Tâm Lý Học
PHẬT GIÁO
Thích Tâm Thiện
Sàigòn, PL: 2542
-1998
---o0o---
I.2. Chương
2 :
Sơ lược
lịch sử tâm lý học
(Psychology)
Trước khi đi vào nghiên cứu tâm
lý học, cần thiết lược qua quá trình hình thành và sự phát triển của
nó, đặc biệt là hệ thống tâm lý học phương Tây.
I.2.1 : Sự hình thành và phát triển
của tâm lý học
Tâm lý học (Psychology) là một
ngành khoa học nghiên cứu về con người, vị trí của nó đứng ở giữa
khoa học tự nhiên và khoa học xã hội. Tâm lý học khảo sát, tìm hiểu
các động lực phát sinh và sự vận hành của các hiện tượng tâm lý. Cũng
như các ngành khoa học khác, tâm lý học bắt nguồn từ triết học, và về
sau trải qua hàng ngàn năm tâm lý học mới chính thức trở thành một
ngành học chuyên môn.
Khởi đầu, vào thời cổ đại, tâm
lý học gắn liền với lịch sử triết học và được thanh lọc qua bởi
nhiều quan điểm khác nhau. Plato (428-318 B.C.) đại diện cho dòng triết học
Duy tâm, cho rằng hiện tượng của cả tâm lý và vật lý đều xuất sinh
từ ý niệm tuyệt đối hay còn gọi là "Eros" (Tâm), đó là niềm
hứng khởi vô tận từ triết học. Ngược lại Democrite (460-320 B.C.) đại
diện cho dòng triết học Duy vật, đi tìm cái nguyên động lực đầu tiên
từ trong thế giới tự nhiên của vũ trụ vạn hữu như nước, lửa, khí...,
và cho rằng diễn biến của tâm lý con người hoàn toàn tùy thuộc vào
các qui luật về sự vận hành của thế giới tự nhiên. Sau đó đến
Aristote (384-322 B.C.), một môn đệ sáng giá nhất của Plato đã cho ra đời
một tác phẩm tâm lý học đầu tiên dưới nhan đề : "Bàn về linh
hồn". Trong tác phẩm này, ông đã đề cập đến một vấn đề rất
quan trọng về tâm lý, đó là mối liên hệ mật thiết giữa tâm lý và vật
lý, hay giữa tinh thần và cơ thể với thế giới sự vật hiện tượng(17).
Đến nửa đầu thế kỷ XVII,
Descartes (1596-1650) dùng khái niệm "phản xạ" để cắt nghĩa và giải
thích các hoạt động tâm lý giản đơn của con người, cũng như động vật.
Sau đó, Locke (1632-1704) cho rằng mọi hiện tượng và diễn biến tâm lý đều
phát sinh từ kinh nghiệm tri giác thông qua các giác quan. Cả Descartes và
Locke đều thuộc nhóm tư tưởng nhị nguyên, cho rằng dòng diễn biến của
tâm lý tùy thuộc vào vừa thể xác, vừa tinh thần. Cùng với nhóm tư tưởng
này, dòng "Tâm lý học kinh nghiệm" (Psychological empirica) ra đời bởi
các nhà tâm lý như : J. Lov (1632-1701), Didro) (1713-1781), Honback (1723-1789)
v.v...
Ở thế kỷ thứ XVIII, lần đầu tiên
trong lịch sử tâm lý học phương Tây xuất hiện một cách chính thức
ngành tâm lý học qua tác phẩm "Tâm lý học kinh nghiệm"
(Psychological empirica) (1732) và "Tâm lý học lý trí"
(Psychological rationalis) (1734) của C. Wolff (1679-1754), một nhà triết học
Ánh sáng (Enlightenment) Đức. Tuy nhiên, ở thời kỳ đầu này, tâm lý học
chỉ là bộ môn của triết học, và được sử dụng bởi phương pháp nội
quan. Cho đến thế kỷ thứ XIX, phương pháp nghiên cứu tâm lý nội quan dần
dần chuyển sang thực nghiệm bởi phòng thí nghiệm đầu tiên của Wilhelm
Wundt được thành lập tại Leipzig, năm 1897. Năm 1889, đại hội I về tâm
lý học được họp ở Pháp và từ đó tâm lý học được phát triển
thành một ngành khoa học chuyên môn, độc lập bao gồm nhiều ngành học
như : Tánh hạnh học (Psychologie du Comportement Behaviourism) của Watson, Tâm
hình học (Psychologie de la Forme) hay Tâm lý học Grestalt của Kohler
(1887-1967), Wertheimer (1880-1943) và Kofka (1886-1947), Phân tâm học (Psychanalyse)
của Freud v.v... Và đến những năm 20 đầu thế kỷ XX, có Tâm lý học
Marxist của Setchenov, K. Kornilov, Vugotski, Rubinstein v.v...(18).
I.2.2 : Các vấn đề của tâm lý học
A- Đối tượng của tâm lý học
Tâm lý học, như đã trình bày, là
khoa học nghiên cứu về các hiện tượng diễn biến của tâm lý, các qui
luật và cấu trúc tâm lý. Những vấn đề nêu trên quả thực rất phức
tạp theo các quan niệm khác nhau; do đó, có thể phân loại các hiện tượng
tâm lý như sau :
1/ Phân loại 1 : Các hiện tượng
lý trí và tình cảm.
2/ Phân loại 2 : Các hiện tượng
của ý thức và vô thức (như mộng du...)
3/ Phân loại 3 : Các tiến trình
của ý thức. Ở đây, chia làm ba loại :
a) Ý thức có khởi đầu, diễn biến
và kết thúc (ý thức về một điều gì đó).
b) Ý thức xảy ra trong một thời
gian ngắn nhất (như sự bộc phát và mất đi của một ý niệm).
c) Các xu hướng ý thức ổn định
(như tình cảm, năng lực, khí chất...)
4/ Phân loại 4 :
a) Các nhu cầu và động cơ của tâm
lý.
b) Các khả năng và năng khiếu của
con người.
c) Các thuộc tính của tâm lý con người.
Bên cạnh đó, các hiện tượng tâm
lý trong sự vận hành của tri giác (nhận thức) con người được diễn ra
như sau :
a) Nhận thức cảm tính : là nhận
thức qua các giác quan như : thính giác, thị giác, khứu giác, vị giác,
xúc giác, bao gồm hai quá trình cảm giác và tri giác.
b) Nhận thức lý tính : là nhận
thức bằng lý trí từ hai quá trình : hoặc là tư duy, hoặc là tưởng tượng.
Về các thuật ngữ trên, có thể
tóm tắt ý nghĩa của nó như sau :
1/ CẢM GIÁC : là một quá trình
tâm lý phản ánh riêng lẻ từng thuộc tính của sự vật khi nó tác động
trực tiếp vào các giác quan (thính, thị, khứu, vị, xúc) của con người.
Cảm giác là bước đầu của nhận thức, và cũng là nền tảng của sự
nhận thức. Không có cảm giác sẽ trở thành bất giác, vô tri như gỗ đá,
không thể nhận thức được hiện tượng sự vật chung quanh/bên ngoài thế
giới tự nhiên. Tuy nhiên, cảm giác thông thường có ba cường độ.
a) Cường độ cần thiết, tối thiểu
của kích thích để gây ra cảm giác. (Tỉ dụ : cường độ cần thiết
cho thị giác có bước sóng ánh sáng là 390 mm, cho thính giác là tần số
16 hertz).
b) Cường độ trung bình là điều
kiện tốt nhất cho cảm giác. (Tỉ dụ : bước sóng ánh sáng cho thị giác
là 550-600 mm, tần số sóng âm thanh cho thính giác là 1000 hertz).
c) Cường độ tối đa (nếu quá là
mất cảm giác) cho cảm giác. (Tỉ dụ : bước sóng ánh sáng cho thị giác
là 780 mm, và tần số âm thanh cho thính giác là 20.000 hertz).
Ngoài những cường độ tối thiểu,
trung bình và tối đa, con người không thể cảm giác được ở mức độ
dưới tối thiểu, hoặc trên tối đa. Đây là giới hạn của các công cụ
thí nghiệm vật lý trong tiến trình nghiên cứu tâm lý của con người. Ở
điểm này, Phật giáo có thể đi xa hơn trong việc kiểm thảo dòng chảy của
các hiện tượng tâm lý.
Đồng thời cảm giác cũng có những
qui luật căn bản như : thích ứng, tương tác, nối tiếp, tương phản và
bù trừ v.v...
2/ TRI GIÁC : là quá trình tâm lý
tổng hợp những cảm giác riêng lẻ để hình thành nên một tri giác toàn
vẹn về một sự vật, hiện tượng nào đó.
Câu chuyện "Những chàng mù rờ
voi" của Đức Phật có thể cho thấy từng chi tiết của tri giác như
sau :
a) Do tích lũy kinh nghiệm và ngôn ngữ,
nên tri giác về sự vật sẽ bổ sung cho nhau và tạo thành một đối tượng
toàn diện của tri giác. Tỉ dụ các chàng mù, người rờ tai voi thì cho rằng
con voi giống cái quạt; rờ chân voi thì cho rằng con voi giống cái trụ cột
v.v...
b) Do tựa vào kinh nghiệm cũ nên tri
giác về sự vật mới sẽ tạo nên kinh nghiệm mới. Tỉ dụ : vì đã biết
hình thù của cái quạt, nên khi rờ tai voi, chàng mù cho rằng con voi giống
cái quạt v.v...
c) Do đó, nếu tri giác sai lầm thì
dẫn đến kinh nghiệm sai lầm. Kinh nghiệm cũ sẽ bổ sung cho tri giác và
làm cho tri giác hoàn thiện hơn. Và sự kết hợp của các quan năng (5 giác
quan) là cơ sở kinh nghiệm của tri giác.
Từ đây tri giác, cũng như cảm giác,
có một số qui luật cơ bản như : tính chất phân biệt, chọn lựa đối
tượng, tính chất ổn định, tính chất biến động, tính chất ảo ảnh,
tính chất chủ định, và không chủ định v.v...
3/ TƯ DUY : Là hoạt động trí tuệ
cao nhất của nhận thức, đứng trên cảm giác và tri giác, là sự tương
tác, phản ảnh giữa bản thân và thực tại một cách chủ động bằng những
khái niệm, phạm trù. Tư duy chỉ có ở con người.
Các thao tác của tư duy là : phân
tích, tổng hợp, đối chiếu, so sánh, biện minh, loại suy, đồ thị hóa,
hệ thống hóa v.v... Do đó, tính chất của tư duy là năng động, sáng tạo,
khái quát hóa, phản ánh gián tiếp thông qua các dấu hiệu, ngôn ngữ, kinh
nghiệm v.v... Vì vậy sản phẩm của tư duy chính là các khái niệm phân biệt,
các phán đoán suy lý (hoặc diễn dịch, hoặc qui nạp) phát sinh từ sự
giao tiếp.
4/ TƯỞNG TƯỢNG : là sự thiết
lập những ảnh tượng mới không có trong thực tại trên cơ sở của những
biểu tượng đã có. Tính chất của tưởng tượng là sáng tạo, loại suy
(analogie) hay cao hơn là phỏng sinh (bionique) thông qua sự lắp ghép các khái
niệm, biểu tượng, ngôn ngữ... Tưởng tượng diễn theo hai chiều : tiêu
cực, là các mộng tưởng hão huyền ...; và tích cực là các lý tưởng về
một mục đích cao đẹp thúc giục con người vươn lên sự phát triển
toàn diện các năng lực, đức tính v.v...
Trên cơ sở này, dòng trôi chảy của
tâm lý tiếp tục phát sinh các hiện tượng : tình cảm, xúc cảm, vui, buồn,
khổ đau, hạnh phúc v.v... (19)
B- Khái niệm của tâm lý học
Trong tâm lý học hiện đại, các
khái niệm thường được dùng để mô tả và diễn đạt các hiện tượng
tâm lý như : ý chí, hành động ý chí, trí nhớ, sự lãng quên, sự chú
ý, nhân cách, tánh hạnh - bao gồm cả năng lực, tính cách, khí chất và
khuynh hướng. Ở đây, chúng ta khảo sát sơ lược về ý nghĩa của các
khái niệm trên như sau :
1/ Ý chí : là một phẩm chất đặc
thù trong tâm lý con người, giúp vượt qua những chướng ngại bằng sự nỗ
lực, kiên trì của tự thân. Ý chí thường là biểu hiện hai mặt của nhận
thức, tức là lý trí và tình cảm. Nhận thức càng sâu sắc, tình cảm
càng mạnh thì ý chí càng lên cao. Do đó, đối với con người, ý chí có
những tính chất nhất định như : tính chủ đích, quyết đoán, độc lập,
dũng mãnh, kiên trì, tự chủ và tự kiềm chế.
2/ Hành động ý chí : là sự biểu
thị, biểu hiện của ý chí của nhân cách con người bao gồm các tính chất
kỹ xảo và thói quen.
3/ Trí nhớ : là tiến trình lưu
trữ và duy trì các kinh nghiệm, kiến thức, ấn tượng,... của tâm lý dưới
hình thức của những hạt giống biểu tượng, dấu hiệu... Trí nhớ được
chia thành nhiều loại, tùy thuộc vào các giác quan như : nghe, nói, đọc,
viết. Thông qua các kỹ năng trên mà trí nhớ lưu trữ các ảnh tượng của
ngôn ngữ, hình ảnh, cảm xúc v.v...
4/ Sự lãng quên : là những gì
chỉ một lần đi qua tâm thức và bị quên đi, vì các lý do : không chú
ý, không hứng thú (về phía chủ thể) và không được lặp đi lặp lại,
không tạo được các kích thích, ấn tượng mạnh ... (về phía đối tượng).
5/ Sự chú ý : là định hướng
tập trung vào một đối tượng nào đó của ý thức. Sự chú ý có khi
mang theo tình cảm và ngược lại là sự đãng trí. Có hai loại đãng trí
: - Đãng trí bình thường, tức sự không chú ý, và đãng trí bác học, tức
là sự tập chú cao độ ở một đối tượng nào đó mà quên hẳn đi các
đối tượng xung quanh.
6/ Nhân cách : là những đặc
trưng tâm lý ổn định (thói quen) của cá nhân, và hình thành nên một
giá trị của cá nhân đó trong tương quan giữa cá nhân và xã hội. Nhân
cách là đặc tính người của con người.
Theo Schiffman, "nhân cách có thể
miêu tả như là những đặc trưng của tâm lý vừa qui định và phản ánh
cách thức mà con người ứng xử với môi trường xung quanh". (20)
Về cấu trúc của nhân cách thường
được xem là phẩm chất và năng lực cộng với đức hạnh và tài năng.
7/ Khuynh hướng : là những ý muốn
hướng đến một mục tiêu nào đó của tâm thức con người. Khuynh hướng
thường bao gồm các đặc trưng như : nhu cầu, cảm hứng, lý tưởng, quan
điểm v.v...
8/ Năng lực : là khả năng khi thực
hiện sẽ đưa đến một kết quả nhất định nào đó của con người.
Năng lực được xem như là một tổng thể bao gồm các đặc trưng : tri thức,
kỹ xảo, kỹ thuật, thái độ tâm lý dũng mãnh v.v...
9/ Tính cách : là sự biểu hiện
của tâm lý qua hình thức cử chỉ, thái độ, tác phong, phong thái ... mang
tính chất cá tính của mỗi cá nhân.
10/ Khí chất : là sự biểu thị
cường độ và tốc độ của các hoạt động tâm lý trong thể cách ứng
xử của con người. Khí chất thường được chia thành các loại : nóng nảy,
hăng hái, bình thản, ưu tư ...
Trên đây là một số khái niệm
quen thuộc trong tâm lý học hiện đại; giờ đây, chúng ta đi vào khảo cứu
phương pháp của tâm lý học.
C- Phương pháp tâm lý học
Thông thường ngành tâm lý học
dùng các phương pháp chuyên môn để đoán định, phân tích, giải kiến
các hiện tượng tâm lý một cách trực tiếp hoặc gián tiếp. Ở đây,
có thể liệt kê một số phương pháp chuyên môn như sau :
1/ Phương pháp nội quan (Méthode
introspective)
Là phương pháp mà tự chủ thể
quan sát các hiện tượng diễn tiến trong tâm lý của chính mình. Phương
pháp này được dùng một cách phổ biến trong tâm lý học của Ribot, trong
phân tâm học của Freud, và tâm lý học thực nghiệm (introspection
expérimentale) của Wurzbourg...
2/ Phương pháp ngoại quan (Méthode
objective)
Phương pháp này được dùng để
quan sát đối tượng khác nó; ở đây, chủ thể quan sát và đối tượng
được quan sát hoàn toàn khác nhau. Phương pháp ngoại quan được ứng dụng
bằng nhiều cách khác nhau như :
- Quan sát : ghi nhận, khảo sát các
biểu hiện từ bên ngoài.
- Thí nghiệm : bao gồm thí nghiệm tự
nhiên và thí nghiệm qua dụng cụ.
- Trắc nghiệm : bao gồm trắc nghiệm
tổng hợp (test synthétiques), trắc nghiệm phân tích (test analytiques), trắc
nghiệm phẩm chất (test qualitatifs), trắc nghiệm số lượng (test
quantitatifs), trắc nghiệm định hướng (test d’aptitudes) v.v...
- Phỏng vấn.
- Dùng bảng câu hỏi v.v...
Phương pháp ngoại quan thường áp dụng
cho các ngành tâm lý học như : tâm sinh lý học (psycho-physiologie), phản xạ
học (réflexologic) của Pavlov và Bechterev, tánh hạnh học (behaviourism,
psychologie du comportement) của Watson, tâm vật lý học (psychophysique) của
Weber và Fechner, tâm lý động vật (psychologie animale) của Auguste Forel, Piéron,
Kohler, Boulan ..., tâm lý trẻ em (psychologie des enfants) của Watson, Guillaume
..., tâm bệnh lý học (psychologie pathologique) của Freud, Ribot, Jaspers v.v...
3/ Những giới hạn của phương pháp
nội quan và ngoại quan
a) Nội quan : Như cách ngôn
"dòng ý thức" (stream of consciousness) của W. James, ý thức không phải
là một thực thể (entity) đơn nhất mà là một tiến trình trôi chảy bất
tận. Do đó, những ghi nhận về tâm lý của con người chính nó bao giờ cũng
sai lệch, khó chính xác; vì ý thức trong từng chập tư tưởng luôn luôn
thay đổi. Vả lại, nội quan là một thế giới khép kín của ý thức chủ
quan ; nó chỉ cho phép (chủ thể quan sát) biết được chính nó, tức thế
giới ý thức, tinh thần, tình cảm... của riêng mình, chứ không thể biết
được dòng tâm thức của người khác, ngoại trừ những phán đoán và
suy luận mang tính cách công ước.
b) Ngoại quan : Các giới hạn lớn
nhất của ngoại quan là không thể trực tiếp ghi nhận các hiện tượng
diễn tiến của tâm lý mà phải thông qua các phản ứng sinh lý. Do vậy,
những kết quả đem lại từ ngoại quan không hẳn lúc nào cũng chính xác.
Ngoài những giới hạn vừa nêu, phương
pháp nội quan và ngoại quan đã đóng góp một một cách hữu ích thiết thực
cho tiến trình nghiên cứu tâm lý học từ xưa đến nay. (21)
I.2.3 Những lý thuyết tiêu biểu về
tâm lý học hiện đại
Như đã trình bày, có rất nhiều
lý thuyết về tâm lý học hiện đại. Tuy nhiên, ở đây tác giả chỉ đề
cập đến một số lý thuyết tiêu biểu liên hệ đến tâm lý con người
và tâm lý xã hội, nghĩa là các thuyết được tập trung vào các vấn đề
then chốt như : tâm thức và bản ngã (hay nhân tính) trong tương quan giữa
con người và xã hội; và đó cũng là điểm trọng tâm của ngành tâm lý
giáo dục hiện đại.
1- Lý thuyết của George Herbert Mead
(1863-1931)
George H. Mead là một giáo sư triết
học về tâm lý xã hội thuộc Đại học Chicago, ông là một học giả
chuyên chính có ảnh hưởng rộng lớn; tuy nhiên, chưa bao giờ viết sách
hay báo để biện minh học thuyết của mình. Những lớp tâm lý học đầu
tiên của ông được dạy từ năm 1900 tại Đại học Chicago. Về sau, vào
những năm 1927-1930, người ta đã viết lại tư tưởng của Mead và phổ biến
rộng rãi. Phần trình bày dưới đây được trích dẫn từ tác phẩm
"Mind Self and Society" (21) và được tóm tắt trong nội dung quyển
"Sociology" (22) của Leonard Broom, và Philip Selznick. (23)
Nội dung lý thuyết tâm lý của Mead
được trình bày qua các điểm trung tâm của : tâm thức, bản ngã, và xã
hội.
Chủ thuyết của Mead, cũng như John
Dewey (một triết gia thực nghiệm), cho rằng cơ cấu tâm lý của con người
là một hệ thống bao gồm : tâm thức, bản ngã và xã hội. Tuy nhiên, theo
Mead, tâm thức (mind) và bản ngã (self) vốn là sản phẩm của xã hội.
Tâm thức và bản ngã là một hệ thống xã hội, phát sinh từ kinh nghiệm
xã hội; và do đó, có thể xem bản ngã của tâm thức là một đơn vị độc
lập, nhưng không thể phát sinh ngoài kinh nghiệm xã hội. (24)
Mead, qua ghi nhận của L. Broom và P.
Selznick, lý luận rằng : "Tư tưởng hay tâm linh và bản ngã, chỉ xuất
hiện trong diễn tiến giao tế và giao dịch xã hội, chứ không thể có trước
xã hội. Nhưng làm thế nào giao tế và giao dịch xã hội có thể hoạt động
trước tâm linh và bản ngã ?". Mead giải thích : "Khả năng giao dịch
và giao tế là khả năng sinh lý của những sinh vật thượng đẳng. Thực
vậy, giao tế bằng những phương tiện không dùng ngôn ngữ trong những hoạt
động chung là điều kiện có trước ngôn ngữ. Ngôn ngữ đã góp thêm
vào sự giao dịch và giao tế thô sơ, của loài người bằng cách làm cho
xã hội hóa có thể thực hiện được. Nhờ ngôn ngữ nên người ta có thể
lĩnh hội rõ ràng thái độ của những kẻ khác và các đoàn thể họ tham
dự vào ... Cuối cùng, tâm thức và bản ngã phát sinh khi giao tế xã hội
đi song song với ngôn ngữ và do ngôn ngữ mà được hoàn thành" (25).
Từ đó, lý thuyết tâm lý của Mead
đưa ra tiến trình phát sinh và phát triển của bản ngã từ thái độ bắt
chước đến khả năng tổng quát-liên hệ. Có thể tóm tắt lý luận căn
bản của Mead như sau :
a) Giao tế tiền ngôn ngữ
Trong nhiều trường hợp, các giống
vật giao cấu với nhau và săn sóc trẻ con làm cho phát sinh sự tương quan
giữa con này và con kia, đó là sự phát sinh của đời sống gia đình- thô
sơ trong các giống vật thấp hơn người.
Đối với con người, do đó, nếu
không thể giao dịch bằng cử chỉ - (hành động không lời) - thì không thể
giao tiếp bằng ngôn ngữ. Vì lẽ các trẻ em nhỏ tuổi, nó sẽ không hiểu
được "giận" hay "đói" là gì trừ phi nó hiểu được cử
chỉ giận hờn và cho ăn của người mẹ v.v... Đây là giai đoạn đầu của
ý thức về bản ngã hay giai đoạn giao tế tiền ngôn ngữ. (26)
b) Giai đoạn ngôn ngữ hình thành
tâm thức và bản ngã
Trong trường hợp này, Mead cho rằng,
nhờ có ngôn ngữ nên có tư tưởng và nhờ có tư tưởng nên mới có sự
giao tế; và nhờ có ngôn ngữ nên có thể thay thế tư tưởng bằng hành
vi, thái độ, cử chỉ... Ở đây, sau khi đứa bé hiểu được cử chỉ
"giận hờn" và học được chữ "giận hờn", người mẹ
không cần dùng đến cử chỉ nữa mà chỉ dùng lời nói để biểu thị
tư tưởng. Và, vì mẹ và con cùng hiểu những khái niệm về cử chỉ và
ngôn ngữ, nên đứa bé có ý niệm về sự "giận hờn" ... Do đó,
tự nó sẽ làm theo những gì phù hợp với ý muốn của mẹ nó (hay ý muốn
của những người xung quanh nó) ; nghĩa là nó lấy thái độ của người
khác hay những thái độ được qui ước chung của xã hội làm khuôn mẫu
nương theo. Đây là sự hình thành nhân tính hay ý thức về tự ngã đầu
tiên của mỗi con người.
c) Bản ngã - xã hội
Như vừa đề cập, sự phát sinh thế
giới ý niệm của trẻ con là do sự học tập và hấp thụ thái độ, ngôn
ngữ, quan điểm,... của kẻ khác ; và bằng cách đó, xã hội "đi vào
cá nhân". Nhưng theo Mead thì chỉ có con người mới có khả năng kiểm
thảo và tự kiểm thảo; và sự tự kiểm thảo đó là kết quả của xã
hội. Vì từ đầu, nguyên tắc hướng dẫn con người vốn là kết quả của
sự lĩnh hội các thái độ và quan điểm... từ những người khác, tức từ
xã hội mà không phải là từ con người chính nó. Vì thế, ý thức về tự
ngã luôn luôn mang tính xã hội, và hiện hữu giữa tương quan của con người
và xã hội.
d) Bản ngã và sở hữu tự ngã
Ở điểm này, Mead nới rộng quan niệm
về tự ngã, cho rằng nó không những là sản phẩm của xã hội mà còn
có tính chất sáng tạo. Từ đó, ông chia bản ngã thành hai loại : bản
ngã và sở hữu tự ngã (hay cái thuộc tính cố định của bản ngã). Nếu
nói theo từ ngữ của Freud thì bản ngã không bị kiểm soát bởi sở hữu
tự ngã, mà trái lại, sở hữu tự ngã là một phần của bản ngã. Do đó,
sở hữu tự ngã có thể gọi là những tri kiến, kinh nghiệm, khát vọng
... của bản ngã. Và như thế, nó không hẳn lúc nào cũng bị chi phối bởi
những gì mà nó lĩnh hội, nhưng trái lại, nó có thể hành động rất sáng
tạo, ảnh hưởng đến hay thay đổi mọi cơ cấu của tiến trình xã hội.
2- Lý thuyết của Sigmund Freud
(1856-1939)
Sigmund Freud là một bác sĩ về thần
kinh và tâm thần người Áo, sáng lập ngành Phân tâm học (Psychoanalysis).
Vì Freud là gốc người Do Thái, từ năm 1938 ông sống lưu vong để t?ạn
chế độ phát xít Đức, và mất tại Anh vào năm 1939. Xuất phát từ một
phương pháp trị bệnh rối loạn thần kinh đặc biệt (hystérie), Freud đã
đề xuất phép trị liệu phân tâm học bằng sự sử dụng liên tưởng, mộng
để phân tích những động lực mạnh (choc) gây bệnh. Về sau phân tâm học
trở thành chủ nghĩa Freud (Freudianism) và đề xuất hai bản năng gốc là
"bản năng tình dục" và "bản năng chết", xem đó là
nguyên động lực chi phối tiến trình lịch sử nhân loại. Sau đó, lại
tiếp tục hình thành nên chủ nghĩa Freud mới (Neo-Freudianism) với các đại
biểu chính là E. Fromn, K. Horney v.v...
Lý thuyết của Freud có thể được
tóm tắt như sau : Freud cho rằng cấu trúc nhân tính hay ngã tính của con người
bao gồm ba phần : a- Bản năng (Id), ngã tính (ego) và siêu ngã (superego), cũng
gọi là "ý thức" ba ngôi. (27)
a) Bản năng (Id) : Bản năng là
cội nguồn nhân tính của con người, ở đó tích lũy các nguồn năng lượng
và cung cấp năng lực cho các hoạt động tâm lý như ý thức (ego) và siêu
thức (superego). Khi nguồn năng lượng gia tăng khiến cho bản năng bùng
phát mạnh tạo thành những cú sốc (choc) tâm lý khó chịu, căng thẳng, bực
tức ... Ngược lại, sự giải trừ các căng thẳng và qui giảm năng lượng
trở về trạng thái ổn định, thư giãn ... là con đường phấn khích
đưa đến khoái lạc. Do đó, bản năng được chia thành hai loại tác năng
chính, đó là : "bản năng tình dục" (libido) và "bản năng chết".
- Về bản năng tình dục (libido) :
nó là cội nguồn, năng lượng tình dục, năng lực kích thích tình dục,
phấn khích tình yêu ... và chi phối đời sống nội tâm. Ở điểm này
libido được xem như là "nguyên tắc khoái lạc". Nó vừa là sự
phát triển tình dục của người lành mạnh và được mở rộng cho đến
các hoạt động khoa học, mỹ thuật của cá nhân, lại vừa là căn nguyên
của bệnh lý. Về sau, Freud liên hệ rộng hơn nữa về khái niệm libido
cho tất cả xung năng của tình yêu, như tình yêu giữa bố mẹ và con
cái...
- Về bản năng chết (pulsion de mort)
hay lực chết : nó diễn ra theo chiều hướng ngược lại khi tùy vào mức
độ tăng tốc của năng lượng trong bản năng (Id) đi đến đỉnh cao như
tức tối, giận dữ... làm tăng huyết áp, ngất xỉu, tử vong...
Theo nhận xét của C. Jung, libido
không những là xung năng (pulsion) của tình dục, mà còn là năng lượng của
tâm lý nói chung. (28)
b) Ý thức tự ngã (ego)
Freud cho rằng, ý thức tự ngã luôn
luôn bị chi phối bởi bản năng (Id) mà nội dung chính của nó là
"libido" hiểu theo nghĩa rộng - tức là mọi nhu cầu, khát vọng, dục
vọng, thèm muốn giao tiếp với thế giới thực tại khách quan. Ý thức
là là bản năng khát vọng sống của tự ngã ( cái tôi). Nhưng khi ý thức
tự ngã bị kiềm chế bởi những khuôn định, qui ước xã hội (social
conventions) nó lại đi vào vô thức (inconscient). Rồi từ đó, những xung năng
khát vọng bộc phát lên ý thức, biến thành những ưu phiền, lo âu...
"Cái tôi" của mỗi cá thể luôn luôn bị phá vỡ bởi sự mâu thuẫn
của bản năng dục vọng và sự kiềm chế của ý thức xã hội.
c) Siêu ngã (superego)
Siêu ngã cũng được gọi là siêu
thức, nó vượt lên trên bản năng tình dục (sexuality) và ý thức tự ngã
để duy trì mọi giá trị truyền thống và các lý tưởng đạo đức xã hội.
Nó, một mặt vừa kiềm chế sự thôi thúc của "khát vọng dục
tính" (sexual desize), mặt khác thúc giục ý thức bảo trì các giá trị
đạo đức cá nhân và xã hội. Do đó, siêu thức là ý thức vươn đến sự
hoàn thiện của đời sống.
Theo đánh giá của L. Broom và P.
Seiznick, thì cả hai triết gia thực nghiệm George H. Mead và Sigmund Freud, những
người sáng lập ngành giải phẫu tâm lý này đã đóng góp một phần lớn
vào tiến trình nghiên cứu bản ngã trong quá trình xã hội hóa. (29) Tuy
nhiên, như chúng ta thấy, quan điểm của Mead và Freud hoàn toàn khác nhau.
Mead thì lấy xã hội làm nền tảng cho sự phát triển của ý thức, trong
khi Freud thì cho rằng, những qui ước xã hội đã kiềm hãm và làm sai lệch
ý thức tự ngã. Mead chia ý thức thành hai phạm trù : bản ngã (ego) và sở
hữu tự ngã (ego - attribute), và cho rằng cả hai đều nương tựa vào xã hội
mà hình thành và phát triển. Ngược lại, Freud chia ý thức làm ba phạm
trù : bản năng (Id), ý thức (ego) và siêu thức (superego); và ở đó, bản
năng (Id) là phần trọng tâm của sinh lý cá thể mà xã hội không thể
nào điều hành được, ego là người trung gian hòa giải các nhu cầu sinh
lý và những đòi hỏi của xã hội. Đối với Mead, ngã và sở hữu tự
ngã có thể dung hóa lẫn nhau, trong khi theo Freud, các phạm trù của ngã
luôn tiềm tàng những khả năng xung đột, mâu thuẫn (30)... hay còn gọi
là xung năng (pulsion). (31)
3- Lý thuyết của Carl Gustav Jung
(1875-1961)
Carl Gustav Jung là người cùng thời
với Freud, một nhà phân tâm học tại Zurich. Lúc đầu, Jung là môn đệ
trung thành của chủ thuyết Freud (Freudianism) sau khi tiếp xúc với Freud tại
Áo, vào năm 1907. Nhưng sau đó, ông từ chối hoàn toàn chủ thuyết của
Freud, cho rằng đó là lý thuyết dục tính đã bị đồng hóa bởi dục
tính cá nhân của Freud; và do đó, ông nỗ lực xây dựng một lý thuyết mới,
gọi là "tâm lý trị liệu".
Theo đánh giá của Calvin S. Hall và
Gardner Lindzey, trong "Theories of Personality" (32), thì Jung luôn luôn
sáng tạo trong cách phân tích tâm lý của mình. Với ông, cái tự ngã
(personality) như là một tổng thể bao gồm các mặt của đời như : ý thức,
vô thức, cảm thức, cá nhân, xã hội, nữ tính, nam tính, nhân tính, thú
tính, tri giác, trực giác v.v..., tất cả tính chất đó được xem như là
tác năng của một "trục nhân tính" (axis of the personality). Do đó,
theo Jung, trong nam giới có chứa những nữ tính, trong nữ giới có chứa những
nam tính. Tương tự như thế đối với những thú tính (animal nature) và
nhân tính (personality) trong cùng một con người.
Và cũng từ đó, Jung phân tích bệnh
lý qua các hội chứng như : dồn nén (repression), mặc cảm (oedipc), giận dữ,
tức tối (truculent), trầm mặc (inhibited), qui kỷ (egocentric), đa cảm (hyperémotivité)
v.v... đều xuất sinh từ ý thức tự ngã, những ấn tượng, tri giác, ký
ức, cảm xúc... đã qua và bị dồn nén vào vô thức tạo thành những xung
năng (pulsion) gây nên trạng thái bất bình, bất an, bực tức, căng thẳng
cho dòng chảy của tâm lý. (33)
Mặc dù Jung phê bình Freud, như vừa
đề cập ở trên, nhưng chúng ta thấy lý thuyết của Jung nhằm vào các hiện
tượng tâm lý nhiều hơn là bản chất của tâm lý như ở tâm lý học
Freud. Tuy nhiên, lý thuyết của cả Freud và Jung đều là những dấu ấn
vàng son, đặc sắc trong lịch sử tâm lý học hiện đại.
4- Lý thuyết của Erich Fromm
(1900-1980)
Erich Fromm, một nhà phân tâm học
và xã hội học người Mỹ gốc Đức, sinh tại Frankfurt. Năm 1922, ông tốt
nghiệp tiến sĩ tại Đại học Heidenberg, đến năm 1933, ông sang Mỹ và dạy
tại Đại học Chicago, ngành phân tâm học.
Quan điểm của Fromm có phần tương
tự với Carl .G. Jung, cho rằng con người là một tổng thể bao gồm các đặc
trưng của nhân tính (personality) và thú tính (animal nature), và chính điều
đó là mâu thuẫn nội tại trong sự vận hành tâm lý của con người. Do
đó, trong tính cách của hoặc là thú tính hoặc là nhân tính, con người
nhất thiết cần phải có những nhu cầu nhất định. Tuy nhiên, cũng như
George H. Mead, Fromm cho rằng sự phát triển của nhân tính là tùy thuộc
vào những cống hiến của xã hội. Nhưng, với xã hội thì ý thức về sự
tự do luôn luôn làm cho con người cảm nhận sự bất an trong tâm lý. Đây
là nội dung mà Fromm trình bày trong tác phẩm "Thoát khỏi tự do"
(Escape from Freedom) (34), và phương pháp trị liệu của Fromm là tâm hóa chủ
nghĩa nhân đạo.
Thực ra, như vừa trình bày, sự nỗ
lực của Fromm dù thế nào đi nữa vẫn không giải quyết được cái mâu
thuẫn nội tại mà Fromm đã đề ra. Vì lẽ, cả tính chất của nhân tính
và thú tính là khát vọng, và con đường để đi đến sự thỏa mãn mọi
khát vọng đó là sự rối loạn và mâu thuẫn giữa cá nhân và xã hội.
Như thế, Fromm hoàn toàn bất lực trong việc đề ra một con đường khả
dĩ đem lại hạnh phúc thật sự cho con người. Do đó, chủ thuyết của
Fromm cũng sớm bị rơi vào tha hóa.
5- Lý thuyết của Abraham Harold Maslow
(1908?)
Maslow sinh tại Brooklyn, NewYork, con của
một gia đình thường dân người Do Thái. Lớn lên, ông vào Đại học
Wisconsin, ngành tâm lý học và đậu cử nhân năm 1930, đến năm 1934 ông đậu
tiến sĩ. Sau khi tốt nghiệp, ông trở về NewYork tiếp tục làm việc và
nghiên cứu tại Đại học Columbia. Maslow đã từng làm việc, tiếp xúc với
các nhà tâm lý học nổi tiếng như E. L. Thorndike, E. Fromm, A. Adler, M.
Wertheimer..., và đề tài mà ông chuyên chú nhất là về lý thuyết nhân
tính.
Theo nhận xét của L. Broom, và P.
Selznick, thì Maslow là một trong những lý thuyết gia nhân bản về nhân
tính nổi tiếng nhất, ông cũng là người đầu tiên đề ra hệ thống các
nhu cầu con người theo mô hình tháp có 5 bậc :
a) Nhu cầu sinh lý cơ bản : ăn, ở,
vệ sinh, tình dục...
b) Nhu cầu bảo toàn tính mạng.
c) Nhu cầu văn hóa xã hội.
d) Nhu cầu được kính trọng.
e) Nhu cầu tự thể hiện, tự khẳng
định, nói theo ngôn ngữ của Mỹ ngày nay là nhu cầu "bùng nổ cá
nhân". (The personality broke out)
Ngày nay, lý thuyết này được
phương Tây khẳng định và bổ sung thêm về nội dung. Vì lẽ, khi đời sống
càng cao, thì nhu cầu càng nhiều. Nhu cầu sinh ra động cơ, và động cơ là
ý lực làm thỏa mãn nhu cầu. (36)
Maslow đã lý giải các nhu cầu, thậm
chí là nhu cầu tình dục, như là những ý lực nhằm tự khẳng định của
nhân tính, ông quan niệm rằng, sự thúc giục của sinh lý có thể thay đổi
hoặc chuyển hướng, cả trong loài thú cũng như loài người (36).
Ông quan sát và cho rằng, hành động
nhục dục của loài khỉ có tính cách xã hội hơn là sinh lý. Khỉ dùng
hành động hành dục để chứng tỏ trạng thái ngự trị và phục tùng
(37). Và do đó, nhu cầu tự khẳng định là ý hướng phát triển của sinh
thú cũng như của con người.
Về động cơ và nhu cầu, theo
Schiffman và cộng sự, được định nghĩa như sau : "Động cơ là động
lực nội tâm thúc đẩy cá thể hành động. Động lực đó sinh ra do một
trạng thái căng thẳng không dễ chịu, là kết quả của một nhu cầu chưa
được thỏa mãn". (Motivation is the driving force within individuals that
impels them to action. This driving force is produced by a state of uncomfortable tension,
which exists as the result of an unfilled need). (38)
Từ những chi tiết trên, Maslow kết
luận : "Con người là trung tâm của mọi vấn đề". Nghĩa là con
người phải tự chọn cho mình một lối sống và phải chịu trách nhiệm
hoàn toàn về lối sống của mình. Đây là quan điểm của các nhà triết
học hiện sinh. Điều này tương tự như Jean Paul Sartre đã khẳng định :
"Con người là kết quả của mọi hành động mà nó tạo ra" (39)
Như thế, đứng ở góc độ nào đó,
lý thuyết của Maslow cũng có phần tương tự như của Freud, về bản năng
"khát vọng sống" của nhân tính. Nó cũng là cái trục nhân tính
trong quan điểm của Carl. G. Jung, và cái tính phối ngẫu (nhân và thú
tính) của Fromm... Tuy nhiên, giải pháp của Maslow cũng chỉ là giải pháp
"tạm thời" nhằm ôn hòa mọi khát vọng thống thiết của con người
mà thôi. Maslow không thể tìm ra được cái căn nguyên của nhân tính là
gì mà chỉ đề ra các hoạt động và đòi hỏi của nhân tính trong tư thế
của kẻ vừa chủ động lại vừa bị động. Một giải pháp như thế sẽ
không thể giúp con người đạt đến sự hạnh phúc lâu dài và thực thụ.
I.2.4 Nhận xét chung về tâm lý học
phương Tây
Như vừa trình bày tóm tắt một số
lý thuyết gia và lý thuyết tâm lý tiêu biểu ở trên, chúng ta có thể
rút ra một số nhận xét chung về tâm lý học phương Tây như sau :
1- Các lý thuyết tâm lý của phương
Tây từ thế kỷ XVIII, khởi đầu bằng tác phẩm "Tâm lý học kinh
nghiệm" (Psychological Empiria) và "Tâm lý học lý trí"
(Psychological Rationalis) của C. Wolff, một nhà triết học ánh sáng cho đến
nay đều tập trung vào nghiên cứu và phân tích các hiện tượng tâm lý hơn
là bản chất của tâm lý.
2- Đứng trên quan điểm hoặc là
cá nhân, hoặc là xã hội, các nhà tâm lý học xây dựng và củng cố lý
thuyết của mình; do đó, trong các lý thuyết tâm lý có những điểm mâu
thuẫn, bất đồng. Một số thì đi vào chủ nghĩa khoái lạc, một số
khác thì đi vào duy tâm phi lý tính. Những lý thuyết đi vào thực nghiệm
lại bị giới hạn bởi hiện tượng "phòng thí nghiệm"...
3- Tất cả các lý thuyết tâm lý phương
Tây đều xoay quanh chủ đề "khát vọng sống", dù nó được diễn
đạt dưới nhiều tên gọi khác nhau như : nhu cầu, điều kiện, thuộc tính
vốn có v.v..., tất cả đều nói lên tiếng nói dục vọng của nhân tính,
cái mà các lý thuyết gia cho rằng đó là cội nguồn của khổ đau và hạnh
phúc, và cũng là cái mà con người phải tuân thủ, phục tùng.
4- Do thừa nhận có một nhân tính tồn
tại như một ngã thể (ego) hay một thực thể (essence hay entity) độc lập
và vĩnh cửu, nên các lý thuyết tâm lý đều được tập trung theo chiều
hướng vừa điều tiết lại vừa thích ứng hóa với mọi yêu cầu, khát
vọng của nhân tính. Sự điều tiết hay thích ứng đó được gọi là thỏa
mãn. Và theo các tâm lý gia phương Tây, sự thỏa mãn các nhu cầu của đời
sống tâm lý và vật lý là hạnh phúc. Do đó, hạnh phúc của con người
luôn luôn mang tính cách tạm thời và không ngừng thay đổi. Vì lẽ, dục
vọng, nhu cầu của con người sẽ không bao giờ kết thúc ngay khi con người
ấy "nằm xuống" muôn đời. Một quan điểm về hạnh phúc như thế
ắt hẳn là động cơ gây khổ đau, ưu phiền và luôn luôn bức bách trong
sự vận hành của tâm lý. Đó chỉ là một thứ hạnh phúc giả tạo, xây
dựng trên cấu trúc vô thường, bất định của thế giới tâm lý và vật
lý. Chưa nhận chân được tính cách vô thường của dòng tâm lý cũng như
thế giới thực tại khách quan, thì mọi cơ đồ hạnh phúc hóa ra hư ảo,
và con người vẫn đắm chìm trong khổ đau và tội lỗi.
5- Cái giá trị cơ bản của các lý
thuyết tâm lý phương Tây là ở chỗ nó nhận ra khát vọng, dục vọng,
ham muốn ... như là sự thật về bản chất của nhân tính hay ý thức tự
ngã. Cũng như sự nhận ra cái mâu thuẫn nội tại của nhân tính, một mặt
vừa mong muốn được lặng yên trong hạnh phúc vĩnh cửu, mặt khác lại
luôn luôn bị sôi sục, rực cháy và thiêu đốt bởi dục vọng thấp hèn,
đây chính là sự quá đà và của ý thức tự ngã.
6- Cái giới hạn cơ bản của các
lý thuyết tâm lý phương Tây là các giải pháp của nó luôn luôn mang tính
cách đối trị, nhất thời. Và do đó, để có được sự thỏa mãn và hạnh
phúc theo ý muốn, con người phải liên tục đấu tranh với chính nó cũng
như với xã hội theo hai khuynh hướng vừa giải quyết mâu thuẫn nội tại
(cá nhân), vừa giải quyết mâu thuẫn ngoại tại (mối liên hệ giữa cá
nhân và xã hội).
7- Về sự thật của con người và
thế giới thực tại khách quan, theo lời Đức Phật dạy, là vô thường,
vô ngã (anatta). Như thế, mọi lý thuyết nếu thật sự mong muốn đem lại
hạnh phúc cho con người tất yếu phải được soi sáng từ bản chất của
thực tại, tức vô thường, vô ngã. Bao lâu con người còn đứng trên quan
điểm hữu ngã (ego) để soi sáng, chiếu rọi thực tại vô ngã, thì sẽ
không bao giờ đạt đến sự cứu cánh hạnh phúc. Đây là nhược điểm
then chốt của các triết gia tâm lý phương Tây. Nghĩa là, mọi cơ cấu luận
thuyết của họ luôn luôn được xây dựng trên căn bản của cái
"Tôi" (I), "Cái của tôi" (Mine) và cái "Tự ngã của
tôi" (Myself).
Trên đây, chúng ta vừa khái lược
một số lý thuyết tâm lý của phương Tây, cũng như các ưu điểm và khuyết
điểm của nó. Sự khái lược này sẽ là cơ sở và tiền đề để đi vào
tìm hiểu tâm lý học Phật giáo (Buddhist Psychology).
---o0o---
| Mục lục | xem tiep |
---o0o---
| Thư mục Tác Giả |
----o0o----
Chân thành cảm ơn Đại Đức Tâm Thiện
đã gởi tặng phiên bản điện tử tập sách này.
(Trang nhà Quảng Đức, 02/2002)