Mã
Lai
(Malaysia)
một
quốc
gia
theo
chế
độ
quân
chủ
lập
hiến
(constitutional
monarchy)
nằm
ở
Đông
Nam
Châu
Á.
Nam
giáp
với
Thái
Lan,
Bắc
giáp
với
Singapore,
là
một
thành
viên
của
khối
thịnh
Vượng
Chung
(Commonwealth
of
Nations),
thủ
đô
và
cũng
là
thành
phố
lớn
nhất
Mã
lai
là
Kuala
Lumpur.
Diện
tích:
329.750
km2.
Dân
số:
17.890.000
người.
Mật
độ
dân
cư:
54,2
người/km2.
Dân
số
dưới
15
tuổi:
36,2%.
Tuổi
thọ
trung
bình:
70,1
tuổi.
Tử
suất
trẻ
em:
22%.
Học
sinh
từ
12-17
tuổi:
70%.
Nguyên
thủ
quốc
gia:
quốc
vương
Azlan
Muhibuđin
Shah.
Thu
nhập
bình
quân
đầu
người:
2.420
đô
la.
Đơn
vị
tiền
tệ:
Ringgit.
Ngôn
ngữ
thông
dụng:
tiếng
Mã
Lai,
tiếng
Hoa,
tiếng
Ấn
và
tiếng
Anh.
Giành
lại
nền
độc
lập
từ
năm
1957,
Mã
Lai
có
được
vị
trí
nằm
ở
ngã
tư
đường
giao
thông
quốc
tế.
Dân
số
đa
phần
là
người
Mã
Lai
rất
đa
tạp
(khoảng
62%).
Người
Hoa
(khoảng
30%
dân
số)
nắm
về
ưu
thế
kinh
tế.
Ngoài
ta
còn
có
người
Ấn,
Nam
Dương,
Thái
Lan...
sống
trong
quốc
gia
này.
Người
theo
đạo
Hồi,
chiếm
đa
phần
trong
dân
số,
ít
được
ưu
đãi
trong
lĩnh
vực
kinh
tế
nhưng
lại
nắm
giữ
độc
quyền
về
chính
trị.
Mã
lai
có
nhiều
tài
nguyên
thiên
nhiên
như
thiếc,
cao
su,
dầu
hỏa,
rừng.
Trong
ba
thập
niên
qua,
Mã
lai
đã
hướng
theo
con
đường
công
nghiệp
hóa
năng
động,
ưu
tiên
cho
ngành
xuất
khẩu,
và
có
mức
độ
đầu
tư
của
nước
ngoài
cao
nhất
so
với
các
quốc
gia
láng
giềng.
Tôn
giáo
chính
của
Mã
Lai
là
Hồi
Giáo
(Islam)
và
Phật
giáo
(Buddhism),
những
tôn
giáo
nhỏ
khác
là
Khổng
giáo,
Lão
giáo,
Ấn
Độ
giáo
và
Ky
Tô
giáo.
1.
Thời
kỳ
đầu
của
Phật
giáo
tại
Mã
Lai:
Tầm
ảnh
hưởng
của
nền
văn
minh
Ấn
Độ
đã
vượt
qua
biên
giới
để
đến
với
vùng
Đông
Nam
châu
Á.
Nhu
cầu
thương
mại
lúc
ấy
là
động
lực
chính
làm
chiếc
cầu
nối
giữa
các
nền
văn
hóa
và
tôn
giáo
lại
với
nhau.
Mặt
khác,
Ấn
Độ
thành
lập
một
số
Chính
quyền
Thực
dân
ở
bán
đảo
Mã
Lai
vào
khoảng
5
thế
kỷ
đầu
của
Tây
lịch.
PG
nhờ
thế
mà
được
truyền
vào
Mã
Lai
trong
thời
điểm
ấy.
Có
nhiều
bằng
chứng
cho
thấy
điều
này
hoàn
toàn
hợp
lý
qua
những
địa
danh
của
Mã
Lai
bắt
nguồn
từ
nguyên
ngữ
Pali
như
Niddesa
và
Milindapanha.
PG
được
truyền
vào
Mã
Lai
vào
khoảng
đầu
thế
kỷ
thứ
3
Tây
lịch.
Nhiều
sách
sử
đã
ghi
nhận
rằng
các
nhà
sư
Sona
và
Uttara
đã
đến
miền
Đông
Nam
châu
Á
theo
sau
kỳ
đại
hội
kết
tập
Kinh
điển
lần
thứ
3
tại
Ấn
Độ
vào
325
trước
Tây
lịch
(
sau
Phật
Niết
bàn
218
năm.
Đại
hội
lần
này
do
Hoàng
đế
A
Dục
đề
xướng
và
bảo
trợ.)
Một
tài
liệu
của
PG
Tây
Tạng
cũng
đề
cập
đến
ngài
Dharmapala
đã
đến
đảo
Malay
vào
thời
điểm
này.
Và
theo
lời
của
Ngài
Pháp
Hiển
(Fa-Hsien),
một
nhà
chiêm
bái
người
Trung
Hoa,
từng
du
học
sang
Ấn,
trên
đường
hồi
hương,
(khoảng
thời
gian:
399-414
Tây
lịch)
ngài
có
ghé
ngang
trung
tâm
văn
hóa
Java
(
Indonesia)
,
Tích
Lan
và
Mã
Lai
trước
khi
ngài
trở
về
Trung
Hoa
vào
năm
414
Tây
lịch.
Chùa
Mahindarama
ở
đường
Kampar,
Penang
Từ
thế
kỷ
thứ
8
đến
thế
kỷ
thứ
13
Tây
lịch,
Java
và
Sri
Vijava
đều
nằm
dưới
sự
kiểm
soát
của
triều
đại
hùng
mạnh
Sailendra.
Những
vị
vua
của
triều
đại
này
đã
cho
xây
nhiều
công
trình
kiến
trúc
PG
vĩ
đại
như
vườn
Tháp
nổi
tiếng
thế
giới
Borobodur
ở
Trung
tâm
Java.
Ông
I-Tsing,
một
nhà
chiếm
bái
Trung
Hoa
khác,
cũng
mô
tả
rằng
vào
năm
671
Tây
lịch
thủ
đô
Sti
Vijayan
ở
Bukit
Seguntang
được
xem
là
một
trung
tâm
văn
hóa
PG
quan
trọng,
với
hơn
một
ngàn
tăng
sĩ
đang
tu
học
tại
đây.
Sau
khi
triều
đại
Sri
Vijaya
sụp
đổ,
PG
vẫn
tiếp
tục
truyền
vào
Mã
Lai.
2.
Những
bằng
chứng
lịch
sử
và
khảo
cổ:
Những
nhà
khảo
cổ
tìm
thấy
những
bằng
chứng
của
thời
kỳ
đầu
này
qua
những
tác
phẩm
điêu
khắc
PG
tại
Mã
lai.
Tuy
nhiên
những
bằng
chứng
lịch
sử
có
thể
tìm
thấy
trong
văn
học
Trung
hoa
rằng
PG
đã
được
thiết
lập
tại
Mã
Lai
vào
thế
kỷ
thứ
6
Tây
lịch.
Theo
biên
niên
sử
Trung
Hoa
ghi
nhận
rằng
Hoàng
đế
của
Mã
Lai
đã
gởi
một
phái
đoàn
ngọai
giao
đến
Trung
Hoa
vào
những
năm
527,
530
và
536
Tây
lịch
với
những
món
quà
bao
gồm
xá
lợi
Phật
(relics),
tranh
ảnh
PG,
và
lá
Bồ
Đề.
Tài
liệu
này
cũng
xác
nhận
rằng
những
thành
viên
trong
đoàn
ngoại
giao
này
có
tên
là
Tan-Tan,
Chip-Tu
và
Fo-Lo-An.
Và
tại
nơi
đây,
hàng
năm
lễ
Phật
Đản
được
tổ
chức
vào
ngày
trăng
tròn
tháng
sáu
với
những
đám
rước
và
lễ
nhạc
và
pháp
danh
của
vị
Thầy
chủ
trì
cuộc
lễ
lúc
ấy
là
Tỳ
kheo
Pi-ch'iu.
Ngành
thương
mại
của
Trung
hoa
bắt
đầu
tiếp
xúc
với
Đông
Nam
châu
Á
vào
khoảng
đầu
thế
kỷ
thứ
3
TL,
khi
triều
đại
nhà
Wu
gởi
một
phái
đoàn
đến
Đông
Nam
châu
Á
để
tìm
hiểu
tình
hình
chính
trị
và
thương
mại
ở
vùng
này.
Từ
đó,
thị
trường
của
Trung
Hoa
đã
trở
thành
quan
trọng
đối
với
vùng
Đông
Nam
châu
Á
này,
và
phần
lớn
các
thương
gia
thời
bấy
giờ
đều
là
Phật
tử,
nên
PG
đã
chẳng
bao
lâu
đã
phát
triển
mạnh
tại
các
quốc
gia
trong
khu
vực.
Các
cuộc
khai
quật
ở
Kedak
và
Penang
(các
tỉnh
lủa
Mã
Lai),
các
nhà
khảo
cổ
đã
tìm
thấy
nhiều
tàn
tích
về
các
ngôi
chùa,
tháp
và
tượng
Phật
còn
sót
lại
ở
đó.
Tại
hai
nơi
này,
vào
khoảng
đầu
thế
kỷ
thứ
4
hay
5
TL
đã
có
những
bia
đá
khắc
Kinh
Phật
bằng
tiếng
Sanskrit.
Một
trong
những
bia
đá
quý
báu
này
được
tìm
thấy
dưới
một
ngôi
nhà
đổ
nát
ở
tỉnh
Kedah.
Một
di
vật
quan
trọng
khác
được
thấy
là
một
bia
bằng
đất
sét
ở
Kedak
với
ba
bài
kệ
chữ
Sanskrit
khắc
vào
thế
kỷ
thứ
6
TL
và
hai
bức
tượng
Quan
Thế
Âm
Bồ
tát
cũng
được
tìm
thấy
ở
tại
địa
danh
này.
Những
tác
phẩm
điêu
khắc
PG
vào
thế
kỷ
thứ
4
TL
đều
được
tìm
thấy
ở
nơi
khác
của
bán
đảo
Malaysia,
đặc
biệt
là
Cheruk
Tekun
và
tỉnh
Wellesley.
Những
hình
Phật
và
những
di
vật
khác
cũng
được
tìm
thấy
ở
Kuala
Selinsing,
Kinta
Valley,
Tanjung
Rambutan,
Bidor
and
Sungei
Siput
và
Perak.
Trong
khi
đó,
một
bằng
chứng
lịch
sử
khác
vào
năm
1006
TL
cũng
được
ghi
nhận,
Vua
Kataka
ở
Kedak
đã
xây
dựng
một
ngôi
chùa
ở
Negapatam.
Vua
Rajaraja
đệ
nhất
đã
ban
hành
những
đạo
luật
miễn
thuế
cho
chùa
chiền.
Những
ngôi
chùa
cổ
cũng
đã
được
khai
quật
ở
phía
đông
bờ
biển
Mã
Lai.
Dù
có
một
số
nơi
bây
giờ
thuộc
về
phần
đất
của
Thái
Lan.
Nhiều
tượng
Phật
bằng
đồng
và
đá
từ
thế
kỷ
thứ
13
TL
cũng
được
khám
phá
trong
vùng
này.
Theo
biên
niên
sử
Trung
Hoa,
cho
thấy
rằng
PG
đã
truyền
vào
vùng
P'an
P'an
này
vào
thế
kỷ
thứ
6
TL
và
kéo
dài
đến
700
năm
sau.
Còn
rất
nhiều
di
vật
khảo
cổ
được
tìm
thấy
vào
đầu
những
năm
1900,
trong
khoảng
thời
gian
Thực
dân
Anh
xâm
chiếm
Mã
Lai,
một
số
khác
cũng
được
khám
phá
vào
những
năm
1970
ở
Kedah.
Trong
khi
đó
có
nhiều
dấu
tích
của
chùa
chiền
cũng
được
tìm
thấy
ở
thung
lũng
Bujang,
điều
này
cung
cấp
thêm
nhiều
dữ
kiện
cho
sự
có
mặt
của
PG
ở
Mã
Lai
từ
thế
kỷ
thứ
4
đến
thế
kỷ
thứ
14
TL.
Hiện
tại
tất
cả
những
di
sản
khảo
cổ
này
được
bảo
trì
và
trưng
bày
tại
Viện
bảo
tàng
quốc
gia
ở
tỉnh
Bukit
Batu
Pahat
mà
mọi
du
khách
đều
có
thể
đến
viếng
thăm.
3.
Thời
kỳ
suy
tàn
của
Phật
giáo
tại
Mã
Lai:
Phật
giáo
đã
suy
yếu
dần
theo
sau
sự
tấn
công
của
Hồi
giáo
vào
Mã
Lai
ở
thế
kỷ
thứ
14
TL
của
người
Ả
Rập
và
thương
gia
Ấn
Độ.
Đầu
thế
kỷ
thứ
15,
một
vị
vua
Mã
Lai
dựng
Kinh
đô
ở
Malacca,
vốn
là
tín
đồ
của
Ấn
Độ
giáo,
đã
cải
đạo
theo
Hồi
giáo
và
vì
thế
mà
đạo
này
có
cơ
hội
để
truyền
bá
rộng
khắp
trên
toàn
bán
đảo
Mã
Lai.
Lúc
bấy
giờ
PG
lui
dần
về
ngoại
ô
và
sau
đó
chỉ
còn
để
lại
bóng
dáng
của
mình
trên
nền
văn
học,
trong
truyện
cổ
tích,
huyền
thoại
và
địa
danh
của
đất
nước
Mã
Lai.
4.
Thời
kỳ
phục
hưng
của
Phật
giáo
tại
Mã
Lai:
Sau
300
năm
tàn
lụi,
PG
Mã
Lai
lại
phục
hồi
theo
sau
làn
sóng
di
dân
của
người
Trung
Hoa
đến
Mã
Lai
vào
thế
kỷ
thứ
17.
Tuy
nhiên,
sự
phục
hưng
này
được
xác
định
rõ
ràng
nhất
là
vào
thế
kỷ
thứ
19
khi
di
dân
người
Hoa
đổ
xô
qua
Mã
Lai.
PG
ở
thời
kỳ
này
mang
sắc
thái
tổng
hòa:
Tam
giáo
đồng
nguyên,
Phật
(phần
lớn
theo
tông
phái
Tịnh
Độ/Pure
Land),
Lão
(Taoism)
và
Khổng
giáo
(Confucianism),
để
đem
lại
niềm
an
lạc
và
lợi
ích
tâm
linh
cho
người
tín
đồ.
Theo
thống
kê
của
chính
phủ
Mã
Lai
vào
năm
1991,
có
tất
cả
3,2
triệu
tín
đồ
theo
Đạo
Phật
và
0,9
triệu
người
theo
Đạo
Lão
và
Đạo
Khổng
trong
tổng
số
17.6
triệu
người
Mã
Lai.
Con
số
này
đã
minh
chứng
rằng
PG
đã
thực
sự
hồi
sinh
và
phát
triển
mạnh
trên
quốc
gia
này.
5.
Phật
giáo
Bắc
Tông
tại
Mã
Lai:
Một
số
chùa
Bắc
Tông
được
xây
dựng
rất
sớm
tại
Penang.
Chùa
Kuan
Imm
Teng
xây
dựng
vào
khoảng
đầu
những
năm
1800,
chùa
Cheng
Hoom
Teng
xây
dựng
rất
sớm
ở
Malacca
vào
khoảng
thời
điểm
ấy.
Hai
ngôi
chùa
này
hiện
nay
là
những
ngôi
chùa
cổ
nhất
ở
Mã
Lai,
tuy
nhiên
những
nơi
này
chỉ
được
xem
là
danh
lam
để
du
khách
viếng
thăm
hơn
là
nơi
để
đến
nghiên
cứu
và
tu
học
Phật
Pháp.
Năm
1887,
Pháp
sư
Miao
Lian
đến
Penang
từ
Fuchow,
Trung
Hoa
và
bắt
đầu
xây
dựng
chùa
Tịnh
Độ
(Kek
Lok/
Sukhavati).
Ngôi
chùa
được
thiết
kế
tổng
hợp
theo
lối
kiến
trúc
PG
Thái
Lan,
Miến
Điện
và
Trung
Hoa.
Ngôi
chùa
này
đã
chính
thức
khánh
thành
vào
năm
1905
và
nó
được
xem
là
một
trong
những
ngôi
chùa
lớn
nhất
của
vùng
Đông
Nam
châu
Á.
Từ
thập
niên
tám
mươi
đến
nay,
chùa
Tịnh
Độ
là
tụ
điểm
an
cư
tu
học
của
đông
đảo
Tăng
Ni
Bắc
Tông
của
Mã
Lai.
Hiện
tại
chùa
cũng
đang
được
mở
rộng
thêm
và
cũng
được
xem
là
nơi
thu
hút
khách
du
lịch.
Hội
Phật
giáo
Penang
(The
Penang
Buddhist
Association)
được
thành
lập
năm
1925
với
mục
đích
truyền
bá
lời
Phật
dạy.
Ngôi
chùa
của
Hội
này
được
xây
dựng
trên
đường
Anson
và
hoàn
thành
năm
1931.
Hội
này
đã
trở
thành
một
tổ
chức
hoằng
Pháp
sớm
nhất
tại
xứ
sở
này.
Thời
gian
đầu,
hội
này
đã
gặp
sự
chống
phá
của
truyền
thống
mê
tín
địa
phương
lâu
đời
tại
Mã
Lai
này.
Nhưng
sau
đó
do
nỗ
lực
hoạt
động,
nên
Hội
đã
cảm
hóa
được
quần
chúng
và
đưa
họ
trở
về
với
ánh
sáng
của
Chánh
Pháp.
Năm
1955,
Hội
Thanh
Niên
Phật
Tử
Penang
ra
đời
(Youth
Circle
of
the
Penang
Buddhist
Association)
dưới
sự
khởi
xướng
và
lãnh
đạo
của
một
tăng
sĩ
người
Mỹ,
ngài
Venerable
Sumangalo,
người
đến
Mã
Lai
vào
năm
1955
và
có
những
chương
trình
hoạt
động
hoằng
Pháp
đổi
mới,
như
mở
trường
Phật
Pháp
Chủ
Nhật
(Dharma
Sunday
School)
cho
thanh
thiếu
niên,
thành
lập
Hội
Liên
Hữu
PG
Mã
Lai
(Malaysian
Buddhist
Youth
Fellowship)
cho
mọi
giới
Phật
tử
có
thể
tham
dự
tu
học.
Năm
1956,
Thượng
tọa
Sumangalo
đã
viếng
thăm
Úc
châu,
và
ngài
đã
nhanh
chóng
thu
hút
thính
giả
qua
các
buổi
giảng
giáo
lý
ở
Melbourne
và
Sydney
trong
nhiều
tuần
lễ.
Sau
đó
ngài
trở
lại
Mã
Lai
làm
việc
cho
đến
ngày
viên
tịch
vào
năm
1963.
Mặc
dù
Hội
PG
Penang
thuộc
trường
phái
Bắc
Tông,
nhưng
hội
luôn
cung
thỉnh
nhiều
tăng
sĩ
Nam
Tông
đến
để
hoằng
Pháp
như
cố
trưởng
lão
K.
Gunaratana
Maha
Nayaka,
Hòa
thượng
P.
Pemaratana
Maha
Nayaka
từ
Tích
Lan.
Một
vị
nữ
tu
Bắc
tông,
sư
cô
Fang
Lian,
xây
dựng
Ni
Viện
Phor
Thay
vào
năm
1936.
Sư
cô
đã
có
những
hoạt
động
tích
cực
như
xây
dựng
một
trung
tâm
nuôi
trẻ
mồ
côi,
một
trường
Tiểu
học
và
một
trường
Trung
học,
chương
học
có
kèm
môn
Phật
Pháp.
Cả
ba
trường
này
hàng
năm
thu
nhận
hơn
3000
học
sinh
đến
ghi
danh
để
học.
Năm
1950,
14
thành
viên
của
Hội
Phật
giáo
Penang
đã
đến
tham
dự
Đại
hội
khoáng
đại
của
Hội
Liên
Hữu
Phật
giáo
Thế
giới
(The
World
Fellowship
of
Buddhists/WFB)
nhóm
tại
Colombo,
Tích
Lan.
Theo
sau
kỳ
đại
hội
này,
Phật
tử
ở
Mã
Lai
đã
thành
lập
một
chi
nhánh
trung
tâm
của
WFB
tại
Penang
vào
năm
1951.
Tiếp
đó,
Giáo
Hội
Phật
Giáo
Mã
Lai
(The
Malaysian
Buddhist
Association/MBA)
được
thành
lập
vào
ngày
19
tháng
4
năm
1959,
với
sự
hợp
mặt
của
hầu
hết
các
chùa
chiền
người
Mã
Lai
và
người
Hoa.
Vị
chủ
tịch
Giáo
hội
đầu
tiên
là
Hòa
Thượng
Chuk
Mor.
Giáo
hội
đã
thành
lập
một
Học
viện
Phật
giáo
(Buddhist
Institute)
để
đào
tạo
tăng
ni
và
mở
một
trường
Phật
học
miễn
phí
dành
cho
người
lớn
tuổi.
Trường
dạy
nhiều
ngôn
ngữ
khác
nhau
như
tiếng
Mã
Lai,
tiếng
Hoa
và
Anh
văn.
Hòa
thượng
Chuk
Mor
là
một
Pháp
sư
rất
nổi
tiếng
ở
Mã
Lai,
Ngài
sinh
ngày
13
tháng
8
năm
1913
tại
Trung
Hoa.
Ngài
xuất
gia
năm
12
tuổi
(1924)
và
đến
hoằng
Pháp
tại
Mã
Lai
vào
tháng
5
năm
1954.
Vào
tháng
7
năm
1962,
Ngài
đã
xây
dựng
Thiền
Đường
Tam
Trí
(Triple
Wisdom
Hall)
để
dạy
thiền
cho
Phật
tử
Mã
Lai.
Một
trong
những
đệ
tử
của
Hòa
thượng
là
Đại
Đức
Sik
Chi
Chern,
là
người
kế
thừa
sự
nghiệp
của
Bổn
sư
và
cũng
là
Chủ
Tịch
Hội
Thanh
Niên
Phật
Tử
Mã
Lai
(Young
Buddhist
Association
of
Malaysia/YBAM)
trong
hai
nhiệm
kỳ
từ
1990
đến
1996.
Vị
chủ
tịch
thứ
hai
của
MBA
là
Hòa
thượng
Kim
Beng,
viện
chủ
chùa
Cheng
Hoon
Teng
ở
Malacca,
cũng
là
Pháp
sư
giảng
dạy
Phật
Pháp
nổi
tiếng
ở
Mã
Lai.
Chính
phủ
Mã
Lai
đã
trao
tặng
Ngài
giải
thưởng
Jasa
Setia
Mahkota
để
biểu
dương
sự
đóng
góp
và
làm
lớn
mạnh
nền
văn
hóa
Phật
giáo
tại
xứ
sở
này.
Vị
Chủ
tịch
hiện
nay
(1999)
của
MBA
là
Hòa
Thượng
Negri
Sembilan.
Ngài
cũng
là
một
Pháp
sư
nổi
tiếng
ở
Mã
Lai,
ngài
vốn
được
xem
là
một
vị
Thầy
thuốc
bắc
lừng
danh
tại
Mã
Lai.
Ngôi
chùa
chính
của
trường
phái
Bắc
Tông
ở
thủ
đô
Kuala
Lumpur
là
chùa
Kuan
Imm
Teng
do
Đại
đức
Keng
Aun,
đây
là
ngôi
chùa
Tàu
lớn
nhất
ở
thủ
đô.
Trong
những
năm
gần
đây,
các
Pháp
sư
của
Hội
Phật
Quang
Sơn
(Fo
Kuang
Shan)
cũng
đến
hoằng
Pháp
tại
Mã
Lai,
đặc
biệt
là
Hòa
Thượng
Tinh
Vân
đến
dự
lễ
khánh
thành
Chùa
Phật
Quang
(Buddha?s
Light
Vihara)
vào
năm
1998.
Trong
dịp
này,
một
đảng
phái
chính
trị
người
Hoa
(đảng
này
là
liên
minh
với
Thủ
tướng
đương
nhiệm,
Tiến
sĩ
Mahathir
Mohamed)
đã
cung
thỉnh
HT.
Tinh
Vân
thuyết
pháp
cho
quần
chúng
Phật
tử.
Đây
là
lần
đầu
tiên
chính
quyền
Mã
Lai
đã
tham
gia
và
đóng
góp
thiết
thực
cho
sinh
hoạt
PG
có
ý
nghĩa
nhất
tại
quốc
gia
này.
Mặt
khác,
cố
Hòa
thượng
Tuyên
Hóa
và
nhiều
đệ
tử
người
Hoa
và
Mỹ
của
Ngài
cũng
từng
đến
hoằng
Pháp
tại
Mã
Lai
vào
hai
thập
niên
tám
mưoi
và
chín
mươi.
Những
hoạt
động
thuyết
giảng
này
đã
làm
cho
Phật
giáo
tại
Mã
Lai
lớn
mạnh
nhiều
hơn
trong
những
năm
gần
đây.
Một
sự
ảnh
hưởng
Bắc
tông
khác
đến
từ
Đài
Loan
là
Hiệp
Hội
Từ
Thiện
Phật
Giáo
Từ
Tế
(Buddhist
Tzu
Chi
Merit
Society)
do
Ni
sư
Chứng
Nghiêm
thành
lập
ở
Taiwan
vào
năm
1966.
Tại
Mã
Lai,
Hội
có
trụ
sở
chính
ở
Kuala
Lumpur
và
có
những
hoạt
động
từ
thiện
xã
hội
từ
năm
1990.
Hiện
nay
hội
đã
có
thêm
nhiều
chi
nhánh
khác
ở
Penang,
Melaka
và
Ipoh.
6.
Phật
giáo
Nam
Tông
tại
Mã
Lai:
Nếu
như
phần
lớn
người
Trung
Hoa
theo
Bắc
Tông
PG,
thì
ngược
lại,
người
Thái
Lan,
Miến
Điện
và
Tích
Lan
lại
theo
Nam
Tông
PG.
Cộng
đồng
người
Thái
Lan
tập
trung
ở
Perlis,
Kedah
và
Kelantan.
Ước
lượng
có
khoảng
200
ngôi
chùa
Thái
Lan
nằm
về
các
tỉnh
này
của
miền
Bắc
Mã
Lai.
Các
chùa
Thái
cũng
thu
hút
nhiều
người
Hoa
để
chiêm
bái
và
tu
học.
Ngôi
chùa
cổ
nhất
của
Nam
Tông
tại
Mã
Lai
là
chùa
Candaram
ở
Green
Lane,
Penang,
hiện
nay
chùa
này
đổi
sang
làm
Trung
Tâm
Thiền
PG
Mã
Lai
(Malaysian
Buddhist
Meditation
Centre),
chùa
được
xây
dựng
vào
năm
1918.
Đầu
thập
niên
1970,
Thượng
tọa
Abhidhammapalanana,
một
tăng
sĩ
trí
thức
Thái
Lan
đã
đến
trụ
trì
ngôi
chùa
này
và
ngài
bắt
đầu
dạy
về
Thiền
quán
niệm
và
luận
Abhidhamma
cho
Phật
tử
Mã
Lai.
Các
buổi
thuyết
giảng
của
ngài
đã
thu
hút
giới
trẻ
Mã
Lai,
cả
học
sinh
Trung
học
và
sinh
viên
đại
học
đều
đến
tham
dự.
Hiện
nay
sự
nghiệp
hoằng
Pháp
này
được
đệ
tử
của
ngài
thừa
kế
là
Đại
đức
Sujivo,
một
tăng
sĩ
Mã
Lai.
Một
tu
sĩ
Thái
Lan
khác
có
công
truyền
bá
PG
tại
Mã
Lai
là
Thượng
tọa
Silananda,
trụ
trì
chùa
Pin
Wang
ở
Penang
(
chùa
này
xây
dựng
năm
1889)
ngài
cũng
thành
lập
trường
Phật
Pháp
Chủ
nhật
và
dạy
thiền
hằng
tuần
cho
Phật
tử
trong
địa
phương.
So
với
người
Thái
Lan,
cộng
đồng
người
Miến
và
Tích
Lan
thì
nhỏ
hơn.
Người
Miến
Điện
phần
lớn
ở
tỉnh
Penang
và
ngôi
chùa
sinh
hoạt
chính
của
họ
là
Dhammikarama,
xây
dựng
1828,
đây
là
ngôi
chùa
duy
nhất
của
người
Miến
tại
xứ
sở
này.
Chùa
do
Đại
đức
U
Pannavamsa
trụ
trì,
ngài
là
người
làu
thông
về
Tạng
luận
và
Thiền
quán
niệm,
ngài
cũng
cho
mở
trường
Phật
Pháp
chủ
nhật
để
phổ
biến
giáo
lý.
Nhiều
tăng
sĩ
Miến
khác
cũng
có
công
truyền
bá
lời
Phật
dạy
ở227;
Lai
là
các
Đại
đức
Dhammabanchanvud,
Mahasi
Sayadaw,
Sayadaw
U
Pandita,
Sayadaw
U
Janaka,
các
ngài
đến
Mã
lai
vào
cuối
những
năm
1980
và
thành
lập
nhiều
Trung
Tâm
Thiền
Học
ở
Johor,
Perak,
Malacca,
Petaling
Jaya
và
Selangor.
Sự
đóng
góp
chính
cho
PG
Nam
Tông
ở
Mã
Lai
phải
nói
là
đến
từ
phía
các
Tăng
sĩ
người
Tích
Lan.
Phần
lớn
họ
đều
nói
tiếng
Anh
và
được
đào
tạo
trong
môi
trường
Phật
học
chính
quy
tại
quê
nhà.
Các
chùa
Tích
Lan
tập
trung
ở
tỉnh
Penang,
Taiping,
và
hai
chùa
lớn
khác
ở
thủ
đô
Kuala
Lumpur,
những
ngôi
chùa
này
đều
có
số
1ượng
lớn
tín
đồ
người
bản
xứ
nói
tiếng
Anh
đến
tham
học.
Ngôi
chùa
chính
của
PG
Tích
Lan
là
Mahindarama
ở
đường
Kampar,
Penang,
do
Hòa
thượng
A.
Pemaratana
xây
dựng
vào
năm
1918.
Ngôi
chùa
đã
một
thời
nổi
tiếng
là
trung
tâm
tu
học
dưới
sự
dẫn
dắt
của
Trưởng
lão
K.
Gunaratana
Maha
Nayaka
Thera
(1933-1964).
Là
một
pháp
sư
hùng
biện,
ngài
Gunaratana
đã
tổ
chức
nhiều
khóa
tu
học
và
thuyết
giảng
cho
Phật
tử
địa
phương
cũng
như
đi
diễn
giảng
trên
khắp
xứ
Mã
Lai.
Sau
khi
ngài
viên
tịch,
Hòa
thượng
P.
Pemaratana
Maha
Nayaka
Thera
đã
kế
thừa
sự
nghiệp
hoằng
Pháp
tại
ngôi
chùa
này.
Một
trong
những
tăng
sĩ
Tích
Lan
thành
công
nhất
trong
sự
nghiệp
hoằng
Pháp
tại
Mã
Lai
là
Đại
lão
Hòa
thượng
K.
Sri
Dhammananda
Maha
Nayaka
Thera,
sự
xuất
hiện
của
ngài
đã
làm
cho
PG
tại
xứ
sở
này
lật
qua
một
trang
sử
mới.
Ngài
Dhammananda
sinh
năm
1919
và
đến
Mã
Lai
vào
ngày
2
tháng
giêng
năm
1952.
Ngài
thành
lập
ngay
một
Hiệp
Hội
Truyền
Bá
Chánh
Pháp
(Buddhist
Missionary
Society)
vào
năm
1963
và
tổ
chức
thuyết
giảng,
hội
thảo
Phật
Pháp
trên
toàn
quốc.
Bên
cạnh
đó,
ngài
viết
và
xuất
bản
nhiều
tác
phẩm
Phật
học,
đặc
biệt
là
loại
bỏ
những
quan
niệm
sai
lầm
về
PG
cũng
như
quan
điểm
tu
học
của
người
Phật
tử
trong
đời
sống
hằng
ngày.
Các
tác
phẩm
đặc
sắc
như
"Người
Phật
Tử
phải
tin
gì
?"
(What
Buddhists
believe);
"Làm
thế
nào
để
sống
khỏi
sợ
hải
và
lo
lâu"
(How
to
live
without
fear
and
worry);
"Hạnh
Phúc
lứa
đôi"
(A
happy
married
life);
"Thiền
Định
,
con
đường
duy
nhất"
(Meditation,
the
Only
way);
"Kho
báu
của
Chánh
Pháp"
(Treasures
of
the
Dhamma)...
đã
nhanh
chong
thu
hút
mọi
giới
Phật
tử
và
đến
nay
những
tác
phẩm
này
đã
được
dịch
ra
nhiều
thứ
tiếng
trên
thế
giới.
Một
trong
những
đệ
tử
xuất
gia
của
HT.
Dhammananda,
là
Thượng
tọa
Mahinda,
người
có
khả
năng
kế
thừa
sự
nghiệp
to
lớn
của
Bổn
sư.
7.
Phật
Giáo
Nhật
Bản
ở
Mã
Lai:
Phật
giáo
Nhật
Bản
(Thiền
tông
và
Pháp
Hoa
tông)
được
giới
thiệu
ở
Mã
Lai
vào
đầu
những
năm
1960
bởi
các
thương
gia
người
Nhật
đến
làm
việc
tại
Mã
Lai,
hoặc
do
một
số
tổ
chức
của
người
Mã
Lai
sang
Nhật
du
học
rồi
về
nước
thành
lập.
Thập
niên
tám
mươi,
chính
quyền
Mã
Lai
với
chính
sách
"Hướng
về
Phương
Đông"
(Look
East
Policy)
Nhật
Bản
là
một
trong
những
quốc
gia
để
họ
hướng
về
học
hỏi.
Về
công
nghiệp
hóa,
hệ
thống
quản
lý,
đạo
đức
nghề
nghiệp
và
những
thứ
khác
mà
Nhật
Bản
đã
thành
công,
trong
đó
PG
Nhật
Bản
là
một
trong
những
chủ
đề
để
Mã
Lai
nghiên
cứu
và
học
hỏi.
Ngày
nay
Tông
Pháp
Hoa
đều
có
chi
nhánh
ở
các
thành
phố
lớn
của
Mã
Lai,
bao
gồm
Kuala
Lumpur,
Penang,
Ipoh,
Malacca
và
Kuantan.
8.
Phật
Giáo
Tây
Tạng
ở
Mã
Lai:
PG
Tây
Tạng
được
giới
thiệu
ở
Mã
Lai
trễ
nhất
nhưng
lại
được
đại
đa
số
quần
chúng
biết
đến
theo
sau
các
sự
kiện:
giải
thưởng
Nobel
Hòa
Bình
của
Đức
Dalai
Lama
vào
năm
1989;
tác
phẩm
"Tạng
Thư
Sống
Chết"
(Tibetan
Book
of
Living
and
Dying)
của
Lama
Sogyal
Rinpoche;
Phong
trào
giải
phóng
cho
Tây
Tạng
do
các
ca
sĩ,
diễn
viên
nổi
tiếng
của
Hollywood
khởi
xướng,
hai
cuốn
phim
"Bảy
năm
ở
Tây
Tạng"
và
"KunDun"...
đã
làm
khuấy
động
và
thu
hút
mọi
giới
Phật
tử
hay
những
tín
đồ
đạo
khác
ở
Mã
Lai
đều
chú
ý
đến
PG
Tây
Tạng.
Tuy
nhiên
trước
đó,
vào
tháng
12
năm
1980,
Lạt
ma
Gwalya
Karmapa
đã
đến
hoằng
Pháp
tại
Mã
lai.
Sự
xuất
hiện
của
ngài
đã
đánh
dấu
chính
thức
của
sự
truyền
nhập
của
PG
Tây
Tạng
vào
Mã
Lai.
Từ
đó
đến
nay
đã
có
nhiều
Lạt
ma
Tây
Tạng
đến
thuyết
Pháp
và
nhiều
Trung
tâm
tu
học
đã
xây
dựng
rải
rác
ở
khắp
Mã
Lai.
9.
Một
số
Tổ
chức
Phật
giáo
tại
Mã
Lai:
10.
Kết
Luận:
Mặc
dù
Hồi
giáo
là
quốc
giáo
nhưng
con
số
tín
đồ
Phật
giáo
đã
gia
tăng
ở
Mã
Lai
trong
những
thập
niên
qua.
Phật
tử
Mã
Lai
luôn
yêu
chuộng
hòa
bình
và
tinh
tấn
thực
hành
đạo
Pháp.
Cũng
giống
như
Việt
Nam,
PG
Mã
Lai
là
một
hình
ảnh
tổng
hòa
giữa
các
trường
phái
Nam
và
Bắc
Tông,
Thiền
tông
và
Kim
cang
tông
đều
sinh
hoạt
hài
hòa
trong
niềm
tương
kính
để
đem
lại
ánh
sáng
và
bình
yên
cho
xứ
sở.
Rất
nhiều
chùa
chiền
do
Phật
tử
Mã
Lai
đứng
ra
xây
dựng
trong
vòng
hai
mươi
năm
qua.
Nhiều
người
Mã
lai
đã
phát
tâm
xuất
gia
tu
học
và
trở
thành
những
nhà
hành
đạo
và
truyền
đạo
cho
đất
nước.
Nhiều
hội
đoàn
thanh
niên,
Phật
tử
trẻ
tuổi
đã
và
đang
tìm
về
với
ánh
sáng
của
Chánh
Pháp
qua
các
khóa
học
Trường
Phật
Pháp
ngày
chủ
nhật
ở
thủ
đô
Kuala
Lumpur
và
nhiều
thành
phố
khác.
Rõ
ràng
họ
thích
thú
khám
phá
ra
cái
đẹp
trong
lời
Phật
dạy
hơn
là
dựa
theo
truyền
thống
tín
ngưỡng
mà
cha
mẹ
hay
ông
bà
từng
tin
theo.
Tương
lai
của
PG
Mã
Lai
tương
đối
rất
sáng
sủa
với
tầng
lớp,
thế
hệ
trẻ
của
Mã
Lai
đang
hướng
về
Chánh
Pháp,
nhất
là
xuyên
qua
lãnh
vực
giáo
dục
và
từ
thiệm
xã
hội.
Nguyện
cầu
cho
PG
Mã
Lai
đầy
đủ
tiềm
lực,
phương
tiện
và
thuận
duyên
để
chuẩn
bị
bước
vào
thiên
niên
kỷ
mới
với
đầy
niềm
tin
và
hy
vọng
trong
sứ
mệnh
mang
hạnh
phúc
đến
cho
cuộc
đời./.
Tổng
hợp
theo
các
tài
liệu:
-
Dr
Sukumar
Sengupta
(1994),
Buddhism
in
South-East
Asia,
Atisha
Memorial
Publishing
Society,
Calcutta,
-
Benny
Liow
Woon
Khin
(1989),
Buddhist
Temples
and
Associations
in
Penang,
1945-1948,
Journal
of
the
Malaysian
Branch
of
the
Royal
Asiatic
Society,
Vol
LXII
Part
1.
-
Venerable
Sumangalo
?
40
Years
of
Appreciation,
a
collection
of
some
of
Venerable
Sumangalo?s
Dharma
talks
with
biographical
notes
by
Dato?
Khoo
Keat
Soo,
a
free
distribution
publication
of
the
Penang
Buddhist
Association
Dharma
Sunday
School,
undated.
-
Buddhism
in
Malaysia,
Volume
2
(1987),
Young
Buddhist
Association
of
Malaysia,
Buddhist
Digest
Publication
Board.
-
Paul
Croucher
(1989),
Buddhism
in
Australia
1848-1988,
New
South
Wales
University
Press.
-
BUDDHISM
IN
MALAYSIA,
Volume
One,
published
by
YBAM
in
1984.
Unpublished
Notes
on
the
history
and
contemporary
status
of
Buddhism
in
Malaysia
compiled
by
Mr
Yeap
Tor
Hor
&
Kerry
Trembath,
Malaysia
(1999).