có thể quan niệm được, hình dung được trên cơ sở thực
nghiệm, thì chúng tôi lại thấy yêu cầu và bản nguyện chở thật nhiều người
trên cỗ xe thật lớn đế cùng đến Niết Bàn thật vui là một tham vọng thật
cao mà thật tế chưa có một Hội Phật Giáo nào đã làm được, dù cho trên
những tiêu chí thật đơn giản, thật sơ lược của lý thuyết. Cho nên, thay vì
quá lắm lời tự đề cao cái tư cách Đại Thừa, và dựa vào một số lời lẽ trong
trong Kinh Luận mà miệt thị đạo hữu Tiểu Thừa của mình, các Hội Phật Giáo
nên dành thì giờ và sức lực vào cố gắng làm giảm nhẹ những đau khổ tầm
thường của con người thế tục bằng cách thường xuyên thực thi hạnh Bố Thí
trong cả ba nội dung Tài, Pháp và Vô Úy, bắt đầu bằng sự phản tỉnh của bản
thân trên các “thuộc tính nhân thể” là Tham, Giải Đãi và Úy của chính
mình. Chính ở đây sẽ được đánh giá bởi Nhân Loại thế tục, mà Hội Phật Giáo
nào cũng cần đến, vai trò và vị trí của Phật Giáo trong những bước tiến
hóa của văn minh nhân loại.
Một
phương tiện cực kỳ hữu hiệu liên quan đến hiệu lực của Pháp Thí mà tiếc
thay cho đến nay các Hội Phật Giáo đều đã bỏ qua, đều đã không biết quan
tâm đúng mức trong thực tiễn nhân sinh đương đại. Nếu ở nước Ấn Độ cổ vào
thời đại Đức Phật tại thế, mọi người đều tin mà không đặt vấn đề gì về
tính hiện thực của các hiện tượng siêu tự nhiên và các quyền năng huyền bí
thì thật quá tự nhiên, quá hữu lý, quá hợp đạo việc Đức Phật cấm các môn
đồ của mình thi triển thần thông và xếp vào loại tà giáo tất cả những môn
phái tu hành chỉ nhằm sở đắc những quyền năng khuynh đảo con người và sự
vật. Nhưng vào thời đại chúng ta đang sống đây, trong tinh thần duy lý và
dưới sức ép của Khoa Học và Kỹ Thuật, người ta dễ dàng phản bác những
chuyện trên, xem đó chỉ là di lụy của một thời bán khai, ấu trĩ, với sự
đồng tình của không ít tăng ni, Phật tử quá ngây thơ mà cứ tưởng mình khoa
học và hiện đại, thì chính những việc đó lại là những bằng cứ bất
khả kháng cho các luận thuyết Duy Tâm trong đó Đạo Phật đứng hàng đầu.
Vì vậy
Giáo Hội Phật Giáo phải nghiêm túc nghiên cứu, sưu tầm các hiện tượng thần
bí, lấy đó làm căn cứ sơ đẳng, làm phương tiện thiện xảo để giáo hóa hàng
sơ cơ khoa học và duy lý những luận thuyết cao siêu cũng là siêu thực, phi
lý trong Kinh Luận Phật Giáo; phải dành vị trí đặc biệt cho Mật Tông,
Thiên Thai Tông… không kém gì Thiền Tông, Tịnh Độ Tông…; phải hỗ trợ tích
cực Mật Tông để tông phái này làm tròn được sứ mệnh của vị Hộ Pháp đối
trước những đợt tấn công ác liệt của Khoa Học, Kỹ Thuật, của tinh thần duy
lý, vật chất, thay vì các nhà thuyết giảng Phật Giáo mải mê mô phỏng những
phương pháp luận trong thế kỷ trước của các bộ môn khoa học xã hội Phương
Tây, cứ tưởng làm như vậy là trang bị được cho mình cái diện mạo hiện đại
hấp dẫn lắm.
Mặt
khác, kho tàng Kinh Luận Phật Giáo chứa đựng đến vô hạn những giáo huấn mà
các lý thuyết khoa học hiện đại và những phát hiện thực nghiệm mới nhất có
thể được dùng làm những minh họa ít nhiều thành công, đây phải là một
phương hướng hoạt động mà Hội Phật Giáo cần đặt ra cho các Phật Tử đang
làm công tác khoa học ở ngoài đời, thay vì Hội Phật Giáo hớn hở chộp lấy
như một bằng cớ chứng minh giúp, như một chất liệu trang trí hộ cho bản
thân họ, thay vì lo cử các tăng ni ưu tú vào các trường cao cấp thế tục để
mang về cho Hội những Sở Tri Chướng Phương Tây rồi ra chỉ có cái ý nghĩa
của việc “nuôi ong tay áo”.
Tạm thời
cuối cùng, những không phải là dưới cùng, các tông phái Phật Giáo cần phải
hiểu bản thân mình như sự thị hiện của Phật Giáo trên một phương diện của
cái “hiện thực huyễn hóa” có nhiều cấp độ này, thay vì công kích nhau loạn
xạ, miệt thị nhau bằng những luận điểm nhiều khi rất hẹp hòi, tầm thường,
thậm chí cả ngu xuẩn nữa. Các tông phái Phật Giáo thật sự phải coi nhau là
những vị Bồ Tát có sứ mệnh khác nhau trong những quốc độ khác nhau, khác
nhau như các ngài Quán Âm, Thế Chí, Văn Thù, Phổ Hiền, Di Lặc, Long Thụ, A
Nan, Ca Diếp… đối trước những chúng sinh khác nhau, không bao giờ được
phép tự coi mình là người thừa kế duy nhất của Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni
Phật.
Một lần
nữa, xin cho phép chúng tôi tự giới thiệu chỉ là một thứ Phật tử dân dã,
đã thành thực, ít ra trong một lúc bộc phát của vài ba thiện tâm sở từ cái
tâm chúng sinh của mình, bày tỏ đôi ba ý nghĩ và nhận xét mà chắc rằng rồi
ra có nhiều cơ may được Giáo Hội Phật Giáo quan phương dành cho những lời
phê phán không thương tiếc, mà chư tôn đức và chư thiện hữu trí thức trong
hội thảo này đã dành cho một sự chú ý nhỏ nhoi nào đó, mà chúng tôi xin
ghi nhận như một ân thưởng quá quý báu và chúng tôi chỉ biết đáp lại bằng
tấm lòng thành thực.
Tinh
Tiến
20.02.1996
NHỮNG VẤN ĐỀ TRƯỚC MẮT ĐỐI VỚI PHẬT GIÁO
VIỆT NAM
THÍCH TRUNG ĐẠO
Đạo Phật
xuất hiện cách đây hơn 25 thế kỷ, trải qua những thăng trầm của lịch sử,
từng chịu đựng biết bao thử thách khắc nghiệt, nhưng vẫn đứng vững và mỗi
ngày một lớn mạnh, là vì nó có đủ ba yếu tố: khế lý, khế cơ và khế thời.
Trên phương diện khế lý, đương nhiên lấy nguồn cảm hứng từ sự giác ngộ của
đức Thế tôn dưới cội bồ đề, nhưng về phương diện khế cơ và khế thời, các
sứ giả của Như Lai cần khéo léo vận dụng tinh thần tùy duyên bất biến của
giáo pháp để đáp ứng được mọi căn cơ và nhu cầu thời đại, thì hiệu quả của
chánh pháp mới phát huy một cách sinh động.
I.
GIỚI LUẬT, CẦN PHẢI CẬP NHẬT HÓA
Tất cả
mọi tổ chức, mọi đoàn thể muốn được ổn định và tồn tại, nhất thiết phải có
những điều lệ làm kỷ cương và những tôn chỉ để hoạt động. Nếu không có
những điều lệ làm cương lĩnh, chắc chắn tổ chức ấy không tồn tại lâu dài.
Cũng thế, một tôn giáo muốn đạt được mục đích cao cả, cần phải có những
giới luật thích hợp làm cơ sở mới duy trì được sự thanh tịnh. Chính đức
Phật đã dạy: “Tỳ ni tạng trụ, Phật pháp diệc trụ, Tỳ ni tạng diệt, Phật
pháp diệc diệt”. (Giới luật còn thì Phật pháp còn, Giới luật mất thì Phật
pháp cũng mất).
Như vậy,
giới luật chính là mạng mạch của Phật Giáo, và chỉ có đức Phật mới có đủ
thẩm quyền chỉ định, điều đó ai cũng hiểu. Thế nhưng, thời đại của chúng
ta cách Phật đã 25 thế kỷ, do thời thế biến thiên, hoàn cảnh thay đổi, nên
những điều Phật quy định trước kia, tuy ngày nay đại bộ vẫn còn giữ được
giá trị hiện thực, nhưng có một ít chi tiết đã tỏ ra không còn phù hợp với
căn cơ của chúng sinh và hoàn cảnh hiện tại. Nếu không điều chỉnh kịp
thời, thì tác dụng của giới luật chắc chắn sẽ bị hạn chế không ít. Do đó,
thiết tưởng giáo hội cần có một số quy định mới cho phù hợp với những sinh
hoạt của Tăng ni trong giai đoạn hiện tại, có như vậy mới phát huy được
tác dụng của giới luật một cách trọn vẹn. Vấn đề này, chính Đức Phật xưa
kia đã căn dặn: “Này các Tỳ kheo, tuy là những điều do Ta chế định, nhưng
nếu không phù hợp với phong tục tập quán của địa phương đó, thì không nên
áp dụng. Trái lại, có những điều không do Ta quy định, nhưng vốn là phong
tục tập quán của địa phương ấy, thì không thể không thi hành” (Ngũ Phần
Luật, ĐTK, 1421, tr 153a).
Đó là
tinh thần uyển chuyển của giới luật do Phật dạy. Và chúng ta cũng biết
rằng Quốc gia nào không muốn cho Hiến Pháp và Luật pháp của mình bị lỗi
thời và vô hiệu lực, thì Hiến pháp và Luật pháp ấy phải luôn luôn được tu
chỉnh và bổ sung kịp thời. Nhưng, muốn cho pháp luật của quốc gia hay giới
luật của tôn giáo phát huy đầy đủ tác dụng của nó, không gì hơn là nhờ đến
phương tiện giáo dục hỗ trợ.
II.
TẦM QUAN TRỌNG CỦA GIÁO DỤC PHẬT GIÁO.
Cổ đức
từng nói: “Ngọc bất trác bất thành khí, nhân bất học bất tri lý”. (Ngọc
không mài không thành vật quí, người không học không thông đạo lý). Hiện
nay, vấn đề giáo dục Phật Giáo - chủ yếu là dành cho Tăng Ni quả thật có
những khởi sắc đáng khích lệ. Thế nhưng trên thực tế, vẫn chưa đáp ứng một
cách đầy đủ nhu cầu học hỏi của Tăng Ni. Do đó, thiết nghĩ, Giáo hội nên
đặt vai trò giáo dục lên tầm quan trọng hàng đầu trong những Phật sự cấp
bách hiện nay. Đồng thời những người giữa vai trò giáo dục phải có thực
chất, đủ uy tín, và phương thức tổ chức giảng dạy phải tương đối nghiêm
túc, có quy củ. Có như thế mới đạt được hiệu quả tốt nhất. Khi một ngôi
trường được phép hoạt động, không những trình độ hiểu biết của người học
trò được mở rộng, mà cùng lúc kiến thức của người thầy cũng được nâng cao.
Mà hễ trình độ Phật học và thế học của Tăng ni được nâng lên đúng mức, thì
sức mạnh của Phật giáo tự nhiên được củng cố; nhờ đó, những lệch lạc và
lủng củng ít nhiều tiềm tàng trong hàng ngũ Phật giáo dần dần sẽ bị loại
trừ.
Vấn đề
cấp thiết nhất hiện nay đối với công tác giáo dục là thiếu sách giáo khoa
Phật học, không những thiếu, mà hầu như chưa có. Chúng tôi đề nghị: Hiện
thời những sách giáo khoa nào mà các nước khác đã soạn sẵn có thể dùng
được, thì chúng ta dịch sang tiếng Việt để sử dụng, còn loại sách giáo
khoa nào chưa có thì bắt buộc phải biên soạn. Có thể sách mới biên soạn
lần đầu chưa được hoàn bị, nhưng qua thời gian, chúng ta sẽ hoàn chỉnh dần
dần, chứ không nên cầu toàn trách bị. Thế nhưng, nếu muốn cho sự giáo dục
đạt đến mức độ hoàn chỉnh, tất yếu phải có Tam tạng giáo điển bằng tiếng
Việt. Đó là một trong những yêu cầu bức thiết nhất hiện nay của Phật Giáo
Việt Nam.
III.
ĐẠI TẠNG VIỆT NAM, MỘT YÊU CẦU BỨC THIẾT
Nhìn các
nước Phật Giáo chung quanh chúng ta, gần như nước nào cũng đã có Tam tạng
giáo điển bằng tiếng mẹ đẻ, chỉ có Việt Nam đến nay vẫn chưa có. Nguồn Tam
tạng giáo điển gồm có hai: Hán tạng của Phật giáo Bắc truyền và Tạng Pali
của Phật giáo Nam truyền.
Về Hán
tạng, hơn nửa thế kỷ qua, có những vị tôn túc đã cố gắng phiên dịch sang
tiếng Việt được một số kinh luận đáng kể, nhưng so với toàn bộ Đại tạng
vẫn còn chưa thấm vào đâu. Tuy vậy, những công trình ấy thật vô cùng quí
giá. Nhờ đó mà trình độ phật học của Tăng ni Phật tử ngày càng tiến bộ rõ
rệt. Nhưng hình như công việc phiên dịch chưa được phân công đồng bộ và
hợp lý, vì trong lúc còn nhiều dịch giả dịch đi dịch lại nhiều lần. Đề
nghị từ nay, khi phiên dịch, các dịch giả nên tham khảo thư mục Phật giáo
Việt Nam, xem những bộ kinh luận nào chưa phiên dịch thì hãy phiên dịch,
còn bộ nào đã có người dịch tương đối tạm ổn thì khỏi phiên dịch, để đỡ
tốn thì giờ. Ngoại trừ những bản dịch chưa đạt thì đương nhiên phải dịch
lại. Về thư mục dùng để tham khảo thì trước năm 1975 đã có hai bản: Một
bản do thầy Tuệ Sĩ soạn, và một bản do nhà sách Minh Đức biên soạn. Nhưng
từ đó đến nay, số lượng kinh sách đã gia tăng khá nhiều, do vậy, khi phiên
dịch cần phải tham khảo thêm.
Về Tam
tạng Pali, sau bao năm miệt mài, cho đến nay Hòa Thượng Minh Châu đã dịch
gần xong Tạng kinh, còn Tạng luật và Tạng luận cũng đã có vài vị tôn túc
bên Nam tông dịch được một ít. Công việc còn lại sẽ có các vị hậu bối tiếp
tục trong thời gian sắp đến.
Chúng ta
có thể nói rằng, chỉ khi nào hai Tạng kinh Nam truyền và Bắc truyền được
phiên dịch đầy đủ sang tiếng Việt thì trình độ Phật học ở nước ta mới được
kể là ngang tầm với thời đại và quốc tế. Đành rằng hiện nay có một số vị
tôn túc đọc được Tam tạng bằng tiếng nước ngoài, nhưng số này rất hiếm, và
cũng không phải yêu cầu mà chúng ta mong đợi. Điều chúng ta mong muốn là
trình độ Phật học của quảng đại Tăng ni Phật tử Việt Nam phải tương đương
với các nước có nền Phật học tiên tiến như Nhật Bản, Đài Loan vv… hiện
nay.
IV.
LỢI ÍCH CỦA TẠNG KINH BẰNG TIẾNG VIỆT
Khi hai
Tạng kinh được dịch đầy đủ sang tiếng Việt, mọi người sẽ có cơ hội nghiên
cứu, học hỏi, nhờ đó, mà thấy được giá trị siêu việt của giáo lý đức Phật,
biết những giáo lý nào do các vị Bồ tát Thánh Tăng khai triển sau này và
vì sao phải khai triển. (Phải chăng vì muốn cho bánh xe Chánh pháp luôn
luôn vận chuyển, ngõ hầu đáp ứng được mọi thời đại và mọi căn cơ của chúng
sinh?).
Một điều
lợi ích khác mà chúng ta thấy rất rõ là những ai quan tâm tìm hiểu cả hai
Tạng kinh sẽ dễ dàng rút ra một điểm nhất quán xuyên suốt trong giáo lý
đức Phật; nhờ đó sẽ thông cảm được trước những bất đồng của các tông phái
khác, để cùng nhau chung sức chung lòng quyết tâm phụng sự chánh pháp.
Xưa
kia, khi Ngài Huyền Trang (602-664) chưa đi du học, nghe các vị pháp sư
thuyết giảng có đôi chổ bất đồng, khiến cho Ngài rất hoang mang, không
hiểu vì sao cùng là Phật pháp mà lại có những dị biệt như vậy. Nhưng sau
khi sang Ấn Độ du học, Ngài học kinh luận của tất cả các bộ phái Phật giáo
với một thái độ khách quan, không thành kiến. Nhờ vậy, Ngài nhận ra được
chung điểm nhất trí của giáo pháp, rồi soạn ra bộ Hội Tông Luận, xiển
dương giáo nghĩa Nhất thừa của đạo Phật. Do đó, Ngài đã chiến thắng cực kỳ
vẻ vang trong tất cả các cuộc tranh luận với các vị luận chủ, kể cả các vị
giáo trưởng của ngoại đạo. Đáng tiếc là bộ Hội Tông luận của Ngài sau đó
bị thất truyền.
Khi nhận
xét về ảnh hưởng của Phật Giáo tại Trung Quốc, học giả Lương Khải Siêu
nói: “Nhờ công trình phiên dịch Tam tạng kinh điển Phật giáo của các nhà
Phật học mà kho tàng ngôn ngữ Trung Quốc giàu thêm được 35.000 từ”. Như
vậy, nếu hai tạng kinh được Việt hóa toàn toàn, chắc chắn ngôn ngữ Việt
Nam cũng sẽ phong phú thêm không phải là ít. Thế thì, đâu phải chỉ có Phật
giáo mới có lợi mà nền văn học Việt Nam cũng được lợi ích rất nhiều.
Điều
quan trọng hơn nữa là khi có đầy đủ Đại Tạng kinh Việt Nam, các học giả sẽ
có phương tiện nghiên cứu Phật học một cách đứng đắn, nhờ đó sẽ tránh được
rất nhiều những ngộ nhận lệch lạc về Phật giáo. Và giả sử có kẻ nào đó vẫn
cố tình hiểu sai, hoặc ác ý xuyên tạc Phật Giáo, thì chúng ta sẽ có cơ sở
vững chắc để đối thoại với họ một cách nghiêm túc.
V.
THÁI ĐỘ CẦN CÓ TRƯỚC NHỮNG SỰ CHỈ TRÍCH PHẬT GIÁO
Những
trường hợp ngộ nhận, phê phán hoặc chỉ trích Phật giáo, khái quát có thể
xếp thành ba loại:
1.
Những chỉ trích phát xuất từ thiện chí xây dựng, vì muốn bảo vệ
tính chất trong sáng của đạo Phật, hoặc vì bức xúc trước những suy thoái
lệch lạc của Phật Giáo mà lên tiếng phê phán. Gặp trường hợp này, người
Phật tử cần phải chân thành tiếp thu, thẳng thắn công nhận, và nỗ lực khắc
phục những mặt yếu kém và lệch lạc đang tiềm tàng trong nội bộ Phật giáo.
2.
Những chỉ trích phát xuất từ sự ngộ nhận, hoặc vì ganh tị, hoặc
vì những động cơ thiếu lương thiện, cố ý tung hỏa mù, làm cho công chúng
hoang mang, gây ảnh hưởng không tốt, nhằm triệt hạ uy tín của Phật giáo.
Đứng trước tình huống này, thiết tưởng người Phật tự phải thẳng thắn đối
thoại, trình bày rõ lẽ phải trái, làm cho chân lý được sáng tỏ, để trấn an
mọi nỗi hoang mang. Nhưng phải giữ thái độ bình tĩnh nhã nhặn và công
bằng, tránh những lời lẽ có tính cách gay gắt hoặc khiếm nhã. Như người
xưa từng nhắc nhở: “Kỷ sở bất dục vật thí ư nhân, kỷ sợ dục giả khả thi ư
nhân” (Những gì mình không muốn thì chớ làm cho người, những gì mình muốn
thì nên làm cho người).
Điều này
chính đức Phật cũng đã dạy: “Nầy các Tỳ kheo, khi có người hủy báng Ta,
hủy báng Pháp hay hủy báng Tăng, các ngươi không nên phẫn nộ, mà phải nói
rõ những điểm không đúng sự thật là không đúng sự thật: - Như thế này,
điểm này không chính xác, việc này không có giữa chúng tôi; việc này không
xảy ra giữa chúng tôi. Trái lại, này các Tỳ kheo, nếu cò nguời tán thán
Ta, tán thán Pháp hay tán thán Tăng, thì các ngươi không nên đắc chí, mà
hãy công nhận những gì đúng sự thật là đúng sự thật: - Như thế này, điểm
này đúng sự thật, như thế này, điểm này chính xác; việc này có giữa chúng
tôi; việc này đã xảy ra giữa chúng tôi” (Trường Bộ I, tr.14, ấn
hành 1991, thuộc Đại Tạng Kinh Việt Nam).
3.
Những lời chỉ trích phát xuất từ ác ý hồ đồ, thiển cận hoặc nhảm
nhí, và không có ảnh hưởng hay tác dụng gì đáng kể. Thiết tưởng, đứng
trước trường hợp này, chúng ta không cần phải lên tiếng đối thoại, mà nên
giữ im lặng. Nhưng không phải không làm gì cả, mà phải cố gắng trình bày
thật súc tích những đặc trưng của Phật giáo, như các đức tính từ bi trí
tuyệ, tinh thần vô ngã vị tha, nhập thế tích cực của đạo Phật, cho mọi
người thấy rõ. Một khi chân lý được cực lực tuyên dương, thì mọi tà thuyết
tự nhiên sẽ bị đào thải một cách thảm hại; cũng như khi vầng thái dương
xuất hiện, thì mọi bóng tối tức khắc bị xua tan, chìm vào trong tàn lụi.
Trên
đây, chúng tôi chỉ nêu lên vài suy nghĩ thô thiển và những trăn trở có
tính cách thời thượng, rất mong được sự thông cảm và chia sẽ của mọi
người. Nếu các bạn tôn túc và những Phật tử giàu lòng nhiệt thành thấy có
những điểm nào đồng tình được, xin hãy lên tiếng hưởng ứng, khai triển
rộng rãi, để ai nấy đều nhận thức được vấn đề. Chính ý kiến của các vị mới
đủ trọng lượng làm cho thao thức trăn trở kia biến thành những việc khả
thi, những Phật sự ưu tiên mà Giáo hội phải quan tâm thực hiện.
Thích Trung
Đạo
PHẬT GIÁO VIỆT NAM THẾ KỶ XXI
MINH CHI
Hoan
nghênh tạp chí Giao Điểm có sáng kiến đề xuất chủ đề “Phật Giáo Việt Nam
Trong Thế Kỷ Mới”, và mời đông đảo các nhà Phật học trong và ngoài nước
tham gia viết bài và tham luận. Tôi là người trong nước cho nên cho phép
tôi phát biểu nhiều về Phật Giáo Việt Nam, Phật Giáo ở trong nước. Nếu
trong bài, tôi có đề cập đến Phật Giáo nước ngoài, thì cũng chỉ để liên hệ
và so sánh.
Theo
tôi, Phật Giáo Việt Nam cần thiết để các nhà Phật học trong nước cũng như
nước ngoài nước quan tâm nghiên cứu vì những lý do sau đây:
1.
Phật Giáo Việt Nam có một bề dày lịch sử đáng kể suốt hơn 18 thế kỷ
Chính
cái bề dày lịch sử này tạo cho Phật Giáo và Việt Nam cơ hội tiếp xúc và
hòa nhập vào nhau nhuần nhuyễn khiến cho nhà thơ cận đại Hồ Dzếnh có thể
viết:
“Trang sử Phật,
Đồng thời là trang sử Việt
Trải bao độ hưng suy,
Có nguy mà chẳng mất”
Trong quá trình tiếp xúc và hội nhập lâu dài đó, đặc biệt
là dưới hai triều đại Lý Trần, Phật Giáo thật sự là quốc giáo với những
ông vua Phật tử xuất sắc như Lý Thái Tông và Lý Thánh Tông, Trần Thái Tông
và Trần Nhân Tông. Thời đại Lý Trần cung cấp cho chúng ta mô hình một Phật
Giáo gắn bó với dân tộc và phục vụ dân tộc, mà vẫn không làm tổn thương gì
đến những chân giá trị tâm linh của đạo. Hai cuộc kháng chiến thắng lợi
của nhà Lý chống quân Tống và của nhà Trần chống quân Nguyên đều diễn ra
trong thời kỳ thịnh nhất của đạo Phật, với hệ tư tưởng chủ đạo và vũ trụ
quan và nhân sinh quan Phật Giáo. Và hệ tư tưởng đó quyết không phải là
một hệ tư tưởng tiêu cực, bi quan, lánh đời như một vài Nho gia muốn gán
ép vì ganh tỵ. Ai bảo chỉ có đạo Khổng mới lo được cho dân, cho nước, còn
đạo Phật chỉ chuyên lo chuyện người chết và thế giới bên kia, còn đạo
Khổng mới thật sự lo chuyện người sống và chuyện đời nay? Đạo Phật đời Lý
Trần đã dứt khoát trả lời vấn đề này của Tống Nho, và trả lời bằng thực tế
của những thành tích giữ nước và dựng nước vẻ vang chói lọi. Trong những
thế kỷ gần đây, Phật Giáo Việt Nam không có vấn đề chạy theo ngoại bang mà
còn tích cực đóng góp vào công trình đánh đuổi ngoại xâm, giữ gìn giang
sơn gấm vóc.
Về sự đóng góp của Phật Giáo đời Trần, Viện Nghiên Cứu
Phật Học Việt Nam đã có công trình nghiên cứu, xuất bản dưới tiêu đề
“Thiền Học Đời Trần”’ trong đó tôi có viết bài Tổng Kết, mà một số tập san
Phật Giáo của Việt Kiều ở Pháp và Mỹ có đăng lại. Ở đây, tôi không trở lại
vấn đề này nữa. Tất nhiên, mô hình Phật đời Lý hay đời Trần không thể sao
chép y nguyên thành mô hình của Phật Giáo Việt Nam ở thế kỷ 21, mặc dù có
một số người muốn vậy. Vì làm như vậy sẽ là giáo điều, mà Phật Giáo Lý
Trần là một Phật Giáo không giáo điều, không chấp tướng. Lẽ nào chúng ta
lại đối đãi với Phật Giáo Lý Trần với thái độ giáo điều và chấp tướng?
Khi suy nghĩ về Phật Giáo Việt Nam ở thế kỷ 21, thì mô
hình Phật Giáo Lý- Trần chỉ là một tư liệu tham khảo tốt mà thôi. Một ví
dụ, có một số nhà phật học nước ngoài muốn và đã đề nghị Phật Giáo nên có
quy chế quốc giáo như là dưới thời Lý-Trần hay là như ở Lào, Campuchia và
Thái Lan hiện nay. Tôi cho rằng đó là một ý muốn và đề nghị rất thiện chí
nhưng không cần thiết. Quý vị cứ đọc quyển “Lịch Sử Phật Giáo Việt Nam” do
Việt Triết thuộc Ủy Ban Khoa Học Xã Hội Việt Nam thì rõ. Hiện nay mà đòi
cho Phật Giáo Việt Nam có quy chế quốc giáo chỉ là gây thêm khó khăn cho
Phật Giáo Việt Nam mà thôi. Tuy nhiên, dẫu không đòi có một quy chế như
vậy nhưng chúng ta vẫn khẳng định một cách dứt khoát là Phật Giáo đã từng
có một bề dày lịch sử hơn 18 thế kỷ ở Việt Nam, và trong quá trình lịch sử
đó, Phật Giáo đã thật sự hội nhập vào nền văn hóa Việt Nam, như một thành
tố không thể chia cắt của nền văn hóa Việt Nam và xã hội Việt Nam.
Chúng ta cũng khẳng định là Phật Giáo đã cống hiến cho dân
tộc Việt Nam những chân giá trị tinh thần, đã từng thể hiện sáng chói
trong sự nghiệp cứu nước và dựng nước của hai thời đại Lý và Trần và cả
các thời bị ngoại bang đô hộ Phật Giáo đã không làm tay sai cho ngoại bang
mà đứng lên chống lại… Nói tóm lại, Phật Giáo hội nhập lâu đời vào nền văn
hóa Việt Nam, gắn bó với xã hội Việt Nam và dân tộc Việt Nam trong mọi
bước đi thăng trầm của lịch sử, nhưng tuyệt đối không đánh mất những
giá trị tâm linh siêu việt, toàn cầu, có tính vũ trụ của nó (Xem chú thích
I ở cuối bài). Đó là một trong những nét đặc sắc của mô hình Phật Giáo
Việt Nam ở thế kỷ XXI sắp đến này. Tôi gọi đó là đặc sắc thứ nhất của
Phật Giáo Việt Nam, một đặc sắc không thể bỏ qua được, khi chúng ta bàn về
Phật Giáo Việt Nam ở thế kỷ 21.
2.
Truyền thống bình đẳng và dân chủ của Phật Giáo Việt Nam
Tất nhiên, trong những văn bản chính thức của Phật Giáo
Việt Nam, không có các khái niệm và từ ngữ bình đẳng và dân chủ. Thế nhưng
tinh thần bình đẳng và dân chủ thì có, và có rất rõ. Xin nêu một số ví dụ:
Phật Giáo Việt Nam từ sớm đã có quy chế nữ tu sĩ: Sa Di Ni và Tỷ Kheo Ni.
Một Tỷ Kheo Ni đời Lý là Ni Sư Diệu Nhân là một Tổ thuộc thế hệ thứ 17
giòng Thiền Tỳ Ni Đa Lưu Chi. Hiện nay, ở Việt Nam số Ni đông hơn số Tăng
rất nhiều. Trong khi đó, thì ở các nước Đông Nam Á láng giềng, theo Phật
Giáo Nam Tông, như Thái Lan, Campuchia, Lào, Myanmar (Miến Điện) đều không
có phụ nữ xuất gia. Phụ nữ có thể cạo đầu, ở tu viện, nhưng chỉ được mặc
áo trắng, không được mặc áo vàng và hưởng các quyền lợi của tu sĩ. Tình
hình này, theo tôi không đúng với tinh thần bình đẳng của đạo Phật, mà
cũng không phù hợp với lời dạy của Phật Thích Ca. Bởi vì, theo đúng lời
Phật nói với ông A Nan, thì phụ nữ có thể giác ngộ và giải thoát, chứng
quả A La Hán như nam giới vậy. Trong Kinh tạng Pali, có cuốn “Trưởng Lão
Ni Kệ” chép các bài kệ giác ngộ của các Tỷ Kheo Ni, dưới thời Phật đã
chứng quả A La Hán.
Một dấu hiệu bình đẳng và dân chủ khác của Phật Giáo Việt
Nam là vị trí của hàng cư sĩ. Lịch sử Phật Giáo Việt Nam ghi nhận có những
cư sĩ chiếm vị trí hàng đầu trong giới Phật học nước nhà, được cả hàng tại
gia cũng như xuất gia tôn trọng, không khác gì những bậc thầy trong đạo.
Xin đơn cử ở đây một vài vị mà tất cả chúng ta đều biết tiếng: Vua Lý Thái
Tông, đời Lý, được xem như là học trò đắc pháp của Thiền Sư Thiền Lão
thuộc thế hệ thứ 6 giòng Thiền Vô Ngôn Thông, và vua cũng được xem là một
vị Tổ thuộc thế hệ thứ 7 của dòng Thiền này.
Vua Lý Thánh Tông, cũng không xuất gia, nhưng cũng được
suy tôn là học trò đắc pháp của Thiền Sư Thảo Đường, và được xem như là vị
Tổ thứ 2 của dòng Thiền Thảo Đường. Dòng Thiền Vô Ngôn Thông còn có hai cư
sĩ xuất sắc nữa là Thông Thiên (thuộc thế hệ thứ 13) và Ứng Thuận (thuộc
thế hệ thứ 15). Phật Giáo đời Trần có Trần Thái Tông, là ông vua khai sáng
ra triều nhà Trần, và là tác giả cuốn “Khóa Hư Lục” nổi tiếng, và nhất là
cư sĩ Tuệ Trung, vị thầy đáng kính của Trần Nhân Tông, là ông vua xuất
gia, là sơ Tổ của phái Thiền Trúc Lâm.
Lịch sử Phật Giáo Việt Nam cận và hiện đại cũng ghi tên
nhiều vị cư sĩ tài ba, như cụ Tâm Minh Lê Đình Thám, người đã sáng lập ra
“An Nam Phật Học Hội”, sáng lập ra trường Phật Học Báo Quốc để đào tạo lớp
Tăng tài trẻ, sáng lập và làm Tổng biên tập tờ báo Phật học “Viên Âm”. Ông
cũng sáng lập ra Đoàn “Phật Học Đức Dục”, nhằm truyền bá đạo Phật trong
giới thanh niên trí thức thời bấy giờ. Tác giả bài này cũng là một trong
những thành viên đầu tiên của Đoàn Phật Học Đức Dục, mà bác sĩ Lê Đình
Thám từng là người sáng lập và bảo trợ. Đoàn đã xuất bản một số sách Phật
học, viết theo thể văn mới và có nội dung thiết thực cho nên đã có tiếng
vang nhất định trong giới thanh niên nam nữ học sinh lúc bấy giờ. Ở ngoài
Bắc cũng vào thời ấy, song song với việc thành lập Hội Phật Giáo Bắc Kỳ,
cũng có nhiều cư sĩ có trình độ Phật học cao, như các cư sĩ Thiều Chửu,
tổng biên tập báo “Đuốc Tuệ”’, Trần Văn Giáp, Lê Dư, Nguyễn Trọng Thuật
(ông này là thư ký Ban Nghiên Cứu Phật Học, được thành lập vào tháng 1 năm
1935). Ở Nam Kỳ lúc bấy giờ, nổi danh nhất là cụ Chánh Trí Mai Thọ Truyền,
người sáng lập ra Hội Phật Học Nam Kỳ, có trụ sở tại chùa Xá Lợi.
Bình đẳng giữa nam và nữ, bình đẳng giữa xuất gia và tại
gia, sự bình đẳng đó, theo tôi là điều kiện tiên quyết của mọi triển vọng
phát triển lành mạnh của Phật Giáo Việt Nam, hiện nay cũng như ở thế kỷ
XXI. Tôi nhấn mạnh vấn đề này vì nó phù hợp với truyền thống bình đẳng vốn
có của Phật Giáo Việt nam, đã được minh chứng qua cả bao thế hệ cư sĩ nổi
danh trong làng Thiền Việt Nam, và được Trần Thái Tông tóm gọn trong câu
sau đây, có thể là phương châm chỉ đạo cho Phật Giáo Việt Nam, từ nay và
mãi mãi về sau: “Mạc vấn đại ẩn tiểu ẩn, hư biệt tại gia xuất gia bất câu
tăng tục, chỉ yếu biện tâm bổn vô nam nữ, hà tu trước tướng “ (Khoá Hư
Lục) ; Dịch: “Không kể là ẩn dật lớn hay nhỏ, không kể là tại gia hay xuất
gia, tăng hay tục, điều cốt yếu là biện tâm, vốn không phân biệt nam nữ,
sao lại còn chấp tướng”.
Rõ ràng, Phật Giáo mà Trần Thái Tông quan niệm không phải
là Phật Giáo của riêng người xuất gia, của riêng giới Tăng lữ, càng không
phải là Phật Giáo của riêng nam giới xuất gia, như hiện nay ở các nước
Đông Nam Á theo Phật Giáo Nam Tông… mà là một Phật Giáo thật sự bình đẳng
của cả nam và nữ, của cả xuất gia và tại gia, nghĩa là của tất cả mọi
người. Trong câu trích dẫn của Trần Thái Tông trên đây, có các từ đại ẩn,
tiểu ẩn. Đại ẩn là sống giữa đời mà vẫn tu đạo và vui với đạo, đúng như
lời của Trần Nhân Tông (cháu ruột Trần Thái Tông) trong bài thơ chữ Hán
kết thúc bài phú “Cư Trần Lạc Đạo” của Vua:
“Cư trần lạc đạo thả tùy duyên,
Cơ tắc xan kề, khốn tắc miên”
Dịch: “Ở đời vui đạo hãy tùy duyên,
Hễ đói thì ăn, mệt ngủ liền”.
Đó là lối tu ẩn dật lớn, còn tu ở chùa, lánh vào núi mà tu
chỉ là tiểu ẩn, tức là lối tu ẩn dật nhỏ. Đúng như vậy, Phật Giáo chỉ cho
chúng ta một phương pháp tu hành không cần phải cạo đầu vào chùa, không
cần lánh lên núi sống cô độc một mình, mà sống ngay giữa đời như người
bình thường mà vẫn giác ngộ và giải thoát. Tôi tin rằng, chừng nào mà Phật
Giáo còn hạn chế và khép mình trong chùa chiền và giới Tăng lữ, thì khó mà
nói Phật Giáo có gốc rễ sâu bền trong một quốc gia xã hội.
Hiện nay, những người Việt Nam bình thường kể cả một số
người mác xít, chỉ cảm thấy có nhu cầu đến chùa thật sự khi có người thân
thuộc qua đời, hay là khi có người ốm nặng. Chỉ trong những trường hợp như
vậy, người ta mới tổ chức lễ cầu siêu và cầu an. Đó chính là tâm lý rất
phiến diện cho rằng đạo Phật cần cho người chết và người ốm, chứ không cần
cho người sống và khoẻ mạnh! Đây đúng là quan niệm tàn dư của Tống Nho hủ
lậu, vẫn còn ảnh hưởng rơi rớt trong quần chúng nhân dân ta.
Tôi tin là Phật Giáo Việt Nam ở thế kỷ XXI phải là một
Phật Giáo tiếp nối tư tưởng bình đẳng và dân chủ, không những về tinh thần
mà cả trong thiết chế và tổ chức nữa. Thí dụ: Chúng ta sẽ nghiên cứu lại
quy chế “bát kính pháp” (xem chú thích I cuối bài), đặt Ni chúng
vào một địa vị thấp kém hơn Tăng chúng rất nhiều. Chúng ta cần nghiên cứu
bối cảnh xã hội-lịch sử của quy chế đó. Có người đặt câu hỏi: Phải chăng
xã hội thời Phật là một xã hội phân biệt đẳng cấp và rất trọng nam khinh
nữ. Do đó, Phật đặt ra quy chế bát kính pháp trên thực tế là để bảo vệ nữ
giới khỏi bị nam giới quấy rối? Một lý do nữa là Luật tạng, trong Đại hội
kiết tập lần thứ nhất ở thành Vương Xá đã được kiết tập theo tinh thần bảo
thủ của Thượng tọa Bộ, lúc bấy giờ chiếm đa số trong số A La Hán tham gia
cuộc kiết tập? Dù sao, thì một quy chế như vậy không còn thích hợp nữa
trong thế giới hiện tại, đặc biệt là ở xã hội Việt Nam, với người phụ nữ
“tay hòm chìa khóa”, nắm quyền tài chính trong gia đình (Lệnh ông không
bằng cồng bà).
Quan hệ nam nữ trong Chúng cũng như ngoài xã hội là một
loại quan hệ thật sự bình đẳng, hai bên nam nữ phải thật sự tôn trọng
nhau. Tôi nghĩ, quan hệ giữa tại gia và xuất gia, giữa cư sĩ và tu sĩ cũng
phải thấm nhuần một tinh thần bình đẳng và dân chủ như vậy.
3. Vị trí của tu sĩ và chùa trong thời đại mới
Hiện nay, ở nước ta, vị trí của tu sĩ Phật Giáo nổi bật
nhất là trong các lễ lạc ở chùa, đặc biệt là trong các lễ cầu siêu và cầu
an. Cũng như nhà chùa chủ yếu là nơi tu sĩ tổ chức và chủ trì mọi lễ lạc
tôn giáo, tất nhiên là có ngoại lệ, nhưng ngoại lệ ít lắm. Tôi không phủ
nhận tác dụng an ủi tạm thời của các lễ lạc tôn giáo, trong đó có các lễ
cầu siêu và cầu an. Nhưng tình hình sẽ thế nào, nếu trong tương lai, giáo
lý về nghiệp của đạo Phật được phổ biến rộng rãi, trở thành kim chỉ nam
cho mọi hành vi ứng xử của Phật tử. Đến khi ấy, mọi người Phật tử đều giác
ngộ rằng, “con người là chủ nhân của nghiệp, là kẻ thừa tự của nghiệp,
nghiệp là quyến thuộc, nghiệp là thai tạng… (Trung Bộ Kinh 3, Kinh Tiểu
Nghiệp Phân Biệt, Bản dịch Thích Minh Châu), tất cả mọi chuyện hạnh phúc
hay bất hạnh xảy ra trong đời mình, đều là do nghiệp, tức là do những hành
động nơi ý, lời nói và thân của mình làm ra từ trước, chứ không do một
Thượng đế hay quỷ thần nào an bài… Muốn có đời sống an vui, hạnh phúc thì
chỉ có một cách là tạo nghiệp thiện, nghiệp lành, trừ bỏ mọi nghiệp ác,
nghiệp bất thiện…Đúng theo lời dạy của Phật:
“Chư ác mạc tác,
Chúng thiện phụng hành,
Tự tịnh kỳ ý,
Thị chư Phật ngôn”.
Nghĩa: Bỏ mọi điều ác,
Làm mọi điều lành
Tự làm trong sạch tâm ý,
Là lời dạy chư Phật” (Kinh Pháp Cú)
Chỉ có
bản thân mình, với ý nghĩ trong sạch, lời nói trong sạch, hành động trong
sạch mới có thể làm trong sạch được bản thân mình, chứ không phải chỉ đi
chùa, lễ bái, gọi Tăng bằng thầy và xưng con là có thể rửa sạch mọi tội
lỗi mình đã phạm và tiếp tục phạm. Tu sĩ là biểu trưng sống động của giác
ngộ và giải thoát. Nhờ tâm của họ được giải thoát cho nên mọi hành động
của họ, lời nói của họ cũng có đạo vị giải thoát. Nếu được như vậy, họ
xứng đáng là bậc đạo sư tâm linh, có khả năng hướng dẫn mọi người trên con
đường giác ngộ và giải thoát. Đó là vị trí phải có, nên có của người tu sĩ
Phật Giáo trong tương lai, ở thế kỷ XXI. Còn nếu họ không chịu học tập,
không lo tu hành, chỉ lo đi cúng và được lợi dưỡng nhiều nhờ đi cúng, thì
họ chỉ là thầy cúng, chứ đâu có phải là đạo sư tâm linh, đâu có phải là
biểu trưng sống động của đạo giải thoát và giác ngộ. Chúng ta hãy để cho
họ yên vị trong nghề thầy cúng. Nghề đó cũng cần thiết đối với những người
bất hạnh, cần được an ủi, cần được giúp đỡ. Nhưng họ không được rao truyền
rằng, mọi người hãy đến chùa, đến với họ, thì tự khắc mọi nghiệp chướng sẽ
tiêu trừ, mọi tội lỗi sẽ được rửa sạch! Rao truyền như vậy thì Phật Giáo
bị đồng hóa với một số tôn giáo khác, và phải chăng là bật đèn xanh cho
mọi tội ác, bởi lẽ, cứ phạm tội ác rồi đến chùa cúng lễ và mọi tội ác sẽ
được rửa sạch, có khác nào bọn mafia quốc tế rửa sạch đồng đôla vấy máu
qua các thao tác ngân hàng vậy! (Xem chú thích III cuối bài).
Tôi nhắc
lại là tôi không thể phê bình và phủ nhận tác dụng của lễ bái, mặc dù tác
dụng đó là rất hạn chế và mang nhiều tính phương tiện hơn là cứu cánh. Tôi
chỉ phê bình những ai, dù tăng hay tục, rao truyền rằng, cứ đi chùa, mời
chư Tăng làm lễ cầu an, cúng đường trai tăng là mọi tội ác được tiêu trừ,
mọi nghiệp chướng được xóa sạch. Nói như vậy, có khác nào nói, người gây
nhiều oán thù, chỉ việc đi chùa Hương, đến suốt Giải Oan, múc nước ở suối
giải oan uống, thì mọi oán thù đều xóa sạch! Một người có chút lương tri,
chứ không cần có trình độ Phật học cao, cũng nhận thấy là muốn giải oan,
thì phải thay đổi nếp sống, nghĩa là sống thiện, không tự mình gây oán thù
thêm nữa, thêm bạn bớt thù… chứ không thể xuống tắm ở suối Giải Oan hay là
uống nước suối Giải Oan là có thể giải trừ mọi oán thù do tự mình gây ra.
Khi Phật
còn tại thế, Ngài đã bác thuyết “tế đàn vạn năng” của Bà La Môn Giáo. Lẽ
nào Phật Giáo Việt Nam ở thế kỷ XXI lại vẫn đi lại con đường “tế lễ vạn
năng” của Bà La Môn Giáo hay sao?
Lễ bái ở
chùa, lễ cầu siêu và cầu an đều trong chừng mực nó an ủi tinh thần người
chết cũng như người sống, nó nhắc nhủ mọi người dự lễ noi theo lời dạy của
Phật làm mọi điều lành, tránh mọi điều dữ v.v… Chứ lễ bái đâu có khả năng
rửa sạch tội lỗi nếu tâm vẫn còn bất thiện? Phật Giáo Việt Nam ở thế kỷ
XXI phải là Phật Giáo của lý trí, không thể dung túng những tập tục mê tín
dị đoan có thể là nguồn lợi dưỡng đáng kể và người có trí không thể chấp
nhận được. Ở đây, một lần nữa, chúng ta nhắc lại câu của nhà bác học
Albert Einstein ca ngợi “Phật Giáo như một tôn giáo đáp ứng được những yêu
cầu của khoa học hiện đại” (Xem chú thích II ở cuối bài). Đồng thời, Phật
Giáo cũng là tôn giáo rất nhân bản, nó tôn vinh giá trị con người như là
chủ nhân của cuộc sống của mình, chứ không phải là kẻ cầu xin quỷ thần ban
ơn, ban phước.
Vị trí
của chùa Việt Nam – ít nhất là các chùa tiêu biểu – cũng phải có sự thay
đổi trong thời đại mới, ở thế kỷ XXI. Chùa Phật, vẫn là nơi tiến hành các
khoá lễ giản dị, nhưng giàu ý nghĩa biểu trưng, đồng thời phải là một
trung tâm Phật học, một cơ sở văn hóa lớn hoặc nhỏ, với thư viện có đầy đủ
ba Tạng kinh điển, với những sách Phật học và thế học có giá trị, bằng
tiếng Việt và bằng các thứ tiếng khác, một nơi giảng pháp, một nơi tọa đàm
giáo lý, một nơi hành thiền và trao đổi kinh nghiệm hành thiền, một nơi
làm các công tác văn hóa và từ thiện, một nơi có phong cảnh đẹp, có nhiều
cây và hoa, một danh lam thắng cảnh. Nói tóm lại, chùa Phật là một nơi mà
cảnh vật cũng như người (tu sĩ) đều toát lên đạo vị giải thoát và giác ngộ
của đạo Phật.
Đáng
tiếc là hiện nay, trong Nam cũng như ngoài Bắc có một số chùa (không phải
là số đông! Mong sao được như vậy) đã thật sự biến thành những nơi tấp nập
cho người ra vào xin xăm, xin thẻ, nhờ thầy xem đất, xem tướng, bói toán.
Những ngôi chùa trông bề ngoài khang trang to lớn, người ra vào như đi
chợ, khói hương nghi ngút, nhưng thật ra chỉ là những chùa thiếu hương vị
giải thoát, thiếu nhận thức đâu là phương tiện, đâu là cứu cánh của Phật
Giáo. Ngôi chùa Việt Nam ở thế kỷ XXI không thể như vậy được.
Ở đây,
nhân tiện, tôi muốn nói đôi chút về “cái tệ” hái lộc chùa đầu xuân. Tệ này
rất là phổ biến ở miền Bắc. Ở trong Nam, cũng có nhưng ít hơn. Cứ đến mùa
xuân hàng năm người tấp nập đi chùa hái lộc để cầu phước, khiến cho
sau đêm mồng một Tết ta là vườn các chùa đều xơ xác, nhiều cây cành lá bị
bóc trụi. Nếu tục lệ hái lộc chùa là một truyền thống của Phật Giáo Việt
Nam đi chăng nữa, thì truyền thống hái lộc đó phải được cải tiến, vì
không, nó sẽ mâu thuẫn với truyền thống và đạo đức môi trường, vốn là một
truyền thống tốt đẹp của Phật Giáo nói chung và Phật Giáo Việt Nam nói
riêng. Dần dần nên thay thế tục lệ hái lộc bằng phong trào trồng lộc
ở vườn chùa, mỗi năm vào ngày xuân đến. Tất cả mọi phật tử cần tranh thủ
bảo vệ, tôn tạo và phát triển vườn chùa, biến mỗi vườn chùa thành một công
viên quốc gia tầm cỡ nhỏ (miniature national park). Theo tôi, đây là một
vấn đề cấp thiết, không nên chờ đợi đến thế kỷ XXI mới bắt tay làm, mà
phải bắt tay làm ngay trong mùa xuân tới. Phật Giáo Việt Nam ở thế kỷ XXI
phải là một Phật Giáo bảo vệ môi trường, kể cả môi trường nhân văn và môi
trường thiên nhiên, biến mỗi cảnh chùa thành một phong cảnh Bụt thật sự,
đúng theo tinh thần của câu: “Đất vua, chùa làng, phong cảnh Bụt”.
4.
Phật Giáo Việt Nam tôn vinh con người, giúp cho con người sống hạnh phúc,
hoàn thiện nhân cách và cống hiến tối đa
Trong
thế kỷ sắp tới, giá trị nhân bản phải là giá trị của mọi giá trị, là thước
đo của mọi giá trị. Mọi phát kiến khoa học, mọi sáng tạo văn học nghệ
thuật tôn giáo cần được đánh giá theo góc độ đó, dựa vào tiêu chuẩn nó đề
cao giá trị nhân bản hay không, có đem lại thêm hạnh phúc cho con người
hay không hay ngược lại chỉ là tang tóc, và bất hạnh, có hay không khích
lệ ý chí vươn lên, và nỗ lực sáng tạo của con người, hay là ngược lại chỉ
làm xói mòn ý chí của con người, khuyên con người cam chịu sự an bài của
số phận.
Lịch sử
Phật Giáo Việt Nam ghi nhận nhiều lời của các nhà Phật học, hay các Thiền
Sư khẳng định vị trí quý trọng của con người. Thí dụ các câu:
“Nhậm vận thịnh suy vô bố úy,
Thịnh suy như lộ thảo đầu phô” (Thiền Sư Vạn Hạnh đời Lý)
Dịch ý: Khéo léo vận dụng (quy luật) thịnh suy thì không còn sợ hãi,
(Nhưng đối với ta) thịnh hay suy cũng là (mong manh) như hạt sương trên
đầu ngọn cỏ.
“Mê chi cầu Phật
Hoặc chi cầu Thiền
Thiền Phật vô cầu…!” (Diệu Nhân – Ni Sư đời Lý)
Dịch ý: Mê mới cầu Phật
Hoặc mới cầu Thiền
Không cầu Phật, không cầu Thiền”.
“Nam nhi tự hữu xung thiên chi,
Hưu hướng Như Lai hành xứ hành” (Thiền Sư Quảng Nghiêm đời Lý)
Dịch ý: Làm trai có ý chí cao vọt đến trời,
Thôi, không đi lại con đường của Phật nữa.
Chúng ta
hỏi: Tại sao là Thiền Sư, là học trò Phật mà lại có những tư tưởng và lời
nói trái thường như vậy? Đó là vì, trước khi nhập Niết Bàn, Phật đã từng
khuyên học trò rằng phải dựa vào bản thân mình, đừng có dựa vào cái gì
khác, phải lấy mình làm ngọn đèn, phải tự thắp đuốc lên mà đi… (Xem các
Kinh Đại Bát Niết Bàn - Trường Bộ Kinh I và Kinh Du Hành - Trường A Hàm
I). Khác biệt với giáo chủ các tôn giáo khác, đức Phật Thích Ca luôn
khuyên mọi người hãy tin tưởng vào khả năng của chính mình để thành tựu
giác ngộ và giải thoát. Ngài nói: “Ta là Phật đã thành, các người là những
vị Phật sẽ thành”. Trên thực tế, Phật đã đặt chúng ta ở một vị trí bình
đẳng với Phật, khi Ngài nói một câu như vậy. Trong bài Kinh: “Các vị ở
Kesaputta”, thuộc Tăng Chi Bộ tập I, một lần nữa, Phật lại đặt niềm tin
của mình vào con người có khả năng phân biệt đúng sai, thiện ác, chứ không
cần dựa vào sách vở, dư luận, truyền thống, hay bất cứ một sức mạnh nào
khác ở bên ngoài:
“Này
các Kalamas, chớ có tin vì nghe truyền thuyết, chớ có tin vì theo truyền
thống, chớ có tin vì nghe người ta nói, chớ có tin vì được kinh điển
truyền tụng, chớ có tin vì đó là lý luận siêu hình, chớ có tin vì điều đó
đúng theo một lập trường, chớ có tin vào những dữ kiện được đánh giá hời
hợt, chớ có tin vì điều đó phù hợp với định kiến của mình, chớ có tin vì
điều đó được bậc đạo sư của mình nói ra. Nhưng này các Kalamas, khi nào tự
mình biết rõ như sau: Các điều này là bất thiện, các điều này là có hại,
các điều này bị những người có trí chỉ trích, các điều này thực hiện sẽ
đem lại bất hạnh và khổ đau. Này các Kalamas, khi biết rõ như vậy, thì hãy
từ bỏ các điều ấy đi” (Tăng Chi Bộ Kinh I. Kinh: Các Vị ở Kesapputa,
trang 338).
Bài Kinh
trích dẫn trên đây có nhiều bản Hán dịch, Việt dịch và Anh dịch, nội dung
chỉ có khác nhau đôi chút nhưng ý tứ chung của bài Kinh là con người có
khả năng tự mình phán đoán, qua tư duy lô gíc và thực nghiệm đánh giá mọi
điều thiện và bất thiện, đúng và sai, v.v…. Bài này tuy được phát biểu
cách đây hơn hai nghìn năm nhưng đến nay vẫn mang tính thời đại nóng hổi.
Nó có giá trị một thông điệp gửi cho cả loài người, ở ngưỡng cửa của thế
kỷ XXI này, khi loài người đang còn xâu xé tàn sát nhau bởi những định
kiến vô lý về sự khác biệt của tôn giáo và tư tưởng hệ, về sắc tộc và
chủng tộc, những định kiến mà bất cứ một đầu óc lành mạnh và tỉnh táo nào
cũng nhận thấy là trái thường, phi đạo đức, làm sao mà vẫn lôi kéo được
hàng vạn, hàng triệu người vào những cuộc chiến tranh và thảm sát, đôi khi
mang quy mô diệt chủng, không phải chỉ xảy ra ở Châu Phi hay châu Á lạc
hậu, mà ngay cả ở giữa lòng Châu Âu vốn tự xưng là văn minh và khai sáng!
Đạo Phật
ở thế kỷ XXI có nhiệm vụ đánh thức, khơi dậy niềm tin của con người ở khả
năng phán xét phải trái, thiện ác của bản thân mình, nhất định không nghe
theo kẻ cơ hội và giáo điều, dù chúng mang nhãn hiệu gì. Tôi rất tâm đắc
với những lời phát biểu sau đây của hai ông Vua đầu đời Trần, cả hai đều
là những nhà Phật học lỗi lạc, tức là Trần Thái Tông và Trần Nhân Tông.
Trần Thái Tông viết trong Khóa Hư Lục: “Ngã thân tức Phật thân thị, vô hữu
nhị tướng”. Nghĩa: Thân ta tức là thân Phật, không có hai tướng!
Rõ ràng,
Trần Thái Tông nói câu trên, không phải là nói cho riêng mình mà là nói
cho tất cả mọi người, mọi chúng sanh. Ông viết trong Khóa Hư Lục: “Khái
thức Bồ Đề giác tính, cá cá viên thành…” Nghĩa là “sao lại không biết tính
giác Bồ Đề, mọi người đều có đầy đủ…” (Khóa Hư Lục – Bài “Khuyến Phát Tâm
Văn”). Ý tứ là tất cả mọi người, tất cả chúng sanh đều có đầu đủ bản tánh
giác ngộ ở trong mình, bản tính đó là Phật tánh, là cái khả năng vốn có
của mỗi người chúng ta sẽ thành Phật trong tương lai.
Trần
Nhân Tông cũng nói lại tư tưởng đó của ông nội là Trần Thái Tông, nhưng
với một giọng văn dân dã hơn:
“Bụt ở trong nhà,
Chẳng phải tìm xa,
Nhân khuẩy bổn, nên ta tìm Bụt.
Chỉn mới hay chính Bụt là ta” (Cư Trần Lạc Đạo Phú – Hoàng Xuân Hãn
dịch nôm)
Chữ khuẩy bổn là quên mất gốc.
Có thể nói Phật Giáo Việt Nam đã tôn vinh con người lên
địa vị Phật, địa vị của bậc Thánh giác ngộ tối cao, bậc Thánh đã đạt tới
cảnh giới bất tử, an lạc tuyệt đối, giác ngộ hoàn toàn. Chúng ta vốn là
Phật nhưng lại không tự biết, cho nên cứ đi tìm Phật ở đâu đâu, không chịu
quay đầu lại tìm Phật ở trong bản thân mình. Nhân dân Việt Nam có câu:
“Phật ở trong nhà, cầu Thích Ca ở ngoài đường”. Tôi xin phép thay
ba chữ ở ngoài đường bằng các chữ tại chùa. Vì chùa có
tượng Phật, có ông Phật bằng gỗ, sơn son thếp vàng, nhưng ông Phật thật
chính là ở trong chúng ta.
Thế kỷ XXI là thế kỷ của khoa học, của một Phật Giáo Việt
Nam “đáp ứng mọi yêu cầu của khoa học hiện đại”. Thế kỷ XXI cũng là thế kỷ
của những giá trị nhân bản, thế kỷ của con Người. Phật Giáo Việt Nam ở thế
kỷ XXI cũng phải là Phật Giáo tiếp nối truyền thống rất nhân bản, một Phật
Giáo tôn vinh con người và phục vụ con người, đáp ứng những yêu cầu tâm
linh cao đẹp nhất của con người.
Hiện nay, có một vài nhà Thiền Việt Nam (họ là số ít,
nhưng ảnh hưởng của họ không nhỏ) thường nhấn mạnh tính siêu lý trí của
Thiền và coi nhẹ mọi thao tác tư duy lô gíc. Họ thích thú với những câu
trái thường như ngày là đêm, đêm là ngày, cực ác là thiện, cực thiện là
ác… Tôi rất tôn trọng lối tu của quý vị nhà Thiền đó, nhưng theo tôi,
tuyên truyền rộng rãi một lối suy nghĩ trái thường như vậy là không có
lợi, thậm chí còn rất là có hại nữa. Vì với lối tu và lối suy nghĩ như
vậy, chúng ta sẽ mặc nhiên tự biến chúng ta thành những người trái thường,
lập dị, đồng thời cũng biến đạo Phật thành một cái gì huyền bí, xa lạ với
con người và xã hội loài người. Đạo Phật đề cao trí tuệ thực nghiệm,
mà sách Phật thường gọi là tu tuệ. Chữ tu ở đây, tôi hiểu là thực
nghiệm. Bất cứ một chân lý nào, dù là siêu việt như là Niết Bàn Phật Giáo,
hay là những chân lý tương đối của thế giới hiện tượng, đều phải qua thực
nghiệm mới có thể nắm bắt một cách thấu đáo được. Thí dụ, chúng ta có thể
nhờ tra tự điển mà biết được say rượu đại khái là do uống nhiều rượu, hơi
men bốc lên đầu làm cho đầu óc người mất tỉnh táo… nhưng đích thực say
rượu là thế nào thì chỉ có uống rượu đến say mới biết, nghĩa là phải tự
mình thực nghiệm uống rượu mới biết. Nói cách khác, tu tuệ không
phải là sự hiểu biết do xuất gia, ở chùa mà có, mà lo do thực nghiệm
mà có. Thực nghiệm ở đây là sống, thực hành, chứ không có
nghĩa gì khác. Einstein, khi nói tới đạo Phật tương lai, cũng nói tới thực
nghiệm:
“Covering both the natural and the spiritual, it should be based on a
religious sense, arising from the experience of all things, natural and
spiritual, as a meaningful unity” . Dịch: Bao quát cả (thế giới) tự nhiên
và tâm linh, nó phải dựa trên một ý thức tôn giáo, nảy sinh từ sự thực
nghiệm mọi sự vật, tự nhiên và tâm linh, như là một tổng thể có ý
nghĩa.
Đúng như
là nhà bác học Einstein nói, tất cả mọi vấn đề, thuộc lĩnh vực khoa học tự
nhiên, cũng như thuộc lĩnh vực tâm linh, đều phải qua thực nghiệm mới có
thể nắm bắt một cách thấu đáo. Tuy đạo Phật đề cao trí tuệ thực nghiệm,
nhưng nó cũng không xem nhẹ trí tuệ học hỏi và trí tuệ tư duy, mà sách
Phật thường gọi là văn tuệ (học hỏi mà biết) và tư tuệ (tư
duy mà biết). Chúng ta nhớ lại lời Phật nói với những người Kalamas, khi
Phật nói đến “những điều bị những người có trí chỉ trích”, thì
đó là văn tuệ, còn khi Phật nói “tự mình biết rõ các điều này là bất
thiện, là có hại…”, đó tức là tư tuệ, là hiểu biết do tự mình tư duy. Còn
khi Phật nói “các điều này, nếu thực hiện sẽ đemlại bất hạnh và khổ đau”
đó tức là tu tuệ, hiểu biết bằng thực nghiệm. Như vậy, khi có người nói
chân lý tối hậu Niết Bàn (là siêu việt lý trí, tư duy lô gíc) thì họ nói
đúng, nhưng khi họ phủ nhận mọi giá trị của văn tuệ và tu tuệ, mọi giá trị
của học hỏi và tư duy lô gíc, thì họ phạm sai lầm. Nếu thế, thì Phật Thích
Ca tán thán ông A Nan là “đa văn” tức là Phật sai lầm hay sao?
Không
phải như vậy, văn tuệ và tư tuệ đều có giá trị của nó. Chân giá trị con
người chính là ở chỗ nó biết học hỏi những điều nó chưa biết, và ở chỗ có
biết tư duy, lập luận một cách lô gíc. Tư duy lô gíc nhằm phân biệt phải
trái, thiện, ác là một đặc sắc đáng quý của con người. Tại sao con người
lại bỏ rơi đặc sắc đáng quý đó, để rồi nghe theo một số người đầu cơ, lập
ra đủ mọi giáo phái kỳ quặc, tuyên truyền các thuyết về ngày tận thế, về
sống buông thả tình dục để tìm những cảm giác siêu việt, tuyên truyền nam
nữ sống khoả thân thành bầy! Chính lúc này, hơn lúc nào khác, Phật Giáo
phải đề cao khả năng tư duy độc lập của con người để tìm ra lẽ phải, để
phân biệt chính, tà, thiện ác. Vừa rồi, tôi nói người đầu cơ tôn giáo.
Nhưng người đầu cơ chính trị cũng nguy hại không kém.
Chính họ rao truyền những định kiến phân biệt tôn giáo, chủng tộc, sắc tộc
và dân tộc hẹp hòi dẫn tới những cuộc chiến tranh và xung đột triền miên,
đôi khi bột phát thành những cuộc tàn sát có quy mô diệt chủng!
Phật Giáo Việt Nam ở thế kỷ XXI phải thật sự và xứng đáng
là Phật Giáo của trí tuệ, Phật Giáo của những người có trí, không có mê
tín và cuồng tín, tự mình nương tựa vào chính mình, không tìm một nơi
nương tựa nào khác, tự mình thắp đuốc lên mà đi, tự mình lấy mình làm ngọn
đèn, lấy chánh pháp làm ngọn đèn v.v… như Phật thường khuyên bảo.
Nếu không có lý trí, không có khả năng tư duy, thì đúng
như Blaise Pascal nói con người là một thứ lau sậy hèn yếu mà thôi, thế
nhưng con người biết tư duy, và khả năng tư duy đó nâng cao con người lên
địa vị tối linh giữa các loài động và thực vật (L’home n’est qu’un Roseau
mais un Roseau pensant – Pascal. Người chỉ là một thứ lau sậy, nhưng là
một thứ lau sậy biết tư duy).
5. Phật Giáo Việt Nam ở thế kỷ XXI sẽ là một Phật Giáo
biện tâm và hướng nội
Thế giới hiện đại là một thế giới ồn ào, náo loạn, sôi
động. Ngoại cảnh càng ồn ào, náo loạn và sôi động bao nhiêu thì nội tâm
càng cần được yên tĩnh, bình lặng và trong sáng bấy nhiêu. Phật Giáo biện
tâm và hướng nội sẽ giúp con người thành tựu được một nội tâm như vậy.
Hướng nội là để cân bằng với hướng ngoại. Một tờ báo phương Tây đã dùng
ảnh dụ sinh động ví von người hiện đại như một người có một chân buộc vào
chiếc máy bay phản lực còn chân kia thì buộc vào một xe bò kéo! Một tờ báo
khác viết, về mặc khoa học vật lý thì người Mỹ đang ở thời đại nguyên tử,
nhưng về mặt tâm lý học thì người Mỹ đang ở thời đại đồ đá! Tâm lý học
Phật Giáo có thể điều chỉnh tình trạng mất cân bằng đó của con người hiện
đại. Có lẽ vì vậy mà Thiền học Phật Giáo đã tỏ ra rất hấp dẫn đối với
người phương Tây, trong gần một thập kỷ lại đây, và trong quyển sách “The
Way of Zen” (Con Đường Thiền), tác giả, một người Tây Phương, Alan W.
Watts viết: “Thiền là một trong những quà tặng quý báu nhất của châu Á cho
thế giới” (Zen is one of the most precious gift of Asia to the world – The
Way of Zen p.3).
Nhưng xu thế hướng nội của Phật Giáo Việt Nam còn có một
cội rễ sâu xa hơn: Tức là đối với Phật Giáo, chân lý không phải là năm ở
bên ngoài mà là ở bên trong của mỗi người chúng ta. Tư tưởng đó xuyên suốt
lịch sử Phật Giáo Việt Nam từ khi Phật Giáo du nhập vào đất nước ta. Các
phương pháp điều thân, điều tâm được áp dụng trong các phái Thiền Việt Nam
chủ yếu là nhằm điều hòa nội tâm (điều thân hay điều hơi thở chỉ là phương
tiện), nhằm chuyển dần nội tâm từ tán loạn trở thành định tĩnh, từ chỗ
hướng ngoại, chạy theo thanh sắc v.v… chuyển thành hướng nội, từ chỗ mê mờ
trở thành sáng suốt, từ chỗ thô động, bất kham trở thành nhu nhuyễn dễ sử
dụng, hướng tâm đến đâu là tuỳ theo ý mình. Một người tu tập tâm và điều
hòa được tâm như thế sẽ là một người có sức mạnh phi thường! Sớ giải Kinh
Kim Cang có câu: “Tâm chế nhất xứ, vô sự bất biện”. Nghĩa là tâm được chế
ngự vào một nơi thì không có việc gì mà không làm được!
Trong Kinh tạng Pali, thường ghi lời Phật khuyến khích học
trò mình tu tập tâm, chế ngự và điều phục tâm:
“Khó nắm giữ, khinh động,
Theo các dụng quay cuồng,
Lành thay! điều phục tâm.
Tâm điều an lạc đến. (Pháp Cú. Kệ 35)
Kẻ thù hại kẻ thù
Oan gia hại oan gia
Không bằng tâm hướng tà
Gây ác cho tự thân.
Điều cha mẹ bà con
Không có thể làm được,
Tâm hướng chánh làm được
Làm được tốt đẹp hơn. (Pháp
Cú. Kệ 42-43)
Chỉ có hướng nội, thật sự tu tập tâm và điều phục tâm,
chúng ta mới có thể đạt tới kết quả như vậy. Vì sao? Vì trong con người
chúng ta, tâm là kẻ làm chủ. Tâm nghĩ ác, thì lời nói tùy theo cũng ác,
thân hành động cũng ác. Trái lại, nếu tâm nghĩ thiện, thì lời nói cũng
thiện và thân hành động cũng thiện. Trong Kinh Phật cũng thường nói tâm
của Phật sáng suốt, thuần tịnh, nhu nhuyễn dễ sử dụng, cho nên nếu Phật
hướng tâm nhớ lại các kiếp trước của mình, thì Phật nhớ lại tường tận
không phải là một, hai, kiếp sống mà vô lượng kiếp về trước. Quyền năng
siêu nhiên nhớ lại các kiếp sống trước như vậy, sách Phật gọi là túc
mạng thông, hay túc mạng minh. Với tâm sáng suốt, thuần tịnh,
nhu nhuyễn dễ sử dụng, Phật còn có nhiều quyền năng siêu nhiên khác nữa,
mà sách Phật gọi là sáu quyền năng siêu nhiên hay sáu phép thần thông.
Trên đây, tôi đã nói thẳng, nói thật tâm tư của tôi đối
với Phật Giáo Việt Nam ở thế kỷ XXI. Ý kiến chân thành, nhưng lời văn có
thể vụng về. Rất mong ban biên tập Giao Điểm lượng thứ và quý đọc giả gần
xa thông cảm.
Tôi cầu mong cho đến thế kỷ XXI này, (còn bao lâu nữa đâu)
Tăng Ni Phật Tử trong nước hòa hợp, Phật tử trong nước và ngoài nước đều
hòa hợp, Phật tử Việt Nam và Phật tử cả thế giới hòa hợp. Dưới ánh sáng
của hạnh lục hòa của Phật Giáo, cả thế giới là Phật Giáo hay không phải
Phật Giáo cũng hòa hợp, không khác gì một quốc gia thống nhất mà tất cả
chúng ta đều là công dân, là thành viên. Giấc mơ muôn thuở “Bốn biển đều
là anh em” (tứ hải giai huynh đệ) sẽ được thực hiện. Trên thế giới sẽ
không còn chiến tranh nữa.
Minh Chi
(Viện Nghiên Cứu Phật Học Việt Nam,
Trưởng Ban Phật Giáo Việt Nam)
Phần chú thích
I.
Bát kính pháp là tám phép ứng xử của Ni đối với Tăng, trong đó có các
phép như: Ni dù trăm tuổi, khi thấy Tỳ Kheo Tăng mới thọ giới, cũng phải
đứng dậy đón tiếp, hỏi han, lễ bái, thỉnh ngồi.
– Ni
không được cử tội Tỳ Kheo tăng… nhưng Tỳ Kheo Tăng được nói lỗi Tỳ Kheo Ni
v.v…
– Đơn
cử hai phép ứng xử trên, cũng đủ thấy những người cho rằng thuyết “Bát
kính pháp” không được bình đẳng, cũng là có lý vậy.
II. Toàn câu của Albert Einstein nói
về đạo Phật như sau (trong bài, tôi chỉ trích một phần, không trích dẫn
hết):
“The religion of the future
will be a cosmic religion. It would transcent a personal God and avoid
dogmas and theology. Covering both the natural and spiritual, it should be
based on a religious sense, arising from the experience of all things,
natural and spiritual, as a meaningful unity. Buddhism answers this
description. If there is any religion that would scope with modern
scientific needs, it would be Buddhism”.
Dịch:
Tôn giáo tương lai sẽ là một tôn giáo vũ trụ. Nó phải vượt trên một Thượng
Đế cá nhân, tránh giáo điều và thần học. Bao quát cả hai lĩnh vực tự nhiên
và tâm linh, nó phải dựa trên một ý thức tôn giáo, nảy sinh từ sự thực
nghiệm của mọi sự vật, tự nhiên và tâm linh, (được quan niệm) như một thể
thống nhất có ý nghĩa. Phật Giáo đáp ứng một mô tả như vậy. Nếu có một tôn
giáo thỏa mãn được những yêu cầu của khoa học hiện đại, thì tôn giáo đó là
đạo Phật.
III. Tư tưởng tu sĩ có thể rửa tội
cho tín đồ cũng bị phê bình ngay cả trong nội bộ của đạo Gia Tô. Chứng cớ
là câu sau đây của Thomas Paine, trong cuốn “The Age of Reason” trang 100:
“Tư tưởng cho rằng… tu sĩ có thể rửa tội, tuy là hình như nó không tồn tại
nữa, đã gây tổn thương cho tình cảm nhân loại và chuẩn bị cho con người
phạm đủ mọi tội ác”. The Age of Reason – Thomas Paine. Page 100. (The
idea… that priests could forgive sins, though it seems to exist no longer,
had blunted the feelings of humanity and prepared men for the commission
of all crimes)
Tư liệu tham khảo
chính:
- Thiền Học Đời Trần,
Viện Nghiên Cứu Phật Học chủ biên và xuất bản 1991.
- Khóa Hư Lục, Trần Thái
Tông, Bản Hán. Bản Việt của Đào Duy Anh
- Cư Trần Lạc Đạo Phú,
Trần Nhân Tông, Hoàng Xuân Hãn dịch nôm
- Tỷ Kheo Ni Giới - Giới
Đàn Ni, Thích Minh Phát soạn dịch. Thành Hội Phật Giáo thành phố Hồ Chí
Minh xuất bản
- Trung Bộ Kinh III, bản
dịch Thích Minh Châu
- Kinh Pháp Cú, bản dịch
Thích Minh Châu
- Thơ Văn Lý Trần, Tập 1
và 3, Viện Văn Học xuất bản
- Trường Bộ Kinh I, bản
dịch Thích Minh Châu
- Trường A Hàm I, bản
dịch Thích Thiện Siêu
- Tăng Chi Bộ I, Bài
Kinh: Các vị ở Kesaputta. Bản dịch Thích Minh Châu.
NHỮNG ĐẠI PHÁP NẠN CỦA
PHẬT GIÁO VIỆT NAM
HỒNG NGỌC
Viết bài
cho tuyển tập “Phật Giáo Trong Thế Kỷ Mới” theo phương pháp Tứ Diệu Đế,
như ban chủ trương Giao Điểm đề nghị, là một việc có phần khó cho tôi. Vì,
trước hết, có một số vấn đề, lúc mô tả hiện tượng thì chính nó đã hàm chứa
nguyên nhân tạo tác và cũng hé mở phương thức giải quyết rồi.
Thứ hai,
có những sự kiện, cứ để chúng ẩn ẩn, hiện diện, hay qua bóng dáng mờ mờ ảo
ảo sẽ làm cho đọc giả có óc suy tưởng và diễn dịch dồi dào hơn, và do đó
sẽ có nhiều sáng kiến độc đáo cho các phương thức giải quyết. Tôi nghĩ như
thế sẽ tốt đẹp hơn là nói thẳng, nói thực, nhiều lúc sẽ thiếu tế nhị và
thiếu ái ngữ.
Điểm
cuối cùng là, dẫu cố gắng đến đâu nhưng nếu có vài ý, vài câu, vài đoạn
không được đẹp cho lắm thì quí “đọc giả” cũng hiểu được rằng trong một
thời đại mà quyền tự do ngôn luận được công nhận như một điều kiện phổ
quát thì vài câu nói thì thào của tôi cũng chẳng lấy đó làm quan trọng, mà
tốt hơn là nên suy nghĩ những điều trình bày ấy có đúng hay không. Một thí
dụ cụ thể là, cựu Bộ Trưởng Quốc Phòng Hoa Kỳ, Mc Namara, viết cả quyển
sách nói rằng, trong cuộc chiến trước đây, Việt Nam là kẻ chính nghĩa và
Hoa Kỳ là kẻ phi nghĩa. Nói như thế, nhưng ông cũng chẳng bị bỏ tù hoặc bị
chụp mũ là Cộng Sản bao giờ.
Với vài
nhận định nêu trên, tôi viết bài góp ý ngắn này tùy theo ngòi bút đẩy đưa,
nhớ gì viết đó. Và cũng chỉ viết được vài khía cạnh nhỏ của một số vấn đề.
Trong cách nhìn có tính “ham hố” vì có quá nhiều điều muốn viết muốn nói
nhưng chua thể thực hiện, nên chỉ nêu ra một số “hiện tượng” để từ đó hi
vọng chúng ta sẽ có biện pháp sửa đổi.
I.
ĐẠI PHÁP NẠN TẠI HẢI NGOẠI
1.
Người lãnh đạo không thể đi sau quần chúng
Lúc bỏ
nước ra đi từ năm 1975, đa số hàng tôn túc đều có mộng “lấp biển vá trời”,
mang một hoài bão lớn lao cho một cuộc hành trình mới. Nhưng lúc được định
cư một thời gian, các mộng ước lúc đầu dần dần trôi theo mây gió, mà
nguyên nhân chính yếu là do hàng cư sĩ gây ra. Thay vì khuyến khích giúp
đỡ tăng ni tu và học, các tín đồ đã góp tiền dựng lập chùa để có nơi tới
lui học đạo, cầu an, cầu siêu, ký linh, ký tự. Đó là một việc làm cần
thiết, nhưng lúc có chùa, đa số các hội viên đều bận rộn lo kế sinh nhai,
nên tất cả từ việc lớn đến việc nhỏ đều phó thác cho vị trụ trì. Như thế,
người Phật tử đã biến vị thầy của mình thành người “nô lệ” cho cái cơ sở
vật chất ấy, không còn thì giờ để tu và học thêm, ngay cả thiếu thì giờ để
đọc sách, báo bằng Việt ngữ chứ chưa nói đến ngoại ngữ, hay học một môn
ngoại điển nào, mà một người sống trên một quốc gia khác, nên biết ít
nhiều ngôn ngữ của họ để giao thiệp.
Hậu quả
của vấn đề là, hơn 20 năm qua ở hải ngoại, trong lúc xã hội ngày càng phát
triển, kiến thức con người ngày càng mở rộng, thì một số ít các vị lãnh
đạo của chúng ta chỉ sử dụng mớ kiến thức học được từ trước năm 1975, mà
nhiều lúc, có những điều hay, học được thì đã quên bớt, và có cái đã lỗi
thời thì không biết để bỏ đi. Như thế, người Phật tử đã vô tình biến người
lãnh đạo của mình tụt hậu, đi sau quần chúng, làm sao lãnh đạo có kết quả
tốt được.
Có người
sẽ lý luận rằng, đức Khổng Tử, Phật Thích Ca đâu có học nhiều đâu mà cũng
được tán tụng là vạn thế sư biểu, cũng được xưng hô là thiên nhân chi đạo
sư. Có thể nói rằng, hầu hết chúng ta không phải là Khổng Tử và chỉ là
Phật sẽ thành. Do đó, trong xã hội ngày nay, đòi hỏi người lãnh đạo trước
hết phải có tu và thứ đến là phải có học. Nếu sở học, nhất là phần nội
điển thấp hơn quần chúng làm sao lãnh đạo được quần chúng.
Trong
lãnh vực Gia Đình Phật Tử (GĐPT) cũng thế. Các huynh trưởng kỳ cựu là
những người rất tốt, gần suốt cuộc đời xã thân vì lý tưởng GĐPT, sống chết
vì đạo, nhất là qua các thời kỳ nhiễu nhương của thế sự nhân tâm. Nhưng
hoàn cảnh xã hội và trình độ nhận thức của thế hệ trẻ ngày nay, đòi hỏi
thành phần huynh trưởng kỳ cựu phải cập nhật hóa tư tưởng của mình, chương
trình và phương pháp sinh hoạt cũng phải đổi mới cho thích hợp với thời
đại tân tiến. Thí dụ, thời xưa, lúc khoa học còn thô sơ, con người phải
dùng đến các tín hiệu để liên lạc với nhau, nhưng ngày nay, với điện thoại
cầm tay không cần dây (cordless), chúng ta có thể liên lạc được với nhau
một cách dễ dàng ngay cả giữa cảnh núi rừng hoang dã. Một bản tin quan
trọng cách xa vạn dặm, từ Úc gởi qua Hoa Kỳ, chẳng hạn, chỉ cần vài phút
là có thể gửi bằng máy fax, đâu cần phải thổi còi, phất cờ tín hiệu. Đây
là một thí dụ trong muôn ngàn vấn đề cần phải cải đổi để phát triển và tồn
tại còn không thì GĐPT chỉ còn là các lớp Việt ngữ, hoặc nơi gặp gỡ của
giới trẻ với lứa tuổi dưới 18 mà thôi, vì lúc lên đại học, các đoàn sinh
này cảm thấy GĐPT không phải là môi trường để họ có được những tiếp thu
mới, và người huynh trưởng của họ về khả năng không làm cho họ học thêm
được nhiều điều cần thiết. Bởi thế, chúng ta thấy, tại các đô thị, sự sút
giảm số lượng đoàn sinh GĐPT có trình độ đại học. Nói rõ hơn, lúc vào đại
học, có nhiều em thiếu niên thiếu nữ không còn tiếp tục đến với GĐPT nữa,
mà nguyên nhân chính là nơi đây không còn cung ứng cho họ một số kiến thức
mới như lúc còn là đoàn sinh oanh vũ.
Tại chùa
của H.T. Thích Đức Niệm miền Nam California, tháng 11, 1981, sau đám tang
của huynh trưởng Phan Bản Cẩn, tôi có trình bày tình trạng này với một số
anh chị em huynh trưởng cao cấp như anh Nguyễn Hữu Liêm (hiện tại là luật
sư, ở San Jose, California), nhưng có lẽ quá sớm đối với nhiều vị ngoại
trừ anh Nguyễn Hữu Liêm.
2.
Nạn lạm phát chùa chiền
Lúc
người Phật tử trong nước đọc báo thấy người Việt hải ngoại lập được hơn
250 cảnh chùa. Họ nghĩ rằng tất cả các chùa đều có mái cong, có rồng, có
phụng, có trúc, có mai, với cảnh trí u huyền lưng lưng thoát tục, nhưng
thực tế không phải vậy. Hiện nay có khoảng trên 20 chùa xây cất có quy củ,
số còn lại chỉ là một căn nhà nhỏ (và nhiều vùng cũng chỉ nên có như vậy
thôi) với giá tiền mua khoảng dưới 100.000 Mỹ kim. Trả trước 20.000 (hai
chục ngàn), số còn lại trả góp khoảng 30 năm, mỗi tháng khoảng 600 Mỹ kim,
tiền lời 8% mỗi năm. Nếu trả không được ngân hàng sẽ tịch thu. Do đó,
tháng nào vị trụ trì cũng lo nghĩ xoay sở cho đủ tiền trả nợ hàng tháng.
Đó là chưa kể tiền điện, điện thoại, nước, gas (chất đốt), thuế và tiền
bảo trì. Cũng có chùa, cơ sở nhỏ, nội dung sinh hoạt chưa có tầm cỡ, nhưng
dùng danh từ hơi lớn hơn như Quốc Tế, Thế Giới… Danh và Thực chưa
phải là một cặp xứng đôi.
Mặc dầu
khó khăn về tài chánh, nhưng nhiều nơi làm chùa không phải vì nhu cầu tín
ngưỡng mà vi nhu cầu cá nhân. Có vài người làm chùa cũng để thỏa mãn cái
ngã hơn là vì nhu cầu thực tế. Vì thế, có nơi, chùa cách nhau chỉ vài con
đường mà số lượng tín đồ quá ít không phải có nhiều chùa như thế. Đó là
chưa kể khoảng chừng 15 đến 20 năm nữa là tối đa, chùa sẽ không có bổn
đạo, vì số Phật tử lớn tuổi đã qua đời, lớp trẻ thì ít đến vì nhiều lý do:
ngôn ngữ bất đồng, thầy nói tiếng Việt mà Phật tử của thế hệ mới đa phần
nói tiếng Anh, tiếng Pháp…, trình độ văn hóa chênh lệch, cách tổ chức và
nghi lễ không đáp ứng với lối nhìn của thời đại. Đó là chưa nói đến đa số
Phật tử ngoại quốc (gốc không phải là người Việt) lại là thành phần hoàn
toàn bất đồng ngôn ngữ với nhiều vị thầy của Phật Giáo Việt Nam ở nước
ngoài. Hơn 50 năm trước đây, người Nhật phần lớn ở Hạ Uy Di (Hawaii), và
người Hoa tại California đã đi con đường mà Phật Giáo Việt Nam tại hải
ngoại đang nhầm lẫn ngày hôm nay. Kết quả là, hàng trăm ngôi chùa của hai
cộng đồng Phật tử này bị xoá tên trên bản đồ Mỹ Quốc. Hoặc có vài chùa đồ
sộ còn lại tại các đảo ở Hawaii, nhưng chỉ để làm cảnh trí cho khách du
lịch hơn là chốn thanh quy tu học như trước đây. Rất tiếc, các gương trước
mắt ấy, nhưng nhiều người Phật tử chúng ta không học được bài học đích
đáng nào, mà cứ vẫn đi vào con đường thất bại của hai cộng đồng Nhật và
Hoa nói trên. Tình trạng này, tôi cũng đã có dịp báo động trong buổi họp
thành lập Tổng Hội Phật Giáo Việt Nam tại Hoa Kỳ năm 1980 tại Thiền Viện,
số 928 S. New Hampshire, Los Angeles, California, USA, do cố H.T. Thiên Ân
làm viện trưởng.
Nếu nhìn
vào lịch sử truyền bá Phật Giáo của các vị tổ sư Ấn Độ và Trung Hoa vào
Giao Châu trong các thế kỷ trước, và các vị sư đem đạo Phật Việt Nam vào
cộng đồng phương Tây ngày nay, chúng ta rất lấy làm tiếc, nhưng cơ hội vẫn
còn, nếu hàng Phật tử xuất gia và tại gia ý thức được vấn đề và có chương
trình cụ thể.
Một con
số ước lượng là, Phật Giáo Việt Nam tại hải ngoại mỗi năm phải tốn mất 6
triệu Mỹ kim (mỗi chùa tốn 2 ngànMỹ kim mỗi tháng, 250 chùa, nhân cho 12
tháng) để duy trì và trả nợ tiền mượn ngân hàng mua nhà làm chùa. Nếu số
lượng 250 “ngôi” chùa giảm xuống chỉ còn một nửa thì Phật Giáo Việt Nam có
thể dành được 3 triệu Mỹ kim mỗi năm để phát triển Phật Giáo trong nước và
hải ngoại. Đó là chưa nói đến số lượng còn lại một nửa này (125 ngôi
chùa), nếu không có lối truyền đạo nhắm vào người bản xứ, như các vị tổ sư
Ấn Độ và Trung Hoa sang Việt Nam trong các thế kỷ trước, thì số chùa còn
lại này sẽ bị vắng bóng tại hải ngoại như đã trình bày ở trên.
Do đó,
người Phật tử cúng đường tiền làm chùa thế nào để chánh pháp của đức Như
Lai được lưu truyền, chứ không nên thiếu cân nhắc để như đem muối bỏ biển,
có thể không được phước mà còn thêm tội, và người có trách nhiệm nên làm
thế nào để pháp Lục hòa của Phật được áp dụng, tránh bớt một số việc làm
không cần thiết.
3. Phe ta đánh phe mình
Một cách tổng quát, tương đối hơn 20 năm qua các giáo phái
Tin Lành Việt Nam tại hải ngoại hầu như không làm chính trị, nói rõ hơn là
không chống Cộng. Do đó, hiện nay họ truyền đạo rất dễ tại Việt Nam, không
ai để ý hoặc nghi ngờ. Trong khi đó cũng có tôn giáo không còn chống Cộng
như trước, mà chuyển qua chiến lược ném đá dấu tay tinh vi hơn, xúi dục kẻ
khác chống Cộng giùm để tạo áp lực trong nước.
Về phía Phật Giáo, thì một số đã trúng kế, múc nước cho kẻ
khác rửa chân mà cứ tưởng rằng mình là kẻ “anh hùng chống Cộng”. Một cách
khách quan, có thể nói được rằng, vài vị trong hàng tôn túc, mấy năm qua
làm quá nhiều về những công việc mà họ có kinh nghiệm quá ít. Bỏ sở
trường, làm sở đoản. Sở trường của quí ngài là tu, học, làm tấm gương đạo
hạnh cho thiên hạ soi chung. Nói như giáo sư Cao Huy Thuần “có tu thì có
tất cả”, không tu thì mồ mả và nhang khói chẳng còn (HN). Nhưng buồn thay,
một vài vị chống Cộng có tính hung hăng, mất tư cách, không nghiên cứu
tường tận để biết cái nào nên chống cái nào nên bênh, nếu chống thì chống
cách nào, bênh thì nên bênh ai bỏ ai, bênh cái đúng, chống cái sai. Chứ
không thể làm chính trị theo kiểu con bò rừng, cứ thấy màu đỏ là húc. Mà
điển hình là H.T. Thanh Từ, T.T. Khế Chơn, T.T. Phước Trí bị mấy thầy chụp
cho cái mũ là Cộng Sản, là tôn giáo vận. Cũng như nhiều năm trước đây có
hai, ba thầy ra thông báo lên án chụp mũ H.T. Trí Thủ và H.T. Đôn Hậu
nhưng vài tháng sau đó chính mấy vị này lại cử hành lễ truy điệu. Có thể
nói rằng, có vài người lợi dụng chiêu bài chống Cộng để chống nhau, tạo sự
chia rẽ trong hàng tôn túc, tạo hố sâu giữa Phật tử trong và ngoài nước để
có lợi cho ngoại nhân. Chống Cộng thiếu ý thức đã xé nát tập thể tăng tín
đồ ra nhiều mảnh.
Nếu để ý vào các vị “anh hùng chống cộng” này chúng ta sẽ
thấy. Lần đại hội Thanh Niên Thiên Chúa Giáo tại Denver, Colorado, Hoa Kỳ
bốn năm trước đây, có treo cờ đỏ sao vàng (để lấy lòng), nhưng chúng ta
không thấy mấy vị “anh hùng” này chống. Hoặc có nhiều chức sắc Thiên Chúa
Giáo từ Việt Nam ra quyên góp tiền tại các nhà thờ ở hải ngoại, chúng ta
cũng không thấy mấy “anh hùng” nêu trên ra tuyên cáo chống mà chỉ thấy
tình trạng phe ta chống phá phe mình. Đó là chưa kể một số viên chức trong
một giáo hội hiện nay giả vờ chống Cộng để che đậy việc buôn bán đầu tư
tại Việt Nam, hoặc có vị soạn “kế hoạch kinh tế” du lịch để đầu tư trong
nước. Đưa ra hai dẫn chứng này, tôi không hàm ý chụp mũ hai vị là Cộng
Sản, nhưng để cho thấy cái mâu thuẫn của vấn đề và cái khó của tình thế.
Cũng có một vị khác trong hàng tôn túc hiện đang có chức vụ trong giáo
hội, bị dư luận nghi rằng CIA đã móc nối, vì lúc tị nạn trong trại, chỉ ở
lại có ba ngày thì được bốc ra ngay, mà không cần qua các thủ tục và qui
chế của người tị nạn.
Nếu ai không chống Cộng, thì bị vài tờ báo có khuynh hướng
TCG chụp mũ là Cộng Sản, người đó phải viết bài chống Cộng để minh oan.
Như thế, là trúng kế thêm một lần nữa. Thí dụ, hồi tháng 6, 1996, tại
Colorado, một bài báo ký tên là Bạch Long đăng trong bản tin Chiến Hữu.
Bái viết nói rằng Phật Giáo chống Cộng cò mồi, chống giả hiệu, H.T. Huyền
Quang là tên Công Sản. Vì từ đầu năm 1996, GHPGVNTNHN tại Hoa Kỳ không
chống Cộng hăng như trước. Lời lẽ của bài viết rất thiếu văn hóa, đáng lý
ra, tự nó đã cho thấy giá trị của bài viết như thế nào rồi. Nhưng ngày
10.7.1996, thấy có bức thư của chùa Như Lai viết lên án Cộng Sản để minh
oan.
Người Phật tử rất đau lòng lúc thấy vài đài phát thanh và
truyền hình thân TCG (như đài Little Saigon tại quận Cam) không phỏng vấn
những vị tôn túc có đạo cao đức trọng, có tầm nhìn xa thấy rộng nhưng
thường thấy họ phỏng vấn một vài vị mà tác phong còn thấp kém và kiến thức
thì giới hạn, để làm cho thính giả khán giả dèm pha. Tệ hại hơn, là vài vị
trong số này lại thích xuất hiện trên đài.
Bỏ sở trường, làm sở đoản, đi từ trúng kế này đến mắc mưu
khác. Tâm của các vị nói đây rất tốt, nhưng sở trường về chính trị muôn
mặt quá thô thiển, không biết áp dụng khế lý khế cơ chuyển phát luân vào
thời đại mới. Việc làm thiếu nghiên cứu tường tận của vài vị này rất nguy
hiểm cho Phật Giáo.
4. Phật giáo chưa có tầm vóc, vì đệ
tử Phật chỉ còn một chúng
Lúc Phật chuyển pháp luân 26 thế kỷ trước đệ tử của ngài
có bốn chúng: tỳ kheo, tỳ kheo ni, ưu bà tắc (nam cư sĩ), ưu bà di (nữ cư
sĩ). Qua các thời đại, Phật Giáo thịnh hành như thời vua A Dục tại Ấn Độ,
thời nhà Đường tại Trung Hoa, và thời Lý Trần tại Việt Nam, đệ tử Phật
cũng còn bốn chúng hỗ trợ, tương tác lẫn nhau để truyền trì chánh pháp.
Nhưng tại Việt Nam, nhất là sau 1963, vì thời cuộc nhiễu nhương, Phật Giáo
đi vào con đường tục đế hơn thánh đế, nạn lạm dụng quyền hành, lợi dụng
danh nghĩa của một thiểu số cư sĩ để tiến thân, nhất là qua các thời kỳ
ứng cử bầu cử. Do đó, các tổ chức giáo hội rất thận trọng trong việc mời
một số cư sĩ có khả năng đảm đương công việc của giáo hội. Tuy nhiên, cũng
có một số quý thầy trong vài tổ chức Phật Giáo trong cũng như ngoài nước,
thấy mấy ông cư sĩ “khó bảo”, nên bao quát tất cả các chức vụ ngay cả các
công việc mà hàng tăng giới thiếu kinh nghiệm, như vấn đề chính trị, kinh
tế và ngoại giao. Có nơi, hình ảnh của cư sĩ trong giáo hội là chỉ để “làm
kiểng” hơn là cộng tác chia xẻ các trọng trách. Một vài tổ chức giáo hội
hiện nay, trong nước cũng như hải ngoại, thậm chí có nhiều vị tăng cũng
như tục nhận chức vụ, nhưng suốt một nhiệm kỳ (vài năm) công việc cũng
chẳng thấy thực hiện được bao nhiêu điều đã được giao phó. Nhưng đến kỳ
đại hội, cũng thấy có những bản tường trình “ngoạn mục”, những bài diễn
văn “nảy lửa” mà nội dung và kết quả thì còn khiêm tốn.
Vì thế, Phật Giáo cần phải điều chỉnh phương pháp tổ chức,
sử dụng nhân sự đúng khả năng, qui định và theo dõi các chường trình đã đề
xuất. Phật tử tại gia phải qui kính tam bảo, thực sự hộ trì chánh pháp.
Bốn chúng đệ tử của Phật lúc nào cũng phối hợp chặc chẽ bổ túc cho nhau để
bước vào thế kỷ mới.
I.
ĐẠI PHÁP NẠN TRONG NƯỚC
Lúc gặp vài vị trong giáo hội nói rằng Phật Giáo tại Việt
Nam gặp đại pháp nạn, tôi thăm hỏi quan điểm của các đại pháp nạn. Có vị
đã trả lời tiền hậu bất nhất, rất xa rời với hiện thực. Tôi có đề nghị nên
về Việt Nam để điều nghiên vấn đề tường tận, không nên phỏng đoán tình
hình và phản ứng theo cảm tính. Trăm nghe không bằng một thấy. Đối với
Phật tử trong nước cũng thế, không nên có tinh thần trọng ngoại, vọng
ngoại rất sai lầm. Không phải cái gì có nhãn hiệu nước ngoài là đều tốt
đẹp cả. Có điều mà chúng ta không thể tưởng tượng nổi, nhưng có thật, như
cuộc thăm dò khoa học cho thấy trên 50% thế hệ trưởng thành của người Hoa
Kỳ không biết quả đất quay quanh mặt trời, mỗi năm một lần, vì kinh thánh
dạy rằng quả đất phẳng, có cột trụ chống đỡ do Chúa tạo ra, đứng yên một
chỗ, mặt trời quay quanh quả đất, nên họ bị ám ảnh từ nhỏ đến lớn (Xin xem
cuốn Ki Tô Giáo, Từ Thực Chất Đến Huyền Thoại, và báo West Coast
Times, 24.05.1996). Thí dụ: Pháp Quốc là trưởng nữ của tòa thánh
Vatican, nhưng hiện nay có 5% Phật Giáo, 6% Tin Lành (theo tuần báo Mai
California) và chỉ có khoảng 15% Thiên Chúa còn thực hành tín ngưỡng
(in a traditional Roman Catholic country where only about 15% actively
practice their faith, Los Angeles Times, Friday, 20.09.1996).
Tóm lại, vì thiếu nghiên cứu tường tận vấn đề, nên bên
trong nạn nhân của bên ngoài, bên ngoài nạn nhân của bên trong, vấn đề có
phần lệch lạc thiếu chính xác. Nói vậy, tôi không có ý cho rằng các
vần đề đều sai mà có cái đúng. Nhưng nên biết cái nào đúng cái nào sai.
Nên nhìn vấn đề trong tương quan tương duyên của khế cơ khế lý. Thực tế,
Phật Giáo Việt Nam có mấy đại pháp nạn mà phần lớn là tại hải ngoại như đã
nêu trên, và sau đây là vài pháp nạn trong nước.
-
Nạn tăng ni lạm phát, lượng cao, phẩm thấp
Sau
1975, số lượng tăng ni trẻ tại Việt Nam gia tăng nhanh chóng, nhất là
những năm gần đây, số Phật tử trẻ xuất gia đông đảo do vài nguyên nhân
chính sau đây:
Lúc thâm
hiểu được phần nào giáo lý căn bản của Phật, hàng cư sĩ phát nguyện xuất
gia để truyền trì chánh pháp, đem lại lợi ích cho quần sanh. Với cái sơ
tâm xuất gia mạnh mẽ, ấp ủ trong lòng hoài bão cao quý ấy, nếu được giáo
dưỡng đúng mức, thành phần đông đảo quý hóa này sẽ trở thành những bậc
trưởng tử lỗi lạc của đức Như Lai, nắm giữ mạng mạch của Phật Giáo. Bên
cạnh những tâm hồn quí báu ấy, cũng có một số rất ít vì hoàn cảnh kinh tế,
hoặc vài lý do cá biệt khác nên muốn xa lìa cuộc đời trần thế. Dẫu động cơ
nào đưa người Phật tử đến cửa Phật, mà nếu duyên may gặp được vị bổn sư
chỉ dạy có phương pháp, gặp được môi trường đào tạo hữu hiệu, thì hàng sơ
tâm xuất gia này sẽ là những viên ngọc quí cho Phật Giáo.
Rất
tiếc, một số ít quí vị trụ trì đã nhận chúng xuất gia thiếu cân nhắc, và
thiếu nhiều phương diện. Một số ít trường Phật học lại thiếu các vị giáo
thọ tài ba, và thiếu phương pháp sư phạm hiện đại, nên vấn đề tu và học
của tăng ni thiếu hẳn chất lượng. Nhiều lớp học, mang nặng không khí buồn
tẻ, chán nản, kéo dài nhiều năm nhưng kết quả không được như ý muốn. Thí
dụ, cuốn kinh Tứ Thập Nhị Chương (có 42 chương rất ngắn), thay vì chỉ dạy
mất 10 giờ là xong, có trường, thầy dạy mất từ bốn đến sáu tháng. Nếu tình
trạng này không cải tiến kịp thời, thì đó là một đại pháp nạn cho tiền đồ
Phật Giáo, vì số lượng tăng ni quá lớn mà phẩm chất vẫn còn khiêm tốn.
Chôn vùi thời gian nhiều năm, trong trường lớp, nhưng kết quả thu thập thì
còn quá ít.
Nếu
người xuất gia có đạo hạnh kém, kiến thức thô thiển, nhất là về Phật pháp,
sẽ làm cho tín đồ ối đố dèm pha, thiếu kính trọng và người ngoài khai
thác. Hệ quả của vấn đề là, thay vì quy y Phật Pháp Tăng, tín đồ sẽ quy y
với ngoại đạo tà giáo. Tình trạng này không những ảnh hưởng tai hại cho cơ
đồ Phật Giáo mà còn làm lung lay nền tảng đạo đức của quốc gia xã hội. Đây
cũng là quốc nạn, nguyên nhân do pháp nạn nói trên. Một hôm viếng thăm
ngôi chùa tại Long Thành, tỉnh Đồng Nai, tôi thấy số lượng quí chú mới
xuất gia tăng từ bốn vị năm 1991, đến 42 vị năm 1995. Tôi phát biểu nửa
đùa, nửa thật với vị trụ trì, cũng là chỗ quen thân, rằng thầy nhận người
xuất gia quá nhiều là thầy phá Phật Giáo. Vị thầy hiền lành, cẩn trọng hỏi
lý do. Tôi kính cẩn thưa rằng, một vị trụ trì lúc thu nhận người xuất gia
phải có ba điều kiện tối thiểu:
Một, có
cơm áo để nuôi, nếu phải dùng phần lớn thì giờ để làm rẫy canh tác cho
cuộc sống thì không có thì giờ để tu và học. Hai, phải có phương tiện để
học cả nội điển lẫn ngoại điển. Ba, thầy phải có thì giờ để hướng dẫn đời
sống nội tâm. Kinh nghiệm đời cho thấy, đa số con cái của các gia đình
người Hoa (hay thành phần có cửa hàng buôn bán) rất hư hỏng. Vì cha mẹ lo
buôn bán, con do người giúp việc nuôi và giáo dục trực tiếp. Như thế,
người ở đóng vai làm cha làm mẹ và làm thầy giáo của các đứa bé. Điều đó
cho thấy thì giờ cha mẹ dành cho con cũng như thì giờ thầy dành cho đệ tử
rất cần thiết, ảnh hưởng đến tư tưởng và nếp sống của thành phần son trẻ.
Nếu
thiếu ba điều kiện cần thiết nêu trên, một số đệ tử lớn lên, có thể sẽ trở
thành hiện tượng mà tôi vô phép gọi là “Đường đường tăng tướng, dung mạo
khả nghi” thì rất đại họa cho Phật Giáo. Một cư sĩ lúc có hành động thiếu
“đạo đức” chỉ mang tiếng cho một gia đình. Nhưng một vị tu sĩ mô phạm
thiếu hạnh, sẽ mang tiếng cho cả một tập thể.
Người
Phật tử được dạy rằng “y pháp bất y nhân” nhưng bên cạnh đó, họ cũng được
giáo huấn “tăng đáo cũng như Phật Lai”, xem thầy như vị Phật sống. Nếu
niềm tin hay thần tượng của họ bị sụp đổ thì cả vũ trụ trong lòng họ cũng
sẽ đổ theo. Nói như ý của một triết gia, con người trụy lạc trong dục
vọng, còn mất mát ít hơn là mất mát sự tin tưởng say sưa trong lòng họ.
-
Chưa có một chương trình thiết thực đối
với các Phật tử xa đô thị
Nếu tại
hải ngoại có vài nơi làm chùa không phải do nhu cầu tín ngưỡng mà vì nhu
cầu cá nhân, thì ở trong nước cũng có vài nơi như thế. Một số tăng ni có
đệ tử hay thân nhân ở nước ngoài, nên việc quyên góp tiền làm chùa hay tu
bổ, nhiều lúc, trở nên một phong trào. Nhưng rất tiếc, là phong trào này
chỉ chú trọng đến các tỉnh và đô thị lớn, còn các chùa làng, các nơi hẻo
lánh xa thành phố rất ít được quan tâm, nhất là tại Bắc Việt, nơi đó tình
trạng bị chiến tranh lâu năm và số người vược biên lại quá ít, nên sự cúng
đường đóng góp của Phật tử nước ngoài, so với miền Trung và Nam, quả tình
là quá cách biệt. Lục Tổ Huệ Năng dạy, Phật vô nam bắc, nhưng nhiều Phật
tử Việt kiều chúng ta thích giúp tại địa phương mình hơn là các nơi khác.
Vì thế Phật Giáo miền Bắc ít phát triển về mọi mặt.
Tình
trạng lập chùa mới, tu bổ chùa cũ thiếu sự phối trí đồng đều, thì thành
phần nhân sự cũng không kém phần trở ngại. Số lượng tăng ni tại Việt Nam
trên 20 ngàn, nhưng có được bao nhiêu vị đủ trình độ để làm trụ trì và
giảng sư. Có được bao nhiêu vị chịu dấn thân đi đến các vùng quê để thuyết
pháp độ sinh. Nhiều quận, xã thôn, 10 năm chưa thấy được bóng dáng một vị
sư trong các buổi trong các buổi lễ, còn tại đô thị thì tình trạng tấp nập
với những chiếc áo nâu, áo vàng tung bay phất phới.
II.
VÀI GÓP Ý CẢI THIỆN
Để cải
thiện các khuyết điểm nêu trên, tôi xin đề nghị vài ý kiến thô thiển.
1.
Tùy theo nhu cầu tín ngưỡng, phương tiện tài chánh, số lượng tín đồ
và hoàn cảnh kinh tế của quần chúng địa phương, để giới hạn hoặc gia tăng
số lượng xây chùa mới, sửa chùa cũ. Phật Giáo là một tôn giáo đem vui cứu
khổ, do đó, không nên làm những ngôi chùa quá nguy nga đồ sộ trước sự
nghèo đói của quần chúng, và kêu gọi tín đồ cúng đường đóng góp quá nhiều
hoặc làm chùa dư thừa như một vài nơi tại hải ngoại. Số lượng chùa thì
nhiều nhưng chẳng có bao nhiêu cái đáng giá.
2.
Phải có tiêu chuẩn tối thiểu về cơ sở vật chất, tài chánh và thì
giờ của một vị trụ trì lúc thu nhận đệ tử mới, phải trắc nghiệm, tập sự
một thời gian trước lúc cho xuống tóc.
3.
Mở các khóa tu huấn cấp tốc và định kỳ, để bồi dưỡng kiến thức sư
phạm mới cho quí vị giáo sư, giáo thọ của các trường Phật Học.
4.
Mở khóa giảng dạy bằng phương pháp hiện đại, đào luyện cấp tốc hoặc
tu huấn cho quý vị trụ trì và giảng sư để cung ứng cho nhu cầu phát triển
Phật Giáo và thăng tiến quốc gia trong thời đại mới. Nếu không có các khoá
huấn luyện tu học thì như đẩy người ra khơi mà không cung cấp hành trang.
5.
Mở lớp học hàm thụ cho các cư sĩ nhất là các vùng xa đô thị.
6.
Muốn phát triển mạnh, hài hòa, không gây đàm tiếu, Phật Giáo Việt
Nam trong và ngoài nước có nên suy nghĩ một dòng tu mới bên cạnh dòng
thanh tịnh xuất gia hiện có? Dòng này đặt tên là dòng Pháp Sư (Dharma
teacher) hay nói nôm na là thầy giảng đạo như mục sư Tin Lành. Dòng pháp
sư có quyền lập gia đình, giới luật, nhiệm vụ và y phục khác với giới
thanh tịnh, xuất gia. Thật ra đây không phải là điều mới mẻ. Nếu đọc sử
Phật Giáo đời Trần, chúng ta thấy, vua Trần Nhân Tông, sư tổ phái Trúc
Lâm, không những gọi ngài Tuệ Trung là pháp sư mà xưng tụng là Thượng Sĩ
(tức là Bồ Tát) mặc dầu ngài Tuệ Trung có gia đình vợ con. Phật giáo Nhật
Bản mạnh, nhờ có sự cải cách. Nhiều vị thiền sư nổi tiếng của một môn phái
thiền tại Nhật có gia đình, mà điển hình là thiền sư Suzuki, đạo hạnh và
tư tưởng của ngài nhất là bộ Thiền Luận đã dẫn hàng triệu người trí thức
Tây Phương đến với đạo Phật. Hiện nay, Phật Giáo Tích Lan (tiểu thừa) tại
Hoa Kỳ đang có khóa huấn luyện khoảng trên 20 vị pháp sư, và sư bà Karuna,
đệ tử của cố H.T. Thiên Ân cũng làm lễ thọ giới cho vài vị (nam) pháp sư
người Hoa Kỳ tại Los Angeles, California.
Đây là
một gợi ý mới mẻ đối với Phật tử Việt Nam trong nước, nhưng thời đại cũng
cho thấy, cần phải uyển chuyển hợp khế lý khế cơ. Ai có thể thanh tịnh
xuất gia càng quí, tấm gương mô phạm muôn đời, nhưng nếu không được trọn
vẹn thì nên công khai. Và vị nào từ hàng cư sĩ vào thọ giới và theo dòng
pháp sư một thời gian, nếu cảm thấy có thể thanh qui phạm hạnh được, thì
giáo hội sẽ làm lễ thọ giới để tiến lên hàng thanh tịnh xuất gia. Như thế,
còn hơn là một vài chú mới xuất gia vài năm, nằm trong thế kẹt, tiến thối
lưỡng nan. Nếu không có lối thoát đã dự liệu, Phật giáo sẽ gặp trở ngại
lớn.
7.
Phật tử tại gia trong và ngoài nước nên qui kính Tam Bảo nhiều hơn
nữa, xóa bỏ tất cả các dị biệt, nếu có, từ trước, tham gia tích cực vào
các cương trình hoằng dương Phật pháp vào thời đại. Ủng hộ các chương
trình bổ ích, cụ thể, từ chối tham gia các công tác Phật sự thiếu nghiên
cứu và không thích hợp với khế lý khế cơ mà Phật đã dạy.
Hải
ngoại có khoảng gần một triệu Phật tử, nếu tất cả đều ý thức được vấn đề,
nỗ lực và tích cực, thường xuyên mỗi năm, mỗi người đóng góp một Mỹ Kim
(tổng cộng 1 triệu Mỹ kim mỗi năm) cho bảy chương trình trên. Như thế,
Phật Giáo Việt Nam mới có tầm vóc để góp phần vào việc làm tốt đời, đẹp
đạo.
8.
Điều kiện của một giáo hội mạnh theo kiểu tôn giáo Tây Phương: Ki
Tô Giáo (Thiên Chúa và Tin Lành) mạnh nhờ áp dụng năm điều kiện sau: Huấn
luyện, Tổ chức, Đoàn kết, Có tiền, Cuồng tín. Đưa ra năm điều kiện trên,
tôi không hàm ý là Phật Giáo muốn mạnh thì phải bắt chước kẻ khác như
những việc mà họ đã và đang làm:
-
Dẫn đường hoặc oa rập với các phong trào chiếm thuộc địa trước đây
để có tiền
-
Dùng sự hăm dọa như Chúa đày địa ngục, hoặc “tẩy não” để tín đồ trở
nên cuồng tín ngu muội cho dễ bảo,
-
Lúc đầu, giúp đỡ, nhưng sau khi đã tẩy não thì bảo phải đóng 10%
lợi tức hàng tháng vào nhà thờ, nếu không “Chúa sẽ đày xuống địa
ngục”(nhiều giáo phái Tin Lành ở Mỹ áp dụng).
Thời đại
này, họ áp dụng con đường xâm chiếm lãnh thổ qua cuốn kinh Thánh và qua lá
phiếu. Chúng ta hãy nghe lời phát biểu thấm thía của vị lãnh giãi thưởng
Nobel về hòa bình năm 1984 là giám mục Desmond Tutu, đã than thở cho số
phận các nước Phi Châu của ông như sau:
“Chúng
tôi có đất, các giáo sĩ có cuốn Kinh Thánh. Chúng tôi tin họ và cầu nguyện
với cuốn Kinh Thánh trong tay và hai mắt nhắm lại. Lúc mở mắt, chúng tôi
có cuốn Kinh Thánh còn các giáo sĩ có tất cả đất đai của chúng tôi”. (We
have our lands and they came with their Bible. We believe in them and we
pray with the Bible in our hands and our eyes closed. When we open our
eyes, we have the Bible and they have our lands. Trích trong cuốn Tại Sao
Không Theo Đạo Chúa trang 189, 1994).
Ngoài ra
một vài tổ chức có tính tôn giáo áp dụng sáu kế hoạch dài hạn và ngắn hạn
như sau:
a.
Ném đá dấu tay, xúi dục kẻ khác chống Cộng để tạo mậu thuẫn. Mà
tiếc thay nhiều người bị trúng kế, dọn cỗ cho họ xơi.
b.
Dùng phương tiện ngoại giao cấp cao làm giảm thiểu căng thẳng giữa
đôi bên để bành trướng.
c.
Đút lót, hối lộ các cơ quan công quyền để phát triển.
d.
Đưa một số khoa bảng giúp việc cho các cơ quan nhưng thực chất là
để lấy tin và làm nội gián.
e.
Tạo điều kiện, giúp phương tiện du học cho một số thành phần trẻ để
trồng người, đợi chờ cơ hội chính trị lúc thời cơ đến.
g.
Thay đổi niềm tin người sắc tộc để lập các quốc gia nhỏ trong một
quốc gia lớn.
Phật
Giáo không có và sẽ không bao giờ có các sách lược và kế hoạch thế tục nói
trên, nhưng nêu ra để quí độc giả kiểm nghiệm.
Nhìn vào
các tổ chức Phật Giáo, chúng ta không tránh khỏi các điều buồn sau đây:
·
Người Tây Phương đang ồ ạt từ bỏ tín ngưỡng lâu đời của họ
thì Phật Giáo thiếu người có tài đức để đáp ứng.
·
Mấy “cậu Ấm” (danh từ của GS Trần Chung Ngọc trong Phật Giáo
Hải Ngoại) trúng kế ngoại đạo nhiều lần và cả tin về sách lược của ngoại
nhân, quá hố nhưng vẫn chưa thức tỉnh.
·
“Thiên hạ” đi đến các hang cùng ngõ hẻm trên quê hương bằng
hai chân, bằng xe đạp, xe gắn máy, ngay cả trực thăng và phi cơ phản lực,
thì một vài đoàn thể nhỏ của Phật Giáo vẫn còn nhốn nháo, ngây thơ, đạp
lên nhau, bỏ sở trường theo sở đoản. Thật đáng tiếc.
·
Khoa học vừa khám phá trên Hỏa Tinh, hàng triệu năm về trước
có đời sống sinh vật. Điều đó nói lên rằng, quả đất không phải là trung
tâm của hoàn vũ do Thượng Đế an bày, và điều đó cũng xác quyết lời đức
Phật nói về tam thiên đại thiên thế giới và thế giới hoa tạng được mô tả
trong kinh Hoa Nghiêm. Và mới đây, Giáo Hoàng John Paul II thừa nhận
thuyết tiến hóa của Darwin, nghĩa là công nhận thủy tổ loài người không
phải do ông A-dong và bà E-va sinh ra như thánh kinh dạy, và cũng một lần
nữa xác định lời dạy của Đức Phật về thuyết tiến hóa. Phật nói “Tất cả
chúng sanh đều sẽ thành Phật”. Câu nói này bao gồm đầy đủ nội dung và ý
nghĩa thuyết tiến hóa của Darwin. Trước những khám phá mới của khoa học về
đời sống sinh vật trên Hỏa Tinh, và sự công nhận sai lầm của Ki Tô Giáo về
thuyết tiến hóa, người Phật tử rất hãnh diện mình là đệ tử Phật, nhưng
cũng không khỏi bùi ngùi vì sự trì trệ của vài tổ chức Phật Giáo trong và
ngoài nước hiện nay.
Hồng Ngọc
Nov. 15,
1996
---o0o---
[Mục
Lục ] [ Phần 1 ] [
Phần 2] [Phần3][Phần
4]
---o0o---
Trình bày: Nhị Tường
Cập
nhật: 1-11-2004