THOMAS
WILLIAM
RHYS
DAVIDS
VÀ
HIỆP
HỘI
THÁNH
ĐIỂN
PÀLI
Ở
ANH
QUỐC
Thích
Nguyên Tạng
Melbourne, Úc Châu 2001
---o0o---

Ông
Thomas
W.Rhys
Davids |

Bà
Caroline
Rhys
Davids |
*
Nhân
duyên
ban
đầu
:
Đầu
thế
kỷ
thứ
19,
các
quốc
gia
ở
châu
Âu
hùng
mạnh
lên
với
sự
phát
triển
của
kỹ
thuật
từ
cuộc
cách
mạng
công
nghiệp,
họ
đẩy
ra
bên
ngoài
hàng
loạt
cuộc
chinh
phạt
thế
giới
dưới
sức
mạnh
của
chủ
nghĩa
thực
dân
châu
Âu,
các
quốc
gia
ở
châu
Á
là
mục
tiêu
của
họ
và
họ
đã
thành
công.
Ngược
lại,
tư
tưởng
Phật
giáo
(PG)
lại
có
cơ
hội
để
truyền
bá
sang
thế
giới
phương
Tây.
Hơn
thế
nữa,
sự
khám
phá
ra
kho
tàng
văn
hóa
phong
phú
của
châu
Á
và
triết
lý
độc
đáo
của
PG
đã
làm
thức
tỉnh
và
ảnh
hưởng
sâu
đậm
trong
giới
trí
thức
châu
Âu,
các
cộng
đồng
tôn
giáo
và
nói
chung
là
các
xã
hội
phía
bên
Tây
bán
cầu.
Thông
qua
sự
nỗ
lực
của
một
nhóm
chuyên
gia
về
ngôn
ngữ
học,
các
tác
phẩm
lớn
của
Phật
Giáo
được
truyền
bá
sang
Âu-Mỹ
trong
một
thời
điểm
mà
nhiều
người
đang
tìm
kiếm
một
phương
cách
để
trật
tự
hóa
những
đổi
thay
rộng
lớn
giữa
hai
lĩnh
vực
công
nghiệp
hóa
và
đô
thị
hóa.
Vào
thời
điểm
đó,
nhiều
học
giả
phương
Tây
thường
phục
vụ
trong
các
chính
quyền
thuộc
địa
của
họ
ở
châu
Á
và
đây
là
cơ
hội
đưa
họ
đến
với
Phật
Giáo
.
Đáng
kể
nhất
trong
số
này
là
ông
William
Jones
(người
Iran),
ông
Charles
Wilkens
(một
dịch
giả
Sanskrit
người
Anh),
ông
A.
Csoma
de
Koros
(một
nhà
ngôn
ngữ
học
người
Hungary),
ông
Houghton
Hodgson
(người
Anh),
ông
Eugene
Burnouf
(một
dịch
giả
Pàli
người
Pháp)
;
đặc
biệt
trong
số
trên
có
ông
Thomas
William
Rhys
Davids,
một
chuyên
gia
ngôn
ngữ
người
Anh,
người
đã
có
công
sáng
lập
nên
Hiệp
hội
Thánh
điển
Pàli
tại
Luân
Đôn,
Anh
quốc
vào
năm
1881.
*
Đôi
nét
về
ông
T.
W.
Rhys
Davids
(1843-1922):
Cũng
như
nhiều
học
giảPhật
Giáo
châu
Âu
khác,
ông
Rhys
Davids
bắt
đầu
sự
nghiệp
của
mình
là
một
viên
chức
của
Hoàng
gia
Anh
làm
việc
tại
các
chính
quyền
thuộc
địa
ở
trong
vùng
Nam
Á.
Tuy
nhiên,
khi
khám
phá
ra
kho
tàng
trí
tuệ
Phật
Giáo
đang
ẩn
tàng
phía
sau
những
bộ
kinh
Pàli
đồ
sộ
ở
Tích
Lan,
ông
đã
quyết
định
chấm
dứt
con
đường
danh
vọng
của
mình
mà
đi
thẳng
vào
lĩnh
vực
học
thuật
và
nghiên
cứu
ngôn
ngữ
Pàli.
Ông
đã
đậu
được
bốn
bằng
tiến
sĩ
(gồm
triết
học,
sử
học,
ngôn
ngữ
học
và
văn
chương)
và
đã
cống
hiến
trọn
đời
mình
cho
công
trình
nghiên
cứu,
phiên
dịch
và
ấn
hành
Tam
tạng
thánh
điển
Pàli
(Pàli
Tipitaka).
Năm
1881,
ông
cùng
vợ
(bà
Caroline
Augusta
Davids)
đã
thành
lập
Hiệp
hội
Thánh
Điển
Pàli
(Pàli
Text
Society
-
PTS)
tại
Luân
Đôn.
Đây
có
thể
xem
là
một
tổ
chức
Phật
Giáo
đầu
tiên
tại
Anh
quốc
với
sự
tham
gia
của
nhiều
học
giả
nổi
tiếng
Âu
châu
và
Á
châu,
để
nghiên
cứu,
biên
soạn,
chuyển
ngữ
và
in
ấn
kinh
điển
Phật
Giáo
bằng
tiếng
Pàli
và
Anh
ngữ.
Ngoài
việc
tham
gia
công
tác
phiên
dịch,
biên
tập
...,
ông
Davids
còn
biên
soạn
những
sách
Phật
Giáo
có
giá
trị
như
"Từ
điển
Pàli
-
Anh"
gồm
500
trang,
in
lần
thứ
nhất
vào
năm
1921
và
được
tái
bản
vào
các
năm
1925,
1992
và
1995
;
"Những
câu
hỏi
của
vua
Milinda"
(xuất
bản
năm
1890)
;
"Phật
giáo,
lịch
sử
và
văn
học"
(Xb
năm
1896)
;
"Những
pháp
thoại
của
Đức
Phật"
(Xb
năm
1899)
;
"Phật
giáo
Ấn
Độ"
(Xb
năm
1903)...
Dù
bận
rộn
điều
hành
công
việc
của
Hội,
phiên
dịch,
biên
soạn
kinh
sách,
nhưng
tiến
sĩ
Davids
vẫn
giữ
thời
giờ
nhất
định
để
đi
diễn
thuyết
khắp
nơi
ở
nước
Anh
và
ở
nước
ngoài,
trong
đó
Tích
Lan
và
Hoa
Kỳ
là
nơi
ông
thường
xuyên
lui
tới.
Từ
năm
1881
đến
1894,
ông
đến
Hoa
Kỳ
nhiều
lần
để
diễn
thuyết
bài
giảng
đầu
tiên
của
ông
là
"Nguồn
gốc
và
sự
phát
triển
của
Phật
Giáo
Ấn
Độ",
các
đề
tài
khác
là
về
giáo
lý
PG
theo
hệ
Nikàya,
sự
hòa
hợp
giữa
PG
và
Ky-tô
giáo,
lịch
sử
tôn
giáo
thế
giới...
Trong
mỗi
dịp
xuất
hiện
trước
công
chúng
Hoa
Kỳ,
ông
không
quên
giới
thiệu
về
tổ
chức
PTS.
Ông
làm
việc
không
biết
mỏi
mệt
cho
đến
cuối
đời,
ông
tạ
thế
vào
năm
1922.
Lúc
ấy,
Hiệp
hội
đã
in
được
70
quyển
kinh
sách
các
loại
(cả
bản
gốc
Pàli
và
bản
dịch
tiếng
Anh).
*
Hiệp
hội
Thánh
điển
Pàli,
quá
trình
hình
thành
và
phát
triển:
Vào
tháng
5
năm
1882,
trong
buổi
diễn
thuyết
thứ
hai
của
ông
tại
Hibbert,
tiến
sĩ
Davids
thông
báo
cho
cử
tọa
biết
ý
định
thành
lập
Hiệp
hội
Thánh
điển
Pàli
và
được
mọi
giới
nhiệt
tình
ủng
hộ
về
tài
chánh,
nên
không
lâu
sau
đó
Hiệp
hội
Thánh
điển
Pàli
đã
ra
đời
tại
Luân
Đôn
và
ông
giữ
chức
Chủ
tịch
hội
đầu
tiên.
Đến
nay,
Hiệp
hội
Thánh
điển
Pàli
đã
trải
qua
100
năm
và
tính
đến
nay
có
bảy
người
giữ
chức
chủ
tịch
Pàli
Text
Society
theo
thứ
tự
như
sau
:
ông
Rhys
Davids
(sáng
lập
và
làm
Chủ
tịch
Hội
từ
năm
1881-1922)
;
bà
Caroline
Augusta
Davids,
tiến
sĩ
văn
chương
(từ
1922-1942)
;
ông
W.
H.
Rouse,
tiến
sĩ
văn
chương
(từ
1942-1950)
;
ông
W.
Stede,
tiến
sĩ
triết
(từ
1950-1958)
;
bà
I.
B.
Horner,
tiến
sĩ
văn
chương
(từ
1959-1981)
;
ông
K.
R.
Norman
(từ
1981-1994)
;
từ
1994
đến
nay
là
tiến
sĩ
R.
F.
Gombrich,
trụ
sở
của
PTS
hiện
nay
tọa
lạc
tại
số
73
Time
Walk,
Headington,
Oxford
OX3.7AD.England.
Với
tôn
chỉ
vô
vị
lợi,
ngay
từ
những
ngày
đầu
của
Hội,
ông
Davids
đã
nhanh
chóng
tập
hợp
được
một
nhóm
học
giả,
các
chuyên
gia
ngôn
ngữ
học
để
biên
tập
lại
Kinh,
Luật
và
Luận
Pàli.
Nổi
bật
trong
nhóm
này
có
các
vị
như
R.
Morris,
E.
Hardy,
M.
Hunt,
E.
Muller,
J.
Minayeff,
E.
R.
Gooneratne,
J.
E.
Carpenter,
E.
Windisch,
W.
Trenckner,
R.
Chalmers,
L.
Feer,
H.
Bode,
H.
Oldenberg,
Wilhelm
Geiger,
E.
B.
Cowell,
P.
S.
Jaini,
E.
W.
Burlingame,
James
Gray,
J.
S.
Speyer,
Pe
Paung
Tin...
đồng
thời
công
bố
danh
sách
các
mạnh
thường
quân
trên
khắp
thế
giới
tài
trợ
cho
công
trình
vĩ
đại
này,
một
trong
những
nhà
tài
trợ
chính
cho
Hội
lúc
bấy
giờ
là
vua
của
Thái
Lan.
Công
việc
của
Hội
khởi
đầu
được
chia
thành
hai
phần
:
thứ
nhất
là
in
lại
toàn
bộ
Tam
tạng
Pàli
để
bảo
tồn
giá
trị
nguyên
thủy
của
nó,
thứ
hai
là
chuyển
ngữ
ra
tiếng
Anh
để
cho
thế
giới
phương
Tây
tiện
bề
học
hỏi.
Để
cho
mọi
giới
biết
rõ
mục
đích
của
Hội,
nên
năm
1882,
ông
Davids
đã
xuất
bản
tờ
nguyệt
san
Pàli
Text
Society,
tờ
báo
đã
nhanh
chóng
thu
hút
giới
trí
thức
ở
châu
Âu.
Thành
quả
của
Hội
được
ghi
nhận
vào
năm
1900
là
in
được
42
quyển
Kinh,
Luận
Pàli,
tổng
cộng
có
hơn
15.000
trang
sách.
Đặc
biệt
trong
số
này
là
các
bộ
"Thắng
pháp
tập
yếu
luận"
;
"Tăng
Chi
Bộ
kinh"
(6
quyển)
;
"Pháp
Cú
sơ
giải"
(5
quyển)
;
"Kinh
Bổn
Sám"
(6
quyển),
"Tiểu
Bộ
kinh"
(Khuddaka
Nikàya)...
Tiếp
đó,
các
bản
dịch
kinh
Pàli
đầu
tiên
xuất
hiện
như
"Những
câu
chuyện
tiền
thân
của
Phật"
do
E.
B.
Cowell
chuyển
ngữ
in
từ
năm
1895
đến
1907
;
"Tương
Ưng
Bộ
kinh"
(Samyutt
Nikàya)
gồm
5
quyển,
do
ông
bà
R.
Davids
và
ông
Woodward
chuyển
ngữ
và
ấn
hành
từ
năm
1917
đến
1930
;
"Tăng
Chi
Bộ
kinh"
(Angutara
Nikàya)
do
ông
E.
M.
Hare
và
ông
Woodward
dịch
và
ấn
hành
từ
năm
1932
đến
1936.
Sau
thế
chiến
thứ
nhất,
dù
tài
chánh
của
Pàli
Text
Society
có
eo
hẹp
nhưng
Hội
vẫn
giữ
mức
độ
làm
việc
bình
thường,
các
dịch
phẩm
lần
lượt
xuất
hiện
và
gây
được
tiếng
tốt
trong
giới
trí
thức
ở
châu
Âu.
Theo
sau
sự
qua
đời
của
người
sáng
lập
Hội
-
ông
Davids
-
năm
1922,
bà
Caroline,
vợ
ông,
được
cử
làm
Chủ
tịch
hội,
bà
là
học
giả
và
dịch
giả
Pàli
có
uy
tín.
Các
dịch
phẩm
của
bà
gồm
có
"Tương
Ưng
Bộ
kinh"
(quyển
I
và
II);
"Những
pháp
thoại
của
Đức
Phật"
(3
quyển,
dịch
cùng
với
chồng)
;
"Đạo
đức
tâm
lý
PG"
(Xb
năm
1900)...
Đến
năm
1942,
bà
Davids
được
thay
thế
bởi
tiến
sĩ
W.
H.
Rouse,
người
có
công
lớn
trong
việc
phiên
dịch
bộ
Jataka
(Chuyện
tiền
thân
của
Đức
Phật,
gồm
6
quyển).
Năm
1950,
Hội
bầu
ông
tiến
sĩ
William
Stede
làm
Chủ
tịch,
một
người
từng
biên
tập
và
chú
giải
bộ
Culla
-
Niddesa
(1918)
;
hai
quyển
sớ
giải
về
"Trường
Bộ
kinh"
(Dìgha
Nikàya)
in
năm
1931
và
1932
;
trước
đó
ông
cũng
đã
cộng
tác
với
Rhys
Davids
để
soạn
bộ
Từ
điển
Pàli-Anh.
Năm
1958,
tiến
sĩ
Stede
qua
đời,
bà
I.
B.
Horner
được
cử
vào
chức
Chủ
tịch,
người
từng
làm
thư
ký
cho
bà
Davids.
Trong
23
năm
lãnh
đạo
tổ
chức
này,
bà
đã
làm
nhiều
việc
để
phát
triển
Hiệp
Hội.
Các
dịch
phẩm
đáng
chú
ý
của
bà
là
"Trung
Bộ
kinh"
(Majjhima
Nikàya,
gồm
3
quyển,
Xb
từ
năm
1954
đến
năm
1959
và
tất
cả
được
tái
bản
vào
năm
1995)
;
"Những
câu
hỏi
của
Milinda"
(Malindapanha,
gồm
2
quyển,
Xb
từ
năm
1963-1964)
;
"Luật
tạng"
(Vinaya
-
Pilaka,
gồm
6
quyển,
Xb
từ
năm
1938-1966,
đến
năm
1993
đã
tái
bản
lại
toàn
bộ).
Bà
Horner
rất
quan
tâm
đến
việc
phát
triển
và
mở
rộng
chi
nhánh
của
Hội
ở
khắp
nơi
trên
thế
giới
(hiện
nay
đã
có
các
chi
nhánh
như
ở
Mỹ,
Tân
Tây
Lan,
Thái
Lan,
Ấn
Độ,
Mã
Lai,
Miến
Điện
và
Nhật
Bản.
Riêng
ở
Việt
Nam,
tuy
chưa
có
chi
nhánh,
nhưng
từ
đầu
thập
niên
sáu
mươi
đến
nay,
HT.
Thích
Minh
Châu,
nhà
phiên
dịch
Đại
tạng
kinh
Pàli,
đã
thường
xuyên
liên
lạc
với
PTS
để
nhận
tài
liệu
và
làm
công
tác
dịch
thuật.
Tính
đến
nay,
Hòa
thượng
đã
chuyển
ngữ
và
ấn
hành
hoàn
chỉnh
năm
bộ
kinh
thuộc
hệ
Nikàya.
TNT).
Trong
ba
thập
niên
60,
70
và
80,
Hội
tiếp
tục
phát
triển
về
mọi
mặt,
đặc
biệt
là
nhân
sự,
quy
tụ
nhiều
học
giả,
dịch
giả
nổi
tiếng
về
Pàli
ngữ
để
phiên
dịch
và
biên
tập
Đại
tạng
Pàli.
Đáng
kể
trong
số
này
là
các
vị
như
Ven.
Narada,
Ven.
Nànamoli,
Ven.
Walpola,
RahulaJ.
Jones,
P.
Masefield,
B.
C.
Law,
W.
B.
Bolleé,
R.
Handurukande,
F.
I.
Woodward,
J.
Kennedy,
U
Ba
Kyaw,
N.
A.
Jayawickrama...
Các
tác
phẩm
đáng
lưu
ý
trong
giai
đoạn
này
là
"Sổ
tay
từ
ngữ
Pàli
trong
Tam
tạng"
của
ông
E.
M.
Hare;
"Trưởng
lão
Tăng
và
Ni
kệ"
gồm
2
quyển
in
từ
năm
1969-1971
;
"Pàli
ngữ",
Xb
năm
1963,
một
cẩm
nang
cho
những
ai
muốn
học
và
đọc
tiếng
Pàli
"Chuyện
tiền
thân
của
10
vị
Bồ
Tát"
của
H.
Saddhàtissa,
Xb
năm
1975...
Năm
1981,
PTS
đã
tổ
chức
lễ
kỷ
niệm
100
năm
ngày
thành
lập
Hội
(1881-1981).
Trong
dịp
này,
bà
Chủ
tịch
Horner
có
đưa
ra
4
điểm
cần
làm
để
phát
triển
Hiệp
Hội.
Thứ
nhất,
giảm
giá
thành
tất
cả
các
loại
kinh
sách,
từ
điển
do
PTS
phát
hành.
Thứ
hai,
Hội
phải
cố
gắng
tái
bản
lại
những
kinh
sách
đã
phát
hành
hết
để
kịp
thời
cung
ứng
tài
liệu
cho
học
giả.
Bộ
sách
"Tự
học
Pàli
ngữ"
phải
phát
hành
kèm
với
băng
cassette.
Các
quyển
kinh
nhật
tụng
Pàli
cũng
phải
kèm
theo
băng
tụng
để
giúp
cho
người
sơ
cơ
dễ
dàng
tụng
niệm.
Thứ
ba,
Hội
phải
xúc
tiến
duyệt
lại
và
thêm
thắt
từ
mới
vào
bộ
Từ
điển
Pàli-Anh
(Xb
lần
đầu
tiên
năm
1921),
để
cập
nhật
hóa
với
những
thông
tin
của
thời
đại
(bộ
sách
này
đã
được
sửa
chữa
cẩn
thận
và
tái
bản
vào
năm
1992
và
1995).
Thứ
tư,
tiếp
tục
giữ
mối
liên
hệ
với
khoa
Ngôn
ngữ
học
và
Đông
phương
học
thuộc
Đại
học
Cambridge
để
khuyến
khích
ngày
càng
nhiều
người
quan
tâm
đến
cổ
ngữ
này
và
kết
hợp
với
Đại
học
Cambridge
cấp
phát
bằng
thạc
sĩ
và
tiến
sĩ
ngôn
ngữ
học
cho
những
nghiên
cứu
sinh
hoàn
thành
luận
án
Pàli
ngữ.
Bà
Horner
đã
từ
giã
cõi
đời
vào
tháng
4
năm
1981
và
ông
K.
R.
Norman
được
cử
vào
ghế
Chủ
tịch
để
thay
thế
bà.
Công
việc
phiên
dịch
và
ấn
hành
kinh
tạng
Pàli
vẫn
được
tiếp
tục
không
gián
đoạn.
Ông
Norman
cho
tái
bản
lại
dịch
phẩm
của
chính
ông
là
"Trưởng
lão
Tăng
kệ
và
Trưởng
lão
Ni
kệ"
(Thera
and
Therìgàthà,
2
quyển)
và
bản
dịch
mới
của
ông
về
Đại
kinh
Nipàta.
Trong
nhiệm
kỳ
14
năm
của
mình
(năm
1981-1994)
ông
đã
hoàn
thành
nhiệm
vụ
khi
phối
hợp
với
Hội
Truyền
bá
Chánh
pháp
ở
Thái
Lan
để
thực
hiện
công
việc
chuyển
toàn
bộ
hệ
thống
Tam
tạng
Pàli
vào
CD-ROM,
hầu
bảo
trì
giáo
điển
trong
một
phương
tiện
cất
giữ
thông
tin
của
thời
hiện
đại.
Đầu
năm
1994,
ông
Norman
không
thể
tiếp
tục
đảm
nhận
trọng
trách
của
Hội
nữa
vì
già
yếu,
và
Giáo
sư
tiến
sĩ
Richard
Gombrich
được
chọn
vào
vị
trí
này.
Những
thông
tin
mới
nhất
về
Hội
là
trụ
sở
trung
ương
ở
Luân
Đôn
vẫn
tiếp
tục
công
việc
cùng
kết
hợp
với
các
văn
phòng
đại
diện
trên
thế
giới
đang
phiên
dịch
các
bộ
"Abhidhammàvatàra",
"Itivuttaka-atthakathà"
và
"Bhesajjamanjùsà"...
Hội
cũng
đang
biên
tập
và
dịch
lại
bản
dịch
"Tương
Ưng
Bộ
kinh"
và
một
cuốn
sổ
tay
về
thuật
ngữ
Pàli
trong
Tạng
Luật.
Nhìn
lại
thành
quả
của
Hội
với
195
bộ
kinh
sách
Pàli
các
loại
và
hơn
100
bản
dịch
ra
tiếng
Anh
từ
Tam
tạng
Pàli.
Tất
cả
gồm
300
quyển
trên
đều
được
tái
bản
lại
từ
đầu
thập
niên
90
của
cuối
thế
kỷ
này.
Với
kết
quả
đáng
khích
lệ
như
thế
nên
mọi
thành
viên
của
Hiệp
hội
Thánh
điển
Pàli
tại
Anh
quốc
luôn
nhìn
về
tương
lai
với
một
niềm
tin
lớn
lao
trên
lộ
trình
góp
phần
truyền
bá
lời
Phật
dạy
cho
nhân
loại.
Tổng
hợp
từ
các
tài
liệu
:
-
Pàli
Text
Society,
List
of
Issuer
1996-1997-
Stephen
Batchelor,
The
Awakening
of
the
West,
USA,
1994
-
C.
Humphreys,
Encyclopedia
of
Buddhism,
Ceylon,
1972.