Phần
IV
Duy thức học và hệ thống tâm lý
giáo dục Phật giáo
IV.1
Chương 1 :
Vấn
đề tâm lý giáo dục
IV.1.1 Tổng quan
Tâm lý giáo dục
(Educational psychology) là khoa học khảo sát các vấn đề về
con người như : nhân tính (personality), tánh hạnh (behaviour) và
sự phát triển tâm lý của trẻ em, thanh thiếu niên và người
lớn...; đồng thời tìm hiểu, quan sát và xây dựng các đường
hướng giáo dục tâm lý thông qua các phương tiện cơ bản
của học đường như : việc dạy và học, các dụng cụ,
thiết bị khảo cứu, thí nghiệm v.v... và đề xuất biện pháp
cụ thể nhằm giúp con người nắm bắt và giải quyết các
vấn đề cá nhân trong đời sống. (64)
Từ xưa đến nay, các
nhà tâm lý giáo dục đã đề ra nhiều phương pháp nghiên
cứu và ứng dụng cho ngành tâm lý giáo dục (như đã trình bày
ở phần tâm lý học). Tuy nhiên, hầu hết các lý thuyết ấy
đều tập trung xoay quanh một thực thể-ngã tính (self) như là
điểm trung tâm của ngành tâm lý giáo dục. Điều đó đã góp
phần tạo nên bước phát triển lớn lao cho tri thức của con
người; nhưng nó cũng tạo ra không ít các mâu thuẫn, nghịch
lý trong việc xây dựng đời sống hạnh phúc thật sự của
con người.
Bởi lẽ tính chất
của ngã tính (personality, self, ego) là chấp thủ (attachment) và
khát vọng (desire), nó diễn tiến trong sự phân biệt thế
giới thực tại khách quan thành thế giới hiện hữu của sai
biệt đa thù. Và, mỗi mỗi sự vật hiện tượng của cả tâm
lý và vật lý đều được ý thức tự ngã áp đặt lên
một bản sắc cá biệt (vesera). Nói theo ngôn ngữ của Duy
thức, đó là thế giới của tự tính giả lập (parikalpitasvabhàva)
- một thế giới của giả tưởng sai lầm (false imaginations),
hoàn toàn không thật. Do đó, khi các nhà tâm lý và tâm lý giáo
dục xem ngã tính như một thực thể chi phối toàn bộ cơ
cấu của đời sống tâm lý và vật lý, ngay từ đó, con người
phải đối diện với tự ngã và giải quyết những khát
vọng không thể tưởng tượng được của tự ngã. Đây là
then chốt của sự khủng hoảng tâm lý và tâm lý giáo dục
của các lý thuyết tâm lý , nhân tính, giáo dục... từ xưa
đến nay; đồng thời, nó cũng là tác nhân làm cho các lý
thuyết ấy rơi vào tha hóa (alienation).
Vì lẽ, con người và
khát vọng của ý thức tự ngã là vô cùng tận. Sự khát
vọng đó, qua lăng kính của Duy thức học và Phật học nói
chung, không những chỉ đơn giản là dục vọng cá thể của
mỗi con người như Dục hữu (The realm of desire - hay cõi dục),
mà nó còn đi vào các cảnh giới khác như : Sắc hữu (The
realm of existence) và Vô sắc hữu (The realm of non-existence) (65).
Tuy nhiên, chỉ riêng đối diện với Dục hữu, tức thế
giới của con người (và các loài sinh thú), các hệ thống tâm
lý (psychology) và tâm lý giáo dục (Educational psychology) cũng còn
rất nhiều điểm giới hạn. Có thể nói, tâm lý học phương
Tây, nếu so với triết học Duy thức, thì đỉnh cao của nó
chỉ dừng lại ở ý thức, và phần còn lại được đưa vào
vô thức. Freud là người đầu tiên khai thác về vô thức, và
sau Freud thì Karl Jung đi xa hơn nữa, đó là sự phân tích về
tâm thức cộng đồng (Collective consciousness) - nghĩa là sự tương
tác phản chiếu của tâm thức được dàn trải và tương
dung, tương nhiếp giữa cộng đồng. Ở đây, đề cập đến
vô thức, vì lẽ vô thức có thể được xem là tương đương
với Tàng thức trong Duy thức học Phật giáo. Trong Phân tâm
học của Freud, thế giới tâm lý được chia thành ba phần,
đó là : Vô thức (state of unconsciousness), tiềm thức (subconscience)
và ý thức (conscicousness). Vô thức mang tính bản năng (Id),
tiềm thức đứng giữa vô thức và ý thức, và ý thức là
sự tri giác, tự giác về thế giới thực tại khách quan, ý
thức mang hai yếu tố : tri thức (như cảm tính, cảm giác,
tri giác...) và tri thức lý tính (như khái niệm, phán đoán, lý
luận...) (66)
Vả lại, mặc dầu
được bắt nguồn từ triết học - qua các triết gia như
Platon, Aristote v.v... - song, tâm lý học phương Tây chính thức
ra đời như một ngành học độc lập là từ đầu thế kỷ
19, tức cho đến nay chỉ hơn một trăm năm. Trong khi đó, tâm
lý học Phật giáo - qua hệ thống triết học Duy thức - đã
ra đời ít nhất là một ngàn năm trăm năm, tức hơn 15 thế
kỷ qua. Do đó, tất nhiên không thể so sánh giữa sự non
trẻ của hệ thống tâm lý phương Tây và sự thâm niên của
phương Đông, đặc biệt là Phật giáo. Ngày nay, hầu hết các
luận thư (Abhidhammas) về triết học Duy thức của Phật giáo
đã được dịch sang nhiều ngôn ngữ phương Tây vì sự ảnh
hưởng của nó đối với hệ thống tâm lý học phương Tây
ngày càng sâu đậm.
Tuy nhiên, điều mà tác
giả muốn đề cập đến ở đây là sự giới hạn cơ bản
của tâm lý học và tâm lý giáo dục phương Tây khi lấy ý
thức tự ngã làm tâm cho mọi lý thuyết tâm lý và tâm lý giáo
dục. Trong khi đó, Đức Phật, hơn 2600 năm về trước đã
từng tuyên bố : "Tất cả pháp là Vô ngã" - nghĩa là
tất cả hiện tượng sự vật từ tâm lý đến vật lý đều
không có thực tính (xem phần "Đại cương Duy thức học").
Và như thế, sự xây dựng một ngã tính làm tâm phải chăng
là một sai lầm lớn của hệ thống tâm lý giáo dục phương
Tây ?
Tiến sĩ E.F.
Schumacher, trong tác phẩm "Small is Beautiful" (Nhỏ là Đẹp)
- một cuốn sách được in trên 700.000 bản - đã ghi nhận
về sự khủng hoảng của nền văn minh phương Tây như sau
(67) : "Nếu nền văn minh phương Tây thường xuyên rơi vào
trạng thái khủng hoảng thì có thể nói rằng có những sai
lầm nào đó trong hệ thống giáo dục của nó". Và,
Schumacher đã trình bày sáu điểm then chốt mà ông cho rằng nó
luôn luôn nằm trong tâm thức của con người "học thức"
("educated" people) của thời đại. Có thể tóm tắt như
sau : (68)
1/ Tư tưởng tiến hóa
cho rằng các hình thức cao hơn liên tục phát triển khỏi các
hình thức thấp hơn như là một loại tiến trình tự nhiên và
tự động. Sự ứng dụng hệ thống tư tưởng này đã diễn
ra trong suốt hơn một thế kỷ đối với các lĩnh vực trong
đời sống mà không có bất kỳ một sự ngoại lệ nào.
2/ Có những tư tưởng
cạnh tranh - sự lựa chọn tự nhiên và sự sống còn tốt
nhất, nó dường như có ý biện hộ cho tiến trình tự động
và tự nhiên của sự tiến hóa và phát triển.
3/ Có những tư tưởng
cho rằng những biểu hiện cao hơn của đời sống con người
như : tôn giáo, triết học, nghệ thuật v.v... - cái mà Marx
gọi là "Hạt giống ảo tưởng trong bộ óc của con người"
(The phantasmagonias in the brains of men), thực chất không gì khác
hơn là "sự bổ sung cần thiết trong tiến trình của đời
sống vật chất", một thượng tầng kiến trúc được
thiết lập để hóa trang và tăng phần lợi nhuận kinh tế...
4/ Trong sự cạnh tranh,
người ta có thể nghĩ rằng với cách giải thích của Marxist
về những biểu hiện cao hơn của đời sống con người, phân
tâm học của Freud qui giảm những biểu hiện đó về một vùng
xung động tối tăm của tiềm thức và giải thích chúng chủ
yếu như là sự không thỏa mãn của những khát vọng tình
dục ngay trong thời ấu thơ và niên thiếu.
5/ Có những tư tưởng
chung về chủ nghĩa tương đối, khước từ mọi giá trị
tuyệt đối, giải tán mọi qui tắc và tiêu chuẩn đưa đến
một sự xói mòn toàn bộ về nhận thức chân lý trong chủ
nghĩa thực dụng. Và nó làm ảnh hưởng đến thậm chí là
toán học, mà Bertand Russell đã định nghĩa như là "một
chủ đề mà chúng ta không bao giờ biết chúng ta đang nói
về cái gì hay những gì chúng ta nói là sự thật".
6/ Cuối cùng là tư tưởng
chiến thắng của chủ nghĩa tích cực - cho rằng, các giá
trị tri thức đó chỉ có thể đạt được qua phương pháp
của khoa học tự nhiên; và từ đó, không có tri thức nào còn
nguyên vẹn, xác thực, trừ phi nó được y cứ trên những
sự thật được quan sát một cách tổng quát. Chủ nghĩa tích
cực, mặt khác, chỉ quan tâm đến sự "biết" và
từ chối mọi khả thể của đối tượng tri thức về các
ý nghĩa và mục tiêu của nó...
Trên đây là phần đánh
giá của E.F. Schumacher về các nguyên nhân gây ra khủng hoảng
tâm lý của con người trong các nền văn minh phương Tây. Điều
này cho thấy rằng, sự kiện lấy ý thức tự ngã làm tâm điểm
trong việc giáo dục và phát triển nhân tính của con người
(The personality of human beings) trong các hệ thống tâm lý giáo
dục phương Tây chính là nguyên nhân đưa đến sự tôn vinh
một nền văn minh vật chất, sản sinh ra chủ nghĩa thực
dụng (Pragmatism), xóa nhòa mọi giá trị chân lý và đưa đến
một sự bùng nổ cá nhân mà Maslow, người đầu tiên đưa ra
hệ thống các nhu cầu của con người, bao gồm một hình tháp
năm bậc và bậc cao nhất là "nhu cầu tự khẳng định"
- một tên gọi khác của sự bùng nổ cá nhân. Sự kiện này
lại tiếp diễn ngày càng mạnh và nhất là ở những năm
cuối cùng của thế kỷ 20, đỉnh cao của sự "bùng nổ
cá nhân" được chuyển sang một tên gọi mới là sự
"chiến thắng của cá nhân".
Trong tác phẩm dự đoán
về tương lai của nhân loại của hai nhà tương lai học Mỹ
- John Naisbitt và Patricia Aburdene dưới nhan đề : "Mười
xu hướng mới cho những năm 1990 các xu hướng vĩ mô năm
2000" (Ten New Directions for The 1990’s Megatrends 2000) (69), đã
đề cập đến các vấn đề "chiến thắng của cá nhân",
có thể tóm tắt như sau :
- Chiến thắng của cá
nhân là một chủ đề lớn, đứng thứ 10 trong phần kết
luận về thế kỷ 20.
Tác phẩm cho rằng, cá
nhân là chủ thể sáng tạo các tác phẩm nghệ thuật, khái
quát hóa triết học chính trị và có một sự thể nghiệm
tinh thần siêu việt. Đồng thời, về phương diện vật
chất, chính cá nhân là người trực tiếp bỏ tiền tiết
kiệm vào một đơn vị kinh doanh mới, hỗ trợ cho các đồng
nghiệp hoặc các thành viên trong gia đình để đạt đến thành
công. Cá nhân, do đó, hiện nay là đòn bẩy có hiệu quả cao
hơn so với các thể chế trong sự thay đổi đời sống kinh
tế vật chất một cách năng động, nhẹ nhàng.
- Nguyên tắc đầu tiên
trong trào lưu kỷ nguyên mới (New age) là học thuyết về trách
nhiệm cá nhân. Thực ra đây là khái niệm Karma (Nghiệp) được
phương Tây hóa từ Đông phương ; nghĩa là con người phải
hoàn toàn chịu trách nhiệm về mọi tư duy và hành động
của chính mình. Tuy nhiên, học thuyết về trách nhiệm cá nhân
này không giống với chủ nghĩa cá nhân (individualism), mà là
một thứ triết học đạo đức - nâng cá nhân và trách
nhiệm của cá nhân lên phạm vi toàn cầu (comos). Đó là sự
cùng chịu trách nhiệm về sự bảo vệ môi trường sinh thái,
ngăn ngừa chiến tranh hạt nhân, loại trừ sự đói nghèo v.v...
Sự thành đạt của cá nhân một cách chân chính sẽ đóng góp
thiết thực cho đời sống cộng đồng.
- Đặc điểm của
kỷ nguyên mới là cá nhân hóa và toàn cầu hóa cùng xảy ra
trong một thời điểm - song hành.
- Nghịch lý lớn
nhất của kỷ nguyên mới là càng toàn cầu hóa, thì các cá
nhân lại càng trở nên quan trọng hóa - có sức mạnh lớn hơn.
Vì lẽ, sự thay đổi này được phản ánh trong giới tuyến
Media - Internet toàn cầu. Do đó, sự nghe nhìn và tiếp cận thông
tin kịp thời sẽ tăng cường sức mạnh cho các cá nhân.
- Trong các đoàn thể
như tôn giáo, thể chế chính trị, công đoàn... các cá nhân
có thể lẩn tránh trách nhiệm, nhưng các cá nhân ấy không
thể lẩn trốn chính nó, vì không có chỗ để trốn.
- Công nghệ hiện đại
làm tăng cường sức mạnh của cá nhân. Hiện nay có hơn
một tỷ máy điện thoại tại chỗ để các cá nhân giao
dịch trực tiếp với nhau mà không cần thông qua hệ thống
quốc gia... Quê hương điện tử mới (điện thoại, fax,
computer, viễn thông vệ tinh...) đang tạo lại cảnh quang của
thế giới.
- Thượng đế là khách
hàng - tức là người tiêu dùng, và sản phẩm có giá trị
cao là trí tuệ sáng tạo. Do đó, các ngành khoa học nhân văn
và xã hội đang được phục hưng trên toàn cầu.
- Trách nhiệm mới
của xã hội là đền đáp lại cho các kết quả sáng tạo
của cá nhân một cách thích đáng...
... Trên đây là một
trong mười (từ sau đếm lại) khuynh hướng vĩ mô của năm
2000, đồng thời cũng là những thách thức và khích lệ lớn
lao nhất trong lịch sử văn minh nhân loại.
Từ những trích dẫn
trên, cho thấy rằng ý thức về tự ngã - về cái tôi (I), cái
của tôi (mine), và cái tự ngã của tôi (myself) quả thực là
một ý tưởng, mà dưới đôi mắt tuệ giác vô thượng của
Đức Phật là vô minh. Nó thúc đẩy con người đi từ thách
thức này đến thách thức khác, đi từ thầm kín đến bán công
khai và đến công khai hóa trên mức độ toàn cầu. Tất nhiên
một sự thể bao giờ cũng có hai mặt : tích cực và tiêu
cực. Song trên thực tế, ý thức tự ngã bao giờ cũng đưa
đẩy con người đi vào các bức bách, khổ đau ; trong khi
mục đích của đời sống con người là tìm kiếm hạnh phúc
và chân lý. Nói như thế không có nghĩa là Phật giáo chủ trương
ngồi lại trong sự lãng quên (tọa vọng) theo quan điểm của
Khổng Tử ; mà trái lại nó kêu gọi con người, đánh thức
con người đi ra khỏi cơn mộng mị về một tự ngã sai lầm,
huyễn hoặc, rồi từ đó vươn lên một đời sống minh
triết của thực tại Vô ngã. Đó là đời sống của sự toàn
chân, toàn thiện và toàn mỹ. Và tất nhiên con đường đi đến
thế giới thực tại vô ngã đó không đơn giản như một
sự đánh đổi của đồng tiền, mà nó đòi hỏi ở con người
một sự nỗ lực tự thân cao nhất, một ý thức trách
nhiệm cao nhất và một tinh thần bi-trí-dũng cao nhất. Thực
ra, sự kiện xây dựng một ý thức tự ngã là điều ai cũng
làm được, nếu không muốn nói đó là sự mặc nhiên. Nhưng
để vượt qua ý thức tự ngã và các mâu thuẫn, nhu cầu,
xung lực... nội tại của nó là điều không phải ai cũng làm
được. Và đây cũng là then chốt của sự thiết lập một
đời sống hạnh phúc - an lạc thật sự cho con người. Do đó,
hệ thống tâm lý giáo dục Phật giáo được bắt đầu từ
đây, tức là từ ý thức (consciousness) của mỗi con người.
IV.1.2 Định hướng và
mục tiêu của tâm lý giáo dục Phật giáo
A- Định hướng giáo
dục
Hệ thống giáo dục
Phật giáo là con đường hướng đến sự phát triển toàn
diện của con người qua các mặt của đời sống, đặc
biệt là tâm thức, nhằm kiến tạo một đời sống trí tuệ
và hạnh phúc thật sự ngay tại con người này và cuộc đời
này. Tất nhiên, con đường ấy bao gồm cả hai mặt tâm lý và
vật lý, nhận thức và hành động, lý tưởng và thực tại
v.v... Điều này được Đức Phật xác định rõ qua giáo lý
Trung Đạo (Middle Way) - nghĩa là nếu con người không xa rời
hai cực đoan : hoặc là khổ hạnh ép xác, hoặc là lấy lạc
thú của xác thân làm mục đích của đời người đều rơi
vào khổ đau. Và cái hạnh phúc thoáng qua (fleeting happiness) mà
con người cảm nhận được từ hai cực đoan đó, thực
chất chỉ là ảo ảnh của khát vọng và cuồng si, nó chợt
đến và chợt đi trong nháy mắt ! Do đó, định hướng giáo
dục Phật giáo là con đường giáo dục mà theo cách nói của
E.F. Schumacher : "... đó không phải là con người phải
biết mỗi thứ một ít, cũng không phải là biết rõ chi
tiết của mọi vấn đề ..., mà là người thật sự biết rõ
điểm trung tâm của vấn đề - không mơ hồ, nghi hoặc về
niềm tin cơ bản của mình, về quan điểm của mình, về ý
nghĩa và mục đích của đời sống... bởi sự soi sáng từ
nội tâm" (70). Hoặc, nói theo Plato qua ngòi viết của
Jasper : "...đó là sự trở về căn nhà tâm thức (Eros) -
tức cái Một tối hậu (Absolute Oneness) hay cái Một (Arete) -
toàn thể của chân lý vĩnh cửu ...; và đó là con đường
đưa con người đến một viễn cảnh của sự toàn chân (sophon),
toàn thiện (agathon) và toàn mỹ (kalon)" (71).
Plato (427 - 347 B.C) ra
đời sau Đức Phật (563-483 B.C) khoảng 136 năm trước Tây
lịch (72), là một môn đệ nổi tiếng của Socrates. Theo
Jasper, những gì người ta biết về Socrates là qua Plato. Trong
tỉ dụ về "hang đá" nổi tiếng của ông có thể nói
là rất gần gũi với tư tưởng giáo dục Phật giáo. Sự
thể là như vầy, nhân loại được xem như là những kẻ bị
xiềng xích trong một hang đá tối tăm. Chúng chỉ có thể nhìn
thấy một nguồn sáng mập mờ từ ngọn lửa hồng lập lòe,
thấp thoáng. Cái gì được nhìn thấy ở đây chỉ là những
chiếc bóng đổ trên tường. Trước viễn cảnh của một
thực tại như thế, những kẻ đang bị xiềng xích cứ cho
rằng những chiếc bóng đổ trên tường đá đó là sự
thật, là chân lý. Thế rồi, sau khi được cởi bỏ xiềng xích,
một người vươn vai, đứng dậy và chuyển tầm nhìn... Lúc
bấy giờ cái kinh nghiệm đầu tiên là cái cổ bị đau vì đó
là lần đầu tiên hắn xoay đầu chuyển tầm nhìn về hướng
khác. Và khi nhìn những ngọn lửa hừng sáng thì mắt hắn
bị nhức nhối ; và hắn theo thói quen, bấy giờ chỉ muốn
nhìn lại những chiếc bóng mập mờ ẩn hiện trên tường.
Khi bị đẩy ra khỏi hang, lần đầu tiên đối diện với ánh
sáng của mặt trời, mắt của hắn bị lòa không nhận ra gì
cả. Rồi sau đó, một cách chậm rãi hắn đã nhận ra. Sau
khi nhận thức được sự thật (chân lý), hắn muốn trở
lại hang đá để cứu rỗi bằng hữu của mình. Nhưng trớ
trêu thay, bạn bè của hắn phản đối và đe dọa một cách
kịch liệt nếu hắn dám can thiệp vào "sự thật"
về những chiếc bóng đổ trên tường !
Câu chuyện tỉ dụ
về "hang đá" này cũng tương tự như câu chuyện
"những chàng mù sờ voi" của Đức Phật được ghi
lại trong tàng thư văn học Phật giáo.
Đây là sự thật về
con người và thế giới của con người. Thế giới ấy đang
bị Vô minh (Ignorance) bao phủ, giăng đầy. Và sự thể của
một nền giáo dục đúng nghĩa không còn cách nào khác hơn là
"kéo những sinh linh đang bị xiềng xích ra khỏi hang đá
vô minh", để từ đó mỗi người tự mình nhìn thấy
sự thật (Ehipasiko). Xuất phát từ điểm then chốt trọng
yếu này, con đường giáo dục Phật giáo được Đức Phật
đề bạt dựa trên nguyên tắc của Tứ Thánh Đế (Cattàri-àriya-sacca)
- tức là mỗi người hãy tự nhận biết một cách rõ ràng :
"Sự thật về khổ đau, sự thật về nguyên nhân của
khổ đau, sự thật về sự tận diệt khổ đau, và sự thật
về con đường đưa đến sự tận diệt khổ đau", tức
Niết bàn - an lạc, giải thoát. Đây là định hướng giáo
dục Phật giáo.
B- Mục tiêu giáo dục
Định hướng giáo
dục Phật giáo là con đường đi ra khỏi khổ đau (Dukkha) và
mục tiêu hướng đến là Niết bàn (Nirvana). Ở đây, Niết bàn
không có nghĩa là an nghỉ nghìn thu trong sự vĩnh tịch ở
một trú xứ cô liêu vĩnh hằng xa xôi nào đó; mà, Niết bàn
là sự đạt đến Tuệ giác bình đẳng vĩ đại (Nirvikalpajnàna)
cho dù ngay khi còn sống hay là chết. Mọi sự giải thích nào
khác ngoài ý nghĩa này về Niết bàn đều rơi vào phiến
diện, sai lầm. Tất nhiên, nói như thế không có nghĩa là
phủ nhận mọi quan điểm giải minh và phân loại Niết bàn
như của Thanh Văn và Phật, nhưng nội dung chính của Niết bàn
là như thế. Và chính Đức Phật là người đầu tiên trong
lịch sử nhân loại đã mở ra cánh cửa "bất tử"
(Nirvana) này ; và cũng từ đó, vô lượng pháp môn, phương
tiện... được Đức Phật đề xuất, giới thiệu để qua đó
con người có thể đạt đến Niết bàn. Tuy nhiên ở đây, chúng
ta chỉ khảo sát về con đường đi vào Niết bàn - qua góc độ
tâm lý giáo dục (Educational psychology) như được trình bày
trong triết học Duy thức. Đó là sự mở đầu từ Tàng
thức và sự kết thúc cũng là Tàng thức. Như vậy, Tàng
thức chính là hai mặt của Niết bàn thực tại. Vì rằng,
trong Tàng thức dung chứa cả các hạt nhân (hetu) ô nhiễm và
thanh tịnh, và mục tiêu của phương pháp tâm lý giáo dục
Phật giáo là làm cho các hạt nhân ô nhiễm, bất thiện trong
Tàng thức tan biến, diệt tận, trả lại bản tính thanh
tịnh vô nhiễm cho Tàng thức, mà thuật ngữ gọi là Bạch
tịnh thức hay Vô cấu thức (Amalavijnàna). Đây là ý nghĩa
"lìa sanh tử không có Niết bàn, muốn đến Niết bàn
phải đi vào sanh tử ; vì Niết bàn và sanh tử không hai, không
khác". (73)
Mặt khác, trên bình
diện chuyên môn, mục tiêu của hệ thống tâm lý giáo dục
trong triết học Duy thức (Vijnana hay Vijnapti) là hướng đến
một sự chuyển y (Asrayaparàvrtti hay Paràvrtti) - tức là thay
đổi toàn bộ nền tảng cơ cấu nội tại của tâm thức
(Transformation at the base), phóng thích các hạt giống năng huân
(subject) và sở huân (object) trong tiến trình vận hành của tâm
(citta) và tâm sở (cetasika). Hay nói một cách cụ thể là
giải trừ các hạt giống tạp niệm trôi lăn trong diễn
biến tâm lý của chủ thể nhận thức và đối tượng được
nhận thức. Vì thế, hệ thống tâm lý giáo dục Phật giáo
không những chỉ tập trung khảo sát các hiện tượng tâm lý
như : vui, buồn, khổ, lạc... mà còn đi vào nắm bắt cái
bản chất của các hiện tượng tâm lý - tức những hạt
giống (seeds), tập khí (energy of the past and the present habit) và
gene nghiệp hay còn gọi là Nghiệp thức, Kiết sanh thức (Gandhabha)
cũng gọi là hương ấm v.v... - đó là các động cơ chính gây
nên sự bất an, rối loạn và khủng hoảng tâm lý. Do đó, thành
tựu một sự chuyển y trong tâm thức là mục tiêu tối hậu
- Niết bàn giải thoát - của các giải pháp được đề ra
bởi triết học Duy thức.
IV.1.3 Cơ sở và đối
tượng của tâm lý giáo dục Phật giáo
Trong các hệ thống
Phật học (Buddhist studies) nói chung đều lấy con người làm
tâm. Nhưng con người ấy được xem là con người - vô ngã, là
đối tượng có thể uốn nắn, chuyển hóa và vươn đến đỉnh
cao của chân, thiện, mỹ chứ không phải là con người xuất
hiện như một thực thể độc lập (separate entity). Tương
tự như thế, ngành tâm lý giáo dục Phật giáo (Buddhist
educational psychology) tập trung vào con người toàn diện (whole
man) tức con người với đầy đủ mọi đức tính (virtue),
phẩm chất (quality), tánh hạnh (behaviour), tâm thức (mind), ý
thức (consciousness), tình cảm (sentiment) v.v... Hay nói khác hơn
đó là con người của năm uẩn (sắc, thọ, tưởng, hành,
thức).
Tuy nhiên, về mặt
chuyên môn, ngành tâm lý giáo dục Phật giáo tập chú vào
hệ thống tám thức (Tàng thức, Mạt na thức, ý thức và năm
thức giác quan - mắt, tai, mũi, lưỡi, thân) và xem đó như là
cơ sở để khảo sát, nghiên cứu và ứng dụng tu tập (bao
gồm cả dạy, học, và thực hành). Ở đây, tuy nhiên, đối
tượng chính của sự có thể uốn nắn, giáo dục và có
thể chủ đạo trong việc tạo ra một Paràvrtti (chuyển y)
trong toàn bộ cơ cấu của tâm thức (mental formation) là ý
thức (manovijnàna), tức thức thứ sáu trong hệ thống tám
thức. Và do đó, ý thức là đối tượng chính của tâm lý
giáo dục Phật giáo. Vì lẽ, như đã trình bày trong phần Đại
cương về 30 bài tụng Duy thức (Phần III), thức thứ tám - Tàng
thức, tánh khí của nó là vô phú và vô kí, không có thẩm
định, phân biệt, lo nghĩ (tư lượng), mà nó luôn luôn trôi
chảy như một dòng sông (hằng chuyển như bộc lưu) với các
chức năng hoạt động chính là cất chứa, duy trì tất cả
hạt giống trong chiều sâu tâm thức - (Tàng thức). Còn tánh
khí của Mạt na thức - tức thức thứ bảy là hữu phú (bị
che đậy bởi sự chấp thủ về tự ngã : ngã si, ngã mạn,
ngã biến và ngã ái), nhưng vô ký (không chủ động); nó hoàn
toàn tùy thuộc vào Tàng thức. Đặc trưng của thức này là
tư lượng (reflecting), vừa thẩm (reflecting) lại vừa hằng
(always) - tức là luôn luôn lo nghĩ, suy tư, thẩm sát... (always
reflecting). Chức năng của thức này là nền tảng cho sự ô
nhiễm hay thanh tịnh của ý thức và năm thức giác quan, gọi
là nhiễm-tịnh Y. Y (asraya) là chỗ dựa, là cơ sở. Thức
thứ bảy được phát sinh từ Tàng thức và làm nền tảng
cho ý thức và năm thức giác quan. Nói theo ngôn ngữ của tâm
lý học hiện đại, thức thứ bảy là cơ chế của bản năng
dục vọng - hay bản năng sinh tồn của con người, cũng gọi
là cơ chế tự tồn (mécanisme de autopreservation).
Riêng đối với ý
thức - tức thức thứ sáu, nó nương vào cơ sở của Mạt na
(ý căn) và các pháp trần làm đối tượng mà được phát
sinh. Đặc tính của ý thức là nó có đầy đủ ba tính (thiện,
ác và vô ký - tức không thiện không ác) ; nó có đầy đủ
cả ba lượng (hình thái của nhận thức) : Hiện lượng (
trực giác hay trực kiến), Tỷ lượng (suy luận, phán đoán),
và Phi lượng (các phán đoán sai lầm) ; nó có đầy đủ ba
cảnh ; Tánh cảnh (thực tại), Độc ảnh cảnh (ảnh tượng
trong ý thức), và Đới chất cảnh (ảnh tượng về thực
tại) ... Do ý thức có phạm vi hoạt động bao quát, chủ đạo
trong các hình thái của nhận thức... và liên hệ năng động
trực tiếp đến năm thức giác quan, cũng như khả năng tạo
tác của nó v.v... nên ý thức trở thành đối tượng quan
trọng nhất của tâm lý giáo dục Phật giáo. Vả lại, chúng
ta thấy rằng mặc dù Tàng thức và Mạt na thức là hai đối
tượng rất quan trọng của ý thức, nó vừa là cái nền
tảng trực tiếp (Mạt na thức) của ý thức, vừa là nền
tảng bao quát (Tàng thức) của ý thức. Song, do tính khí độc
đặc của nó là vô kí, nên nó đóng vai thụ động (hoạt động
lặng lẽ), như đất rừng để cho muôn ngàn chủng loại
thảo dược, cây cối phát sinh. Ngược lại tính chất của
ý thức, như đã đề cập, thông cả ba tính (thiện ác, và vô
kí), nó đóng vai năng động - tích cực. Và do đó, ý thức
mang tính chất trội (dominant) nếu so với Tàng thức và Mạt
na thức. Đây là các lý do tại sao ngành tâm lý học Phật giáo
và Phật học nói chung đều chú trọng đến ý thức. Đức
Phật, trong kinh Pháp Cú, dạy rằng : "Ý dẫn đầu các pháp,
ý làm chủ tạo tác, đối với ý nhiễm ô, nói năng hay hành
động, khổ não bước theo sau, như bánh xe theo chân con vật kéo...
Đối với ý thanh tịnh, an lạc bước theo sau, như bóng không
rời hình". (Phẩm Song yếu).
Tuy nhiên, ở đây có
một điều cần ghi nhận rằng, Tàng thức được xem như là
bản thể của nước ; Mạt na thức, ý thức và năm thức giác
quan là sóng - tức biểu hiện của nước. Về mặt hiện tượng,
tám thức được phân loại theo từng chức năng, hoạt động;
nhưng về mặt bản thể, bảy chuyển thức (Mạt na thức, ý
thức và năm thức giác quan) đều là biến của Tàng thức.
Do đó, hệ thống tám thức được xem như là một tổng thể;
trong ý thức có Tàng thức, trong Mạt na thức cũng có Tàng
thức và trong cả năm thức giác quan đều có Tàng thức. Đây
là hiện hữu của một tổng thể bất khả phân ly. Từ đây,
hệ thống tâm lý giáo dục Phật giáo sẽ khởi hành từ ý
thức (Manovijnàna).
---o0o---
|
Mục lục | Xem
tiếp |
---o0o---
| Thư mục Tác Giả |
----o0o----
Chân thành cảm ơn Đại Đức
Tâm Thiện đã gởi tặng phiên bản điện tử tập sách này.
(Trang nhà Quảng Đức, 02/2002)