
Phật
Giáo
tại
Nhật
Bản
Thích
Nguyên Tạng
Melbourne, Úc Châu 2001
---o0o---
Nhật
Bản
(Japan)
một
quốc
gia
nằm
phía
đông
châu
Á.
Diện
tích
377.688
km2.
Dân
số
123.460.000
người.
Mật
độ
dân
cư:
331,7
người/km2.
Dân
số
dưới
15
tuổi:
18,5%.
Tuổi
thọ
trung
bình:
78,5
tuổi.
Trình
độ
văn
hóa
cấp
ba:
30,1%.
Thể
chế
chính
trị:
Quân
chủ
đại
nghị
(Constitutional
Monarchy).
Nguyên
thủ
quốc
gia:
Vua
Akihito.
Ngôn
ngữ
chính:
tiếng
Nhật.
Đơn
vị
tiền
tệ:
đồng
yen.
Thu
nhập
bình
quân
đầu
người:
15.260
đô
la.
Phật
giáo
(PG)
và
Thần
Đạo
(Shinto)
là
hai
tôn
giáo
chính
ở
Nhật.
Những
tôn
giáo
nhỏ
khác
là
Ky
Tô
giáo,
Tin
Lành
giáo
và
Chính
Thống
giáo.
Phật
giáo
Nhật,
thời
kỳ
hình
thành
(
538-794):
Theo
biên
niên
sử
của
Nhật
Bản,
PG
chính
thức
được
truyền
đến
Nhật
từ Triều
Tiên
(Korea)
vào
năm
552
Tây
lịch
(có
chỗ
ghi
nhận
là
năm
538).
Lúc
bấy
giờ
vua
nước
Bách
Tế
(Triều
Tiên)
đã
gởi
một
phái
đoàn
truyền
giáo
đến
Nhật.
Phái
đoàn
này
đã
được
nhà
vua
Nhật
Bản
tiếp
đón
một
cách
nồng
hậu
và
phái
đoàn
đã
dâng
lên
cho
đức
vua
một
tượng
Phật
bằng
vàng,
một
vài
quyển
Kinh,
cờ
lộng,
chuông,
mõ…
Tuy
nhiên,
PG
chỉ
thực
sự
cắm
rễ
và
lan
tỏa
tại
Nhật
là
trong
thời
kỳ
nhiếp
chánh
của
Hoàng
Thái
Hậu
Suiko.
Người
kế
vị
của
bà,
Thánh
Đức
Thái
Tử
(Shotoku,
574-622)
được
xem
là
sơ
tổ
(First
Real
Founder)
của
PGNB
.
Thánh
Đức
Thái
Tử
vâng
lời
mẫu
hậu
Suiko
đã
cất
công
nghiên
cứu
và
tuyên
giảng
ba
bộ
Kinh
Đại
Thừa
cho
dân
chúng
Nhật,
về
sau
những
bài
giảng
này
được
viết
thành
một
bộ
luận
rất
giá
trị.
Sau
khi
lên
ngôi
Thái
tử
Shotoku
đã
ban
hành
ngay
một
chiếu
chỉ
rằng
:
''Toàn
dân
Nhật
Bản
phải
kính
ngưỡng
và
thọ
trì
Phật
Pháp''.
Ông
đã
cho
xây
chùa
chiền
trên
khắp
đất
nước.
Một
trong
những
ngôi
chùa
nổi
tiếng
thời
ấy,
nay
vẫn
còn
là
Chùa
Pháp
Long
(Horyji).
Chùa
này
do
chính
Thái
tử
Shotoku
đứng
ra
xây
dựng
vào
năm
607
và
được
xem
là
ngôi
chùa
gỗ
có
tuổi
thọ
lâu
nhất
trên
thế
giới.
Phật
giáo
Nhật,
thời
kỳ
phát
triển
(Heian/Bình
An/
794-1184)
Trong
triều
đại
Nại
Lương
(Nara,
710-194)
qua
sự
ủng
hộ
Phật
Pháp
của
Hoàng
đế
Thánh
Võ
(Shomu,
701-756,
vị
vua
thứ
bốn
mươi
lăm
của
Nhật)
PG
đã
trở
thành
quốc
giáo
(State
religion)
của
xứ
sở
này.
Năm
741,
vua
Thánh
Võ
đã
ban
hành
một
quốc
lệnh
rằng
mỗi
làng
và
mỗi
tỉnh
phải
xây
dựng
một
ngôi
chùa
và
dân
chúng
phải
thành
tâm
thọ
trì
Phật
Pháp.
Để
làm
gương
cho
mọi
người,
chính
vua
Thánh
Võ
đã
đích
thân
xây
chùa
Đông
Đại
(Todai)
tại
kinh
đô
vào
cuối
năm
741,
đây
là
ngôi
tổ
đình
của
tông
phái
Hoa
Nghiêm
với
pho
tượng
Phật
Tỳ
Lô
Xá
Na
(Vairocana)
khổng
lồ
được
tôn
thờ
bên
trong
chánh
điện.
Cũng
trong
thời
kỳ
Nara
này,
có
sáu
tông
phái
PG
được
truyền
đến
Nhật
từ
Trung
Hoa
và
phong
trào
nghiên
cứu
và
tu
Phật
tại
Nhật
đã
bắt
đầu.
Sáu
Tông
phái
PG
đến
từ
Trung
Hoa
trong
thời
đại
Nại
Lương
(Nara,
710-194)
:
1.
Luật
Tông
(Ritsu):
là
một
trong
mười
ba
Tông
Phái
PG
(TPPG)
chính
của
Trung
Hoa.
Tông
này
theo
khuynh
hướng
bảo
thủ
giống
như
truyền
thống
ở
các
nước
ở
Nam
Á,
được
ngài
Đạo
Tuyên
(Tao-hsuan,
596-667)
dựa
vào
bộ
Đại
Thừa
Luật
(Mahayana
Vinaya)
mà
thành
lập
vào
thời
đại
nhà
Đường.
Chủ
trương
của
tông
là
nghiêm
trì
giới
luật
để
tiến
đến
Phật
quả.
Tông
này
được
ngài
Giám
Chân
(Ganjin)
giới
thiệu
đến
Nhật
vào
năm
754.
2.
Câu
Xá
Tông
(Kusha):
Cũng
là
một
tông
phái
bảo
thủ,
lấy
Luận
A
Tỳ
Đạt
Ma
(Abhidharma)
làm
chỗ
nương
tựa
chính.
Đó
là
một
bộ
luận
nổi
tiếng
của
ngài
Thế
Thân
(Vasubandu).
3.
Thành
Thật
Tông
(Jojitsu):
Tông
này
dựa
vào
giáo
lý
tánh
không
(non-substantiality)
của
Luận
Thành
Thật
(Satyasiddhi)
mà
thành
lập.
4.
Tam
Luận
Tông
(Sanron):
phát
xuất
từ
phái
Trung
Quán
ở
Ấn
Độ,
một
trường
phái
phát
triển
của
Đại
sư
Long
Thọ
(Nararjuna).
Giáo
lý
tông
này
cũng
nhấn
mạnh
đến
tự
tánh
không
của
vạn
pháp.
Như
tên
gọi
của
tông
này,
Tam
Luận,
tức
là
dựa
vào
ba
bộ
luận
chính,
Trung
Quán
Luận
(Madhyamika),
Thập
Nhị
Môn
Luận
(Dvadasamuka
Sastra)
của
Ngài
Long
Thọ,và
Bách
luận
(Shata
sastra)
của
Ngài
Thánh
Thiên
(Aryadeva).
5.
Pháp
Tướng
Tông
(Hosso):
bắt
nguồn
từ
trường
phái
Yoga
của
Ấn
Độ,
một
tông
phái
của
PG
phát
triển
có
mặt
từ
năm
167
TL
tại
Ấn.
6.
Tướng
Tông
(Hosso):
bắt
nguồn
từ
trường
phái
Yoga
của
Ấn
Độ,
một
PGPG
phát
triển
có
mặt
từ
năm
167
TL
tại
Ấn.
7.
Hoa
Nghiêm
Tông
(Kegon):
dựa
vào
Kinh
Hoa
Nghiêm
(Avatamsaka)
để
lập
tông.
Chủ
trương
của
phái
tôn
thờ
và
thực
hành
pháp
hạnh
của
đức
Phật
Tỳ
Lô
Xá
Na.
Tất
cả
sáu
tông
phái
trên
đều
có
nhiều
hành
giả,
học
giả
theo
đuổi
học
hỏi
và
hành
trì,
nhưng
tầm
ảnh
hưởng
của
nó
chỉ
giới
hạn
trong
giới
xuất
gia
mà
không
mở
rộng
ra
bên
ngoài.

Chùa
Pháp Long (ja. hōryū-ji) nổi tiếng trong thời kỳ Nại Lương (nara).
Phật
giáo
Nhật,
thời
kỳ
Kiếm
Thương
(Kamakura1185-1333)
Đây
là
thời
kỳ
khủng
hoảng,
vì
cả
nước
bị
đe
dọa
trầm
trọng
bởi
tàn
phá
khốc
liệt
từ
sự
phân
hóa
nội
bộ
và
bạo
lực
dưới
những
tổ
chức
quân
sự
được
thành
lập
năm
1185
của
bộ
tộc
Minamoto,
ngoại
ô
Kyoto.
Bầu
không
khí
mới
này
đã
làm
cho
việc
tu
tập
và
nghiên
cứu
Phật
Đà
bị
khựng
lại
một
lúc
lâu.
Tuy
nhiên,
cuối
cùng
mọi
việc
cũng
đâu
vào
đấy
và
PG
vẫn
tiếp
tục
công
việc
của
mình.
Nếu
trong
triều
đại
Bình
An
(Heian,
794-1185)
hai
tông
phái
khác
được
vào
Nhật
Bản
là
Thiên
Thai
Tông
(Tendai)
và
Chân
Ngôn
Tông
(Shingon).
Hai
tông
phái
này
có
một
hệ
thống
giáo
lý
sâu
nhiệm
và
độc
đáo,
lập
tức
chinh
phục
và
được
ủng
hộ
một
cách
nhiệt
thành
của
quần
chúng
Nhật,
nhất
là
tầng
lớp
quý
tộc,
thì
đầu
triều
đại
Kiếm
Thương
(Kamukura,
1185-1333),
hai
phái
khác,
Nhật
Liên
Tông
(Nichiren)
và
Tịnh
Độ
Tông
(Jodo)
cũng
lần
lượt
xuất
hiện
và
được
truyền
bá
rộng
rãi
trên
toàn
nước
Nhật.
Như
vậy,
cho
đến
thế
kỷ
mười
ba,
tất
cả
những
tông
phái
(sect/shù/tsung)
chính
đều
có
mặt
tại
Nhật,
bao
gồm
Thiền
Tông,
Tịnh
Độ
Tông,
Thiên
Thai
Tông,
Chân
Ngôn
Tông,
Nhật
Liên
Tông?
*
Thiền
Tông
(Zen
Sect):
là
một
tông
phái
đặc
biệt
của
PG
Nhật.
Thiền
bắt
nguồn
từ
thời
Phật
Thích
Ca,
rồi
được
Tổ
Bồ
Đề
Đạt
Ma
(Bodhidharma,
con
của
vua
Chí
Cương,
thuộc
dòng
Sát
Đế
Lợi,
nước
Quốc
Hương,
Nam
Thiên
Trúc,
vùng
Cao
nguyên
Dekkan,
miền
Nam
Ấn
Độ.
Ngài
là
Tổ
sư
thiền
tông
đời
thứ
28
của
Ấn
Độ).
Năm
480
vâng
lời
Thầy,
Ngài
đến
Trung
Hoa
để
truyền
bá
pháp
môn
thiền.
Ở
Trung
Hoa
lúc
đầu
thiền
bị
ảnh
hưởng
mạnh
mẽ
của
đạo
Lão
và
Khổng.
Thiền
chỉ
độc
lập
và
nổi
tiếng
từ
thế
kỷ
thứ
bảy
và
đã
trở
thành
một
tông
phái
chính
cho
tới
ngày
nay
tại
Trung
Hoa.
Thiền
được
giới
thiệu
đến
Nhật
vào
khoảng
thế
kỷ
thứ
9
từ
Trung
Hoa
qua
hai
Thiền
phái
Lâm
tế
và
Tào
Động,
cả
hai
phái
này
đều
ảnh
hưởng
sâu
sắc
tư
tưởng
cửa
Lục
Tổ
Huệ
Năng
ở
thế
kỷ
thứ
8.
Hiện
nay
ở
Nhật
có
ba
Thiền
phái
như
sau
:
*
Thiền
Lâm
Tế
(Rinzai
Sect):
do
công
khai
sáng
của
thiền
sư
người
Nhật
Vinh
Tây
(Eisai,
1141-1215).
Ngài
xuất
gia
từ
năm
mười
ba
tuổi
ở
chùa
An
Dưỡng
(Annyo)
ở
Kibitsu.
Ngài
đã
tìm
đường
đến
Trung
Hoa
để
học
đạo
trong
hai
lần,
vào
những
năm
1168
và
1187.
Lần
sau
cùng
Ngài
về
đến
Nhật
vào
năm
1191
và
thành
lập
chùa
Shofuku
ở
Hakata.
Ngôi
chùa
này
được
xem
là
thiền
viện
đầu
tiên
trên
đất
nước
này.
Năm
1215,
triều
đình
Nhật
xây
dựng
Chùa
Kiến
Nhân
(Kennin-ji)
tại
Kyoto,
Ngài
được
thỉnh
về
làm
chứng
minh
đạo
sư
cho
ngôi
già
lam
này.
Ngài
cũng
được
xem
là
người
có
công
trong
văn
hóa
uống
trà
của
Nhật,
Ngài
đã
mang
giống
trà
từ
Trung
Hoa
về
trồng
ở
Nhật.
Vị
thiền
sư
nổi
tiếng
của
Thiền
phái
này
về
sau
là
ngài
Bạch
Ẩn
(Hakui
Ekaku,
1685-1786)
với
những
tác
phẩm
để
đời.
Ngày
nay
ở
Nhật
có
14
chi
phái
thuộc
dòng
Thiền
này,
tuy
không
hợp
nhất
về
tổ
chức,
nhưng
vẫn
theo
đuổi
lý
tưởng
ban
đầu
của
tổ
sư
Vinh
Tây.
*
Thiền
Tào
Động
(Soto/Tsao-tung):
là
một
trong
năm
Thiền
phái
chính
của
Trung
Hoa
và
là
một
trong
mười
ba
Tông
phái
chính
của
PGNB.
Đây
là
một
Thiền
phái
kiểu
mẫu
như
để
so
sánh
với
Thiền
Lâm
Tế,
cuối
cùng
nó
dường
như
phổ
biến
hơn
những
Thiền
phái
khác
ở
Nhật.
Nếu
Lâm
tế
thích
ứng
với
giới
thượng
lưu
trí
thức,
thì
Tào
Động
lại
gần
gũi
với
tầng
lớp
bình
dân.
Thiền
Tào
Động
được
Thiền
sư
Đạo
Nguyên
(Dogen,
1200-1253)
khai
sáng.
Đạo
Nguyên
vốn
là
đệ
tử
của
Ngài
Vinh
Tây,
sau
đó
ông
sang
Trung
Hoa
du
học
và
trở
về
Nhật
Bản
xây
dựng
Thiền
phái
này.
Người
kế
thừa
và
làm
lớn
mạnh
dòng
thiền
này
là
thiền
sư
Suzuki
Shosan
(1579-1653).
Hiện
nay
ngôi
già
lam
chính
của
Thiền
phái
này
là
Chùa
Tổng
Trì
(Soji-ji)
ở
Yokohama
do
thiền
sư
Hành
Cơ
(Gyogi,
666-749)
tạo
dựng
năm
1321.
*
Thiền
Hoàng
Bá
(Obaku
sect):
đây
là
Thiền
phái
thứ
ba
của
người
Nhật,
có
tầm
ảnh
hưởng
ít
hơn
hai
Thiền
phái
trên,
do
thiền
sư
người
Trung
Hoa
Ẩn
Nguyên
(Yin-Yuan,
1592-1673)
khai
sáng.
Sau
nhiều
năm
tu
học
tại
quê
nhà,
ông
đến
Nhật
Bản
để
hoằng
Pháp
vào
năm
1654
và
tiến
hành
thành
lập
Thiền
phái
này
tại
chùa
Vạn
Phước
(Mampuku-ji)
ở
tỉnh
Yamato.
Ông
đã
được
vua
Nhật
ban
cho
danh
hiệu
là
Quốc
sư
(Daiko-Fusho-Kokushi),
ông
đã
để
lại
nhiều
tác
phẩm
có
giá
trị.
Hiện
tại
có
hơn
600
ngôi
chùa
là
chi
nhánh
của
Thiền
phái
này.
Nhìn
chung
cả
ba
Thiền
phái
trên
đã
phát
triển
mạnh
ở
Nhật
và
có
tầm
ảnh
hưởng
sâu
rộng
trong
đời
sống
của
người
dân
Nhật.
Cả
ba
đều
có
nhiều
trường
đại
học,
nhà
xuất
bản
kinh
sách
riêng,
cơ
quan
từ
thiện...
Không
những
thế
Thiền
đã
ăn
sâu
vào
tiềm
thức
của
người
Nhật,
thiền
đã
đi
vào
hoa,
vào
trà,
vào
nếp
sống,
nếp
nghĩ
của
người
dân
và
cuối
cùng
nó
nâng
lên
thành
Đạo,
trà
đạo,
hoa
đạo...
Bản
chất
khiêm
hạ
màꠠ
sắc
bén,
từ
ái
mà
quật
cường
của
người
Nhật
được
cả
thế
giới
ngưỡng
mộ
đều
là
kết
quả
từ
sự
thực
nghiệm
Thiền
định
cả.
*
Tịnh
Độ
Tông
(Jodo/Pureland
Sect):
đây
là
một
tông
phái
rất
phổ
biến
ở
các
quốc
gia
Bắc
phương
PG,
có
nguồn
gốc
từ
thế
kỷ
thứ
hai
Tây
lịch
tại
Ấn
Độ.
Tông
này
dựa
vào
giáo
lý
của
Kinh
Vô
Lượng
Thọ
(Sukhavativyuha)
và
Kinh
A
Di
Đà
(
Amitabha-sutra).
Cả
hai
bộ
Kinh
này
đều
mô
tả
về
một
cõi
giới
ở
phía
Tây,
nơi
những
hành
giả
tu
tập
theo
tông
này
sẽ
tái
sinh
sau
khi
bỏ
báo
thân
ở
cõi
Ta
Bà
như
là
một
kết
quả
từ
niềm
tín
tâm
nơi
Đức
Phật
Di
Đà
và
tu
tập
nhiều
thiện
nghiệp.
Vị
Tông
chủ
của
phái
này
là
Đức
Phật
A
Di
Đà
hay
Đức
Phật
có
ánh
sáng
vô
lượng
(unlimited
light
Buddha).
Tịnh
Độ
Tông
được
truyền
đến
Nhật
Bản
vào
khoảng
thế
kỷ
thứ
sáu
với
sự
thiết
lập
của
Ngài
Pháp
Nhiên
(Honen,
1133-1212).
Ngài
Pháp
Nhiên
đã
công
khai
hóa
pháp
môn
Tịnh
độ
vào
năm
1175
ở
Kyoto.
Sau
đó
nó
đã
phát
triển
mạnh
mẽ
và
nhanh
chóng
thích
nghi
với
xã
hội
Nhật,
kết
quả
là
có
năm
chi
phái
Tịnh
Độ
xuất
hiện
từ
thế
kỷ
thứ
10
đến
thế
kỷ
thứ
13,
bao
gồm
Dung
Thông
Niệm
Phật
Tông
(Yùzù-nembutsu)
do
Ngài
Lương
Nhẫn
(Ryonin,
1073-1132)
thành
lập;
Ngài
Thân
Loan
(Shinran,
1173-1263)
với
Tịnh
Độ
Chân
Tông
(Jòdo
Shin);
Ngài
Nhất
Biến
(Ippen,
1239-1289)
với
Thời
Tông
(Ji
sect)...
Ngày
nay,
ở
Nhật
chỉ
còn
hai
trong
năm
chi
phái
trên
còn
thịnh
hành.
Những
ngôi
chùa
chính
của
tông
phái
này
là
chùa
Chion
ở
Kyoto
và
Chùa
Zojo
ở
Tokyo.
Vào
năm
1993,
các
tông
phái
Tịnh
Độ
này
đã
kết
hợp
để
xây
dựng
một
pho
tượng
A
Di
Đà
cao
120m
(xem
bài
về
pho
tượng
này
trên
cùng
trang
Web),
đây
là
một
trong
công
trình
Phật
sự
vĩ
đại
của
Phật
giáo
tại
Nhật
ở
cuối
thế
kỷ
hai
mươi
này.
*
Thiên
Thai
Tông
(Tendai-shù):
còn
được
gọi
là
Pháp
Hoa
Tông,
được
Ngài
Trí
Khải
(Chih-i,
538-597,
thường
được
gọi
là
Thiên
Thai
Đại
Sư)
dựa
vào
giáo
lý
Pháp
Hoa
Kinh
mà
lập
tông
tại
núi
Thiên
Thai.
Trí
Khải
Đại
sư
là
tác
giả
của
trên
ba
mươi
luận
bản
nổi
tiếng
như
Pháp
Hoa
Huyền
Nghĩa
(Fa-hua
hsuan-tsan),
Pháp
Hoa
Văn
Cú
(Fa-hua
Wen
Chu),
Ma
Ha
Chỉ
Quán
(Mo-ho-chih-kuan)...
Tông
này
được
Ngài
Tối
Trừng
(Saicho,
767-822),
truyền
đến
Nhật
năm
805.
Ngài
Tối
Trừng
sinh
năm
767
tại
Omi
(Nhật
Bản),
xuất
gia
năm
12
tuổi.
Năm
804,
Ngài
được
triều
đình
Nhật
gởi
sang
Trung
Hoa
để
học
Phật.
Ngài
đã
tận
dụng
cơ
hội
này
để
học
giáo
nghĩa
Thiên
Thai
dưới
sự
dẫn
dắt
của
Dòsui,
học
thiền
với
Hsiao-jan...
một
năm
sau
Ngài
hồi
hương
và
tiến
hành
lập
tông
này.
Ngài
viên
tịch
năm
822
ở
tuổi
56,
để
lại
phía
sau
mình
một
công
trình
nghiên
cứu
đồ
sộ
với
một
trăm
sáu
mươi
tác
phẩm
các
loại.
*
Nhật
Liên
Tông
(Nichiren-shù):
còn
được
gọi
là
Pháp
Hoa
Tông
(Hokke-Sect);
hay
Nhật
Liên
Pháp
Hoa
Tông
(Nichiren
Hokke)
được
Ngài
Nhật
Liên
(Nichiren,
1222-1282)
thành
lập.
Tông
này
lấy
tư
tưởng
Kinh
Pháp
Hoa
làm
chỗ
nương
tựa
chính.
Ngài
Nhật
Liên
sinh
năm
1221,
con
của
một
gia
đình
lao
động
ở
Kaminato.
Ngài
xuất
gia
vào
thuở
thiếu
thời.
Lúc
đầu
học
theo
Chân
Ngôn
Tông,
rồi
Thiên
Thai
Tông.
Cuối
cùng
Ngài
kết
luận
rằng
chỉ
Kinh
Pháp
Hoa
(Saddharmapundarika-Sutra/The
Lotus
of
the
Good
Law)
mới
là
cứu
cánh
và
đưa
đất
nước
Nhật
bản
ra
khỏi
cảnh
khốn
cùng.
Hành
giả
theo
tông
này
thường
thọ
trì
Kinh
Pháp
Hoa
và
niệm
danh
hiệu
Nam
Mô
Diệu
Pháp
Liên
Hoa
Kinh.
Tông
này
có
bốn
ngôi
chùa
chính
là
chùa
Bản
Môn
(Hommon-ji)
xây
dựng
ở
Tokyo
năm
1291;
chùa
Diệu
Hiển
(Myòken-ji)
xây
dựng
năm
1326
và
chùa
Bản
Quốc
(Honkoku-ji)
xây
dựng
năm
1263
ở
Kamakura,
đến
năm
1345
thì
được
dời
về
Kyoto
và
chùa
Pháp
Hoa
Kinh
(Hokekyò-ji)
xây
dựng
năm
1260
ở
Nakayama.
Sau
thế
chiến
thứ
nhất,
Tông
này
đã
phát
triển
thêm
nhiều
tổ
chức
như
Soka
Gakkai,
Rissho
Koseikai,
Reiyukai...
đều
một
lòng
xiển
dương
giáo
nghĩa
của
Pháp
Hoa
Kinh.
Riêng
tổ
chức
PG
Rissho
Koseikai
được
đạo
hữu
Nikkyo
Niwano
thành
lập
vào
tháng
3
năm
1938,
đến
nay
vẫn
được
xem
là
một
trong
những
tổ
chức
PG
rất
mạnh
tại
Nhật
với
hơn
6
triệu
hội
viên
trên
khắp
thế
giới.
Năm
1997,
Hội
này
có
mở
một
trang
nhà
để
phổ
biến
giáo
lý
rất
phong
phú,
địa
chỉ
vào
xem
là:
http://www.mediagalxy.co.jp/kosei/index1.html.
*
Chân
Ngôn
Tông
(Shingon
Sect):
còn
gọi
là
Mật
Tông
(Esoteric
Sect)
là
một
trong
những
TPPG
chính
ở
Nhật,
được
Hoằng
Pháp
Đại
Sư
(Kobo
Daishi,
774-835)
thành
lập
ở
Nhật
vào
năm
806.
Ngài
vốn
có
tên
là
Không
Hải,
sinh
năm
774,
năm
15
tuổi
đến
Nara
để
học
chữ
Hán,
lịch
sử,
văn
học
và
Kinh
điển
PG.
Sau
khi
so
sánh
Phật,
Lão
và
Khổng,
ông
chọn
Phật
để
theo.
Ông
xuất
gia
năm
20
tuổi
với
Đại
sư
Gònso.
Năm
22
tuổi
ông
thọ
cụ
túc
giới
ở
chùa
Đông
Đại.
Năm
31
tuổi
(804)
ông
được
Thầy
gởi
đi
Trung
Hoa
để
học
với
sư
Hui-Kuo
(746-805).
Năm
806
Ngài
trở
về
Nhật
và
tu
ở
núi
Mahinoo,
trong
thời
gian
này
có
rất
nhiều
người
tới
để
cầu
học,
trong
đó
có
cả
Ngài
Tối
Trừng.
Năm
816
Ngài
khởi
công
xây
dựng
chùa
Kim
Cương
(Kongò-ji)
tại
núi
Koya
thuộc
tỉnh lakayama
để
hoằng
dương
pháp
tu
này.
Vị
tông
chủ
của
giáo
phái
này
là
Đức
Đại
Nhật
Như
Lai
(Mahavairocana/Dainichi-nyorai),
hành
giả
của
giáo
phái
tu
theo
lời
dạy
trong
bộ
Đại
Nhật
Kinh
Sớ
(Dainichi-Kyò-sho).
Hiện
nay
Chân
Ngôn
Tông
vẫn
phát
triển
đều
đặn
và
có
sáu
chi
phái
nhỏ
khác
nhau
tồn
tại
ở
Nhật.

Tượng
Phật A Di Đà
cao
nhất thế giới,
cao120
thước ở vùng Ushiku,
Tokyo, Nhật Bản (xem chi tiết)
Phật
Giáo
Nhật
Bản
ngày
nay:
Theo
thống
kê
gần
đây
cho
thấy
có
khoảng
70%
dân
số
là
tín
đồ
Phật
giáo.
PGNB
được
chia
thành
mười
ba
tông
phái
chính,
có
80.000
ngôi
chùa,
200.000
tăng
sĩ.
Có
trên
20
đại
học,
trung
học
và
viện
nghiên
cứu
PG
ở
khắp
đất
nước
Nhật.
PG
tu
học
vẫn
được
duy
trì
mạnh
mẽ
nhưng
có
ý
kiến
phê
bình
rằng
ngày
nay
PG
chỉ
còn
ảnh
hưởng
trên
mặt
tri
thức
hơn
là
đi
sâu
vào
mặt
thực
hành
như
thuở
nào.
Triết
thuyết
của
PG
đã
trở
nên
khó
hiểu
đối
với
đại
đa
số
quần
chúng
và
chỉ
có
số
ít
quan
tâm
đến
đời
sống
tôn
giáo.
Tăng
sĩ
tụng
niệm
nhiều
hơn
tăng
sĩ
thuyết
giảng.
PG
lý
tưởng
và
đời
sống
tâm
linh
dường
như
đang
trên
đà
lãng
quên,
cho
dù
kinh
sách
PG
vẫn
ấn
hành
đều
đặn
và
nhiều
hơn
trước.
Tương
lai
của
PG
Nhật
thật
khó
mà
tiên
liệu
được.
Ngành
khoa
học
nghiên
cứu
PG
đã
có
dấu
hiệu
phát
triển
trong
những
năm
gần
đây,
nhưng
nó
vẫn
còn
những
khoảng
cách
nhất
định
với
tầm
hiểu
biết
của
quần
chúng
Phật
tử.
Phần
lớn
những
nhà
nghiên
cứu
chỉ
chú
trọng
vào
chiều
sâu
của
triết
thuyết
và
ngôn
từ
chuyên
môn
hơn
là
những
ý
nghĩa
thật
sự
của
nó
đối
với
đời
sống
của
con
người.
Tuy
nhiên,
có
dấu
hiệu
lạc
quan
và
hy
vọng
cho
sự
phục
hưng
và
phát
triển
PG
tại
Nhật
vì
có
nhiều
tổ
chức
PG
thành
lập,
đặc
biệt
là
giới
cư
sĩ
tại
gia,
để7903;
rộng
nhiều
chương
trình
hướng
dẫn
quần
chúng
tu
học
Phật.
Nhiều
tổ
chức
tôn
giáo
xuất
hiện
sau
Thế
chiến
thứ
II
(1945)
đều
mang
theo
sự
ảnh
hưởng
sâu
đậm
của
PG.
Những
hoạt
động
truyền
giáo
bên
ngoài
Nhật
Bản
cũng
gia
tăng
đáng
kể,
nhiều
phái
đoàn
hoằng
pháp
liên
tục
được
gởi
đi
hải
ngoại,
đặc
biệt
là
bắc
Mỹ
và
châu
Âu.
Nhiều
sách
báo
được
ấn
hành
trong
nhiều
loại
ngôn
ngữ
khác
nhau
của
phương
Tây,
các
học
giả
Nhật
Bản
đã
hợp
tác
với
các
nhà
nghiên
cứu
nước
ngoài
để
biên
soạn
bộ
Bách
Khoa
Từ
Điển
PG
(Buddhist
Encyclopedias,
ấn
hành
vào
năm
1980).
Toàn
bộ
Kinh
sách
của
PG
Tây
Tạng
đã
được
chuyển
ngữ
và
được
xuất
bản
bởi
một
Viện
Nghiên
Cứu
tại
Nhật
và
một
bộ
sưu
tập
tất
cả
những
bài
nghiên
cứu
giáo
lý
Phật
Đà
được
in
từ
nhiều
quốc
gia
khác
nhau,
đã
được
chuyển
ngữ
và
in
tại
Nhật.
PG
Nhật
cũng
hỗ
trợ
cho
nhiều
học
giả
và
nghiên
cứu
sinh
từ
bắc
và
nam
Mỹ,
châu
Âu
và
châu
Á,
đặc
biệt
các
nước
Ấn
Độ,
Trung
Hoa,
Tích
Lan,
Việt
Nam...
đến
Nhật
để
học
Phật.
Rất
nhiều
tổ
chức
Từ
Thiện
PG
được
thành
lập
để
giúp
người
tị
nạn
và
các
quốc
gia
đang
phát
triển
ở
Á
châu
và
Phi
châu.
Nhìn
chung
PG
Nhật
đang
chuyển
mình
để
hòa
nhập
với
trào
lưu
mới
để
đem
lại
ánh
sáng
và
bình
yên
cho
mọi
người./.
Tổng
hợp
từ
các
tài
liệu
:
-
Masaharu
Anesaki
(1930)
History
of
Japanese
Religion,
Kyoto.
-
Charles
Eliot
(1959)
Japanese
Buddhism,
Tokyo.
-
Yoshiro
Tamura
(1990)
Tokugawa
Period
Buddhism
and
the
Path
to
Modernization,
-
-
-
Dharma
World,
Sep/Oct
1990.
-
Keiichi
Yanagaw
(1992),
Religion
in
Japan
Today,
Foreign
Press
Center,
Tokyo.
-
Kodansha
(1990)
Kodansha
Encyclopedia
of
Japan,
Kyoto.
-
Kazumasa
Osaka
(1990-1999),
Dharma
World
magazine,
Tokyo.
*
Chân
thành
cảm
ơn
đạo
hữu
Kazumasa
Osaka
(Tổng
Biên
Tập
Tạp
chí
Dharma
World,
Japan)
và
cô
Lydia
Quảng
Như
(Khoa
Luật,
Đại
Học
Monash,
Australia)
đã
cung
cấp
cho
chúng
tôi
nhiều
tài
liệu
quý
báu
cho
bài
viết
này.
(Xem chương trình hành hương Nhật Bản năm 2011 do Tu Viện Quảng Đức tổ
chức)