Trang tiếng Việt

 Trang Nhà Quảng Đức

Trang tiếng Anh

Thơ Văn Phật Giáo


...... ... .

 
 

Ánh Sáng Á Châu
(Light of Asia)

Tác giả : Sir Edwin Arnold
Pháp dịch : L.Sorg
Việt dịch : Đoàn Trung Còn

 --o0o--

Phần thứ

 

Nhưng khi trải đủ ngày đêm,

Thế Tôn thực hiện cái điềm ra đi.

Đền vàng kêu khóc ai bì,

Vua cha rầu rĩ, dân thì đau thương.

Nhưng rồi có sự lạ thường:

Chúng-sanh giải-thoát, Đạo đương phổ truyền.

Những ai nghe Lý diệu huyền,

Trở nên tự tại, được quyền tự do,

***

Màn đêm trải khắp đồng to.

Trời xuân, trăng tỏ, người lo cùng thần (1)

Trên cây xoài đỏ lần lần,

Vô ưu (2) nương gió, hương phân phức cùng.

Thị thành, làng xóm, ruộng đồng,

Đâu đâu cũng hưởng phước hồng duyên may.

Từ từ, đêm xuống cung nầy,

Bầu trời hương tỏa, sao đầy không gian;

Gió xuân trên đỉnh Tuyết san,

Hiu hiu thổi xuống nghe man mác người.

Hướng đông sau đỉnh núi khơi,

Kìa vầng nguyệt rạng lần hồi vượt lên;

Ánh trăng chiếu khắp bốn bên.

Sông Rô-hi-ni và trên núi rừng.

Đồng bằng, sủng vực sáng trưng,

Chiếu trên cung điện đương chừng ngủ say.

Cửa ngoài, lính gác nghiêm bày.

Trống canh đổi hiệp, hô ngay khẩu truyền.

Đêm khuya ai nấy ngủ yên,

Chỉ nghe chó sói hú rền xa xa;

Lại trong mấy cụm vườn hoa,

Nỉ non tiếng dế tấu hòa chẳng ngơi.

***

Trăng lòn đá chạm thông hơi,

Rọi ngay vách phấn, chiếu nơi rền nhà;

Trăng soi thấy nhóm gái ta,

Cảnh như phòng ốc Tiên nga Thiên đàng (3),

Đó là mỹ nữ dịu dàng,

Lọc lừa kỹ lưỡng mới mang vào đền.

Mỗi cô đương lúc nghỉ yên,

Dường như ngọc tốt ở bên đá thường.

Lần hồi nhìn khắp cung đường.

Cô nầy thấy đẹp hơn nàng bên kia,

Càng nhìn càng thấy thích mê,

Cũng như xem ngọc nằm kề với nhau;

Hạt nào cũng chiếu đủ màu,

Khó mà phân biệt hơn nhau những gì!

Các cô cung nữ nằm đây,

Tay chơn nửa kín, nửa bày lộ ra;

Tóc huyền gài thắt dầy hoa,

Hoặc buông phủ ót như là sóng xao.

Qua cơn mệt mỏi giỡn nhào,

Bây giờ ngon giấc mộng đào đêm xuân.

Tỷ như chim chóc tập quần,

Trọn ngày ca hát, lần vần yêu nhau;

Mệt rồi lấy cánh phủ đầu,

Sáng ra thì lại mặc dầu ca yêu.

Trên trần, có những đèn treo,

Bình, dây bạc chạm, chế nhiều dầu thơm,

Đèn soi hiệp với trăng dòm,

Các nàng đề đạm nằm gom thấy tường:

Phập phồng mấy bộ ngực dương.

Tay son nắm chặt hoặc trương ra ngoài;

Mặt hồng với cặp mày ngài,

Đôi  môi hơ  hở, răng ngời như châu;

Mắt hời hai mí nhuyễn nhu,

Lông nheo dài chấm đôi bầu má non,

Cổ tay tròn trịa thon thon.

Chơn đeo lục lạc với lòn thủy tinh;

Cô kia trở giấc cựa mình,

Tức thì reo tiếng lanh tanh ngọt ngào.

Kia kìa nằm đó cô nào,

Cây đờn để sát má đào mỹ nhơn;

Tay măng còn vịn dây đờn,

Như đương gẫy khúc, chập chờn ngủ quên.

Một cô khác nữa nằm bên,

Tay ôm con lộc đã quen hơi nàng;

Thú nầy hiền hậu dễ thương,

Mảng mê ăn những hoa hường nàng trao;

Tớ thầy vào giấc mộng đào,

Hoa còn nửa đóa ở vào tay cô;

Đương khi con lộc kê đầu,

Hoa hường một cánh dính vào mép môi.

Đàng kia hai ả thành đôi,

Kết hoa rồi lại ngủ ngồi bên hoa,

Lại thêm cô khác nữa là,

Xỏ nhiều thứ ngọc cho ra chuỗi chuyền;

Dây hồng một sợi nối liền,

Quanh cườm tay đẹp, ngọc hiền chiếu ra;

Cuối cùng, ngọc bích đó là.

Khắc hình Thần Thánh, mạ qua vàng ròng.

Khi nàng xỏ chuỗi vừa xong,

Buông mình xuống đó, vào trong giấc hoè.

Trong vườn con rạch ro re,

Ru như mỹ nữ đê mê giấc nồng;

Tỷ như hường mới đơm bông,

Chờ khi rựng sáng nở tung ánh trời.

Đó là cung cấm phòng Ngài,

Phía trong là trướng những người đẹp hơn;

Gôn-Ga, Gô-Tá-mi(4) nương.

Hai cô hầu cận cung loan ái tình.

Trướng buông, màu thắm lẫn xanh.

Thêu toàn kim tuyến chân ranh cửa đền.

***

Cửa chiên đàn chạm khắc tên.

Vào ba bước nữa là bên loan phòng.

Phòng nầy lộng lẫy vô song,

Dưới đông sàng có bệ rồng lụa nhung;

Bước chơn lên đó thung dung,

Như đi trên khảm bằng bông nem (5) đều.

Vách tường gắn ngọc rất nhiều,

Vốn là ngọc điệp Hải triều Tích Lan (6).

Trần nhà bạch ngọc một gian,

Cẩn hồ văn đẹp, dùng toàn bửu châu;

Đỏ, xanh, vàng, tím đủ màu,

Tạo hình sen với chim sâu, chim rừng;

Hoa hoè một cảnh tưng bừng;

Đỉnh bầu vòng nguyệt ở chừng trên cao.

Vách tường, cửa sổ, song rào,

Xen theo kẻ hở, trăng vào, gió vô,

Bìm, lài với các hoa mùa,

Hương theo chiều gió, tỏa lùa phòng trung.

Mặc dầu cảnh đẹp tình trong.

Chẳng chi sánh kịp đôi lòng mến yêu

Thích Ca Hoàng tử mỹ miều.

Da Du bạn ngọc đủ chiều đoan trang.

***

Màn loan ngồi tựa bên Chàng.

Áo xiêm để hở tuột hàng đôi bên,

Hai tay ôm tán, buồn rên.

Từ từ lụy nhỏ ở trên má hồng.

Ba phen hôn hít tay chồng.

Thưa rằng:"Quân tử đem lòng dạy khuyên",

Ngài rằng: "Bạn có chi phiền?"

Nhưng nàng chẳng đáp, chỉ riêng than thầm.

Cuối cùng nàng mới phát âm:

Thiếp vừa nằm mộng, suy tầm không ra,

Ban đầu vui thích đó là,

Con mang bên dạ nó đà cựa hông;

Tim tôi đương nhảy nơi lòng.

Hòa cùng nhựa sống tình nồng, phước may.

Nhưng khi vừa chợp mắt nầy,

Thấy ba mộng dữ, lòng đây kinh hoàng;

Một con bò trắng nghinh ngang,

Đôi sừng to lớn ngưu vương đồng bằng.

Ngang đường, bò ấy lướt băng,

Bửu châu giữa trán chiếu lằn như sao

Như hoàn Căn thá (7) ánh hào,

Rạng soi Địa phủ khác nào ban trưa.

Từ từ ngang lộ chơn đưa,

Ngưu vương đến cửa chẳng chừa nhà ai,

Ngăn bò, không một sức ai,

Trong đền Đế Thích, ứng lời nói to:

"Các ngươi chẳng chận được bò,

Ôi thôi Đô-thị! Vinh hoa dứt lìa."

Chẳng ai cản nổi bò kia,

Thiếp liền kêu khóc, ôm ghì cổ to,

Tôi đem hết sức cản bò,

Và truyền cửa nẻo tấn cho vững vàng.

Nhưng rồi rống tiếng Ngưu vương,

Lắc đầu nhè nhẹ, thoát ngang tay nầy,

Lật nhào chướng ngại đó đây,

Lướt đi đụng ngã những tay vệ phòng.

Đó là điềm trước vừa xong,

Bốn vì rực rỡ hiện trong điềm nhì,

Mắt chiếu sáng vẻ phương phi,

Dường như bốn chúa Tu di ngự thường (8).

Trên trời rạng tỏ hào quang,

Bay quanh Bốn Vị là hàng Thần Tiên.
Cùng nhau đáp xuống đây liền,

Cửa thành phấp phới ngọn Thiên đế tràng.

Cờ nầy tuột xuống vội vàng,

Thay vào một ngọn bảo tràng oai vinh.

Phất phơ, ngọc đỏ chói anh;

Cờ viền dây bạc, chữ linh thêu vào,

Chúng sanh hoan hỉ kính chào,

Gió đông rựng sáng lao xao tung cờ,

Mọi người đọc chữ thiên cơ.

Hoa trời thơm đẹp như mưa túa đầy."

***

Đông cung phán dạy lời nầy:

"Đó nàng thấy được mộng hay điềm lành."

Công nương liền mới thưa trình:

Rồi em nghe tiếng hãi kinh hô rền:

Thì giờ sắp đến một bên!

Thì giờ sắp đến, chẳng nên lơ là!"

"Kế em trông thấy điềm ba:

Toan rờ quân tử, chỉ là gối không;

Màn loan lạnh ngắt như đồng,

Cẩm bào bỏ đó, ông chồng hà phang?

Vía em thức giấc vội vàng,

Thấy dây ngọc đái của chàng quấn em;

Nó liền hóa rắn cắn em;

Xuyến vòng rơi rớt, lấm lem, tan tành,

Hoa lài kết mái tóc xanh,

Lần lần biến thể mà thành bụi nhơ.

Nệm giường nghiêng ngã xơ rơ,

Trướng đào xài xể, xác xơ thế là!

Bạch ngưu kêu rống xa xa ,

Cờ thêu một bức tỏa ra trước đền.

Lại nghe có tiếng vang rền,

"Thì giờ đã đến, chớ nên chần chờ!"

Tiếng la làm tỉnh giấc mơ,

Những điềm thấy đó triệu cơ thế nào?

Em đây sắp chết hay sao?

Hoặc Chàng bỏ thiếp? Kẻ nào bắt Anh?"

Trông nàng với vẻ hiền lành,

Đạt Đa bèn nói :"hãy đành làm vui!

Nỗi buồn thôi hãy lấp vùi,

Nếu nàng để dạ yêu tôi vững bền.

Đành rằng mộng triệu nói trên

Hẳn là bóng dáng việc bên sau nầy;

Đành rằng Thần Thánh ngôi vì

Cũng còn rúng động,đổi thay nữa là;

Đành rằng trần thế trải qua,

Một cơn chờ đợi người ta cứu nàn.

Dầu sao nàng hãy chắc an,

Luôn luôn ta mến bạn loan những ngày.

Đã từ nhiều tháng đến nay.

Ta từng nghĩ xét phương hay cứu trần;

Nhằm khi cơ hội một lần,

Việc chi phải vẹn, chắc phần vẹn xong.

Tâm ta quảng đại bao dong.

Với người xa lạ, chạnh lòng xót thương.

Ta đây cũng khổ thường thường.

Mặc dầu khổ não chẳng vương lấy mình.

Huống chi những kẻ thân tình.

Cùng ta chung sống, ta đành bỏ quên ?

Nhứt là bạn ngọc hữu duyên,

Lòng ta khắn khít theo bên với nàng.

Nàng là từ mẫu rõ ràng,

Cùng ta chăn gối mơ màng canh khuya.

Tâm ta vượt biển trời kia,

Đầy tình thương xót người quê kẻ thành.

Như chim câu liệng trời xanh,

Nhớ thương tổ ấm, dẫu mình bay xa;

Tâm ta cũng trở lại nhà,

Nặng tình cô bạn diệu hòa thanh tao.

Tương lai dầu có thế nào,

Nhớ con bò rống với hào cờ thêu.

Nàng nên biết chắc một điều:

Bao giờ ta cũng mến yêu bạn đời;

Việc ta tìm kiếm hiện thời,

Kiếm cho bá tánh, cho người tình chung.

Nàng nên dập mối sầu nung,

Hai ta chịu khổ, người đồng an vui.

Hôn nàng cảm tạ bồi hồi,

Cầu nàng được phước về hồi thuở sau;

Hôn ta, nàng phải biết câu

Tình ta thương chúng, chẳng sâu bằng nàng.

Thôi em nằm nghỉ trên giường.

Ta thì bước xuống,đêm trường thức luôn."

***

Công nương nằm xuống, lụy tuôn,

Ngủ và kêu mớ, thấy luôn điềm rồi.

Lại nghe tiếng thúc liên hồi:

"Thì giờ đã đến! Đến rồi đó chi!"

Đạt Đa vội ngảnh mặt đi,

Chi bằng hướng Bắc, sao bầy tấu lia:

"Đây là cảnh tối trời khuya:

Hai đường chọn một: Ngôi kia. Từ nầy,

Hoặc làm Quốc chủ trị vì,

Hoặc Nhà tịch lĩnh ra đi cứu đời."

Gió khuya thầm thỉ bên tai.

Nhắc lời khuyên của các ngài Thần Tiên.

Mảng nhìn tinh tú liên miên;

Chư Thần hầu chực quanh miền Thế Tôn.

***

"Ngài rằng : Thời khắc tới dồn,

Hãy đi cho kịp, bồn chồn nữa chi?

Bạn ơi đương ngủ ở đây

Má đào xui khiến hành vi cứu đời.

Đôi ta cần phải tách rời,

Vận ta ghi rõ trong trời lặng yên.

Ngày đêm lần bước tiếp liên,

Nay mình đến đích hiển nhiên đó là.

Chẳng mong kế vị vua cha,

Chẳng ham thống lãnh, can qua phải dùng,

Loan xa chẳng ngự Tây Đông,

Càng nhiều oanh liệt, máu hồng càng tuôn,

Thà rằng lần bước đường tuôn

Nằm giường cát bụi, ở luôn ruộng đồng;

Bạn ta nhơn vật nghèo cùng,

Áo quần thô xấu, ăn dùng đồ xin,

Khi thì động tối lần vin,

Có khi bụi rậm, gót in trong ngoài.

Quyết làm như vậy chẳng sai,

Vì ta nghe rõ tiếng đời kêu than;

Chạnh lòng bi xót thế gian,

Xả thân nầy đề cứu an hồng trần.

Chư thiên lớn nhỏ xa gần,

Vị nào quyền thế, trọn phần Từ Bi?

Có ai thấy được chư vì?

Những người thờ phụng được chi hưởng nhờ?

Ích chi cho kẻ nguyện thờ?

Ích chi cơm bánh, dầu bơ nạp thần?

Ích chi niệm chú có vần,

Tế sinh vật, cất đền thần nguy nga?

Nuôi chi thầy cúng vậy mà?

Xi-Hoa, Tỳ-Nữu, Xu-rà (9) cứu ai ?

Kệ kinh tụng đọc hôm mai,

Chỉ lời sợ sệt với lời a dua,

Cứ theo phép đó mà hùa.

Ai người có thể đuổi đùa Khổ Sanh?

Khổ biệt ly, khổ ái tình,

Khổ vì Bệnh rét thân hình run en,

Khồ chết thảm, khổ đọa hèn,

Sanh đi sanh lại bao phen khổ sầu!

Nhiều dục vọng, lắm buồn rầu.

Bạn nào thoát khỏi vực sâu khổ phiền?

Nữ nhơn chay lạc cữ kiêng,

Những ai đắc Đạo, tên biên mấy người?

Những cô ca kệ chẳng lười,

Có ai gặt hái quả tươi, hạt lành?

Cô nào cúng sữa trắng tinh,

Tuôn xi lá quý kính thành chưng ra,

Đến khi nở nhụy khai hoa,

Thử xem có khỏi kêu la khóc ròng?

Thiên Thần thiện, ác khác dòng,

Thảy đều yếu sức, không mong thi hành;

Tuy thương xót, lại  chẳng bênh,

Cũng như người thế, chuyển sanh, đổi dời.

Kìa Kinh điển dạy phải lời,

Kiếp sanh phát khởi từ nơi thấp cùng

Hết nguyên tử tới vi trùng.

Loài sâu, loài rắn, cá cùng chim bay,

Thú, người, quỉ dữ, thần ngay,

Lần lên Thiên thượng, đến vì tuyệt cao.

Rồi đành lui bước chớ sao,

Cát bùn, nguyên tử trở vào như xưa.

Những loài sanh sống sớm trưa,

Từng làm quyến thuộc thích ưa với mình.

Độ người dứt cuộc tử sinh,

Thế gian tỏ ngộ, vô minh vén màn;

Hết lòng lo sợ bất an,

Bỏ đi ích kỷ, bạo tàn hết len,

Ai người cứu thế một phen.

Ắt gồm phương tiện, chúng bèn qui y!

Tưởng thời tiền sử xa đây,

Mùa đông gió lạnh phân thây bao người!

Bỗng đâu có kẻ khéo bươi,

Từ nơi toại thạch mà khơi lửa hồng.

Người xưa săn thịt ăn dùng,

Cũng như lang cẩu chạy dông bắt mồi;

Có người gieo hạt trên đồi,

Bắt đầu có lúa lần hồi nuôi nhau.

Người xưa ra dấu u au,

Về sau chế đặt tiếng, câu sách bài,

Có ai tọa hưởng cuộc đời,

Mà không nhờ ở công người phát minh?

Khen người tầm tỏi, đấu tranh

Đem lòng bác ái quên mình, làm nhân!

Như ai quyền thế ở trần,

Giàu to, mạnh khoẻ, định phần làm vua;

Như ai chưa tới già nua,

Trẻ trung , hạnh phúc, đương mùa ái ân;

Như ai da mặt chẳng nhăn ,

Hưởng đầy khoái lạc, duyên phần cõi ni,

Mặc tình chọn lựa tùy nghi,

Như ta đây vậy, không chi ,thiếu, buồn,

Chẳng qua thấy kẻ lệ tuôn,

Chạnh lòng thương xót, khổ luôn tới mình!

Người như vậy đủ sức lành,

Của đem thí hết , vì lòng thương dân.

Kế người xả bỏ tấm thân,

Suy cầu Chơn lý, kéo phăng bí huyền.

Ngài đem ý chí cần chuyên,

Tìm nơi Địa ngục, cảnh Tiên, cõi Người.

Sau cùng, màn kín vén khơi,

Con đường mở trống, mười mươi vẹn tròn.

Đáng công thí xả nước non.

Làm Thầy thắng phục hoàn toàn Tử-Sanh.

Việc nầy ta sắp thi hành,

Ta đành bỏ nước, vì tình nước dân,

Tâm ta thông cảm người trần,

Hôn nay ta quyết xả thân cứu đời.

Ớ sao nhấp-nháng bên trời!

Ta ra đi, thuận lời mời các ngươi.

Nầy đất thảm! vì mọi người ,

Ta đành bỏ cả: vui cười, tuổi xanh

Ngôi vàng, ngày đẹp, đêm thanh.

Với nàng Công Chúa dứt tình khó thay!

Cứu em, cứu cả cõi nầy.

Cứu luôn con trẻ chuyển lay dạ nàng;

Nay còn cương quyết dễ dàng,

Đến ngày bồng ẵm, lỡ làng chí ta,

Vợ, con, thân phụ, bá gia!

Hãy dằn sầu não cho qua một thời,

Rồi đây Ánh sáng bựt ngời,

Pháp ta sẽ dạy người đời, chúng sanh.

Hôm nay ta quyết cất mình,

Chừng nào trở lại, tất thành công tu."

***

Trên chơn Công chúa, cọ đầu,

Lặng nhìn mặt vợ, cùng nhau giã từ,

Quanh giường chơn bước từ từ,

Hai tay chắp lại, kính như bàn thờ.

Ngài rằng :"Nệm ấm chăn tơ,

Trượng phu thôi chẳng bao giờ nằm đây."

Ba lần Ngài cất bước đi,

Ba lần trở lại, ấy vì Da Du.

Kế Ngài kéo áo lên đầu,

Lui ra, vén bước trướng chân phía ngoài. 

***

Ở đây thiêm thiếp giấc dài,

Gôn Đa, Gô Tá là hai cận hầu;

Kế là mỹ nữ nhiều cô.

Nằm như những cánh sen đâu trên tòa.

Ngài rằng :"Nét ngọc mặn mà,

Khổ tâm ta lắm vì xa các nàng;

Ví bằng chẳng tách nẻo đường,

 Cái già, cái chết, sẽvương chúng mình.

Các cô đương ngủ đã đành,

Cũng như người thác, có hành động chi.

Kìa hoa hường nọ chết đi,

Mùi thơm, sắc đẹp còn gì ở đâu?

Tỷ như đèn thắp hết dầu,

Ánh hồng tia sáng bay đâu mất rồi?

Đêm ôi! kéo mắt bịt môi,

Đừng cho ai khóc, đặng tôi lên đường!

Nhờ vào các bạn mỹ nương.

Đời ta đã được thường thường sướng vui.

Lòng ta chạnh tưởng bồi hồi:

Đó đây như đám cây đồi đứng chung;

Mùa xuân, sanh nẩy mạnh hùng,

Sang đông tàn tạ, sống cùng xuân sau;

Hoặc khi rìu búa chém nhàu,

Cây nào cũng ngã, còn đâu lâm tòng?

Cảnh tình ấy ta chẳng mong.

Vì không nỡ thấy những dòng lệ rơi,

Giã từ các bạn nữ ơi!

Đời đương xuân đẹp, ta thời hy sinh.

Đi tầm giải thoát, Quang minh".

Đông cung nhẹ bước, lách mình trong đêm.

***

Ngàn sao yêu thích nhìn xem,

Gió khuya hôn vạt áo xiêm của Ngài;

Kiếng hoa ngự uyển đua khai;

Tỏa mùi thơm phức tận nơi mũi rồng.

Trên mặt đất, khắp núi đồng.

Từ non Hỷ Mã tới vùng Ấn Dương,

Xảy ra rúng động bất thường,,

Tâm hồn Đại địa như dường cầu mong,

Chư kinh thuật tích Thế hùng,

Chép rằng thiên nhạc trổi cung ngọt ngào.
Tiên Thần chen chút lao xao,

Đường đêm tăm tối, ánh hào sáng trong,

Bấy giờ trong chốn hư không,

Tấm tình hỷ lạc cảm thông đầy trời,

Thiên vương Bốn vị quyền oai,

Từ miền Thượng giới giáng nơi cửa đền;

Thần binh, thần tướng hầu bên,

Can qua bằng ngọc, cung tên bạc vàng;

Chắp tay ngó sững vị Hoàng,

Ngài đương đươm lệ nhìn hàng sao giăng;

Miệng môi ngậm lại chẳng rằng,

Chương trình Bác-Ái phải phăng thế nào?

Bước vào đêm tối kêu gào;

"Xa Nặc! thắng Càn-Trắc (10) vào cho ta ! "

Xa phu nhè nhẹ ló ra,

Tâu rằng: Hoàng tử dạy qua việc gì?

Trời khuya đường lối đó đây,

Ngựa làm sao chở tớ thầy được cho?

Ngài rằng:"Đừng nói tiếng to,

Mau đem ngựa đến, kẻo lo trễ giờ.

Đền vàng là ngục giam thưa;

Muốn tìm chơn lý, phải chừa hoàng cung.

Nay ta quyết định lướt xông,

Kiếm cho được Đạo để dùng cứu nhơn"

Chàng Xa Nặc tỏ thiệt hơn:

"Ngày xưa các vị thiên văn đã truyền:

Con trai Tịnh Phạn vua hiền,

Về sau thống lãnh, cầm quyền chư vương.

Nay sao Ngài lại lên đường,

Bỏ lìa trần thế, giàu sang, quyền hành?

Tại sao ôm bát quẩn quanh,

Vào đồng cát cháy, bỏ thành thị vui ?

Ngài rằng:"Chỉ muốn vậy thôi,

Ta nào có thích nhiều ngôi trị vì.

Nước ta là Cõi Cực kỳ,

Hơn chư quốc thổ đổi thay, chết, già.

"Hãy đem Càn-Trắc cho ta."

Xa-phu lại nói thiết tha mấy lời:

"Hãy nên nghĩ tới Cha Ngài,

Đức vua sẽ khổ vì rời Đông cung;

Cũng nên tưởng nghĩa vợ chồng,

Công nương chỉ biết cậy trông nơi Ngài.

Nay đành lìa bỏ cả hai.

Cha già, vợ yếu, lấy ai đỡ đần?"

Đạt Đa giải đáp thiệt hơn:

Nếu ai yêu vật mình cần phải theo

Đặng riêng hưởng thú cho nhiều,

Đó là yêu quấy mà đeo khổ sầu.

Thương cha mến vợ rất sâu,

Còn hơn yêu chỗ vui cầu của ta;

Nhưng nay đành phải lìa xa,

Tầm phương cứu vợ, cứu cha, cứu đời.

Mau mau dắt ngựa đến nơi."

Tức thì Xa Nặc vâng lời đi mau.

Buồn rầu  bước tới nơi tàu.

Vói lên máng cỏ mà thâu vật thường:

Hàm thiếc bạc, bộ dây cương.

Có thêm xà tích, dây ràng ức cu.

Siết dây, móc khóa tiếp nhau,

Đem con Càn-Trắc buộc đầu vào khoen?

Chải rồi, tra bộ đồ quen,

Vuốt ve lông mịn, tuyết ghen ánh ngời!

Nhung vuông trải đắp ngựa tài,

Phủ thêm chiếc nệm, yên thời đề trên,

Dây chằng nhận ngọc quấn bên,

Buộc từ hông, bụng lần lên mũi, đầu,

Bàn đạp vàng chạm thả sâu,

Cuối cùng phủ lưới, ngọn châu lòng thòng.

Trang hoàng, tuấn mã vừa xong,

Dắt ra đến cửa, Đông cung sẳn chờ.

Thấy gia chủ ngựa mừng ưa,

Hý vui lớn tiếng, mũi vừa phồng lên.

Trong Kinh có dạy cũng nên;

"Tiếng con Càn Trắc hý rền trong đêm,

Ngựa chòi móng sắt dội thêm,

Nhưng mà ai nấy ngủ êm như thường;

Chư Thiên phép lạ khó lường.

Ngăn ngừa tiếng dội, không phương lọt ngoài."

***

Gục đầu con ngựa hùng oai.

Đạt Đa nựng cổ láng ngời phán qua :

Nầy bạch mã! đừng hý la,

Hãy đưa ta đến nơi xa ngàn trùng;

Đêm nay ta phải thẳng xông,

Quyết tìm chơn lý,thành công mới đành.

Nầy tuấn mã! hãy liệt oanh,

Trước ngàn gươm nhọn, chớ sanh ngại ngần;

Tường cao, hào hố, đón ngăn,

Cũng đừng sợ sệt, cứ phăng lướt đường,

Thúc hông, hô chạy, buông cương,

 Ngươi nên vượt lẹ cũng đường, gió giông;

Chạy mau như lửa cháy bùng,

Tớ nên đem hết lòng trung giúp thầy,

Tức là ngươi có công dày,

Cùng ta cứu thoát cõi nầy cho xong.

Chẳng riêng nhơn loại nầy không,

Ta đi là để giúp trong các loài;

Mặc dầu chúng chẳng nói lời,

Kém bề trí huệ, nhưng hoài đớn đau.

Vậy nay ngươi hãy mau mau.

 Mạnh hùng chở chủ mà thâu đường trường.

***

 Thót lên yên rất nhẹ nhàng,

Vuốt ve lông gáy, ngựa giương cất mình.

Dưới móng sắt, sỏi nhánh anh,

Cái hàm thiết động, âm thinh khua rền.

Không ai nghe được tiếng trên,

Thiên Thần Xu-đá (11) theo bên ém liền.

Trong Kinh lại cũng có biên:

Đương khi người, ngựa đến miền cửa trong;

Dạ xoa lót vải lạ lùng,

Gót chơn ngựa đạp mà không tiếng gì.

Đại môn bước tới một khi,

Cửa nầy ba lớp sắt dày tiếp liên.

Trăm người khó mở ra liền,

Êm đềm cửa chánh tự nhiên vẹt rồi.

Bình thường tiếng dội xa xôi,

Chốt to xiềng nặng, nay thôi chẳng rền.

Hai giàn cửa kế như trên,

Ngựa Đông cung tới, tự ên mở chờ.

***

Trên đường êm lặng như tờ,

Quân canh tinh nhuệ nằm đờ dọc ngang :

Bỏ rơi kiếm, thuẩn, cung, thương.

Có luồng gió thổi mê man lính tuần,

Thừa cơ họ ngủ quây quần,

Đông cung cỡi ngựa phi thân khỏi thành.

***

Sao mai xuống mi trời xanh,

Rạng đông gió mát thổi quanh địa cầu;

A-nô-ma(12) sóng lau chau,

Sóng nầy biên giới địa đầu quốc gia.

Gò cương nhảy xuống cỏ hoa,

Ngài ôm bạch mã hôn xoa trán đầu.

Phán cùng Xa nặc như ru:

"Công người xứng đáng, sẽ thâu phước lành;

Phước nầy phổ khắp chúng sanh,

Ta yêu mến mãi tấc thành của người,

Vậy ngươi dắt ngựa phản hồi,

Mão châu, áo ngự, đây thôi chẳng cần;

Dây ngọc đái, chiếc gươm thần,

Tóc dài đậm đụi, ta lần cắt xong;

Hãy đem về tận trào trung,

Dâng lên chúa thượng, cúc cung tỏ bày:

Vua cha đừng nhớ ta chi,

Chừng ta về nước, uy nghi đến mười,

Đạo mầu sẽ được sáng tươi,

Do nhờ tu ẩn, chẳng lười đấu tranh,

Tâu dùm với đức vua lành;

Ta thâu thế giới, nếu thành Đạo cao,

Vì là công trạng lớn lao,

Lại vì từ ái gồm bao vật người!

Chỉ người hy vọng ở người,

Không ai chịu khó tìm tòi như ta,

Bỏ lìa trần thế chăng là,

Để mà cứu độ cả và chúng-sanh,

 

Chú thích

1)Vào khoảng tháng ba dương-lịch, tức nhằm đêm mồng tám tháng hai âm-lịch, ngày sanh nhựt đức Rama.

(2) Vô-ưu (phạn : Asôka), cây dùng để dâng lên đức Siva.

(3) Những cung nữ ấy cũng như các tiên nữ ở thiên đường của đức Đế Thích (Indra)

(4) Gôn-Ga (Gunga), Gô-tá-mi (Gotsani), hai cung phi kế tiếp

Du-đà-la, vợ chánh.

(5) Nem, tiếng Pháp: Nim

(6) Tích-lan (Ceylan): Tiếng xưa là Lăng-già (Lanka) hiện nay là một quốc gia độc lập, đảo ở phía Nam Ấn-độ.

(7) Căn-thá (Kantha): Viên ngọc mà Rồng lớn giữ.

Rồng nầy ở phía dưới mặt đất.

(8) Tứ Đại Thiên-vương cai-trị 4 cõi trời, ở lưng chừng núi Tu -Di.

(9) Xi-Hoa ( Siva), (Vichnou), Xu-rà (Sourya) là những Thiên Thần đạo Bà-la-môn.

(10) Càn-trắc (Kantaka) là một con ngựa hay nhất triều vua Tịnh-Phạn.

(11) Xu-đá (Soudhas): Trong sạch. Tiếng Xu-Đá dùng để gọi giai cấp cao sang, hoặc giống người A-ry-an.

(12) A-nô-ma (Anoma): Con sông làm ranh giới miền trên của nước vua Tịnh Phạn.

 

---o0o----

Lời tựa| Phần 1| Phần 2| Phần 3| Phần 4

 Phần 5| Phần 6| Phần 7| Phần 8 

 --o0o--

Vi tính : Bích Hương

Trình bày: Nhị Tường
Cập nhật : 01-01-03


Webmaster:quangduc@quangduc.com

Trở về Trang Văn Phật Giáo

Đầu trang

 

Biên tập nội dung : Tỳ Kheo Thích Nguyên Tạng
Xin gởi bài mới và ý kiến đóng góp cho Trang Nhà qua địa chỉ : quangduc@quangduc.com