Ái
Nhĩ
Lan
(Ireland)
là
một
quốc
gia
nằm
ở
miền
Bắc
châu
Âu,
thủ
đô
Dublin,
với
diện
tích
70.280
km2,
dân
số
3.720.000
người.
Ngôn
ngữ
chính
là
Anh
và
Ái
Nhĩ
Lan.
Phật
giáo
là
một
trong
tám
tôn
giáo
(bao
gồm:
Ca
tô
giáo,
Anh
giáo,
Tin
lành,
Do
thái
giáo,
Bahai,
Hồi
giáo,
Ấn
giáo,
Phật
giáo)
có
mặt
tại
Ái
Nhĩ
Lan.
Trong
một
cuộc
thống
kê
gần
đây
tại
Ái
Nhĩ
Lan,
có
khoảng
1.500
người
tự
nhận
mình
là
Phật
tử,
phần
lớn
trong
số
đó
đều
theo
truyền
thống
Phật
giáo
Tây
Tạng
(PG
TT)
và
PG
Nam
tông.
Tính
đến
nay
có
khoảng
15
tự
viện
và
Trung
Tâm
Phật
giáo
trên
khắp
Ái
Nhĩ
Lan
và
Bắc
Ái
Nhĩ
Lan.
Phật
giáo
được
truyền
vào
Ái
Nhĩ
Lan
vào
đầu
thập
niên
bốn
mươi
của
thế
kỷ
này,
do
công
của
những
nhà
truyền
giáo
cư
sĩ
người
Anh
thuộc
Hội
Thiện
Hữu
Phật
Giáo
Phương
Tây
(The
Friends
of
the
Western
Buddhist
Order).
Hội
này
đã
xây
dựng
một
Trung
tâm
PG
tại
thủ
đô
Dublin
vào
năm
1944
với
mục
đích
đưa
lời
Phật
dạy
vào
thế
giới
phương
Tây.
Chủ
trương
của
Hội
này
kết
hợp
nhiều
truyền
thống
Phật
giáo
ở
phương
Đông
để
mang
lại
những
lợi
ích
thiết
thực
cho
xã
hội
phương
Tây.
Hiện
tại
Hội
này
vẫn
còn
hoạt
động
mạnh.
Đến
năm
1977,
Tu
viện
Samyedzong
được
thành
lập
do
nhu
cầu
ngày
càng
đông
của
người
Phật
tử
tại
nơi
này.
Thành
viên
ban
đầu
của
tu
viện
phần
lớn
là
người
theo
Ái
Nhĩ
Lan
và
người
theo
đạo
Ky
Tô.
Họ
đến
với
tu
viện
trước
hết
là
tò
mò
hơn
là
học
hỏi,
vì
họ
quá
chán
ngán
những
cảnh
xung
đột
giữa
các
tôn
giáo
tại
xứ
sở
này.
Lần
hồi
họ
phát
hiện
ra
rằng
trong
Phật
giáo
có
một
cái
gì
đó
rất
bao
dung
và
thoải
mái
trong
cách
xử
thế
của
người
tín
đồ
Phật
giáo
đối
với
người
theo
đạo
khác.
Họ
tìm
thấy
ở
đạo
Phật
có
một
sự
hài
hòa
và
sẵn
sàng
hợp
tác
với
tôn
giáo
khác
để
có
thể
mang
lại
sự
bình
an
và
công
bằng
cho
xã
hội.
Đây
là
một
trong
những
thuận
lợi
của
Phật
giáo
khi
được
truyền
sang
những
vùng
đất
mới
như
Ái
Nhĩ
Lan
này.
Vì
đây
là
trung
tâm
có
tăng
sĩ
hoạt
động
đầu
tiên
tại
Ái
Nhĩ
Lan,
cho
nên
nó
thu
hút
rất
nhiều
sắc
dân
khác
nhau
kéo
đến
như
Tây
Tạng,
Trung
Hoa,
Việt
Nam
và
người
bản
xứ.
Nhờ
vào
chủ
trương
phóng
khoáng,
không
tông
phái,
chẳng
bao
lâu
Tu
viện
Samydzong
đã
trở
nên
một
trung
tâm
PG
lớn
nhất
tại
Ái
Nhĩ
Lan
trong
việc
truyền
bá
Chánh
Pháp.
Hội
viên
thường
trực
hiện
nay
khoảng
từ
ba
đến
bốn
trăm
người
đến
Tu
viện
sinh
hoạt
hàng
tuần.
Anh
John
O'Neill,
thư
ký
của
Tu
viện
kể
lại
những
khởi
đầu
của
Tu
Viện
vào
cuối
thập
niên
bảy
mươi:
''Trong
những
năm
đầu,
Samyedzong
gặp
nhiều
khó
khăn
trong
việc
tìm
một
nơi
để
xây
dựng
Trung
tâm
và
cứ
phải
dời
đi
dời
lại
nhiều
nơi
khác
nhau
giữa
Dublin
và
những
thành
phố
lân
cận.
Từ
năm
1981,
mọi
sinh
hoạt
tụng
kinh,
ngồi
thiền,
nghe
pháp
đều
diễn
ra
trong
một
ngôi
chánh
điện
và
một
thư
viện
nhỏ
trong
một
căn
nhà
ở
Inchicore.
Tuy
nhiên,
các
cuộc
hoằng
Pháp
vẫn
được
tổ
chức
khắp
các
nơi
ở
Ái
Nhĩ
Lan
như
tỉnh
Bray,
Galway
và
Waterford.
Từ
năm
1977
đến
1993,
Tu
viện
đã
tổ
chức
tất
cả
được
sáu
mươi
chuyến
đi
hoằng
Pháp
trên
khắp
Ái
Nhĩ
Lan''.
Năm
1991,
Tu
viện
góp
phần
thành
công
với
chương
trình
lễ
nhạc
truyền
thống
của
Tây
Tạng
và
Mông
Cổ
trong
dịp
cung
đón
Đức
Đạt
Lai
Lạt
Ma
viếng
thăm
Ái
Nhĩ
Lan.
Tu
viện
cũng
đã
bảo
trợ
cho
bảy
tăng
sĩ
Tây
Tạng
đang
theo
đuổi
chương
trình
Cao
học
tại
Ấn
Độ,
và
Tu
viện
cũng
đã
ấn
tống
nhiều
kinh
sách
phổ
biến
cho
mọi
giới
độc
giả
ở
đây.
Tu
viện
cũng
được
mời
nói
chuyện
trên
hệ
thống
truyền
thông
đại
chúng
và
được
mời
diễn
thuyết
tại
nhiều
trường
học
và
nhiều
viện
nghiên
cứu
khác
nhau
ở
Ái
Nhĩ
Lan.
Đến
tháng
giêng
năm
1994,
Tu
viện
mua
được
một
tòa
nhà
lớn
tại
trung
tâm
thành
phố
Kilmainham
và
Tu
viện
được
dời
về
đây.
Tòa
nhà
chỉ
được
sửa
sang
lại
chút
đỉnh
cho
phù
hợp
với
Tu
viện
và
sự
tu
học
được
thiết
lập
trở
lại
như
cũ
mà
không
có
một
sự
xáo
trộn
nào.
Hiện
tại,
Tu
viện
đang
theo
đuổi
một
chương
trình
tu
học
như
sau:
thứ
ba
từ
8
giờ
tối:
ngồi
thiền
và
thảo
luận
về
triết
học
Phật
giáo,
bao
gồm
cả
việc
hỏi
và
giải
đáp;
thứ
năm
từ
8
giờ
tối,
lớp
giáo
lý
cho
người
sơ
cơ,
thảo
luận,
tọa
thiền
và
trà
đạo;
sáng
thứ
bảy
từ
9
giờ:
lớp
giáo
lý,
nghi
thức
và
thiền
tập
theo
truyền
thống
của
PG
Tây
Tạng.
Người
lãnh
đạo
tinh
thần
Phật
giáo
Ireland
nói
chung
và
Tu
viện
Samtdzong,
là
Thượng
toạ
Akong
Rinpoche,
một
tăng
sĩ
người
Tây
Tạng.
Ngài
xuất
gia
năm
1941,
lúc
chỉ
mới
hai
tuổi
sau
khi
được
thừa
nhận
là
hậu
thân
của
vị
trụ
trì
chùa
Dolma
Lhakang
ở
Tây
Tạng.
Ngài
đã
được
nuôi
dạy
rất
kỹ
theo
truyền
thống
PGTT
để
có
thể
trở
thành
nhà
truyền
giáo
sau
này.
Ngài
cũng
được
đào
tạo
như
một
bác
sĩ
để
chữa
bệnh
theo
truyền
thống
y
học
Tây
Tạng.
Năm
1959,
ngài
đã
lánh
nạn
khỏi
quê
hương
của
mình
và
sang
tị
nạn
tại
Ấn
Độ
khi
quân
lính
Trung
Hoa
xâm
chiếm
Tây
Tạng.
Ngài
tiếp
tục
tu
học
tại
Ấn
cho
đến
đầu
những
năm
sáu
mươi,
ngài
bắt
đầu
chuyến
hoằng
Pháp
đến
châu
Âu.
Sau
chuyến
du
hóa
này,
ngài
đã
xây
dựng
Tu
viện
Samye
Ling
tại
Tô
Cách
Lan
(Scottland),
đây
là
một
những
cơ
sở
truyền
truyền
giáo
đầu
tiên
của
PGTT
ở
phương
Tây
thời
bấy
giờ.
Đại
sư
Akong
Rinpoche
là
một
lạt
ma
tu
theo
Hoàng
Mạo
phái
của
Tây
Tạng.
Ngoài
việc
chăm
nom
hai
cơ
sở
tại
Ái
Nhĩ
Lan
và
Tô
Cách
Lan,
ngài
còn
bận
rộn
cho
những
chuyến
hoằng
Pháp
ở
khắp
châu
Âu
và
đang
xây
dựng
một
số
Trung
tâm
PG
tại
Trung
Âu
và
Nam
Phi.
Một
cơ
sở
Phật
giáo
được
nhiều
người
biết
tại
Ái
Nhĩ
Lan
là
Nhóm
Tu
Thiền
Quán
Niệm
(Insight
Medition
Group),
nhóm
này
thành
lập
vào
năm
1976
tại
thành
phố
Glenageary,
theo
truyền
thống
của
Phật
giáo
Nam
Tông.
Hội
viên
của
nhóm
này
nằm
rải
rác
khắp
Ái
Nhĩ
Lan
và
Anh
quốc.
Hàng
tuần,
vào
tối
thứ
tư
và
thứ
bảy,
từ
8
đến
9
giờ,
đều
có
lớp
dạy
thiền
quán
niệm
(cả
lý
thuyết
lẫn
thực
hành),
thu
hút
rất
nhiều
tín
đồ
đến
tham
dự,
đặc
biệt
gần
đây
có
rất
nhiều
người
theo
đạo
Ky
Tô
cũng
tìm
đến
học
hỏi.
Song
song
với
đà
phát
triển
PG
tại
Ái
Nhĩ
Lan
,
PG
tại
Bắc
Ái
Nhĩ
Lan
cũng
từng
bướùc
thành
lập
và
phát
triển.
Hiện
tại
nơi
này
có
tất
cả
năm
trung
tâm
PG
đang
làm
công
tác
truyền
bá
Chánh
Pháp.
Nổi
bật
nhất
trong
Trung
Tâm
Phật
giáo
Tây
Tạng
Tashi
Khyil,
được
Thượng
tọa
Panchen
Otrul
thành
lập
vào
năm
1990
tại
vùng
Crossgar,
để
làm
nơi
tu
học
cho
tín
đồ
trong
vùng,
đặc
biệt
là
người
Tây
Tạng
và
Ấn
Độ
tập
trung
tại
nơi
này
rất
đông.
Một
trung
tâm
PG
khác
là
Viện
Phật
Học
Asanga,
được
thành
lập
vào
năm
1979
tại
Belfast,
theo
truyền
thống
PG
Theravada.
Hội
viên
thường
trực
hiện
nay
là
50
người,
phần
đông
là
người
Ái
Nhĩ
Lan.
Mỗi
tuần
gặp
nhau
một
lần
vào
ngày
chủ
nhật
từ
11
giờ
đến
13
giờ
để
học
giáo
lý,
tụng
kinh
và
tọa
thiền.
Theo
các
bản
báo
cáo
của
các
cộng
đồng
sắc
tộc,
thì
mọi
người
dường
như
hiền
hòa
hơn
và
ít
gây
hấn
hơn
từ
khi
họ
trở
về
với
PG.
Một
số
vùng
thôn
quê
ở
Ái
Nhĩ
Lan
có
vẽ
chưa
hiểu
gì
nhiều
về
giáo
lý
nhà
Phật
nhưng
điều
mà
ai
cũng
biết
đó
là
tinh
thần
từ
bi
và
trí
tuệ
luôn
được
nuôi
dưỡng
và
khuyến
khích
phát
triển
trong
mọi
cộng
đồng.
Một
lý
do
khác
khiến
cho
người
Ái
Nhĩ
Lan
thích
thú
PG,
bởi
vì
PG
không
nhắm
vào
việc
đi
tìm
và
khuyến
khích
người
khác
đổi
đạo,
đây
là
một
nguyên
tắc
độc
đáo
của
PG
giúp
tránh
khỏi
mọi
xung
đột
và
tôn
trọng
tín
ngưỡng
của
người
bản
xứ.
Một
vài
ý
kiến
cho
rằng
có
một
số
giới
luật
của
PG
hơi
kỳ
lạ
đối
với
đời
sống
vật
chất
và
văn
hóa
của
Ái
Nhĩ
Lan,
tuy
nhiên
đó
không
phải
là
tất
cả.
Như
là
một
cộng
đồng,
PG
tại
Ái
Nhĩ
Lan
vừa
làm
công
tác
truyền
bá
và
bảo
vệ
truyền
thống
vốn
có
của
mình
nhằm
đem
lại
những
nhu
cầu
thiết
thực
cho
xứ
sở
này.
Một
phát
ngôn
viên
của
PG
Ái
Nhĩ
Lan
,
anh
John
O'
Neill
phát
biểu:
''Tôi
tự
hào
để
nói
rằng,
tôi
chưa
bao
giờ
nghe
thấy
bất
kỳ
một
sự
xung
đột,
thù
hằn
nào
xảy
ra
giữa
các
cộng
đồng
Phật
giáo
ở
trên
đất
nước
này''.
Nhìn
chung,
Phật
giáo
tại
Ái
Nhĩ
Lan
so
với
các
quốc
gia
ở
châu
Âu,
như
Đức,
Anh,
Pháp,
thì
vẫn
còn
quá
non
trẻ,
và
phát
triển
một
cách
chậm
chạp
từ
khi
được
truyền
vào,
điều
này
cũng
dễ
hiểu,
vì
thiếu
quá
nhiều
phương
tiện
truyền
bá
cũng
như
quý
tăng
sĩ
không
thường
xuyên
lui
tới
nơi
này,
việc
học
và
tu
Phật
tại
xứ
này
xưa
nay,
phần
lớn
đều
nhờ
vào
các
vị
cư
sĩ
có
tâm
đạo.
Mong
rằng
các
nhà
truyền
bá
Chánh
Pháp
trong
thời
hiện
đại
này
để
tâm
cho
những
xứ
sở
Phật
giáo
quá
non
kém
như
Ái
Nhĩ
Lan
./.
(Tổng
hợp
theo
tài
liệu:
-
ANOTHER
IRELAND,
An
Introduction
to
Ireland
's
Ethnic-Religious
Minority
Communities.
Belfast,
1996)