Hungary,
một
quốc
gia
ở
miền
trung
Châu
âu,
bắc
giáp
với
Ukraine,
đông
giáp
với
Romania,
Tây
giáp
với
Áo,
và
phiá
Nam
giáp
với
Serbia,
Croatia
và
Slovenia.
Thủ
đô:
Budapset.
Diện
tích:
93.030
km2,
dân
số:
10.550.000
người.
Phật
giáo
là
một
trong
bốn
tôn
giáo
chính
ở
Hungary,
bao
gồm
Gia
Tô,
Tin
lành,
và
Do
Thái.
Theo
các
nhà
Dân
tộc
học
và
Khảo
cổ
học,
người
Hungary
có
nguồn
gốc
phương
Đông.
Trong
các
phong
tục,
tập
quán,
truyền
thuyết
và
nghệ
thuật
dân
gian
của
Hungary
tính
hướng
nội
của
phương
đông
vẫn
còn
sống
động
cho
đến
ngày
nay.
Theo
kinh
nghiệm
hằng
ngày
của
người
Hungary,
các
hiểu
biết
về
Phật
giáo
không
xa
lạ
gì
đối
với
dân
tộc
Hungary
trước
khi
người
Hungary
chinh
phục
vùng
đất
này.
Trong
thời
kỳ
di
dân,
tại
đây
đã
có
những
giống
người
du
mục
gốc
châu
Á,
đáng
kể
nhất
là
bộ
lạc
người
Hun
(một
trong
những
dân
tộc
châu
Á
đã
xâm
lăng
châu
Âu
ở
các
thế
kỷ
4
và
5).
Có
những
bằng
chứng
về
khảo
cổ
mang
các
mẫu
vẽ
trang
hoàng
hình
chữ
Vạn
từ
thời
đó.
Tôn
giáo
cổ
đại
của
người
Hungary
lúc
bấy
giờ
là
Đạo
thờ
cúng
Thần
linh
qua
trung
gian
các
thầy
tế
tự
Shaman
(Shamanism).
Vì
thế
người
ta
cho
rằng
tổ
tiên
người
Hungary
đã
làm
quen
với
Phật
giáo
và
có
lẽ
một
số
người
trong
đó
đã
xem
Phật
giáo
như
tín
ngưỡng
của
họ.
Tính
cách
khoan
dung
trong
vấn
đề
tín
ngưỡng
của
Đạo
Phật
đã
khiến
cho
họ
có
thể
tin
theo
Đạo
Shaman
trước
kia
đã
làm,
chẳng
hạn
như
dân
tộc
Tây
Tạng
và
Mông
Cổ.
Không
may
là
những
di
vật
từ
thời
đó
đáng
lẽ
đã
giúp
cho
chúng
ta
có
thể
giải
đáp
chính
xác
về
vấn
đề
này
lại
bị
phá
hủy
vì
sự
thiếu
khoan
dung
của
một
số
người
quá
khích
Gia
Tô
giáo.
Chúng
ta
có
thể
tìm
thấy
một
vài
vết
tích
về
kiến
thức
Phật
giáo
ở
thế
kỷ
thứ
mười
lăm.
Chính
nhờ
Tiến
sĩ
Zoltán
Takáts
de
Felvincz
,
người
đã
gợi
ý
cho
chúng
ta
đã
quan
tâm
đến
quyển
sách
của
Tiến
sĩ
T.
Kardos
có
tựa
đề
"Kỷ
Nguyên
của
Chủ
Nghĩa
Nhân
Bản
ở
Hungary"
(The
Age
of
the
Humanism
in
Hungary).
Quyển
sách
viết
rằng
ông
Galeotti
(1427-1497),
nhà
thơ
,
một
triết
gia
và
là
một
nhà
thiên
văn
nổi
tiếng
đã
trốn
khỏi
sự
truy
nã
của
chính
quyền
Italy,
đến
lánh
nạn
dưới
triều
đình
vua
Matthias,
nước
Hungary.
Và
tại
nơi
đây
ông
đã
đóng
một
vai
trò
rất
quan
trọng
trong
việc
ông
viết
và
ấn
hành
một
cuốn
sách
nói
về
Đức
Phật
như
một
"Nhà
Hiền
Triết
Ấn
Độ"
và
qua
tài
liệu
này,
chữ
Buddha
(Phật)
có
thể
đã
được
lấy
để
đặt
tên
cho
thủ
đô
nước
Hungary
là
Budapest.
Chúng
ta
biết
rằng
vua
Hungary
Matthias
thời
ấy
thường
xuyên
tranh
luận
với
các
nhà
khoa
học
trong
nước,
vì
vậy,
có
thể
chắc
chắn
rằng
Phật
giáo
đã
là
một
đề
tài
trong
những
cuộc
tranh
luận
ấy.
Sau
nhiều
thế
kỷ
dài,
ký
ức
về
một
quá
khứ
Phật
giáo
xa
xăm
bị
chìm
vào
lãng
quên
lại
bừng
lên
trong
lòng
của
Alexander
Csoma
de
Kroros,
một
nhà
thám
hiểm
người
Hungary,
đã
trải
qua
một
thời
gian
du
hành
trong
vùng
núi
của
miền
tây
Tây
Tạng,
giáo
lý
Đức
Phật
một
lần
nữa
đã
được
khơi
dậy
trong
tâm
hồn
ông.
Csoma
de
Kroros
đã
ghi
lại
nhiều
từ
ngữ
trong
tiếng
Sanskrit,
Pàli
và
Bengali.
Và
những
từ
ngữ
này
đã
biểu
lộ
một
sự
tương
đồng
giữa
chúng
với
một
số
tộc
danh
và
địa
danh
ở
Hungary
ngày
nay.
Tiến
sĩ
Th.
Duka,
nhà
thư
mục
về
A.
Csoma
de
Kroros,
đưa
ra
lời
phỏng
đoán
đáng
lưu
tâm
về
nguồn
gốc
tên
của
thủ
đô
nước
Hungary.
Theo
lời
ông
thì
một
số
ngọn
núi
mà
thành
phố
được
xây
dựng
trên
đó,
dọc
theo
hai
bên
bờ
sông
Danube.
Buda
ở
phía
tây
ngạn
và
Pest
ở
phía
đông
(vùng
đồng
bằng
hạ
lưu),
nơi
đó
có
thể
đã
được
xây
dựng
một
bảo
tháp
hay
một
tượng
Phật
hoặc
có
lẽ
là
một
ngôi
chùa.
Và
vì
thế
vùng
này
đã
nhận
lấy
cái
tên
đó.
Phía
dưới
một
khu
dân
cư
được
dựng
lên,
như
trước
đầy
việc
ấy
đã
xảy
ra
trong
vùng
lân
cận
khu
định
cư
của
các
vị
tămh
sĩ
Phật
giáo
vào
thời
ấy.
Khu
dân
cư
đó
hiện
nay
là
một
phần
của
thủ
đô
và
nó
được
gọi
là
Pest.
Chữ
'Past'
hay
chữ
'Pest'
là
một
từ
của
tiếng
Ba
Tư
có
nghĩa
là
thấp.
Nó
diễn
tả
mối
quan
hệ
về
địa
hình
giữa
Buda
và
Pest;
tức
là
'vùng
thấp
hơn
Buda,
vùng
thấp
hơn
Gompa',
phối
hợp
thành
thủ
đô
Budapest.
Kết
quả
về
công
trình
nghiên
cứu
tiên
phong
của
ông
A.
Csoma
de
Kroros
là
mối
quan
tâm
lớn
lao
đến
Phật
giáo
ở
Hungary
đã
dấy
lên
vào
cuối
thế
kỷ.
Điều
này
được
chứng
minh
qua
văn
học.
Có
nhiều
người
sau
khi
theo
học
Kinh
Phật
đã
bày
tỏ
niềm
tin
Phật
giáo,
và
đã
thành
lập
một
số
cộng
đồng
Phật
giáo
nhỏ
có
tính
cách
riêng
tư.
Những
người
tin
theo
Thuyết
Thần
Bí
(Theosophist)
qua
các
sách
báo
và
bài
giảng
đã
giúp
cho
việc
duy
trì
mối
quan
tâm
về
Phật
giáo.
Một
nhóm
nhỏ
những
người
đi
tìm
Thánh
Đạo
trong
những
năm
ba
mươi
của
thế
kỷ
hai
mươi
này
đã
nỗ
lực
thiết
lập
Tăng
đoàn
lần
đầu
tiên
ở
Hungary.
Năm
1934
ở
đây
vẫn
có
tổ
chức
những
buổi
hội
họp,
nhưng
lại
thiếu
một
nơi
thích
hợp
và
nhiều
khó
khăn
khác
nảy
sinh,
rồi
đến
năm
1935
mối
đe
dọa
thế
chiến
thứ
hai
đến
gần
nên
phong
trào
đã
ngưng
lại.
Ngày
sau
khi
nỗ
lực
đầu
tiên
nhằm
thành
lập
một
tăng
đoàn
ở
Hungary
đã
chấm
dứt,
năm
1937
và
1938
có
những
bức
thư
gởi
từ
Thiên
Tân,
Trung
Hoa
của
một
vị
Hòa
thượng
gốc
Hungary,
trong
thư
Ngài
tuyên
bố
với
bạn
bè
của
mình
về
việc
quay
lại
quê
nhà
để
thành
lập
một
Tăng
đoàn.
Con
người
đặc
biệt
khác
thường
này
đạo
hiệu
là
Trác
Không
(Chao
Kung)
tục
danh
là
Trebits
Lincoln.
Ngài
sinh
năm
1879
tại
Paks,
Hungary.
Từ
những
lá
thư
này
cho
thấy
rõ
rằng
Ngài
có
ý
định
trở
về
Hungary
cùng
với
mười
vị
để
tử
và
hoạt
động
để
phát
triển
Chánh
Pháp.
Nhưng
Chính
quyền
Hungary
thời
ấy
không
cho
phép
Ngài
làm
việc
đó.
Hai
nỗ
lực
ấy
trong
những
năm
ba
mươi,
nhắm
vào
việc
thành
lập
một
tổ
chức
Phật
giáo
ở
Hungary
đã
thất
bại.
Do
duyên
lành
đem
lại,
nỗ
lực
thứ
ba
đã
thành
công
sau
đó,
vào
năm
1931
tiến
sĩ
Ernest
Hetenyl,
chủ
tịch
Hội
PG
Hungary,
viếng
thăm
Ý-Đại-Lợi
với
tư
cách
một
nhà
báo,
trên
đại
lộ
dẫn
đến
thành
phố
Bari
đã
gặp
và
tiếp
xúc
với
một
Tăng
sĩ
Phật
giáo
gốc
người
Đức,
pháp
hiệu
là
Padma.
Vị
đại
đức
này
đã
có
ý
định
mang
Phật
giáo
đến
phát
triển
ở
đất
nước
quê
hương
của
ông
A.
Csoma
Kroros.
Việc
thành
lập
Phân
Hội
Tây
Phương
của
Hội
Arya
Maitreya
Mandala
do
Lạt
ma
Anagàrika
Govinda
(người
Ấn
Độ),
dựa
theo
truyền
thống
của
phái
Kim
Cang
Thừa
ở
Tây
Tạng,
được
công
bố
ở
Sànchi
-
Bhopal,
Ấn
độ
vào
ngày
mùng
02
tháng
11
năm
1952.
Hội
Phật
Giáo
Hungary
đã
gia
nhập
phái
Kim
Cang
Thừa
này
và
hoạt
động
từ
năm
1951.
Hội
tiếp
tục
hoạt
động
trong
phạm
vi
của
mình
và
có
Trung
Tâm
riêng
ở
thủ
đô
Budapest.
Hội
Phật
Giáo
Hungary
đã
công
bố
là
'Trung
Tâm
Đông
Âu'
để
giúp
đỡ
các
tổ
chức
Phật
Giáo
ở
các
nước
làng
giềng.
Đến
năm
1956
(Phật
lịch:
2500)
Hội
Arya
Maitreya
Mandala
đã
thành
lập
Viện
Phật
Học
Quốc
Tế
mang
tên
vị
tiền
bối
Phật
tử
tên
là
Alexande
Csoma
Kroros.
Viện
Phật
Học
này
đã
làm
việc
rất
tích
cực
để
đưa
lời
Phật
dạy
đến
cho
mọi
Phật
tử
Hungary
trong
mấy
mươi
năm
qua.
Trong
ba
thập
niên
sáu,
bảy
và
tám
mươi,
Phật
giáo
Hungary
dường
như
không
phát
triển
vì
thể
chế
chính
trị
tại
xứ
sở
này
không
ưu
đãi
cho
tôn
giáo.
Theo
sau
sự
sụp
đổ
của
Liên
Xô
vào
tháng
12
năm
1991,
các
nước
Trung
và
Đông
Aâu
dần
dần
ổn
định
lại
chế
độ
chính
trị
và
kinh
tế,
những
cải
cách
xã
hội,
văn
hoá,
tôn
giáo
đã
được
quan
tâm
và
tiến
hành
một
cách
nhanh
chóng
và
có
hiệu
quả.
Riêng
về
phía
Phật
giáo
thì
đầu
năm
1992,
tại
thủ
đô
Budapest,
Giáo
Hội
Phật
Giáo
Hungary
đã
thành
lập
một
trường
Trường
Cao
Đẳng
Pháp
Môn
Phật
Giáo
(
The
Gate
of
Dharma
Buddhist
College)
với
120
sinh
viên
Hungary
ghi
danh
và
học
khoá
đầu
tiên
.
Ông
Farkas
Pal,
50
tuổI
,
hiệu
trưởng
của
Trường,
cho
biết
rằng,
trước
đây
dưới
chế
độ
Cộng
Sản,
có
nhiều
sự
hạn
chế
và
phân
biệt
đối
với
hầu
hết
các
tôn
giáo
tại
Hungary.
Nhưng
sau
khi
dân
chủ
được
thiết
lập
trên
xứ
sở
này
thì
mọi
thứ
đều
thay
đổi,
nhất
là
về
mặt
tự
do
tín
ngưỡng.
Ngày
trước,
Hungary
chỉ
có
bốn
Đạo
được
chính
quyền
công
nhận,
còn
những
tôn
giáo
khác
kể
cả
Phật
giáo
thì
không
được
thừa
nhận.
Tiền
thân
của
Trường
Cao
Đẳng
Phật
Học
này
là
Viện
Nghiên
Cứu
Đông
Phương
(Institute
of
Oriental
Studies),
ba
trong
số
những
người
đứng
ra
thành
lập
Trường
Phật
học
này
là
thành
viên
của
Ban
Điều
Hành
Viện.
Tất
cả
các
vị
ấy
đều
là
những
người
có
tâm
huyết
và
muốn
phục
hưng
Phật
giáo
tại
Hungary.
Ông
Farkas
Pal
cũng
cho
biết
chương
trình
học
và
dạy
tại
Trường
rất
nghèo
nàn
vì
phải
tuỳ
thuộc
vào
nguồn
tài
chánh.
Trường
tổ
chức
dạy
các
cổ
ngữ
PG
khác
nhau
như
Sanskrit,
Hán
cổ,
Tạng
ngữ
và
Nhật
ngữ.
Tuy
nhiên
ông
Pal
lạc
quan
cho
biết
rằng:''dù
tài
chánh
chúng
tôi
rất
eo
hẹp,
nhưng
chúng
tôi
có
nhiều
giáo
sư
giỏi
và
làm
việc
rất
tận
tâm.
Lúc
đầu
tất
cả
đều
làm
việc
không
lương.
Nhưng
gần
đây
trường
đã
đuợc
chính
quyền
quan
tâm
và
giúp
cho
một
số
ngân
quỹ
để
trả
lương
cho
giáo
viên.
Chúng
tôi
hy
vọng
Trường
sẽ
tiếp
tục
nhận
được
sự
ủng
hộ
này
để
chúng
tôi
tiếp
tục
sứ
mạng
của
mình''.
Giáo
Hội
Phật
Giáo
Hungary,
Viện
Phật
Học
Quốc
Tế
và
mới
đây
là
Trường
Cao
Đẳng
Phật
Học
đã
giúp
cho
Phật
giáo
Hungary
chuyển
tiếp
qua
một
giai
đoạn
mới,
đẩy
mạnh
công
cuộc
truyền
bá
giáo
pháp
thâm
diệu
của
Đức
Phật
đến
cho
bất
cứ
ai
muốn
bước
vào
lộ
trình
Giác
ngộ,
thể
hiện
mọi
giá
trị
văn
hóa
của
phương
đông
cùng
ý
nghĩa
thật
sự
của
nó,
ngỏ
hầu
phá
tan
những
ảo
tưởng
và
vô
minh,
làm
cho
con
người
tốt
hơn
và
cao
thượng
hơn
trong
tinh
thần
hướng
đến
phẩm
giá
nhân
bản,
tình
yêu
thương,
hòa
ái,
an
lạc
và
hiểu
biết
lẫn
nhau
vì
mục
đích
phồn
vinh
và
hạnh
phúc.
(Theo
Tạp
chí
Dharma
World
tháng
10/1998
và
Buddhists
For
Peace
tháng
11/1986)