PHẦN
IV
IV.2
Chương 2:
Tâm
lý giáo dục Phật giáo
IV.2.1 Sự vận hành
của ý thức
Như đã trình bày,
sự trôi lăn (sinh, diệt) tương tục của Tàng thức và Mạt
na thức là vô gián (không gián đoạn), thuật ngữ gọi là
"hằng" (permanent). Trái lại, ý thức có lúc hoạt động,
có lúc không hoạt động, như trong năm trường hợp sau đây
: (1) trong cõi trời Vô tưởng, (2-3) trong hai định Vô tâm (Diệt
tận định, và Vô tưởng định), (4) ngủ mê không có mộng
mị, và (5) bất tỉnh nhân sự (chết giả, xỉu). Ngoài năm
trường hợp trên, ý thức luôn luôn hoạt động. Sự vận hành
đó được cụ thể hóa qua 51 tác năng cơ bản của tâm
thức, gọi là tâm sở, bao gồm :
1/ 5 tác năng cơ bản
và bao quát của tâm : (1)
cảm xúc, (2) tác ý, (3) Cảm thọ, (4) ấn tượng và (5) các
động lực tâm lý (Tư).
2/ 5 tác năng đặc thù
của tâm : (1) ham muốn, (2)
hiểu biết-thông suốt, (3) ghi nhớ, (4) tập trung và (5) vận
dụng lý trí.
3/ 11 tác năng của tâm
về điều thiện : niềm tin,
siêng năng, biết tự xấu hổ, biết mắc cỡ với người khác,
không tham lam, không sân hận, không si mê, không phóng đãng,
không chấp trước, không làm điều nguy hiểm đến (các đối
tượng khác).
4/ 6 tác năng cơ bản
của tâm gây ra phiền não :
(1) tham lam, (2) sân
hận, (3) si mê, (4) kiêu mạn, (5) hoài nghi, (6) sự hiểu biết
mang tính chất tội ác, bao gồm 5 loại : (a) chấp ngã, (b) có
thành kiến, (c) mê tín dị đoan, (d) chủ quan và bảo thủ,
(e) đi theo các hủ tục, hình thức và giáo điều.
5/ 20 tác năng thứ
yếu của tâm gây ra phiền não
: chia thành 3 loại :
a- Phạm vi hẹp
: (1) giận, (2) hờn, (3) che giấu tội lỗi, (4) ưu phiền, (5)
ganh t(6) bỏn xẻn, (7) lừa dối, (8) nịnh hót, (9) làm hại,
(10) kiêu căng.
b- Phạm vi bình thường
: (11) không biết xấu hổ với lương tâm, (12) không biết
xấu hổ với kẻ khác.
c- Phạm vi bao quát
: (13) thân tâm giao động, (14) chứng trầm uất, (15) lười
biếng, (16) phóng túng, (17) đãng trí, (18) rối loạn tâm lý ,
sự hiểu biết bất chính.
6/ 4 tác năng trung tính
(bất định) của tâm :
(1) ăn năn, (2) chứng
buồn ngủ, (3) sự thao thức tìm cầu, (4) sự thẩm định
kỹ lưỡng.
(gọi 4 tác năng này
là bất định, vì nếu mỗi tác năng đi theo điều thiện,
nó được gọi là thiện, và ngược lại là ác...)
Trên đây là 51 tác năng
của tâm lý hay còn gọi là các hiện tượng tâm lý của con
người, và phạm vi hoạt động của mỗi tác năng tâm lý trên
luôn luôn gắn liền với ý thức. Nói khác đi, ý thức luôn
luôn có mặt trong 51 hiện tượng tâm lý trên bất kỳ khi nào
các hiện tượng đó xuất hiện. Tỉ dụ, sự trầm uất sẽ
diễn ra khi ý thức bị suy thoái và phân tán gần như tê
liệt, hoặc đãng trí sẽ xảy ra khi ý thức thiếu sự tập
trung v.v... Tương tự như thế đối với các hiện tượng như
buồn, giận, thương, yêu, ghét, muốn...
Và để giải quyết các
hiện tượng tâm lý trên, cần phải áp dụng phương pháp
Tứ đế. Tỉ dụ, khi sự ưu phiền xảy ra, con người không
cần phải chạy trốn nó hay cầu khẩn van xin ai hết. Ở đây,
chúng ta cần tìm một chỗ yên tĩnh, vắng người, dừng lại
các tạp niệm, bắt đầu quan sát và đối diện với sự ưu
phiền. Hãy quan sát thật kỹ : (1) hiện tượng ưu phiền, (2)
nguyên nhân của sự ưu phiền, (3) sự chấm dứt ưu phiền và
(4) (làm cách nào để đi vào) con đường đưa đến sự
chấm dứt ưu phiền. Đây là phương pháp rất hữu hiệu
cần được hướng dẫn cụ thể cho từng đối tượng cụ
thể. Thực tế cho thấy, khi có sự ưu phiền, bạn hãy đừng
chạy trốn nó bằng cách nào khác hơn là cứ mạnh dạn đối
diện và ngắm nhìn nó. Sự ngắm nhìn một cách chuyên chú và
có hiệu quả, lập tức ưu phiền sẽ tan biến (vấn đề này
sẽ được trình bày cụ thể hơn ở phần sau).
IV.2.2 Các hình thức
của ý thức
Trong Duy thức học, có
ba hình thái cơ bản của ý thức hay là sự nhận thức,
hiểu biết về các hiện tượng diễn biến của thế giới tâm
lý và thế giới thực tại khách quan (vật lý), bao gồm :
(1) Trực giác (Hiện lượng)
(2) Suy luận (Tỷ lượng)
(3) Nhận thức sai
lầm (Phi lượng)
1/ Trực giác
: Là sự nhận thức trực tiếp (derect perception) mà không
cần thông qua quá trình suy luận. Tỉ dụ, đang đi trên hè
phố, bất chợt ta gặp con bò, liền biết đó là con bò mà
không cần phải dùng đến suy luận hay phán đoán.
2/ Suy luận
: Là sự nhận thức gián tiếp (Indirect perception) qua sự phân
biệt, so sánh, suy nghĩ... rồi mới đưa đến một nhận
thức. Tỉ dụ, đang đi trên hè phố, bất chợt ta gặp con bò,
nhưng lúc đó mắt bị hoa nên nhìn con bò không rõ, thấy nó
giống con trâu... Sau khi đến gần, mắt hết hoa, ta nhìn
thấy đúng là con bò. Sự phân biệt khác nhau và liên tưởng
đến trâu và bò để cuối cùng xác định con bò là quá trình
suy luận.
3/ Nhận thức sai lầm
: Nếu trực giác sai và suy luận cũng sai thì gọi là nhận
thức sai lầm. Tỉ dụ, đang đi trên hè phố, bất chợt gặp
con bò mà cứ tưởng là con trâu ; rồi suy luận con trâu có
hai cái sừng, con vật này cũng có hai cái sừng ; như vậy con
vật này là con trâu. Như thế là trực giác sai lầm và suy
luận cũng sai lầm. Điều này gọi là Phi lượng (Wrong
perception). Tương tự như câu chuyện tỉ dụ về "hang đá"
của Plato, hay "những người mù sờ voi" trong văn
học Phật giáo.
Ba hình thái nhận
thức trên lại được chia thành 4 loại cụ thể theo các trường
hợp đúng và sai.
1/ Trực giác đúng
: (Còn gọi là Chân hiện lượng)
Tỉ dụ : nhìn con bò
biết rõ đó là con bò.
2/ Trực giác sai
: (Còn gọi là Tợ hiện lượng)
Tỉ dụ : nhìn cái bóng
đổ trên tường mà tưởng là người thật.
3/ Suy luận đúng
: (Còn gọi là Chân tỷ lượng)
Tỉ dụ : Vì có khói
nên có lửa (đúng với sự thật)
4/ Suy luận sai
: (Còn gọi là Tợ tỷ lượng)
Tỉ dụ : Vì có khói
nên có lửa (sai với sự thật, vì khói đó là khói mây,
chứ không phải là khói lửa. Suy luận như thế là vì người
suy luận đứng xa thấy khói tưởng là có lửa).
Trên đây là sự trình
bày về hình thái của nhận thức ở góc độ cơ bản theo
tri thức bình thường của con người.
IV.2.3 Các trạng thái
hoạt động của ý thức
Có năm trạng thái
hoạt động của ý thức, đó là : ý thức trong tán loạn, ý
thức độc lập, ý thức trong định, ý thức trong sự điên
loạn và ý thức trong tương quan với năm thức giác quan.
1/ Ý thức trong tán
loạn (Tán vị ý thức) :
Là ý thức bị phân tán,
không tập trung. Tỉ dụ, vừa nghe điện thoại, vừa đếm
tiền, vừa nói chuyện... Ý thức trong tán loạn làm suy giảm
hiệu quả của năng lực hoạt động, của công việc và thường
gây ra sự rối loạn và lãng quên.
2/ Ý thức độc lập
(Độc đầu ý thức) :
Là ý thức làm việc
một mình không liên hệ với 5 thức của giác quan như : mắt,
tai, mũi, lưỡi và thân. Trong trường hợp ngồi lặng yên suy
tư không để ý đến sự chi phối ở bên ngoài gọi là ý
thức độc lập. Ý thức độc lập khi đạt đến sự tập
trung cao, nó gần với ý thức trong định.
3/ Ý thức trong định
(Định trung ý thức) :
Là ý thức được điều
phục bởi chánh kiến và chánh tư duy ; và đối tượng của
ý thức trong định là những đối tượng không liên hệ đến
tham, sân, và si. Do đó, ý thức trôi chảy trong thiền định
theo một đề mục hiện quán nào đó, như khi thở, hay thân
thể, cảm thọ, tâm thức và pháp trần... được gọi là chánh
định (Right concentration). Ngược lại, nếu đối tượng của
ý thức trong định còn liên hệ đến tham, sân, si hay các đối
tượng làm sinh khởi tham, sân, si... được gọi là tà định.
Sự khác nhau cơ bản giữa ý thức trong định và ý thức độc
lập là ở chỗ, ý thức trong định được điều phục bởi
chánh tri kiến (Right view) ; còn ý thức độc lập là ý thức
hoạt động một mình nhưng tự do...
4/ Ý thức trong sự điên
loạn (Loạn trung ý thức):
Là ý thức không được
hướng dẫn và kiềm chế bởi lý trí, nó gần như bị điều
hành bởi bản năng và sự rối loạn của ý thức chính nó.
Ý thức trong sự điên loạn là một loại bệnh lý đặc
biệt.
5/ Ý thức trong tương
quan với năm thức giác quan
(Ngũ câu ý thức) : Là
sự hoạt động chung, cùng sinh khởi và cùng hoàn diệt của
ý thức với năm thức giác quan. Như khi đạp xe chẳng hạn,
ý thức cùng hoạt động với năm thức giác quan. Tỉ dụ, thân
đạp xe, mắt nhìn đường, tai nghe earphone v.v...
Trong năm trạng thái
hoạt động trên, ý thức trong định luôn luôn ở trạng thái
cao nhất và có hiệu quả nhất. Đó chính là sự định tâm,
chuyên chú vào công việc mà mình đang làm như thiền định,
học hành, đọc sách, nghe nhạc ... Năng lượng của ý thức
trong định là nguồn năng lượng được tập trung. Do đó, các
nhà tâm lý trị liệu xem ý thức trong định như là một phương
tiện hiện đại và nhiệm mầu nhất trong các kỹ thuật lâm
sàng như điện sinh học, tâm lý trị liệu v.v...
IV.2.4 Các mối liên
hệ giữa ý thức và thực tại
Trong phần trình bày
về đặc tính của ý thức đã đề cập đến chức năng thông
suốt ba cảnh (đối tượng) của ý thức, đó là Tánh cảnh
(thực tại), Đới chất cảnh (ảnh tượng của thực tại) và
Độc ảnh cảnh (ảnh tượng của ý thức).
1/ Ý thức và Tánh
cảnh
Như đã định nghĩa (trong
phần III), Tánh cảnh là thế giới thực tại. Nó không bị
chi phối hay biến thái của ý thức chủ quan. Tỉ dụ, đỉnh
Lanbiang là thực tại. Nhận thức của chúng ta về đỉnh
Lanbiang thì không bao giờ đúng như là đỉnh Lanbiang chính nó.
Về mặt ý thức, nó không thể được đồng hóa với bản
chất của đỉnh Lanbiang. Về mặt nhận thức, đỉnh Lanbiang
có một không gian ba chiều (dài, rộng, cao) và có tám hướng
(đông, tây, nam, bắc, đông-bắc, tây-bắc, đông-nam, tây-nam);
do đó, khi đối diện đỉnh Lanbiang chúng ta chỉ có thể
nhận thức được nó trong chiều/mặt trực tiếp. Như thế,
sự nhận thức về phía Đông của đỉnh Lanbiang không phải
là một nhận thức toàn diện. Vì phía Đông của đỉnh
Lanbiang không phải là đỉnh Lanbiang, mà nó chỉ là một
phần của đỉnh Lanbiang. Do đó, nhận thức của con người
bao giờ cũng bị giới hạn bởi không gian, thời gian và tầm
nhìn của con người chính nó. Và thường, đối diện với
một thực tại nào đó, chúng ta chỉ thật sự nhận thức
một phần rất nhỏ của thực tại mà thôi. Tương tự như
thế đối với tất cả sự vật hiện tượng. Cần lưu ý
rằng, khi nói ý thức có thể tiếp xúc với thực tại (Tánh
cảnh) có nghĩa là ý thức đó là ý thức của trực giác (Hiện
tượng), mà không phải là ý thức của suy luận (Tỷ lượng)
hay của nhận thức phiến diện, sai lầm (Phi lượng). Bất
kỳ ý thức nào kèm theo một sự phân biệt dù nhỏ nhoi đến
đâu cũng đều là ý thức của suy luận. Do vậy, ý thức
chỉ tiếp xúc với thực tại thật sự khi và chỉ khi hoàn
toàn vắng mặt mọi sự phân biệt.
2/ Ý thức và Đới
chất cảnh
Đây là lãnh vực chuyên
môn của ý thức hay là đối tượng thường xuyên của ý
thức. Như đã được định nghĩa, Đới chất cảnh là bóng
dáng của thực tại, là ảnh tượng của thực tại. Tỉ dụ,
dầu chỉ một lần ngắm nhìn đỉnh Lanbiang, song ý niệm về
đỉnh Lanbiang và ảnh tượng của đỉnh Lanbiang luôn luôn
được cất giữ trong Tàng thức. Bất kỳ lúc nào, khi chúng
ta nghĩ đến đỉnh Lanbiang thì lập tức các ảnh tượng
của nó sẽ hiện ra trong tâm thức của chúng ta. Đây là
một loại thực tại ảo, là ảnh tượng, là bóng dáng của
thực tại. Và hầu hết 24 giờ trong một ngày, con người thường
sống với thực tại ảo, một thực tại hoàn toàn không
thực, bị bóp méo, bị nhào nặn lại bởi ý thức chủ quan.
Nó là một chất liệu kích thích sự khát vọng, thèm muốn
v.v..., và cũng là nguyên nhân gây ra khổ đau. Tỉ dụ, hình
ảnh của người yêu cũ cách đây 20 năm, thảng hoặc nó
vẫn hiện lên trong tâm thức của chúng ta ; và có người
hằng sống với quá khứ, với những nỗi niềm đau khổ,
tuyệt vọng... Các ảnh tượng của quá khứ sẽ không mất
đi mà nó luôn luôn được ghi chép lại, được lưu giữ
lại trong Tàng thức, gọi là ký ức. Đó cũng là "một
cuốn nhật ký mà đi đâu bạn cũng mang theo". Đây là lý
do tại sao kinh Nhất Dạ Hiền nói :
"Quá khứ không
truy tìm,
Tương lai không ước
vọng,
Quá khứ đã qua
rồi
Tương lai thì chưa
đến
Chỉ có pháp hiện
tại
Tuệ quán chính ở
đây"...
Có thể nói, vãng
cảnh (quá khứ) và viễn cảnh (tương lai) hầu như chi phối
90% đời sống của con người. Như thế có nghĩa là con người
đã đánh mất cuộc sống thật sự (bây giờ và ở đây)
của mình cho các nuối tiếc quá khứ và ước vọng tương
lai. Và đây là mối liên hệ thường xuyên của ý thức và
thực tại ảo (Đới chất cảnh).
3/ Ý thức và Độc
ảnh cảnh
Như đã trình bày, Độc
ảnh cảnh là ảnh tượng do ý thức tạo ra, nó không có
trong thực tại và không liên hệ gì đến thực tại. Tỉ
dụ, trong chiêm bao, ta thấy các nàng tiên nữ hái hoa cho mình,
thấy các thiên thần hộ trì mình, thấy các sự thể mà đời
thường mình chưa bao giờ thấy, và nó thực chất cũng chưa
bao giờ có. Hoặc các ảnh tượng hội họa của trường phái
siêu thực (Surealism), các ảnh tượng siêu hình (Metaphysical)
v.v... đều thuộc về sáng tạo của ý thức độc lập, nó là
bản chất của Độc ảnh cảnh (ảnh tượng không có trong
thực tại). Đây là nội dung của các mối liên hệ giữa ý
thức và thực tại.
IV.2.5 Bản chất và
hiện tượng của ý thức
Nói đến bản chất và
hiện tượng của ý thức cũng là nói chung cho cả tám thức.
Vì ngay từ đầu, tám thức được đề cập như là một
tổng thể bất khả phân ly, gọi chung là tâm ý thức hay tâm
thức. Tuy nhiên, ở đây sự thể được tập chú vào ý
thức của các chức năng hoạt động của nó mà thôi.
Sự hiện hữu của
thức là do nương vào ý căn và trần cảnh mà sinh khởi ; do
đó, nó sinh và diệt tùy theo nhân duyên. Thức tự thân nó
vốn là sự biểu hiện, mà biểu hiện là biểu hiện từ cái
gì đó ; cho nên đối với thức, chỉ có sự hoặc là biểu
hiện, hoặc là không biểu hiện chứ không có khái niệm
"bắt đầu và kết thúc". Vả lại, bản thân của
sự biểu hiện là phân biệt, tức là cái này khác cái kia.
Chính sự phân biệt hay nói chung là "biểu biệt" (Vikalpa),
là bản chất của ý thức.
Mặt khác, biểu biệt
thì luôn luôn phải có sự biểu biệt (chủ thể hay kiến
phần) và cái được biểu biệt (đối tượng hay tướng
phần). Hai yếu tố này nương tựa vào nhau và sinh ra một
biểu biệt - tức một nhận thức. Như vậy, nhận thức bao
giờ cũng phải có chủ thể nhận thức (subject), đối tượng
được nhận thức (object), không thể thiếu một trong hai. Và
do đó, một đặc trưng khác của biểu biệt cần phải bàn
đến là : tự biểu và cộng biểu.
Tự biểu là biểu
hiện riêng của chính nó, cộng biểu là biểu hiện chung về
nó. Điều này tương tự như khái niệm "être-en-soi"
và "être-pour-soi" của J.P. Sartre trong Hiện sinh
thuyết. (74)
Tỉ dụ con cá trong
hồ chẳng hạn, nó vẫn có một đời sống riêng của nó, nó
tung tăng bơi lội, nó vẫy đuôi nó buồn (Cá buồn thì cá
vẫy đuôi, người buồn cảnh có ngược xuôi cũng buồn), nó
sợ bị "nấu canh" v.v... Nhưng, qua nhận thức của
anh chàng nghệ sĩ, của nhà sinh vật học và của chị đầu
bếp thì con cá hoàn toàn khác nhau... Cũng như thế, nước đối
với cá là tất cả sự sống, nhưng đối với con người nó
chỉ là "một phần tất yếu của đời sống". Đó là
tính cách tự biểu và cộng biểu của Vikalpa (biểu biệt). Tương
tự, không gian, thời gian, bốn đại (đất, nước, gió, lửa),
và v.v... tất cả đều là biểu biệt của ý thức. Khi hội
đủ điều kiện (nhân duyên) thì nó biểu hiện, và khi chưa
đủ duyên thì nó ẩn tàng. Và do đó, đối với hiện hữu (các
pháp) không thể nói là đến hay đi, không hay có.
Tóm lại, bản chất và
hiện tượng, con người và thế giới, tự thân và tha nhân,
tự biểu và cộng biểu, cá nhân và cộng đồng... tất cả
là một tổng thể của "Duyên khởi". Nói theo ngôn
ngữ của Hoa Nghiêm, tất cả đều mang ý nghĩa "tương
tức" (interbeing), "tương nhập" (interpenetration)
hay "Một là tất cả, tất cả là Một". Trong ý
thức của ta có cả ý thức của cộng đồng (collective
consciousness" (khái niệm của Jung) và ngược lại, trong ý
thức của cộng đồng cũng có ý thức của ta v.v...
Trên đây là phần trình
bày đại cương về ý thức - đối tượng chính của tâm lý
giáo dục Phật giáo. Nghĩa là ý thức đóng một vai trò vô cùng
quan trọng trong tiến trình giáo dục, giúp cho con người vươn
đến một sự toàn tri (giác ngộ). Ý thức là người cầm đuốc
soi sáng cho toàn thể ngôi nhà tâm thức và thế giới hiện tượng
khách quan. Và chỉ có ánh sáng của ý thức mới có thể đem
lại cho cuộc đời của chính mỗi con người một đời
sống hiểu biết thật sự. Tuy nhiên, nên nhớ rằng ý thức
là vô ngã và không vĩnh hằng, chỉ trợt té một cái và
ngất xỉu là ý thức băng tiêu. Những gì còn lại ở đây là
hạt giống, tập khí và nghiệp nằm trong lòng Tàng thức,
ngay cả khi thân thể này đã yên giấc nghìn thu. Do đó, con
người sẽ mãi mãi chìm đắm trong thế giới luân hồi - tái
sinh ; và con người sẽ thật sự giải thoát - giác ngộ khi và
chỉ khi nào mọi hạt giống ô nhiễm, mọi tập khí trần lao,
và mọi nghiệp thức cấu uế, bất thiện không còn hiện
hữu trong lòng Tàng thức.
IV.2.6 Con đường giáo
dục truyền thống của Phật giáo
Con đường giáo dục
truyền thống của Phật giáo xuyên suốt 25 thế kỷ qua kể
từ thời Đức Phật (563-483 B.C) cho đến nay bao giờ cũng
được đặt trên nền tảng của Giới học (Adhisìla - sikkhà),
Định học (Adhicitta - sikkhà) và Tuệ học (Adhipannà - sikkha).
Giới học là những môn
học về giới luật hay cơ sở của luân lý đạo đức Phật
giáo, bao gồm các giới điều cụ thể như 5 giới, 10 giới
v.v... tùy theo đối tượng cụ thể như Phật tử tại gia và
tu sĩ... Tuy nhiên, các giới điều về mặt hình thức được
xem như là qui tắc mô phạm, những tiêu chuẩn và giá trị đạo
đức; do đó nó thường mang tính chất khuôn mẫu, ước lệ.
Nhưng về mặt bản chất, giới pháp là cội nguồn của đạo
lý, là năng lượng nuôi sống sinh mạng tuệ giác của nhà
Phật. Đức Phật dạy : "Bao lâu giới luật còn thì
Phật pháp còn". Và như thế, bản chất của giới pháp
không phải chỉ là những gì được thể hiện qua các giới
điều mà nó còn đi xa hơn nữa, đó là những hạt giống
thanh tịnh nằm trong chiều sâu của tâm thức. Như vậy,
Giới học cũng là môn học đi vào tâm thức, khảo sát và
thanh lọc (trạch pháp) các hạt giống nhiễm ô và phát
triển các hạt giống thanh tịnh trong tâm thức của con người.
Định học là môn
học đi vào điều phục các tâm hành hay còn gọi là ý
thức. Sự điều phục đó nhằm mục đích hướng dẫn con người
đi ra khỏi các rối loạn của đời sống tâm lý, và xa hơn
là thể nhập chân lý-thực tại, giải thoát khổ đau ngay
tại đời sống này. Định học, nói cho đủ là thiền định
bao gồm các phương tiện, thể cách khác nhau như thiền quán
- nặng về tư duy, và thiền chỉ - nghiêng về điều phục hơi
thở, thân và tâm. Tuy nhiên, đối tượng chính của sự
thiền định là làm cho tâm trong sạch (tự tịnh kỳ ý) ; cho
đến khi nào tâm được thanh tịnh nghĩa là khi đó hành giả
đạt được sự giác ngộ-toàn tri. Tiến trình đi đến sự
giác ngộ đó được Đức Phật dạy rõ qua tứ Thiền, cửu
Định:
(1) Ly sanh hỷ lạc,
(2) Định sanh hỷ lạc, (3) Ly hỷ diệu lạc, (4) Xả niệm
thanh tịnh, (5) Không vô biên xứ, (6) Thức vô biên xứ, (7) Vô
sở hữu xứ, (8) Phi tưởng phi phi tưởng xứ, và (9) Diệt
thọ tưởng định.
Tuệ học là môn học
đi vào trí tuệ (wisdom). Trí tuệ đó được phát sinh từ chánh
kiến (Right view) và chánh tư duy (Right thinking), tức là nhìn
đúng sự thật và tư duy đúng sự thật. Và trí tuệ cao
nhất là trí tuệ vô ngã hay trí tuệ vô phân biệt như được
đề cập trong triết học Duy thức.
Từ những chi tiết trên,
ta thấy rằng Giới-Định-Tuệ dù được biểu hiện dưới
những hình thái khác nhau; song, cả ba đều qui về một mục
đích duy nhất là làm cho tâm thức trở nên thanh tịnh, trong
sạch. Đây là điểm nhất quán, độc đặc trong toàn bộ các
hệ thống giáo dục Phật giáo. Và nếu "Đạo" được
định nghĩa là "Con đường" và "Phật" được
định nghĩa là "con người giác ngộ", thì đạo
Phật chính là "con đường đưa con người đi đến giác
ngộ" ; đây là nội dung của con đường giáo dục Phật
giáo. Tất nhiên, mục tiêu là như thế, song con đường để
đi đến mục tiêu đó thì không thể giống nhau. Cũng như
tất cả mọi người đều mang giầy, nhưng không thể có
một đôi giầy nào có thể được dùng chung cho tất cả
mọi người. Đó là vì mỗi người có một cái nghiệp cá nhân
của riêng mình. Cũng vì lý do này nên Đức Phật đã dùng đến
"phương tiện" như con thuyền để đưa người sang sông.
Vì thế, nói đến giáo dục là phải nói đến phương tiện
giáo dục, tức là các điều kiện cần thiết để dạy và
học ; các dụng cụ, thiết bị khảo cứu, thí nghiệm ; các
đường hướng, biện pháp cụ thể v.v... nhằm giúp con người
nắm bắt và giải quyết các vấn đề trong cuộc sống hiện
thực. Cũng vậy, đối với Phật giáo, các hình thức sinh
hoạt như học hành, niệm Phật, tụng kinh, hay thiền định
v.v... cho đến các sinh hoạt bình thường như quét nhà, gánh
nước, bổ củi... đều được xem như là phương tiện để
điều phục và thanh lọc thân tâm của tự thân và cho tha nhân.
Mọi hình thức khác dù mang danh nghĩa Phật giáo và được
biểu hiện như thế nào đi nữa mà không hướng đến các
mục tiêu trên thì hoàn toàn đi ngược lại với tinh thần
Phật giáo.
IV.2.7 Tinh thần giáo
dục Phật giáo
Giáo dục thường được
biểu hiện qua các môi trường nhất định như gia đình,
học đường và xã hội. Và tinh thần giáo dục luôn luôn
được thể hiện qua các mối tương quan hai chiều của sự
truyền thụ và khích lệ giữa thầy và trò, giữa cha mẹ và
con cái v.v... Do đó, trước hết giáo dục phải được xem là
mối quan hệ song phương (Bileteral relation) ; và trong mối quan
hệ song phương đó, tâm thức của người học trò là trung tâm
điểm của giáo dục.
Giáo dục, theo tinh
thần Phật giáo nói chung và Duy thức học nói riêng, là con
đường đánh thức ý thức tự giác của mỗi người và giúp
cho ý thức tự giác đó vươn đến sự trực nhận và thể
nghiệm chân lý bằng thể cách năng động và sáng tạo của
chính nó trong một tổng thể hài hòa giữa con tim và trí
tuệ.
Ở đây, mỗi cá thể
được xem như là chủ nhân của hạnh phúc và khổ đau, không
ai khác ngoài con người chính nó phải hoàn toàn chịu trách
nhiệm về kho tàng tâm thức của mình. Trong kho tàng tâm
thức ấy có chứa đầy đủ các hạt giống của thiện và
ác, của địa ngục và Niết bàn, của trần thế và siêu
thế... Cho đến việc gieo trồng và làm cho sinh khởi hay
loại trừ và hủy diệt các hạt giống của tâm thức v.v...,
đều do ý thức của cá thể quyết định. Như thế, mỗi người
sau khi nhận thức sự thật về nguồn gốc của khổ đau và
hạnh phúc, hãy tự chọn cho mình một đời sống, một sinh
mệnh theo ý muốn của mình. Ở đây, qua lăng kính của Duy
thức và Phật giáo nói chung, không có một đấng quyền năng
nào hay một kẻ siêu nhân nào có thể ngự trị và chi phối
sinh mệnh của con người ngoài ý thức của chính con người
ấy. Cũng không có một động lực siêu nhiên nào có thể ban
thưởng hay trừng phạt con người, cũng như không có một
quyền uy nào tối thượng hơn quyền uy của tâm thức trong
con người chính nó. Ngay cả các khái niệm như nghiệp,
nghiệp thức, tập khí v.v... tất cả đều do ý thức của
mỗi cá thể tạo nên. Nghiệp (Karma) là cái sinh mệnh thực
hữu, hiện tiền mà đi đâu con người cũng mang theo. Nhưng
Nghiệp là gì ? Đức Phật dạy : "Nghiệp là hành động
có tác ý" (volitional action), hay hành động được phát
sinh từ tâm thức ; và Ngài dạy rõ rằng : "Con người là
chủ nhân của nghiệp, là kẻ thừa tự nghiệp. Nghiệp là
quyến thuộc, là thai tạng mà từ đó con người được sinh
ra".
Như thế, tinh thần giáo
dục Phật giáo là tinh thần đánh thức con người và trả
con người về với chính nó. Ở đây, ý thức của mỗi cá
thể bao giờ cũng đóng vai trò trung tâm trong các lĩnh vực
của đời sống.
Stanley Hall - một nhà
tâm lý học người Mỹ - và học trò của ông là John Dewey -
một nhà triết học thực dụng - là những người đề xướng
một phương pháp giáo dục mới tại Mỹ ở những năm cuối
thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20. Theo quan điểm của phương
pháp giáo dục mới mà Hall và Dewey đề bạt - đã một thời
thịnh hành và vẫn còn ảnh hưởng đến nền giáo dục của
Mỹ cho đến ngày nay - thì "sự tiến triển của tâm lý
con người phát sinh từ bên trong mà ra. Như vậy, sự tiến
triển ấy không phải nhờ sự thúc đẩy bên ngoài mà có. Và
giáo dục phải lấy đứa trẻ làm khởi điểm, phải căn
cứ trên tâm lý của nó chứ không phải là của người dạy
nó, phải dựa vào năng lực và nhu cầu của mỗi đứa trẻ,
phải lấy kỷ luật tự giác làm phương tiện, đứa trẻ là
trung tâm điểm của học đường" (75).
Về thế giới của tâm
lý trong giáo dục, Dewey cho rằng : "Tâm lý của trẻ con
không phải là một tinh thể (système statique) cứ đứng yên mãi
một chỗ, giữ một mực, mà nó là một "động
lực" diễn tiến không ngừng" (76). Với ông, cái mà
gọi là bản ngã thực chất không gì khác hơn là tiến trình
hoạt động (Le moi c’est de l’activité). Nó là một nguồn năng
lượng tiềm tàng trong tâm thức và luôn luôn hoạt động tìm
cách thể hiện "cái chân tính" của nó, và tiến trình
hoạt động không ngừng đó được biểu hiện qua ba hình
thức : (1) Ý chí (Volonté), (2) Tri giác (Intelligence) và (3) Tánh
tình (caractire). Và theo Dewey, giáo dục chính là sự đào
luyện tánh tình. Nghĩa là trước hết, giáo dục giúp cái động
lực sẵn có trong tâm trí của mỗi người, phát động và kêu
gọi đến cái động lực nguyên sinh của con người, để
rồi sau đó, hướng dẫn nó phát triển và thích ứng hóa
với xã hội.
Sau cùng Dewey kết
luận như sau : "Giáo dục không phải là một công việc
dạy chữ, dạy tiếng, mà trước hết là để cho trẻ sống,
hoạt động theo đà tiến phát của chúng, theo tiếng đập
của con tim chúng trong một bầu không khí thuận tiện, để
cho cả cơ thể, tâm tính và trí tuệ của chúng dung dưỡng và
nẩy nở điều hòa. Giáo dục có nghĩa là học, nhưng học
nhờ sự sống và trong sự sống (apprendre par la vie et dans la
vie)"(77). Và từ đó, Dewey đề ra các nguyên tắc giáo
dục như : (1) Nguyên tắc giáo dục đồng phát sinh" (pédagogie
génétique), (2) "Nguyên tắc sư phạm cơ năng" (pédagogie
fonctionnelle) và (3) "Nguyên tắc ý thức xã hội". (78)
Từ những dẫn dụ trên,
chúng ta thấy rằng ít nhất ở một vài góc độ nào đó
về ý thức tự giác, về tâm thức hay các tiềm lực tâm lý
v.v..., nền giáo dục hiện đại đã bắt gặp tinh thần giáo
dục của Phật giáo, một tinh thần tự chủ, tự giác, năng
động, sáng tạo... trong giáo dục mà Đức Phật đã truyền
dạy cho các vị thánh đệ tử của Ngài cách đây hơn 26
thế kỷ.
---o0o---
|
Mục lục | xem
tiếp |
---o0o---
| Thư mục Tác Giả |
----o0o----
Chân thành cảm ơn Đại Đức
Tâm Thiện đã gởi tặng phiên bản điện tử tập sách này.
(Trang nhà Quảng Đức, 02/2002)