| ...... ... |
. |
Phật
Giáo Khắp
Thế Giới
Thích
Nguyên Tạng
Melbourne, Úc Châu 2001
---o0o---
CÁC
NHÀ
SƯ
CHÂU
Á
TRÊN
ĐẤT
MỸ
Mới
đây
các
nhà
khảo
cổ
Mỹ
và
Canada
đưa
ra
chứng
cứ
cho
rằng
Phật
giáo
đã
được
truyền
vào
Mỹ
trước
khi
ông
Columbus
tìm
ra
châu
Mỹ.
Tuy
nhiên,
theo
các
tài
liệu
có
được
hiện
nay
thì
Phật
giáo
chỉ
thật
sự
có
mặt
tại
Mỹ
sau
kỳ
Đại
hội
Tôn
giáo
Thế
giới
tổ
chức
tại
bang
Chicago
vào
năm
1893.
Nhưng
ai
là
người
có
công
truyền
bá
và
làm
lớn
mạnh
"hạt
giống
Bồ
đề"
trên
đất
Mỹ?
Trong
bài
này,
chúng
tôi
sẽ
giới
thiệu
một
số
nhà
sư
cư
sĩ
người
châu
Á,
những
người
tiên
phong
có
công
đặt
nền
móng
xây
dựng
ngôi
nhà
chánh
pháp
trên
đất
Mỹ.
1.
Người
Trung
Hoa
*
Pháp
sư
Hui
Shan
(Huệ
Thần,
Hội
Thần?)
Ngài
được
xem
là
tăng
sĩ
Phật
giáo
đầu
tiên
đến
Mỹ
từ
châu
Á.
Theo
giáo
sư
John
Fryer
(Đại
học
California)
và
giáo
sư
Edward
P.Vining
(Đại
học
San
Francisco)
thì
vào
khoảng
thế
kỷ
thứ
V
sau
TL
có
một
phái
đoàn
truyền
bá
Phật
giáo
do
pháp
sư
Hui
Shan
dẫn
đầu
đã
đến
Mỹ.
Những
khám
phá
mới
này
không
chỉ
được
dựa
vào
biên
niên
sử
Trung
Hoa,
mà
còn
căn
cứ
theo
những
truyền
thống
và
tập
quán
tôn
giáo
đang
có
ở
Mỹ
và
Mêxico.
Đây
là
sự
thật
gây
chấn
động
và
thêm
vào
một
chương
mới
của
lịch
sử
Phật
giáo
thế
giới
trong
mối
quan
hệ
văn
hóa
Ấn
-
Mỹ
cổ
đại.
Pháp
sư
Hui
Shan
và
bốn
người
khác
gốc
Kabul
ở
Afganistan
đã
viếng
thăm
Mỹ
và
Mêxico
vào
năm
458
sau
TL
với
mục
đích
truyền
bá
giáo
lý
của
Đức
Phật.
Phái
đoàn
tách
ra
làm
hai
nhóm
đến
Trung
Mỹ
để
tiến
hành
công
việc
hoằng
pháp
trên
40
năm.
Sau
đó,
pháp
sư
Hui
Shan
đã
đơn
độc
trở
về
Trung
Quốc
năm
499
(sau
TL).
Lúc
về
đến
Kinh
Châu
(thủ
đô
trên
bờ
sông
Dương
Tử)
thì
nội
chiến
đang
lan
tràn
trên
đất
nước
này,
Ngài
phải
chờ
đợi
đến
năm
502
mới
được
yết
kiến
vua
Võ
Đế
của
tân
triều
đại
nhà
Lương
và
trình
tâu
lên
nhà
vua
tất
cả
những
Phật
sự
mà
giáo
đoàn
đã
thực
hiện
ở
Mỹ.
Trong
dịp
này
Hui
Shan
đã
dâng
lên
hoàng
đế
những
món
hàng
lạ
kỳ
mà
Ngài
đã
mang
về
từ
Mỹ
và
Mêxico.
Vua
Võ
Đế
là
một
Phật
tử
thuần
thành,
một
đại
thí
chủ,
rất
quan
tâm
đến
cuộc
Tây
du
truyền
giáo
của
Hui
Shan,
nên
đã
đề
cử
vị
thân
vương
Du
Kỳ
thẩm
vấn
Hui
Shan
về
chi
tiết
của
phái
đoàn
rồi
tường
trình
lại
đức
vua.
Vì
thế,
bản
tường
trình
này
đã
được
đưa
vào
văn
khố
của
nhà
Lương
rồi
lưu
truyền
đến
ngày
nay,
được
sự
xác
nhận
đầy
đủ
của
sử
gia
Trung
Hoa
lừng
danh
là
Mã
Đoan
Lâm,
một
sử
gia
đời
Tống,
viết
"Văn
Hiến
Thông
Khảo".
Pháp
sư
Hui
Shan
kể
rằng,
Ngài
cùng
5
Tăng
sĩ
khác
đã
đến
châu
Mỹ
dưới
thời
vua
Minh
Đế
thuộc
triều
đại
nhà
Tống
(420-589)
trong
khoảng
458
sau
TL.
Các
nhà
sư
mang
theo
hình
tượng
Phật,
ngọc
Xá
lợi
và
kinh
sách.
Phái
đoàn
đã
đi
dọc
theo
quần
đảo
Kurile
và
đảo
Aleutian
rồi
đến
Alaska.
Phái
đoàn
đã
dạy
dân
chúng
Mỹ
tu
học
và
truyền
giới
Cụ
túc
cho
một
số
người
dân
ở
đó.
Sau
40
năm
hoạt
động,
không
biết
vì
lý
do
nào
đó,
pháp
sư
Hui
Shan
đã
bị
người
thổ
dân
ngược
đãi,
và
khi
cuộc
sống
của
Ngài
bị
đe
dọa,
Ngài
liền
tìm
cách
trở
về
Trung
Hoa.
Trước
đó
Ngài
đã
để
lại
những
dòng
chữ
khắc
trên
đá.
Ở
Magdalana
thuộc
Mêxico
có
một
pho
tượng
được
dựng
nên
để
tưởng
nhớ
đến
Ngài
với
tên
tuổi
khắc
vào
đó.
Theo
giáo
sư
Edward
Vining,
cho
biết
có
trùng
hợp
nổi
bật
để
chứng
tỏ
sự
hiện
diện
của
Phật
giáo
và
văn
hóa
Ấn
ở
Mỹ
và
Mêxico
trong
những
thế
kỷ
đầu
của
Tây
lịch.
Theo
ông
thì
Phật
giáo
và
Ấn
Độ
giáo
đã
được
truyền
vào
Mỹ
trong
một
thời
gian
dài
trước
khi
người
Tây
Ban
Nha
đến
đó
(do
nhà
hàng
hải
Christopher
Columbus
(1451-1506),
một
nhà
thám
hiểm
người
Ý,
dẫn
đầu
trong
chuyến
công
du
do
cho
triều
đình
Tây
Ban
Nha
và
đã
khám
phá
ra
châu
Mỹ
vào
tháng
10
năm
1492).
Còn
hai
giáo
sư
John
Murray
Gibbos
và
Tom
Mac
Innes,
người
Canada,
thì
công
nhận
việc
khám
phá
ra
châu
Mỹ
của
pháp
sư
Hui
Shan.
Theo
họ
thì
pháp
sư
đã
băng
qua
Thái
Bình
Dương
trên
một
chiếc
thuyền
buồm
của
Trung
Hoa.
Pháp
sư
đến
Vanconuver
khoảng
499
sau
TL,
rồi
trải
qua
mùa
Đông
trên
đảo
Nootka
(Canada)
nơi
Ngài
để
lại
ba
Tăng
sĩ
để
truyền
giáo.
Những
đồng
tiền
Trung
Hoa
thuộc
triều
đại
nhà
Tấn
được
tìm
thấy
ở
đó
vào
năm
1876.
Tàn
tích
những
ngôi
chùa,
những
pho
tượng
Phật
có
khắc
chữ
Trung
Hoa
cũng
tìm
thấy
ở
Mỹ
và
Mêxico.
*
Pháp
sư
Tuyên
Hóa
(Hsuan
Hua,
1908-1995)
Pháp
sư
được
xem
là
nhà
truyền
bá
Phật
giáo
Trung
Hoa
thành
công
nhất
trên
đất
Mỹ
ở
cuối
thế
kỷ
XX
này.
Pháp
sư
sinh
năm
1908
tại
vùng
Đông
Bắc,
Trung
Hoa,
11
tuổi
xuất
gia.
Năm
1947,
Ngài
đến
cầu
pháp
với
Thiền
sư
Hư
Vân
(thọ
120
tuổi,
viên
tịch
năm
1959)
và
được
phú
pháp
là
Tổ
thứ
9
của
dòng
Quy
Ngưỡng,
Trung
Hoa.
Năm
1959,
Ngài
lên
đường
đi
Hoa
Kỳ
để
hoằng
pháp
tai
San
Francisco,
Ngài
xây
dựng
một
Thiền
đường
để
giảng
pháp
và
hướng
dẫn
Phật
tử
tu
học.
Ngài
bày
tỏ
với
tín
đồ
mục
đích
chính
của
Ngài
khi
đến
Mỹ
là:
"Đem
giáo
lý
Phật
đà
qua
phương
Tây
và
thành
lập
ở
đây
một
cộng
đồng
Tăng
già
chánh
truyền,
tổ
chức
và
hổ
trợ
việc
phiên
dịch
toàn
bộ
kinh
điển
Phật
giáo
sang
tiếng
Anh
và
nhiều
thứ
tiếng
khác;
quảng
bá
một
nền
giáo
dục
hướng
thiện
qua
việc
thành
lập
các
trường
tiểu,
trung
và
đại
học
Phật
giáo".
Chân
dung
Pháp
sư
Tuyên
Hóa
Năm
1969,
pháp
sư
Tuyên
Hóa
đã
hoàn
bị
việc
thiết
lập
một
cộng
đồng
Tăng
lữ
tại
Tây
phương
khi
Ngài
nhận
5
vị
người
Mỹ
xuất
gia
tu
học.
Cũng
trong
năm
nằy
Ngài
thành
lập
Hội
Dịch
Kinh,
một
tổ
chức
chuyên
trách
việc
phiên
dịch
và
in
ấn
kinh
điển
và
đã
xuất
bản
trên
200
dịch
phẩm.
Năm
1970,
Ngài
khai
sơn
tu
viện
Kim
Sơn
ở
San
Francisco
gồm
ba
tầng
lầu.
Năm
1972,
Ngài
là
pháp
chủ
giới
đàn
truyyền
giới
đầu
tiên
được
tổ
chức
tại
Mỹ
có
hơn
200
Tăng
ni
ở
Mỹ
và
các
nước
lân
cận
về
thọ
giới
trong
dịp
này.
Năm
1974,
pháp
sư
đã
mua
lại
một
bệnh
viện
ở
California
để
thành
lập
Vạn
Phật
Thánh
Thành
(City
of
Ten
Thousand
Buddhas).
Đây
là
một
cơ
sở
hoằng
pháp
vĩ
đại
nhất
từ
trước
tới
nay
tại
Mỹ
với
diện
tích
rộng
488
mẫu
(gấp
25
lần
tòa
Bạch
ốc).
Pháp
sư
Tuyên
Hoá
nói
về
nhân
duyên
thành
lập
Vạn
Phật
Thánh
Thành
(VPTT)
:
"Có
thể
nói
rằng
nhân
duyên
thành
lập
VPTT
đã
đuợc
định
trước
từ
vô
lượng
kiếp.
Làm
sao
chúng
ta
có
thể
xây
cất
được
bảy,
tám
chục
toà
nhà
như
thế
?".
Thật
ra,
nơi
này
là
một
bệnh
viện
do
chính
quyền
California
xây
dựng
từ
năm
1930,
tất
cả
vật
liệu
kiến
trúc
và
các
thiết
bị
bên
trong
đều
thuộc
loại
thượng
hảo
hạng.
Toàn
khu
bệnh
viện
có
hơn
70
tòa
nhà
thuộc
loại
công
trình
kiến
trúc
lớn,
trên
2000
phòng,
3
sân
chơi
bóng
chày,
1
trạm
cứu
hỏa,
1
hồ
bơi,
1
lò
đốt
rác,
cùng
nhiều
thiết
bị
cung
cấp
nước
chữa
lửa
nằm
rải
rác
dọc
vệ
đường.
Một
con
đường
tráng
nhựa
ngoằn
ngoèo
ăn
thông
với
các
ngả,
hai
bên
có
trụ
đèn
đường
và
nhiều
cây
cổ
thụ
hơn
cả
trăm
năm.
Tất
cả
các
ống
dẫn
nước,
mạng
nối
các
thiết
bị
điện,
hệ
thống
dẫn
điện
dùng
cho
máy
sưởi
và
máy
điều
hòa
đều
được
thiết
kế
dưới
mặt
đất.
Các
công
trình
đều
được
nghiên
cứu
một
cách
cẩn
thận
về
cả
mặt
thiết
kế
lẫn
vật
liệu.
Toàn
khu
bệnh
viện
có
đủ
chỗ
cho
hơn
20000
người
cư
trú.
Vào
giữa
năm
1970,
bang
California
gặp
phải
một
trận
đại
hạn
hán
vô
tiền
khoáng
hậu,
nạn
thiên
tai
đã
ảnh
hưởng
vô
cùng
nghiêm
trọng
đến
sinh
hoạt
của
bệnh
viện
này.
Chính
phủ
có
mời
công
ty
đào
giếng
nổi
tiếng
nhất
ở
Mỹ
đến
đào
giếng
nhưng
không
có
nước,
Chính
phủ
lâm
vào
cảnh
bế
tắc,
đành
phải
chuyển
bệnh
nhân
đi
nơi
khác
và
bán
bệnh
viện
này
với
giá
rẻ.
Sau
khi
mua
lại
bệnh
viện
này,
pháp
sư
Tuyên
Hoá
đã
tái
tạo
thành
VPTT.
Nhằm
giải
quyết
nạn
khang
hiếm
nước,
Ngài
đã
dùng
tuệ
nhãn
để
xác
định
vị
trí
mạch
nước
ngầm,
và
công
việc
đã
thành
công.
Đây
là
một
sự
kiện
bất
khả
nghì,
và
cho
đến
nay,
mỗi
khi
nhắc
lại
mọi
người
đều
thấy
vui,
xúc
động
pha
lẫn
hào
hứng.
Vạn
Phật
Thánh
Thành
là
nơi
hội
tụ
của
những
người
có
đạo
đức
trí
tuệ
chân
chính.
Tại
đây
tuyệt
đối
không
có
sự
phân
biệt,
chia
rẽ,
Nam-Bắc
tông
đều
thông
giao,
văn
hoá
Đông
Tây
đều
hòa
hợp,
nhân
sĩ
trên
thế
giới
xem
đây
là
một
cõi
để
quay
về
tự
tâm.
Pháp
sư
Tuyên
Hóa
đã
khẳng
định
rằng
"VPTT
không
phải
là
một
cơ
sở
của
tư
nhân,
nó
thuộc
quyền
sở
hữu
của
tất
cả
Phật
tử
trên
thế
giới,
kể
cả
tín
đồ
của
mọi
tôn
giáo
khác".
Pháp
sư
Tuyên
Hóa
cũng
nổi
danh
về
đức
khiêm
cung
vô
ngã
và
lòng
từ
bi
vô
biên
đối
với
chúng
sanh.
Ngài
hành
đạo
không
biết
mệt
mỏi
cho
đến
suốt
đời.
Ngài
đã
viên
tịch
vào
ngày
mùng
10
tháng
5
năm
Ất
Hợi
(1995)
tại
VPTT,
Los
Angeles,
California,
Hoa
Kỳ.
2.
Người
Tích
Lan
*
Pháp
sư
Anagarika
Dharmapala
(1864-1933)
Ngài
thế
danh
là
David
Hewivi
Larne,
một
pháp
sư
cư
sĩ
nổi
tiếng
khắp
thế
giới
như
là
Chủ
tịch
Hội
Maha
Bodhi
ở
Ấn
Độ.
Ngài
sinh
ngày
17/09/1864
tại
quận
Pettah,
Colombo,
Tích
Lan,
trong
một
gia
đình
theo
truyền
thống
Phật
giáo
Theravada,
dù
gia
đình
theo
đạo
Phật,
nhưng
ông
đã
trải
qua
những
năm
ở
tiểu
và
trung
học
thuộc
Thiên
Chúa
giáo.
Hoán
cảnh
lúc
ấy
không
có
sự
chọn
lựa
nào
khác.
Tuy
phải
đọc
kinh
Cựu
ước
hằng
ngày,
nhưng
hạt
giống
Bồ
đề
không
phai
nhòa
trong
ông.
Thời
gian
ở
đại
học
ông
đọc
nhiều
sách
về
Phật,
triết,
tâm
lý,
đạo
đức,
lịch
sử,
tiểu
sử.
Chân
dung
pháp
sư
Anagarika
Dharmapala
Năm
1883,
ông
gặp
ông
Olcott
và
bà
Blavatsky,
sáng
lập
viên
Hội
Thông
thiên
học
ở
Mỹ
đến
Tích
Lan
và
Ấn
Độ
để
học
Phật.
Hai
vị
Phật
tử
này
đã
thành
lập
Hội
Thông
thiên
học
Phật
giáo
tại
Tích
Lan
và
Dharmapala
được
mời
vào
làm
việc
tại
văn
phòng
này.
Năm
1885
ông
đến
Ấn
Độ
để
tìm
thầy
học
Thiền.
Ông
cùng
với
người
bạn
Nhật
Bản
Kowen
Gunaratra
tham
quan
một
vòng
những
thắng
tích
Phật
giáo
ở
Bombay
và
Calcutta.
Dharmapala
cảm
thấy
đau
đớn
vì
Phật
giáo
không
còn
hiện
hữu
ở
những
nơi
này
nữa,
còn
chăng
chỉ
là
những
hình
ảnh
chết.
Ông
phát
nguyện
ở
lại
Bodh
Gaya
(Bồ
đề
Đạo
tràng)
để
tu
tập
và
khôi
phục
lại
cơ
đồ
của
Phật
giáo.
Và
tại
đây,
40
năm
sau
đã
trở
thành
Trung
tâm
Hoằng
pháp
Maha
Bodhi
do
chính
ông
sáng
lập.
Hội
này
thành
lập
vào
ngày
31/5/1891
với
sự
hổ
trợ
của
Phật
giáo
Nhật
Bản,
Miến
Điện,
Tích
Lan
và
Trung
Hoa.
Mục
tiêu
chính
của
Hội
là:
Hãy
trả
Bodh
Gaya
lại
cho
Phật
giáo.
Tờ
báo
tiếng
Anh
"Maha
Bodhi"
xuất
hiện
đầu
tiên
vào
tháng
5
năm
1892
do
Dharmapala
làm
chủ
bút.
Ông
viết
bài
"Một
thế
giới
Phật
giáo
thống
nhất"
(A
united
Buddhist
World).
Đại
tá
Olcott
viết
bài
"Tinh
thần
từ
bi
của
Phật
giáo"
(Sweet
spirit
of
Buddhism)
và
nhiều
bài
đạc
sắc
khác.
Ở
Chicago,
tiến
sĩ
J.H.Barrows,
Chủ
tịch
Nghị
viện
Tôn
giáo
thế
giới
(The
World
Parliament
of
Religion)
đọc
được
số
báo
đầu
tiên
này
liền
viết
thư
mời
Dharmapala
tham
dự
Đại
hội
Tôn
giáo
thế
giới
(ĐHTGTG)
tổ
chức
tại
Chicago
vào
tháng
9/1893.
Ông
đến
Mỹ
với
một
viên
ngọc
Xá
lợi,
một
ảnh
Phật
nhỏ
và
20.000
cuốn
Ngũ
giới
(2ive
precepts)
để
tặng
Đại
hội,
ĐHPGTG
lần
đầu
tiên
này
với
4.000
đại
biểu
từ
các
châu
lục
phần
lớn
là
tín
đồ
Thiên
Chúa
giáo.
Ông
Dharmapala
tham
dự
Đại
hội
với
tâm
trạng
rất
phấn
khởi,
ông
nói
:
"Đây
là
một
thành
quả
quý
báu
nhất,
tự
hào
nhất
và
là
một
công
việc
đáng
làm
nhất
của
thế
kỷ
thứ
XIX".
Sau
ngày
bế
mạc
Đại
hội,
ngày
26/9
ông
được
mời
giảng
pháp
tại
hội
trường
Athenaeum
với
chủ
đề
"Phật
giáo
và
Thông
thiên
học".
Ngày
10/10,
ông
xuống
tàu
về
lại
Ấn
Độ.
Trong
dịp
này
ông
đã
ghé
thăm
Nhật
Bản,
Hawaii
và
Trung
Quốc.
Ông
Dharmapala
trở
lại
Mỹ
vào
năm
1896
do
nhận
lời
mời
hoằng
pháp
của
tiến
sĩ
Paul
Carus,
một
Phật
tử
người
Đức
đang
sống
ở
Mỹ.
Lần
này
ông
đã
đi
thuyết
pháp
tại
các
tiểu
bang
New
York,
Chicago,
San
Francisco,
Grand
Rapids,
Cincinati,
Duluth,
Minneapolis,
lowa
city,
Des
Moines,
Dayton
và
Columbus.
Đề
tài
được
thính
giả
yêu
cầu
nói
lại
nhiều
lần
là
"Sự
hòa
giải
của
Phật
giáo
và
Thiên
Chúa
giáo".
Báo
chí
Mỹ
lúc
ấy
đã
ca
ngợi
về
sự
kiện
hoằng
pháp
này
của
pháp
sư
Dharmapala;
ông
là
một
nhà
hùng
biện
Phật
giáo,
một
người
Á
châu
có
giọng
nói
tiếng
Anh
rất
độc
đáo
và
làm
cuốn
hút
người
nghe.
Một
năm
sau
(1897),
tại
San
Francisco,
pháp
sư
Dharmapala
đã
tổ
chức
đại
lễ
Phật
đản
đầu
tiên
trên
đất
Mỹ,
37
ngọn
nến
được
thắp
sáng
trước
lễ
đài
Phật
Đản
biểu
tượng
cho
37
phẩm
Trợ
đạo
và
400
Phật
tử
Mỹ
thành
kính
lắng
nghe
Ngài
tụng
kinh
Mangala
từ
một
bản
kinh
chép
tay
trên
lá
bối.
Chuyến
viếng
thăm
Mỹ
lần
thứ
ba
của
Ngài
vào
giữa
năm
1902-1904.
Lần
này,
Ngài
cũng
đi
đến
thuyết
nhiều
nơi
và
tham
quan
các
trường
khoa
học
-
kỹ
thuật,
Ngài
cho
rằng
:
"Phương
Đông
cần
kỹ
thuật
của
phương
Tây,
cũng
như
phương
Tây
cần
tâm
linh
của
phương
Đông".
Sau
chuyến
viếng
thăm
này,
Ngài
đã
xây
dựng
một
trường
kỹ
thuật
ở
Sarnath,
Ấn
Độ.
Đặc
biệt
trong
lần
hoằng
pháp
này,
Ngài
đã
cảm
hóa
được
giáo
sư
người
Mỹ-William
James
thuộc
đại
học
Harvard.
Ông
này
nói:
"Thầy
chuẩn
bị
các
bài
giảng
về
tâm
lý
tốt
hơn
tôi
nhiều".
Sau
khi
được
pháp
sư
Dharmapala
trình
bày
những
nét
đại
cương
về
môn
Phật
học,
giáo
sư
James
trở
về
Harvard
và
thông
báo
với
lớp
của
ông
:
"Đây
là
môn
tâm
lý
học
mà
các
em
sẽ
học
trong
25
năm,
bắt
đầu
từ
hôm
nay".
Năm
1925,
pháp
sư
Dharmapala
đi
Anh
quốc
để
xây
dựng
chi
nhánh
Maha
Bodhi,
rồi
Ngài
ghé
qua
thăm
Mỹ
lần
cuối
cùng.
Bảy
năm
sau,
vào
ngày
16/01/1933,
Ngài
qua
đời
tại
Ấn
Độ
vì
bệnh
tim.
Trước
đó
Ngài
đã
xuất
gia
và
thọ
giới
Cụ
túc
với
các
sư
Tích
Lan.
Trước
khi
tịch,
Ngài
nguyện
cầu
cho
mình
rằng
:
"Muốn
tái
sinh
trở
lại
đời
này
25
lần
để
truyền
bá
giáo
lý
đạo
Phật".
Và
Ngài
cũng
muốn
tái
sinh
vào
một
gia
đình
Bà
la
môn
ở
Benares
(Ấn)
để
tiếp
tục
cuộc
đấu
tranh
vì
sự
sống
của
Bodh
Gaya.
Năm
1949,
(60
năm
kể
từ
ngày
Ngài
khởi
sự
đấu
tranh
giành
lại
công
bằng
cho
Bodh
Gaya)
Ấn
Độ
đã
giành
lại
nền
độc
lập
từ
chính
quyền
thực
dân
Anh
và
Bodh
Gaya
đã
được
trả
về
cho
Phật
giáo.
3.
Người
Nhật
Bản
*
Thiền
sư
Soyen
Shaku
Ngài
đến
Mỹ
trong
dịp
dự
ĐHTGTG
tại
Chicago
năm
1893
và
được
xem
là
vị
Thiền
sư
Phật
giáo
đầu
tiên
đăﴠchân
lên
đất
Mỹ.
Ngài
xuất
gia
năm
20
tuổi
(1871)
với
Thiền
sư
Ekkei
Zenji.
Năm
1887,
Ngài
sang
Tích
Lan
để
học
tiếng
Pàli
và
bắt
đầu
đời
sống
khổ
hạnh
như
các
Tăng
sĩ
tại
nơi
đây.
Trong
thời
gian
lưu
học
tại
Tích
Lan,
Ngài
đã
gặp
và
quen
biết
với
đại
tá
Olcott
và
đã
được
ông
này
mời
tham
dự
ĐHTGTG
vào
năm
1893.
Thiền
sư
Soyen
Shaku
nhận
lời
mời
và
Ngài
cùng
với
một
số
người
Nhật
lên
đường
đến
Mỹ,
phái
đoàn
mang
theo
những
bộ
đồ
uống
trà,
vải
lụa,
tranh
ảnh
quạt
giấy
và
sách
Phật.
Riêng
bản
thân
Ngài
chuẩn
bị
một
bài
phát
biểu
mà
trước
đó
đã
nhờ
D.T
Suzuki
dịch
ra
tiếng
Anh
giùm
(Suzuki
lúc
ấy
đang
là
sinh
viên
đại
học
và
đang
học
Thiền
với
Ngài).
Bài
tham
luận
"Luật
Nhân
quả
của
đạo
Phật"
mang
đến
đại
hội,
Ngài
không
đọc
được
phải
nhờ
tiến
sĩ
Barro
-
đọc
hộ.
Sau
đại
hội,
tiến
sĩ
Carus
mời
Soyen
và
hai
Tăng
Ni
người
Nhật
khác
đến
nghỉ
nhà
ông
ở
Lasalle,
Illinois.
Hai
người
đã
thảo
luận
về
tôn
giáo
và
triết
học.
Họ
đồng
ý
rằng
"cuối
thế
kỷ
XIX
là
thời
điểm
thích
hợp
để
thực
hiện
công
cuộc
cải
cách
tôn
giáo".
Ngài
Soyen
nói
:
"Chúng
ta
tin
rằng
cải
cách
tôn
giáo
là
để
loại
bỏ
những
ý
tưởng
điên
rồ,
bảo
thủ,
lạc
hậu
và
để
nâng
cao
giá
trị
của
chân
lý,
hãy
làm
giảm
bớt
sự
cách
biệt
giữa
các
chủng
tộc
truyền
thống
và
ngôn
ngữ".
Giống
như
Carus,
Soyen
có
một
biệt
tài
là
giới
thiệu
PG
như
là
một
tôn
giáo
hợp
lý
và
khoa
học.
Tiếp
đó,
Soyen
giúp
đọc
lại
bản
thảo
quyển
"Lời
giáo
huấn
của
Đức
Phật"
của
Carus.
Vào
tháng
6
năm
1905,
Thiền
sư
Soyen
trở
lại
Mỹ
để
hoằng
pháp
theo
lời
mời
của
thương
gia
Alexander
Russel
ở
California.
Lần
này
có
hai
đệ
tử
đi
theo
Ngài
là
Nyogen
Senzaki
và
D.T
Suzuki.
Sau
chuyến
hoằng
pháp
tại
Mỹ,
Ngài
đi
thăm
châu
Âu
và
ghé
thăm
Ấn
Độ,
Tích
Lan
rồi
trở
về
Nhật
Bản.
Đến
năm
1919,
Ngài
viên
tịch
tại
chùa
Engakuji,
thọ
68
tuổi.
Các
đệ
tử
của
Ngài
vẫn
tiếp
tục
công
việc
hoằng
pháp
tại
Mỹ.
*
Thiền
sư
Daisetz
Teitaro
Suzuki
(1870-1966)
Ông
là
tiến
sĩ,
giáo
sư
nhiều
trường
đại
học
ở
Nhật,
Mỹ
và
châu
Âu;
là
tác
giả,
dịch
giả
của
hơn
100
tác
phẩm
viết
bằng
Nhật
và
Anh
ngữ,
được
xem
là
người
có
công
đầu
trong
việc
truyền
bá
Phật
giáo
Thiền
tại
Mỹ
(Lâm
Tế).
Ông
sinh
năm
1870
tại
Kanazawa
trong
một
gia
đình
theo
truyền
thống
Thiền
Rinzai.
Nhưng
Ngài
theo
học
thiền
công
án
với
Thiền
sư
Kosen.
Năm
1892,
sau
khi
Kosen
viên
tịch
(thọ
81
tuổi),
Ngài
tiếp
tục
học
thiền
với
Thiền
sư
Soyen
Shaku,
người
kế
thừa
sự
nghiệp
của
Kosen
ở
thiền
viện
Angaku
ở
Kamakura.
Cuối
tháng
Giêng
năm
1897,
sau
khi
tốt
nghiệp
ở
khoa
triết
học
ở
đại
học
Tokyo,
theo
lời
khích
lệ
của
Thiền
sư
Soyen,
Suzuki
đến
Mỹ
để
du
học
và
phụ
giúp
tiến
sĩ
Paul
Carus
(bạn
thân
của
Soyen)
hoằng
pháp
tại
Mỹ.
Lúc
bấy
giờ
ông
Carus
là
chủ
bút
tờ
báo
Open
Court
ở
Lasalle,
Suzuki
đến
làm
việc
tại
đây.
Công
việc
đầu
tiên
của
ông
là
giúp
Carus
chuyển
ngữ
quyển
"Đạo
đức
kinh",
tiếp
đó
ông
dịch
quyển
"Sức
thức
tỉnh
của
niềm
tin"
(Awakening
of
Faith)
của
Ashvaghosha.
Rồi
ông
bắt
đầu
viết
"Đại
cương
về
Phật
giáo
Đại
thừa"
(Outlines
of
Mahayana
Buddhism),
cuốn
sách
đầu
tay
của
ông.
Trong
thời
gian
này
ông
vừa
dịch
sách
và
vừa
học
Pàli
tại
Sanskrit.
Ông
đã
ở
lại
Lasalle,
bang
Illinois
tổng
cộng
11
năm
để
dịch
thuật,
nghiên
cứu,
viết
sách
và
thỉnh
thoảng
đi
thông
dịch
cho
Thiền
sư
Soyen
khi
Ngài
đến
hoằng
pháp
tại
Mỹ.
Ngày
16/4/1900,
Suzuki
bắt
đầu
công
tác
viết
bài
cho
tờ
nguyệt
san
"The
Light
of
Dharma".
Hai
năm
sau,
ông
trở
về
Nhật
Bản
và
kết
hôn
với
Beatrice
Erskinelane,
một
phụ
nữ
theo
phái
Thông
thiên
học.
Vợ
chồng
Suzuki
sống
trong
một
căn
nhà
nhỏ
bên
cạnh
Thiền
viện
Engaku
cho
đến
khi
Thiền
sư
Soyen
viên
tịch
vào
năm
1919.
Sau
đó
ông
dọn
đến
Kyoto
và
đi
dạy
Triết
học
và
Tôn
giáo
học
tại
đại
học
Otari.
Tại
đây
ông
thành
lập
Hội
Nonsectarian
Mahayana
và
phát
hành
tờ
báo
"Phật
giáo
phương
Đông".
Năm
1927,
ông
xuất
bản
quyển
"Khái
luận
Phật
giáo
Thiền"
(Essays
in
Zen
Buddhism).
Năm
1936,
ông
được
mời
đi
giảng
ở
Anh
quốc,
tại
đó
ông
gặp
Alan
Watts,
(một
Phật
tử
trẻ
tuổi,
người
về
sau
viết
nhiều
sách
thiền
và
chủ
biên
tờ
"Buddhism
in
England")
và
hướng
dẫn
vị
này
đến
học
thiền
ở
Nhật
Bản.
Năm
1949,
ông
lại
đến
Honolulu
(Mỹ)
để
dự
"Đại
hội
các
triết
gia
Đông
và
Tây"
lần
thứ
II,
tại
đây
ông
đã
gặp
Philip
Kapleau
và
hướng
dẫn
vị
này
đến
xuất
gia
tu
học
tại
Nhật
Bản.
(Sau
13
năm
tu
học
tại
Tokyo,
Kapleau
1966
trở
về
Mỹ
và
thành
lập
một
trung
tâm
Thiền
ở
New
York.
Kapleau
cũng
là
tác
giả
của
hai
tác
phẩm
thiền
nổi
tiếng
là
"Ba
Trụ
Thiền"
và
"Thiền,
bình
minh
ở
phươmg
Tây").
Sau
đó,
ông
đến
New
York
để
dự
hội
thảo
về
triết
học
và
đi
giảng
ở
nhiều
nơi
khác.
Năm
1953,
ông
được
mời
dạy
tại
Đại
học
Columbia,
New
York.
Lúc
ấy,
Suzuki
rất
nổi
tiếng
về
những
sách
Thiền,
những
buổi
thuyết
giảng
và
cả
đời
sống
hành
thiền
của
ông.
Phong
trào
học
và
tu
thiền
ở
Mỹ
bắt
đầu
được
chú
ý.
Năm
1957,
"Đại
hội
Thiền
và
Phân
tâm
học"
ở
Mỹ,
Suzuki
là
một
đại
biểu
nổi
bật.
Cũng
trong
năm
này
ông
nghỉ
dạy
ở
Columbia
và
được
mời
đi
giảng
nhiều
đại
học
khác
như
Massachusetts,
Cambridge,
Arvard.
Năm
1959,
"Hội
Phật
giáo
Cambridge"
ra
đời,
ông
được
mời
giữ
chức
Chủ
tịch.
Ba
năm
sau
ông
trở
về
Nhật
Bản
và
tiếp
tục
dịch
và
viết
sách,
ông
làm
việc
không
biết
mệt
mỏi
cho
đến
lúc
qua
đời,
ông
mất
năm
1966,
tại
thiền
viện
Kamakura,
hưởng
thọ
96
tuổi.
4.
Người
Triều
Tiên
Chân
dung
Thiền
sư
Soen
Sa
Nim
Ngài
được
xem
là
Thiền
sư
người
Triều
Tiên
đầu
tiên
có
mặt
tại
Mỹ.
Ngài
xuất
gia
năm
1949,
từng
đi
du
học
9
năm
ở
Nhật
Bản
và
Hồng
Kông.
Năm
1972,
Ngài
đến
Los
Angeles,
nơi
có
cộng
đồng
người
Triều
Tiên
sinh
sống.
Khởi
đầu,
Ngài
rất
vất
vả,
phải
đi
làm
ở
tiệm
giặt
ủi
để
kiếm
tiền
học
Anh
văn
và
trả
tiền
nhà.
Sau
đó,
Ngài
được
giáo
sư
Leo
Prudes
(thuộc
khoa
Phật
học
ở
Đại
học
Brown)
mời
đến
giảng
cho
sinh
viên
của
ông.
Nhân
dịp
này
Ngài
được
hai
sinh
viên
Mỹ
thỉnh
Ngài
đến
nhà
họ
để
dạy
thiền.
Không
bao
lâu,
Ngài
đã
thành
lập
Trung
tâm
Thiền
Providence
ở
Rhode
Island.
Năm
1974,
Ngài
bắt
đầu
đi
giảng
pháp
khắp
nơi
ở
Mỹ,
Ngài
nói
:
"Zen
là
tin
ở
mình
100%
và
các
vị
nên
tin
vào
phương
pháp
thiền
của
chính
người
Mỹ".
Ngoài
hướng
dẫn
ngồi
thiền,
Ngài
còn
dạy
đệ
tử
tụng
kinh,
lạy
Phật
và
niệm
danh
hiệu
Bồ
Tát
Quan
Âm.
Tiếp
đó
lần
lượt
Ngài
xây
dựng
chùa
Tah
Mah
ở
Los
Angeles;
Trung
tâm
Thiền
quốc
tế
ở
New
York,
Trung
tâm
Thiền
ở
Cambridge...
để
có
nơi
cho
người
Triều
Tiên
và
Mỹ
tu
học.
Nhờ
sự
hoạt
động
hoằng
pháp
này
mà
Phật
giaó
Triều
Tiên
được
chú
ý
đến
tại
Mỹ
và
họ
bắt
đầu
viếng
thăm,
tìm
hiểu
và
nghiên
cứu
Phật
giáo
tại
chính
quốc
gia
Triều
Tiên.
5.
Người
Tây
Tạng
*
Lama
Thubten
Yeshe
(1935-1984)
Ngài
là
một
pháp
sư
nổi
tiếng,
người
góp
sức
san
bằng
các
chướng
ngại
địa
dư
và
nối
liền
những
phân
cách
văn
hóa
và
chủng
tộc
để
dòng
tuệ
giác
mặt
trời
đầu
nguồn
Tây
Tạng
chảy
xuống
vùng
đất
lạ
Tây
phương.
Ngài
sinh
vào
tháng
5
năm
1935
tại
ngoại
ô
thủ
đô
Lhasa,
Tây
Tạng.
Lên
6
tuổi
Ngài
xuất
gia
và
trải
qua
20
năm
tu
luyện
tại
tu
viện
Sera
ở
Lhasa.
Đây
là
thời
gian
tuyệt
vời,
thánh
thiện
và
cao
khiết
nhất
trong
đời
của
Ngài,
Ngài
nhớ
lại
:
"Tôi
và
khoảng
10.000
Tăng
sĩ
khác
đã
vui
vẻ
khép
mình
trong
đời
sống
giới
luật.
Một
bông
hoa
cũng
không
được
phép
nở
nếu
nó
làm
ta
xao
lãng
việc
điều
tâm
định
ý".
Năm
1959,
ở
tuổi
25,
Ngài
tạn
sang
vùng
Đông
Bắc
Ấn
Độ
;
tại
đây
Ngài
bắt
đầu
học
Anh
văn
để
chuẩn
bị
cho
một
cuộc
sống
mới.
Năm
1961,
Ngài
thu
nhận
người
đệ
tử
Tây
phương
đầu
tiên
là
quận
chúa
Zina
Rachevsky,
một
công
nương
xinh
đẹp
với
mái
tóc
màu
bạch
kim,
thuộc
dòng
dõi
quý
tộc
Nga.
Sau
ngày
đế
chế
Nga
sụp
đổ
gia
đình
của
Zina
sang
tạn
ở
California,
mẹ
cô
là
người
thừa
hưởng
một
gia
tài
khổng
lồ,
và
là
một
trong
những
người
đàn
bà
giàu
nhất
nước
Mỹ.
Zina
lớn
lên
trong
sự
giàu
có
đó
và
trở
nên
hư
hỏng
vì
tình
dục
và
ma
túy.
Đầu
thập
niên
60,
Zina
rời
bỏ
nước
Mỹ
để
theo
sống
với
nhóm
nghệ
sĩ
ở
Hy
Lạp,
rồi
lại
tìm
đến
vùng
đất
thánh
Hippy
Ấn
Độ.
Lúc
cô
gặp
được
Lama
Yeshe
thì
cô
đã
tàn
phai
và
khô
cằn
vì
ma
túy,
rượu
mạnh
và
lối
sống
buông
thả.
Qua
9
tháng
học
giáo
lý,
Zina
quyết
định
xuất
gia
trở
thành
Sư
cô.
Sau
đó,
Zina
được
Lama
Yeshe
đưa
đến
Nepal
để
tu
học.
Tại
đây,
Zina
đã
mua
đứt
một
vùng
đất
rộng
trên
ngọn
đồi
nhìn
xuống
thủ
phủ
Kathmadu
để
xây
dựng
tu
viện
Kopan.
Sư
cô
Zina
nhập
thất
tu
học
được
3
năm
thì
qua
đời
ở
tuổi
42.
Vào
tháng
11
năm
1971,
Lama
Yeshe
bắt
đầu
mở
khóa
tu
Lam
Rim
(Tiệm
Đạo)
cho
250
người
Tây
phương
đến
dự
tu
khóa
này.
Mặc
dù
vốn
liếng
Anh
văn
giới
hạn
nhưng
Ngài
giảng
pháp
rất
hay.
Ngài
nói
:
"Tôi
tin
rằng
Phật
giáo
có
những
điều
quý
giá
để
tặng
cho
người
Tây
phương
những
người
thiếu
hiểu
biết
về
chức
năng
của
tâm
thức.
Xuyên
qua
tâm
thức,
ta
có
thể
đạt
được
những
trạng
thái
hạnh
phúc
không
thể
ngờ
được".
Sau
khóa
tu
có
cô
Max
Mathews
(người
Mỹ)
và
ông
Nick
Ribush
(một
bác
sĩ
người
Úc)
xin
xuất
gia.
Chân
dung
Lạt
ma
Yeshe
Năm
1974,
Lama
Yeshe
cùng
với
Lama
Zopa
và
sư
cô
Max
Mathews
đến
bang
Indiana
(Mỹ)
để
thăm
nhóm
thiền
sinh
của
Lois-Bod
Wood,
những
người
từng
đến
tu
học
tại
Ấn
Độ.
Sau
khi
rời
Mỹ
đoàn
đến
Úc
để
diễn
thuyết
và
thành
lập
Viện
Quan
Âm
ở
bang
Queensland,
đây
là
trung
tâm
Phật
giáo
(TTPG)
đầu
tiên
của
một
chuỗi
rất
dài
những
TTPG
mọc
lên
ở
Úc,
Âu
và
Mỹ
châu
sau
này.
Một
năm
sau,
Lama
Yeshe
theo
lời
mời
nên
tổ
chức
chuyến
hoằng
pháp
vòng
quanh
thế
giới
thứ
hai
gồm
Mỹ,
Úc
và
bốn
nước
khác
ở
châu
Âu.
Đến
tháng
11
năm
1975,
tại
bang
California,
Lama
Yeshe
tuyên
bố
thành
lập
Hội
Bảo
tồn
Phật
giáo
Đại
thừa
(Foundation
for
The
Preservation
of
The
Mahayana
teachings,
viết
tắt
là
FPMT),
tổ
chức
này
phát
triển
rất
nhanh,
đến
nay
có
trên
100
chi
nhánh
ở
20
quốc
gia
khác
nhau
bao
gồm
Nepal,
Ấn
Độ,
Anh,
Mỹ,
Úc,
Pháp,
Đức,
Ý,
Tây
Ban
Nha,
Hà
Lan,
Brasil,
Hy
Lạp,
Nhật
Bản,
Đài
Loan...
Ngoài
các
chi
nhánh
này
còn
có
một
nhà
xuất
bản
rất
thành
công
là
Wisdom
Publications
ở
bang
Massachusetts
và
một
Phật
học
viện
Nalanda
gần
Toulouse,
Pháp
quốc,
đã
có
thể
cung
cấp
một
chương
trình
tu
học
đa
diện
cho
Tăng
sĩ
phương
Tây
mỗi
ngày
càng
đông.
Đến
ngày
3/03/1984,
Ngài
đau
nặng
vì
bệnh
tim,
và
đã
viên
tịch
ở
tuổi
49
tại
Los
Angeles,
bang
California,
để
lại
phía
sau
mình
một
tổ
chức
khổng
lồ
do
người
đệ
tử
Lama
Zopa
đang
gánh
vác.
Hai
năm
sau
(từ
ngày
mất),
người
ta
đã
phát
hiện
ra
Ngài
trong
một
dáng
hình
khác,
đó
là
Osel
Hita
Torres,
sinh
ngày
12/02/1985,
Ngài
đã
tái
sinh
trở
lại
Bubion,
Tây
Ban
Nha.
Hiện
nay,
Ngài
là
hóa
thân
của
Lama
Osel
(13
tuổi)
đang
tu
học
tại
tu
viện
Sera,
miền
Nam
nước
Ấn
Độ.
6.
Người
Việt
Nam
*
Hòa
thượng
Thích
Thiên
Ân
Ngài
được
xem
là
Tăng
sĩ
Việt
Nam
đầu
tiên
hoằng
pháp
tại
Mỹ.
Sau
khi
tốt
nghiệp
tiến
sĩ
Văn
chương
tại
Đại
học
đường
Wasada,
Nhật
Bản,
Ngài
đã
được
mời
đến
Hoa
Kỳ
với
tư
cách
giáo
sư
thỉnh
giảng
về
ngôn
ngữ
và
triết
học
Đông
phương
vào
năm
1966.
Ngài
dự
tính
sẽ
về
Việt
Nam
vào
năm
1967,
nhưng
thiền
sinh,
sinh
viên
Mỹ
nài
nỉ
Ngài
ở
lại
để
hướng
dẫn
tu
học.
|

Chân
dung
Hòa
Thượng
Thích
Thiên
Ân
|
Khởi
đầu,
Ngài
thuê
một
căn
hộ
ở
Hollywood
để
hướng
dẫn
sinh
viên
Mỹ
học
và
tu
thiền.
Ngài
là
một
Thiền
sư
được
đào
tạo
theo
truyền
thống
Rinzai
(Lâm
Tế)
Nhật
Bản.Tiếp
đó
do
nhu
cầu
giới
thanh
niên
Mỹ
đến
học
ngày
càng
đông,
Ngài
thành
lập
trung
tâm
Thiền
học
Quốc
tế
(International
Buddhist
Meditation
Center)
tọa
lạc
ở
phía
nam
của
đại
lộ
Vermont,
Los
Angeles.
Láng
giềng
của
Ngài
là
người
da
màu,
Mêxico,
triều
Tiên
và
Thái
Lan.
Vì
xuất
thân
từ
Việt
Nam,
một
quê
hương
Phật
giáo
vốn
có
sự
hài
hòa
phối
hợp
giữa
Mahayana
và
Theravada,
nên
Hòa
thượng
đã
thừa
hưởng
truyền
thống
tốt
đẹp
này.
Ngay
từ
những
ngày
đầu
đã
có
nhiều
sinh
viên
Mỹ
xin
xuất
gia
tu
học
;
nổi
bật
trong
số
đó
có
sư
cô
Karuna
Dharma,
một
tiến
sĩ
Phật
học,
người
kế
thừa
sự
nghiệp
sau
khi
Ngài
viên
tịch.
Ba
năm
sau
Ngài
đã
tổ
chức
giới
đàn
để
truyền
giới
Tỷ
kheo
(250
giới),
Tỷ
kheo
ni
(348
giới),
pháp
sư
(25
giới,
pháp
sư
là
nhà
truyền
giáo
cư
sĩ
được
nhận
một
áo
vàng
có
dải
đeo
cổ
và
một
tọa
cụ)
cho
người
Mỹ
đến
tu
học.
Trong
quá
trình
hoằng
pháp
ở
Mỹ,
Hòa
thượng
quan
tâm
đến
việc
truyền
giới
cho
nhiều
pháp
sư
cư
sĩ,
người
có
thể
đi
vào
trong
mọi
tầng
lớp
xã
hội
phương
Tây
để
truyền
dạy
chân
lý
nhà
Phật.
Tiếp
đó,
ngài
xây
dựng
chùa
Phật
giáo
Việt
Nam
để
có
nơi
cho
đông
đảo
người
Việt
ở
California
chiêm
ngưỡng
và
tu
học.
Vào
tháng
10
năm
1973,
HT
Thiên
Ân
kết
hợp
với
các
nhà
giáo
dục
Mỹ,
Nhật,
Triều
Tiên,
Tây
Tạng,
Tích
Lan
để
sáng
lập
trường
Đại
học
Đông
phương
(University
of
Oriental
Studies),
một
nơi
thu
hút
đông
đảo
sinh
viên
Mỹ
ghi
danh
học
Phật
học,
ngôn
ngữ
và
triết
học
phương
Đông.
Đầu
tháng
9
năm
1980,
HT
Thiên
Ân
cảm
thấy
pháp
thể
khiếm
an,
Ngài
đi
bệnh
viện
và
bác
sĩ
cho
biết
Ngài
có
một
khối
u
trong
não
và
được
giải
phẫu;
bác
sĩ
cũng
cho
biết
HT
mắc
phải
bệnh
ung
thư
gan,
nhưng
HT
vẫn
tiếp
tục
miệt
mài
với
công
tác
hoằng
pháp.
Đến
ngày
23/11/1980,
HT
đã
qua
đời.
Hàng
trăm
ngàn
người
Việt
tại
Mỹ
và
hàng
ngàn
người
Mỹ
đã
khóc
tiễn
đưa
người
thầy
khả
kính
này.
Một
thiền
sinh
người
Mỹ
nói
:
"Ngài
là
sức
mạnh,
là
chỗ
dựa
trong
đời
sống
tu
tập
của
chúng
tôi.
Ngài
đã
dạy
chúng
tôi
biết
thế
nào
là
sự
vô
thường,
biến
loạn
của
vạn
vật,
nhưng
chúng
tôi
không
nghĩ
là
mất
Ngài
quá
sớm
như
vậy".
Ngôi
chùa
Phật
giáo
Việt
Nam
hiện
nay
do
một
Tăng
sĩ
người
Việt
thừa
kế
trụ
trì
và
Trung
tâm
Thiền
học
Quốc
tế
do
Ni
sư
người
Mỹ
Karuna
đảm
trách,
sự
nghiệp
hoằng
pháp
của
HT
Thiên
Ân
vẫn
còn
phát
triển
mạnh
trên
đất
Mỹ.
Tổng
hợp
từ
các
tài
liệu:
Rick
Fields
(1992)
HOW
THE
SWAN
CAME
TO
THE
LAKE,
Narrative
History
of
Buddhism
in
America,
Shambhala,
Boston,
USA.
Charles
S.
Preblish
(1993),
HISTORICAL
DICTIONANRY
OF
BUDDHISM,
Indian
Books
Centre,
Delhi,
India.
Stephen
Bathchelor
(1994)
The
WAKENNING
OF
THE
WEST,
The
Encounter
of
Budhdhism
and
Western
Culture,
Parallax,
Berkeley,
California,
USA.
---o0o---
---o0o---
|Danh
Nhân
Phật Giáo Thế
Giới | Tủ sách
Phật Học |
---o0o---
Kỹ thuật vi tính: Hải
Hạnh,
Ðàm
Thanh,
Diệu
Nga,
Tâm
Chánh,
Nguyên
Tâm
Trình bày: Nhị Tường
Cập
nhật: 01-04-02
|
|