Cảm Nghĩ Khi Đọc Một Số Bài Thơ
Chữ Hán
Của Sư Trưởng Như Thanh
Trần Tuấn Mẫn
Sư
trưởng
Như
Thanh
đã
sáng
tác,
biên
soạn
và
dịch
thuật
khoảng
20
tác
phẩm
Phật
học.
Riêng
về
thơ,
Sư
trưởng
cũng
có
ít
nhất
8
tập
với
các
đề
tài
về
đạo,
về
khuyến
tu,
về
sự
cảm
nhận
thực
tại
của
một
nhà
tu
sĩ
đã
thấm
nhuần
và
thể
nghiệm
giáo
pháp
của
Đức
Thích
Ca.
Thơ
của
Sư
trưởng
gồm
nhiều
thể
loại:
thơ
bốn
chữ,
năm
chữ,
sáu
chữ,
bảy
chữ,
tám
chữ,
lục
bát,
song
thất,
Đường
luật.
Đặc
biệt
mới
đây
tôi
có
được
đọc
tập
thơ
chữ
Hán,
gồm
25
bài
mà
tôi
rất
tâm
đắc.
Trong
khuôn
khổ
bài
này,
tôi
chỉ
xin
nói
đến
một
đề
tài
khá
đậm
nét
trong
tập
thơ,
đó
là
sự
thể
nghiệm
sâu
sắc
về
cái
thực
tại
rất
mực
cụ
thể,
rất
mực
sinh
động,
hồn
nhiên
lại
vô
cùng
vi
diệu
của
nhất
như,
bất
nhị,
bình
đẳng,
"ngay
ở
đây
và
bây
giờ"
và
vẫn
như
thế
từ
vô
thỉ
đến
vô
chung.
Trước
hết,
là
một
vũ
trụ
quan
của
tính
Không
(Sunyata)
làm
căn
bản
cho
cái
nhìn
về
thế
giới
duyên
sinh,
hữu
vi
đầy
những
chuyển
biến,
đầy
tính
đa
thức
của
vọng
tình
phân
biệt.
Chỉ
có
đứng
trên
quan
điểm
tính
Không,
tức
cái
thực
tướng
của
Chân
không,
cái
Không
tuyệt
đối
và
vô
cùng
mầu
nhiệm,
bất
khả
tư
nghì
rồi
thì
mới
thấy
cái
ảo
hóa
của
Có,
Không
đối
đãi
để
rồi
hợp
nhất
đúng
vào
tổng
thể
Chân
như:
Chân
không
thực
tướng
lộ
nguyên
hình,
Sắc
sắc,
không
không
liễu
liễu
mình.
Tức
sắc,
tức
không,
chân
thể
hiện,
Phi
không,
phi
sắc,
vạn
duyên
trình.
(Thực
tướng)
Vì
Không
tính
là
pháp
tính,
vì
tính
của
pháp
là
Không
thì
tướng
của
pháp
dù
có
muôn
hình
vạn
trạng
vẫn
chỉ
là
biểu
hiện
của
cái
Không
tuyệt
đối,
tức
là
mọi
sự
vật
chỉ
hình
thành
do
duyên
mà
thôi:
Pháp
tướng
vô
biên
vạn
sự
thành,
Trùng
trùng
vật
sắc
tự
duyên
sanh.
(Pháp
tướng)
Cái
thế
giới
vô
lượng
vô
biên
của
pháp
tướng
mà
ta
quan
niệm
đối
đãi
bao
gồm
tâm
-
cảnh,
ta
-
người
luôn
luôn
chuyển
biến
được
gọi
là
thế
giới
tâm
vật
lý
hay
thế
giối
hiện
tượng.
Nó
được
gán
vào
bao
nhiêu
là
ý
niệm,
bao
nhiêu
là
tên
gọi
khởi
từ
những
cảm
thọ
của
ta.
Nó
là
thế
giới
của
phân
biệt
(vikalpa)
như
kinh
Lăng
Già
tuyên
bố
"Tam
hữu
duy
phân
biệt".
Do
kết
quả
tu
tập
lâu
dài,
tác
giả
lĩnh
hội,
thể
nghiệm
về
một
cái
nhìn
vượt
qua
thế
giới
của
phân
biệt
và
đề
nghị
ta
nên
có
cái
nhìn
ấy.
Chỉ
có
như
thế
ta
mới
thấy
được
"thế
giới
đúng
như
nó
là".
Như
thị,
như
như,
nhất
như,
chân
như,
chân
thực
đều
là
những
từ
Hán
dịch
từ
Phạn
ngữ
Tatwam,
hay
Tathà,
hay
Tathàta.
Vì
là
Chân
như
nên
thế
giới
dù
mang
vẻ
đa
phức,
vẫn
là
thể
hiện
của
cái
chân
tính
nhất
như,
bất
dị
hay
bất
nhị
(Advaita,
Advaiya)
và
bình
đẳng
(Sama),
bất
sinh
(Anutpanna):
Pháp
phá
nguyên
lai
bổn
thể
đồng,
Bất
sinh
bất
diệt
vạn
duyên
thông.
Như
như
bình
đẳng
vô
nhân
ngã,
Thị
thị
chơn
thường,
tuyệt
sắc
không.
(Pháp
tính)
Chỉ
bằng
bốn
câu
thơ
trên,
Sư
trưởng
Như
Thanh
đã
khẳng
định
một
thế
giới
quan
đúng
đắn
chân
thực:
Một
sự
vật
đều
cùng
một
bản
thể,
thỉ
chung
vẫn
như
thế,
không
sinh
diệt,
luôn
bình
đẳng
không
hề
có
phân
biệt
ta
với
người,
sắc
với
không,
hay
nói
một
cách
khác
là
bất
nhị.
Đó
là
Pháp
tính
(Dharmata)
vậy.
Vậy,
tất
cả
mọi
việc
đều
như
thị,
như
thế,
là
đồng
là
bình
đẳng,
vô
phân
biệt.
Tâm
cảnh,
sắc
không
đồng
nhất
thể,
Chân
không
thực
tướng
lô
nguyên
hình
(Thực
tướng)
Một
khi
đã
thông
hội
với
thực
tướng
của
chân
không
thì
lý
bình
đẳng
bất
sinh
lại
càng
được
hiển
lộ:
tất
cả
đều
hòa
đồng,
đều
thuận
hợp.
Vì
pháp
tính
vốn
là
Không
nên
không
cảnh,
không
tâm,
không
đây,
không
đó,
chỉ
có
sự
khế
hợp
mà
thôi
vậy.
Ý
niệm
về
hạnh
phúc,
khổ
đau,
về
phàm,
thánh,
về
Niết
bàn,
trần
thế
chỉ
còn
lại
sự
tịch
lặng
trong
diệu
dụng
của
nhất
như:
Phi
cảnh,
phi
tâm,
phi
bỉ
thử,
Khế
thời,
khế
sự,
khế
tây
đông.
(Pháp
tính)
Hay:
Nhân
tâm,
vật
cảnh
vô
sai
biệt,
Thành
ý,
phàm
tình
tự
giả
không.
(Diệu
dụng)
Và:
Cực
lạc,
Ta
bà
đồng
nhất
phẩm.
Pháp
thân
thanh
tịnh
thể
an
nhiên.
(Pháp
thân)
Chính
vì
không
phân
biệt,
hành
giả
đạt
được
tự
tại,
thong
dong
của
sự
thể
hiện
Đạo
viên
mãn,
dứt
triệt
mọi
ranh
giới
chia
cách
của
nhị
biên,
điều
mà
tác
giả
gọi
là
tính
vô
ngại
của
sự
dung
hợp
viên
mãn:
Viên
đạo
dung
thông
vạn
pháp
thành,
Ngã
nhân,
tâm
pháp
bất
tương
tranh.
Đề
huề
khế
hợp
Không
hòa
Sắc,
Tương
tức
tùy
duyên
nhiễm
hóa
thanh.
(Viên
dung
vô
ngại)
Vô
ngại
là
diệu
dụng
của
một
quá
trình
công
phu
tu
tập
để
thâm
nhập
thực
tại.
Chân
như
bàng
bạc
khắp
thời
gian
và
không
gian
nằm
sâu
kín
bên
trong,
lại
bao
trùm
cả
vạn
pháp
hữu
vi.
Cho
nên,
sự
tùy
nghi
là
một
thuộc
tính
của
tự
tại
giải
thoát.
Tâm
này
là
Phật,
Phật
ấy
là
tâm,
gặp
duyên
là
lập
tông
chỉ,
gặp
chỗ
là
làm
chủ
nhân,
đâu
cũng
là
nơi
để
mình
làm
người
điều
ngự,
đâu
cũng
là
chân
lý,
ngay
đây
là
đúng,
ngay
đây
là
an
lập:
Đương
tâm
tức
Phật,
thị
tâm
thị
Phật,
Ngộ
duyên
tức
tông,
tùy
xứ
tác
chủ.
Tuỳ
xứ
tác
chủ,
lập
xứ
giai
chân,
Đương
xứ
tức
chân,
tùy
xứ
an
lập.
(Danh
ngôn
danh
lý)
Đoạn
thơ
hùng
hồn,
mãnh
liệt,
lại
thong
dong
thoải
mái
nghe
như
bản
tuyên
ngôn
về
một
thái
độ
sống
đạo,
tự
do
và
giải
thoát
tâm
linh.
Chính
trên
lập
trường
này
mà
hành
giả
càng
lúc
càng
thấy
ra
cái
ý
nghĩa
kỳ
diệu
của
Chân
như
tịch
mịch
vốn
dĩ
vô
cùng
tha
thiết
thâm
trầm,
vốn
tự
bao
giờ
đã
hiện
hữu,
lừng
lựng
và
từ
đó
hành
giả
nhận
ra
rằng:
Khổ
đau
là
do
sự
phân
biệt
của
một
cái
tâm
điên
đảo
chứ
thực
tại
có
làm
gì
đâu!
Hoa
nở,
chim
về,
gió
thổi,
mây
bay,
trăng
sáng,
nước
trôi
thực
là
nhẹ
nhàng,
thi
vị,
đâu
có
ý
nào,
đâu
có
lời
nào!
Tất
cả
là
những
bóng
dáng
của
nhất
như,
rất
tự
nhiên,
rất
cụ
thể,
lại
vô
cùng
linh
diệu:
Nhạn
tự
vô
tâm
khứ
Phong
nguyên
bất
trước
lại.
(Thiền
đạo)
Hay:
Thuỷ
tại
hải
trung
vô
ý
thuyết,
Nguyệt
lưu
thiên
thượng
bất
ngôn
trang.
Xuân
lai
đông
khứ
uyên
nguyên
lộ,
Nhạn
ngữ
hoa
ngôn
ảo
diệu
tràng.
(Ngộ
đạo)
Từ
đó,
niềm
vui
sống
đạo
của
hành
giả
trở
nên
trong
sáng,
hành
giả
thể
nhập
lý
Không,
tức
là
tâm
cảnh
vô
phân
biệt
trong
thái
độ
vô
chấp
Thiền
duyệt
an
tâm
lạc
cảnh
đồng,
Liễu
tri
vạn
sự
tất
giai
không.
Chân
linh
nhất
phiến
vong
nhân
ngã,
Diệu
thể
vô
ngôn
tuyệt
tổ
tông.
(Thiền
duyệt)
Nhưng
để
có
được
niềm
vui
Thiền,
để
có
được
cái
chân
linh,
thông
hội
được
cái
diệu
thể
của
vô
ngôn
trong
lòng
cái
thế
giới
hữu
vi
vô
thường
(Nhàn
khan
thế
giới
tùy
duyên
hiện)
thực
không
phải
dễ
dàng.
Sư
trưởng
Như
Thanh,
gần
suốt
một
đời,
với
gần
70
hạ
lạp
đã
trăn
trở,
thao
thức,
đã
nghiền
ngẫm
kinh
luận,
đã
thực
hành
giới
hạnh
và
thiền
định
trong
nỗ
lực
tinh
tấn
liên
tục.
Quá
trình
này
đã
được
Sư
trưởng
bày
tỏ
qua
nhiều
pháp
ngữ
thiền
thi:
Học
nghiệp
tinh
thần
tự
đảm
đương,
Thời
thời
ôn
cố
trí
tư
lương.
Thân
tâm
tĩnh
định
trí
nhân
lực,
Trí
huệ
minh
khai
ngộ
phước
hương.
(Cảm
đề)
Bốn
câu
thơ
trên
là
cả
một
quyết
tâm
hạ
thủ
công
phu,
thực
hành
Giới
Định,
Huệ
làm
tư
lương
cho
cuộc
hành
trình
tìm
về
thực
tại.
Sư
trưởng
nhấn
mạnh
đến
nguyện,
đến
hạnh,
đến
sự
xả
bỏ
tham
dục,
đến
quyết
tâm
tinh
tấn,
nuôi
dưỡng
thần
khí:
Nguyện
thâm,
hạnh
đại,
khí
tịnh,
thần
thanh.
Hay:
Ly
dục
tịch
mịch,
đoạn
hoặc
chứng
chân,
Nội
thủ
công
thâm,
thần
minh
khí
tịnh.
(Danh
ngôn
chân
lý)
Quá
trình
tu
tập
như
trên
là
một
kinh
nghiệm
thâm
sâu
và
cụ
thể
của
Sư
trưởng,
cũng
là
pháp
ngữ
về
sự
tiến
tu
cho
mọi
người
nhất
là
cho
hàng
lậu
học.
Đây
là
cái
công
phu
mà
mỗi
người
phải
thực
hiện
bằng
chính
tự
mình,
xa
rời
hai
cực
đoan
của
sự
chạy
rông
truy
tìm
chân
lý
bên
ngoài
và
của
sự
kiêu
mạn
xem
mình
là
bậc
tu
chứng
tự
tri,
để
rồi
kiếp
kiếp
phải
lang
thang
qua
những
đau
thương
mịt
mùng
trong
cuộc
mê
du
vô
tận.
Trên
đây,
là
những
dòng
ngẫu
cảm
qua
một
số
bài
thơ
trong
tập
thơ
chữ
Hán
của
Sư
trưởng
Như
Thanh.
Cái
khí
vị
lưu
lại
trong
tôi
ngoài
nội
dung
súc
tích
của
tập
thơ
là
những
lời
lẽ
trang
nghiêm
thuần
hậu,
thâm
trầm
như
một
tỏ
bày
tâm
sự,
tự
nhiên,
tự
tại
như
tiếng
nói
của
mây,
nước,
đất,
trời;
lại
thâm
thiết
như
lời
giáo
huấn
của
bậc
Tôn
sư
đầy
bi
nguyện.
Cao
quý,
chân
thực
và
đẹp
đẽ
thay
những
bài
thơ
chữ
Hán
của
Sư
trưởng
Như
Thanh
!
---o0o---
| Mục lục Tác giaû |
Cập nhật ngày: 01-01-2002