tham vọng tột bực mà vua
Śaśāṅka đạt được trong sự nghiệp quyền lực ban đầu của ông,
cho nên ông đã thành công trong việc thiết lập để mở rộng
quyền lực của vương quốc Gauḍa, nhưng nó chỉ tồn tại chỉ vỏn
vẹn 17 năm vài tháng và mấy ngày (theo Kinh Mañjuśrīmūlakalpa,
kệ số 748-49). Ông chết đi có lẽ không để lại một sự thành
công nào cả, vương quốc chính của ông là Karṇasuvarṇa đã bị
chiếm lấy trong tay của vị vua láng giềng thuộc vương quốc
Assam. Những vua của vương quốc Assam không thể giữ vương quốc
của mình lâu, vì như chúng ta biết rằng, Bengal và Magadha
(Ma-kiệt-đà) dần dần phát triển thành một đế quốc hùng mạnh
dưới sự trị vì của các vị vua Pāla (Ba-la) khoảng một thế kỷ
sau đó”(28). R.C. Majumdar nói rằng, “Mặc dù dữ liệu không đủ
để có thể hình thành một sự đánh giá đúng về đặc tính và sự
đạt được của vua Śaśāṅka, nhưng ông vẫn được xem là một đại đế,
một nhân vật đặc biệt trong suốt đầu thế kỷ thứ VII TL. Ông là
vị vua lịch sử đầu tiên của xứ Bengal, ông không chỉ mơ tưởng
những giấc mơ làm bá chủ mà còn tiếp tục trong việc thực hiện
những ảo tưởng ấy. Ông đã đặt các nền móng cho việc thiết lập
cơ cấu đế chế trong bóng dáng mờ ảo của những tham vọng.
Śaśāṅka là một vị vua ngược đãi Phật-giáo.
Dựa trên những đồng tiền của vị vua này, hình tượng con bò và
các sử ký của Ngài Huyền Trang chỉ cho chúng thấy rằng, vua
này là một tín đồ của Ấn giáo (Siva)(30). Kinh
Mañjuśrīmūlakalpa đề cập ông như dvijāhavayaḥ, có nghĩa là
thuộc Bà-la-môn-giáo (31) và nó còn xác nhận ông là đệ tử của
đạo Bà-la-môn. Ông là kẻ thù không đội trời chung với
Phật-giáo và ông đã nỗ lực hết sức tiêu diệt Phật-giáo, bất cứ
nơi nào ông đến và ông cũng đạt được nhiều chiến công huy
hoàng của ông(32). Ngài Huyền Trang cho rằng, "tại Kuśīnagara,
Ngài cảm thấy đau buồn vì sự huỷ diệt của vua Śaśāṅka đối với
Phật-giáo, nhiều ngôi Chùa của Phật-giáo, tượng Phật và những
nơi liên quan đến Phật-giáo đều bị phá đổ hoàn toàn"(33). Ngài
còn đề cập rằng, “trong khoảng thời gian gần đây, Vua Śaśāṅka
cố gắng xoá sạch các dấu chân của đức Phật nhưng không có kết
quả, ông liền sai quân khiêng những tảng đá có in hình dấu
chân liệng xuống sông Hằng (Gangas)”(34). Điều này cho thấy
rằng, có thể đó là những dấu chân của đức Phật nằm tại vùng
Pāṭaliputra (Hoa-thị-thành). Ngài Huyền Trang còn cho biết
thêm rằng, "tại Bodh-gayā (Bồ-đề-đạo-tràng), vào khoảng thời
gian gần đây(tức là gần với thời kỳ của Ngài Huyền Trang), vua
Śaśāṅkak, người thù ghét và ngược đãi Phật-giáo, đã chặt cây
Bồ-đề, tiêu diệt tận gốc rễ của nó bằng cách đào sâu xuống cho
đến khi thấy nước và ông đã đốt tất cả những gì vẫn còn sót
lại"(35) và Ngài còn nói rằng, vua Śaśāṅka đã chuyển tượng
Phật đến nơi khác và thay vào đó là tượng Thần Śiva (36).
Nhưng R.D. Banerjee và R.J. Chanda không đồng ý với nhà chiêm
bái Trung-hoa và họ không tin vào các sử ký của Ngài Huyền
Trang (37). R.P. Chanda nói rằng, "Nguồn gốc phát sinh sự bất
mãn của vua Śaśāṅka đối với các tín đồ Phật-giáo sự thật có
thể là do các tín đồ Phật-giáo tại những vùng như Magadha và
một số nơi khác đã tham gia vào việc thông đồng cùng với vua
Harṣavardhana để chống lại vua Śaśāṅka, do đó ông muốn trừng
phạt họ bằng sự ngược đãi, đàn áp như thế"(38). Kinh
Mañjuśrīmūlakalpa mô tả rằng, “vua Śaśāṅka sẽ là vị vua hùng
mạnh tại nhiều vương quốc dọc theo bờ sông Hằng (Ganges) thậm
chí cho đến những vùng Benares (Ba-la-nại ) và ông sẽ phá huỷ
nhiều tượng Phật đẹp. Dựa theo nguồn tin từ những người ngoại
đạo, ông sẽ còn thiêu đốt nhiều nơi, có một nơi tôn thờ xá lợi
(dấu tích thiêng liêng). Kế đến, con người sân hận, tham lam,
tự mãn và thiếu tình thương này sẽ đập đổ tất cả các tịnh xá,
tu viện, vườn tược và chánh điện, và ông còn phá huỷ nhiều nhà
nghỉ của các tín đồ thuộc Đạo-kỳ-na-giáo (Nirgrantha). Ông còn
bắt buộc họ phải từ bỏ niềm tin của tôn giáo họ".
R. C. Basak cung cấp cho chúng ta một sử
liệu về tình trạng của Phật-giáo vùng Bengal vào thời kỳ của
vua Śaśāṅka. Ông cho rằng, "Tại Bengal, có cả những tu viện
Phật-giáo và các đền thờ Bà-la-môn. Nhiều tín đồ Phật-giáo tại
Bengal thuộc cả hai trường phái, Tiểu-thừa và Đại-thừa. Phía
Bắc Bengal (còn được gọi là Puṇḍravardhana), dân cư ở đây rất
thịnh vượng, họ có nhiều hồ cá, nhà nghỉ và những vườn hoa ….
Ngoài các tín đồ Phật-giáo và các tín đồ Ấn-giáo sinh sống tại
miền Bắc Bengal, còn có cả tín đồ Kỳ-na-giáo…. Miền Đông
Bengal, lúc đó còn gọi là Samataṭa nằm gần cạnh bờ biển, bao
gồm nhiều Tăng-sĩ Phật-giáo theo trường phái Thượng-toạ bộ (Sthāvira),
nhiều tín đồ Kỳ-na-giáo (Ni-kiền-tử) (Digambara Nirgrantha) và
còn có nhiều tín đồ của Ấn-giáo (Deva).... Trung tâm chính
vương quốc của vua Śaśāṅka nằm giữa xứ Bengal, cũng chính là
vương quốc Karṇasuvarṇa, vùng này được nói là có nhiều người
định cư thuộc thành phần tốt và giàu có, và khí hậu ở đây rất
ôn hoà. Người dân phần lớn thuộc những thành phần có bản tánh
tốt và có trình độ cao về học vấn. Những người theo Phật-giáo
hầu hết thuộc trường phái Sammītya. Người dân lại là những tín
đồ thuộc nhiều tôn giáo khác nhau, nhưng đền Ấn-giáo lại chiếm
đa số. Có ba ngôi Tu-viện trong số các Tu-viện Phật-giáo nằm
trong địa phận thuộc xứ Bengal. Những thực phẩm thuộc về sữa
thì không được dùng như là những thức ăn khác theo đúng lời
chỉ dạy của Đề-bà-đạt-đa (Devadatta)(Vì ba Tu-viện này, hầu
hết các Tu-sĩ tại đây đều thuộc Đệ-tử của Đề-bà-đạt-đa) . Nằm
bên cạnh của thủ đô có một Tu-viện tên là
Raktamrittika-Rangamati (Lạc-đa-vị-tri), đây là một tu viện
rất trang nghiêm và nổi tiếng và là nơi tu tập của nhiều cao
Tăng lừng danh"(40).
*Các tài liệu tham
khảo :
(1)-Lịch sử về xứ Bengal, tác giả. R.C.
Majumdar, chương. I, trang. 59.
(2)-Lịch sử về miền Đông Ấn và Bắc Ấn, tác
giả. R.C. Basak, trang. 160.
(3)-Giống như trên.
(4)-Giống như trên.
(5)-Giống như trên, trang. 156-57.
(6)- Tương tự, trang. 163.
(7)- Tương tự.
(8)- Tương tự. trang. 166.
(9)- Tương tự. trang. 167.
(10)- Tương tự. trang. 167.
(11)- Tương tự. trang. 167.
(12)-Tương tự trang. 169.
(13)-Tương tự trang. 169.
(14)-Tương tự trang. 169.
(15)- Tương tự. trang. 170.
(16)-Tương tự, trang. 170
(17)- Tương tự, trang. 171.
(18)- Tương tự, trang. 171.
(19)- Tương tự, trang. 172-73.
(20)- Tương tự, trang. 183.
(21)- Tương tự, trang. 184.
(22)- Tương tự, trang. 186.
(23)- Tương tự, trang. 186.
(24)- Tương tự, trang. 186.
(25)- Tương tự, trang. 186.
(26)- Tương tự, trang. 187.
(27)- Tương tự, trang. 187.
(28)- Tương tự, trang. 188.
(29)- Lịch sử về xứ Bengal, tác giả. R.C.
Majumda, chương I, trang. 68.
(30)- Lịch sử về miền Đông Ấn và Bắc Ấn,
tác giả. R.C. Basak, trang 188-
89.
(31)- Tương tự như trên, trang. 189.
(32)- Tương tự như trên, trang. 189.
(33)- Tương tự như trên, trang. 189.
(34)- Tương tự như trên, trang. 189.
(35)- Tương tự như trên, trang. 189.
(36)- Tương tự như trên, trang. 189.
(37)- Tương tự như trên, trang. 189.
(38)- Tương tự như trên, trang. 190.
(39)- Tương tự như trên, trang. 190-91.
(40)- Tương tự như trên, trang. 191-94.
Trích dịch từ nguyên
tác "Buddhism During the Reign of Śaśāṅka of Gauḍa” chương 9
trong tác phẩm "The Rise and Decline of Buddhism in India" của
Kanai Lal Hazra (Delhi, Munshiram Manoharlal Publishers Pvt.
Ltd. 1998, pp. 226-229)
Dharamsala, ngày 23 tháng 12 năm 2001.