Phật giáo (PG) chính thức được
truyền đến Úc vào năm 1848 của thế kỷ thứ 19, khi người Trung Hoa
đổ xô đi tìm vàng ở một vùng phía Đông của nước Úc. Trong
nhóm người này có một số là tín đồ của đạo Phật nên họ
đã dựng một ngôi chùa nhỏ tại đó với những vật liệu tạm
thời, nay ngôi chùa này tuy không còn nhưng những pho tượng còn
sót lại giúp ta khẳng định được niên đại PG đã du nhập vào
đất Úc.
Đến tháng 11 năm 1882, số lượng Phật tử được gia
tăng nhờ có nhóm người Tích Lan đến Úc để làm việc trên
những đồn điền mía đường ở vùng Mackay, phía Bắc bang Queensland
và các sở công nghiệp ngọc trai ở trên đảo Thursday(bang Queensland).
Đầu những năm 1890, dân số Phật tử trên đảo Thursday, lên đến
500 người Tích Lan. Hai cây Bồ đề được cộng đồng này trồng lúc
ấy đến nay vẫn còn. Một ngôi chùa cũng đã được người Tích
Lan xây dựng trên đảo Thursday này.
Cuối thế kỷ thứ 19, ở phương Tây đột nhiên nổi
lên phong trào nghiên cứu và học hỏi tôn giáo và văn hóa Á
châu. Ở Úc cũng đã ảnh hưởng không khí đó. Vào năm 1891, ông
Henry Steel Olcott, người có công xây dựng nền tảng cho PG tại Hoa
Kỳ, đã dành 5 tháng để đi diễn thuyết Phật pháp trên khắp
nước Úc. Những bài giảng và cuốn sách "Phật pháp vấn
đáp" (Buddhist Catechism) của ông đã gây ảnh hưởng rộng lớn
trong giới trí thức Úc. Một người trong số đó là ông Alfred
Deakin, người về sau ba lần được bầu làm Thủ tướng của nước
Úc. Ông có viết một cuốn sách về chuyến viếng thăm Ấn Độ và
Tích Lan của ông, trong đó ông dành 3 chương viết về Đức Phật và
giáo pháp của Ngài. Trong thời gian đó tổ chức của ông Olcott
đóng vai trò quan trọng trong việc truyền bá PG tại Úc, Hội của ông
đã cung cấp kinh sách và giới thiệu nhiều Pháp sư đến giảng dạy
tại Úc. Một trong những người này là ông F. L. Woodward, đến Úc
vào năm 1919 sau 16 năm làm Hiệu trưởng Trường Đại học Mahinda ở
Galla, Tích Lan. Ông Woodward đã lưu trú tại tiểu bang Tasmania trong 33
năm, ông dành thời gian này để đi giảng dạy giáo lý và dịch kinh
Phật từ Pali ra Anh ngữ cho Hội Dịch Kinh Pali ở Luân Đôn. Một trong
những quyển sách của ông là tuyển tập "Những lời Phật
dạy" ấn hành lần đầu tiên vào năm 1925, là quyển sách
được nhiều người Úc biết đến. Cũng vào thời điểm ấy, Tiến
sĩ Worthing đã thành lập nhóm " Những nhà nghiên cứu Chân
lý" ( Students of Truths), phần lớn thành viên của nhóm này là
tín đồ Gia Tô giáo. Nhóm này có chi nhánh ở Melbourne, Sydney và
Tasmania.
Đoàn Tăng sĩ truyền Pháp đầu tiên đến
Úc vào
năm 1915 là năm vị Tỳ Kheo người Đức, năm vị này được phái
đến hoằng Pháp từ Tích Lan (Sri Lanka). Một trong năm vị này là Đại
Đức Nyanatiloka (1878-1957), một học giả, dịch giả, tác giả của nhiều
tác phẩm Phật học quan trọng, và ngài cũng là một người tiên
phong trong phong trào lìa bỏ thế tục để trở thành tu sĩ PG ở xã
hội phương Tây.
Hội Phật giáo đầu tiên tại Úc là "Little Circle
of Dharma" (Tiểu Pháp Luân) do đạo hữu David Maurice khởi xướng
cùng với Max Tyler và Max Dunn vào năm 1925 tại bang Melbourne. David Maurice
sinh năm 1899 tại New South Wales (NSW), ông biết đến với đạo Phật
năm 12 tuổi nhờ đọc được Kinh Trường Bộ ( Digha-nikàya) từ bản
dịch tiếng Anh của giáo sư Rhys Davids. Sau 2 năm học ngành y ở Đại
học Sydney ông bỏ ngang và trở thành nhà văn. Trong giới văn nghệ
sĩ Úc, ông phát hiện nhiều người thích nghiên cứu PG và thế là
họ cùng nhau thành lập hội trên. Hội của ông chịu ảnh hưởng của
truyền thống PG Nam truyền. Đến năm 1950, ông cho xuất bản tờ
"The Light of The Dharma" (Ánh sáng của Chánh Pháp), đây là tờ
báo PG tiếng Anh tại Úc được phát hành đi khắp thế giới, và
đến năm 1962, ông cho in tuyển tập các bài viết của ông, quyển
"The Lion 's Roar" (Tiếng rống của Sư tử). Có thể nói Davids
Maurice và các thành viên của ông là những người có công lớn
trong việc phát triển PG tại Úc và cũng chính họ đã làm cho thế
giới biết PG tại xứ sở này trong thời gian nhóm này còn hoạt
động.
Năm 1938, một số Phật tử khác cũng thành lập Nhóm
Nghiên cứu Phật học (The Buddhist Study Group) do một kiến trúc sư
người Melbourne, ông Len Bullen làm nhóm trưởng. Tham vọng của nhóm
này là làm cho mọi người hiểu rằng Đạo Phật như là một ngành
tâm lý học ứng dụng, có thể giúp cho con người giải quyết
được mọi bế tắc của thời đại. Tiếc thay, nhóm này hoạt động
được một năm thì tan rã, vì Thế chiến thứ hai đã bùng nổ vào
năm 1939.
Người phụ nữ cũng đóng một vai trò phát triển PG
tại Úc. Một trong những người phải được kể đến là bà Marie
Byles, một nữ luật sư đầu tiên ở quốc gia này và bà được
nhiều người biết đến lúc đó như là một người hòa giải, đối
thoại và là người tranh đấu quyền bình đẳng cho phụ nữ. Bà đã
viết nhiều sách và báo về PG trong những năm bốn mươi và năm
mươi. Quyển sách nổi tiếng nhất của bà là "Những dấu chân
của Đức Phật Cồ Đàm" (Footprints of Gautama Buddha), xuất bản năm
1951, đến nay sách vẫn còn tái bản. Bà đã đi diễn thuyết Phật
pháp nhiều nơi ở Úc cũng như thường nói chuyện trên đài phát
thanh ở Sydney. Điểm đặc biệt, trong khuôn viên nhà bà ở Sydney,
một thời từng là địa điểm tu học cho các khóa tu ngắn ngày. Bà
đã lập một thư viện PG?ới hàng ngàn Kinh sách cho Phật tử Úc
đọc.
Năm 1952, một nữ tu PG đầu tiên viếng thăm Úc, đó
là Ni sư Dhammadinna( 1881-1967), người Mỹ. Sau ba mươi năm tu học tại
Tích Lan, bà được Tiến sĩ Malasekera (vị Chủ tịch đầu tiên của Hội
Liên Hữu PG thế giới) mời đến Úc để hoằng pháp. Mặc dù đã
70 tuổi, Ni sư đã đi thuyết giảng nhiều nơi trên khắp nước Úc.
Mười một tháng hoằng pháp của Ni sư tại Úc đã làm niềm tin
Chánh pháp của tín đồ tại xứ sở này gia tăng không kể xiết
Đến năm 1953, Hội Phật Giáo NSW ( Buddhist Society of New
South Wales) ra đời do ông Leo Berkeley, một thương gia người Sydney lãnh
đạo. Hội đặt trụ sở tại Sydney, nhưng có chi nhánh ở Melbourne,
Queensland và Tasmania. Kết hợp với với Hội này, bà Natasha Jackson,
một người Úc gốc Nga, là đệ tử của Ni sư Dhammadinna, đã cho
xuất bản Nguyệt san Metta (Từ Bi), là tiếng nói của PG Úc từ năm
1955 đến năm 1971. Sau đó tờ báo này được đổi tên là
"Buddhism Today" (Đạo Phật ngày nay), đây là tờ báo có tuổi
đời lâu nhất của PG Úc. Hiện nay Hội này hoạt động đều đặn,
do ông Graeme Lyall ( là một trong những đệ tử trẻ tuổi của ni sư
Dhammadinna) làm Hội trưởng. Hội đã tổ chức thời khóa tu học
hàng tuần và có mở một Webpage ( địa chỉ: http://www.zip.com.au/~lyallg/
để phổ biến giáo lý Phật Đà.
Năm 1953, Hội Phật giáo Queensland và Hội Phật giáo
Victoria ra đời. Đến đầu thập niên 60, PG Nam truyền phát triển mạnh
và tập trung ở Sydney. trong khi ở Melbourne, Phật giáo Bắc Truyền bắt
đầu cắm rễ nhờ công của Thiền sư Tuyên Hóa, người Hoa ( năm
1962, ngài đến hoằng Pháp ở Hoa Kỳ). Đặc biệt là PG Thiền của
Nhật Bản, do nỗ lực hoằng Pháp của Hội Phật Giáo Thiền Tào
Động ( The Soto Zen Buddhist Society) . Dòng thiền này đã phát triển
mạnh và gây ảnh hưởng lớn ở những tiểu bang khác tại Úc.
Năm 1972, Hội PG Hoa Tông ở Úc ra đời tại Sydney do thương gia Eric
Liao lãnh đạo, người đến Úc từ năm 1961.
Năm 1974, giáo sư Jayasuriya
cùng một số đạo hữu thành lập Hội Phật Giáo Tây Úc ( Buddhist Society of
Western Australia) tại tiểu bang Perth. Ông Jayasuriya là người Tích Lan
và là giáo sư Tâm Lý học tại đại học Tây U?. Thành viên đầu tiên của Hội
này gồm một số người U?, người Hoa và người Thái Lan theo truyền thống
Theravada. Năm 1981, Hội đã cung thỉnh hai vị sư người Úc là đại đức
Jagaro và đại đức Purisso, về hoằng Pháp từ Thái Lan. Nhờ sự xuất hiện của
hai vị tăng sĩ này mà nhiều người U? đã phát tâm hướng về đạo. Sự lớn mạnh
đã đưa Hội đến quyết định mua một thửa đất rộng khoảng 40 hécta trong
huyện Serpentine, 70 km về phía nam thành phố Perth, để xây dựng thiền
viện Bodhinyana (Giác Minh) vào năm 1983. Do nhu cầu tu học ngày càng đông
của người bản xứ, đến năm 1987, Hội lại xây dựng tiếp một Trung tâm Phật
Giáo tại thành phố Perth, lấy tên là Trung Tâm Dhammaloka (Pháp Giới),
rộng khoảng 5000 mét vuông, bao gồm trụ sở văn phòng, thư viện, nhà khách,
hội trường, và một điện Phật rộng lớn để tụng kinh, thuyết Pháp và ngồi
thiền. Hiện tại, Hội PGTU, được xem là một trong những Hội Phật giáo tại
Úc phát triển và hoạt động hoằng Pháp đều đặn. Tăng đoàn tại thiền viện
Bhodhinyana hiện gồm có 20 vị tỳ kheo. Thêm vào đó, vào năm 1998, hội cũng
có mua một thửa đất rừng khác, rộng khoảng 240 hecta, để xúc tiến thành
lập Ni viện Dhammasara do ni cô?ayama, người Úc, trụ trì. Hội do Thượng
tọa Ajahn Brahmavamso, người Anh, lãnh đạo tinh thần, và hội trưởng hiện
nay (1998-1999) là một người Việt, đó là tiến sĩ Bình Anson, một người đã
định cư tại Úc hơn hai mươi năm qua. Ông đã tham gia sinh hoạt với Hội này
từ khi mới đặt chân đến Úc. O?g cũng là người chủ trương hai trang Webpage
Phật Giáo (tiếng Việt và tiếng Anh) để phổ biến giáo lý Phật Đà. Địa chỉ
truy cập là:
Thập niên bảy mươi là giai đoạn
chuyển mình và phát triển của PG Úc, đặc biệt là giới trẻ tìm về với PG.
Trong khoảng thời gian này, ước lượng có trên 300 người Úc tham gia các
khóa tu ở Ấn Độ và Népal do Thượng tọa Thubten Yeshe và Thượng tọa Zopa
Rinpoche hướng dẫn. Và có hơn 200 người Úc đến tu học tại Thái Lan, Miến
Điện và Tích Lan. Một số ít trong nhóm này về sau đã xuất gia ông Paul
Boston đạo hiệu là S. Dhammika, xuất gia theo PG Tích Lan và đã trở thành
một tăng sĩ người Úc nổi tiếng hiện nay, ông đã viết rất nhiều sách và đi
giảng nhiều nơi ở Úc. Một vị tăng sĩ ngươi?nh khác, Thượng tọa Pannyavaro,
hiện được xem là một người tiền phong trong phong trào truyền bá lời Phật
dạy qua hệ thống Internet. Ngài từng đến tu học tại Tích Lan, Thái Lan và
Miến Điện . Đầu năm 1992, ngài sang Australia và bắt đầu mở một thiền
đường tại thành phố Sydney để dạy thiền cho người Úcl. Để cập nhật hóa với
những phát triển của ngành tin học hiện đại, TT. Pannayavaro đã mở một tờ
báo Phật giáo điện tử (địa chỉ:
http://www.buddhanet.net), để truyền bá lời Phật dạy, một phương tiện
hoằng Pháp nhanh và thu hút rất nhiều độc giả đến với Phật giáo, theo ước
tính có gần 10.000 người trên khắp thế giới vào xem mỗi ngày.
Cũng trong thời gian cuối những năm 70, một số lớn
di dân và người tị nạn đến từ châu Á và phần lớn họ đều
là Phật tử, đó là lý do ra đời hàng loạt tự viện ở Úc.
ĐĐ Somaloka, một Tăng sĩ đến từ Tích Lan năm 1971, ông cùng với
Hội PGNSW tiến hành xây dựng một ngôi chùa ở Blue Mountain thuộc
phía Tây bang Sydney. Năm 1973, Thượng tọa Phra Khantipalo, một Tăng sĩ
người Anh đến Sydney từ Thái Lan, ông cùng Phật tử địa phương
xây dựng chùa Buddharangssee... Năm 1978, một sư cô người Đức, Ayya
Khema, thành lập chùa Budhha Dharma ở phía Bắc Sydney. Hình thức ngôi
chùa này giống như một Trung tâm hành thiền hay một trại tu dưỡng
hơn là ngôi chùa.
Đến năm 1979, Trung tâm Thảo luận Phật học (Buddhist
Discussion Center) ra đời tại Upwey, bang Melbourne, do giáo sư người Úc
John. D. Hughes sáng lập và làm Hội trưởng. Đây là một tổ chức
của một số lớn trí thức Úc muốn nghiên cứu Phật pháp và tu
Thiền theo hướng kết hợp theo cả hai truyền thống Nam và Bắc
truyền. Hội này cũng cho xuất bản một tờ báo phát hành hàng
tháng cho Phật tử Úc đọc. Đến nay tổ chức này vẫn hoạt động
mạnh. Cuối năm 1998, Hội này đã mở một Webpage để phổ biến chủ
trương và sinh hoạt của Hội cũng như giáo lý. Địa chỉ vào xem
làhttp://www.bdcu.org.au .
Đầu năm 1980, nhiều Hội Phật khác như Hội Phật Giáo
Lãnh Thỗ Miền Bắc ở bang Darwin, Hội Phật Giáo Tasmania, Hội Phật
Giáo Người Hoa, Hội Phật giáo Tây Tạng
được thành lập và
có nhiều hoạt động hoằng Pháp mạnh mẽ để đưa Chánh Pháp đi
vào cuộc đời.
Trong hai thập niên 80 và 90, với chính sách đa văn
hóa của chính phủ Úc, nên nhiều sắc tộc khác như Việt Nam, Lào,
Campuchia, Thái Lan, Trung Hoa, Tây Tạng... đến định cư tại Úc và PG
vào thời điểm này phát triển mạnh nhất trong lịch sử của PG Úc.
Trong đó, đáng kể nhất là PG Việt Nam, Trung Hoa,Tây Tạng, Lào,
Campuchia, Thái lan, Tích Lan
Riêng PG Tích Lan, hiện nay có khoảng
150.000 người Srilanka định cư tại ÚC, có khoảng 15 ngôi chùa và 12
Tăng sĩ trên toàn Uc châu, đáng chú ý là Thượng Tọa Kott
Santhindriya, viện chủ Thiện Viện Daham Niketanaya ( Melbourne), có công
lớn trong việc phát triển PG Therevada ở U?. Năm 1997, Thượng tọa
cũng đã mở một Webpage (http:techno.net.au/daham) để truyền bá giáo
lý. Đặc biệt , PG U? châu đã thật sự chuyển mình và dân chúng
U? càng chú ý và nghiên cứu học hỏi giáo lý nhà Phật nhiều
hơn qua ba lần (1982, 1992 và 1996) viếng thăm nước
Úc của Đức Đạt
Lai Lạt Ma thứ 14, nhà lãnh đạo thế quyền và giáo quyền của dân
tộc Tây Tạng. Theo chương trình trù liệu , Đức Đạt Lai Lạt Ma sẽ
ghé thăm và thuyết pháp tại Úc châu vào tháng 4 hoặc tháng 5 năm
2002.
* PHẬT GIÁO VIỆT NAM TẠI
ÚC :
Người Việt t nạn đến tại Úc vào cuối những
năm bảy mươi, tính đến nay có khoảng 200 ngàn người Việt định cư
tại xứ sở này. Có khoảng 12 tờ tuần báo, 10 chương phát thanh
tiếng Việt, và 2 chương trình truyền hình tiếng Việt để phục vụ cho
cộng đồng. Về tình hình PGVN thì có bốn giáo hội khác nhau có mặt
tại Úc, bao gồm Giáo Hội Phật Giáo Linh Sơn Thế Giới (chi nhánh
của HT.Thích Huyền Vi, Pháp quốc); Giáo Hội PGVN Trên Thế Giới (chi
nhánh của HT.Thích Tâm Châu, Canada); Giáo Hội Phật Giáo Tăng Già
Khất sĩ (chi nhánh của HT. Giác Nhiên, Hoa Kỳ); đặc biệt là Giáo
Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Úc Đại Lợi và Tân Tây Lan,
thành lập vào năm 1981 do công của HT. Thích Phước Huệ, HT. Thích
Huyền Tôn, HT. Thích Như Huệ và TT. Thích Bảo Lạc, là những Tăng sĩ
VN đầu tiên định cư tại Úc Châu.
Giáo hội này đã trải qua nhiều thăng trầm, lúc
thịnh lúc suy và hoạt động trong vòng 15 năm trong mục đích thiết
lập nền tảng và phát triển Chánh Pháp tại xứ sở Nam bán cầu
này. Những tưởng Giáo Hội vẫn hòa hợp để làm việc,
nhưng đến tháng 12 năm 1995, thì do lủng củng nội bộ nên Giáo Hội
đã ngưng hoạt động. Đến tháng 9 năm 1999, phần lớn chư Tôn đức
của Giáo hội này đã tổ chức Đại Hội khoáng đại tại Chùa
Pháp Bảo, tiểu bang New South Wales, để phục hoạt lại Giáo Hội sau ba
năm ngưng trệ. Lý do tổ chức Đại hội này được Thượng Tọa
Thích Bảo Lạc, Trưởng ban tổ chức đại hội đã nêu rõ trong diễn
văn khai mạc rằng :" Pháp nạn quốc nội chưa lắng yên, thì Giáo
Hội tại Úc bị gián đoạn sinh hoạt từ năm 1995 vì ủng củng nội
bộ. Cấp Trung ương của Giáo Hội tê liệt hoàn toàn kể từ tháng
12 năm 1995 khi Đại Hội Khoáng Đại kỳ IV không được tổ chức,
Chư Tăng, Ni và các Giáo Hội địa phương sau hơn 3 năm ẩn nhẫn chờ
đợi, gởi thư khiếu nại, trực tiếp đề nghị tìm giải pháp hữu
hiệu cho đường hướng hoạt động chung, nhưng đều vô hiệu.Vào
tháng 1 năm nay (1999) Hòa Thượng Phước Huệ, nguyên Viện Trưởng
đã tự triệu tập đại hội không dựa nguyên tắc Hiến Chương
Giáo Hội quy định, và không tham khảo Hội Đồng Giáo Phẩm Trung Uơng
của Giáo Hội, để cho Ngài tự ổn cố chức vị Viện Trưởng Viện
Hoằng Đạo HPGVNTN UĐL - TTL của mình. Việc làm xé lẽ này của một
cá nhân không thể đại diện được cho tiếng nói của Phật giáo
Việt Nam tại Úc, nên buộc lòng chư Tăng, Ni đang hành đạo tại Úc
phải tái lập ưu thế Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất truyền
thống, để vừa nổ lực truyền thừa mạch mạch Phật pháp, vừa đi
đúng đường hướng của Giáo Hội mẹ tại quê nhà...''.
Đại hội đã tổ chức trong ba
ngày mùng 10, 11 và 12 tháng 9 năm 1999, quy tụ đa số Tăng Ni, Phật tử VN
và hơn 23 tự viện khắp Úc châu và Tân Tây Lan đồng về tham dự. Đại Hội đã
nhất trí đổi danh xưng của Giáo hội mới là Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam
Thống Nhất Hải Ngoại Tại Úc Đại Lợi-Tân Tây Lan. Theo các giới quan sát
thì đại hội đã thành công viên mãn với sự ủng hộ nồng nhiệt của mọi giới
đồng hương Phật tử tại Úc và Tân Tây Lan. Hy vọng rằng Giáo Hội mới này sẽ
có những hoạt động thiết thực để đóng góp cho Đạo Pháp, dân tộc và hòa
bình của thế giới. (Muốn biết thêm chi tiết về
Giáo Hội này xin độc giả vào xem trang nhà tại địa chỉ:
http://www.quangduc.com/giaohoi/index.htm)
Nhìn chung, PGVN đang từng bước
hòa nhập và phát triển tại Úc. Tính đến nay, có khoảng bảy mươi tăng ni
người Việt và trên ba mươi tự viện VN trên khắp Úc Châu và Tân Tây
Lan. Theo cái nhìn của người bản xứ là PGVN rất khác biệt và phong
phú hơn so với các Hội PG Sắc Tộc khác có mặt tại
Úc. Đó là
hòa hợp độc đáo giữa ba tông phái khác nhau là Mahayana, Theravada
và Khất sĩ, cũng như Thiền tông và Tịnh Độ tông. Một nét đặc
thù khác của PGVN tại Úc, là mỗi chùa đều có tổ chức Gia đình
Phật tử, (hiện có 13 GDPT, và khoảng 1000 huynh trưởng và đoàn sinh
trên khắp nước Úc) và mở Trường Bồ Đề dạy Việt ngữ, giúp
cho thế hệ trẻ VN sanh tại Úc biết rõ và duy trì ngôn ngữ và nền
văn hóa của mình.
SỐ LƯỢNG TỰ VIỆN, TĂNG NI
VÀ PHẬT TỬ TẠI ÚC :
Về tự viện, Tịnh Thất, Niệm Phật Đường tại Úc
hiện có trên 250 ngôi, trong đó PG Bắc truyền có 100 chùa, PG Nam
truyền có 59 chùa, PG Tây Tạng có 37 chùa, PG Úc và các tông phái
khác có 34 chùa.
Về Tăng Ni, thật khó mà biết con số
chính xác về số lượng Tăng Ni hiện nay ở Úc là bao nhiêu, nhưng
theo thống kê sơ bộ gần đây của Bộ Di Trú Úc cho biết hiện có
khoảng 200 Tăng Ni tại Úc.
Về số lượng tín đồ PG cũng do Chính
phủ Úc thống kê cho biết có khoảng 200.000 Phật tử tại Úc, trong
đó phần lớn là người VN, Mã Lai, Cam Bốt, Lào, Trung Hoa, Tích Lan,
Nhật Bản, Singapore, Miến Điện...
ẢNH HƯỞNG PG TRONG VĂN HỌC VÀ
NGHỆ THUẬT TẠI ÚC :
Có một số thi sĩ và họa sĩ người Úc đã chịu ảnh
hưởng sâu sắc bởi tư tưởng và triết lý đạo Phật. Đó là
các họa sĩ Godfrey Miller, Ian Fairweather, John Olsen, Brett Whiteley và Margaret
Preston và các thi sĩ như Harold Stewart, Max Dunn, Colin Johnson và Robert Gray,
các vị này đã có những tác phẩm chịu nhiều ảnh hưởng PG, đặc
biệt là tư tưởng Thiền. Cũng có một số khác vừa làm thơ vừa
vẽ tranh như Les Oaten, một người từng đến tu Thiền ở Nhật Bản,
và đã cùng với Len Henderson thành lập một Hội PG ở Victoria vào
năm 1953. Và hiện nay có Adrian Snodgrass, một giảng viên ở khoa kiến
trúc thuộc Đại học Sydney, thơ và tranh của ông cũng ảnh hưởng
nhiều về Thiền và Tịnh độ của PG. Trong những năm gần đây đã
có mhiều tác phẩm nghệ thuật của ông được ấn hành.
TƯƠNG LAI CỦA PHẬT GIÁO TẠI
ÚC :
Lịch sử PG Úc đã trải qua nhiều giai đoạn, từ lúc
du nhập cho đến đầu những năm 60, PG tuy không phát triển mạnh nhưng
vẫn được duy trì trong các cộng đồng của người Á lẫn người
A? châu. Nhưng với sự gia tăng của làn sóng người di dân đến
Úc từ các quốc gia Á châu vào những năm 79 và 80 của thế kỷ
này, PG Úc đã lật qua một trang sử mới và phát triển rất nhanh.
Số lượng tín đồ PG Úc đứng ở hàng thứ ba sau Ky Tô Giáo và
Hồi Giáo.
Trong thực tế, sự có mặt của PG tại xã hội Úc
là điều cần thiết. Các nhà xã hội học cho rằng hầu hết giới
trẻ từ các gia đình theo PG đều có nền tảng về đời sống tâm
linh và ít phạm pháp. Do đó, rất cần thiết để lập một chương
trình giáo dục PG cho các cộng đồng sắc tộc tại Úc. Đành rằng,
giáo dục tôn giáo là nhiệm vụ của nền giáo dục phổ cập của
quốc gia. Tuy nhiêm sự hướng dẫn đời sống văn hóa và đạo
đức này sẽ tác động và ảnh hưởng mạnh mẽ đến giới trẻ
nếu các tổ chức PG đứng ra đảm trách.
Số lượng người Úc ngày càng nhiều trở về với
PG, đây là một tin vui. Tuy nhiên, họ đã gặp khó khăn trong việc
học hỏi và thực hành giáo lý nhà Phật, do bất đồng về ngôn
ngữ và va chạm hàng rào văn hóa giữa các sắc tộc. Do vậy, các
hội đoàn PG tại Úc, nhất là của người Úc phải chủ động phối
hợp với các hội đoàn PG thuộc các sắc tộc khác để cùng nhau
giải quyết những khó khăn, bế tắc trong quá trình truyền bá. Đó
là nỗi trăn trở không phải của riêng ai, mà chính các nhà lãnh
đạo PG Úc phải suy nghĩ, phải tìm cách để phát huy và truyền bá
lời Phật dạy rộng rãi cho các cộng đồng khác nhiều hơn là chỉ
khu biệt trong nội bộ sắc tộc của mình./.
Tổng hợp từ các tài liệu:
- Paul Croucher, A Buddhism in Australia
1048-1988,NSW, 1989
- Kerry Trembath, Newsletter of Buddhist Council
of NSW, 11/1996
- Enid Adam & H.Philip, The Buddhists in
Australia, Canberra, 1996
- Exploring Religion, Exford University Press,
NSW, Australia, 1998
- SBS World Guide, the complete fact file on
every country, Vic. 1999
- Quang Duc webiste (http://www.quangduc.com),
Vic. 12/2000