Có
thể
nói
ngay
rằng
đại
đa
số
giới
trí
thức
ở
phương
Tây
tìm
đến
với
Phật
giáo
là
nhờ
đọc
qua
thi
phẩm
bất
hủ
"Ánh
sáng
Á
châu"
(The
Light
of
Asia,
xuất
bản
lần
đầu
tiên
vào
năm
1879)
của
đại
thi
hào
người
Anh
Sir
Edwin
Arnold.
Đây
là
một
bản
trường
ca
gần
năm
nghìn
câu
thơ
,
phô
diễn
về
cuộc
đời
tu
tập
và
hành
đạo
của
Đức
Phật
Thích
Ca
Mâu
Ni.
Ngay
sau
khi
xuất
hiện
trên
thi
đàn
Âu
châu,
tác
phẩm
"Ánh
sáng
Á
châu"
đã
lập
tức
chinh
phục
người
đọc
và
đã
được
các
nhà
phê
bình
văn
học
Tây
phương
hết
lời
khen
ngợi
đây
là
một
tác
phẩm
văn
chương
trác
việt
của
Anh
quốc
vào
cuối
thế
kỷ
thứ
19.
Tác
phẩm
đã
lập
tức
thịnh
hành
tại
Anh
quốc
và
được
chuyển
ngữ
ra
nhiều
thứ
tiếng
trên
thế
giới
(bản
dịch
Việt
ngưࣦ#243;
tựa
đề
là
"Ánh
sáng
Á
châu",
dịch
từ
bản
tiếng
Pháp,
do
nhà
Phật
học
-
cư
sĩ
Đoàn
Trung
Còn
phiên
dịch
và
Phật
học
Tùng
Thư
xuất
bản
lần
đầu
tiên
năm
1965).
Sir
Edwin
Arnold,
sinh
ngày
10
tháng
06
năm
1832
tại
làng
Grevessend,
Anh
quốc.
Ông
trải
qua
thời
tiểu
và
trung
học
ở
các
trường
dành
cho
con
cháu
giới
hoàng
tộc
và
theo
học
Đại
học
Oxford,
nơi
đó
ông
đã
được
trao
giải
thưởng
Newdigate
cho
tập
thơ
đầu
tay
của
mình.
Sau
khi
tốt
nghiệp
đại
học,
ông
được
cử
đến
làm
hiệu
trưởng
trường
Cao
đẳng
Sanskrit
thuộc
chính
quyền
thực
dân
Anh
ở
Poona,
Ấn
Độ.
Sau
5
năm
phục
vụ
trong
lĩnh
vực
giáo
dục
tại
Ấn
Độ,
ông
trở
về
Luân
Đôn
và
trở
thành
phái
viên
cho
tờ
Daily
Telegraph
vào
năm
1861,
và
kể
từ
đó
ông
làm
việc
cho
tờ
báo
này
đến
cuối
đời
mình.
Nhân
danh
tờ
nhật
báo
này,
ông
Arnold
đã
kết
hợp
với
tờ
Newyork
Herald,
sắp
xếp
chuyến
viếng
thăm
của
ông
H.
M.
Stanley
đến
châu
Phi.
Trong
chuyến
viếng
thăm
này,
ông
Stanley
đã
đặt
tên
cho
một
hòn
núi
ở
phía
Đông
Bắc
nước
Congo.
Ông
Arnold
cũng
được
công
nhận
là
người
đầu
tiên
có
ý
tưởng
về
việc
phóng
một
con
đường
xe
lửa
trên
toàn
lục
địa
châu
Phi.
Những
năm
cuối
đời,
ông
sống
một
vài
năm
ở
Nhật
Bản,
nơi
ông
đã
cưới
người
vợ
thứ
ba,
một
phụ
nữ
Nhật
Bản.
Giống
như
các
nhà
báo
cùng
thời
ông,
Lafcadio
Hearne
và
Rudyard
Kipling,
ông
Arnold
quan
tâm
sâu
sắc
đến
con
người
và
nền
văn
hóa
của
họ,
những
nơi
mà
ông
có
quyền
sống
và
viết
với
sự
đồng
cảm
và
nhạy
cảm
của
ông
đối
với
vùng
đất
ấy.
Trong
cuộc
đời
làm
công
tác
giáo
dục
và
văn
hóa
của
mình,
ông
đã
được
hoàng
gia
Anh
và
nước
Ấn
Độ
trao
tặng
nhiều
huy
chương
cao
quí.
Ông
cũng
được
các
hoàng
đế
ở
Nhật
Bản,
Ba
Tư,
Thái
Lan,
Thổ
Nhĩ
Kỳ
trao
tặng
nhiều
huy
chương
vì
có
công
trong
việc
khôi
phục
lại
nền
văn
hóa
cổ
đại.
Trong
thời
gian
làm
việc
tại
Ấn
Độ,
ông
đã
để
tâm
nghiên
cứu
và
học
hỏi
những
tôn
giáo
lớn
ở
châu
Á,
đặc
biệt
trong
đó
có
đạo
Phật.
Ông
đã
nghiên
cứu
rất
kỹ
về
cuộc
đời
và
sự
nghiệp
truyền
bá
Chánh
pháp
của
Đức
Phật
Thích
Ca
Mâu
Ni,
và
cuối
cùng
ông
đã
chuyển
những
ý
tưởng
đó
trở
thành
thơ
ca.
Kết
quả,
thi
phẩm
"Ánh
sáng
Á
châu"
đã
ra
đời.
Ngoài
tác
phẩm
độc
đáo
này,
những
cuốn
sách
chính
của
ông
là
"Ánh
sáng
thế
giới",
in
năm
1891
;
"Những
bài
hát
của
người
Ấn
Độ",
in
năm
1875
;
"Biển
và
đất
liền",
in
năm
1891
;
và
hai
cuốn
sách
cuối
cùng
của
ông
là
nghiên
cứu
về
đời
sống
và
văn
hóa
của
người
Nhật
Bản.
Ông
Edwin
Arnold
đã
cống
hiến
sức
lực
của
mình
cho
sự
nghiệp
văn
hóa
của
thế
giới
cho
đến
ngày
qua
đời,
ông
mất
vào
ngày
24
tháng
3
năm
1904
tại
Anh
quốc.
*
Tầm
ảnh
hưởng
của
"Ánh
Sáng
Á
Châu"
trong
đời
sống
tinh
thần
của
người
phương
Tây.
Nếu
Phật
tử
ở
nước
Pháp
thích
đạo
Phật
qua
giáo
lý
nguyên
thủy,
thì
ngược
lại
tín
đồ
tại
Anh
thích
đạo
Phật
qua
tầm
vóc
anh
hùng
của
chính
Đức
Phật
Thích
Ca,
người
khai
sáng
ra
đạo
Phật.
Sự
khâm
phục
này
được
tìm
thấy
qua
sự
biểu
lộ
tột
độ
của
họ
khi
tác
phẩm
"Ánh
sáng
Á
châu"
ra
đời.
Đây
là
một
bản
trường
ca
về
Đức
Phật,
nó
nói
lên
tiếng
nói
chung
của
Phật
tử
Anh
về
đấng
Cha
lành.
Tác
phẩm
này
được
viết
trong
một
văn
phong
thuộc
trường
phái
lãng
mạn
của
thời
nữ
hoàng
Victoria
;
tuy
vậy
tác
phẩm
vẫn
giữ
được
phẩm
chất
đạo
đức
rốt
ráo
của
một
người
anh
hùng
theo
cái
nhìn
của
người
Anh
:
tính
ly
dục,
kết
hợp
với
từ
bi,
trí
tuệ,
chân
thật
và
nhẫn
nại.
Phẩm
chất
đặc
thù
tuyệt
đối
của
Đức
Phật
đã
làm
tăng
thêm
sự
cảm
nhận
rằng
Ngài
giống
như
là
một
đối
thủ
của
Ấn
Độ
giáo,
vì
một
người
đã
can
đảm
đi
ngược
lại
với
mọi
tục
lệ,
tập
quán
lâu
đời
của
Ấn
Độ
giáo.
Hơn
thế
nữa,
sự
xuất
hiện
của
Đức
Phật
qua
tác
phẩm
của
Arnold
lại
trùng
khớp
với
thời
kỳ
phản
đối
Ky-tô
giáo
tại
Anh,
đây
là
một
nguyên
nhân
tạo
ra
sự
quyết
định
trở
về
với
đạo
Phật
của
người
Anh
và
Phật
giáo
đã
có
một
chỗ
đứng
vững
chắc
trong
nền
văn
hóa
của
dân
tộc
Anh.
Vào
năm
1890,
ông
Allan
Bennet
(1872-1923)
nhờ
đọc
tác
phẩm
"Ánh
sáng
Á
châu"
mà
lập
tức
quy
y
theo
Phật
giáo.
Sau
đó
(1902),
ông
đã
đến
Tích
Lan
để
xuất
gia
tu
học.
Ông
là
một
trong
những
người
có
công
lớn
trong
việc
phát
triển
Phật
giáo
tại
Anh
trong
giai
đoạn
đầu.
Năm
1905,
ông
R.
T.
Jackson
cũng
giác
ngộ
nhờ
đọc
qua
tác
phẩm
độc
đáo
này,
và
ông
đã
kết
hợp
với
một
người
bạn
mở
một
nhà
phát
hành
sách
Phật
giáo
ở
gần
công
viên
Regent,
thủ
đô
Luân
Đôn,
để
phổ
biến
giáo
lý
;
và
hai
cư
sĩ
này
cũng
thường
xuyên
tổ
chức
các
buổi
thuyết
giảng
về
giáo
lý
đạo
Phật
tại
nhà
sách
của
mình.
Năm
1910,
ông
Frederic
Fletcher
cũng
trở
về
với
Phật
giáo
cũng
qua
tác
phẩm
này,
ông
Frederic
đã
đến
Tích
Lan
xuất
gia
tu
học
và
về
sau
có
nhiều
đóng
góp
đáng
kể
đối
với
Phật
giáo
tại
nước
nhà.
Trong
khi
đó
tại
Hoa
Kỳ,
đại
tá
Henry
Olcott
nhận
được
quyển
"Ánh
sáng
Á
châu"
do
bà
Fannie
Marie
Adelaide
(vợ
của
tác
giả-Sir
Edwin
Arnold)
gởi
tặng.
Ông
Olcott
(
người
về
sau
có
công
khôi
phục
Phật
giáo
Tích
Lan
và
được
xem
là
người
có
ý
tưởng
đầu
tiên
về
lá
cờ
Phật
giáo
thế
giới)
sau
khi
đọc
xong
tác
phẩm
và
đã
quyết
định
cho
tái
bản
ngay
tại
Boston
(đến
nay
tại
Mỹ
đã
có
hơn
tám
mươi
lần
tái
bản
cuốn
sách
này
và
có
hơn
một
triệu
bản
được
phát
hành
rộng
rãi
trên
khắp
nước
Mỹ)
với
một
lời
dự
đoán
về
tác
phẩm
có
một
không
hai
này
:
"Quyển
sách
sẽ
tạo
ra
một
sự
kinh
ngạc
lớn
lao
cho
mọi
giới
và
những
câu
hỏi
tò
mò
sẽ
nảy
sinh
trong
tâm
trí
của
các
Ky-tô
hữu
nói
chung".
Sau
khi
quyển
sách
xuất
bản,
ông
F.
B.
Sanborn
đã
viết
trong
phần
điểm
sách
trên
tờ
Republican
như
sau
:
"Tính
giá
trị
thơ
ca
của
tác
phẩm
rất
lớn,
nhưng
nó
có
một
giá
trị
khác
lớn
hơn
là
nó
đã
được
phô
bày
trong
một
tinh
thần
cảm
thông
của
chân
lý,
hầu
truyền
cảm
hứng
lòng
nhân
từ
của
Á
châu
cho
thế
giới..."
Ngay
cả
Oliver
W.
Holmes
đã
hăng
hái
một
cách
điên
cuồng
đến
nỗi
viết
một
mạch
hai
mươi
sáu
trang
trên
tờ
International
Review
để
nói
lên
cảm
nghĩ
của
ông
về
tập
thơ
này,
ông
viết
:
"Tác
phẩm
cao
quí
đến
nỗi
nó
không
có
cái
khác
để
có
thể
so
sánh".
Với
số
lượng
phát
hành
khổng
lồ
như
thế,
tác
phẩm
"Ánh
sáng
Á
châu"
được
phổ
biến
khắp
Hoa
Kỳ
đã
minh
chứng
tài
nghệ
thơ
ca
của
Arnold.
Sự
khởi
đầu
của
Arnold
cũng
giống
như
các
học
giả
PG
khác
như
Spencer
Hardy,
Samuel
Beal
và
Max
Muller,
nhưng
ông
ta
đã
thành
công
hơn
nhiều,
bởi
vì
ông
ta
đã
viết
một
câu
chuyện
chứ
không
phải
là
một
luận
án
hay
một
bản
chú
giải.
Đức
Phật
trong
tác
phẩm
của
ông
là
một
sự
tổng
hòa
của
một
phần
người
anh
hùng
lãng
mạn,
một
phần
của
con
người
bình
thường
và
một
phần
khác
là
một
bậc
thánh
siêu
phàm
giữa
trường
đời.
Cùng
lúc
viết
cuốn
"Ánh
sáng
Á
châu",
ông
Arnold
còn
cho
phát
hành
một
tập
sách
về
tư
tưởng
Phật
giáo
mà
ngày
nay
các
học
giả
phương
Tây
rất
ưa
thích.
Ông
đã
chuyển
thành
thơ
các
giáo
lý
cơ
bản
về
nghiệp,
về
Tứ
diệu
đế,
Bát
chánh
đạo...
;
đồng
thời,
ông
cùng
với
học
giả
Max
Muller
và
nhiều
học
giả
khác
nghiên
cứu
và
truyền
bá
về
giáo
lý
Niết
Bàn.
Ngoài
việc
viết
sách
báo
và
diễn
thuyết,
ông
Arnold
trước
sau
vẫn
là
một
người
quan
tâm
đến
sự
phát
triển
của
Chánh
pháp
ở
phương
Tây,
ông
từng
khẳng
định
rằng
:
"Tôi
vẫn
thường
nói
và
sẽ
nói
mãi
và
nói
mãi,
rằng
Phật
giáo
và
nền
khoa
học
hiện
đại
tồn
tại
trong
một
mối
quan
hệ
tri
thức
chặt
chẽ
"
("
I
have
often
said,
and
shall
say
again
and
again,
that
between
Buddhism
and
modern
science
there
exists
a
close
intellectual
bond").
Giống
như
Pháp
sư
Dharmapala
(
người
Tích
Lan,
người
có
công
phục
hưng
PG
Ấn
Độ)
và
đại
tá
Olcott,
ông
Arnold
rất
đau
lòng
khi
thấy
những
thánh
tích
Phật
giáo
tại
Ấn
Độ
bị
lãng
quên
và
bị
sử
dụng
sai
mục
đích.
Ông
đã
viết
nhiều
bài
báo
đăng
trên
tờ
Daily
Telegraph
để
kêu
gọi
thế
giới
quan
tâm
đến
sự
hủy
diệt
này.
Ánh
sáng
Á
châu
xưa
nay
vẫn
được
xem
là
một
tác
phẩm
hàng
đầu
có
công
trong
việc
truyền
bá
Phật
giáo
ở
thế
giới
phương
Tây,
và
nó
sẽ
tiếp
tục
tỏa
sáng
như
một
ngọn
hải
đăng
soi
đường
cho
chúng
sanh
trên
khắp
thế
giới,
ngõ
hầu
giúp
họ
tìm
đến
được
bến
bờ
yên
vui,
và
đó
cũng
là
mục
đích
chính
khi
ông
Arnold
bắt
tay
thực
hiện
tác
phẩm
này.
Điều
này
đã
được
ông
đề
cập
trong
phần
kết
luận
của
thi
phẩm
ÁNH
SÁNG
Á
CHÂU
như
sau:
Kể
từ
thành
đạo
Bồ
đề
Bốn
mươi
chín
tuế
chợ
quê
giảng
truyền
Thuyết
bằng
ngôn
ngữ
các
miền
Chỉ
cho
mọi
lối
dứt
phiền
đắc
an
Ánh
minh
Ấn
Độ
rọi
lan
Á
châu
rồi
lại
khắp
tràn
năm
châu
Gió
lành
bủa
cả
hoàn
cầu
Sức
linh
phước
huệ
đổi
sầu
hóa
vui.
(theo
bản
dịch
của
Đoàn
Trung
Còn,
Sđd)
(Theo
tài
liệu
"Biographical
Sketch
of
Sir
Edwin
Arnold",
Buddhist
Society,
May,
1997
và
nhiều
tài
liệu
khác)