Nga
(Liên
Xô
cũ),
một
quốc
gia
nằm
giữa
ở
hai
châu:
Âu
và
Á
châu.
Diện
tích
22,4
triệu
km2;
dân
số:
287,7
triệu
người.
Thủ
đô
Moscow.
Mật
độ
dân
cư:
8,6
người/km2.
Hiện
nay,
sau
khi
giải
thể,
15
nước
cộng
hòa
Xô
Viết
XHCN
đã
trở
thành
các
nước
độc
lập
riêng
rẽ.
Phật
giáo
(PG)
tại
Nga
được
xem
là
tôn
giáo
lớn
thứ
ba
đứng
sau
Chính
Thống
giáo
và
Hồi
giáo.
Nguồn
gốc
Phật
giáo
tại
Nga
Theo
truyền
thuyết,
Phật
giáo
được
truyền
vào
Nga
vào
khoảng
giữa
thế
kỷ
thứ
nhất
Tây
lịch,
trước
tiên
và
chủ
yếu
là
ở
vùng
Trung
Á,
những
nơi
nằm
trên
con
đường
tơ
lụa
nối
liền
giữa
Đông
và
Tây.
Lúc
ấy
PG
được
truyền
đến
Khoroza,
rồi
lan
ra
từ
bờ
biển
Laspien,
biển
Aral
cho
đến
tận
bờ
biển
Thái
Bình
Dương.
Trong
một
địa
bàn
rộng
lớn
này,
nhiều
Trung
Tâm
Phật
Giáo
(TTPG)
đã
được
xây
dựng.
Vào
đầu
thời
kỳ
Trung
cổ,
những
thành
phố
lớn
ở
các
vùng
Trung
Á
đều
có
các
tự
viện
PG.
Các
TTPG
ở
Koutcha
và
Khotan
đều
nổi
tiếng
từ
lúc
bấy
giờ.
Đã
từng
có
nhiều
cao
tăng
Ấn
Độ
đã
đến
tận
Khotan
để
sưu
tầm
lại
những
kinh
sách
PG
quí
hiếm
đã
mất
dấu
tại
Ấn
Độ.
Tuy
nhiên,
theo
các
tài
liệu
hiện
có,
thì
những
Tăng
sĩ
truyền
giáo
người
Tây
Tạng
và
Mông
Cổ
đến
Nga
đầu
tiên
là
vào
bán
thế
kỷ
thứ
mười
bảy,
những
nơi
các
Ngài
dừng
chân
đầu
tiên
là
phía
Đông
của
Lake
Baikal,
một
vùng
gần
với
biên
giới
Mông
Cổ.
Về
sau,
nơi
này
đã
trở
thành
một
trong
những
trung
tâm
PG
lớn
nhất
ở
Nga.
Sau
cuộc
cách
mạng
tháng
mười
Nga
(1917),
người
ta
đã
tiến
hành
nhiều
công
cuộc
khai
quật
khảo
cổ
quan
trọng
ở
Trung
Á,
nhờ
đó
đã
phát
hiện
ra
nhiều
di
tích
lịch
sử
PG
tại
Nga
như
nhiều
chùa
chiền,
tranh
tượng....
Chẳng
hạn,
ở
vùng
Termez
đã
tìm
thấy
nhiều
tượng
Phật
bằng
đá,
thuộc
trường
phái
nghệ
thuật
Gandhara,
những
di
tích
của
một
ngôi
chùa
với
những
tượng
sư
tử
bằng
đồng
đen.
Ở
thung
lũng
sông
Tchou,
phía
Bắc
Kingizie
có
rất
nhiều
di
tích
chùa
và
tranh
tượng
Phật.
Tại
thành
phố
cổ
Djoul,
đã
phát
hiện
ra
một
tu
viện
lớn
với
nhiều
thiền
thất
nhỏ
dành
cho
các
thiền
sinh
tu
tập....
Ở
phía
Bắc
thành
phố
Bairamalia,
thuộc
nước
cộng
hòa
Xô
Viết
Turkmenistan,
các
nhà
khảo
cổ
đã
khai
quật
một
đền
thờ
Phật
và
một
bình
đồ
gốm
có
nhiều
hoa
văn
PG
và
trong
bình
có
nhiều
tượng
Phật
nhỏ
bằng
đá.
Những
năm
gần
đây,
người
ta
lại
phát
hiện
thêm
nhiều
TTPG
nằm
ở
Seniretchié
tại
thành
phố
cổ
Krasnoretchenskoie
và
miền
Nam
nước
cộng
hòa
Tadjikistan
và
ở
thung
lũng
Ferghara
thuộc
miền
Nam
nước
cộng
hòa
Takjik.
Đặc
biệt,
gần
đây,
các
nhà
khảo
cổ
học
đã
phát
hiện
trong
những
vùng
này
có
đến
hai
mươi
văn
kiện
cổ
PG
viết
bằng
chữ
Brahmi
và
chữ
Kharoshti.
Tất
cả
những
phát
hiện
trên
chứng
tỏ
PG
đã
có
mặt
tại
Nga
vào
giữa
thế
kỷ
thứ
nhất
Tây
lịch
và
đã
có
một
địa
bàn
hoạt
động
PG
rộng
lớn
ở
vùng
Trung
Á.
Mặc
dù,
PG
được
truyền
vào
Nga
ở
một
thời
điểm
xa
xưa
như
vậy,
nhưng
tầm
ảnh
hưởng
sâu
rộng
trong
đời
sống
tinh
thần
của
dân
tộc
Nga
chỉ
mới
bắt
đầu
vào
khoảng
thế
kỷ
thứ
18.
Giới
trí
thức
Nga
và
Phật
giáo
Sự
quan
tâm
đến
PG
tại
Nga
sớm
hơn
các
nước
phương
Tây,
vì
các
quốc
gia
láng
giềng
ở
phía
Đông
và
phía
Nam
của
nước
này
có
một
truyền
thống
PG
rất
thịnh
hành.
Thật
khó
xác
định
được
thời
điểm
chính
xác
là
nó
bắt
đầu
từ
lúc
nào,
nhưng
người
ta
biết
rằng
vào
năm
1876
Đại
Đế
Peter
đã
gởi
một
phái
đoàn
Tăng
sĩ
đến
Bắc
Kinh
để
nghiên
cứu
PG
Trung
Hoa
và
Tây
Tạng.
Sau
đó,
phái
đoàn
này
đã
viết
một
cuốn
sách
nhỏ
về
cuộc
đời
của
Đức
Phật
bằng
tiếng
Nga.
Nhà
sử
học
nổi
tiếng
người
Nga
G.
Miller
cũng
nghiên
cứu
về
PG.
Trong
thời
kỳ
này
người
ta
thấy
có
những
tác
phẩm
giá
trị
về
vũ
trụ
quan
PG,
chân
dung
và
lối
sống
ở
các
tu
viện
PG,
tiểu
sử
về
Thái
Tử
Tất
Đạt
Đa
và
cuộc
đời
tu
đạo
và
hành
đạo
của
Đức
Phật
Thích
Ca
được
viết
bởi
Viện
sĩ
hàn
lâm
Nga
Palas.
Nền
tảng
của
việc
nghiên
cứu
PG
tại
Nga
được
đặt
trên
một
mô
hình
bởi
viện
sĩ
hàn
lâm
Vasily
Vasiliyey,
một
trong
những
đại
diện
xuất
sắc
nhất
của
phong
trào
nghiên
cứu
tư
tưởng
Đông
Phương.
Ông
Vasily
Vasiliyey,
con
của
một
giáo
sĩ,
sanh
ngày
20
tháng
2
năm
1818
tại
Nizhlm
Novgorod.
Năm
16
tuổi
ông
theo
học
ngành
Đông
phương
thuộc
khoa
triết
tại
đại
học
Kazan;
ở
đây
ông
học
tiếng
Mông
Cổ.
Theo
lời
khuyên
của
thầy,
Kovalevsky,
ông
chọn
môn
ý
thức
hệ
Đông
Phương,
đặc
biệt
là
PG,
một
môn
học
mà
lúc
đó
hoàn
toàn
chưa
được
khai
phá.
Năm
19
tuổi,
ông
bảo
vệ
thành
công
luận
án
cao
học
với
chủ
đề
là
"Tinh
thần
những
tác
phẩm
PG
của
Altan
Gerala".
Làm
việc
không
mệt
mỏi,
ông
Vasiliyey
đã
sưu
tập
được
nhiều
tài
liệu
PG
Tây
Tạng,
Ấn
Độ
và
Trung
Hoa.
Ông
đã
mang
về
Nga
toàn
bộ
kinh
sách
PG
bằng
tiếng
Trung
Hoa
được
dịch
rút
gọn
và
tu
chỉnh
cũng
như
những
trích
dẫn
từ
vô
số
sách
về
triết
học
và
lịch
sử
Trung
Hoa
và
Tây
Tạng.
Năm
1855,
ông
đến
St.
Petersburg,
ông
đã
bảo
vệ
thành
công
luận
án
tiến
sĩ
"Nền
tảng
triết
học
của
Phật
Giáo".
Ông
được
bầu
làm
viện
sĩ
thông
tấn
và
không
lâu
trước
khi
qua
đời
ông
được
chọn
làm
viện
sĩ
hàn
lâm
khoa
học
Nga.
Ông
mất
ngày
27
tháng
4
năm
1900
tại
St.
Petersburg,
hưởng
thọ
82
tuổi.
Những
tác
phẩm
Phật
học
nổi
tiếng
của
ông
gồm
có
"Phật
Giáo,
nguyên
lý,
lịch
sử
và
văn
chương";
"Tự
điển
Phật
Học
Makhavjutpatti";
"Giảng
luận
về
các
trường
phái
văn
chương
Phật
Giáo";
"Lịch
sử
Phật
Giáo
Tây
Tạng";
"Lịch
sử
Phật
Giáo
Ấn
Độ";
Đặc
biệt
là
"Phương
pháp
nghiên
cứu
PG"
v.v...,
trong
tác
phẩm
này
ông
đã
đưa
ra
hình
thức
ngắn
gọn,
về
cách
nhìn
của
ông
đối
với
PG
và
những
phương
pháp
nghiên
cứu
Phật
học,
chứa
đựng
những
ý
tưởng
mới,
những
giả
thuyết
táo
bạo,
và
cách
giải
thích
độc
đáo.
Nó
làm
nền
tảng
cho
việc
nghiên
cứu
khoa
học
về
Phật
Giáo
tại
châu
Âu
về
sau
này.
Ivan
Minayev,
học
trò
ông
Vasiliyey
tiếp
tục
công
việc
của
thầy.
Ông
học
tại
đại
học
St.
Petersburg,
khoa
ngôn
ngữ
Đông
Phương.
Ông
rất
quan
tâm
đến
hệ
thống
Tôn
Giáo
và
triết
lý
PG.
Khác
với
những
nhà
khoa
học
trước,
ông
chỉ
chú
trọng
nghiên
cứu
Phật
Giáo
Nam
Truyền,
ông
là
học
giả
đầu
tiên
người
đứng
ra
được
gọi
là
người
sáng
lập
xu
hướng
mới
trong
việc
nghiên
cứu
PG
Nam
truyền
tại
Nga.
Ông
dành
hết
thời
gian
và
công
sức
vào
việc
nghiên
cứu
tất
cả
những
di
tích
và
văn
chương
cổ
của
PG
Nam
tông
trong
tiếng
Pali
và
cả
Sanskrit
và
những
ngôn
ngữ
Ấn
hiện
đại.
Năm
1862,
sau
khi
tốt
nghiệp
đại
học,
ông
ra
nước
ngoài
để
nghiên
cứu
PG.
Trong
năm
năm
làm
việc
tại
viện
bảo
tàng
Luân
Đôn,
thư
viện
Bá
Linh
(Đức
quốc),
thư
viện
Pari
để
nghiên
cứu
kinh
điển
viết
bằng
tiếng
Pali.
Ông
quan
tâm
đến
lịch
sử
ngôn
ngữ
và
truyền
thuyết
dân
gian
PG
Ấn
độ.
Bằng
việc
nghiên
cứu
này,
ông
Minayey
có
được
sự
nhận
định
sâu
sắc
hơn
về
hệ
thống
triết
lý
tôn
giáo
phức
tạp
này.
Ông
mất
ở
tuổi
49
và
để
lại
hơn
130
tác
phẩm.
Ông
được
xem
là
một
trong
những
người
Nga
đầu
tiên
thu
hút
sự
chú
ý
của
các
nhà
khoa
học
Nga
và
phương
Tây
vào
hệ
thống
triết
lý
PG.
Sergei
Oldenburg
(1863-1934)
là
một
nhà
Đông
phương
học
nổi
tiếng
khắp
thế
giới,
đã
dành
hết
cuộc
của
mình
vào
việc
nghiên
cứu
lịch
sử,
nghệ
thuật
và
văn
học
PG.
Ông
học
tiếng
Ba
Tư
và
Sanskrit
tại
khoa
ngôn
ngữ
Đông
phương
thuộc
đại
học
St.
Petersburg.
Năm
1894
ông
bảo
vệ
luận
án
Cao
học
về
đề
tài
các
truyền
thuyết
Phật
giáo.
Kiến
thức
rộng
về
dân
ca
Ấn
giúp
ông
hiểu
rõ
ý
nghĩa
những
hình
ảnh
được
khắc
trên
bảo
tháp
Eharhut
và
trên
các
bia
đá
Borobodura
tại
Java.
Năm
1897
ông
bắt
đầu
in
một
loạt
các
tác
phẩm
triết
lý
và
Phật
học
của
cả
Phật
giáo
Bắc
và
Nam
truyền
với
sự
góp
sức
của
các
nhà
Phật
học
nổi
tiếng
khắp
thế
giới
do
chính
ông
đứng
đầu,
tổng
cộng
ấn
hành
được
hơn
30
bộ
sách.
Với
thành
tích
đóng
góp
của
ông,
Oldenburg
được
bầu
làm
hội
viên
danh
dự
Hội
châu
Á
của
hoàng
gia
Anh,
Hội
châu
Á
của
Pháp.
Chủ
tịch
danh
dự
hội
nghiên
cứu
văn
học
Phật
giáo
tại
Heidelberg.
Viện
sĩ
thông
tấn
viện
hàn
lâm
Bá
linh
và
Gottingen
và
hội
viên
danh
dự
của
viện
khảo
cổ
Ấn
Độ.
Vào
những
năm
cuối
đời
viện
sĩ
Oldenburg
làm
giám
đốc
viện
nghiên
cứu
Đông
phương
của
viện
hàn
lâm
khoa
học
Liên
Xô.
Fyodor
Ippolitovich
Shcherbatskoy
(1866-1942),
một
nhà
Phật
học
Nga
lừng
danh
trên
thế
giới,
sáng
lập
viên
và
làm
viện
trưởng
đầu
tiên
Viện
Văn
Hóa
Phật
Giáo
(Institute
of
Buddhist
Culture),
sang
ngày
16
tháng
09
năm
1866
tại
một
ngôi
làng
nhỏ
ở
Nga.
Ông
học
ngành
lịch
sử
triết
học
tại
đại
học
St.
Petersburg.
Năm
1910,
ông
đến
Ấn
Độ
để
tiếp
tục
nghiên
cứu
về
PG.
Ông
viếng
thăm
Bombay,
Culcutta,
Benares
và
những
thánh
tích
khác.
Một
trong
những
tham
vọng
của
ông
là
khám
phá
các
thư
viện
Ấn
Độ
và
Tây
Tạng
để
lục
tìm
các
bản
kinh
cổ
nguyên
gốc
tiếng
Sanskrit
đã
bị
thất
lạc.
Kết
quả,
ông
đã
biên
soạn
một
tác
phẩm
nổi
tiếng
là
Lô-gích
học
Phật
Giáo
(Buddhist
Logic,
gồm
hai
quyển,
dày
hơn
1000
trang,
do
Viện
Hàn
Lâm
Khoa
Học
Xô
Viết
xuất
bản
lần
đầu
tiên
vào
năm
1930
và
tái
bản
năm
1963,
bộ
sách
này
có
lưu
hành
tại
VN
nhưng
chưa
được
chuyển
ngữ),
nó
được
xem
là
đỉnh
cao
của
sự
phát
triển
lâu
dài
của
triết
học
PG
Ấn
và
độc
lập
với
luận
lý
Hy
Lạp.
Người
dân
Ấn
biết
ơn
ông
vì
sự
đóng
góp
to
lớn
của
ông
trong
việc
phát
triển
tư
tưởng
triết
học
Ấn.
Không
một
cuốn
sách
PG
hiện
tại
nào
mà
không
nhắc
đến
tên
tuổi
của
ông.
Ông
là
hội
viên
danh
dự
của
Hội
nghiên
cứu
PG
ở
Anh,
Pháp,
Đức....
Và
là
viện
sĩ
thông
tấn
viện
hàn
lâm
Gottingen.
Ông
tạ
thế
vào
năm
1944.
Một
nhà
Phật
học
Nga
nổi
tiếng
khác
và
cũng
là
người
học
trò
thân
tín
và
xuất
sắc
nhất
của
Giáo
sư
F.
I.
Shcherbatskoy,
là
tiến
sĩ
Eugene
Obermiller
(1901-1935),
sáng
lập
viên
Trường
Ấn
Độ
học
và
Phật
học
Nga
và
có
công
rất
lớn
trong
việc
làm
lớn
mạnh
hạt
giống
Bồ
đề
trên
đất
nước
Nga.
Tiếc
thay,
ông
đã
bệnh
nặng
và
qua
đời
ở
46,
để
lại
phía
sau
mình
gần
20
tác
phẩm
và
dịch
phẩm
phật
học.
Một
trong
những
chuyên
gia
hàng
đầu
thế
giới
về
Phật
học
được
biết
đến
ở
Nga
là
ông
Yury
Roerich,
người
nhận
được
sự
giáo
dục
tại
Nga
và
hoàn
tất
tại
London,
Paris
và
Mỹ.
Ông
dành
nhiều
năm
ở
Mông
Cổ,
Trung
Hoa,
Tây
Tạng,
Tích
Lan,
Nepal,
Miến
Điện
và
Ấn
Độ
để
chiêm
bái
thánh
tích
và
nghiên
cứu
PG.
Ông
thông
thạo
sáu
thứ
tiếng
ở
châu
Á
và
bốn
ngôn
ngữ
khác
ở
châu
Âu
và
sở
hữu
một
vốn
kiến
thức
bách
khoa
về
lịch
sử,
triết
học,
luận
lý
học,
đạo
đức
học,
văn
chương
và
nghệ
thuật
PG.
Ông
đã
phiên
dịch
và
xuất
bản
quyển
kinh
Pháp
Cú
bằng
tiếng
Nga.
Ông
đã
đột
ngột
qua
đời
vào
năm
1960.
Các
tổ
chức
hoằng
Pháp
tại
Nga
Năm
1741,
hai
tu
viện
PG
được
xây
dựng
và
được
nữ
hoàng
Nga
Elizabeth
Petrovna
chính
thức
công
nhận
Giáo
Hội
Phật
Giáo
Nga
(Russian
Buddhist
Church),
đây
là
chuyển
động
quan
trọng
cuối
cùng
của
PG
Nga
trong
một
quốc
gia
sắp
bước
qua
thời
hiện
đại.
Năm
1895,
Thượng
tọa
Agvan
Dorzhiev,
khai
sơn
một
tu
viện
ở
St.
Petersburg,
Ngài
là
một
người
có
công
gìn
giữ
truyền
thống
tông
phái
Hoàng
Mạo
(một
tông
phái
theo
truyền
thống
PG
Tây
Tạng)
và
nghiên
cứu
PG
nghiêm
mật.
Ngài
sinh
năm
1854
trong
một
gia
đình
theo
Đạo
Phật
tại
Khara
Shibin.
Ngài
đã
đến
Tây
Tạng
để
xuất
gia
tu
học
và
trở
thành
một
Tăng
sĩ
nổi
tiếng.
Sau
khi
tốt
nghiệp
tiến
sĩ
Phật
học
tại
đại
học
Gormang
và
được
chỉ
định
làm
cố
vấn
việc
học
cho
Đức
Dalai
Lama
thứ
13.
Sau
nhiều
năm
tu
học
và
làm
việc
tại
Tây
Tạng,
Ngài
trở
về
Nga
và
bắt
đầu
thực
hiện
công
tác
truyền
giáo
của
mình,
Ngài
bắt
tay
cải
cách
và
phát
triển
PG
tại
Buryatia,
Kalmykia
và
Volga.
Đầu
thế
kỷ
20,
TT
Dorzhiev
nhận
thấy
đời
sống
tu
viện
suy
thoái
nghiêm
trọng.
Trong
nỗ
lực
nâng
cao
phẩm
chất
cho
hàng
xuất
gia,
Ngài
đã
cho
xây
dựng
thêm
nhiều
tu
viện
mới,
nhận
nhiều
người
vào
tu
và
tổ
chức
lễ
truyền
giới
cho
họ.
Năm
1909,
Ngài
khởi
công
xây
dựng
một
tu
viện
lớn
với
sự
tham
gia
tận
tụy
của
hai
phật
tử
Nga,
là
Vasilyevich
Baranovslay,
một
kiến
trúc
sư
nổi
tiếng
và
họa
sĩ
Nicholas
Roerich.
Đến
năm
1915,
tu
viện
đã
hoàn
thành
và
nó
đã
trở
thành
một
tu
viện
PG
tầm
cở
đầu
tiên
tại
châu
Âu.
Rồi
cách
mạng
đến,
mọi
hoạt
động
Phật
sự
đều
bị
ngưng
lại.
Thập
niên
hai
mươi
là
thời
kỳ
yên
tỉnh
của
PG
Nga.
Chùa
Leningrad
chậm
chạp
phục
hồi.
Năm
1929,
Hội
Truyền
Giáo
Mông
-
Tạng
(Tibetan
-
Mongolian
Mission)
được
thành
lập.
Dưới
sự
lãnh
đạo
của
TT
Dorzhiev,
nhiều
tự
viện
đã
được
xây
dựng.
Tháng
01
năm
1927,
Hội
Nghị
Phật
Giáo
Xô
Viết
(Congress
of
Soviet
Buddhists)
được
tổ
chức
tại
Mátcơva.
Một
người
có
công
lớn
phục
hồi
lại
PG
Nga
là
nhà
Phật
học
George
Nicholas
Roerich
trở
về
từ
Ấn
Độ.
Roerich
là
một
chuyên
gia
nghiên
cứu
về
PG
Tây
Tạng
và
Mông
Cổ,
được
chỉ
định
là
khoa
trưởng
PG
thuộc
viện
Đông
phương
tại
Mátcơva.
Tại
đây
đã
tạo
ra
làn
sóng
mới
về
nghiên
cứu
Phật
học.
Từ
năm
1958,
Roerich
gặp
nhà
Phật
học
Dandaron
và
hai
người
đã
hợp
tác,
các
kinh
Phật
bắt
đầu
được
phiên
dịch
trở
lại
và
các
bài
báo
lại
xuất
hiện
trên
các
tờ
chuyên
khảo
về
nghiên
cứu
triết
học
PG.
Năm
1960
ông
Roerich
còn
tổ
chức
in
ấn
kinh
sách
và
tổ
chức
một
hội
nghị
hợp
mặt
các
nhà
Phật
học
Nga.
Đặc
biệt,
ông
kết
hợp
với
tiến
sĩ
G.
P.
Malalasekera
(sáng
lập
viên
Hội
Liên
hữu
PG
Quốc
Tế
(The
World
Fellowship
of
Buddhists),
là
đại
sứ
Tích
Lan
tại
Liên
Xô
lúc
bấy
giờ)
để
ấn
hành
bản
dịch
kinh
Pháp
Cú
tiếng
Nga.
Cuốn
sách
được
tung
ra
rộng
rãi
và
đó
là
một
thành
công
lớn
của
Roerich.
Ông
mất
vào
ngày
21
tháng
5
năm
1960
ở
tuổi
58
vì
bệnh
nhồi
máu
cơ
tim.
Cuối
thập
niên
năm
mươi,
một
phong
trào
truyền
bá
khác
xảy
ra
ở
Nga.
Đó
là
các
tác
phẩm
giáo
lý
tiếng
Nga
được
quay
rônêo
và
phát
hành
dưới
hình
thức
phổ
biến
nội
bộ.
Rồi
cuối
thập
niên
60
những
tác
phẩm
thiền
của
tiến
sĩ
D.
T.
Suzuki,
Alan
Watts;
những
sách
về
PG
Tây
Tạng
W.
Y.
Evan
Wets,
Alexandra
David
Neel
và
Lạt
Ma
Govinda
bắt
đầu
phổ
biến
ở
Nga.
Đầu
thập
niên
70
thì
phong
trào
học
Phật
ở
Nga
tuy
âm
thầm
nhưng
rất
mạnh
và
có
một
số
ít
Tăng
sĩ
nước
ngoài
đến
Nga
để
thuyết
giảng.
Đầu
năm
1985,
với
không
khí
cải
cách
và
đổi
mới
một
dòng
người
Nga
kéo
đến
Buryatia
để
nghiên
cứu
PG.
Năm
1987,
Đức
Đạt
Lai
Lạt
Ma
ghé
sang
Leningrad
trên
đường
đến
Mông
Cổ.
Năm
1989,
TT
Bakula
Rinpoche
là
một
đại
sứ
Ấn
Độ
tại
Mông
Cổ
đã
đến
diễn
thuyết
tại
Mátcơva.
Từ
năm
1989
đến
nay,
đã
có
nhiều
cuộc
tiếp
xúc
giữa
Phật
tử
Nga
và
các
hội
đoàn
PG
phương
Tây
và
Hoa
Kỳ,
tất
cả
các
pháp
sư
đã
quan
tâm
và
thường
xuyên
đến
hoằng
pháp
tại
Nga.
Trong
số
này
có
cả
những
Tăng
sĩ
người
Việt,
đó
là
Thiền
sư
Nhất
Hạnh,
Hòa
Thượng
Minh
Tâm,
TT.
Như
Điển
.
Hiện
nay
có
khoảng
300
ngàn
Việt
định
cư
tại
Nga
(di
cư
đến
Nga
nhiều
giai
đoạn
khác
nhau,
nhưng
khởi
điểm
là
vào
giữa
những
năm
năm
mươi
của
thế
kỷ
này)
và
một
ngôi
chùa
Việt
là
Hội
Phật
Giáo
Thảo
Đường,
do
TT.
Như
Điển
thành
lập,
địa
chỉ
liên
lạc
và
giúp
đỡ
là:
Mrs.
Malkhanova
Inna,
Thiện
Xuân,
Thiện
Mẫn,
Leninsky
Prospekt
144-4-8,
117526,
Moscow,
Russia.
Tel/Fax:
7.096.434
01
13.
Tháng
8
năm
1992,
Đức
Dalai
Lama
viếng
thăm
chính
thức
Nga.
Tại
Buryatia
và
Kalmykia,
Ngài
đã
truyền
giới
sadi
cho
30
người
Nga
và
cụ
túc
giới
cho
13
tăng
sĩ
Nga,
tổ
chức
khóa
tu
ngắn
ngày
cho
hàng
ngàn
tín
đồ
Nga
và
làm
lễ
đặt
đá
xây
dựng
hai
tu
viện
cở
lớn.
Đặc
biệt
cuối
chuyến
viếng
thăm
là
đã
nói
chuyện
tại
Đại
học
Mátcơva.
Đến
ngày
23
tháng
4
năm
1993,
TT.
George
Churinoff,
một
thiền
sư
người
Mỹ,
đã
tổ
chức
chuyến
hoằng
Pháp
3
tháng
tại
Nga,
kết
quả
có
rất
nhiều
người
theo
Quy
Y
sau
khi
nghe
bài
pháp
của
Ngài
là
"Những
cơ
sở
khoa
học
về
PG
và
sự
thích
ứng
của
nó
với
sự
phát
triển
kinh
tế
xã
hội
tại
Nga
sau
thời
cộng
sản".
Một
thế
hệ
mới
các
học
giả
Phật
học
Nga
xuất
hiện
ở
St.
Petersburg,
trong
đó
nhiều
người
đã
đi
tu
và
nhiều
người
khác
làm
công
tác
nghiên
cứu
và
dịch
thuật.
Đáng
chú
ý
nhất
là
bản
dịch
kinh
Pháp
Hoa
ra
tiếng
Nga
của
giáo
sư
Alexander
Ignatovich
vừa
hoàn
thành
năm
1996.
