Trang tiếng Việt

 Trang Nhà Quảng Đức

Trang tiếng Anh

Thơ Văn Phật Giáo


...... ... .

 
 

Ánh Sáng Á Châu
(Light of Asia)

Tác giả : Sir Edwin Arnold
Pháp dịch : L.Sorg
Việt dịch : Đoàn Trung Còn

 --o0o--

Phần thứ nhất

Trên trời, giữa hội quần Tiên.

Thế-Tôn quyết định giáng miền trần gian;

Bấy giờ,điềm lạ ứng ban,

Thần-Tiên khắp chốn hân hoan,bảo lần:

"Phật Ngài sắp xuống cõi trần.

Ấy là kỳ chót mang thân độ đời."

Thế-Tôn truyền dạy mấy lời:

"Rằng ta giáng thế một đời nữa thôi.

Tử-sanh ta sắp khỏi  rồi,

Và chư đệ tử những người theo ta.

Rồi ta chọn họ Thích Ca,

Vua hiền dân thiện gần tòa Tuyết san [1]."

 

***

Đêm kia,hoàng hậu nghỉ an,

Gần vua Tịnh Phạn [2],bên màn thấy qua:

Một ngôi sao đẹp túa ra,

Trên trời sa xuống sáng lòa hào-quang,

Bên trên,bạch tượng rõ ràng,

Sáu ngà oanh liệt,đoan trang thay là.

Lướt mây xuống tới cung bà,

Do hông bên mặt Ma Da   [3] màvào,

Hoàng phi tỉnh giấc mộng đào,

Thấy lòng khoan khoái biết bao mà lường!

Bấy giờ cõi thế mười phương,

Hào quang êm dịu mịn màng chiếu ngay;

Núi non hùng vĩ lung lay,

Bông hoa đua nở như ngày ban trưa.

Tấm lòng hoàng hậu thích ưa,

Chiếu đi Địa ngục, độ vừa Âm ty.

Khắp trong các cảnh mê si,

Nghe ra có tiếng tiên tri như vầy:

"Rằng nay kẻ chết tỉnh ngay,

Chúng sanh mờ mịt được ngày tấn tinh;

Đua nhau lướt tới nẻo lành,

Vì chưng Đức Phật giáng sanh giữa trần!"

Khắp trong các giới Tiên Thần,

Đâu đâu đều cũng được phần an vui;

Thế gian muôn vật tỉnh tươi,

Một luồng gió thiện lại bồi thổi qua.

Sáng ngày tin ấy truyền ra,

Mấy ông Đạo sĩ bàn xa mấy lời:

"Mộng điềm hoàng hậu tuyệt vời,

Thánh nhơn Thái tử đầu thai vào nhà.

Một trang lỗi lạc tài ba,

Giúp trong muôn vật,độ qua muôn loài.

Nếu Ngài chẳng thuận ở ngai[4] ,

Thì đi cứu thế,khiến đời dứt mê."

Một hôm dạo cảnh vườn huê giải sầu .

Đức Bà ngày tháng gần kề,

Dưới cây đứng tựa hồi lâu,

Lá tươi sáng rỡ, hoa mầu thơm tho.

Cây linh quật nhánh che cho,

Đất linh nảy nở hoa lo hầu bà.

Đá kia cũng cảm sầu xa.

Tuôn ra suối nước cho bà tắm chơi.

Bấy giờ hoàng tử ra đời.

Băm hai(32) tướng tốt chói ngời trong thân.

Tin nầy thấu đến trào thần.

Kiệu hoa đem tới ân cần một khi.

Thiên Vương hiện xuống bốn vì.

Ghé lưng vào kiệu khiêng đi như thường .

Tiên Thần ở khắp các phương.

Cũngđều hiện đến trên đường rất đông;

Cõi trời ai cũng vui lòng.

Vì nơi dương thế được hồng phước ban;

Ấy là đức Phật giáng phàm.

Trở về cõi thế cứu an vật người.

***

Đức vua Tịnh Phạn chẳng nguôi.

Dữ lành chẳng rõ, hên xui chẳng tường.

Mấy thầy tường số khuyên thường.

Hoàng nam mạng lớn Đại Vương  [5] đó mà.

Cả ngàn năm mới hiện ra,

Có theo bửu vật thảy là bảy phương  [6]

Lễ mừng sắp đặt tinh tường,

Trên đường quét sạch mùi hương rưới cùng.

Đèn treo, cờ phất, trống thùng

Chúng dân ăn lễ thảy đồng vui thay!

Múa men, đánh võ, hát hay

Địch đờn, đu lộn, chạy bay đủ điều.

Những nhà thương khách dập dìu,

Lễ mừng đem nạp rất nhiều món xinh :

Ngọc, ngà chói nước sáng anh,

Dầu thơm, khăn khiếu tốt lành mịn trơn.

Lại thêm Vua Chúa nước gần,

Tặng mừng trân báu thập phần tinh vi,

Tướng xinh Hoàng tử chúng vì

Đặt tên Tất Đạt  [7] nhờ uy phát cùng.

***

Khách xa bỗng thấy một ông,

Tư Đà đạo sĩ  [8] có công tu trì,

Việc đời thị thị phi phi,

Ngoài tai dẹp để chẳng ghi vào lòng.

Nhơn khi nhập định cội tông.

Nghe thần mách bảo Thế hùng giáng lâm.

Ông người tu đắc Phép Thâm.

Lâu năm tập luyện, giữ tâm tịnh thành.

Ông vào vua rất hoan nghinh .

Và bà hoàng hậu đem trình Hoàng lang

Tiên nhơn làm lễ vội vàng.

Giập đầu xuống đất, niệm vang, mấy lời

" Bạch ngài tôi kính thờ ngài.

Từ bi Phật Tổ chẳng sai đâu mà :

Hào quang vàng hực chói xa.

Bàn chơn, trước ngực hiện ra dấu lành [9]

Ba mươi hai tướng tinh anh.

Tám mươi tướng nhỏ khuôn linh tô bồi,

Hẳn ngài Phật Tổ đó rồi.

Từ bi thuyết pháp lần hồi độ sinh.

Tôi đây chẳng thọ Pháp linh.

Vì tôi già cả lanh quanh gần tàn.

Nhưng nay tôi được vui an.

Vì tôi trông rõ dung nhan đức Thầy."

Trước vua, Ông Đạo tâu ngay :

" Hoa nầy thật hiếm nở rày trần dương ;

Cả muôn năm mới hiện tường .

Mùi thơm Trí huệ bốn phương bay cùng.

Ngọt ngào như mật ổ ong.

Là lòng Bác ái phổ trong muôn loài.

Hoàng gia hạnh phúc trên đời,

Được Hoa sen lạ cõiTrời nở ra.

Nhưng rồi vua phải lụy sa.

Vì chưng Hoàng tử xuất gia tu hành.

Lệnh bà hoàng hậu hiền lành.

Trổ sanh đức Phật, ắt dành phước sâu.

Cho nên dứt sự khổ đau,

Trở về Tiên cảnh cách sau bảy ngày."

***

Khen tài ông Đạo đoán hay,

Ma Da hoàng hậu đúng ngày qui Tiên,

Sanh lên Đao Lợi  [10] là miền,

Thiên thần tôn-trọng, tiếp liên hầu bà.

Còn phần Thái tử Đạt Đa.

Ba Xà hoàng hậu  [11] rước mà dưỡng nuôi.

Môi nhà phổ khuyến ngọt bùi.

Đã từng nhờ vú của người mà nên .

***

Đạt Đa tám tuổi lớn lên.

Vua cha định chọn thầy riêng dạy chàng.

Đặng sau nối giữ ngôi vàng.

Sợ e thành Phật nhiều đàng khổ ghê  [12]

Triệu chư quan chức tựu tề

Hỏi: ai thông thái giỏi bề văn chương.

Các quan đồng ứng tỏ tường:

Ngài Tỳ Xa Mật hẳn trang hiền tài.

Dẫu  kinh kệ, dẫu sách ngoài,

Việc văn việc võ, cả hai đều đồng.

Vua bèn triệu đến đền rồng

Phong cho chức trọng khai thông con mình.

Một hôm vừa đến ngày lành,

Thích Ca Hoàng tử đứng nhanh hầu thầy.

Tay nâng bảng ngọc, bút chì,

Mắt thời ngó xuống, chờ ghi lời truyền.

Tôn sư chầm chậm hô lên

Bài kinh cầu nguyện Đấng trên Thiên Tào  [13]

Kinh nầy thật ít truyền trao,

Riêng nhà quí phái nghe vào tu tâm.

Đạt Đa cầm bút chú chăm

Viết bài Kinh ấy ra trăm ngàn hình.

Viết theo các chữ các dân tình,

Viết từ chữ cổ đến thành chữ kim;

Viết theo tiếng nói các miền,

Của người động đá với ven biển hồ,

Những người thờ rắn đất sâu,

Những người thờ lửa, thờ lâu mặt trời,

Những nhà phù phép cao vời,

Những vì ở chốn điện đài cố kiên.

Khen tài Thái- tử siêu nhiên,

Các tuồng chữ lạ tiếp liên viết rành.

Tôn sư rất thỏa tấm tình,

Bảo rằng : Thôi hảy học hành tinh phân  [14] .

Ta đây đếm trước một lần ,

Trăm ngàn  [15] trò sẽ liệu chừng học theo.

Đạt Đa tập cũng đúng chìu,

Một, Mười, Trăm... Vạn đếm đều như nhau.

Nhưng còn nối tiếp thêm sau,

Thật là tỉ mỉ khó âu biết tường.

Đếm ngay tới vật tiểu lường.

Tới loài nguyên tử  [16] bụi đường khó trông ;

Số sao đêm tối cũng thông  [17]

Bao nhiêu giọt nước biển hồng đếm ra ;

Tính luôn số cát Hằng hà [18]

Tinh thông tới giọt mưa sa cõi trần,

Mưa hoài trong cả vạn năm,

Sức ngài biết nổi bao lăm giọt rời :

Tính qua Đại Kiếp  [19] chẳng chơi,

Ngàn muôn triệu ức năm dài đó chi ;

Đại Tiên hưởng phước đủ đầy,

Lâu dài rồi mới giáng đi xuống trần.

***

Tôn sư chừ mới tỏ phân:

Trò mà giỏi vậy có cần tôi chi?

Thôi còn môn nữa nói đi,

Kỷhà học với đường ghi đó mà.

Đạt Đa nhỏ nhẹ phân qua:

Xin thầy nghe trẻ giảng ra mấy đều:

Bắt từ vật nhỏ mà nêu,

Người đời khó nổi hiểu nhiều như đây,

Sức đo phương tiện ai tày,

Đo lần lên tới bụi đầy cỏi ni;

Bụi kia bảy hột nhập đi,

Ấy bằng một sợi râu thì chuột ta:

Bảy lần hột lúa mạch nha.

Với lưng vò vẻ [20] thật là bằng nhau;

Mạch nha mười hột kê vào,

Tức bằng một lóng tay dao của người;

Mười hai lóng , một gang rồi,

Kế là thước chỏ [21] sào khơi đó mà.

Cũng dùng cung ná, giáo ta,

Hai mươi cây giáo hiệp là một hơi.

Ấy là trên khoảng đường dài.

Một người phải chạy một hơi cho vừa,

Bắt qua phép tính cái" gưa" [22]

Một gưa bốn chục hơi thưa tiếp bền ;

Do tuần  [23] bốn chục gưa trên,

Như thầy muốn nửa tôi nên chỉ tường,

Do tuần dài dặc trên đường,

Chứa bao nhiêu bụi tôi lường cũng xong.

Nói rồi tính một hơi ròng,

Bao nhiêu hột bụi kể hồng đúng y.

Tôn sư chừ mới lạy quỳ:

"Thầy là ngài đó, tôi ni đáng trò;

Nay tôi tôn kính, xưng to :

Ngài thông tất cả chẳng dò sách chi,

Thế mà ngài cũng kính vì,

Làm như chẳng biết đặng đi học hành.

 

*** 

Phật từng cung kính thầy mình,

Tuy Ngài trổi sức thông minh nhiều lần.

Nói năng êm ái, ân cần,

Mặc dầu quảng bác , giữ phần chẳng kiêu.

Nết đi, cách đứng đáng yêu,

Mặt mày ra vẻ đúng chiều Đông cung.

Nhỏ nhoi, nhu nhượng, lành lòng.

Nhưng mà gan dạ anh hùng biết đâu:

Trong khi săn lộc rừng sâu.

Đố ai tế ngựa chạy mau bằng ngài;

Và khi đua cộ đền đài [24]

Chính ngài đệ nhứt thị oai hơn người.

Những cơn săn bắn vui cười,

Ngài thường bỏ dở, thả loài thú ra ;

Lại trong mấy cuộc đua xa,

Thấy người mệt nhọc, ngài thà dừng chơn,

Thấy chư hoàng tử thua, buồn.

Chạnh lòng ngài chẳng nỡ hơn làm gì.

Hoặc trong trí tưởng đều chi,

Tức thì bỏ cuộc vui đi chẳng màng :

Lâu ngày đức ấy tràng mang,

Cũng như cây cỏ to tàng về sau.

 Nhưng ngài chẳng biết âu sầu,

Chẳng hề khổ não đớn đau khóc vùi.

Có khi họ tỏ khúc nôi,

Nhưng mình chẳng khổ, chẳng nguy, chẳng tường

Một hôm xuân nở ngoài vườn,

Có bầy hạc nội thuận đường bay khơi,

Lần về Hỷ Mã là nơi,

Thảy đều vui với bạn đời mến yêu.

Xảy đâu gặp chuyện buồn hiu,

Mà con hạc chúa mắc điều họa đây:

Đề Bà thế tử nhắm ngay.

Bắn lên một mũi tên bay vào mình;

Chim kia bị nạn thình lình,

Tức thì sa xuống thân hình đỏ tươi [25]

Đạt Đa Thái tử đến bươi,

Dịu dàng lượm lấy, ôm thôi vào lòng.

Ngài ngồi chơn xếp vào trong .

Cũng như Đức Phật nhập vòng thiền na [26]

Tay ngài sửa cánh chim sa,

Vỗ về mơn trớn, như cha thương tình

Thấy chim dứt sự hãi kinh.

Ngài bèn nhổ lấy mũi tên phá đời.

Kế ngài lựa lá mát tươi,

Trộn cùng mật tốt rịt nơi vết trầy.

Bấy giờ thử đặt vào tay.

Mũi tên nhọn vắt đâm rày rất đau.

Ngài vừa mơn trớn vuốt đầu.

Vừa sa nước mắt, ưu sầu hạt rơi  [27]

Một người bỗng bước tới nơi.

Tâu rằng : " Thế tử cho vời kiếm chim.

Bị tên một mũi sa liền,

Như ngài bắt được, xin phiền trả giao "

Đạt Đa Hoàng tử lời trao :

Chim kia chẳng chết, nỡ nào trả ai !

Em ta bắn chửa được tài.

Sức bay giết được, mạng loài thì không. "

Đề Bà đáp lại cũng thông :

Hạc rừng chẳng lẽ khi không rớt liền.

Chim sa chết sống nằm yên.

Vốn là của kẻ đầu tiên bắn nhằm;

Trên mây, ai được giam cầm,

Nhưng mà sa xuống là phần của tôi.

Xin anh giao trả cho rồi,

Công tôi đã bắn thì tôi hưởng nhờ. "

Thích ca ôm hạc úm hơ,

Phán rằng: Chưa dễ trông chờ nơi đây;

Từng phen bác ái từ bi,

Rộng quyền ta có thiếu gì của sao?

Món nầy vừa mới thâu vào,

Ta đây sẽ có biết bao mà lường!

Tự ta biết lấy sức đương .

Từ bi ta sẽ dạy tường chúng sanh;

Đứng ra chỉ rõ nẻo lành .

 Nhờ ta sự khổ bớt hành bớt đau.

Đó dầu chẳng nghĩ trước sau,

Việc nầy xử lý cho nhau có tòa.

Các quan nhóm họp xét qua,

Luận bàn, cãi lẽ chưa ra thể nào.

Một ông sư lạ bước vào,

Lý hay giảng giải thanh tao gọi là:

"Mạng đời ví đáng kể ra,

Kẻ mong hại vật kém xa người lành;

Ai mà cứu tử hồi sanh,

Đáng cho con vật theo mình tỏ ơn.

Một người cứu vớt đỡ đần,

Một người phá hoại, toan phần sát sanh,

Chim kia nhờ kẻ cứu lành,

Thôi thì giao nó người đành giữ luôn."

Mấy lời sau trước vừa buông,

Cả tòa ai cũng phục luồng lý sâu;

Vua hay, ngự giá thỉnh cầu,

Nhưng nhà Sư lạ ẩn đâu chẳng tường.

Có người thấy rắn bò ngang.

Cho rằng Tiên Thánh phàm dương hóa hình.

Thế Tôn tế độ muôn linh,

Kể từ lúc nọ cứu sanh chim rừng.

Sự tình đau khổ tưng bừng.

Ngài vừa cảm thấy mới chừng đầu tiên:

Chính vì con hạc bị tên,

Trị lành, Ngài thả về miền núi non.

Một hôm vua phán cùng con:

"Trời xuân, theo trẩm hương thôn ngắm nhìn.

Con xem đất tốt vườn xinh,

Những người trồng tỉa mặc tình hưởng qua;

Nầy là đất tốt của ta,

 Đủ đều huê lợi nuôi nhà chúng dân;

Đâu đâu đều cũng siêng cần,

Kho vua đầy đặn, thuế phần cũng xuê ;

 Nước cha cai trị chỉnh tề,

Chừng cha trăm tuổi giao về cho con.

Mùa nầy đẹp đẽ vẹn tròn,

Cò xanh, hoa mịn , lá non trên cành,

Gần xa mấy đám ruộng gần

Nông phu cười cợt kêu quanh vui vầy."

Cha con dạo khắp đó đây,

Trải qua vườn tược, cỏ cây suối nguồn,

Bò cày trên thửa ruộng vuông,

Vai to mang ách trì luôn cả mình,

Đất như thịt mỡ kéo lên,

Bủa ra như lượn sóng trên mặt hồ,

Sức người cày ruộng tiếp xô,

Lưỡi cày đạp xuống ăn vô sâu hàng.

Trong đoàn dừa, nước suối mương,

Móng tay [28]lá sả dọc đường nở ra.

Kìa người gieo mạ ngoài xa,

Vừa đi vừa rảy hột sa túa bùa.

Khắp rừng vui vẻ cười đùa,

Tiếng nơi hang ổ ca khua vang lừng;

Và trong bờ bụi lưng chừng,

Dế, ong, rắn mối tưng bừng dấy rân,

Vui xuân đây đó dự phần.

Cành xoài chim đẹp phô thân đủ màu.

Loài chim gỏ kiến lau chau,

Mổ vào cây cối kiếm sâu mà nhờ;

Thứ chim có mỏ cong quơ,

Đuổi loài bươm bướm phất phơ từng hồi;

Sóc rắn cũng chạy kiếm mồi,

Và phường se sẻ ăn thôi no cành;

Có loài chim nhỏ xinh xinh,

Thường đi đủ bảy, tỏ tình kết giao.

Trên cành, gần lối bờ ao,

Chim mèo thích cá đậu cao mà chờ.

Cò ngà quanh quẩn trâu tơ,

Trên không diều ó lờ đờ liệng chơi.

Bên chùa màu sắc chói ngời,

Đoàn công nhảy múa nhặt lơi đủ đường ;

Chim câu tố hộ trên tường,

Xa xa tiếng trống của phường rước dâu.

Vui thay trong cõi hoàn cầu!

Nhìn xuân, Thái- tử cũng hầu ái lân:

Nhưng ngài ngó kỷ nơi trần,

Toàn là gai nhọn ẩn lần dưới hoa!

Kìa ngươi nắng táp mưa sa,

Mồ hôi đổ hột mới là có ăn:

Dưới trời nắng bủa hung hăng,

Miệng hô "thá ví", tay phăng đôi bò,

Kiến thì rắn mối ăn no,

Cả hai bị ó rình mò xớt ngay;

Chim mèo tầm cá cũng hay,

Con diều lại chận giựt ngay miếng mồi.

Bướm kia lòe lẹt phấn vôi,

Chim sâu bắt được một thôi nuốt liền.

Chim ăn no bụng đứng yên,

Có loài két dữ xớt khiêng lên cành.

Đâu đâu cũng sự đấu tranh,

Giết rồi bị giết, quẩn quanh nơi vòng;

Cảnh đời ngoài mặt tươi trong,

Nhưng mà chứa ẩn vô cùng nạn lây;

Hại nhau đủ cuộc vần xây,

Từ loài trùng dế đến ngay loài người;

Ai mà muốn sống vui cười,

Cùng trong đồng loại giết mười, giết trăm!

Nhìn sâu, Ngài phải khổ tâm:

Thương người làm ruộng hằng năm đói nghèo;

Thương bò cổ bị ách treo,

Thưong đoàn sanh chúng cùng theo tranh phần!

"Vui chi cái cuộc thế trần,

Bao nhiêu cơm trắng, bao lần mồ hôi!

Thân bò lao khổ vô hồi!

Xót nơi hang ổ đứng ngồi đánh nhau;

Dưới nước thảm, trên trời sầu,

Đâu đâu đều cũng một màu đấu tranh.

Thôi thôi tôi phải xét rành,

Phụ-vươnglui bước, mặc tình cho con ."

***

Nói rồi, chân Phật xếp tròn,

Cội cây ngồi tưởng tân toan cõi trần.

Gốc nguồn sự khổ xét lần,

Xét luôn cách thế diệt mầm khổ lao.

Từ bi đức rộng lướt vào,

Tấm lòng Bác ái nâng cao trí Ngài.

Dốc lòng cứu khổ cho đời,

Ngài bèn gom trí nhập nơi Định thần  [29]

Thoát vòng nhơ bẩn phàm trần,

Thoát tình luyến ái, thoát thân buộc ràng.

Trí Ngài lúc ấy rảnh rang,

Đạt vào cảnh tịnh Sơ thoàn  [30] đó chi.

***

Bổng đâu Tiên-trưởng năm vì

Lướt mây bay tới tức thì phải ngưng:

Hỏi: "Ai sức lạ lẫy lừng,

Làm cho ta lại tạm dừng chốn ni?"

Chư Tiên nhận xét rất hay,

Biết rằng có Đấng cao tay dưới trần

Các vì ngó xuống một lần,

Thấy đầu đức Phật túa lằn hào quang;

Ngài đương nghỉ cứu các đàng  [31],

Bỗng trong bụi rậm tiếng vang như vầy :

"Chư Tiên! hãy đáp xuống đây,

Lễ mầng đức Phật ra tay hộ đời ".

Năm ông Tiên  trưởng xuống nơi,

Đến gần ra mắt, ngâm bài xưng công  [32]

Lễ rồi, mấy ổng thẳng xông,

Tin lành đem rảy khắp trong Tiên Thần.

 

***

Một người vua phái đến gần,

Thấy ông Hoàng tử đương cơn định thiền;

Xế qua, mặt nhựt chói nghiêng,

Nhưng còn bóng mát che riêng hầu Ngài.

Viên quan bỗng nhận ra lời:

Để cho Thái tử yên nơi thuận lèo;

Lòng Ngài bóng tối còn đeo,

Bóng ta còn hãy dựa theo mà chầu!"

                    


[1] Himilaya ( Hy Mã Lạp Sơn) núi cao nhất ở hoàn cầu

[2] Suddhôdana(Tịnh-Phạn vương): cha của Thái tử Thích Ca. 

[3] Tên bà Hoàng hậu,mẹ của Thái tử Thích Ca. 

[4] Nếu Ngài chẳng ở ngai vàng mà làm một vị Vua cai trị hoàn cầu. 

[5] Vương tứ thiên hạ(Chakravartin),  

[6] Vương tứ thiên hạ có bảy món báu: cái vành để đánh giặc, hột ngọc, con ngựa bay, con bạch tượng, vị quan thông minh, vị tướng tài và bà vợ tuyệt đẹp. 

[7] Tất Đạt-Đa(Siđârtha), nguyên chữ là Savârthaiddh), nghĩa là làm cho vật chi cũng thạnh phát. 

[8] A-tư-Đà (Asita)vị Tiên nhơn đắc Ngũ-Thông. 

[9] Bàn chân có dấu Bánh xe, trước ngực có dấu chữ Vạn. 

[10] Đao lợi ( Ciel Trayastrinshas ) ở cảnh Tiên Dục-Giới 

[11] Ba-xà-ba-Đề (Mahâprâjâpathi), em bà Ma-Da, vợ kế vua Tịnh-Phạn. 

[12] Vua lo cho Thái-tử học để thái-tử khỏi bỏ nhà đi tu mà chịu các nỗi khổ hạnh . 

[13] Bài kinh cầu nguyện nầy chư Phạn như vầy : Om, tatsavi-turvarenyam Bhargo devasya dhimahi Dhiyoyora prachodayât. Dịch nghĩa: Kính trọng đấng Thái-Dương ( Soleil divin ), chúng ta hãy quán tưởng đến sự sáng suốt vô cùng của đấng Thái Dương để Ngài soi sáng tâm trí ta. 

[14] Học toán số.  

[15] Đọc từ một cho đến 100.000 (chữ Phạn : un lakh ) là 100.000. 

[16] Nguyên tử; vật rất nhỏ. 

[17] Tính tới số sao trên trời đêm hôm. 

[18] Biết tính tới số cát dưới sông Hằng Hà bên Ấn Độ. 

[19] Đại-kiếp: Maha-Kalpa. Một Đại-kiếp có 4.320 triệu năm. 

[20] Ong vò Vẻ 

[21] Thước đo từ bàn tay tới cùi chỏ 

[22] Gưa chử Phạn gow, là 40 hơi dài (40 souffles). 

[23] Do tuần (yôdjana): 16 dặm tàu. 

[24] Cầm cương cho xe cộ chạy các nẻo trong thành vua. 

[25] Vì dính máu. 

[26] Nhập định , Suy nghĩ về đạo lý. 

[27] Ngài khóc cho con hạc chịu đau vì trúng tên. 

[28] Hoa móng tay. 

[29]Nhập định (État d'extase) 

[30] Sơ-thoàn (Sơ-thiền) : Premier pas đana le sentier 

[31] Chúng-sanh thọ khổ trong sáu đàng Luân hồi. 

[32] Ngâm bài kệ xưng công đức của Phật.

 

---o0o----

Lời tựa| Phần 1| Phần 2| Phần 3| Phần 4

 Phần 5| Phần 6| Phần 7| Phần 8 

 --o0o--

Vi tính : Bích Hương

Trình bày: Nhị Tường
Cập nhật : 01-01-03


Webmaster:quangduc@quangduc.com

Trở về Trang Văn Phật Giáo

Đầu trang

 

Biên tập nội dung : Tỳ Kheo Thích Nguyên Tạng
Xin gởi bài mới và ý kiến đóng góp cho Trang Nhà qua địa chỉ : quangduc@quangduc.com