Phần
IV
Kết luận
Qua phần trình bày
về Tâm lý học và tâm lý giáo dục Phật giáo trên cơ sở
của hệ thống tám thức được thuyết minh bởi 30 bài tụng
Duy thức của Vasubandhu, các phân tích về tâm thức của Bách
pháp minh môn luận, (bởi Vasudbandhu) và Nhiếp luận của
Asanga, cũng như một số tư tưởng trong kinh tạng và luận thư
của Đại thừa, chúng ta có thể đi đến một số kết
luận sau :
1- Duy thức học là tâm
lý học Phật giáo, vì nội dung của nó tập trung khảo sát,
nghiên cứu và phân tích từ các hiện tượng tâm lý cho đến
cái bản chất của các hiện tượng tâm lý đó. Mặt khác,
Duy thức học cũng đề cập đến con đường cụ thể để
phát triển tâm thức và làm cho tâm thức con người đi ra
mọi rối loạn, bất an, đau khổ để đạt đến một sự toàn
tri cao nhất - tức là chứng đắc giác ngộ - Niết bàn như
được trình bày cụ thể trong năm địa vị của Duy thức.
2- Lý do phân tích cụ
thể các đặc tính, hiện tượng, bản chất, trạng thái và
các mối liên hệ v.v..., của tâm thức trong triết học Duy
thức là để giúp con người nhận thức rõ ràng các yếu
tố của tâm thức như phiền não, căn bản của phiền não, tâm
thiện, tâm bất thiện, tâm sở tác v.v... Qua đó, mỗi người
tự nhận thức rõ ràng cái căn để của khổ đau và hạnh
phúc, của thực tại ảo và thực tại như thực... Và cũng
từ đó, mỗi người tự kiến tạo cho mình một sinh mệnh
(chánh báo) và cuộc đời (y báo) an lạc, hạnh phúc thật
sự.
3- Điểm độc đáo
nổi bật nhất của Duy thức học cũng như điểm khác biệt
cơ bản giữa Duy thức học và các hệ thống tâm lý học Tây
phương là Tàng thức.
Tàng thức, như đã trình
bày, là một tổng thể vừa là nền tảng, vừa là đỉnh cao
của toàn bộ triết học Duy thức, cũng như con đường khởi
đầu và kết thúc của một tiến trình tâm lý từ cuồng si,
ngu muội đến thánh trí-tuệ giác vô thượng ; ở đây được
trình bày cụ thể qua hai góc độ : nhận thức và hành động.
Trước hết, mỗi người cần phải được giáo dục, được
đánh thức để nhận diện rõ rằng tất cả hiện hữu trên
cuộc đời này từ các hiện tượng tâm lý thô kệch, như
buồn, giận, yêu, thương đến các hiện hữu của thế giới
siêu thức, như vô tưởng định, diệt tận định ; và thậm
chí ngay cả thế giới thực tại khách quan với muôn ngàn
dị biệt đa thù v.v... tất cả đều là biểu hiện của Tàng
thức. Cho đến cái gọi là nhân tính, ngã tính, cái tập khí
năng huân và sở huân... thực chất cũng chỉ là những tác năng
và biểu hiện của Tàng thức. Tàng thức là một dòng sông
đang trôi chảy, do đó mọi tác năng và biểu hiện của nó dù
được biểu thị dưới bất kỳ hình thức nào cũng không
thể gọi là có "một ngã tính vĩnh hằng-bất tử".
Trong khi đó, các hệ
thống tâm lý học phương Tây hoặc là chỉ dừng lại ở ý
thức tự ngã, hoặc là đi xa hơn - ở một vùng vô thức như
những khái niệm của Freud và Jung. Nhưng khi đối diện với
các vấn đề thống thiết, bức bách của con người như : khát
vọng của tình dục, khát vọng của con tim, khát vọng của
ý thức v.v... thì các hệ thống tâm lý ấy đề ra những
"tiếng gọi" từ bản năng (Id), từ tự ngã, từ siêu
ngã... Và, hướng giải quyết các vấn đề thống thiết ấy
không còn cách nào khác hơn là đi vào một giải pháp "bão
hòa", hoặc "đáp ứng nhu cầu" - tức chiều theo
"tiếng gọi" của ý thức - tự ngã.
Sau cùng và ngược
lại, con đường đi về phía trước của Phật giáo là con
đường của trí tuệ - nghĩa là sau khi nhận thức rõ về chân
lý, con người hoặc là theo chân lý để đi đến một thực
tại-toàn tri (giác ngộ), hoặc là sẽ mãi mãi đắm chìm
trong cơn khát vọng trần thế đang thiêu đốt. Đây là sự
thách đố vĩ đại nhất của nhân loại trước viễn cảnh
của Chân như và tục lụy. Tuy nhiên, nên nhớ rằng :
"Niết bàn sinh tử thị không hoa".
4- Điểm cơ bản của
sự giống nhau và khác nhau trong tâm lý học Phật giáo và tâm
lý học hiện đại là ở chỗ : về mặt giống nhau, cả hai
hệ thống tâm lý học đều tập trung nghiên cứu, khảo sát
các vấn đề tâm lý, các hiện tượng và diễn tiến của tâm
lý - nghĩa là cùng hướng về sự nhận thức của con người,
tức là ý thức. Tuy nhiên, trong khi Phật giáo qua triết lý
của mình đã soi sáng cái tự tính vô tính (Nihsvabhava) của
con người và thế giới - có nghĩa là "Tất cả đều vô
ngã - Anatta". Ngược lại, tâm lý học hiện đại nỗ
lực xây dựng học thuyết của mình theo tiếng gọi của
bản năng dục vọng, của ý thức tự ngã ... và do đó phải
liên tục đối diện các vấn đề nóng bỏng của các mâu
thuẫn nội tại giữa khát vọng của tự ngã và ý thức xã
hội, ý thức đạo lý - nghĩa là "con tim" và
"khối óc" liên tục đánh nhau. Và cũng từ đó, con
người với ý thức tự ngã cho rằng đây là Tôi (I), đây là
cái của Tôi (mine), đây là cái tự ngã của Tôi (myself) và
chấp thủ, bám víu vào cái tôi, cái của tôi, và cái tự ngã
của tôi, nghĩ rằng đó là thường tại vĩnh hằng. Vì thế,
do chấp thủ vào tự ngã, đắm say vào tự ngã mà con người
thường xuyên rơi vào từ khủng hoảng này đến khủng
hoảng khác, đó là các khủng hoảng của con tim và lý trí...
5- Quan niệm về con người
: Dưới lăng kính của Duy thức học, con người không phải là
một sinh thể độc lập, một con người cá thể, hay một
sinh vật xã hội như quan điểm của triết học Tây phương ;
cũng không phải là một phần của bản thể Đại ngã
(Brahman), như triết học Ấn Độ cổ đại ; cũng không phải
là hiện hữu từ vô vi, hay nguyên lý vận hành của âm dương
như triết học Trung Hoa. Con người theo Phật giáo, trước
hết là một biểu hiện từ Tàng thức, bao gồm đầy đủ các
nhân duyên (địa, thủy, hỏa, phong, không, thời, phương,
thức) và xuất hiện như một tổng thể bất khả phân ly
của năm uẩn (sắc, thọ, tưởng, hành, thức) ; và bản
chất của con người không gì khác hơn là một tích hợp
của nhân duyên cộng với dòng nghiệp thức. Nếu có mặt đầy
đủ các nhân duyên mà thiếu vắng dòng nghiệp thức (hay
Kiết sinh thức) thì con người không thể hình thành như một
sinh vật biết tư duy, có tri giác, biết sáng tạo và có con
tim yêu thương...; mà trái lại, con người thiếu vắng dòng
nghiệp thức đó sẽ là tượng đá vô tri, không thể giáo
dục, uốn nắn, đào luyện được. Nhưng Nghiệp ở đây là
gì ? Như đã trình bày, đó là các hạt giống, các tập khí,
các tạo tác trong chiều sâu của tâm thức. Nói khác đi,
nghiệp chính là tư duy và hành động của chính mỗi con người,
đó là các nghiệp thiện, ác (và vô ký). Con người, trên đời
trần thế, đã tạo nghiệp (nhân) gì thì phải gánh chịu
nghiệp (quả) đó. Hành động, tư duy và tạo tác của ta như
một thứ trái khoán được vay mượn, và một ngày nào đó nó
phải được trả lại cho trái chủ - tức là con người chính
nó. Như thế, sự hiểu biết, nhận thức đúng đắn về
Nghiệp (Karma) sẽ giúp bạn thoát khỏi lưới mê hoặc của các
"đấng" tạo hóa, quyền năng, ngự trị, chi phối
sinh mệnh của chính bạn. Và từ đó, bạn hãy tự chọn cho
mình một hướng đi.
6- Con đường tu tập
của Duy thức : Mục đích của Duy thức được lập ra là để
giúp con người tiến đến một sự chuyển y - một thay đổi
trọn vẹn toàn bộ cơ cấu tâm thức của con người. Đó là
cái cơ cấu được thiết lập bởi dục vọng, chấp thủ,
tham ái, bởi các xung năng tình dục, hiện hữu và không
hiện hữu v.v... Và con đường chuyển y đó được Nhiếp
Luận của Asanga định rõ qua sáu bước : (1) Thứ nhất là do
công năng hiện quán thiền định, do các lực Thắng giải
(sự hiểu biết - trí tuệ) trong giao tiếp (đa văn) huân
tập, và do có sự hổ thẹn nên các phiền não được suy
giảm và một phần băng tiêu. Đây là sự chuyển y bằng cách
qui giảm sức mạnh và tăng thêm khả năng. (2) Thứ hai là
sự chuyển y bằng thông đạt. Riêng đối với các vị Bồ Tát
đã vào Đại địa (từ sơ địa đến lục địa), sức
mạnh của sự chuyển y chính là "đôi mắt" nhìn
cuộc đời hiện hữu. Ở đó, cái chân thật được hiển
thị, còn cái phi chân thật thì không hiển thị. (3) Thứ ba là
chuyển y bằng sự tu tập (từ thất địa đến thập địa).
Ở địa vị này chỉ có chân lý hiển thị còn các ảnh tượng
của chân lý thì không. Nghĩa là Bồ Tát có khả năng thấu
thị (hay nhìn xuyên suốt) toàn chân pháp giới. (4) Thứ tư là
chuyển y bằng thể tính thanh tịnh viên mãn. Ở đây, Bồ Tát
đã tung tăng giữa dòng đời sinh tử phiêu bạt này mà không
còn bất kỳ một chướng ngại nào ; đây là sự đạt đến
chân lý tối hậu - cứu cánh, tức giác ngộ giải thoát toàn
diện. (5) Thứ năm là sự chuyển y của hàng Thanh Văn - Đó là
sự chỉ đạt đến nhân không - Vô ngã. Và (6) thứ sáu là
sự chuyển y của Bồ Tát - Sự thông đạt cả Nhân không - Vô
ngã và Pháp không - Vô ngã. Hai sự chuyển y thứ năm và thứ
sáu chỉ là cách phân loại theo quan niệm về Mahayana (Đại
thừa) và Hinayana (Tiểu thừa). Như thế cách trình bày về sáu
bước chuyển y của Asanga đã được Vasubhandhu hệ thống hóa
lại thành năm địa vị Duy thức, đó là : tư lương, gia
hạnh, thông đạt, tu tập và cứu cánh.
7- Thế giới quan của
Duy thức được nhìn bằng đôi mắt "nhân duyên".
Từ con người đến thế giới sự vật hiện tượng tất
cả đều là hiện hữu của nhân duyên ; và khái niệm Duy
thức tức là khái niệm "Nhân duyên". Theo Asanga, tất
cả hiện hữu luôn luôn có đủ bốn nhân duyên : (1) Nhân duyên,
(2) Sở duyên, (3) Tăng thượng duyên và (4) Đẳng vô gián duyên.
Ở đây Duy thức chính là Nhân duyên. Như thế, trong tất cả
các lĩnh vực từ tâm lý đến vật chất, một sự thể nếu
muốn định hình phải đầy đủ bốn nhân duyên. Đặc biệt
trong lĩnh vực giáo dục, bốn nhân duyên này chính là nguyên
tắc cơ bản của sự thiết lập một đường hướng giáo
dục tốt nhất đối với con người. Từ bốn nhân duyên này,
thế giới và con người được xem như là một tổng thể
của các mối quan hệ và hàng loạt các giá trị tương quan
lẫn nhau, tất cả đều điều kiện hóa lẫn nhau, như muôn
loài vạn vật không thể sống và sinh trưởng mà thiếu năng
lượng trong từng tia nắng của mặt trời.
-o0o-
- Hết -
---o0o---
|
Mục lục |
---o0o---
| Thư mục Tác Giả |
----o0o----
Chân thành cảm ơn Đại Đức
Tâm Thiện đã gởi tặng phiên bản điện tử tập sách này.
(Trang nhà Quảng Đức, 02/2002)