Tâm Lý Học
PHẬT GIÁO
Thích Tâm Thiện
Sàigòn, PL: 2542 -1998
---o0o---
Phần
I
Giới
thiệu tổng quát
I.1.Chương
1 :
Dẫn
nhập
I.1.1 Nhan đề và
giới thiệu đề tài
Tâm lý học là khoa
học nghiên cứu về tâm lý con người. Tâm lý học thường
đi đôi với giáo dục học, gọi chung là tâm lý giáo dục.
Về góc độ lịch sử, tâm lý học ra đời muộn hơn so với
các ngành khoa học khác. Nhưng cũng như các ngành khoa học, tâm
lý học bắt nguồn từ triết học và từ đó đã sớm đi vào
giải quyết các vấn đề quan trọng, then chốt trong đời
sống con người. Ngày nay tâm lý học trở thành một trong
những ngành học quan trọng nhất về con người, nó liên quan
mật thiết đến các lĩnh vực văn hóa và văn minh của nhân
loại. Vì rằng, văn hóa và văn minh là những gì được làm
ra bởi con người; nó là sản phẩm của con người, và do đó,
không thể tách rời con người ra khỏi các lĩnh vực văn hóa
và văn minh trong hệ thống tương quan, mang tính chất tùy
thuộc lẫn nhau (Y tha khởi).
Tuy nhiên, trước
viễn cảnh của thực tại, các nền văn minh nhân loại hiện
nay đang rơi vào khủng hoảng - sự mất cân bằng một cách
trầm trọng giữa đời sống vật chất và tinh thần. Các nước
văn minh, tiên tiến thì nỗ lực tập trung vào các ngành khoa
học công nghiệp và siêu công nghiệp, như công nghệ tin học,
công nghệ không gian...; các nước đang phát triển và kém phát
triển thì nỗ lực đi vào công nghiệp hóa và hiện đại hóa.
Nói chung, cả hai đều đi vào mục tiêu phát triển kinh tế
ở tầm vĩ mô. Tuy nhiên, điều nghịch lý, mâu thuẫn vẫn
diễn ra trên toàn thế giới, đó là : đói nghèo, bệnh tật,
chiến tranh, và nạn nhân mãn v.v...
Trong khi, chỉ số đánh
giá mức phát triển của mỗi quốc gia, mỗi dân tộc được
xác định trên tỷ lệ tăng hoặc giảm của "GDP"
(General Domestic Product - Tổng sản lượng hàng hóa nội địa)
và "GNP" (Gross National Product - Tổng sản lượng quốc
gia); thì ngược lại, chỉ số "stress" của con người
ngày càng tăng. Đối với các nước công nghệ (1) siêu cường
của thế giới thì căn bệnh trầm kha nhất không phải là
kinh tế, mà chính là "stress" - một sự khủng hoảng
tâm lý thời đại. Ngược lại, các nước kém phát triển và
đang phát triển thì căn bệnh khủng hoảng đó bao gồm cả
hai : khủng hoảng kinh tế và khủng hoảng tâm lý. Với một
đường hướng phát triển như thế đã đánh mất sự quân bình
của đời sống con người. Nếu sự phát triển chỉ dựa vào
lợi tức thu nhập (income) kinh tế và tư bản (tiền tệ), nghĩa
là chỉ dựa vào khát vọng làm giàu và tôn vinh sự bảo
thủ độc quyền (exclusive) - nói theo ngôn ngữ của Phật là
tham ái (tanhà) và chấp thủ (upadàna) - thì ắt hẳn sẽ đưa
đến khổ đau, bất hạnh và tuyệt vọng.
Vì thế, trước viễn
cảnh của những khủng hoảng trầm trọng, nhất là khủng
hoảng tâm lý của con người như là các hội chứng của
stress thời đại, các giá trị trong sự sống của con người
cần thiết được xét lại, và cần được soi sáng bởi
những lời dạy của Đức Phật.
1- Vấn đề khủng
hoảng tâm lý
Như vừa trình bày,
trong xu thế công nghiệp hóa và siêu công nghiệp hóa của
thế giới hiện nay, con người thường xuyên rơi vào các
khủng hoảng theo hai chiều hướng, hoặc là bị loại trừ
bởi các thiết bị hiện đại, hoặc là phải lao động quá
mức có thể. Sự kiện đó xảy ra trên qui luật cạnh tranh mà
các nhà kinh tế thời đại cho rằng đó là cạnh tranh để
sinh tồn và cạnh tranh để phát triển (2). Nhưng thực chất
là cạnh tranh để đi đến chiến thắng độc quyền, và có
khi dẫn đến sự triệt hạ lẫn nhau giữa tư bản tư nhân
hoặc tư bản độc quyền nhà nước (3); còn hậu quả thì
đưa đến không những ở mức độ cộng đồng mà còn ở chính
mỗi con người.
Trong khi đó, Đức
Phật dạy : "Dầu tại nơi chiến trường, thắng hàng
ngàn quân địch, tự thắng mình tốt hơn, đó là sự chiến
thắng tối thượng". (Php.103) Hoặc là "Dầu Thiên
thần, Càn thát bà, Ma Vương hay Phạm Thiên, không ai chiến
thắng nổi người đã tự chiến thắng và tự chế phục".
(Php. 105)
Sự chiến thắng như
thế chính là nền tảng để từ đó tái lập sự quân bình
cho đời sống tâm lý, và xa hơn là sự giải quyết các
khủng hoảng của con người chính nó, với tư cách là con người
cá biệt (individual) và con người của cộng đồng, với tư cách
là thành viên của xã hội (member of society).
2- Vấn đề triết lý
nhân sinh
Nói đến tâm lý con
người cũng là nói đến tâm lý xã hội. Các ngành tâm lý
học và xã hội học, đạo đức học, luận lý học... đều
tập chú vào con người và các diễn biến tâm lý của con người.
Và mục tiêu của các ngành học đó là giúp con người kiến
tạo một đời sống hạnh phúc, đồng thời giúp phát triển
một cách toàn diện các tánh hạnh (behaviour), các đức tính
(virtue) của con người. Tuy nhiên, ngay từ đầu, triết học tâm
lý đã vướng phải một sai lầm lớn, đó là xây dựng một
hệ thống nhận thức luận (epistemology), giá trị luận
(axiology) và bản thể luận (ontology) trên căn bản của một
ngã thể (ego), một bản thể (essence). Và do đó, tất yếu
phải đưa đến những quan niệm, phương pháp v.v... nhằm duy
trì và bảo vệ cái ngã thể (4) bất thực đó như cái bản
năng (Id), cái siêu ngã (superego) trong tâm lý học mà Sigmund
Freud đề xuất. Vì thế, khi con người đối diện với sự
thật của định lý vô thường, sinh ra khổ đau và rơi vào
khủng hoảng. Khủng hoảng tâm lý là căn bệnh miên trường
đối với con người. Do đó, cần phải xét lại vấn đề tâm
lý giáo dục của thời đại.
Đức Phật dạy rằng
: "Các hành vô thường", "các pháp là vô ngã"
(5). Điều đó là một tia nắng rực rỡ, khả dĩ soi sáng và
giải quyết các vấn đề hiện đại của con người.
3- Vấn đề cá nhân và
xã hội
Cá nhân và xã hội là
hai mặt của một hiện hữu. Cá nhân không thể thoát ly ngoài
xã hội mà có, và ngược lại, xã hội không thể thành tựu
nếu không có mỗi con người cá nhân. Sự tách biệt giữa cá
nhân và xã hội là điều không thể và lầm lẫn. Do đó, các
hệ thống triết học nếu tự qui giảm mình về hoặc là duy
tâm, hoặc là duy vật v.v... đều rơi vào phiến diện, và tha
hóa. Điều này được Thích Chơn Thiện, trong luận án Tiến
sĩ về "Lý thuyết nhân tính" (6), đánh giá và xếp
loại như sau :
a) "Nhóm tư tưởng
ngôi thứ ba : Các tư tưởng cho rằng có nguyên nhân đầu tiên
của vũ trụ gọi là nhóm tư tưởng ngôi thứ ba - người mà
ta nói về. Do vì vai trò làm chủ cuộc sống của con người
bị đánh mất trong nhóm tư tưởng này, nên tư tưởng của
nhóm này bị tha hóa (alienation)".
b) "Nhóm tư tưởng
ngôi thứ hai : Các tư tưởng cho rằng sự thật chỉ hiện
hữu trong thiên nhiên hay hiện tượng giới gọi là nhóm tư tưởng
ngôi thứ hai - người mà ta nói với. Con người cũng bị đánh
mất trong nhóm tư tưởng này, nên nhóm này được gọi là
tha hóa".
c) "Nhóm tư tưởng
ngôi thứ nhất : Các tư tưởng cho rằng con người làm chủ
cuộc đời mình, hay cuộc sống là vì hạnh phúc của con người
... - người mà ta đang nói ...."
Và tác giả cho rằng,
Phật giáo, hiện sinh thuyết, và hiện tượng luận ... thuộc
về nhóm tư tưởng ngôi thứ nhất.
Tuy nhiên, sự sắp
xếp trên của tác giả chỉ nhằm phân loại các nhóm tư tưởng
một cách bao quát (universal). Sự thật thì giữa Phật giáo và
hiện sinh thuyết chẳng hạn, cách giải quyết vấn đề hoàn
toàn khác nhau (7) ngay từ nền tảng của mỗi học thuyết, như
một đằng nói Vô ngã (Non-essence), một đằng khác nói Hữu
ngã (Essence).
Ở đây, qua giáo lý
Duyên sinh (Paticcasamupàda), Đức Phật đã soi sáng sự thật
của con người và vũ trụ vạn hữu này. Sự thật đó chính
là Duyên sinh tính, Vô ngã tính. (Vấn đề sẽ được bàn rõ
ở các chương sau).
4- Vấn đề đạo đức
và luân lý
Đạo đức và luân lý
đều là các nội dung được bàn đến trong tâm lý học,
mặc dầu giữa đạo đức học và tâm lý học thì khác nhau
trên cơ sở đối tượng và quan điểm nghiên cứu (8); nhưng
cả hai đều thuộc ngành khoa học nhân văn, nên đều hướng
đến đối tượng là đời sống tinh thần hay ý thức của
con người.
Tuy nhiên, do tính
chất công ước (conventional) xã hội của đạo đức, luân lý,
nghĩa là nó luôn luôn được giới hạn bởi tính chất qui ước
chung của toàn xã hội, do đó, nó chỉ phản ánh trên bề
mặt của các hiện tượng (thiện, ác) xã hội, mà chưa
thực sự đi vào bản chất của mỗi con người. Vì thế,
một kẻ tàn ác, xấu xa, y vẫn có thể đội lốt lương
thiện - công ước để trung hoành ngoài xã hội. Đây là nguyên
nhân đưa đến nạn tham nhũng, giết người giấu tay v.v...
hay còn gọi là khủng hoảng đạo đức.
Đức Phật, qua giáo
thuyết nhân quả, nghiệp báo (karma), đã xác định rõ :
"Con người là chủ nhân của nghiệp, là kẻ thừa tự
nghiệp, nghiệp là thai tạng, là quyến thuộc ..."(9)
Cái thai tạng (womb)
hay tâm thức đó của mỗi con người là nền tảng của đạo
đức và luân lý Phật giáo. Và tại đó, là cơ sở duy nhất
có thể giải quyết các khủng hoảng và sự đảo lộn trật
tự của đạo đức, luân lý thời đại. (Vấn đề sẽ được
bàn cụ thể ở các chương sau).
5- Vấn đề tương
quan giữa con người và môi trường sinh thái
Vấn đề môi trường
sinh thái hiện đang là khủng hoảng bức thiết nhất mà con
người phải đối diện. Môi trường được xem như là dưỡng
khí cần thiết, mà qua đó, con người hấp thụ để sinh
sống và phát triển. Mối liên hệ giữa con người và môi trường
là mối quan hệ bất khả phân ly. Do đó, sự hủy diệt môi
trường cũng là sự huỷ diệt con người. Từ đó các vấn
đề như sinh thái học (ecology), hệ sinh thái (ecosystem), môi
trường sinh thái (ecological environment), cấu trúc sinh thái
(ecological structure), sinh thái nhân văn (human ecology), sinh thái
tự nhiên (natural ecology) và diệt sinh thái (ecocide) v.v... được
xem là các vấn đề nóng bỏng nhất đang ảnh hưởng đến
đời sống con người. Vấn đề lại càng trớ trêu hơn, khi
chính các nước tiên tiến lại là nơi dẫn đầu về phá
hoại môi trường sinh thái (10) thông qua sự thải chất bả
từ các nhà máy công nghiệp nặng, nhẹ; sự rò rỉ hay bùng
vỡ các lò phản ứng hạt nhân, sự đắm chìm của các tàu
chuyên chở dầu khí, sự đốt phá những quặng dầu trong
chiến tranh v.v... tất cả đều đưa đến hậu quả diệt
sinh thái một cách trầm trọng. Những vấn đề trên, suy cho
cùng đều bắt nguồn từ lòng vị kỷ, và dục vọng của
con người. Và hiệu ứng nhà kính (dioxide de carbone) (11) thực
ra cũng chính là hiệu ứng dục vọng của con người.
Sự kiện này cần
thiết được soi sáng bởi giáo lý Duyên khởi - Vô ngã; thông
qua giáo lý ấy, con người sẽ hiểu được rằng các loài
hữu tình (sentient beings) và vô tình (non sentient beings) đều là
chúng sinh, cần phải tựa vào nhau mà sinh tồn. Và sự hủy
diệt sinh thái của các loài vô tình đồng thời cũng là sự
hủy diệt sinh thái của con người và muôn loài sinh thú.
6- Vấn đề chiến
tranh và hòa bình
Chiến tranh và hòa bình
là diễn biến hai mặt của cùng một dòng tâm thức. Khi các
dục vọng mâu thuẫn, xung đột nội tại dâng lên đỉnh cao,
lập tức nó trở thành chiến tranh; và khi tâm thức ấy buông
xả mọi xung đột, mọi khát vọng.... thì nó tái lập hòa bình.
Đó chính là ý nghĩa của : "Tâm bình thế giới bình"
trong kinh tạng Phật giáo. Các cuộc chiến tranh nóng và lạnh
trên thế giới đều là diễn biến của tâm thức xung đột,
khát vọng và bất an.
Đức Phật dạy (12) :
"Lại nữa, này các Tỷ kheo, do dục vọng làm nhân, do
dục vọng làm duyên, do dục vọng làm nguyên nhân, do chính
dục vọng làm nhân, vua tranh đoạt với vua, Sát đế l?ranh đoạt
với Sát đế lBà la môn tranh đoạt với Bà la môn, gia
chủ tranh đoạt với gia chủ; mẹ tranh đoạt với con, con
tranh đoạt với mẹ; cha tranh đoạt với con, con tranh đoạt
với cha; anh em tranh đoạt với anh em; anh tranh đoạt với
chị, chị tranh đoạt với anh; bạn bè tranh đoạt với bạn
bè. Khi chúng dấn mình vào tranh chấp, tranh luận, tranh đoạt,
chúng tấn công nhau bằng tay, bằng gạch đá, bằng gậy gộc,
bằng đao kiếm. Ở đây, chúng đi đến tử vong, đi đến
khổ đau gần như tử vong".
"Lại nữa, này các
Tỷ kheo, do dục vọng làm nhân, do dục vọng làm duyên, do
dục vọng làm nguyên nhân, do chính dục vọng làm nhân, chúng
cầm mâu và thuẫn, chúng đeo cung và tên, chúng dàn trận hai
mặt và tên được nhắm bắn nhau, đao được quăng ném nhau,
kiếm được vung chém nhau, chúng bắn, đâm nhau bằng tên, chúng
quăng, đâm nhau bằng đao, chúng chặt đầu nhau bằng kiếm.
Ở đây, chúng đi đến tử vong, đi đến khổ đau gần như
tử vong".
Và Ngài cũng dạy
rằng : "Nếu tâm thức bị dao động bởi bằng, thắng
hay thua, thì đấu tranh khởi lên, khi cả ba không dao động,
thì đấu tranh không sinh khởi".(13)
Hoặc là : "Thắng
trận sinh thù oán, bại trận nếm khổ đau, ai từ bỏ thắng
và bại, tịch tịnh hưởng an lạc".(14)
7- Vấn đề tâm lý giáo
dục
Như đã đề cập, tâm
lý giáo dục là một trong những ngành học quan trọng nhất
về con người, nhằm khảo cứu, quan sát, kiểm chứng các
sự kiện tâm lý để xác định những định luật tâm lý giúp
con người giải quyết các vấn đề nội tại của mình,
nhằm đưa đến cuộc sống hạnh phúc. Do đó, ngành tâm lý
giáo dục có chức năng xây dựng nội dung giáo dục và phương
pháp hướng dẫn thực hiện nội dung giáo dục đó. Các nhà
tâm lý giáo dục nổi tiếng trong thời hiện đại như Sigmund
Freud, Carl Jung, Erich Fromn, Adler, Maslow, Allport, Carl Rogers, John
Dewey, Dalton, George H. Mead, Winnetka, Martimière, Montersori... đã
nỗ lực sáng tạo, đề xuất các hệ thống tâm lý học, tâm
lý giáo dục và tâm lý xã hội... Sự nỗ lực đó đã mở
ra một đường hướng giáo dục cần thiết, hữu ích cho con
người. Tuy nhiên, các lý thuyết ấy vẫn bị giới hạn ở
quan điểm cho rằng con người xuất hiện cùng với một ngã
tính (self) vĩnh hằng ; hoặc khi chạm phải những vấn đề
nan giải thường bị rơi vào "bất khả tri" luận. (Điều
này sẽ được trình bày ở phần sau).
Qua lăng kính Duyên
khởi, Vô thường, Vô ngã, Phật giáo đã đề cập đến khá
rõ về các vấn đề tâm lý giáo dục như một ngành khoa
học nhân văn và xã hội trong các kinh Nikayà và kinh tạng Đại
thừa. Nhất là đối với các kinh như Lăng Già (Lankàvatàra),
kinh Giải Thâm Mật (Sandhi-nirmona), kinh Bát Nhã (Prãjnaparamità),
kinh Hoa Nghiêm (Avatamsaka hay Gandavyùha). Đặc biệt trong triết
học Duy thức (Vinnànàvàda), ít nhất là từ hơn 15 thế kỷ
qua, đã có các hệ thống tâm lý học đặc sắc như Thắng
pháp luận (Abhidhammatthasangaha) của Thượng tọa bộ, A tỳ đạt
ma câu xá luận (Abhidhamma-kosa-sastra) của Nhất thiết hữu
bộ, và Duy thức của Đại thừa(15).
Các bộ luận trên đều
đi vào phân tích tâm lý qua các hoạt động của nó và chia
thành ba loại tâm cơ bản : tâm thiện, tâm bất thiện, và tâm
phi thiện - phi bất thiện hay còn gọi là lộ trình tâm. Thông
qua các loại tâm trên, con đường giáo dục tâm lý được
thể hiện ở sự tập chú thiền định đi vào thanh lọc và
làm cho tâm trở nên thanh tịnh, thoát ly mọi khổ đau của
con người.
Tuy nhiên, trong tác
phẩm này, tác giả chỉ tập trung vào nội dung tâm lý học
trên cơ sở của triết học Duy thức trong Đại thừa Phật
giáo, đặc biệt là y cứ trên tư tưởng của Luận sư Asanga
(Vô Trước) và Vasubandhu(Thế Thân). Đồng thời, thông qua tác
phẩm Duy Thức tam thập tụng (Treatise in thirty verses on
Mere - Consciousness) của Vasubandhu, tác giả sẽ trình bày về
hệ thống Tâm lý học Phật giáo như đã được giới thiệu
trong nội dung của tác phẩm này.
Tác giả tin tưởng
ở sự trình bày cụ thể, rõ ràng và hệ thống của Luận sư
Vasubandhu, trong Duy Thức tam thập tụng sẽ giúp độc
giả tiến sâu hơn vào nguồn mạch của đời sống tâm lý
của chính mình, và từ đó, chọn lựa cho bản thân một
giải pháp tốt nhất nhằm giải quyết những khủng hoảng và
kiến lập đời sống hạnh phúc, giải thoát ngay tại cuộc
đời này.
I.1.2 Phạm vi đề tài
Có nhiều lĩnh vực liên
quan đến đề tài ; tuy nhiên, ở đây tác phẩm được tập
trung vào các chủ đề chính như sau :
- Sự hình thành Tâm lý
học Phật giáo.
- Đại cương Tâm lý
học Phật giáo.
- Nội dung Tâm lý
học Phật giáo qua Duy thức tam thập tụng.
Bên cạnh đó, tác
giả cũng trình bày khái lược về lịch sử tâm lý học phương
Tây và các vấn đề tâm lý học ở phần đầu của tác
phẩm, nhằm giúp độc giả so sánh đối chiếu giữa tâm lý
học phương Tây và Phật giáo. Đồng thời, ở phần kết (Phần
IV. Chương 1 & 2 và phần V), tác giả, thông qua hệ thống
tâm lý giáo dục Phật giáo, đề bạt và giới thiệu những
phương pháp thực tiễn có thể giúp giải quyết các khủng
hoảng tâm lý của con người hiện tại và tái lập đời
sống hạnh phúc thật sự như đã được giới thiệu rõ
trong các hệ thống triết học Phật giáo, nổi bật nhất ở
đây là các thể tài thuộc triết học Duy thức.
Về hệ thống triết
học Duy thức, nó là một hệ thống thuộc về Luận tạng
(Abhidhamma - pitaka) trong Tam tạng (Tripitaka) thánh điển Phật
giáo, bao gồm : Kinh tạng (Sutta - pitaka), Luật tạng (Vinaya-pitaka)
và Luận tạng (Abhidhamma-pitaka). Tam tạng thánh điển lại
được chia thành hai hệ thống theo Nam phương và Bắc phương
Phật giáo, và có những hệ thống giáo nghĩa riêng biệt
gọi là Nam tạng và Bắc tạng. Ở đây, triết học Duy thức
thuộc về giáo nghĩa của Bắc tạng (Mahayàna-Phật giáo). (Xem
phần : Sự hình thành của Tâm lý học Phật giáo - Phần II,
Chương 1).
Công việc nghiên cứu
này, tác giả chỉ tập chú vào phần Luận tạng của Phật
giáo Mahayana, qua đó, xác định sự thật về tâm lý và các
sự kiện, diễn biến của tâm lý con người ; đồng thời trình
bày con đường giáo dục tâm lý theo quan điểm của Phật giáo
nói chung và Luận tạng nói riêng. Tác giả hoàn toàn tin tưởng
ở sự giải kiến (deconstruction) của các vị Luận sư Phật
giáo(16), những người đã thăng chứng tuệ giác và kế
thừa mạng mạch Phật giáo suốt hơn 15 thế kỷ qua.
---o0o---
|
Mục lục | Xem
tiếp |
---o0o---
| Thư mục Tác Giả |
----o0o----
Chân thành cảm ơn Đại Đức
Tâm Thiện đã gởi tặng phiên bản điện tử tập sách này.
(Trang nhà Quảng Đức, 02/2002)