Tâm Lý Học
PHẬT GIÁO
Thích Tâm Thiện
Sàigòn, PL: 2542 -1998
---o0o---
PHẦN
III
Giảng
luận tâm lý học
Phật giáo qua 30 bài tụng
Duy Thức
III.1. Chương 1:
Tâm lý học Phật giáo
qua nội dung 30 bài tụng Duy thức của Vasubandhu.
III.1.1 Định nghĩa
về Duy thức và hệ thống 8 thức
A- Duy thức
Duy thức, tiếng Phạn
gọi là Vijnana hoặc là Vijnapti. Tiếp đầu ngữ Vi có nghĩa là
phân biệt, nhận thức, phần chính được dịch là thức.
Vijnapti được dịch là thức, có khi được dịch là biểu
biệt, tức biểu thị hay hiển thị sự phân biệt. Tiếng Anh
dịch từ thức hay biểu biệt là : manifestations, perceptions...
Trong các tác phẩm Duy thức của ngài Huyền Trang thì từ
Vijnana hay Vijnapti đều được dịch là thức.
Như vậy ý nghĩa của
thức (Vijnana hay Vijnapti) là sự biểu hiện phân biệt các
hiện tượng thuộc thế giới của tâm lý và vật lý. Từ đây,
khái niệm biểu biệt (manifestation) được chia thành hai loại
:
1/ Biểu sắc (Vijnapti
- rùpa), và
2/ Vô biểu sắc (Avijnapti
- rùpa)
- Biểu sắc là sự đã
hiển thị phân biệt như màu sắc, hình thái. Tỉ dụ như khi
vui vẻ thì sắc mặt tươi tỉnh và tràn đầy sức mạnh.
Sức mạnh là năng lực có thể tác động vào làm chuyển động
đối tượng khác ; và, vô biểu sắc như khi đẩy xe, sức
mạnh đẩy cái xe chạy là năng lượng, năng lượng đó không
hiển thị nên gọi là vô biểu sắc. Tuy nhiên, năng lượng
khi được biểu thị thì gọi là biểu sắc. (Năng lượng cũng
là một loại sắc). Và ngược lại, khi năng lượng còn
tiềm tàng trong con người, chưa được biểu thị ra ngoài thì
gọi là vô biểu sắc. Do đó, thức không đơn giản chỉ
thuộc về tâm lý mà nó còn được xem như là một loại
sắc (mental energy).
Duy (only, mere) có nghĩa
là chỉ. Vijnanavada hay Vijnanamatra có nghĩa là Duy thức, hay nói
đầy đủ là : "Chỉ có thức - biểu hiện". Như
thế, sự biểu hiện của thức bao giờ cũng đầy đủ cả
hai phần : chủ thể nhận thức và đối tượng được nhận
thức.
Và những gì biểu
hiện từ hai góc độ đó (chủ thể và đối tượng của
nhận thức) đều được gọi là Duy thức. (Thị chư thức
chuyển biến ; phân biệt, sở phân biệt ; do bỉ, thử giai vô
; cố nhất thiết Duy thức) - Consciousness manifest itself in two
parts : the knower and the known)
Như thế, biểu hiện
của thức là thế giới sơn hà đại địa, sum la vạn tượng
mà con người nhận biết. Cụ thể hơn là tất cả những
hoạt động trong đời sống của con người như : thị trường,
siêu thị, ngân hàng, các tổ chức xã hội v.v... Sự liên
hệ chặt chẽ giữa con người và thế giới cũng như giữa
chủ thể và khách thể tựa hồ như khi ta đứng nhìn đỉnh
Lanbiang, ta đang mất hút trong nó và nó đang hiển thị và phô
trần trong ta. Mối quan hệ bất khả phân ly đó giữa chủ
thể tri giác và đối tượng được tri giác được gọi là
Duy thức, tức là "chỉ có thức biểu biệt", chứ không
phải là chỉ có tâm thức mà không có thế giới thực tại
khách quan. Do đó, chữ Duy cần được hiểu là sự biểu
hiện, biểu biệt của tâm thức và nếu thiếu vắng nó (tức
tâm thức) thì tất cả đối tượng của nó (Pháp) đều không
có mặt.
B- Hệ thống tám
thức
Nội dung của Duy
thức học nói chung và 30 bài tụng Duy thức nói riêng đều
tập trung soi sáng hệ thống tám thức căn bản - tiến trình
sinh khởi và hoàn diệt của các hiện tượng tâm lý. Hệ
thống này như một tổng thể được phân chia thành tám
loại quan năng. Ở đây, tất nhiên, không có sự tách biệt,
riêng lẻ đối với tám thức căn bản này. Một thức có
mặt là toàn bộ tổng thể của tâm thức có mặt. Hệ
thống tám thức được phân tích theo thứ tự như sau :
8/ A-lại-da thức (Àlayavijnàna)
7/ Mạt-na thức (Manas)
6/ Ý thức (Manovijnàna)
5/ Nhãn thức [mắt]
4/ Nhĩ thức [tai]
3/ Tỷ thức [mũi] 5
thức cảm
2/ Thiệt thức [lưỡi]
giác (the sene-
1/ Thân thức [cơ thể]
organ - indriya).
Trên đây là nội dung
của tám thức căn bản. Giờ đây chúng ta đi vào phân tích cơ
sở tâm lý học qua tám thức trong Duy thức học Phật giáo.
III.1.2 TÀNG THỨC ALAYA
A- Khái niệm chung về
Tàng thức
Tụng ngôn viết rằng
:
[01]
"Do giả lập nên
nói có Ngã và Pháp [chủ thể và đối tượng], có tất cả
sự vật hiện tượng, [nhưng] tất cả Ngã và Pháp đó đều
nương vào Thức mà sinh ra ; [bản chất] của thức - năng
biến có ba [đặc tính]".
[02]
"[Đó là] : Dị
thục và Tư lương, cùng với Liễu biệt cảnh. Trước hết là
thức A-lại-da, cũng gọi là Dị thục hay Nhất thiết chủng".
Tiền đề của Duy
thức học được xác định ngay bài tụng thứ nhất [01].
Tất cả các pháp (hiện tượng sự vật) là không thật có
tự tính (vô tự tánh). Do đó, khi nói về Ngã (chủ thể) và
Pháp (đối tượng) chỉ là sự giả định của tâm thức.
Tỉ dụ như : như thế này thì gọi là cái bàn ; như thế kia
thì gọi là cái ghế. Sự giả định như thế đối với
tất cả hiện tượng sự vật (tâm lý cũng như vật lý) luôn
luôn tùy thuộc vào sự trôi chảy năng động của tâm thức
(gọi là thức - năng biến). Từ đó, tâm thức được chia thành
ba loại cụ thể theo các tác năng cụ thể như được trình
bày ở bài tụng số [02]. Ba đặc tính của thức được phân
chia theo tác năng cụ thể bao gồm :
1- Dị thục (Vipàka)
chỉ cho Tàng thức Alaya (thức thứ 8)
2- Tư lượng (Manana)
chỉ cho thức Mạt na (thức thứ 7)
3- Liễu biệt cảnh (Vijnapti)
chỉ cho 5 thức cảm giác
Ở đây, chúng ta trước
hết khảo sát về Dị thục thức.
Dị thục thức (Vipàkavijnàna),
như được nói rõ trong bài tụng số [02], còn được gọi là
Tàng thức (Àlayavijnàna) và Nhất thiết chủng thức (Sarvabijaka).
Các danh từ này không phải là đồng nghĩa mà mỗi danh từ có
một ý nghĩa khác nhau, nhằm giải minh các tính năng của
thức thứ tám.
* Tàng thức (Àlayavijnàna)
: chữ tàng (storehouse) nghĩa là kho tàng, có chức năng dung
chứa (storing) tất cả chủng tử (bijas) tức là hạt giống tâm
thức (seeds of mind). Tàng thức, do đó, được ví như là nền
tảng của tâm thức, là đất để tâm phát triển. Vì thế,
Tàng thức được xem như là tự tướng - hay thể của tâm.
Ở đây, nó có ba tính chất :
1- Năng tàng : là chủ
thể dung chứa
2- Sở tàng : là đối
tượng được dung chứa hay của sự dung chứa
3- Ngã ái chấp tàng :
bị ngộ nhận là ngã tính vĩnh hằng.
Như thế, tâm được
nhận thức luôn luôn bao gồm hai phần, đó là chủ thể
nhận thức và đối tượng được nhận thức. Tỉ dụ, giám
đốc viện bảo tàng là chủ thể cất giữ và bảo trì các
hiện vật, gọi là Năng tàng ; các hiện vật được cất
giữ và bảo trì bởi ông giám đốc viện bảo tàng gọi là
Sở tàng. Như vậy, Năng tàng là chủ thể cất giữ và bảo
trì, Sở tàng là đối tượng được cất giữ và bảo trì.
Tại đây, tác dụng đầu tiên của tâm là tàng (storing) -
cất giữ và bảo trì. Và khi nói đến tàng thì phải nói đến
Năng tàng (chủ thể) và Sở tàng (đối tượng). Tác dụng
thứ hai của tâm là [bị] "Ngã ái chấp tàng" - tức
là bị thức thứ bảy (Manas) chấp làm ngã tính : cái tôi, cái
của tôi, cái tự ngã của tôi ... Tác năng thứ nhất của tâm,
như vừa trình bày, mang tính cách năng động. Và tác năng
thứ hai này (Ngã ái chấp tàng) mang tính chất bị động,
tức là bị thiên chấp bởi một thức khác, đó là Mạt na
thức. Tại sao Tàng thức là đối tượng bị chấp như là ngã
thể (The object of attachment as a self) sẽ được giải thích ở
phần trình bày về thức Mạt na.
* Nhất thiết chủng
thức (Sarvabijaka)
Một tính năng khác
của tâm là Nhất thiết chủng. Sarva là tất cả (Nhất
thiết), Bija là hạt giống (chủng). Nghĩa là tính năng của Tàng
thức có thể dung chứa tất cả hạt giống (chủng tử)
thiện, ác trong tâm thức.
Thông thường mọi
hiện tượng diễn biến trong thế giới thực tại khách quan
cũng như trong tâm thức luôn luôn được sinh khởi từ các
hạt giống (ý niệm) tiềm tàng trong tâm thức. Tại đó, khi
các hạt giống đang ngủ yên trong Tàng thức thì gọi là nhân,
và sự hiện khởi của nó được gọi là quả. Tỉ dụ,
trong tâm thức chúng ta có đầy đủ các hạt giống thiện và
bất thiện, khi nào gặp thuận duyên là nó hiện khởi (hiện
hành). Như sự sân hận luôn luôn sẵn có trong ta, khi gặp
thuận duyên (như bị ai mắng chửi, đánh đập...)thì hạt
giống sân hận đó sẽ biến hiện. Cũng như hoa cam và trái
cam dầu chưa xuất hiện, nhưng mầm mống của hoa và trái cam
có sẵn trong cây cam. Sự kiện này được gọi là Căn bản
thức. Trong luận thư của Nhất Thiết Hữu Bộ cũng có đề
cập đến Căn bản thức (Mulavijnàna) ; và Đồng Diệp Bộ (Tamrasatiya)
thì gọi là Hữu phần thức (Bhavangasota) - nghĩa là các hạt
giống tâm thức như biểu hiện của sóng-nước luôn luôn
hiện hữu trong dòng nước.
Về khái niệm Căn
bản thức, nghĩa là thức cơ bản, như hạt giống sản sinh
ra mọi hiện tượng sự vật như : vui, buồn, mê, ngộ, sinh
tử, Niết bàn, thân, tâm, thế gian, giới, địa v.v... Ở đây
nên chú ý rằng, theo quan điểm của Duy thức, thì thân thể
của con người cũng được nhận diện hay phát sinh từ trong
tâm thức, vì tâm ở đây được hiểu là Nhất thiết chủng
thức.
* Dị thục thức (Vipàkavijnàna)
Dị thục (Vipàka) có
nghĩa là sự chín muồi của nghiệp quả hay sự kết tinh
"khí chất" của mỗi con người; nói đến Dị thục
là nói đến tính năng tương quan nhân quả của dòng tâm
thức. Dị thục được chia thành ba loại :
1/ Dị thời nhi thục
: Thời điểm chín muồi của quả khác với thời điểm gieo
nhân.
Tỉ dụ : trái cam,
thời điểm sinh ra và thời điểm chín muồi là khác nhau.
2/ Dị loại nhi thục
: khi chín muồi thì đã biến chất
Tỉ dụ : trái cam khi
mới sinh ra thì chua, đến khi chín vàng thì ngọt.
3/ Biến dị nhi thục
: khi chín muồi thì đã biến thái (biến tướng).
Tỉ dụ : trái cam lúc
nhỏ thì màu xanh, đến khi chín muồi thì ngả sang màu vàng.
Ở đây, sự phân
biệt khái niệm "Dị thục" cốt là để soi sáng cái
bản chất vô ký (không thể xác định là thiện ác) hay bất
định của Tàng thức, tức là Dị thục thức. Như thế, sự
biện biệt về các danh từ Tàng thức, Nhất thiết chủng
thức và Dị thục thức là nhằm giải minh các tính năng cơ
bản của tâm thức (thức thứ tám).
B- Các đặc tính của
Tàng thức
Tụng ngôn viết rằng
:
[03]
"[Đặc tính của
nó là] bất khả tri : chấp thủ và duy trì, [nhưng] trong sự
biểu biệt các xứ [ các quan năng của căn thân] nó thường
biểu hiện cùng với xúc, tác ý, thọ, tưởng và tư ; [và
trong các thọ] nó chỉ tương ưng với xả thọ".
[04]
"Thức này và các
tâm sở của nó là vô phú và vô ký, [nó] trôi chảy như dòng
sông, [khi đạt đến] quả vị A La Hán [thì tất cả] đều
buông xả".
Như vừa được trình
bày ở hai bài tụng [03 và 04], tính chất của Tàng thức có
những điều không thể biết được (bất khả tri) so với
tri giác thường nghiệm của con người, đó là :
1/ Sự cất giữ và
duy trì các chủng tử của căn thân (thân thể) và khí thế
gian (thế giới thực tại khách quan), làm cho nó không biến
mất và chờ nhân duyên để hiện hành.
2/ Tính chất năng động
(năng duyên - thuộc chủ thể, lối dịch cũ là kiến phần)
của Tàng thức vô cùng nhiệm mầu và tinh tế.
Do đó, đặc tính
của Tàng thức bao gồm hai tính chất ; một là năng động -
tức là chủ thể cất giữ và duy trì các chủng tử của thân
thể và thế giới thực tại khách quan, lối dịch cũ là
kiến phần - tức chủ thể ; hai là bị động - tức là đối
tượng (chủng tử của thân thể và thế giới thực tại khách
quan) được cất giữ và duy trì bởi chủ thể (subject), lối
dịch cũ là tướng phần - tức đối tượng.
Tuy nhiên, trong sự
biểu biệt (phân biệt) các xứ (Àyatana) - nghĩa là căn thân
và thế giới thực tại khách quan - nó thường biểu hiện cùng
với các tâm sở (Cetasika), tức là tác dụng của tâm, bao
gồm năm loại cơ bản : Xúc (Sparsa), tác ý (Manaskara), thọ (Vedana),
tưởng (Samjna) và tư (Cetana).
Trước hết, về khái
niệm tâm sở (Cetasika), đó là tác năng hoạt động (tác
dụng) của tâm. Tỉ dụ tâm sở như những ngọn/làn sóng ba
đào phát sinh từ nước ; hay cây cối, núi rừng phát sinh
từ đất. Tâm sở là những thuộc tính sở hữu của tâm (Citta).
Có 51 loại tâm sở, nhưng ở đây chúng ta chỉ đề cập đến
năm tâm sở (xúc, tác ý, thọ, tưởng và tư) ; năm tâm sở này
là các hiện tượng tâm lý (mental formations) hiện hành cùng
với hệ thống tám thức một cách phổ quát (universally
operating), bao gồm cả trong Tàng thức, Mạt na thức, ý thức
và năm thức giác quan (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân thể).
1/ Xúc (Sparsa)
: là sự cảm xúc, xúc chạm, hay giao tiếp giữa thế giới tâm
lý và vật lý, giữa thân thể (con người) và cảnh vật (thế
giới tự nhiên), hay giữa tâm và tâm. Tỉ dụ : sự tri giác
về một sự thể nào đó, như một cành hoa chẳng hạn, chỉ
có mặt khi xuất hiện sự giao tiếp và tiếp biến giữa con
mắt và cành hoa ; cũng như khi tâm thức con người tiếp xúc
với nỗi buồn hay niềm vui của tâm thức chính nó v.v... Sự
giao tiếp giữa các căn (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân thể, ý
thức) và trần (sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp) là cơ sở
để hình thành tri giác (sự hiểu biết, phân biệt hay liễu
biệt và biểu biệt) của tâm thức như : mắt-thấy, tai-nghe,
mũi-ngửi, lưỡi-nếm, thân-cảm xúc, ý-suy tư.
2/ Tác ý (Manaskara)
: là sự tập trung (Manas) hay chú ý về một đối tượng nào
đó. Tỉ dụ : như khi cưỡi ngựa xem hoa, giữa một rừng hoa
mênh mông bỗng dưng ta dừng lại và để ý một cành hoa thơ
dại nào đó. Như thế, sự hiện khởi ý niệm về một đối
tượng nào đó gọi là tác ý.
3/ Thọ (Vedana)
: là sự cảm thọ các hiện tượng như vui, buồn và trung tính
(không vui, không buồn). Cảm thọ có ba loại cơ bản :
- Khổ thọ : cảm
thọ bất an, khổ đau...
- Lạc thọ : cảm
thọ an lạc, hạnh phúc...
- Xả thọ : cảm thọ
trung tính không bị chi phối bởi vui, buồn, khổ, lạc...
Thọ (feeling) là thức
ăn để nuôi sống tâm thức đối với con người. Cảm thọ
như là một dòng sông trôi chảy tương tục trong đời người,
nó không hề dừng nghỉ. Do đó, con đường giải thoát chính
là sự thoát ly mọi nô lệ của con người về các sự cảm
thọ của tâm thức vô minh.
4/ Tưởng (Samjna)
: là ấn tượng hay tưởng tượng của tri giác chớ không
phải là tư tưởng. Tỉ dụ, sau khi nhìn thấy một cành hoa nào
đó, người nhìn tưởng tượng và nghĩ ngợi về nhan sắc và
tính chất của cành hoa đó. Tưởng là một trong những tác
dụng chính của tâm thức ; tuy nhiên, giữa tưởng và thực
tại thì hoàn toàn khác biệt. Một tri giác (a cognition, a
perception) về một sự thể nào đó, nghĩa là, tri giác đó
chỉ phảng phất hay là ảnh tượng của thực tại. Giữa tri
giác và thế giới thực tại là một khoảng cách xa vời ; do
đó, không thể dùng tri giác hay ấn tượng của tri giác để
lĩnh hội thực tại. Vì thế những sự nhận thức, tri giác,
hiểu biết v.v... về một sự thể hay hiện tượng nào đó
đều được gọi là tưởng. Và theo quan điểm của Duy thức
nói riêng hay Phật giáo nói chung, phần lớn tri giác (tưởng)
thường nghiệm của con người là sai lầm (58). Và nữa, cần
ghi nhận rằng, ngoài thế giới tri giác và tư tưởng của
con người còn có các thế giới như Trời Vô tưởng (Asannasatta),
Phi tưởng và các cảnh giới thiền định bậc cao Diệt thọ
tưởng định (Nirodha - samàpatti - State of meditation of
annihilation).
5/ Tư (Cetana)
: Tư không phải là tư duy theo quan niệm tầm (Vitaka) và tư
(Viccara) trong thiền quán, mà tư (Cetana) ở đây là một động
lực tâm lý đưa đến một quyết định (volition). Nói theo ngôn
ngữ của Nghiệp (Karma), tư chính là hành động tác ý
(volitional action), và tất nhiên nó là nghiệp. Có thể nói,
Thọ - Tưởng là đại dương mênh mông, và Tư-sở-tác
(Cetana) là sóng gió ba đào. Sóng nước "thọ-tưởng-tư"
vừa là năng tàng (chủ thể) vừa là sở tàng (đối tượng),
lại vừa là kiến phần (tác năng của chủ thể nhận
thức), vừa là tướng phần (diệu dụng của đối tượng
được nhận thức). Do đó, xúc, tác ý, thọ, tưởng và tư là
năm tâm hành vốn là biểu hiện của thức (Vijnàna). Tâm hành
là sóng, tâm vương là nước; sóng cũng là nước và nước cũng
là sóng. Sự tương tác (một là hai, hai là một) này là
biểu hiện của các hiện tượng tâm lý của cả tâm (Citta),
ý (Manas) và thức (Vijnàna).
Các danh từ như Duy tâm
(Citta matra), Duy thức (Vijnànavada) và Duy biểu (Vijnaptimatra)
trong luận thư và kinh tạng đều có nghĩa tương tự như
vậy.
Như thế, thức thứ tám
này tương ưng với 5 tâm sở biến hành (Universal mental
factors), và sự biểu hiện của nó rất tinh tế, không hiển
thị sự khổ và vui, do đó nó chỉ tương ưng với xả thọ.
Bài tụng [04] nói
tiếp rằng ; tính chất của Tàng thức và các tâm sở của nó
là vô phú (Anivrta) - tức không bị vây bủa, ngăn che - và vô
ký (Àvyàkrta) - tức không bị chi phối bởi thiện hay ác
(being neither good nor bad); tiếng Anh gọi là non-defiled (vô phú)
và non-defined (vô ký). Sự hiện hữu của nó trôi chảy như dòng
sông (hằng chuyển như bộc lưu), không thể nói là thường
hằng hay đoạn diệt. Cho đến khi nào thăng chứng A La Hán
vị thì tất cả đều tan biến, buông xả. Tuy nhiên, ở đây
chỉ xả bỏ cái danh tự Alaya, nghĩa là từ vọng thức
chuyển thành thánh trí, ở đó là thể tính thanh tịnh thường
trú của Alaya nhưng không phải là biến hiện của Alaya ở
mặt hiện tượng, và cũng không khác với Alaya ở mặt tự
thể. Đây là ý nghĩa của tư tưởng "Phật pháp tức phi
Phật pháp thị danh Phật pháp" trong kinh tạng và luận thư
Đại thừa.
C- Các mối quan hệ
của Tàng thức
Như đã trình bày,
một nhận thức bao giờ cũng được nhận diện khi có sự
giao tiếp giữa chủ thể nhận thức, và đối tượng nhận
thức và biểu hiện ra một hệ quả của nhận thức đó. Vì
thế trong Tàng thức, đặc biệt là ở khái niệm Nhất
thiết chủng thức, (tất cả hạt giống trong Tàng thức) đã
nói lên các mối quan hệ cơ bản như : khổ-vui, mê-ngộ, phàm-thánh,
chung-riêng, v.v... Do đó, ở đây chúng ta cần xét đến một
số quan hệ cơ bản trong diễn tiến của Tàng thức.
Trong Mahàyàna -
Satadharma - Vidyàdvara - Sàstra (Đại thừa Bách pháp minh môn
luận), ngài Vasubandhu đề cập đến những quan hệ của Tàng
thức như sau :
1/ Tàng thức và ba
cảnh
Ba cảnh là :
Tánh cảnh (The realm of things in themselves), Đới chất cảnh
(The realm of representations) và Độc ảnh cảnh (The realm of mere
images). Ba cảnh này là đối tượng của nhận thức (Visaya) cũng
gọi là tướng phần (Nimittahaga) hay sở duyên (Alambhaga). Nói
theo triết học phương Tây, ba cảnh là đối tượng (Object)
của chủ thể (Subject) nhận thức.
a) Tánh cảnh : là tự
thân của thế giới thực tại khách quan, cái mà Kant gọi là
"ding un sick" (La chose en soi, hay Thing in itself) và J.P.
Sartre gọi là "être en soi" - hiện hữu chính nó. Tánh
là bản chất, cảnh là đối tượng ; như vậy Tánh cảnh có
nghĩa là bản chất của đối tượng hay bản chất của thế
giới thực tại khách quan. Ở đây, chúng ta không thể đạt
đến hay lãnh hội được bản chất của thực tại khách
quan. Tỉ dụ, tự thân của đỉnh Lanbiang thì hoàn toàn khác
với cái tri giác của chúng ta về nó. Đỉnh Lanbiang trong
thực tại và trong tri giác không thể giống nhau vì bản thân
tri giác của con người thường bị méo mó và rất sai lầm.
Do đó, tri giác thường nghiệm của con người không thể đạt
đến Tánh cảnh (The realm of things in themselves).
b) Đới chất cảnh
: là ảnh tượng được nương gá vào và hiện sinh bởi Tánh
cảnh. Có thể nói hình ảnh về một thực tại nào đó trong
tri giác của ta là Đới chất cảnh (cảnh được mang theo,
được phản ánh từ thực tại). Tỉ dụ, khi ta thương ghét
một mẫu người nào đó, thì hình ảnh của mẫu người đó
là hình ảnh được sáng tạo bởi tâm thức chứ không phải
là hình ảnh của người đó trong thực tại. Có thể người
mình ghét trong thực tại thì rất dễ thương và ngược lại
v.v...; do đó, con đường thiền quán trong Phật giáo chính là
con đường buông bỏ mọi Đới chất cảnh (ảo ảnh) để
thể nhập vào Tánh cảnh (thực tại) của tự thân và thế
giới. Dưới ánh sáng của Duy thức học, sự sống của con
người hầu như là sống với Đới chất cảnh nhiều hơn là
với Tánh cảnh ; và đây là nguyên nhân tác thành khổ đau,
dục vọng...
c) Độc ảnh cảnh
: là thế giới ảnh tượng chỉ có trong tâm thức chứ không
có trong thực tại ; đó là hình ảnh của ý thức trong
mộng, một biểu hiện của Tàng thức Alaya. Ở đây cần ghi
nhận rằng cái mà chúng ta gọi là Phật trong tâm và cho
rằng mình đã từng sống với Phật v.v... thực chất đó
chỉ là Phật của Đới chất cảnh và Độc ảnh cảnh. Và
chỉ khi nào con người thật sự giác ngộ mới có thể đạt
đến Phật trong Tánh cảnh, tức là Phật tánh. Tuy nhiên, cả
Đới chất cảnh và Độc ảnh cảnh đều là những hình
ảnh vay mượn hay được sinh khởi từ Tánh cảnh. Cả ba
cảnh này đều là biểu hiện của Tàng thức Alaya.
Do đó, trong quan hệ
giữa Tàng thức và ba cảnh, thì Tàng thức chỉ quan hệ hay
duyên với Tánh cảnh.
2/ Tàng thức và ba tánh
Ba tánh trong triết
học Duy thức là thiện (good), bất thiện (bad) và vô ký
(neither good nor bad) - tức không thiện, không ác hay là trung tính.
Trong ba tánh (tính chất) này, Tàng thức chỉ quan hệ với vô
ký (Avyàkrta).
3/ Tàng thức và ba lượng
Lượng (Pramana) là hình
thái của nhận thức (Valuable source of knowledge) bao gồm ba lượng:
a) Hiện lượng (Direct
perception) : là sự nhận thức trực tiếp hay trực giác
(Direct cognition) về một đối tượng nào đó mà không cần
phải đi qua suy luận hay logic. Tỉ dụ, khi nhìn thấy cây
viết thì biết rõ là cây viết chứ không cần suy luận mới
nhận diện ra cây viết...
b) Tỷ lượng
(Inferance) : là sự nhận thức phân biệt gián tiếp (Indirect
perception) hay dùng đến suy luận để nhận diện một đối tượng
nào đó. Vì thế, nếu suy luận tốt, chính xác thì có thể
đạt đến sự thật, nhưng phần nhiều là sai lầm. Tỉ dụ,
đứng bên này đồi ta thấy bên kia đồi có một làn khói,
ta suy luận có khói tức có lửa. Nhưng khi leo qua đồi thì
sự thật là có khói mà không có lửa, vì đó là khói mây
chứ không phải khói lửa. Trong trường hợp này, Tỷ lượng
sai ; do đó nó được gọi là tợ tỷ lượng (the wrong
perception).
c) Phi lượng (Apramana)
: Tỷ lượng sai và Hiện lượng sai thì gọi là Phi lượng
(Wrong perception).
Như vậy trong hai lượng
: Hiện lượng (Pratyaksa) và Tỷ lượng (Anumana), trừ Phi lượng
(Apramana), được chia thành hai loại : nếu đúng thì gọi là
chân hiện lượng và chân tỷ lượng, nếu sai thì gọi là
tợ hiện lượng và tợ tỷ lượng.
Như thế, trong ba lượng
Tàng thức chỉ quan hệ với Hiện lượng.
4/ Tàng thức và ba
thọ
Thọ (Vedana) là cảm
thọ (feeling). Trong Duy thức đề cập đến ba thọ (khổ
thọ, lạc thọ và xả thọ) hay năm thọ (khổ thọ, lạc
thọ, ưu thọ, hỷ thọ và xả thọ). Trong các thọ trên, Tàng
thức chỉ quan hệ hay tương ưng với xả thọ.
5/ Tàng thức ba cõi và
chín địa
* Giới (Dhatu) là cõi
của tâm thức (States of mind), gồm có ba cõi :
a) Cõi dục (realm of
desire) : thế giới của con người và các loài sinh thú (dục
là dục vọng khát vọng, ham muốn, thèm khát...)
b) Cõi sắc (realm of
form) : thế giới vật chất nhưng nhẹ nhàng và tinh tế hơn cõi
dục.
c) Cõi vô sắc (realm
of no form) : thế giới phi vật chất, vật thể (matters) hay
thế giới của năng lượng (energy). Tâm thức cũng là một
dạng năng lượng (mental energy).
* Địa (Bhumi) là thế
giới tâm, bao gồm chín địa
a) Dục giới ___> -
1 Ngũ thú tạp cư
- 2 Ly sinh hỷ lạc
- 3 Định sanh hỷ
lạc
b) Sắc giới - 4 Ly
hỷ diệu lạc
- 5 Xả niệm thanh
tịnh
- 6 Không vô biên xứ
- 7 Thức vô biên xứ
c) Vô sắc giới - 8 Vô
sở hữu xứ
- 9 Phi tưởng phi phi tưởng
xứ
6/ Tàng thức và chín
duyên
Thức này chỉ có 4
duyên : a) Căn (Mạtna), b) Cảnh (căn thân, thế giới và
chủng tử, c) Tác ý, d) Chủng tử.
Thế gian (The world)
được chia thành 2 loại là Khí thế gian (vô tình chúng sinh)
và Tình thế gian (hữu tình chúng sinh) hay các loài sinh thú -
hàm thức (sentient beings)
- Khí thế gian
(non-sentient beings) như : sông, núi, không khí, trái đất,
tầng ozone, thực vật v.v...
- Tất cả giới, địa
và thế gian đều là biểu hiện của Tàng thức. Ở đây,
trong ba cõi và chín địa Tàng thức đều quan hệ tùy theo nhân
duyên. Tuy nhiên, khi đạt đến Bát địa (Bất động địa),
hành giả đã đoạn trừ câu sinh pháp chấp, không còn cảm
thọ sinh tử. Do đó tên gọi Dị thục thức không còn nữa mà
được gọi là Vô cấu thức và chuyển thành Đại viên
cảnh trí (tuệ giác vĩ đại)
Trên đây chúng ta
vừa khảo sát đại cương về các mối quan hệ duyên sinh
của Tàng thức, giờ đây chúng ta đi vào tìm hiểu hình thái
của Tàng thức.
D- Hình thái của Tàng
thức
Như vừa trình bày, Tàng
thức quan hệ đầy đủ ba cõi và chín địa, tùy theo nhân
duyên, nghiệp lực (Volitional force). Tuy nhiên, hình thái cơ
bản của Tàng thức là vô hình, vô tướng (vô sắc) ; hình
thái của Tàng thức và các thức khác nói chung là phi vật
thể (non-form), nó là một dạng của năng lượng (energy) - năng
lượng tâm lý (mental energy). Theo quan điểm của khoa học
hiện đại, "Vật chất là sự cô kết của năng lượng
và năng lượng là sự pha loãng của vật chất". Tỉ
dụ, về vật chất như một gram Uranium, khi biến thành năng lượng
nguyên tử (atomic energy) sức công phá và tiêu diệt của nó
không thể tưởng tượng được. Hay mặt trời chẳng hạn,
ánh sáng của nó cũng là một dạng năng lượng, do ánh sáng
năng lượng mặt trời mà muôn loài phát sinh.
Như vậy, hình thái
của thức có thể ví như sự chuyển động của vật chất và
năng lượng, của sóng và nước..., nó vừa là phi vật thể
vừa là vật thể. Tuy nhiên, hình thái cơ bản của nó là năng
lượng - tức phi vật thể; do đó, năng lượng vừa thuộc
về sắc lại vừa là vô sắc. Ở đây cần ghi nhận rằng,
mọi sự phân biệt đều là tương đối. Đây là ý nghĩa
của chân như - Duyên khởi (của Bồ tát Mã Minh), tức là Chân
như = hiện tượng, và hiện tượng = Chân như ; và, Chân như
và hiện tượng không hai, không khác.
Trên đây là phần trình
bày đại cương về các khái niệm cơ bản của Tàng thức, cũng
gọi là A-lại-da-thức, thức thứ tám, Dị thục thức hay
Nhất thiết chủng thức. Đây là những khái niệm rất cơ
bản và quan trọng để tiếp tục đi vào tìm hiểu các thức
(consciousness) tiếp sau.
III.1.3 MẠT NA THỨC
(MANAS)
Tụng ngôn viết rằng
:
[05]
"Thức năng biến
thứ hai gọi tên là Mạt na, nương tựa vào và duyên với
thức [A-lại-da] kia, nên tánh và tướng của nó là suy nghĩ
[tư lượng]".
[06]
"[Nó] thường
biểu hiện cùng với bốn phiền não, [đó là] : ngã si, ngã
kiến, ngã mạn và ngã ái, [cũng như] cùng với xúc
v.v...".
A- Khái niệm chung về
Mạt na thức
Về tên gọi, Mạt na
thức có nhiều cách gọi khác nhau như : Ý căn (căn nguyên
của ý thức - thức thứ 6), thức thứ bảy (vì đứng dưới
thức thứ tám - Tàng thức), Truyền tống thức (vì có chức
năng lưu chuyển hai chiều, đưa các pháp [dharmas] hiện hành
[current] vào Tàng thức, và làm cho các chủng tử trong Tàng
thức biến thành các pháp hiện hành) và ý thức (vì thức này
sinh và diệt tương tục, không gián đoạn. Tuy nhiên, để tránh
lẫn lộn với thức thứ sáu [Ý thức], Mạt na thường được
gọi là Ý căn hay là ý, gọi chung là Mạt na thức.
Về cội nguồn, Mạt
na thức được sinh khởi từ Căn bản thức (Tàng thức
Alaya), do nương vào Tàng thức để hiện hành và có tác năng
(function) lưu chuyển, đối lưu (interchange) nên Mạt na được
gọi là Chuyển thức (Pravrtti vijnàna). Duy thức học có một
Căn bản thức (Alaya) và bảy chuyển thức (Mạt na thức + 6
thức giác quan : mắt, tai, mũi, lưỡi, thân thể và ý thức).
- evolving consciousness.
Thông thường, theo
triết học - tâm lý hiện đại, khi đề cập đến các lĩnh
vực thuộc về tri giác, nhận thức v.v..., người ta thường
đề cập đến hai góc độ của một nhận thức, đó là
chủ thể nhận thức (Subject) và đối tượng (Object) được
nhận thức. Ngược lại, trong Duy thức học cổ điển thường
đề cập đến ba góc độ của một nhận thức, đó là :
kiến phần (darsanabhaga) - tức chủ thể nhận thức, tướng
phần (Nimittabhaga)- tức đối tượng được nhận thức và
tự thể phần (Svabhavikabhaga) - tức là phần căn bản của
thức làm nền cho chủ thể và đối tượng của nhận thức.
Tỉ dụ, nước là kiến phần, sóng là tướng phần và bản
chất loãng, không màu, không mùi (hay hợp chất của H2O) là
tự thể phần.
Tương tự như thế,
trong hệ thống tám thức, mỗi thức đều có đầy đủ cả
ba phần. Tất nhiên ở mặt tự tướng đặc thù (particular) là
ba, nhưng ở mặt tổng thể phổ quát (universal) là một.
Về tánh khí, tánh khí
(nature) của Mạt na là Tư lượng (Mentation, Cogitation) - suy tư,
lo nghĩ và ôm ấp (Manyana) kiến phần của A- lại-da, chấp
rằng đó là thực ngã (Self). Nhưng trong kiến phần, có tướng
phần và tự thể phần (hay tự chứng phần). Do đó, nói
chung là Mạt na luôn luôn ôm chặt (chấp thủ) Tàng thức làm
ngã (essence); vì thế tính khí của Mạt na thường biểu
hiện cùng với bốn phiền não, đó là :
a) Ngã si (Àtmamoha -
Self ignorance) : là quan niệm sai lầm về ngã.
b) Ngã kiến (Àtmadrsti
- Self - belief) : là sự hiểu biết, nhận thức sai lầm về ngã,
cho rằng đó là một cái ngã độc lập, vĩnh hằng.
c) Ngã mạn (Àtmamàna
- Self - pride) : là thái độ kiêu căng cho rằng ta (tôi) là hơn
(arrogance).
d) Ngã ái (Àtmasneha -
Self - love) : là sự yêu mình, yêu cái tôi (I), cái của tôi
(mine) và cái tự ngã của tôi (myself).
Sự chấp thủ của
Mạt na thức cũng tương tự như thế đối với năm tâm sở
biến hành (xúc, tác ý, thọ, tưởng, tư).
3- Các đặc tính của
Mạt na thức
Tụng ngôn viết rằng
:
[07]
"Tánh của thức
Mạt na là hữu phú vô ký, sinh khởi ở đâu thì chấp ngã
ở đó, [cho đến khi đạt đến] quả vị A La Hán, Diệt
tận định và đạo xuất thế thì nó không còn [hiện hữu]
nữa".
Như đã trình bày,
Mạt na là Chuyển thức, nó một mặt chấp Tàng thức làm ngã
; mặt khác, nó lại là nền tảng cho sự nhiễm và tịnh
của sáu chuyển thức trước (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, và
ý thức).
Vì sao nói Mạt na làm
nền tảng cho sự nhiễm và tịnh của 6 thức trước ? Vì
lẽ, sáu chuyển thức luôn luôn liên hệ chặt chẽ với sự
hiện diện của Mạt na, và Mạt na luôn luôn tác động -
chức năng lưu chuyển, đối lưu (interchange) giữa chủng tử
và hiện hành - đến sáu chuyển thức. Do đó, nếu sự
cuồng si của Mạt na càng lớn thì khả năng sáng suốt của
sáu chuyển thức càng nhỏ theo quan hệ tỉ lệ nghịch. Ngược
lại, Mạt na được giải thoát chừng nào, nghĩa là qui giảm
lần mức độ cuồng si trong bốn phiền não (si, kiến, mạn,
ái) v.v... đến mức nào, thì khả năng thanh tịnh sáng suốt
của sáu chuyển thức càng lớn lên chừng đó, cũng theo quan
hệ tỉ lệ nghịch.
Cần xác định rõ, tính
khí của Mạt na là vừa thẩm (reflecting) - khảo sát, thẩm sát
- lại vừa hằng (always) - luôn luôn có mặt suốt 24 giờ
trong một ngày.
Như thế, điểm khác
biệt của Mạt na và Tàng thức là tính khí của Mạt na vừa
thẩm lại vừa hằng - nghĩa là luôn luôn tư lượng lo nghĩ,
tính toán (always reflecting). Ngược lại Tàng thức có hằng
(permanent) nhưng không có thẩm. Và nữa, tụng ngôn nói rằng,
tính của nó (Mạt na) là hữu phú vô ký.
Tại đây ta thấy
rằng, cà Tàng thức và Mạt na, tính của nó đều vô ký. Tuy
nhiên, Tàng thức thì vô phú, vô ký; còn Mạt na thì vô ký nhưng
hữu phú - nghĩa là có bị ngăn che. Và sự bị ngăn che đó
chính là sự si tình của nó, tức là ngã si, ngã kiến, ngã
mạn và ngã ái.
Ở đây chúng ta có
một kết luận rằng, cả Tàng thức và Mạt na, tính khí
của nó là vô ký (không thiện không ác). Do đó, tự thân Tàng
thức và Mạt na là thụ động, không có khả năng tự giải
thoát ra khỏi những chủng tử, tập khí nhiễm ô, bất
tịnh, bất thiện v.v... Vì thế vai trò cách mạng giải trừ
căn tính cuồng si của tâm thức là thiên chức của thức
thứ sáu, tức Ý thức; và cần nhớ rằng chỉ có Ý thức
(thức thứ sáu) mới có khả năng soi sáng hay làm một cuộc
cách mạng - chuyển y (paravrittiasraya) từ trong căn để của tâm
thức. Chuyển y (sudden change) là sự thay đổi, đột biến,
chuyển hóa hay đảo lộn hoàn toàn cơ cấu thuyên thích nội
tại của tâm thức ; và như thế, thức thứ sáu là vị tướng
quân cách mạng, nhưng cái cần được cách mạng chính là Tàng
thức và Mạt na thức - nghĩa là phải đồng thời vừa gieo
trồng chủng tử thánh thiện vào Tàng thức , vừa gội rửa
mọi cảm nhiễm cuồng si của Mạt na thức. Do đó, nói cho cùng,
chuyển y chính là sự thay đổi một cách toàn diện toàn bộ
cơ cấu của tâm thức, nghĩa là thay đổi toàn bộ hệ
thống tương duyên giao hòa của tám thức chứ không phải là
sự chuyển y riêng cho từng thức nào.
Một điểm khác biệt
khác trong tính khí của Mạt na đó là "đới chất hữu
phú thông tình bản, tùy duyên chấp ngã, lượng vi phi"
(59). Nghĩa là, trong khi Tàng thức lấy Tánh cảnh làm đối tượng
thì ngược lại, Mạt na lấy Đới chất cảnh (ảo giác
ảnh) làm đối tượng. Thức này (Mạt na) do lấy Đới chất
cảnh làm đối tượng, và tính chất của nó lại bị ngăn
che bởi si mê - chấp ngã, do đó, nó liên thông với cả hai
thức Tình (Mạt na) và Bản (Tàng thức). Từ đó, khi Mạt na
duyên vào đối tượng nào thì chấp đối tượng đó làm ngã,
và sự chấp ngã như thế là hoàn toàn sai lầm, nên gọi là
phi lượng (wrong perception). Trên đây là những đặc tính cơ
bản của Mạt na thức.
C- Các mối quan hệ
của Mạt na thức
* Ở địa vị của
tri thức thường nghiệm :
- Trong ba cảnh : Mạt
na chỉ quan hệ với Đới chất cảnh.
- Trong ba lượng :
Mạt na chỉ có phi lượng.
- Trong ba tánh : Mạt
na là hữu phú vô ký.
- Trong ba giới và chín
địa : Mạt na có mặt đầy đủ tùy theo nhân duyên.
- Trong 51 loại tâm
sở : Mạt na có 18 loại, đó là :
5 tâm sở biến hành
(xúc, tác ý, thọ, tưởng và tư)
1 tâm sở là Tuệ
(trong năm tâm sở biệt cảnh - five particular) : nghĩa là cho
rằng cái thấy của mình là đúng, là cần yếu, là đáng
theo đuổi. Tuệ của Mạt na là trí tuệ hữu ngã chứ không
phải là trí tuệ vô ngã (nonself-wisdom).
4 loại căn bản
phiền não : ngã si, ngã kiến, ngã mạn và ngã ái. Và 8 loại
tùy phiền não (phiền não thứ yếu) là : phẫn (anger), hận
(enmity), phú (concealment), não (affliction), tật (envy), xan
(parsimony), cuống (deception), xiểm (frandulence). Đây là tám
thứ Đại tùy phiền não.
[phẫn : giận, hận :
hờn, phú : che giấu, não : u buồn, tật : ganh ghét, xan : bỏn
xẻn, cuống : lừa dối, xiểm : nịnh hót]
Trong chín duyên : Mạt
na chỉ liên hệ đến 3 duyên:
a) Căn - cảnh duyên,
b) Tác ý duyên, c) Chủng tử duyên.
* Ở thánh vị - tri
thức siêu nghiệm (60)
Khi hành giả đạt đến
Sơ địa (Hoan hỷ địa) thì mọi phiền não chướng
(Affliction obstacle) - sự tham, giận ... buồn phiền... bất an
v.v... và sở tri chướng (knowledge obstacle) - sự bị vướng víu
vào kiến thức của mình, cho rằng đó là chân lý v.v... đều
được đoạn trừ. (Chướng - là sự chướng ngại - obstacle
: trơ lì, bất động, cứng nhắc... như tảng băng ngăn chận
dòng nước).
Và khi đạt đến Bát
địa (Bất động địa) thì Mạt na chấm dứt câu sinh ngã
chấp (sự bám víu vào ngã chấp hay tập khí - ngã chấp, nó
có mặt cùng với [together - câu sinh] lúc con người vừa sinh
ra). Sự câu sinh chấm dứt nghĩa là Tàng thức được giải
thoát (release) mọi ràng buộc, bám víu của Mạt na. Vì thế
ở đây, Mạt na thức chuyển thành Bình đẳng tánh trí (Samatàjnàna)
- tức năng lực thấu thị của tuệ giác có thể nhận thức
và thấy rõ toàn chân pháp giới trong một hiện hữu
(existence). Đây là nội dung của "Một là tất cả, tất
cả là một", hay "trên đầu sợi lông, tôi thấy
suốt cả ba đời chư Phật ", hoặc "trong một niệm
tôi thấy ba đời..." v.v... như được trình bày trong Hoa
Nghiêm (Gandavyùha), qua sớ giải của ngài Pháp Tạng.
D- Hình thái cơ bản
của Mạt na thức
Ở đây, chúng ta quay
trở lại với hai khái niệm cơ bản của Mạt na là "Tình"
(mùlaklesas - căn để của ngã si, ngã kiến, ngã mạn và ngã
ái) và "Câu sinh" (tập khí di truyền của nghiệp
thức) để thẩm định hình thái cơ bản của Mạt na.
Trước hết, Tình ở
đây có nghĩa là dục ái (Tanhà). Nói theo ngôn ngữ của
Freud, Tình là bản năng (Id) của dục vọng bao gồm hai xung năng
(pulsion) : xung năng tha hóa (pulsion de mort) hay chết, và xung năng
tình dục (libido), hay nói chung là các xung lực có tính bản năng,
thôi thúc con người tìm kiếm sự thỏa mãn của những nhu
cầu sinh lý cơ bản như ăn, uống, sinh dục, tình ái, vui chơi
v.v... Tuy nhiên, Tình của Mạt na được khái quát hóa ở
phạm vi rộng và xa hơn qua bốn phạm trù : si mê ngã ; hãnh
diện, kiêu căng về ngã ; và sự yêu thương, luyến ái tự
ngã. Bốn phạm trù này vừa là nền tảng vừa mang tính cách
bao quát toàn bộ đời sống nhu cầu sinh lý của con người.
Vì rằng mọi sự thể khổ đau hay hạnh phúc của con người
đều bắt nguồn từ sự chấp thủ cái tôi, cái của tôi và
cái tự ngã của tôi.
Mặt khác, khái niệm
Câu sinh (together) - tức cùng sinh khởi và cùng hiện hữu - đã
nói lên cái "khí chất" (nature) hay tập khí di truyền
của đời sống tâm thức con người, đồng thời nó cũng là
"Kiết sinh thức" (Gandhabha) hay cái "ý niệm tối
sơ" trong mỗi chu kỳ sống mới.
Do đó, nói theo tâm lý
học hiện đại, thì hình thái của Mạt na chính là sự vận
hành của tư duy hữu ngã theo nguyên tắc của dục ái, thúc
giục tâm lý con người đi tìm kiếm sự thỏa mãn dục
vọng, khoái lạc - một loại hạnh phúc giả tạo, mộng mị
và điên dại của trần gian.
III.1.4 Ý THỨC
Tụng ngôn viết rằng
:
[08]
Thức năng biến thứ
ba, có sáu loại sai khác, tánh, tướng đều phân biệt [cụ
thể] thiện, bất thiện và vô ký".
A- Khái niệm chung về
Ý thức
Bài kệ số [08] mở
đầu cho sự trình bày về Ý thức - thức thứ sáu (Manovijnàna).
Thông thường thức thứ sáu là một trong sáu thức giác quan
(mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý thức) mà tụng ngôn gọi
chung là "thức năng biến thứ ba và có sáu loại sai khác".
Tuy nhiên, ở đây chúng ta chỉ tập trung tìm hiểu về Ý
thức.
Thức thứ sáu này
lấy ý căn của Mạt na làm cơ sở và lấy pháp trần
(Dharmas) làm đối tượng. Khi căn và trần tiếp xúc với nhau
như tai-nghe, mắt-thấy, ... và sự nghe, thấy đó là hệ quả
của nhận thức (tri giác), sự nhận thức đó được gọi là
ý thức. (Cần phân biệt rằng Mạt na thức dù cũng được
gọi là Ý thức, nhưng bản chất của nó là Ý căn và mang tính
cách thụ động (vô ký) chứ không phải là năng động. Trong
hệ thống tâm thức, Ý thức (The sense - centre consciousness) là
thức tinh xảo và năng động nhất (độc hữu nhất cá tối
linh ly). Trong sự tư duy và thực hành các lẽ thiện thì nó
đứng đầu, và trong sự tính toán, mưu mô, xảo quyệt để
làm các điều ác thì nó cũng đứng đầu. Vì thế các luận
thư Duy thức thường dùng thành ngữ "Công vi thủ, tội
vi khôi" (Công và tội nó đều đứng đầu để chỉ cho
Ý thức). Tuy nhiên, điểm khác biệt cơ bản giữa Ý thức và
Mạt na thức là ở chỗ Ý thức có tính năng thẩm sát
(reflecting) mà không có tính năng hằng hữu (permanent) ; ngược
lại, Mạt na thức thì vừa có tính năng thẩm sát lại vừa
có tính năng hằng hữu - tương tục. (Xem phần các trạng thái
của ý thức).
B- Các đặc tính và
sự liên hệ của ý thức
Ý thức có phạm vi
hoạt động bao quát hơn cả so với Tàng thức và Mạt na
thức.
- Trong ba tánh : Ý
thức có đầy đủ các tính chất : thiện (Kusala), bất
thiện (Akusala) và vô ký (Advaya hay Avyàkrta).
- Trong ba lượng : Ý
thức có đầy đủ hiện lượng (Pramana), tỷ lượng (Anumana)
và phi lượng (Apramana).
- Trong ba cảnh : Ý
thức có đầy đủ Tánh cảnh (realm of things in themselves), Đới
chất cảnh (realm of representations) và Độc ảnh cảnh (realm of
mere images)
- Trong ba cõi và chín
địa : Ý thức có mặt đầy đủ, tùy theo nhân duyên.
- Trong 51 tâm sở : Ý
thức có mặt và liên hệ đầy đủ, bao gồm : 5 tâm sở
biến hành, 5 tâm sở biệt cảnh, 11 thiện tâm sở, 6 tâm căn
bản phiền não, 20 tâm tùy phiền não và 4 tâm bất định.
a) 5 tâm sở biến hành
: (xúc, tác ý, thọ, tưởng và tư) như đã trình bày.
b) 5 tâm sở biệt
cảnh (Special caittas) :
1/ Dục (Chanda) : sự
khát vọng, mong muốn, khao khát ... (desire).
2/ Thắng giải
(Adhimoksa) : sự hiểu biết rõ ràng, minh bạch, không nghi ngờ
(resolve)
3/ Niệm (Smrti) : sự
ghi nhớ, tâm niệm (memory)
4/ Định (Samàdhi) :
sự chuyên chú, thiền định (meditation)
5/ Huệ (Prajnà) : sự
sáng suốt của tâm thức (wisdom)
c) 11 thiện tâm sở : (Phẩm
tính của tâm)
1/ Tín (Sraddhà) :
niềm tin (belief)
2/ Tinh tấn (Utsàha) :
siêng năng (diligence).
3/ Tàm (Hri) : tự xấu
hổ với lòng mình (shame).
4/ Quí (Aptràpya) : tự
hổ thẹn với người (sense of integrity).
5/ Vô tham (Alobha) : không
tham lam (non-covetousness).
6/ Vô sân (Advesa) : không
sân hận (non- anger).
7/ Vô si (Amoha) : không
ngu si (non-delusion).
8/ Khinh an (Prasrabdhi) :
sư nhẹ nhàng của tâm thức (composure hay lightness).
9/ Bất phóng dật (Apràmàda)
: không buông lung, lười biếng, phóng đãng (vigilance).
10/ Hành xả (Upeksà) :
sự không chấp trước hay bám víu trong tâm thức (equanimity).
11/ Bất hại (Avihimsà)
: sự không làm tổn hại (non-injury).
d) 6 tâm phiền não căn
bản :
1/ Tham (Ràga) : tâm
tham lam (covetousness).
2/ Sân (Pratigha) : tâm
sân hận (anger).
3/ Si (Moha) : tâm si mê
(delusion).
4/ Mạn (Màna) : tâm kiêu
căng, ngạo mạn (conceit).
5/ Nghi (Vicikitsà) : tâm
nghi ngờ (doubt).
6/ Ác kiến (Kudrsti) :
ác kiến có 5 loại :
- Thân kiến : chấp ngã.
- Biên kiến : chấp
hoặc có / không, hoặc thường / đoạn...
- Tà kiến : mê tín,
dị đoan, ...
- Kiến thủ : bảo
thủ tri kiến của mình / người...
- Giới cấm thủ :
chấp vào hình thức, lễ nghi, phong tục...
e) 20 tâm phiền não
thứ yếu (Upaklesas)
1/ Phẫn (Krodha) :
giận dữ (fury).
2/ Hận (Upanàhà) :
hờn lẫy (enmity).
3/ Phú (Mraksa) : che
giấu tội lỗi (hypocrisy).
4/ Não (Pradàsa) : u
buồn (vexation).
5/ Tật (Issyà) : ganh
ghét (envy).
6/ Xan (Màtsarya) : bỏn
xẻn (parsimony).
7/ Cuống (Sàthyam) :
lừa dối (deception).
8/ Xiểm (Màyà) :
nịnh hót (duplicity).
9/ Hại (Vihimsà) :
tổn hại (harmfulness).
10/ Kiêu (Mada) : kiêu căng
(pride).
(Trên đây là 10 tiểu
tùy).
11/ Vô tàm (àhrikya) :
tự mình không biết hổ thẹn (shamelessness).
12/ Vô quí (Anapatràpya)
: không biết xấu hổ với người (non-integrity)
(Đây là hai trung tùy)
13/ Trạo cử
(Auddhatya) : sự giao động trong tâm (restlessness).
14/ Hôn trầm (Styàna)
: sự trầm uất, u trệ (torpidmindedness).
15/ Bất tín (Àsraddhya)
: không có niềm tin (unbelief).
16/ Giải đãi
(Kausidya) : chứng lười biếng, trễ nãi (indolence).
17/ Phóng dật (Pramàda)
: buông lung, không thận trọng (carelessness).
18/ Thất niệm (Musitàsmrti)
: đãng trí, lãng quên (forgetfulness).
19/ Tán loạn (Viksepa)
: rối loạn tâm thức (distraction).
20/ Bất chánh tri
(Asamprajanya) : sự hiểu biết sai lầm, bất chính
(non-discernment).
f) 4 tâm sở bất định
(non- determined caittas)
Tâm sở bất định là
tâm không thể xác định hay không nhất thiết là thiện hay
ác.
1/ Hối (Kankrtya) : sự
ăn năn hối tiếc việc đã qua (remorse)
2/ Miên (Middha) : sự
ngủ quên, thiêm thiếp (drowsiness).
3/ Tầm (Vitarka) : tìm
kiếm (mental search), truy tìm (paryesanà).
4/ Tư (Vicàra) : thẩm
định, quán sát (judgment)
Nếu 4 tâm bất định
này xảy ra đúng thời đúng chỗ và theo chiều hướng tích
cực hay tiêu cực mà được xác định là thiện hay bất
thiện.
- Trong chín duyên : Ý
thức chỉ liên hệ đến năm duyên : a) Căn duyên, b) Cảnh duyên,
c) Tác ý duyên, d) Căn bản duyên, e) Chủng tử duyên.
Tóm lại, sự khổ đau
hay hạnh phúc trong quá trình diễn tiến của tâm lý con người
hoàn toàn không vượt ngoài hệ thống tám thức và 51 loại tâm
sở này.
Cho đến khi hành giả
đạt đến Sơ địa (Hoan hỷ địa) thì sự phân biệt ngã và
pháp được đoạn trừ, nhưng tập khí câu sinh của ngã và
pháp vẫn còn tiềm phục (ngủ yên) trong Tàng thức. Khi đạt
đến Thất địa (Viễn hành địa) thì chủng tử Câu sinh
của sự chấp ngã được đoạn tận, dòng vận hành của các
pháp được điều phục, Tàng thức lúc này chỉ thuần vô
lậu. Đến khi sắp bước vào Phật vị, chủng tử câu sinh
pháp - chấp được đoạn tận, Ý thức chuyển thành
"Diệu quan sát trí" - trí tuệ có năng lực quan sát
khắp "ba nghìn thế giới".
C- Sự vận hành của
Ý thức
Tụng ngôn viết rằng
:
[16]
"Ý thức thường
hiện khởi, trừ trong cõi vô tưởng và hai định vô tâm,
ngủ mê hay chết giả".
Như đã trình bày, Tàng
thức và Mạt na thức thì hiện khởi thường hằng, còn ý
thức cũng thường hiện hành nhưng trong năm trường hợp sau
đây nó vắng mặt (tức không thường hằng) :
1/ Trong cõi Trời Vô tưởng
: cõi không có tri giác.
2/ Trong Vô tưởng định
(Asamjnika samapatti).
3/ Trong Diệt tận định
(Nirodha samapatti): trong định này không có tri giác và không có
cảm thọ, nên gọi là Diệt thọ tưởng định.
4/ Trong trường hợp
ngủ mê : (ngủ không có mộng).
5/ Trong trường hợp
bất tỉnh (coma) : bất tỉnh nhân sự.
Như thế sự vận hành
của Ý thức là có thẩm sát nhưng không có hằng hữu.
D- 5 trạng thái của
Ý thức
Ý thức thường hiện
khởi trong 5 trạng thái cơ bản sau đây :
1/ Ngũ câu ý thức : là
ý thức hiện khởi theo / cùng với 5 giác quan (mắt, tai, mũi,
lưỡi và thân).
2/ Độc đầu ý thức
: là ý thức hoạt động độc lập một mình không chung cùng
với các quan năng.
3/ Tán vị ý thức : là
ý thức phóng túng không ở trong định (concentration)
4/ Định trung ý thức
: là ý thức trong lúc thiền định.
5/ Loạn trung ý thức
: ý thức trong sự điên loạn (mad).
Tóm lại, phạm vi
hoạt động của Ý thức bao quát và xuyên thông cả ba cảnh
(Tánh cảnh, Đới chất cảnh và Độc ảnh cảnh), ba lượng
(hiện lượng, tỷ lượng và phi lượng) và ba tánh (tánh
thiện, tánh ác và tánh vô ký). Sự vận hành của Ý thức là
linh hoạt, năng động và sắc bén nhất. Nhưng tại sao Mạt
na thức không chấp Ý thức làm ngã (self) mà lại chấp Tàng
thức làm ngã? Vì rằng, tánh của Tàng thức là thường tại
- trôi chảy như dòng sông, dòng sông tâm thức (hằng chuyển
như bộc lưu) ; trái lại, Ý thức dù hoạt động linh hoạt,
năng động, bén nhạy, nhưng tánh của nó là vô thường, gián
đoạn ; do đó, Mạt na thức hay tình thức không lấy nó (Ý
thức) làm Ngã thể (Self). Ngài Huyền Trang trong sớ giải Duy
thức đã kết luận như sau :
"Tánh cảnh
bất tùy tâm,
Độc ảnh duy tùy
kiến,
Đới chất thông tình-bản
Tánh chủng đẳng
tùy ưng.
Nghĩa là, Tánh cảnh là
thực tại nó không hề bị chi phối hay biến thái theo dòng
chảy của tâm thức, tức là nó như vậy. Độc ảnh cảnh là
ảnh tượng hoàn toàn được dựng lên bởi kiến phần (chủ
thể) của tâm thức. Độc ảnh cảnh là ảnh tượng được
tạo tác bởi tâm thức, và là sản phẩm của tâm thức, và
chỉ (duy) được kiến lập bởi tâm thức; do đó, nó thường
không liên hệ gì đến thực tại. Độc ảnh, nếu trong liên
hệ, thì nó chỉ là bóng dáng hay ảnh tượng của thế giới
thực tại. Còn Đới chất cảnh - đối tượng của Mạt na
thức - nó được ảnh hưởng dư ảnh của cả tình thức
(Manas) và căn bản thức (Alaya). Như thế, Đới chất cảnh không
phải là Tánh cảnh, cũng không phải là Độc ảnh cảnh nhưng
nó có liên hệ, về bản chất, với Tánh cảnh, đó chính là
sự liên hệ giữa Tình và Bản.
Và cuối cùng thì
mọi bản chất (tánh) và chủng loại (chủng) vân vân (đẳng)
đều tùy theo nhân duyên cụ thể mà tương ưng hay hợp xướng
với nhau.
Như thế, Ý thức
(Manovijnàna) về cơ sở thì tựa vào Mạt na, về tác năng thì
có thể hoạt động một mình hoặc hoạt động chung với năm
thức trước (tiền ngũ thức). Đây là những khái niệm cơ
bản về Ý thức - thức thứ sáu trong hệ thống tám thức.
III.1.5 NĂM THỨC GIÁC
QUAN
Tụng ngôn viết rằng
:
[15]
"Nương vào thức
Căn bản [A-lại-da], năm thức tùy duyên hiện, hoặc chung
hoặc chẳng chung, như sóng nương vào nước".
A- Khái niệm chung về
năm thức giác quan
Trong Duy thức thường
nói đến sáu thức cảm quan (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý
thức) ; ở đây, tiếp theo phần Ý thức, sẽ trình bày về
nội dung của 5 thức giác quan (The five consciousness), cũng gọi
là năm thức trước (tiền ngũ thức), bao gồm :
1. Nhãn thức : sự
nhận thức của thị giác - mắt.
2. Nhĩ thức : sự
nhận thức của thính giác - tai.
3. Tỷ thức : sự
nhận thức của khứu giác - mũi.
4. Thiệt thức : sự
nhận thức của vị giác - lưỡi.
5. Thân thức : sự
nhận thức của thân giác - cơ thể.
Năm thức này nương
tựa vào Căn bản thức (Tàng thức) hay nói chung là tâm thức
(bao gồm cả ý thức) mà hiện khởi (originate) và vận hành
(operate). Về chức năng hoạt động, năm thức này liên hệ
trực tiếp đến ý thức hay hiện hành trên căn bản của dòng
ý thức. Trong năm giác quan nếu cùng hoạt động với ý
thức thì gọi là hoạt động chung. Tỉ dụ, công việc dịch
của người làm ở phòng truyền hình, cùng lúc anh ta vừa
nghe, vừa nhìn, vừa hít thở, vừa ngậm kẹo và vừa biên chép
v.v... Làm việc như thế thì ý thức của anh ta cùng hoạt động
chung và cùng phân tán đều cho cả năm thức cảm quan ; đây
là hoạt động chung. Tuy nhiên, nếu làm như thế, năng lượng
ý thức bị phân tán, không thể tập trung, và do đó hiệu
quả nhận thức bị yếu đi. Ngược lại, nếu năng lượng
ý thức chỉ tập trung vào hoặc nghe (như nghe TOEFL) hoặc nhìn
(như mèo ngó chuột)... thì hiệu quả của nhận thức sẽ
tốt hơn ; đây gọi là hoạt động riêng ; tức là, mỗi
thức cảm quan chỉ tập trung hoạt động cùng với ý thức,
mà không phải cùng hoạt động một lần.
Ở đây, cần ghi
nhận rằng sự hoạt động của 5 thức cảm quan trên dòng ý
thức được ví như sóng và nước: nước là dòng tâm-ý
thức và sóng là 5 thức cảm quan. Đây là mối liên hệ mật
thiết của tâm - ý thức và năm thức trước.
B- Các đặc tính và
sự liên hệ của năm thức
- Trong ba cảnh : 5
thức này chỉ có Tánh cảnh - thấy biết như thật hiện
hữu như là chính nó (To their appearances as they are).
- Trong ba lượng : 5
thức này chỉ có Hiện lượng - như nhìn bình trà biết đó
là bình trà...
- Trong ba tánh : 5
thức này có đủ thiện, ác và vô ký.
- Trong 5 thọ : 5 thức
này chỉ có khổ thọ, lạc thọ và xả thọ.
- Trong ba cõi :
a) Cõi Dục : 5 thức này
có mặt đầy đủ.
b) Cõi Sắc : chỉ có
3 thức : nhãn thức, nhĩ thức và thân thức ; tỷ thức và
thiệt thức không hiện hành. (Nhãn, nhĩ, thân, tam nhị địa
cư).
- Trong chín địa : 5
thức này chỉ hiện hành trong hai địa : Ngũ thú tạp cư địa
- tức là cõi Dục ; và Ly sanh hỷ lạc địa - tức là cõi
Sắc - thuộc Sơ thiền - trong Nhị địa.
Ở Sơ thiền thì có
đủ năm thức, đến Nhị địa chỉ còn 3 thức (nhãn, nhĩ,
thân). Vì rằng, từ Nhị địa trở lên, hành giả dầu có
tỷ và thiệt nhưng nó không vận hành.
- Trong 51 tâm sở : 5
thức này chỉ tương ứng với 34 tâm sở : 5 tâm biến hành,
5 tâm biệt cảnh, 11 tâm thiện, 3 tâm căn phiền não, 2 trung tùy
và 8 đại tùy (phiền não thứ yếu).
- Trong chín duyên :
* Nhãn thức có đủ :
1) Hư không, 2) Ánh sáng, 3) Căn, 4) Cảnh, 5) Tác ý, 6) Phân
biệt y, 7) Nhiễm tịnh y, 8) Căn bản y, 9) Chủng tử y.
* Nhĩ thức chỉ có 8
duyên (giống như trên) trừ ánh sáng.
* Tỷ, thiệt và thân
thức chỉ có 7 duyên (giống như trên) trừ hư không và ánh sáng.
Theo triết học Duy
thức, cho đến khi Tàng thức chuyển thành Đại viên cảnh trí
thì 5 thức này biến thành "Thành sở tác trí".
Năm thức lại được
chia thành hai, loại đó là tịnh sắc căn và phù trần căn.
Tịnh sắc căn là hệ thống thần kinh cảm giác. Tịnh sắc
nghĩa là vật chất (sắc) ở dạng tinh tế (tịnh). Tỉ dụ,
con mắt là căn, nhưng nó là phù trần căn, vì sự thô kệch
của vật chất biểu hiện ra bên ngoài. Còn tịnh sắc căn là
phần vi tế (vi mô) liên hệ, vận hành qua trung khu thần kinh
cảm giác.
Tóm lại, trong hệ
thống tám thức, sự lưu chuyển từ chủng tử (hạt giống)
sang hiện hành hoặc từ hiện hành, (current) vào chủng tử
của tất cả hiện hữu từ thế giới của các hiện tượng
tâm lý cho đến thế giới thực tại khách quan của mỗi
hiện tượng sự vật (The world of phenomena), tất cả đều
phải tùy thuộc vào các điều kiện sau, bao gồm : Nhân duyên
(Hetu pratyaya) - hạt giống trong Tàng thức ; Sở duyên
(Alambanapratyaya) - đối tượng của nhận thức ; Tăng thượng
duyên (Adhipatipratyaya) - các điều kiện (hoặc thuận hoặc
nghịch) tác động vào nhân duyên ; và Đẳng vô giác duyên
(Nisyandapratyaya) - sự trôi chảy tương tục của nhân duyên.
C- Phần kết về tám
thức
Tụng ngôn viết rằng
:
[17]
"Các thức này
chuyển biến [thành] phân biệt và [đối tượng] bị phân
biệt. [Và rằng], vì cả hai đều là không, nên [nói] tất
cả là Duy thức".
Như đã trình bày,
mỗi tâm thức và tâm sở đều có ba đặc tính, đó là : 1)
kiến phần (tác năng phân biệt); 2) Tướng phần (đối tượng
bị phân biệt) ; 3) Tự thể phần (tánh cảnh - thực tại). Và,
tác năng của tự thể phần là kiểm thảo và chứng minh cho
kiến phần ; vì thế, tác năng đó được gọi là chứng tự
chứng phần.
Ở đây, điểm then
chốt, quan trọng cần ghi nhận đó là chính tác năng phân
biệt và đối tượng bị phân biệt đều là sự biểu hiện
từ tự thể của Tàng thức. Và cũng từ đó, sơn hà đại
địa, thế giới sum la vạn tượng được phân biệt và định
danh, và sau đó nó hiện hành như là mỗi mỗi hiện hữu
(actual dharma). Đây là ý nghĩa "Tam giới duy tâm" hay
"Nhất thiết duy tâm tạo". Và rằng, vì do tác năng
phân biệt nên có danh (name) và tướng (form) sai khác đa thù.
Do đó nếu chấp vào danh xưng và tướng trạng cho rằng đó
là thật ngã, là ngã thể (Self) là tự tánh (Essence), là bản
ngã (Ego) v.v... thì đều rơi vào hư vọng. Tất cả hiện
hữu được định danh bởi tên gọi, hay được qui ước
bởi một hình thức nào đó v.v..., chúng đều là sản phẩm
của phân biệt chứ không phải là của thực tại. Và, hiện
hữu nào được sinh ra từ phân biệt thì đều là không ; do
đó, gọi là "cố nhất thiết Duy thức" - tất cả đều
hiện khởi từ thức (Vijnàna). Tụng ngôn viết :
[18]
"Do tất cả hạt giống trong Tàng
thức, biến chuyển như vậy và như vậy, vì sức biến
chuyển đó mà sinh ra thế giới biểu biệt và đa thù".
---o0o---
|
Mục lục | Xem
tiếp |
---o0o---
| Thư mục Tác Giả |
----o0o----
Chân thành cảm ơn Đại Đức
Tâm Thiện đã gởi tặng phiên bản điện tử tập sách này.
(Trang nhà Quảng Đức, 02/2002)