KINH NHẬP LĂNG GIÀ
- Hán dịch: Thiên
Trúc Tam Tạng Pháp Sư Bồ Ðề Lưu Chi
- Ðời Nguyên Ngụy -
- Việt dịch:
Tuệ Khai cư sĩ -
Phan Rang
Chứng nghĩa: Tỳ Kheo Thích Đỗng Minh
---o0o---
Quyển thứ sáu
PHẨM THỨ NĂM: LƯ CA GIA ÐÀ
Lúc bấy giờ, Thánh giả Ðại Tuệ Bồ tát lại bạch đức Phật rằng:
- Thưa đức Thế Tôn! Một thuở,
đức Như Lai Ứng Chánh Biến Tri nói rằng, đủ thứ biện thuyết của Lô Ca Gia
Ðà, nếu có gần gũi cúng dường người đó thì nhiếp lấy dục thực, chẳng nhiếp
lấy pháp thực. Thưa đức Thế Tôn! Vì sao nói rằng, đủ thứ biện thuyết Lô Ca
Gia Ðà, gần gũi cúng dường, nhiếp lấy dục thực, chẳng nhiếp lấy pháp thực?
Ðức Phật dạy rằng:
- Này Ðại Tuệ! Lô Ca Gia Ðà có
đủ thứ biện tài, ngôn từ, câu cú xảo diệu mê hoặc thế gian, chẳng y vào
như pháp mà nói, chẳng y vào như nghĩa mà nói, chỉ tùy theo sự ưa thích
của tình cảm phàm phu ngu si ở thế gian mà nói việc thế tục, chỉ có ngôn
từ khéo léo, chương cú mỹ diệu làm mất đi chính nghĩa. Này Ðại Tuệ! Ðó gọi
là lỗi của Lô Ca Gia Ðà đủ thứ biện tài lạc thuyết.
Này Ðại Tuệ! Biện tài như vậy
của Lô Ca Gia Ðà chỉ nhiếp lấy phàm phu ngu si của thế gian, chẳng phải
vào pháp tướng như thật mà nói pháp, tự chẳng giác tri (hay biết) tất cả
pháp rơi vào trong nhóm tà kiến nhị biên, tự mất chính đạo, cũng khiến cho
người khác mất. Vậy nên họ chẳng thể lìa khỏi các đường, do chẳng thể thấy
chỉ là tự tâm phân biệt chấp trước ngoại pháp có tướng. Vậy nên chẳng lìa
khỏi hư vọng phân biệt.
Này Ðại Tuệ! Vậy nên ta nói, Lô
Ca Gia Ðà tuy có đủ thứ biện tài xảo diệu ưa nói các pháp nhưng mất chánh
lý nên chẳng được ra khỏi sinh già, bịnh chết, ưu bi khổ não... tất cả khổ
tụ, do y vào đủ thứ danh tự, chương cú, thí dụ, nói khéo để mê hoặc, lừa
dối người.
Này Ðại Tuệ! Thích Ðề Hoàn Nhân
rộng lý giải các luận, tự tạo ra thanh luận (luận về âm thanh). Lô Ca Gia
Ðà đó có một đệ tử chứng được thế gian thông, đi đến cung trời Ðế Thích
kiến lập luận pháp mà nói lên rằng: “Thưa Kiều Thi Ca! Tôi đánh cược chung
với ngài là cùng với ngài luận nghị. Nếu người chẳng đúng thì phải chịu
khuất phục”. Ðể cho tất cả những người trời thấy biết, ông ấy liền lập lời
yêu cầu chung rằng: “Nếu tôi thắng thì ngài cần phải đánh nát bánh xe ngàn
nan hoa của ngài. Nếu tôi chẳng đúng (thua) thì từ đầu đến chân, từng đốt,
từng đốt xương tách rời để đáp tạ cho ngài”. Nói lên lời yếu thệ này rồi,
người đệ tử của Lô Ca Gia Ðà hiện làm thân rồng luận nghi chung với Thích
Ðề Hoàn Nhân. Do luận pháp của ông ấy liền có thể thắng Thích Ðề Hoàn Nhân
kia nên khiến cho trời ấy khuất phục. Ông liền ở trong trời đánh tan nát
chiếc xe mà bánh xe có ngàn nan hoa thành vi trần, rồi liền hạ xuống nhân
gian.
Này Ðại Tuệ! Bà la môn Lô Ca
Gia Ðà với đủ thứ ví dụ tương ứng như vậy... cho đến hiện thân súc sinh y
vào danh tự mê hoặc thế gian, người trời, A tu la... do tất cả chúng sinh
của các thế gian chấp trước pháp sinh diệt, huống gì là đối với loài
người?
Này Ðại Tuệ! Do nghĩa này nên
cần phải xa lìa bà la môn Lô Ca Gia Ðà, vì nhân lời nói của người đó có
thể sinh ra khổ tụ. Vậy nên chẳng nên thân cận cúng dường, cung kính thỉnh
vấn bà la môn Lô Ca Gia Ðà.
Này Ðại Tuệ! Pháp nói ra của bà
la môn Lô Ca Gia Ðà chỉ thấy cảnh giới thân trí hiện tiền, nương vào danh
tự của đời để nói các tà pháp. Này Ðại Tuệ! Luận tạo ra của bà la môn Lô
Ca Gia Ðà có đến trăm ngàn kệ mà đời sau mạt thế phân ra làm nhiều bộ, mỗi
mỗi đều có tên khác, nương vào tự tâm thấy mà tạo ra vậy.
Này Ðại Tuệ! Bà la môn Lô Ca
Gia Ðà không có đệ tử có thể thọ trì luận ấy. Vậy nên đời sau phân làm
nhiều bộ với đủ thứ tên khác nhau.
Này Ðại Tuệ! Các ngoại
đạo.v.v... nội tâm không có như thật giải nên nương vào đủ thứ nhân, đủ
thứ lý giải khác tùy theo tự tâm tạo ra mà vì người nói, chấp trước Tự Tại
nhân.v.v...
Này Ðại Tuệ! Trong sự tạo luận
của tất cả ngoại đạo không như thật pháp, chỉ là tất cả Lô Ca Gia Ðà, đủ
thứ nhân môn (cửa nhân duyên) nói trăm ngàn vạn pháp mà những ngoại đạo đó
chẳng biết là Lô Ca Gia Ðà.
Bồ tát Ðại Tuệ bạch đức Phật
rằng:
- Thưa đức Thế Tôn! Nếu tất cả
ngoại đạo chỉ nói Lô Ca Gia Ðà nương vào đủ thứ danh tự, chương cú, thí dụ
của thế gian mà chấp trước các nhân thì, thưa đức Thế Tôn! Chúng sinh,
trời, người, A tu la của tất cả đất nước trong mười phương tập họp chỗ đức
Như Lai. Ðức Như Lai cũng dùng đủ thứ danh tự, chương cú, thí dụ của thế
gian nói pháp mà chẳng nói tự thân nội trí chứng pháp. Nếu vậy thì cũng
đồng với lời nói của tất cả ngoại đạo, chẳng khác.
Ðức Phật bảo rằng:
- Này Ðại Tuệ! Ta chẳng nói tới
Lô Ca Gia Ðà, cũng chẳng nói rằng, các pháp chẳng lại chẳng đi.
Này Ðại Tuệ! Ta nói, các pháp
chẳng lại chẳng đi.
Này Ðại Tuệ! Sao gọi là lại?
Này Ðại Tuệ! Sở dĩ nói rằng “lại” là gọi sinh tụ đến, do hòa hợp sinh ra
vậy.
Này Ðại Tuệ! Sao gọi là đi? Này
Ðại Tuệ! Sở dĩ nói rằng “đi” là gọi đó là diệt. Này Ðại Tuệ! Ta nói, chẳng
đi chẳng lại là gọi chẳng sinh chẳng diệt.
Này Ðại Tuệ! Ta nói chẳng đồng
với pháp của ngoại đạo kia. Vì sao vậy? Vì do chẳng chấp trước ngoại vật
có không, kiến lập nói đến tự tâm thấy, chẳng trụ hai chỗ, chẳng hành phân
biệt cảnh giới các tướng, do biết như thật tự tâm kiến (thấy) nên chẳng
sinh ra tự tâm phân biệt thấy. Do chẳng phân biệt tất cả tướng mà có thể
vào Không, Vô tướng, Vô nguyện ba cửa giải thoát nên gọi là giải thoát.
Này Ðại Tuệ! Ta nhớ thuở quá
khứ, ở tại một chỗ trụ, bấy giờ có một đại bà la môn Lô Ca Gia Ðà đi đến
chỗ của ta mà thỉnh ta rằng: “Này ông Cù Ðàm! Tất cả tạo tác sao?” Này Ðại
Tuệ! Khi đó ta đáp rằng: “Này Bà la môn! Tất cả tạo tác thì đây là Ðệ nhất
Lô Ca Gia Ðà”. Bà la môn nói rằng: “Này ông Cù Ðàm! Tất cả chẳng tạo tác
sao?”. Thì ta đáp rằng: “Này Bà la môn! Tất cả chẳng tạo tác thì chính là
Ðệ nhị Lô Ca Gia Ðà”. Bà la môn nói rằng: “Như vậy tất cả thường hay tất
cả vô thường? Tất cả sinh hay tất cả chẳng sinh?” Thì ta đáp rằng: “Này Bà
la môn! Chính là Ðệ lục Lô Ca Gia Ðà”.
Này Ðại Tuệ! Lô Ca Gia Ðà lại
hỏi ta rằng: “Này ông Cù Ðàm! Tất cả một chăng? Tất cả khác chăng? Tất cả
đều chăng? Tất cả chẳng đều chăng? Tất cả các pháp y vào nhân sinh ra,
thấy đủ thứ nhân sinh?” Này Ðại Tuệ! Thì ta đáp rằng: “Này Bà la môn!
Chính là Ðệ thập nhất Lô Ca Gia Ðà!”.
Này Ðại Tuệ! Bà la môn đó lại
hỏi ta: “Này ông Cù Ðàm! Tất cả vô ký sao? Tất cả hữu ký sao? Có ngã sao?
Không ngã sao? Có đời này sao? Không có
đời này sao? Có đời sau chăng? Không có đời sau chăng? Có giải thoát
chăng? Không giải thoát chăng? Tất cả trống rỗng chăng? Tất cả
chẳng trống rỗng chăng? Tất cả hư không chăng? Chẳng phải duyên diệt sao?
Niết Bàn sao? Này Cù Ðàm! Tác chăng? Chẳng phải tác chăng? Có trung ấm
chăng? Không có trung ấm chăng?” Này Ðại Tuệ! Thì ta đáp rằng: “Này Bà la
môn! Nói như vậy thì tất cả đều chính là Lô Ca Gia Ðà, chẳng phải lời nói
của ta, chính là pháp đã nói của ông! Này Bà la môn! Ta nói nhân hí luận
hư vọng phân biệt phiền não huân tập từ vô thỉ nên nói ba hữu đó. Do chẳng
giác tri đó chỉ là tự tâm phân biệt thấy có, chẳng phải thấy bên ngoài có
như pháp ngoại đạo”.
Này Ðại Tuệ! Ngoại đạo nói
rằng: “Ngã, căn, ý nghĩa, ba thứ hòa hợp có thể sinh ra trí (biết?)”. Ta
đáp: “Này Bà la môn! Ta thì chẳng như vậy, ta chẳng nói nhân, cũng chẳng
nói không nhân mà chỉ nói tự tâm phân biệt thấy có tướng cảnh giới, năng
thủ. Ta nói nhân duyên giả danh tập họp mà sinh ra các pháp chẳng phải như
Bà la môn các ông và cảnh giới khác, do rơi vào ngã kiến”.
Này Ðại Tuệ! Niết Bàn, hư
không, duyên diệt chẳng thành ba số (?), huống gì là nói rằng, tác có tác,
chẳng tác (làm)?
Này Ðại Tuệ! Lại có Bà la môn
Lô Ca Gia Ðà đến hỏi ta rằng: “Này ông Cù Ðàm! Nhân của ái nghiệp vô minh
ở những thế gian này sinh ra ba hữu hay là không nhân vậy?”. Thì ta đáp
rằng: “Này Bà la môn! Lô Ca Gia Ðà hai pháp này chẳng phải pháp của ta
vậy!”.
Bà la môn lại hỏi ta rằng:
“Này ông Cù Ðàm! Tất cả pháp rơi vào tự tướng hay đồng tướng vậy?”. Thì ta
đáp rằng: “Này Bà la môn! Ðây chính là Lô Ca Gia Ðà, chẳng phải pháp của
ta! Bà la môn ! Chỉ có tâm ý, ý thức chấp trước ngoại vật đều chính là Lô
Ca Gia Ðà, chẳng phải pháp của ta vậy”.
Này Ðại Tuệ! Bà la môn Lô Ca
Gia Ðà lại hỏi ta rằng: “Này ông Cù Ðàm! Vả có pháp chẳng phải Lô Ca Gia
Ðà sao?. Này ông Cù Ðàm! Tất cả ngoại đạo kiến lập đủ thứ danh tự, chương
cú, nhân, thí dụ để mà nói thì đều là pháp của ta!”. Thì ta đáp rằng: “Này
Bà la môn! Có pháp chẳng phải pháp của ông mà chẳng phải chẳng kiến lập,
cũng chẳng phải chẳng nói đủ thứ danh tự, chương cú, cũng chẳng phải chẳng
y nghĩa, y nghĩa nói mà chẳng phải pháp kiến lập của Lô Ca Gia Ðà. Này Bà
la môn! Có pháp chẳng phải Lô Ca Gia Ðà, do các pháp đó, tất cả ngoại đạo
cho đến cả ông chẳng thể rõ biết, do hư vọng chấp trước pháp chẳng thật
bên ngoài, phân biệt hí luận vậy. Sao gọi là xa lìa phân biệt? Là tâm
quan sát có, không, tự tâm thấy tướng như thật giác tri. Vậy nên chẳng
sinh ra tất cả phân biệt, chẳng thủ các cảnh giới pháp bên ngoài, tâm phân
biệt dứt, trụ chỗ tự tại, cảnh giới tịch tịnh. Ðó gọi là chẳng phải Lô Ca
Gia Ðà, là luận pháp của ta, chẳng phải luận của ông! Này Bà la môn! Ta
lược nói ra đó! Do những đâu mà thức chẳng hành, chẳng thủ (lấy), chẳng
thoái, chẳng cầu, chẳng sinh, chẳng chấp trước, chẳng vui, chẳng thấy,
chẳng nhìn, chẳng trụ, chẳng xúc... Ðó gọi là trụ, gọi là khác nghĩa một
(?). Này Bà la môn! Chấp trước đủ thứ tướng, tự ngã hòa hợp ái trước các
nhân thì chính là pháp Lô Ca Gia Ðà của Bà la môn, chẳng phải là pháp của
ta vậy!”.
Này Ðại Tuệ! Bà la môn Lô Ca
Gia Ðà đi đến chỗ ta hỏi pháp như vậy, ta đáp lại Bà la môn đó những lời
nói như trên thì Bà la môn lặng thinh ra đi mà chẳng hỏi sự kiến lập chân
pháp của ta. Lòng Bà la môn Lô Ca Gia Ðà tác khởi ý niệm này: “Samôn Thích
Tử ở ngoài pháp của ta này thật là đáng thương xót! Ông nói tất cả pháp
không nhân, không duyên, không có tướng sinh, chỉ nói rằng, tự tâm phân
biệt thấy pháp. Nếu có thể giác tri tự tâm thấy tướng thì tâm phân biệt
diệt”. Này Ðại Tuệ! Ông nay hỏi ta, vì sao Lô Ca Gia Ðà đủ thứ biện thuyết
thân cận cúng dường, cung kính người đó, chỉ nhiếp lấy dục vị, chẳng nhiếp
lấy pháp vị.
Ngài Ðại Tuệ bạch đức Phật
rằng:
- Thưa đức Thế Tôn! Sao gọi là
Thực cú nghĩa? Sao gọi là Pháp cú nghĩa?
Ðức Phật bảo ngài Ðại Tuệ rằng:
- Hay thay! Hay thay! Hay thay! Này Ðại Tuệ!
Ông mới có thể vì chúng sinh đời vị
lai hỏi han Như Lai hai nghĩa như vậy. Hay thay! Này Ðại Tuệ! Ông hãy lắng
nghe! Lắng nghe! Ta sẽ vì ông mà nói!
Ngài Ðại Tuệ bạch đức Phật
rằng:
- Hay thay! Thưa đức Thế Tôn!
Thưa vâng! Con xin thọ giáo!
Ðức Phật bảo ngài Ðại Tuệ rằng:
- Cái gì là ăn? Là vị ăn tiếp
xúc với vị, ưa cầu phương tiện, khéo ton hót, đắm say vị, chấp trước ngoại
cảnh.... những pháp như vậy gọi là khác nghĩa một, do chẳng thể vào nghĩa
pháp môn cảnh giới không hai.
Lại nữa, này Ðại Tuệ! Gọi là
thực thì nương vào tà kiến sinh ra ấm có chi thể, chẳng lìa khỏi sinh già
bịnh chết ưu bi khổ não, ái sinh ra hữu.v.v... những pháp như vậy gọi đó
là Thực. Vậy nên ta và tất cả chư Phật nói, thân cận cúng dường Bà la môn
Lô Ca Gia Ðà kia thì gọi là được thực vị, chẳng được pháp vị.
Này Ðại Tuệ! Cái gì là pháp vị?
Là như thật có thể biết hai thứ vô ngã; do thấy tướng nhân vô ngã, pháp vô
ngã, vậy nên chẳng sinh ra tướng phân biệt và như thật có thể biết trí
thượng thượng của các địa, bấy giờ có thể lìa khỏi tâm ý, ý thức, vào đất
trí chư Phật thọ vị (ngôi vị), nhiếp lấy tất cả các chỗ cú tận (hết câu?),
như thật có thể biết tất cả chỗ tự tại của chư Phật. Ðó gọi là Pháp vị,
chẳng rơi vào tất cả tà kiến hí luận nhị biên.
Này Ðại Tuệ! Ngoại đạo nói pháp
nhiều khiến cho chúng sinh rơi vào nhị biên, chẳng khiến cho bậc trí giả
rơi vào nhị biên. Vì sao vậy? Này Ðại Tuệ! Những ngoại đạo.v.v... nói
nhiều về đoạn, thường do không nhân nên rơi vào thường kiến, thấy nhân
diệt nên rơi vào đoạn kiến.
Này Ðại Tuệ! Ta nói như thật
thấy, chẳng chấp trước sinh diệt. Vậy nên lời nói của ta gọi là Pháp vị.
Này Ðại Tuệ! Ðó gọi là ta nói về Thực vị và Pháp vị. Này Ðại Tuệ! Ông và
các Bồ tát Mahatát phải học pháp này!
Bấy giờ, đức Thế Tôn một lần
nữa nói kệ rằng:
Ta nhiếp lấy chúng sinh
Y giới ngăn các ác
Trí tuệ, tà kiến diệt
Ba giải thoát lớn thêm.
Ngoại đạo hư vọng nói
Ðều là luận thế gian
Dùng tà kiến nhân quả
Lập luận, chánh kiến không.
Ta lập pháp kiến lập
Lìa hư vọng thấy nhân
Vì các đệ tử nói
Lìa khỏi pháp thế gian.
Chỉ tâm, không ngoại pháp
Do không lòng nhị biên
Pháp năng thủ, khả thủ
Lìa khỏi kiến đoạn, thường.
Chỉ hành xử của lòng
Ðều là thế tục luận.
Nếu hay quán tự tâm
Chẳng thấy các hư vọng
Người lại (lai giả) thấy nhân
sinh
Người đi (khứ giả) thấy quả diệt.
Ði, lại biết thật chân
Chẳng phân biệt hư vọng
Tác - chẳng tác và thường
Vô thường, vật đây, đó.
Pháp như vậy vân...vân...
Ðều là Thế tục luận.
PHẨM THỨ SÁU: NIẾT BÀN
Bấy giờ, Thánh giả Ðại Tuệ Bồ tát bạch đức Phật rằng:
- Thưa đức Thế Tôn! Như lời đức
Phật nói về Niết Bàn thì Niết Bàn là do những pháp gì gọi là Niết Bàn mà
các ngoại đạo mỗi mỗi đều hư vọng phân biệt Niết Bàn?
Ðức Phật bảo Bồ tát Ðại Tuệ
rằng:
- Hay thay! Hay thay! Hay thay!
Này Ðại Tuệ! Ông hãy lắng nghe! Hãy lắng nghe! Ta sẽ vì ông giải nói! Các
ngoại đạo.v.v... hư vọng phân biệt tướng của Niết Bàn. Như sự phân biệt
của ngoại đạo đó thì không phải là Niết Bàn.
Ngài Ðại Tuệ bạch đức Phật
rằng:
- Hay thay! Thưa đức Thế Tôn!
Con xin vâng thọ giáo!
Ðức Phật dạy rằng:
- Này Ðại Tuệ! Các ngoại đạo
chán các cảnh giới, thấy ấm, giới, nhập diệt, các pháp vô thường, tâm, tâm
số pháp chẳng sinh, hiện tiền do chẳng nghĩ nhớ cảnh giới vui quá khứ, vị
lai và hiện tại, chỗ các ấm hết như lửa đèn tắt, đủ thứ gió dừng (?),
chẳng thủ lấy các tướng hư vọng phân biệt... gọi là Niết Bàn.
Này Ðại Tuệ! Mà ngoại đạo kia
thấy những pháp như vậy sinh ra tâm Niết Bàn, chẳng phải thấy diệt nên gọi
là Niết Bàn. Này Ðại Tuệ! Hoặc có ngoại đạo, từ phương này đến phương kia
thì gọi là Niết Bàn.
Lại có ngoại đạo phân biệt các
cảnh như gió, vậy nên phân biệt gọi là Niết Bàn. Này Ðại Tuệ! Lại có ngoại
đạo nói lời như vầy: “Chẳng thấy cảnh giới năng kiến, sở kiến chẳng diệt
thì gọi là Niết Bàn”.
Lại nữa, này Ðại Tuệ! Lại có,
ngoại đạo nói lời như vầy: “Phân biệt thấy đủ thứ những dị tướng có thể
sinh ra các khổ”. Do tự tâm thấy, hư vọng phân biệt tất cả các tướng, kinh
sợ các tướng, thấy được vô tướng mà thâm tâm ưa thích sinh ra Niết Bàn
tưởng.
Lại nữa, này Ðại Tuệ! Lại có,
ngoại đạo thấy tự tướng đồng tướng của tất cả pháp chẳng sinh ra diệt
tưởng phân biệt các pháp quá khứ, vị lai và hiện tại là có thì gọi là Niết
Bàn.
Lại nữa, này Ðại Tuệ! Lại có
ngoại đạo thấy, ngã, nhân, chúng sinh, thọ mạng, thọ giả... là các pháp
chẳng diệt rồi hư vọng phân biệt thì gọi là Niết Bàn.
Lại nữa, có ngoại đạo khác,
không trí tuệ nên phân biệt tự tính sở kiến, nhân mạng chuyển biến, phân
biệt chuyển thì gọi là Niết Bàn.
Lại nữa, này Ðại Tuệ! Có ngoại
đạo khác nói lời như vầy: “Tội hết nên phước đức cũng hết. Ðó gọi là Niết
Bàn”.
Lại nữa, này Ðại Tuệ! Có ngoại
đạo khác nói rằng: “Phiền não hết, nương vào trí nên gọi là Niết Bàn”.
Lại nữa, này Ðại Tuệ! Có ngoại
đạo khác nói lời như vầy: “Thấy trời Tự Tại tạo tác ra chúng sinh mà hư
vọng phân biệt gọi là Niết Bàn”.
Lại nữa, này Ðại Tuệ! Có ngoại
đạo khác nói rằng: “Các chúng sinh chung nhân đắp đổi mà sinh ra, chẳng
phải do nhân khác tạo tác”. Như những ngoại đạo kia chấp trước vào nhân
chẳng tri, chẳng giác, ngu si, ám độn hư vọng phân biệt gọi là Niết Bàn.
Lại nữa, này Ðại Tuệ! Có ngoại
đạo khác nói chứng Ðạo đế, hư vọng phân biệt gọi là Niết Bàn”.
Lại nữa, này Ðại Tuệ! Có ngoại
đạo khác nói lời như vầy: “Có tác và sở tác mà chung hòa hợp thấy một -
khác, đều - chẳng đều, hư vọng phân biệt gọi là Niết Bàn”.
Lại nữa, này Ðại Tuệ! Có ngoại
đạo khác nói rằng: “Tất cả pháp tự nhiên mà sinh ra, giống như nhà huyễn
thuật làm ra đủ thứ hình tượng, thấy đủ thứ những vật quí báu, gai
nhọn.v.v... tự nhiên mà sinh ra, hư vọng phân biệt gọi là Niết Bàn”.
Lại nữa, này Ðại Tuệ! Có ngoại
đạo khác nói rằng: “Những muôn vật đều chính là thời gian tạo tác, giác
tri chỉ là thời gian mà hư vọng phân biệt gọi là Niết Bàn”.
Lại nữa, này Ðại Tuệ! Có ngoại
đạo khác nói rằng: “Thấy có vật, thấy không vật, thấy vật có không. Như
vậy phân biệt gọi là Niết Bàn”.
Lại nữa, này Ðại Tuệ! Còn bậc
trí giả kiến lập pháp khác nói rằng: “Thấy như thật thì chỉ là tự tâm mà
chẳng thủ trước các cảnh giới bên ngoài, lìa khỏi bốn thứ pháp, thấy tất
cả pháp đúng như pháp đó trụ, chẳng thấy tướng tự tâm phân biệt, chẳng rơi
vào nhị biên, chẳng thấy cảnh giới năng thủ khả thủ, thấy thế gian kiến
lập tất cả chẳng thật mà mê như thật pháp. Do chẳng thủ lấy các pháp nên
gọi đó là thật, do pháp tự nội thân chứng Thánh trí mà như thật biết hai
thứ vô ngã, lìa khỏi hai thứ những cấu bẩn phiền não, thanh tịnh hai
chướng, có khả năng biết như thật tướng thượng thượng địa, vào Như Lai
địa, được Như Huyễn tam muội, xa lìa tâm ý, ý thức, phân biệt những kiến
như vậy.v.v... thì gọi là Niết Bàn.
Này Ðại Tuệ! Lại có các ngoại
đạo.v.v... tà kiến giác quán mà nói các luận chẳng cùng tương ứng với
chánh pháp như thật mà những bậc trí giả xa lìa, quở trách. Này Ðại Tuệ!
Những ngoại đạo như vậy.v.v... đều rơi vào nhị biên hư vọng phân biệt,
không thật là Niết Bàn.
Này Ðại Tuệ! Tất cả ngoại đạo
hư vọng phân biệt Niết Bàn như vậy, không có người trụ thế gian, không có
người vào Niết Bàn. Vì sao vậy? Vì tất cả ngoại đạo y vào tự tâm luận mà
hư vọng phân biệt, không có trí như thật. Như những ngoại đạo kia tự tâm
phân biệt, không có pháp như vậy thì đi lại, lay động không có Niết Bàn
của ngoại đạo như vậy.
Này Ðại Tuệ! Ông và tất cả các
Bồ tát.v.v... nên phải xa lìa Niết Bàn hư vọng của tất cả ngoại đạo.
Bấy giờ, đức Thế Tôn một lần
nữa nói kệ rằng:
Ngoại đạo thấy Niết Bàn
Mỗi mỗi khởi phân biệt
Ðều từ tướng tâm sinh
Không phương tiện giải thoát
Chẳng lìa phược, sở phược (trói
và cái bị trói) Lìa xa phương tiện xong
Tự sinh giải thoát tưởng
Mà giải thoát thật không (có).
Ngoại đạo kiến lập pháp
Ðều khác mọi trí thông
Chúng đều không giải thoát
Vọng phân biệt ngu đần.
Tất cả si ngoại đạo
Tác, sở tác dối nhìn
Vậy nên không giải thoát
Do nói pháp có, không.
Phàm phu ưa hí luận
Chẳng nghe tuệ thật chân
Gốc ba cõi ngôn ngữ
Trí như thật diệt khổ.
Ví như dáng trong gương
Tuy thấy mà chẳng có
Huân tập thấy (trong) lòng
gương
Phàm phu nói có cặp (hai)
Chẳng biết thấy do lòng
Vậy nên, hai phân biệt
Biết như thật chỉ lòng
Phân biệt thì chẳng sinh.
Tâm gọi là đủ
thứ
Năng, khả kiến lìa xong
Thấy tướng không thể thấy
Phàm phu vọng biệt phân.
Ba cõi chỉ vọng tưởng
Ngoại cảnh giới thật không (có)
Vọng tưởng thấy đủ thứ
Phàm phu chẳng biết thông.
Kinh, kinh nói phân biệt
Ðủ thứ khác tự danh
Lìa khỏi ngôn ngữ pháp
Chẳng thể được nói lên.
PHẨM THỨ BẢY: PHÁP THÂN
Lúc bấy giờ, Thánh giả Ðại Tuệ Bồ tát bạch đức Phật rằng:
- Thưa đức Thế Tôn! Thưa đức
Như Lai Ứng Chánh Biến Tri! Nguyện xin ngài diễn nói pháp Tự thân sở chứng
nội giác tri! Do những pháp gì gọi là pháp thân? Con và tất cả các Bồ
tát.v.v... giỏi biết tướng pháp thân của Như Lai để tự thân và người khác
đều vào chỗ không nghi hoặc.
Ðức Phật bảo Bồ tát Ðại Tuệ
rằng:
- Hay thay! Hay thay! Hay thay!
Này Ðại Tuệ! Ông có điều nghi ngờ gì, cứ tùy ý mà hỏi! Ta sẽ vì ông phân
biệt.
Ngài Ðại Tuệ bạch đức Phật
rằng:
- Hay thay! Thưa đức Thế Tôn!
Con xin vâng thọ giáo! - liền bạch đức Phật rằng - Thưa đức Thế Tôn! Thưa
đức Như Lai Ứng Chánh Biến Tri! Pháp thân là tác pháp hay chẳng phải tác
pháp vậy? Là chính là nhân hay là chính là quả vậy? Là năng kiến hay là sở
kiến vậy? Là chính lời nói hay là có thể nói vậy? Là chính là trí hay là
sự hay biết (giác) của trí vậy? Những từ cú (lời, câu) như vậy.v.v.... với
pháp thân Như Lai là khác hay chẳng khác vậy?
Ðức Phật dạy rằng:
- Này Ðại Tuệ! Tướng pháp thân
của Như Lai Ứng Chánh Biến Tri thì những từ cú như vậy.v.v... chẳng phải
tác pháp, chẳng phải chẳng tác pháp, chẳng phải nhân, chẳng phải quả. Vì
sao vậy? Vì do nhị biên là có lỗi vậy. Này Ðại Tuệ! Nếu nói rằng,
Như Lai chính là tác pháp thì tức là vô thường. Nếu vô thường thì tất cả
tác pháp nên chính là Như Lai mà Phật Như Lai Ứng Chánh Biến Tri chẳng hứa
(đồng ý) pháp này.
Này Ðại Tuệ! Nếu pháp thân của
Như Lai chẳng phải là tác pháp thì tức là không thân nên nói rằng, có
người tu hành vô lượng công đức tất cả hạnh thì tức là hư vọng.
Này Ðại
Tuệ! Nếu chẳng tác thì nên đồng với sừng thỏ, thạch nữ sinh con.v.v... Do
không tác nhân nên cũng không thân vậy. Này Ðại Tuệ! Nếu pháp chẳng phải
nhân, chẳng phải quả, chẳng phải có, chẳng phải không mà thể của pháp đó
lìa khỏi bốn tướng thì, này Ðại Tuệ! Bốn pháp đó gọi là ngôn thuyết của
thế gian. Này Ðại Tuệ! Nếu pháp lìa khỏi bốn thứ pháp thì pháp đó chỉ có
danh tự như thạch nữ sinh con. Này Ðại Tuệ! Thạch nữ sinh con.v.v... chỉ
là pháp danh tự chương cú nói đồng với bốn pháp. Nếu rơi vào bốn pháp thì
bậc trí giả chẳng chọn lấy. Như vậy, tất cả những câu hỏi Như Lai, kẻ trí
nên biết!
Ðức Phật lại bảo ngài Ðại Tuệ -
Ta nói tất cả các pháp vô ngã. Ông hãy lắng nghe nghĩa của vô ngã! Phàm vô
ngã thì nội thân vô ngã, vậy nên vô ngã! Này Ðại Tuệ! Tất cả các pháp tự
thân là có, tha thân (thân người khác) là không, tựa như trâu, ngựa. Này
Ðại Tuệ! Ví như thân trâu chẳng phải là thân ngựa, ngựa cũng chẳng phải
trâu. Vậy nên chẳng được nói có hay nói không mà tự thể của chúng chẳng
phải là không vậy!?
Này Ðại Tuệ! Tất cả các pháp
cũng lại như vậy, chẳng phải không thể tướng hay có tự tự thể tướng. Phàm
phu ngu si chẳng biết thể tướng các pháp vô ngã, do tâm phân biệt, chẳng
phải tâm chẳng phân biệt.
Này Ðại Tuệ! Như vậy tất cả
pháp trống không, tất cả pháp chẳng sinh, tất cả pháp không thể tướng cũng
vậy.
Này Ðại Tuệ! Pháp thân Như Lai
cũng lại như vậy, ở trong năm ấm chẳng phải một, chẳng phải khác. Này Ðại
Tuệ! Pháp thân Như Lai với năm ấm là một thì tức là vô thường, do năm ấm
chính là pháp sở tác vậy. Pháp thân Như Lai với năm ấm khác thì tức là có
hai pháp, chẳng đồng với thể tướng như hai cái sừng con trâu tương tợ
chẳng khác, dù thấy có hình thể riêng, dài ngắn hơi khác.
Này Ðại Tuệ! Nếu như vậy thì
tất cả các pháp nên không khác tưởng nhưng lại có khác tướng như sừng trái
con trâu khác sừng phải, sừng phải khác sừng trái. Như vậy tướng dài ngắn
đối đãi đều khác biệt. Như hình sắc đủ thứ đó đây sai biệt.
Này Ðại Tuệ! Như vậy, tướng của
pháp thân Như Lai ở trong năm ấm chẳng thể nói một chẳng thể nói khác, ở
trong giải thoát chẳng thể nói một chẳng thể nói khác, ở trong Niết Bàn
chẳng thể nói một chẳng thể nói khác. Như vậy nương vào giải thoát nói tên
tướng của pháp thân Như Lai.
Này Ðại Tuệ! Nếu pháp thân Như
Lai khác giải thoát thì đồng với sắc tướng tức là vô thường. Nếu pháp thân
Như Lai chẳng khác giải thoát thì tức là không sai biệt năng chứng, sở
chứng.
Này Ðại Tuệ! Nhưng mà người tu
hành thì thấy năng chứng và cả sở chứng. Vậy nên chẳng phải một. Này Ðại
Tuệ! Như vậy biết đến cảnh giới khả tri chẳng phải một, chẳng phải khác.
Này Ðại Tuệ! Nếu pháp chẳng phải thường, chẳng phải vô thường, chẳng phải
nhân, chẳng phải quả, chẳng phải hữu vi, chẳng phải vô vi, chẳng phải
giác, chẳng phải bất giác, chẳng phải năng kiến, chẳng phải khả kiến
(thấy), chẳng phải lìa khỏi ấm giới nhập, chẳng phải tức là ấm giới nhập,
chẳng phải danh, chẳng phải cảnh giới, chẳng phải một, chẳng phải khác,
chẳng phải đều, chẳng phải chẳng đều, chẳng phải tương tục, chẳng phải
chẳng tương tục... qua khỏi tất cả các pháp. Nếu qua khỏi các pháp thì chỉ
có cái tên ấy thôi. Nếu chỉ có tên thì pháp đó chẳng sinh ra. Do chẳng
sinh ra nên pháp đó chẳng diệt. Do chẳng diệt nên pháp đó thì như hư không
bình đẳng.
Này Ðại Tuệ! Hư không chẳng
phải nhân, chẳng phải quả! Nếu pháp chẳng phải nhân, chẳng phải quả thì
pháp đó tức là chẳng thể quan sát mà chẳng thể quan sát thì pháp đó qua
khỏi tất cả những hí luận. Nếu qua khỏi tất cả các hí luận thì pháp đó gọi
là pháp thân Như Lai. Này Ðại Tuệ! Ðó gọi là tướng của Pháp thân Như Lai
Ứng Chánh Biến Tri, do qua khỏi tất cả cảnh giới các căn vậy.
Bấy giờ, đức Thế Tôn một lần
nữa nói kệ rằng:
Lìa các pháp và căn
Phi quả cũng phi nhân
Ðã lìa giác, sở giác
Năng, khả kiến lìa luôn
Năm ấm và các duyên
Phật không có thấy pháp
Nếu không có thấy
pháp
Làm sao mà biệt phân?
Phi tác, phi bất tác
Phi quả cũng phi nhân
Chẳng (phi) ấm, chẳng lìa ấm
Chỗ khác cũng chẳng còn.
Những tâm nào phân biệt
Phân biệt chẳng thấy được
Pháp đó chẳng phải không
Các pháp, pháp tự ấy
Trước có nên nói không
Trước không nên nói có
Vậy nên chẳng nói không
Cũng chẳng được nói có
Mê theo ngã, vô ngã
Chỉ chấp trước âm thanh
Ðó rơi vào nhị biên
Vọng nói hoại thế gian
Lìa khỏi tất cả lỗi
Thì thấy pháp ta liền.
Ðó gọi là Chánh kiến
Chẳng bài báng Thế Tôn (Phật).
Lúc bấy giờ, Thánh giả Ðại Tuệ
Bồ tát lại bạch đức Phật rằng:
- Thưa đức Thế Tôn! Nguyện xin
đức Thế Tôn vì con giải nói! Nguyện xin đấng Thiện Thệ vì con giải
nói! Ðức Như Lai đâu đâu cũng nói rằng, các pháp chẳng sinh chẳng diệt.
Thưa đức Thế Tôn! Ngài lại nói
rằng, chẳng sinh chẳng diệt thì gọi là pháp thân của Như Lai, nên nói
chẳng sinh chẳng diệt.
Thưa đức Thế Tôn! Ðức Như Lai
nói rằng, chẳng sinh chẳng diệt thì vì là không pháp nên gọi là chẳng sinh
chẳng diệt. Vì là Như Lai khác gọi là chẳng sinh chẳng diệt mà Phật Như
Lai thường nói, các pháp chẳng sinh chẳng diệt do lìa khỏi pháp kiến lập
có không vậy.
Thưa đức Thế Tôn! Nếu tất cả
pháp chẳng sinh thì đây chẳng được nói rằng, tất cả pháp, do tất cả pháp
chẳng sinh vậy. Nếu y vào pháp khác có danh này thì thưa đức Thế Tôn nên
vì con mà nói.
Ðức Phật bảo Bồ tát Ðại Tuệ
rằng:
- Hay thay! Hay thay! Hay thay!
Này Ðại Tuệ! Ông hãy lắng nghe! Lắng nghe! Ta sẽ vì ông giải nói!
Bồ tát Ðại Tuệ bạch đức Phật
rằng:
- Hay thay! Thưa đức Thế Tôn!
Vâng con xin thọ giáo!
Ðức Phật dạy rằng:
- Này Ðại Tuệ! Pháp thân Như
Lai chẳng phải là không vật chất, cũng chẳng phải là tất cả pháp chẳng
sinh chẳng diệt, cũng chẳng được nói rằng, y vào nhân duyên mà có, cũng
chẳng phải hư vọng nói chẳng sinh chẳng diệt. Này Ðại Tuệ! Ta thường
nói rằng, chẳng sinh chẳng diệt thì gọi là Ý sinh thân. Pháp thân Như Lai
chẳng phải là cảnh giới của các ngoại đạo, Thanh Văn, Bích Chi Phật, Bồ
tát trụ ở Thất Ðịa cũng chẳng phải cảnh giới. Này Ðại Tuệ! Ta nói chẳng
sinh chẳng diệt thì tức là tên khác của Như Lai. Này Ðại Tuệ! Ví như Thích
Ðề Hoàn Nhân, Ðế Thích, Vương, Bất Lan Ðà La, Thủ Trảo, Thân Thể, Ðịa, Phù
Di, Hư Không, Vô Ngại.v.v... những danh hiệu như vậy, danh thì khác mà
nghĩa chỉ một, chẳng y vào nhiều danh hiệu mà nói rằng, có nhiều thể Ðế
Thích vậy!
Này Ðại Tuệ! Ta cũng như vậy, ở
trong thế giới Ta Bà, với ba atăngkỳ trăm ngàn danh hiệu, phàm phu tuy nói
mà chẳng biết là danh hiệu khác của Như Lai.
Này Ðại Tuệ! Hoặc có chúng sinh
biết Như Lai, có người biết Tự Tại, có người biết Nhất Thiết Trí, có người
biết đấng cứu thế gian, có người biết là đấng đạo sư, có người biết là bậc
Tướng, có người biết là bậc Thắng, có người biết bậc vi diệu, có người
biết là đấng Thế Tôn, có người biết là đức Phật, có người biết là Ngưu
Vương, có người biết là Sư Tử, có người biết là tiên nhân, có người biết
là đấng Phạm, có người biết là Na la diên (lực sĩ), có người biết là bậc
Thắng (lặp lại), có người biết là Ca tỳ la, có người biết là bậc Cứu Cánh,
có người biết A lị sấc ni di, có người biết là mặt trăng, có người biết là
mặt trời, có người biết là Bà lâu na, có người biết là Tỳ gia ta, có người
biết là Ðế Thích, có người biết là bậc Lực, có người biết là Biển, có
người biết là bậc chẳng sinh, có người biết là bậc chẳng diệt, có người
biết là đấng Không, có người biết là Chân Như, có người biết là Thật Tế,
có người biết là Niết Bàn, có người biết là Pháp giới, có người biết là
Pháp tính, có người biết là đấng Thường Hằng, có người biết là bậc Bình
Ðẳng, có người biết là đấng Bất Nhị, có người biết là Vô Tướng, có người
biết là Duyên, có người biết là Phật thể, có người biết là Nhân, có người
biết là giải thoát, có người biết là Ðạo, có người biết là Thật Ðế, có
người biết là Nhất Thiết Trí (lặp lại!), có người biết là Ý sinh thân...
Này Ðại Tuệ! Ðủ thứ những danh hiệu Như Lai Ứng Chánh Biến Tri như vậy ở
trong thế giới Ta Bà và các thế giới khác, hàng ba atăngkỳ trăm ngàn danh
hiệu chẳng thêm chẳng bớt mà chúng sinh đều biết, như vầng trăng trong
nước chẳng vào chẳng ra mà các phàm phu chẳng hay chẳng biết do rơi vào
trong pháp nhị biên tương tục, nhưng họ đều cung kính cúng dường cho ta mà
chẳng khéo lý giải được danh tự, câu nghĩa, thủ lấy tướng sai biệt, chẳng
thể tự biết, chấp trước danh tự nên hư vọng phân biệt, chẳng sinh chẳng
diệt gọi là Không pháp mà chẳng biết đó là tướng sai biệt của danh hiệu
Như Lai, như Nhân Ðà La, Ðế Thích, Vương, Bất Lan Ðà La.v.v... Do chẳng
thể quyết định danh hiệu cùng chân thật mà thuận theo danh tự âm thanh thủ
lấy pháp cũng lại như vậy.
Này Ðại Tuệ! Vào đời vị lai,
phàm phu ngu si nói lời như vầy: “Như danh nghĩa cũng như vậy” mà họ chẳng
biết khác danh có nghĩa. Vì sao vậy? Vì do nghĩa không có thể tướng. Họ
lại nói lời này: “Chẳng khác danh tự âm thanh có nghĩa” mà danh tự âm
thanh tức là nghĩa. Vì sao vậy? Vì họ chẳng biết thể tướng của danh tự.
Này Ðại Tuệ! Người ngu si kia
chẳng biết âm thanh tức là sinh, tức là diệt, còn nghĩa thì chẳng sinh
diệt vậy.
Này Ðại Tuệ! Tính của âm thanh
rơi vào danh tự mà nghĩa thì chẳng đồng rơi vào danh tự, do lìa khỏi có
không nên vô sinh, vô thể.
Này Ðại Tuệ! Như Lai nói pháp
nương vào tiếng của mình mà nói, chẳng thấy các chữ là có không nên chẳng
chấp trước danh tự. Này Ðại Tuệ! Nếu người chấp trước danh tự mà nói thì
người đó chẳng gọi là người giỏi nói pháp. Vì sao vậy? Vì pháp không danh
tự vậy.
Này Ðại Tuệ! Vậy nên trong Kinh
ta nói, các đức Phật Như Lai thậm chí chẳng nói một chữ, chẳng bày một
danh. Vì sao vậy? Vì các pháp không có chữ, y vào nghĩa không nói, y vào
phân biệt thì nói vậy.
Này Ðại Tuệ! Nếu chẳng nói pháp
thì pháp luân của các đức Phật Như Lai đoạn diệt. Pháp luân đoạn diệt thì
cũng không có Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ tát mà không có Thanh Văn, Duyên
Giác, Bồ tát thì vì những người nào? Nói những pháp gì? Những việc gì? Này
Ðại Tuệ! Vậy nên Ðại Bồ tát chẳng nên chấp trước lời nói, danh tự. Này Ðại
Tuệ! Danh tự chương cú chẳng phải là định pháp, nương vào tâm của chúng
sinh mà nói. Các đức Phật Như Lai tùy theo niềm tin của chúng sinh mà nói
các pháp. Vì khiến cho họ xa lìa tâm ý, ý thức nên chẳng nói Tự thân nội
chứng Thánh trí kiến lập chư pháp, khiến cho họ có thể biết như thật tất
cả tướng tịch tịnh của các pháp, chỉ thấy tự tâm giác ngộ sự biết pháp,
lìa khỏi hai tướng phân biệt của tâm... các đức Phật chẳng nói như vậy.
Này Ðại Tuệ! Ðại Bồ tát y vào
nghĩa chẳng y vào lời nói. Nếu thiện nam tử, thiện nữ nhân tùy theo văn tự
mà nói thì rơi vào tà kiến, tự thân hoại mất đệ nhất nghĩa đế, cũng hoại
mất người khác, khiến cho họ chẳng giác tri.
Này Ðại Tuệ! Các ngoại
đạo.v.v... đều y vào tự luận dị kiến mà nói năng. Này Ðại Tuệ! Ông nên
giỏi biết tướng của tất cả Ðịa, giỏi biết Lạc thuyết biện tài, văn chương
từ cú. Giỏi biết tướng của tất cả các Ðịa rồi, ông tiến đến thủ lấy biện
tài Danh cú Lạc Thuyết, giỏi biết nghĩa tướng của các pháp tương ứng. Bấy
giờ, tự thân đối với niềm vui pháp vô tướng mà hưởng thọ lạc thọ, trụ ở
trong Ðại Thừa, khiến cho chúng sinh biết.
Này Ðại Tuệ! Chọn lấy Ðại Thừa
thì tức là nhiếp thọ các đức Phật, Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ tát. Nhiếp
thọ các đức Phật, Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ tát thì tức là nhiếp thọ tất
cả chúng sinh. Nhiếp thọ tất cả chúng sinh thì tức là nhiếp thọ pháp tạng
thắng diệu. Nhiếp thọ pháp tạng thì tức là chẳng đoạn tuyệt Phật chủng.
Chẳng đoạn Phật chủng thì chẳng đoạn tất cả chỗ sinh ra thắng diệu.
Do chỗ thắng diệu đó là nơi các Bồ tát nguyện sinh ra ở đó nên gặp các
chúng sinh trong pháp Ðại Thừa, với mười lực tự tại mà tùy theo hình sắc
của các chúng sinh và các sử mà có thể tùy theo ứng hiện nói pháp như
thật.
Này Ðại Tuệ! Pháp như thật là
gì? Như thật pháp là chẳng khác, chẳng sai, chẳng thủ, chẳng xả, lìa khỏi
các hí luận. Ðó gọi là Pháp như thật. Này Ðại Tuệ! Thiện nam tử,
thiện nữ nhân chẳng chấp trước văn tự, âm thanh, do tất cả pháp không có
văn tự vậy.
Này Ðại Tuệ! Ví như có người vì
bày chỉ vật cho người, dùng ngón tay chỉ bày mà người ngu liền chấp trước
ngón tay, chẳng nhân theo ngón tay để thủ lấy vật được chỉ bày.
Này Ðại Tuệ! Kẻ phàm phu ngu si
cũng lại như vậy, Thanh Văn chấp trước “ngón tay” văn tự, cho đến mạng
chung mà chẳng thể bỏ “ngón tay” văn tự để chọn lấy Ðệ Nhất Nghĩa.
Này Ðại Tuệ! Ví như lúa gạo gọi
là thức ăn của phàm phu mà chẳng giã, chẳng thổi nấu thì chẳng thể ăn
được. Nếu lúa gạo ấy, có người chưa làm thành đồ ăn mà ăn thì gọi là điên
cuồng, cần phải theo thứ lớp... cho đến thổi nấu chín mới thành đồ ăn
được.
Này Ðại Tuệ! Chẳng sinh chẳng
diệt cũng lại như vậy, chẳng tu hạnh phương tiện trí khéo léo thì chẳng
được pháp thân đầy đủ trang nghiêm.
Này Ðại Tuệ! Người chấp trước
danh tự để nói được nghĩa thì như người ngu si kia chẳng biết giã, thổi,
nấu mà nuốt lấy những “hạt thóc” văn tự, chẳng được “món ăn” nghĩa. Do ý
nghĩa này nên phải học đến nghĩa, chớ chấp trước văn tự.
Này Ðại Tuệ! Sở dĩ nói nghĩa là
gọi Niết Bàn, nói danh tự là tướng phân biệt, trói buộc sinh ra lý giải
của thế gian.
Này Ðại Tuệ! Nói đa văn là gọi
phương tiện khéo léo của nghĩa, chẳng phải phương tiện khéo âm thanh.
Này Ðại Tuệ! Nghĩa phương tiện
thì lìa khỏi tất cả tà thuyết của ngoại đạo, cũng chẳng hòa lẫn vào nhau.
Nói như vậy thì tự thân chẳng rơi vào tà pháp của ngoại đạo. Này Ðại Tuệ!
Ðó gọi là đa văn (nghe nhiều, học hiểu nhiều) có phương tiện nghĩa.
Này Ðại Tuệ! Muốn được nghĩa
thì nên phải thân cận bậc trí giả đa văn cúng dường cung kính. Kẻ chấp
trước danh tự thì nên phải lìa xa, chẳng nên gần gũi.
Lúc bấy giờ, Bồ tát Ðại Tuệ
thừa lực chư Phật mà bạch đức Phật rằng:
- Thưa đức Thế Tôn! Ðức Như Lai
Thế Tôn nói, tất cả pháp chẳng sinh chẳng diệt chẳng phải là đặc biệt kỳ
lạ! Vì sao vậy? Vì tất cả ngoại đạo cũng nói, các nhân chẳng sinh chẳng
diệt. Ðức Như Lai cũng nói, hư không, chẳng phải số duyên diệt và cõi Niết
Bàn chẳng sinh chẳng diệt.
Thưa đức Thế Tôn! Các ngoại đạo
cũng nói, y vào các nhân duyên sinh ra các chúng sinh. Ðức Như Lai cũng
nói, vô minh ái nghiệp phân biệt nhân duyên sinh ra các thế gian. Nếu vậy,
đức Như Lai cũng nói nhân duyên danh tự khác nhau, y vào nhân duyên bên
ngoài có thể sinh ra các pháp. Ngoại đạo cũng nói, y vào nhân duyên bên
ngoài mà sinh ra các pháp. Vậy nên đức Như Lai cùng với ngoại đạo nói
không có sai biệt.
Thưa đức Thế Tôn! Ngoại đạo
nhân vi trần, Thắng (?), Tự Tại thiên, Phạm thiên.v.v... chung với chín
thứ nhân duyên bên ngoài mà nói rằng, các pháp chẳng sinh chẳng diệt. Ðức
Như Lai cũng nói, tất cả các pháp chẳng sinh chẳng diệt, có - không chẳng
thể được, do những bốn đại chẳng diệt. Tự tướng chẳng sinh chẳng diệt,
theo đức Phật Như Lai đủ thứ nói khác mà chẳng lìa khỏi lời nói của ngoại
đạo mà các ngoại đạo cũng nói, các Ðại chẳng lìa khỏi Ðại thể. Thưa đức
Thế Tôn! Do nghĩa này nên lời nói của đức Như Lai chẳng khác ngoại đạo.
Nếu chẳng đồng thì đức Như Lai nên nói lên tướng sở hữu khác. Nếu có tướng
khác thì sẽ biết chẳng đồng với lời nói của ngoại đạo.
Thưa đức Thế Tôn! Nếu Phật Như
Lai ở trong pháp của mình chẳng nói lên thắng tướng thì trong những ngoại
đạo cũng nên có Phật do nói các pháp chẳng sinh chẳng diệt. Ðức Như Lai
thường nói trong một thế giới mà có nhiều đức Phật cùng ra đời thì không
có điều này. Nhưng theo hướng lời nói trên thì trong một thế giới nên có
nhiều đức Phật. Vì sao vậy? Vì đã nói có nhân, không nhân không sai khác
vậy. Như lời đức Phật nói không hư dối thì tại sao, ở trong pháp của mình,
đức Thế Tôn chẳng nói lên thắng tướng (tướng thắng hơn).
Ðức Phật bảo ngài Ðại Tuệ rằng:
- Này Ðại Tuệ! Lời nói “pháp
chẳng sinh chẳng diệt” của ta chẳng đồng với chẳng sinh chẳng diệt của
ngoại đạo, cũng chẳng đồng với pháp vô thường chẳng sinh kia. Vì sao vậy?
Này Ðại Tuệ! Vì các ngoại đạo nói có thể tính thật có chẳng sinh, chẳng
biến tướng, còn ta thì chẳng rơi vào trong nhóm bè đảng có, không như vậy.
Này Ðại Tuệ! Lời ta nói lìa
khỏi pháp có không, lìa khỏi tướng sinh trụ diệt, chẳng phải có, chẳng
phải không, thấy tất cả đủ thứ sắc tượng như huyễn như mộng. Vậy nên chẳng
được nói cái ấy có hay không.
Này Ðại Tuệ! Tại sao chẳng được
nói cái ấy có hay không? Vì là thể tướng của sắc có thấy hay chẳng thấy,
có thủ lấy hay chẳng thủ lấy vậy. Này Ðại Tuệ! Vậy nên ta nói tất cả các
pháp chẳng phải có chẳng phải không. Này Ðại Tuệ! Do chẳng giác
tri mà chỉ là tự tâm phân biệt sinh ra thấy. Tất cả các pháp của thế gian
bản lai chẳng sinh diệt mà các phàm phu sinh ra phân biệt, chẳng phải
Thánh nhân vậy!
Này Ðại Tuệ! Lòng mê hoặc phân
biệt nghĩa chẳng thật thì ví như phàm phu thấy thành của Càn thát bà thấy
việc tạo tác đủ thứ người huyễn, đủ thứ voi ngựa của nhà huyễn thuật, thấy
những thứ ấy vào ra mà hư vọng phân biệt nói lời như vầy: “Những thứ này
vào như vầy... như vầy..., ra như vầy... như vầy...” Này Ðại Tuệ! Nhưng mà
chỗ ấy thật không người ra, vào chỉ là tự tâm thấy mê hoặc phân biệt, pháp
sinh pháp chẳng sinh cũng lại như vậy.
Này Ðại Tuệ! Nhưng mà chỗ đó
thật không cái có này, là không, là các pháp như việc tạo tác huyễn sự của
nhà huyễn thuật kia mà nhà huyễn thuật kia chẳng sinh chẳng diệt.
Này Ðại Tuệ! Các pháp có không
cũng không có cái để làm (sở vi) do lìa khỏi sinh diệt vậy. Chỉ những phàm
phu rơi vào tâm điên đảo phân biệt sinh diệt, chẳng phải là Thánh nhân.
Này Ðại Tuệ! Ðiên đảo thì như
lòng phân biệt pháp này thì như vậy, như vậy mà pháp kia thì chẳng như
vậy, như vậy... cũng chẳng phải điên đảo mà phân biệt điên đảo thì chấp
trước các pháp là có, là không, chẳng phải tịch tịnh vậy. Chẳng thấy tịch
tịnh thì chẳng thể xa lìa hư vọng phân biệt. Vậy nên, này Ðại Tuệ! Thấy
tịch tịnh thì gọi là Thắng tướng. Chẳng phải thấy các tướng thì gọi là
Thắng tướng. Do chẳng thể đoạn tướng sanh nhân nên, này Ðại Tuệ! Nói vô
thường là xa lìa tất cả các tâm phân biệt. Vô sinh vô tướng thì chính là
điều ta nói, gọi là Niết Bàn.
Này Ðại Tuệ! Nói Niết Bàn thì
nghĩa là thấy được trụ xứ như thật của các pháp, xa lìa tâm phân biệt,
pháp tâm số, nương theo thứ lớp như thật tu hành đối với Tự Nội Thân Thánh
Trí Sở Chứng. Ta nói như vậy gọi là Niết Bàn.
Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn một
lần nữa nói kệ rằng:
Vì ngăn sinh các pháp
Kiến lập pháp vô sinh
Ta nói pháp vô nhân (không có
nguyên nhân)
Phàm phu chẳng thể biết.
Ta nói pháp vô nhân
Mà phàm phu chẳng biết
Tất cả pháp chẳng sinh
Cũng chẳng được nói không.
Càn thát bà, mộng, huyễn
Có các pháp không nhân
Các pháp không (trống không) vô
tướng.
Làm sao ta nói lên?
Lìa các duyên hòa hợp
Trí tuệ chẳng thể trông (thấy)
Do không vốn chẳng sinh
Vậy nên nói vô thể
Hòa hợp mỗi một duyên
Thấy vật chẳng thể được
Phi ngoại đạo đã nhìn (thấy)
Hòa hợp chẳng thể được.
Mộng, huyễn và mao luânb(vừng
lông).
Càn thát bà, ngọn lửa
Vọng thấy mà không nhân
Việc thế gian cũng vậy.
Hàng phục luận không nhân
Thì thành vô sinh nghĩa
Có thể thành vô sinh
Thì pháp ta chẳng diệt.
Nói các luận vô nhân
Ngoại đạo sinh kinh sợ:
Tại sao? Người nào
đó?
Nhân gì? Ở đâu thế?
Sinh các pháp vô nhân
(Phi) Chẳng nhân, chẳng(phi)vô nhân
Kẻ trí nếu hay thấy
Hay lìa thấy diệt, sinh.
Không pháp sinh, chẳng sinh
Là không nhân duyên tướng.
Nếu là pháp tự danh
Vô nghĩa là ta nói
(Thì) Phi pháp có vô sinh
Cũng chẳng đợi nhân duyên.
Chẳng (phải) pháp trước có danh
Cũng gọi “bất không thuyết”
Phi cảnh giới Thanh Văn
Bích Chi Phật, ngoại đạo
Trụ ở tại Thất
địa
Chỗ đó không tướng sinh.
Lìa các nhân duyên pháp
Vì ngăn các nhân duyên.
Nói kiến lập duy tâm
Tên vô sinh ta nói
Các pháp không nhân duyên
Lìa phân biệt phân biệt
Lìa bè đảng có không
Tên vô sinh ta nói
Các kiến, tâm lìa khỏi
Lìa hai pháp thể luôn
Chuyển thân nương chánh tướng.
Ta nói tên vô sinh.
Ngoài phi thật không
thật
Cũng phi sở thủ tâm (chẳng phải
cái mà tâm chọn lấy)
Huyễn, mộng và mao luân
Càn thát bà, ngọn lửa
Các kiến xa lìa xong
Gọi là Vô sinh tưởng
Như vậy những pháp không...
Những câu văn nên biết
Phi sinh và không không
Mà không (có) ở sinh không
(trống không).
Các nhân duyên hòa
hợp
Có diệt và có sinh
Các nhân duyên lìa khỏi
Chẳng diệt cũng chẳng sinh
Lìa nhân duyên không pháp
Lìa hòa hợp không thành (được).
Ngoại đạo vọng phân biệt
Thấy có một, khác liền
Có không chẳng sinh pháp
Chẳng thể được có không
Chỉ hòa hợp các pháp
Mà thấy có diệt, sinh.
Chỉ có ở danh
tự
Ðắp đổi làm cùm gông (câu tỏa)
Lìa nhân duyên cùm khóa
Sinh pháp chẳng thể
thành(được).
Sinh pháp chẳng thấy sinh
Lìa khỏi lỗi ngoại đạo
Ta nói duyên câu tỏa(cùm khóa)
Phàm phu chẳng biết thông.
Nếu lìa duyên câu tỏa
Biệt pháp lại không có
Tức là không nhân duyên
Phá hoại nghĩa khóa duyên
Như đèn hiển hình tượng
Cũng vậy, câu tỏa sinh
Vậy thì lìa câu tỏa
Riêng lại có pháp sinh.
Pháp sinh vốn không thể
Tự tính như hư không
Lìa câu tỏa cầu pháp
Người ngu không biết thông.
Lại có vô sinh khác
Pháp sở đắc Thánh nhân
Pháp sinh, vô sinh đó
Là pháp nhẫn vô sinh.
Nếu thấy các thế gian
Tức là thấy câu tỏa
Tất cả đều câu
tỏa
Vậy là định được tâm.
Vô minh và ái nghiệp...
Là câu tỏa bên trong
Dùi, trục, viên bùn, luân (bánh
xe)
Chủng tử (hạt giống) đại câu
tỏa.
Pháp khác nếu lại có
Mà sinh từ nhân duyên
Lìa khỏi nghĩa câu tỏa
Ðó chẳng trụ Thánh giáo.
Nếu pháp sinh là không
Thì đó ai câu tỏa
Ðắp đổi mà tương sinh (sinh ra
nhau)
Ðó gọi nghĩa nhân duyên.
Pháp cứng, ẩm, nóng, động
Phân biệt phàm phu sinh
Lìa tỏa (khóa) lại không pháp
Vậy nên nói Thể không.
Như thuốc trị mọi bệnh
Nương bệnh ra trị phương
Mà luận không sai
biệt
Bệnh khác nên khác phương
(thuốc).
Ta nghĩ các sinh
chúng
Bị nhiễm lỗi não phiền
Biết căn, lực sai biệt
Theo sức thọ nói truyền.
Pháp ta không sai biệt
Nói khác tùy bệnh
căn
Ta chỉ Nhất Thừa pháp
Tám Thánh Ðạo sạch trong.
KINH NHẬP LĂNG GIÀ
- Quyển thứ sáu hết -
--- o0o ---
Quyển 1 |
Quyển 2 |
Quyển 3 |
Quyển 4 |
Quyển 5
Quyển
6 |
Quyển 7 |
Quyển 8 |
Quyển 9 |
Quyển 10
--- o0o ---
Vi tính: Thọ Huệ
Trình bày: Nhị Tường
Cập nhật: 4-2003