Trang tiếng Việt

 Trang Nhà Quảng Đức

Trang tiếng Anh

Thơ Văn Phật Giáo


...... ... .

 
 

Ánh Sáng Á Châu
(Light of Asia)

Tác giả : Sir Edwin Arnold
Pháp dịch : L.Sorg
Việt dịch : Đoàn Trung Còn

 --o0o--

Phần thứ ba

 

Thế Tôn yên trụ đền lầu

Ăn chơi vui thỏa, bạn bầu bao quanh,

Nào dè sự khổ chúng sanh,

Buồn, lo, rầu tủi, già đành, chết mòn?

Kê đầu trên ngực bạn loan,

Da Du quạt mát, giử tròn thảo ngay.

Bổng ngài nửa tỉnh nửa say,

Ngồi trên hô lớn: "Cõi này! cõi ta!

Ta nghe! Ta biết! Ta ra!"

Làm cho nàng sợ, hỏi là việc chi?

Bấy giờ Ngài luống xót bi,

Nhãn quang từ ái chiếu đi xa vời;

Mặt như tiên ở cõi Trời,

Trông chàng, nàng sợ, bời bời tấc son,

Thấy nàng hoảng hốt, nỉ non,

Ngài cười an ủi bạn loan tỉnh lòng.

Và Ngài truyền lịnh nơi cung,

Đem đờn ra gảy nội trong ít bài.

Một cây đờn gáo dây dài,

Để nơi ngạch cửa, lai rai gió lồng,

Cũng là một sự lạ lùng,

Gió lòn lại trổi tơ đồng nhặt khoan.

Nhạc âm nghe rõ cả đoàn,

Một mình Thái Tử nghe toàn tiếng linh;

Thần tiên mách bảo đinh ninh,

Hòa cùng dây bạc ca thinh như vầy:

***

"Chúng tôi là tiếng gió bay,

Bay đi kiếm sự an bày trong tâm,

Nhưng mà hết tháng qua năm,

Cái bề an lạc chẳng tầm đâu ra.

Đời người như gió thoảng qua,

Thở than, khóc lóc, phá và đấu tranh.

Chúng tôi đâu có biết rành:

Tại sao có sự sống sanh của người?

Cội nguồn của cuộc sống đời,

Sống trên dương thế khắp nơi chi vầy?

Dầu Ngài hay chúng tôi đây,

Chẳng qua hình-ảnh cõi nầy vốn không.

Vui chi cái cuộc não nùng

Khổ sầu đưa tới trong lòng mãi đi ?

Vui chi mà hưởng cuộc nầy,

Năm năm, tháng tháng, ngày ngày như nhau.

Ái tình ví được bền lâu,

Thì đành vui hưởng về sau cho dài.

Một cơn gió thoảng: cuộc đời,

Cũng như tiếng lạ lai rai dây đờn,

Chúng tôi trải khắp cảnh trần,

Rày đây mai đó lần lần bay đi.

Hôm nay nương mấy đường dây,

Chúng tôi than thở cho khuây tấm lòng;

Bản vui khó nổi hát thông,

Vì đi lắm chổ thấy ròng khổ đau,

Biết bao con mắt khóc sầu,

Với bàn tay siết chán câu chẳng bền!

Chúng tôi rầu rĩ ca lên.

Nhưng mà trong dạ chẳng quên cười thầm

Người đời ai cũng lạc lầm,

Mê theo cuộc sống chẳng tầm thấy xa;

Chẳng qua bóng dáng đó mà,

Hiện rồi lại mất, lộ và rã tan,

Nhưng Ngài chẳng phải kẻ thường,

Sanh ra cứu thế, đắc đường chúng sanh,

Thời giờ sắp tới bên mình,

Thế trần đương đợi đức linh cứu nàn;

Mắt mù họ bước chẳng an,

Lanh quanh trong chốn trần gian khổ sầu.

Xin Ngài đứng dậy cho mau,

Tỉnh đi chớ có nghỉ lâu làm gì!

Chúng tôi tiếng gió bay đi,

Xin Ngài cất bước, chơn ghi dấu đàng,

Đi mà tầm cảnh Lạc bang.

Đi ra, dứt bỏ, tình thương lại nhà;

Từ nay thương khắp gần xa.

Chúng sanh thương hết mới là từ bi;

Xót người đau khổ lâm li,

Xin Ngài dứt bỏ ngôi vì một phen;

Đi ra cứu kẻ thấp hèn,

Độ người sa lệ, giải phiền, thoát thân.

Chúng  tôi than thở trên đờn,

Vì Ngài chưa hiểu thế nhơn việc đời.

Tiếng nương dây bạc reo chơi.

Nực cười cho kẻ theo nơi bóng hình:

Chúng tôi cười kẻ si tình,

Bóng mà tưởng thiệt, giam mình vào trong."

***

Một hôm ở chốn đền rồng,

Cầm tay bà vợ thong-dong buổi chiều;

Một cô cung nữ mỹ miều,

Tay đờn miệng hát ít nhiều bản xưa,

Hát chầu một tích tình tơ,

Chuyện con ngựa lạ, xa lơ muôn trùng;

Nơi người da trắng ở đông,

Chiều về trời lặn trong vùng biển khơi.

Đông cung than thở mấy lời:

Si Tra [1] khêu gợi cái bài gió đưa.

Nàng thuật tích, ta thích ưa.

Nhưng ta nhớ chuyện gió thưa trên đờn.

Da Du! bạn hãy giã ơn,

Lấy ra hạt ngọc mà ban cho người.

Ờ nầy bạn tốt nàng ơi!

Có chăng một cõi xa vời mênh mông?

Nơi nào có bóng trời hồng,

Buổi chiều xen lặn vào vùng biển xanh?

Người xa có giống tánh mình?

Nơi xa lắm kẻ khổ tình hay chăng?

Biết bao kẻ khổ vô ngần,

Nhưng ta đâu rõ mà phăng vớt dùm!

Lắm khi mặt nhựt lộ dòm,

Ánh ngời sáng chói, đỏ lòm phương Đông;

Tự ta hỏi lấy, ngại ngùng,

Ai người trước nhứt đứng trông mà chào?

Lắm khi sum họp má đào,

Đương cơn vầng nhựt lặn vào cõi Tây;

Lòng ta lại muốn đi ngay,

Vì ta ưng thấy mặt mày dân kia.

Chúng ta đâu có riêng chia,

Người xa muôn dặm, há lòng lìa yêu ?

Lúc nầy ta luống buồn hiu,

Môi nồng, tình ái chẳng xiêu tấc sầu,

Si Tra biết lắm xứ mầu,

Ngựa nàng thuật đó, ở đâu mà tầm?

Ngựa hay, dây khấu ta cầm,

Ôi! đành gác lại cung thâm điện rồng;

Ấp thành, làng mạc ruổi giong,

Rồi ta sẽ biết trần hồng bao xa,

Hoặc tra cánh thứu  [2] vào ta,

Ta liền bay tới Hy Ma  [3] Núi Thần;

Vượt trên cảnh tuyết mấy lần,

Mặc tình nhìn xuống bang lân, nước ngoài.

Sao ta không biết xem coi?

Sao không chịu khó tìm tòi mà trông?

Nay ta xin hỏi cho thông

Những chi hiện có ngoài vòng cửa cao?"

***

Tiếp theo, có kẻ tâu chào:

"Bạch Ngài điện hạ! Xiết bao cảnh tình

Hoàng thành, chợ búa, chùa đình,

Vườn hoa, đồng ruộng, rạch kinh, đại hà

Rừng sâu, núi lớn bao la,

Kế là Đại quốc Tần Bà  [4] Đế Vương;

Lại nhiều đồng rộng khó lường,

Với bao dân chúng kể hàng triệu lên!"

Đạt-Đa đáp: " Vậy thì nên!

Bảo chàng Xa-Nặc đứng bên xe hầu;

Mai nầy, vầng nhựt ngay đầu.

Ngoài thành du ngoạn, mặc dầu xem qua,"

Có người chạy báo vua cha:

" Đông cung có dặn long xa sẵn bày;

Đón Người giờ ngọ mai đây,

Đặng Người viếng cảnh nọ nầy ngoại ô."

Thánh vương nghe tấu liền cho,

Sai người truyền bá dặn dò thế ni:

"Đô thành trang bị uy nghi,

Đừng cho thấy những cảnh chi gợi phiền;

Mù, què, bệnh tật triền miên

Ghẻ cùi, già cả chớ nên ra ngoài."

Mé đường quét dọn một ngoai,

Nước trong đem tưới lộ nhai khắp cùng;

Ở nơi ngạch cửa giao thông,

Mấy bà rắc rải bột hồng mạt hương;

Lá hoa kết tụi treo giương,

Tuôn si   cành quý phô trương ngõ nhà;

Vách tường sơn lại phết qua,

Trên cây cờ phất, cột thờ điểm tô.

Ở nơi đại lộ tứ cù,

Nhựt thần  [5] tượng Thánh ngự vô bàn thờ.

Hoàng thành chỉnh bị bấy giờ,

Dường như đô thị huyền cơ nhiệm mầu.

Trên đường, chiêng, trống trổi mau,

Nhơn viên cáo thị truyền tâu như vầy:

"Quí vì công chúng nghe đây,

Nhà vua phán dạy hiện bày nghiêm trang

Mù, què, bệnh, tật, ghẻ sang,

Cùng người già cả, chớ mang ra ngoài,

Đừng đem thiêu đốt xác hài,

Hãy chờ chiều tối, bi ai tống hành.

Đó là Thánh chỉ dạy rành,

Su-đà-na  [6] chúa ở thành chúng ta."

Cảnh tình đẹp đẽ rườm rà,

Khắp thành La Vệ  [7] nhà nhà dọn chưng,

Đông cung ngự đến vừa chừng,

Xe loan rực rỡ sau lưng đôi bò,

Bạch ngưu thạnh tráng, cổ to ,

Bướu mang ách chạm, sơn tô đẹp màu.

Chúng dân khánh hạnh chen nhau,

Hoan hô vang dậy, ca âu tưng bừng.

Đạt Đa trông thấy cũng mừng:

Dân trung, áo đẹp, chí hừng cười râu.

Ngài rằng: "Thế giới đẹp, hân;

Trai thì hòa, gái cần, nết na.

Ta đây có giúp chi mà,

Họ nay được vậy, ấy là nhờ đâu?

Ta yêu dân chúng như nhau,

Họ nào có biết tình sâu lòng nầy?

Một chàng Thích tử đâu đây,

Ném hoa mà tặng đức Thầy ngự du.

Ngài liền truyền lịnh mã phu

"Hãy mời trẻ ấy mặc dầu lên xe!"

"Nước ta tình cảnh cũng xuê,

Làm vua cai trị có bề thích ưa !

Dân đây thỏa dạ chẳng vừa,

Vì ta đến họ như trưa hôm nầy.

Nhà nhà nếu được vui vầy.

Khiến cho đô thị đủ đầy hân hoan;

Thì ta hạnh phúc châu toàn,

Ích chi vật khác mà toan có nhiều,

Nầy Xa-Nặc! cứ thuận chiều,

Dẫy xe qua khỏi bấy nhiêu cửa nhà;

Đặng ta thấy hết gần xa,

Cảnh đời tươi thắm nay ta mới tường."

Giá loan trực chỉ trên đường,

Đó đây dân chúng chạy hương áp vào.

Trước xe, vài kẻ đón chào,

Vòng hoa cầm lấy, thảy trao đôi bò:

Hông bò trơn mịn, vuốt mò,

Có người bánh ngọt quả to hiến mời.

Ai ai đều cũng tỏ lời:
"Chúc nguyền Điện-hạ sống đời muôn xuân.

Chiếu vua đã được kinh tuân,

Người người hoà duyệt, cảnh hân hân chào.

Bỗng đâu một kẻ lạc vào,

Khốn cùng, rách rưới, hỗn hào, lọ lem;

Từ nơi hang lỗ ẩn êm,

Lướt ra giữa lộ chẳng thèm kể ai.

Già khù, má tóp, xuội vai,

Da nhăn, đen đúa, sát ngoài xương khô.

Lưng còm mang nặng xuân thu,

Đôi vành mắt đỏ, lù lù ghèn xanh.

Miệng móm sọm, hàm trống quanh,

Rút co vì bại, vì kinh đám người,

Gậy cùng, tay ốm chống bơi,

Hai chơn lảo đảo như người quá say.

Tay kia bóp lấy sườn gầy,

Phát ra hơi thở lẫn lây khổ buồn;

Than rằng: Cô bác khá thương.

Tớ xin bố thí, chết đường nay mai!

Tay sè, cổ lại ho dai,

Mắt nheo lia lịa, miệng nài thi ân.

Quân hầu kéo xển, quở răn:

"Đông cung ngự tới, lão lần tránh xa."

Trên xe, Thái tử dứt nà;

Khoan! Khoan! Xa-Nặc! đó là người chi?

Cúp lưng, tiều tụy, dị kì,

Trong đời có những kẻ vầy hay chăng?

Tại sao ngươi thốt lạ rằng:

Tớ xin bố thí, chết bằng nay mai?

Hình thù ốm yếu, xương lòi,

Chính người chẳng được cơm xơi chớ gì?

Kẻ nầy khốn khổ lắm thay!

Viên quan hộ giá trình bày lược qua:

"Tâu Điện-hạ! Đó người già,

Tuổi dư tám chục, lưng đà uốn cong;

Xưa người mình khoẻ, mắt trong.

Bây giờ lão mại, cạn dòng nhựa thân,

Tráng cường, nghị lực, trí căn

Hao mòn, lụn bại, lần lần dứt thôi.

Đèn kia dầu mỡ cạn rồi,

Mảnh tim nát ngướu, ánh bồi hồi băng,

Đó là kết quả tuổi hằng

Tại sao Điện hạ nằng nằng chú tâm?"

Đông cung tiếp đó hỏi thăm :

"Già nầy là một, hay trăm triệu người?"

"Bạch Ngài! Xa-Nặc đáp lời:

Những ai cao tuổi, chịu nơi khổ già."

Nhưng mà Thái tử hỏi qua:

"Nếu ta trường thọ, cũng là vậy sao?

Da Du, thể nữ tại trào,

Tám mươi há cũng má đào lợt phai?"

"Bạch Ngài! phải vậy chẳng sai."

Ngài truyền;" Xa-Nặc! hãy dời trở lui;

Quay về cung điện thế thôi,

Đã trông tận mắt việc ôi không ngờ! "

***

Đường về nghĩ cảnh già lờ,

Ngự vào cung cấm, dật dờ buồn thiu.

Đến khi cơm dọn buổi chiều.

Trái ngon bánh ngọt dẫu nhiều chẳng xơi.

Mấy cô vũ nữ đền đài,

Tranh khoe sắc thắm, nhưng Ngài chẳng trông.

Da Du thấy sự lạ lùng,

Quì bên chơn bạn, rỉ cùng Trượng phu:

"Tại sao Điện hạ ưu sầu,

Chẳng vui với thiếp như hầu các hôm?

Ngài rằng: "Ta luống bồn chồn,

Vui vầy há dễ hưởng luôn được nào?

Đến chừng kỷ trưởng niên cao,

Hai ta rồi sẽ hư hao, yếu, còm.

Vai kề, má dựa, tay ôm,

Thời gian phá hoại, mùi thơm lụn tàn,

Đó như cơn tối chập chờn,

Xóa bôi ánh sáng trên ngàn cheo veo;

Màn đen buông xuống lưng đèo.

Lần lần bao phủ, nhìn theo thấy gì?

Phát minh việc ấy hôm nay,

Lòng ta lo sợ, tính ngay phương nào?

Tình yêu bảo vệ làm sao,

Cho thời gian khỏi đưa vào lão nguy?

Trọn đêm Ngài mảng nghĩ suy,

Chẳng an giấc điệp chẳng khuây nỗi sầu

 

***

Đêm nay vua lại điện lầu,

Nằm mơ thấy những điềm đâu bàng hoàng:

Một cây cờ lớn đặt ngang,

Mặt trời ở giữa, thế hàng Đế Thiên  [8]

Bổng đâu gió mạnh thổi lên,

Xé tan cờ quý, xô miền bụi dơ,

Một đoàn Tiên Thánh hờ cơ,

Bay ngang đập xuống, lượm cờ lắm lem,

Thuận tay, cờ ấy được đem,

Cửa Đông thành quách dựng kèm để yên,

Điềm hai, vua lại thấy liền:

Mười con voi lớn, mép bên có ngà;

Nặng nề chơn bước, dội xa,

Từ phương Nam dến, trải qua dặm dài.

Ngồi trên voi trước, thảnh thơi,

Đạt Đa Thái Tử, lắm ngài theo sau.

Điềm ba, một chiếc xe mầu,

Ánh quang chói lói, chạy mau trên đường.

Bốn con tuấn mã trước cương,

Phun ra khói trắng, bọt đường lửa than,

Trên xe Thái tử ngồi an;

Kế là điềm bốn, long nhan thấy vầy;

Một Bánh xe tự nó quây,

Tum bằng vàng thiệt, căm đầy bửu châu;

Trên vành, chữ lạ thành câu,

Bánh xe quay mãi, lửa mầu phóng ra;

Lại thêm có tiếng nhạc ca,

Từ trong Luân bảo ngâm nga tiêu thiều.

Điềm năm trống lớn là điều,

Nửa đường thành phố, nửa chiều núi non;

Tay cầm dùi sắt nện luôn.

Hoàng nam đánh trống bon bon tiếp liền,

Dường như sấm sét chuyển rền,

Không gian tràn ngập, thấu lên tận trời.

Sáu là điềm Tháp cao vời,

Vượt trên đô thị, nóc thời mây bao;

Đạt Đa đứng đảnh Tháp cao,

Rải ra bốn hướng trân hào bửu châu;

Ngọc như mưa giội trên đầu,

Mọi người chạy đến, giành nhau báu nầy.

Cái điềm thứ bảy là đây:

Lòng vua lo sợ, nghe dầy tiếng than;

Sáu người khóc kể kêu van,

Nghiến răng, bụm mặt, chứa chan mạch sầu.

 

***

Bảy điềm vua thấy trước sau,

Những thầy bói giỏi giải mầu chẳng xong.

Vua bèn tỏ nỗi bận lòng:

"Nhà ta có nạn, chẳng ông nào rành!

Thánh Tiên cho thấy mông linh,

Nhưng không ai biết hiện trình tương lai."

Kinh thành ưu lự cảm hoài,

Vì vua thấy mộng chẳng ai biết bàn.

Một ông tu sĩ ẩn nhàn,

Áo choàng da thú, miệng loan trước đền:

"Đưa ta vào tới Bệ tiền,

Mộng vua ta biết giải liền kiết hung."

Bảy điềm lạ vừa nghe xong.

Đạo nhơn ứng tiếng, khiêm cung, kính nhường:

"Chào mừng gia quyến Đại-Vương.

Phước lành sáng rỡ, nhựt quang chẳng bì!

Bảy điềm vua sợ trước đây.

Tức là triệu chứng việc hay sắp vời.

Điềm đầu cờ hiệu vua Trời.

Giương ra rồi bị tơi bời vất tung;

Đó là đạo cũ cáo chung.

Một nền đạo mới vẫy vùng hiện ra;

Thánh Tiên gẫm cũng như ta,

Thay ngôi đổi vị hẳn là luật xưa;

Kiếp kỳ sánh tợ ngày giờ,

Lâu rồi cũng hết, tiếp hờ kiếp sau.

Mười con voi lớn theo nhau.

Bước đi rúng động địa cầu, điềm hai,

Nghĩa là Mười món Trí tài

Của Ngài Thái tử bỏ đời vương gia.

Trí Ngài chấn động sơn hà,

Ngài đem Chơn lý bủa ra khắp cùng,

Bốn con tuấn mã hơi nồng,

Kéo xe sáng chói thẳng xông lên đường.

Đó là bốn lý oai cường

Đưa Ngài Thái tử tới phương ánh ngời.

Bánh xe quay chuyển chẳng ngơi

Tum vàng ở giữa vành ngoài chữ linh

Đó là Luân bảo Pháp lành,

Hoàng nam sẽ chuyển, chúng sanh thỏa nhìn,

Trống to, dùi sắt nện lên,

Đạt Đa đứng đánh, tiếng rền khắp nơi.

Điềm này là biểu hiệu Lời,

Ngài đem truyền bá cho đời hiểu thông.

Một ngôi Tháp vượt chín từng,

Nghĩa là kinh Phật lướt xông tít mù.

Từ trên Tháp, rải bửu châu,

Đó là Pháp thí phàm phu, thiên, thần.

Sáu người thê thảm khóc rân,

Tay thì bụm mặt, than thân phận mình.

Đó là điềm bảy chứng minh

Sáu thầy ngoại đạo hẳn đành chịu thua

Lý minh, lẽ vững giúp vua,

Hoàng nam bác bẻ thuyết thô sau Thầy.

Tâu Thánh Chúa! hãy mầng đi!

Vua giàu đệ nhất chẳng bì Đông cung.

Mặc dầu người đắp nâu sòng,

Còn hơn áo mịn vàng ròng phô trương

Ấy là mộng điệp Đại vương!

Bảy ngày đêm nữa, việc đương hiện bày."

Dứt lời đạo sĩ kiếu đi,

Tám lần cúi xá, lại quỳ ba phen.

Vua sai sứ giả đi liền

Kiếm tìm ông Đạo, của tiền thưởng công,

Trở về tâu trước đền rồng:

"Chúng tôi theo lão vào trong Nguyệt từ  [9]

Chim mèo xám đậu bàn thờ,

Chúng tôi vào đó từ từ nó bay."

Thiên thần âu cũng có khi

Hiện thân chim chóc như vầy biết đâu!

Vua cho rằng lạ, ưu sầu,

Ngài bèn xuống lệnh: siêng hầu Đông-cung;

Bày thêm nhiều cuộc vui nồng,

Buộc tâm Hoàng tử ở vùng điện xinh.

Lại tăng binh giữ cửa thành,

Nhưng ai ngăn nổi sức linh số phần?

Bấy giờ Hoàng tử muốn cần

Nhìn xem cuộc sống nhơn dân, thế tình;

Cảnh nầy rất đẹp, rất xinh,

Nếu không chạm phải tình hình, Thời gian.

Trình vua Tinh Phạn lời van:

"Xin cha cho trẻ viếng an kinh thành.

Kỳ rồi cha khiến dân lành,

Dẹp người khổ não, chỉ dành cảnh vui.

Nhưng con đã hiểu rõ rồi,

Đó là chẳng phải khúc nôi cuộc đời.

Nay con muốn biết mọi nơi;

Chúng dân, đường xá, sanh nhai, nghiệp nghề.

Phụ vương cho trẻ trọn bề.

Cải trang ra khỏi vườn huê du nhàn.

Cho con thong thả hoàn toàn,

Mai nầy thầy tớ liệu toan lên đường."

Giữa triều vua phán rõ ràng:

"Kỳ nhi du ngoạn ắt chàng sửa sai?

Tự do Hoàng tử dạo chơi,

Để chàng thăm viếng mọi nơi thỏa tình.

Các quan rồi sẽ phúc trình:

Lòng Chàng biến chuyển, trở thành ra sao."

***

Bữa sau, giờ ngọ khai mào,

Hoàng nam; Xa-Nặc tiêu dao ra đền,

Ấn vua nhìn thấy ở trên,

Quân canh vội mở chốt then cửa ngoài.

Khách thương một vị thảnh thơi,

Một thầy thơ ký gót hài theo sau:

Đạt Đa, Xa-Nặc, kẻ hầu,

Hai người cải dạng, ai đâu mà dè?

Trên đường thẳng tới đề huề?

Xen cùng bá tánh chợ quê đủ mùi.

Thị thành cảnh vật buồn, vui,

Thầy trò thấy đủ lần hồi như đây

Đường đi xinh lịch giải bày,

Kẻ qua, người lại, rù rì, xôn xao.

Những người buôn bán ngồi vào,

Đậu, mè, gia vị sắp bao quanh mình,

Khách mua khi đã thuận tình,

Lần trong dãy thắt xuất trình đồng ngân.

Nữa là tính thiệt đo hơn,

Bên thì nói thách, bên lần giảm đi.

Tiếng la eo óc chốn ni,

Khiến người nép tránh cho đây qua lề.

Bánh xe bằng đá nặng nề,

Bò to chậm bước, đồ kê gập ghềnh.

Những người khiêng kiệu co quanh,

Vừa đi vừa hát ân tình, ca dao.

Những phu đội vác bôn đào,

Cổ to, lưng rộng,giạt giào, mồ hôi,

Mấy trang nội trợ, lui cui,

Ôm ghè từ giếng mà lui về nhà.

Nhiều cô thiếu phụ nữa là,

Bồng con dưới nách hết ra lại vào.

Hàng bánh mứt, ruồi xôn xao;

Kìa người thợ dệt rạt rào đưa thoi.

Cối xay nghiến bạt, bột lòi,

Chó đi thơ thẩn kiếm moi đồ thừa.

Thợ làm binh khí sớm trưa,

Tạo nên áo giáp phòng ngừa, chiến tranh.

Thợ rèn đốt lửa, ngọn xanh,

Nướng cây cuốc sắt, trui thanh giáo đài,

Trong trường, giáo thọ giảng bài,

Trẻ con họ Thích hợp lời ca ngâm,

Ngồi vòng bán nguyệt, nghiêm thâm,

Học qua lịch sử cả trăm Thánh Thần.

Mấy người thợ nhuộm áo quần.

Đem phơi ngoài nắng đủ ngần trắng xanh.

Quân nhân đương lúc bộ hành.

Thuẫn, gươm khua động cạch canh đó mà,

Những người chăn giữ lạc đà,

Ngồi trên cổ bướu, lại qua vóc mình.

Bà-la-môn nết hạnh lành,

Sát-lPhệ-xá với ngành Thủ-la;

Bốn hàng ấy ở nước nhà,

Tu hành, trị quốc, thương gia, ruộng vườn.

Ở đây, quần, chúng, chen bươn.

Nghìn nhà dụ dẫn phô trương độc xà;

Người nầy nói chuyện vui pha,

Cườm tay để rắn quấn ba bảy vòng;

Kẻ bầu, người thổi dài dòng.

Khiến con rắn dữ vẫy vùng múa men.

Đàng kia, một đám trống kèn.

Tàn tơ, ngựa đẹp, dân hiền vu qui,

Trước thần, hoa quả sẵn bày,

Nàng nầy cầu tự hoặc vì viễn phu.

Xa xa, dãy tiệm đồng thau,

Thợ đem đặp, nắn đèn dầu, nồi niêu,

Thầy trò Hoàng tử dắt dìu,

Dưới tường chùa miễu dài theo cửa đền;

Cuối thành quách, có rạch bên,

Hai người qua đó, bước lên nhịp cầu.

 

***

Bên đường có tiếng thảm sầu :

"Quí ngài tế độ, đỡ đầu tôi lên.

Ôi thôi! cứu vớt một phen,

Không thì tôi chết ở trên vệ đường!"

Ấy người bệnh dịch thảm thương.

Rẩy run, lăn lộn, bụi vương áo quần.

Trên mình nổi mụt đỏ rần.

Mồ hôi khắp trán, miệng lần rút co;

Đương cơn nguy kịch đáng lo.

Mắt thì lơ láo, hẹn hò giờ đi!

Cỏ bên lộ, cố bám ghì.

Gượng mà chổi dậy, rồi thì té ngay;

Tứ chi run rẩy ghê thay,

Miệng đành kêu thốt: "Ai hay cứu dùm!"

Đạt Đa chạy tới, lum khum,

Đỡ người bạc phận, mắt trùm tình yêu.

Đầu người ấp gối nâng niu  [10],

Bóp xoa êm dịu, thấy chiều tỉnh tươi.

Hỏi thăm:"Có bớt chăng người?

Bệnh chi mang lấy mà ngươi té nhào?

"Nầy Xa-Nặc! bởi lẽ nào,

Người kia hồi hộp, kêu gào, rên la?

Tại sao va muốn nói ra,

 Lưỡi đơ miệng cứng thật là thảm thương?

Viên ngự giả đáp tỏ tường :

"Tâu Ngài! kẻ ấy đã vương bệnh rồi.

Bất hòa, tứ đại rối nùi,

Máu me như thể nước sôi, lửa nồng.

Trái tim xưa nhảy đều đồng .

Bây giờ lúc chậm, lúc vùng đập lia,

Gân như dây ná đứt lìa,

Nhương chơn, thận, cổ hết bề cử dương.

Sắc duyên, vui vẻ, tráng cường,

Bây giờ tản mác xa đường còn chi!

Lúc nầy cơn bệnh phát nguy.

Kìa người mó máy như truy bệnh tình.

Đỏ lòm, cặp mắt liếc quanh,

Nghiến răng, nghẹt thở như mình ngộp hơi.

Người kia muốn chết rồi đời,

Đương khi hành bệnh, thác thời sao xong!

Bệnh còn sát hại gân trong,

Tứ chi hết cảm, bệnh hòng thoát ly,

Rồi tầm chốn khác hành vi;

Nhưng Ngài đừng có ôm chi người nầy,

Bệnh tình có thể nhiễm lây.

E Ngài chẳng khỏi vướng dây lan truyền."

Đông cung tiếp tục vỗ khuyên,

Nhưng Ngài cũng hỏi cơ duyên cho tường

"Há còn nhiều bệnh đáng thương?

Ta đây có thể cũng vương chớ gì?"

Chàng Xa Nặc đáp tức thì:

"Mọi người đều phải chứng nầy hoặc kia:

Tên ghim, dao búa chém lìa.

Yếu đau ghẻ lác,đằm đìa phong đơn;

Có người nóng lạnh từng cơn.

Hoặc đau kiết lỵ vân vân mọi đường."

Đông cung mới hỏi rõ ràng:

"Đương khi bệnh đến, mình thường thấy chăng?

Chàng Xa-Nặc liền đáp rằng:

Bệnh như rắn ẩn, buông phăng cắn mình;

Lại như cọp dữ đang rình,

Từ trong bụi rậm thình lình phóng ra;

Bệnh như lằn chớp trên xa,

Đánh người bên nọ,dung tha bên nầy."

"- Người đời há sợ hằng ngày?"

"- Tâu lên Điện-hạ! như vầy chớ sao?"

"-Thế thì không kẻ tự hào:

Đêm nay ngon giấc, thức vào ngày mai?"

"-Bạch Ngài! thật vậy chẳng sai,

Không ai dám chắc tương lai của mình."

"-Biết bao đau đớn chực rình,

Thân hư, tâm khổ,rồi sinh cái Già!"

"-Nếu mình sống được lâu xa."

"-Ví bằng thiếu sức lướt qua bệnh trầm,

Hoặc người chẳng muốn cự cầm,

Kẻ mong kết thúc cái mầm khổ đau;

Hay người chỉ biết rên sầu,

Cũng như kẻ bệnh kê đầu tay ta:

Hay người tuổi đã quá già,

Đương tình cảnh ấy, dứt ra thế nào ?"

"Bạch Ngài! đành chết chớ sao!"

"-Thế là cái Chết bước vào như không?"

"-Bạch Ngài! chết đến đau cùng.

Bất kỳ giờ khắc, xứ vùng đâu đâu.

Kẻ nầy còn  tới bạc đầu,

Phần đông thống khổ, yếu đau, gầy mòn;

Nhưng rồi ai cũng chẳng còn;

Kìa xem cái Chết đương lòn bước qua!"

***

Đạt Đa Hoàng tử trông ra:

Đoàn người chậm bước, lệ sa đằm đìa;

Hướng theo phía rạch xa kia.

Một người dẫn lộ lắc lia lọ sành.

Than hồng chứa đựng đầy bình;

Phía sau nhiều kẻ gia đình lần theo,

Mọi đồ tang phục mang đeo.

Áo quần xào xể, hò reo nằn nì:

"Ra ma! Ngài hãy chứng tri

Cầu Ra Ma đủ từ bi độ đời."

Sau cùng, đến cái quan tài;

Tre đan ở giữa, cán ngoài bốn cây;

Nằm trên là một cái thây.

Chơn đưa phía trước, ốm gầy, cứng đơ:

Miệng hủng xuống, mắt chẳng đưa,

Hông sâu, nhăn nhó, bụi dơ đỏ vàng.

Vừa khi tới ngã tư đàng.

Phu khiêng quay cáng,đầu sang phía tiền;

"Ra-Ma". Hô lớn liền liền,

Chúng đưa thi thể đến miền bờ sông.

Giàn thiêu cất sẵn chờ trông,

Tử thi đặt đó, chất chồng củi lên.

Xót người nằm đó ngủ quên,

Dầu cơn lạnh lẽo, cũng yên giấc hoè!

Nơi trống trải, gió bốn bề,

Thân hình để lộ chẳng che áo quần.

Bốn bên, lửa bắt lần lần,

Ngọn bò lên liếm bốn phần giàn thiêu.

Bỗng nhiên lửa túa mạnh chiều,

Chụp thây mà cắn, ngọn phèo phèo phun.

Thịt da nứt lắt lẻo tung;

Khói xông dầy đặc, sau cùng mỏng manh.

Tro tàn tạ, đỏ rồi xanh,

Xương thừa vài mảnh rắc quanh bên dàn.

Đông cung tỏ vẻ phàn nàn.

"Đây là kết cuộc nhơn gian chớ gì?"

Chàng Xa-Nặc đáp lời ni:

"Ấy là cảnh tượng chung qui người đời.

Trên giàn một kẻ nằm dài,

Qua cơn hỏa táng, xót vài miếng xương;

Mấy con quạ đói kêu vang,

Chẳng thèm mổ gặm, tầm đường bay đi,

Nhưng mà người ấy trước đây,

Uống, ăn, cười, giỡn, vui say ái tình,

Ở đời yêu cuộc sống sinh,

Rồi thì ai biết tình hình xảy ra?

Một cơn giông tố rừng già,

Trên đường trật bước, ao sa thấm bùn;

Hoặc rắn cắn, hoặc đao vun,

Cảm hàn, xương cá ngói tung nhằm đầu,

Cuộc đời nhơn đó giảm thâu,

Người ta phải chết còn đâu tiếc hồi!

Uống, ăn, vui, khổ, dứt rồi,

Môi hôn chẳng cảm, lửa bồi chẳng đau.

Mũi không ngửi biết nữa đâu:

Mặc dầu thịt khét, mặc dầu hương hoa;

Miệng không biết vị nữa là.

Tai không nghe tiếng, mắt lòa hết trông.

Thân bằng cố hữu khóc ròng,

Mau thiêu xác ấy, kẻo mòng giòi bu!

Số phần nhục thể vậy ru!

Xấu hèn cũng chết, sang giàu cũng queo!

Cứ như  Kinh điển mà theo,

Tử sanh luân chuyển, biết gieo chốn nào?

Rồi còn trở lại làm sao ?

Còn cơn tử khổ, còn vào hỏa thiêu!

Nhơn gian luẩn quẩn bấy nhiêu,

Cái vòng như vậy là điều tử sanh."

***

Đạt Đa ngước mặt trời xanh,

Mắt Ngài chiếu giọt lệ lành Thần Tiên.

Kế Ngài nhìn xuống đất liền,

Đượm nồng đức tánh Từ Hiền Xót Bi.

Nhìn trời nhìn đất liền khi.

Dường như Ngài muốn nối vầy dưới trên.

***

Uy nghi Ngài mới đứng lên,

Dáng người bác ái, sức bền tự tin.

Hô rằng:"Trần lụy ta nhìn,

Lướt sanh tử khổ bủa gìn chẳng tha.

Hoàn cầu mang bệnh trầm kha.

Lạc là giả dối, phước là trêu ngươi.

Lao đao cực nhọc kiếp người,

Vui chưa tròn hưởng, Khổ vui tấm thân.

Trẻ thấy đó, lão lại gần.

Người yêu vật mến vội phân tách mình.

Sống rồi thì chết rã hình.

Kế là tiếp tục sanh thành đổi nơi,

Bánh xe luân chuyển chẳng ngơi,

Trong vòng Sanh Tử người đời mãi lâm:

Ham chi vui sướng lạc lầm,

Để rồi thọ khổ thân tâm đủ đường

Ta đây cũng đã bị lường,

Nhìn đời tốt đẹp cũng dường lạch sông;

Dưới ánh nắng nước xuôi dòng,

Lờ đờ mãi mãi như không vội vàng.

Sông dời nước chảy ngang tàng,

Vội tuôn vườn ruộng, nhập hàng biển dơ!

Bức màn án mắt thuở giờ,

Nay đà bị xé, rách trơ rã rời.

Ta từng theo hạnh người đời,

Nguyện cầu Tiên Thánh các Ngài chẳng nghe!

Hẳn là có sự chở che,

Ai ai cũng muốn nhờ về Sức Linh!

Biết đâu các đấng như mình,

Cũng đều cầu nguyện, nhờ bênh vực giùm!

Thánh Thần sức yếu chẳng trùm,

Không phương cứu kẻ lum khum khẩn cầu!

Ta không nỡ để khóc sầu,

Nếu ta đủ sức đỡ đầu đắc chơn!

Phạm Thiên tạo hóa thế gian,

Tại sao bỏ chúng lâm nàn thế ni?

Vì Ngài có đủ quyền uy,

Bỏ đời chẳng cứu, tốt gì mà khoe?

Nếu Ngài thế lực kém bề,

Xưng danh Thiên Chủ khó nghe lắm mà!

Nầy Xa Nặc! trở về nhà,

Mắt ta xem đủ, nữa là thế thôi!"

***

Vua nghe thuật rõ khúc nôi,

Truyền ba tốp lính canh ngoài cửa cung;

Không ai ra khỏi, vào trong,

Ngày đêm đều vậy, cho xong hạn kỳ;

Vì vua nằm mộng trước đây,

Giữ cho qua khỏi số ngày thì êm.


 

[1]  Tchitra, tên cô cung nữ vừa hát. 

[2] thứu : chim ó (vautour) 

[3] Tân-bà-sa-la (Bimbasâra) Vị vua lớn nhứt ở Ấn-Độ hồi đời Phật. 

[4] Toulsi giống cây thơm có tánh cách thiêng liêng. Mỗi gia đình Ấn-Độ quí trọng cây ấy một cách đặc biệt Khi người Ấn Độ phát thệ trước tòa họ phải ăn một lá toulsi do một thầy Bà-la-môn trao ra 

[5] Nhựt thần (Sourỳndéva): Thần mặt trời. 

[6] Su-đà-na (Souđđhôdana) dịch nghĩa: Tịnh-Phạn cha của Thái tử Tất-đạt-đa. 

[7] La-vệ tức Ca-ty-la vệ (Kapilavastou). Kinh đô vua Sứ đà no (Tinh-phạn) 

[8] Mặt trời là tượng trưng đức Đế Tiên Đế Thích (Indra) 

[9] Nguyệt từ : Đền thờ Thần Mặt Nguyệt (Tchandra, La lune). 

[10]  Thái-tử ôm đầu người bệnh kê lên đầu gối của Ngài. 

 

---o0o----

Lời tựa| Phần 1| Phần 2| Phần 3| Phần 4

 Phần 5| Phần 6| Phần 7| Phần 8 

 --o0o--

Vi tính : Bích Hương

Trình bày: Nhị Tường
Cập nhật : 01-01-03


Webmaster:quangduc@quangduc.com

Trở về Trang Văn Phật Giáo

Đầu trang

 

Biên tập nội dung : Tỳ Kheo Thích Nguyên Tạng
Xin gởi bài mới và ý kiến đóng góp cho Trang Nhà qua địa chỉ : quangduc@quangduc.com