
Đại Đế Asoka
Xuất bản: Houston 2007
Chùa Pháp Luân
13913 S. Post Oak Rd.
Houston, TX 77045
Soạn giả:
Hộ Giác
---o0o---
Đôi Dòng Cảm
Niệm
Năm 1957, chúng tôi tu học tại cao đẳng Phật học
viện Srisumana Vidyalaya, đồng thời theo học trường Srisumana College,
tỉnh Ratnapura, nước Srilanka. Theo Phật lịch thì năm 1957 là đúng 2500
năm tính theo tuổi thọ 5000 năm giáo pháp của Đức Phật Tổ Thích Ca Mâu Ni.
Chánh phủ Ấn Độ lần đầu tiên mở cửa cho các hành Phật tử trên thế giới
được đến hành hương bốn thánh địa và những địa danh Phật tích chỉ trả nửa
giá tiền trong các tuyến đường xe lửa.
Nhân cơ
hội ngàn năm một thưở và tháng năm là tháng nghỉ hè. Chúng tôi gồm ba tu
sĩ một vị sư Miến Điện, một vị sư Lào và tôi. Trong ba huynh đệ, tôi tương
đối nói được tiếng Anh. Còn hai sư không nói được. Do đó, mọi chủ trương
do tôi đảm nhiệm.
Trong
chuyến hành hương lần đầu tiên này quả thật vô cùng vất vả, vì chưa nắm
vững tuyến đường, giờ giấc, sân ga, phuơng hướng nhất là về đêm. Chưa
thông thạo xe lửa Ấn Độ, chúng tôi nghĩ hạng nhì là quá tốt. Không ngờ
phải chen lấn vô cùng cực khổ lúc lên xe cũng như chỗ ngồi. Có đêm, xe
đang chạy, thức giấc đi vệ sinh, chân tôi bỗng cảm thấy đạp trên vật gì
mềm mềm quan sát kỹ, thì ra trong khi ngồi ngủ, đã có người chui vào nằm
dưới chân mình.
Có một lần
đang ngon giấc, bỗng tiếng loa báo cho biết phải xuống sân ga này, vì tàu
sẽ đi sang tuyến đường khác. Ba chúng tôi lật đật rời tàu nửa khuya.
Phần buồn ngủ, phần chưa biết giờ giấc tuyến đường, phương hướng vì sân ga
Ấn Độ quá rộng, thêm nhiều chục đường rầy chằng chịt rất khó tìm số chuyến
xe sắp tới. Tôi nói với hai huynh đệ ngồi chờ tại chỗ đừng di chuyển vì
nếu lỡ lạc nhau thì vô cùng khổ sở. Sau khi tôi hỏi nơi phòng thông tin
và nắm được giờ giấc, tuyến đường, số chuyến tàu và sân ga sẽ đến, tôi bèn
trở lui tìm hai bạn. Gặp nhau mừng hết lớn. Mới hai giờ khuya, chúng tôi
tìm chỗ ngủ. Người ta nằm ngủ đông nghẹt, những nơi tương đối sạch không
còn, chúng tôi đành trải ba lô chỗ vừa dơ vừa hôi nằm ngủ. Nhờ đã quá
buồn ngủ nên vừa đặt mình nằm xuống là ngủ ngay, không còn nghe mùi thơm
thúi.
Suốt cuộc
hành hương, ngoài phương tiện di chuyển bằng xe lửa, chúng tôi sử dụng mọi
phương tiện như xe bus thỉnh thoảng mới có, xe ngựa, xe kéo, đi bộ. Ăn thì
vào quán bình dân. Một miếng lá chuối làm dĩa. Thức ăn đổ lên trên cơm và
rưới thêm một ít sữa tươi. Lẽ dĩ nhiên ăn bốc.
Một hôm,
trên tuyến đường đến Bồ đề đạo tràng, vì thiếu kinh nghiệm, không tìm được
bất cứ phương tiện di chuyển nào, chúng tôi đành đi bộ. Trời chiều bảng
lảng bóng vàng, chúng tôi cố gắng bước đi trong lo âu và hoang mang vì hai
bên đường vắng vẻ, không nhà cửa, xóm làng. Lại thêm nỗi khổ rất lớn vì
không biết còn bao lâu nữa mới tới Bồ đề đạo tràng. Đêm xuống, chúng tôi
vừa bước đi vừa niệm Phật. Trời lạnh, lòng chúng tôi càng lạnh hơn. Chúng
tôi thầm cầu nguyện xin cho thấy được ánh đèn. Phật lực nhiệm mầu, quả
thật không lâu lắm, một ánh đèn xuất hiện xa xa phía tay mặt. Phấn khởi,
lên tinh thần, chúng tôi ráng đi nhanh tới nơi mới biết, đây là tịnh thất
nhà sư Miến Điện tạm ở cùng với ba người thợ.
Tịnh thất
cao cẳng. Chu vi khỏang bốn thước vuông vức. Vị sư khoảng trên dưới 50
tuổi. Ba người thợ đoán chừng từ 40 đến 55 tuổi. Trước nhà sư, một lò
sưởi thật ấm. Sau khi đảnh lễ và lấy lại tinh thần, tôi may mắn còn nhớ
tiếng Miến điện không nhiều nhưng cũng vừa đủ để xin tá túc một đêm. Tôi
cũng ráng moi chữ trình ngài là tôi từng là kết-tập-viên kỳ kết tập tam
tạng lần thứ sáu tại động nhơn tạo KaBa Eye, Rangoon.
Thượng tọa
rất hoan hỉ và đãi ba huynh đệ chúng tôi mỗi người một tô nước thật ấm có
pha đường, vì chư tăng Miến Điện không uống trà sau ngọ. Tuy là nước ấm
pha đường nhưng chúng tôi cảm thấy ngon lạ lùng, ngon tuyệt. Phần ngồi gần
lò sưởi, lại thêm được uống nước nóng pha đường, chúng tôi cảm thấy vô
cùng sảng khoái. Thượng tọa nhã nhặn cho biết, ngoài dụng cụ thợ mộc và
một số dụng cụ xây cất cộng thêm bốn người, quả thật không còn chỗ cho
chúng tôi ngủ chung trong tịnh thất. Tuy nhiên, thượng tọa cho biết, gần
bên tịnh thất còn ngôi phước xá mới vừa lợp nóc, chung quanh chưa có vách
phên cửa nẻo.. Nghe qua mừng hết lớn. Chúng tôi chỉ cần có chỗ che mưa để
ngủ.
Thượng tọa
cho dụng cụ trải lót. Chúng tôi sử dụng ba lô để nằm cho ấm, lẽ dĩ nhiên
có giăng mùng. Hai huynh đệ ngủ rất say, không còn hay biết chuyện gì xảy
ra bên ngoài. Duy tôi thì giấc ngủ chập chờn nên cảm thấy khí lạnh len
vào trong mùng, lại thêm gió thổi đưa khí âm hàn khiến càng thêm lạnh.
Mặc dù có đắp mền nỉ, tôi không thấy ấm chút nào. Trăn trở, nằm đủ tư
thế, tôi vẫn thấy trong người càng lúc càng lạnh hơn. Tôi ngồi xổm ôm đầu
gối, kéo đứt dây mùng trùm thêm cũng không bớt lạnh. Bụng tôi dần dần
căng cứng. Tôi bắt đầu cảm thấy khó thở, hơi thở càng lúc càng ngắn.
Dường như tử thần lộ mặt và tiến về phía tôi.
Trước thần
chết, tôi vô cùng hoảng sợ và không biết phải làm gì. Thật là một phúc
đức lớn, một quá trình tu tập chỉ, quán qua đề mục hơi thở từ lúc bảy tuổi
đã tác động tư duy: hãy nhất tâm niệm hồng danh Phật. Nếu thực sự được
chết nơi đất Phật thì đó cũng là một diễm phúc. Mặc dù cố gắng nhất tâm
niệm Phật nhưng thiếu áp dụng phương pháp phối hợp theo dõi hơi thở nên
kết quả không tích cực. Ngay lúc ấy, tôi liền quán hơi thở vô ra dài
ngắn. Nhờ thở vô dài, lâu, sâu bền, chắc cũng như khi thở ra đều áp dụng
phương thức chánh niệm, tỉnh giác liên tục trong suốt thời gian ước chừng
mười phút, tôi cảm thấy trong bụng bớt căng, người bớt lạnh. Quá vui
mừng, phấn khởi, tôi kiết già tiếp tục quán niệm hơi thở và, tôi đã ngủ
quên trong tư thế ngồi. Sáng hôm sau, thượng tọa cho điểm tâm thật sớm.
Chúng tôi đảnh lễ thượng tọa rồi ra đi về Bồ đề đạo tràng.
Bốn thánh
địa đều có thạch trụ do Đại đế Asoka cho dựng lên để di lưu những sự kiện
lịch sử liên quan sự thị hiện giáng trần (Lumbini), thị ngộ chánh đẳng
giác (Buddhagaya), thị chuyển pháp luân (Saranath), thị nhập Niết Bàn
(Kusinara).
Tôi thầm
biết ơn sâu sắc những công trình di lưu chánh pháp mà những thạch trụ là
điển hình cụ thể. Nếu không có đại đế Asoka, vị Đại Hộ Pháp mà thành tích
trì truyền Chánh Pháp vô tiền khoáng hậu thì Phật tử trên khắp thế giới
cũng như cá nhân nhỏ bé của tôi làm sao biết được và trực tiếp đến tận nơi
thánh địa hành hương chiêm bái cúng dường mà công đức tác thành những kiếp
sống vĩnh viễn không bao giờ đọa vào khổ cảnh đọa xứ.
Chúng tôi
cũng vô cùng biết ơn các vị tiền nhân hữu công đại chiêm bái như các ngài:
Pháp Hiển, Huyền Trang và Nghĩa Tịnh mà qua sử liệu được chính thức lưu bố
của ngài Pháp Hiển là bộ Pháp Hiển truyện; của ngài Huyền Trang là bộ Đại
Đường Tây Vực Ký; của ngài Nghĩa Tịnh là bộ Nam Hải Ký Qui Nội Pháp truyện
đều có ghi chép thật rõ ràng từng chi tiết: thời gian, không gian, địa
danh, nhân danh, xa gần, cao thấp, rộng hẹp. Những sử liệu hầu hết tương
đồng, khả tín. Thành thật mà nói, nếu không có thạch trụ hoặc thạch pháp
do Đại đế Asoka lưu bố thì ba nhà đại chiêm bái Trung Hoa cũng không biết
phải căn cứ vào đâu để hành hương và ghi chép. Chính sự kiện thực tiễn
này khiến chúng tôi càng cảm phục và tri ân Đại Đế Asoka nhiều hơn.
Còn nhà
khảo cổ người Anh Alexander Cunningham đã gia công khai quật và khám phá
được những di vật đặc thù mà giá trị lịch sử minh chứng, thời gian là dấu
ấn, không gian là kho tàng mà người chủ trương thiết lập là Đại đế Asoka.
Nếu không có những di vật lịch sử do Đại đế sáng tạo thì liệu nhà khảo cổ
Alexander Cunningham có hoàn thành công tác đặc trách.
Chúng tôi
vô cùng biết ơn nhà khảo cổ hữu tài, hữu tâm này. Chính nhờ công trình thù
năng làm hiển lộ sử liệu bị thời gian chôn vùi khá lâu dưới lòng đất mà
giá trị tâm linh vô cùng thiêng liêng suy trọng của đại khối Phật tử năm
châu về mặt tín ngưỡng và, của nhân loại trên thế giới về kiến thức khảo
cổ học và khoa học. Nói cách nào đi nữa thì sự thành công cận đại của nhà
khảo cổ Alexander Cunningham hoàn toàn liên quan công trình lưu bố sử liệu
cổ đại của Đại đế Asoka. Qua cảm nghĩ thực tế này, chúng tôi càng biết ơn
sâu xa, vô cùng ngưỡng phục Đại đế. Cùng chung dòng cảm nghĩ, chúng tôi
không thể không đề cập đến hai vị tiền bối hữu công trong công cuộc đấu
tranh đòi hỏi chính phủ Ấn phải chính thức thừa nhận những thánh địa trọng
yếu, gồm Lumbini nơi thị hiện đản sanh, Buddhagaya nơi thị ngộ chánh giác,
Saranath nơi Đức Phật thị chuyển pháp luân, Kusinara nơi Đức Phật thị nhập
niết bàn và, những thánh tích liên quan đời sống sinh hoạt Phật sự hoằng
dương chánh pháp và cứu độ chúng sanh, đó là Dr. Ambedcar người Ấn Độ, đại
cư sĩ hộ pháp Anagarika Dhammapala người Srilanka.
Chính nhờ
công trình vận động tích cực hợp pháp của hai vị mà những thánh địa và
những thánh tích được chính phủ Ấn Độ chính thức công nhận là thuộc sở hữu
của Phật giáo. Đối với hai vị đại ân nhân này, chúng tôi thiết nghĩ bút
mực không đủ chép ghi, lời lẽ không đủ diễn tả đúng và hết. Chúng tôi vô
cùng biết ơn, niệm ơn và nhớ ơn. Càng nhớ ơn nhị vị, chúng tôi lại càng
vô vàn biết ơn Đại đế Asoka.
Tổng hợp
những dòng cảm nghĩ dẫn thượng, chúng tôi tự thấy có bổn phận phải ghi
chép những gì có liên quan đến Đại đế Asoka dù ít nhiều cũng để tỏ lòng
biết ơn sâu sắc và chân thành đối với một bậc minh quân đại hộ pháp. Nhưng
cũng tự biết với khả năng hạn hẹp sinh ngữ chúng tôi không đủ điều kiện
soạn viết trọn vẹn, đầy đủ tiểu sử vị Đại đế này. Và rồi cuối cùng tâm
nguyện thiết tha ấp ủ trong lòng suốt thời gian hơn 30 năm được thực
hiện. Cách này khoảng 5 năm, trong một chuyến đi Thái Lan thỉnh thêm bộ
đại tạng kinh chữ Thái do chùa Mahadhat ấn hành, nghĩa là chúng tôi đã có
hai bộ đại tạng kinh cũng bằng chữ Thái từ lâu: một bộ bằng nguyên văn
Pali và một bộ bằng Thái ngữ của Pháp-bảo-phường đại học Mahamakut
Rajavidyalay ấn hành; một bộ đại tạng chữ Thái thứ ba của nhà xuất bản Sw
Dhammabhakdi ấn hành.
Chính
trong lần thỉnh Đại tạng kinh thứ tư này, chúng tôi vô cùng vui mừng vì
thỉnh được quyển Chom Chakkavatti Asoka tức “Đại đế Asoka” do tác giả
Vasin Indasara chuyển dịch từ nhiều tác phẩm Anh văn của nhiều tác giả đã
ấn hành từ lâu ở Trung Ấn. Cơ may đến, không dám bỏ qua. Tôi liền bắt
tay phiên dịch. Công trình thường bị gián đoạn vì nhiều lý do ngoài ý
muốn. Tuy nhiên, có khởi hành thì sớm muộn rồi cũng phải đến đích.
Soạn dịch
phẩm này được hoàn tất là nhờ tín nữ Vũ Bạch Tuyết, pháp danh Panna phụ
trách vi tính hai phần tư, phần còn lại nhờ tín nữ Nguyễn Kim Phụng, pháp
danh Diệu Hỷ vừa chuyên trách vi tính vừa trình bày thứ tự nội dung, cùng
như hình bìa quyển sách. Hoà thượng Bửu Phương cẩn duyệt phần chính tả.
Về phương
diện tài chính, ngoài ba tín nữ: Diệu Mỹ hùn phước 500 US, Diệu Huệ hùn
phước 500 US, Diệu Quang (Thụy Sĩ) hùn phước 500 US. Phần còn lại là 2000
US gia đình thiện nam Nguyễn Quốc Hưng pháp danh Minh Tâm phát tâm bảo
trợ. Chính sự trợ duyên thù thắng này tác thành công trình đã tiến hành
khá lâu, nay được thập phần viên mãn.
Chúng tôi
vô cùng cảm kích và tán thán. Thành tâm hồi hướng công đức pháp thí qua
sự hợp tác công, của nhằm hoàn thành tập sách này đến các bậc ân nhân, và
thân nhân đã quá vãng của quý vị được siêu sanh lạc cảnh; còn hiện tiền
được tăng long phước thọ; bản thân và gia quyến được hưởng năm phước lành:
dung sắc, thù thắng, thọ mạnh lâu dài, thân tâm an lạc, sức khoẻ đủ đầy,
trí tuệ minh mẫn.
Nguyện cầu
hồng ân Tam Bảo thùy từ gia hộ thế giới hòa bình, chúng sanh an lạc.
Mùa Thu, năm 2007
Kiến Canh Tuất, Tiết Hàn lộ
Ngày 10 tháng 9 Đinh Hợi
(Nhằm ngày 20 tháng 10)
Hộ Giác
---o0o---
Mục Lục > Phần 1
> Phần 2 > Phần 3
> Phần 4
---o0o---
Vi tính: Quốc Bình -- Trình bày:
Linh Thoại
Cập nhật: 01-9-2008