LỜI DỊCH
GIẢ
Chúng tôi tường không cần
phải giới thiệu dài dòng, chắc độc giả cũng đã biết
rằng bộ Luận "Đại thừa Khởi Tín" là một trong số những
bộ Luận có một nội dung hàm súc, sâu sắc nhứt và một
lối lý luận rốt ráo bén nhọn và tế nhị nhứt. Vì lẽ
đó nên chúng tôi đã khổ công rất nhiều, trong khi đem dịch
Luận này. Lần đầu chúng tôi đã dịch hơn phân nữa bộ,
nhưng vì thấy nhiều đoạn chưa được vừa ý, nên chúng
tôi đã bỏ tất cả, và dịch lại lần thứ hai. Tính tất
cả hai lần dịcu thuật, thời gian trên một năm (từ tháng
11 năm Canh Tý đến tháng 12 năm Tân Sửu, tức là từ năm
1960 đến năm 1962).
Bộ luận này do Bồ Tát
Mã Minh soạn ra bằng chữ Phạn. Những nhà dịch giả có danh
tiếng, đã dịch sanh chữ Hán. Chúng tôi că cứ vào bản dịch
bằng Hán văn của Ngài Chơn đế Tam tạng Pháp sư, để dịch
sang chữ Việt. Về Phần chú giải, thì sau khi tham khảo nhiều
bản khác nhau của các dịch giả Trung hoa, chúng tôi đã căn
cứ một phần lớn vào bản trực giải của Ngài Đức Thanh,
mà chúng tôi nhận thấy rõ ràng và gọn gàng hơn hết.
Tuy thế, trong khi phiên dịch
sang Việt ngữ, để cho ý luận được biểu lộ rõ ràng,
gãy gọn và mạch văn thích hợp với cú pháp Việt Nam, nên
có nhiều đoạn, chúng tôi chỉ dịch cho rõ ý, hoặc đảo
ngược trước sau, hoặc thêm bớt một vài chữ. Mong quý độc
giả thông cảm mà lượng thứ cho.
Nói riêng về chương trình
Phật học phổ thông, mà Ban Hoằng pháp Phật giáo Nam Việt
đã chủ trương từ trước đến nay, thì bộ luận này thuộc
về khóa thứ IX; nhưng sau khi phiên dịch và giảng dạy, chúng
tôi nhận thấy, vì ý nghĩa thâm sâu của nó nên sắp vào
khoá thứ X và XI, thì mới đúng trình độ, lợi ích cho độc
giả và những vị theo học các lớp Phật học Phổ thông.
***
Thưa quý vị độc giả,
"Lời của dịch giả", đến
đây có thể xem như đã chấm dứt. Nhưng chúng tôi xin phép
quý vị, để nói thêm lên đây lòng nguyện ước thiết tha
của chúng tôi trước khi dừng bút:
Trong khi chúng tôi đang dịch
thuật bộ Luận này, thì Bổn sư chúng tôi là Hoà thượng
Thích Khánh Anh, nguyên Thượng Thủ Giáo hội Tăng già toàn
quốc kiêm cố Pháp Chủ Giáo Hội Tăng Già Nam Việt, viên
tịch. Trong nỗi niềm đau xót lớn lao trước một cái tang
chung và riêng ấy chúng tôi rất ngậm ngùi và nhớ tưởng
lại hồng ân của Bổn sư, người đã hướng dẫn và thúc
đẩy chúng tôi trong công tác phiên dịch này.
Vậy, hôm nay công việc dịch
thuật đã xong xuôi, chúng tôi kính cẩn dâng công đức này
hồi hướng lên Giác linh Bổn sư chúng tôi sớm đăng Phật
địa, ngõ hầu báo đáp hồng ân pháp hóa trong muôn một.
CHÙA PHƯỚC HẬU TRÀ ÔN
Dịch xong ngày khởi công
trùng tu chùa Phước Hậu
(Ngày Phật thành đạo năm
Tân Sửu, nhằm ngày 13/1/1962).
Sa môn THÍCH THIỆN HOA.
***
LUẬN ĐẠI
THỪA KHỞI TÍN
BÀI KỆ
QUY KÍNH TAM BẢO
Chương
thứ nhất : Phần Nhơn duyên
Chương
thứ hai : Phần Định danh nghĩa
Chương
thứ ba : Phần Giải thích
Chương
thứ tư : Phần Tín tâm, Tu hành.
Chương
thứ năm : Phần Lợi ích và khuyến tu
BÀI KỆ
HỔI HƯỚNG
**
Chương
thứ nhứt: PHẦN NHƠN DUYÊN
Vì tám
nhơn duyên nên Bồ Tát tạo ra Luận này.
Chương
thứ hai : PHẦN ĐỊNH DANH NGHĨA
A. Pháp
Đại thừa
I. Tướng
Chơn như
II. Tướng
Sanh diệt
B. Nghĩa
Đại thừa
I. Thể
chất lớn
II. Hình
tướng lớn
III. Diệu
dụng lớn
Chương
thứ ba : PHẦN GIẢI THÍCH, Chia làm ba:
A. Nói
rõ nghĩa chánh (10 bài)
B. Đối
trị các chấp sai lầm (1 bài)
C. Phân
biệt hành tướng phát tâm đến Đạo (2 bài)
A. NÓI
VỀ NGHĨA CHÁNH, có 3phần
I. Tâm
Chơn như (Chơn tâm)
II. Tâm
Sanh diệt (Thức A lại da)
III. Trở
về Chơn như .
I. NÓI
VỀ TÂM CHƠN NHƯ, có 2 nghĩa:
1. Thật
không (không có các pháp nhiễm ô)
2. Thật
có (có các công đức thanh tịnh)
II.NÓI
VỀ TÂM SANH DIỆT (THỨC A LẠI DA), có 2 nghĩa:
1. Nghĩa
"Giác" (Chơn)
2. Nghĩa
"Bất giác" (mê: vọng)
1. Nói
về nghĩa "Giác", có 5 tên:
a. Bản
giác (tánh Phật saün có)
b. Bất
giác (mê:vô minh)
c. Thỉ
giác (mới giác ngộ)
d. Phần
giác (giác ngộ từng phần)
e. Cứu
cánh giác (giác ngộ rốt ráo)
Thỉ giác
có 4 lớp, từ Thô đến Tế:
1. Giác
ngộ niệm "Diệt"
2.Giác
ngộ niệm "Dị"
3. Giác
ngộ niệm "Trụ"
4. Giác
ngộ niệm "Sanh"
Bản giác
có 2 tướng và 4 nghĩa:
Hai tướng
1. Tướng
Trí tịnh
2. Tướng
nghiệp dụng bất tư nghị
Bốn nghĩa
1. Như
thật không
2. Nhơn
huân tập
3. Pháp
xuất ly
4. Duyên
huân tập
2. Nói
về nghĩa "Bất giác" (mê: vô minh)
Phân làm
11 phần:
a. Tam tế
(ba tướng vi tế)
b. Lục
thô (sáu món Thô)
c. Hai tướng
(đồng và khác)
d. Ý tương
tục (có năm thứ)
e. Ý thức
g. Tâm
nhiễm ô (có 6 lớp)
h. Tâm
nhiễm ô và vô minh khác nhau thế nào?
i. Ba tướng
nhiễm ô sanh diệt
k. Bốn
món huân tập
l. Chơn
như và vô minh, thỉ và chung
m. Ba đại
nghĩa của tâm
Nói về
Tam tế
1. Nghiệp
tướng
2. Chuyển
tướng
3. Hiện
tướng
Nói về
Lục thô:
1.Trí tướng
2.Tương tục
tướng
3.Chấp thủ
tướng
4.Kế danh tự
tướng
5.Khởi nghiệp
tướng
6.Nghiệp hệ
khổ tướng
Nói về 2
tướng. "Giác" và "Bất giác" đều có hai tướng
1. Đồng
(đồng thể)
2. Khác
(khác tướng)
Nói về
"Ý tương tục", có 5 tên:
1. Nghiệp
thức (nghiệp tướng)
2. Chuyển
thức (chuyển tướng)
3. Hiện
thức (hiện tướng)
4. Trí
thức (Trí tướng)
5. Tương
tục thức (tương tục tướng)
Nói về
"Ý thức" có 3 tên:
1. Ý thức
2. Phân
ly thức
3. Phân
biệt sự thức
Nói về
"tâm nhiễm ô", có 6 lớp:
1. Nhiễm
ô chấp trước (chấp thủ tướng và Kế danh tự tướng)
2. Nhiễm
ô bất đoạn (Tương tục tướng)
3. Nhiễm
ô phân biệt (Trí tướng)
4. Nhiễm
ô cảnh sắc (Hiện tướng)
5. Nhiễm
ô năng phân biệt (Kiến tướng)
6. Nhiễm
ô về nghiệp (Nghiệp tướng)
Nói về
tâm nhiễm ô và Vô minh khác nhau:
Tâm nhiễm
ô là phiền não, chướng, làm chướng ngại căn bản trí.
Vô minh
là sở tri chướng, làm chướng ngại sai biệt trí
Nói về
3 tướng nhiễm ô sanh diệt:
1. Tướng
sanh diệt thô
2. Tướng
sanh diệt vừa
3. Tướng
sanh diệt vi tế
Nói về
4 món huân tập:
1. Chơn
như huân tập
2. Vô minh
huân tập
3. Nghiệp
thức huân tập
4. Cảnh
giới hư vọng huân tập
Nói về
cảnh giới hư vọng (sáu trần) huân tập:
Cảnh giới
huân tập làm tăng trưởng vọng niệm
Cảnh giới
huân tập làm tăng trưởng chấp thủ
Nói về
vọng tâm (Nghiệp thức) huân tập:
Vọng tâm
huân tập lại căn bản vô minh
Vọng tâm
huân tập chi mạt vô minh
Nói về
vô minh huân tập:
Căn bản
vô minh huân tập vào chơn như
Chi mạt
vô minh huân tập vào vọng tâm
Nói về
chơn như huân tập:
Thể tướng
chơn như huân tập
Diệu dụng
chơn như huân tập
Lại chia
hai phần nữa:
Chưa chứng
nhập chơn như
Đã chứng
nhập chơn như, được hai trí
Căn bản
trí (vô phân biệt trí)
Hậu đắc
trí (sai biệt trí)
Nói về
Chơn như và vô minh, thỉ và chung:
Chơn như
vô thỉ vô chung
Vô minh
vô thỉ hữu chung
Nói về
ba đại nghĩa của tâm:
Thể rộng
lớn của Tâm: Tâm bình đẳng không vọng
Tướng
rộng lớ của Tâm: Đủ hằng sa công đức
Dụng rộng
lớn của Tâm: Báo thân, Ứng thân và Y báo trang nghiêm
(đã hết
nghĩa Bất giác)
III. TRỞ
VỀ CHƠN NHƯ:
Không khởi
vọng niệm thì trở về Chơn như.
(Hết phần
thứ nhứt (Nói rõ nghĩa chánh) trong chương thứ ba (Phần Giải
thích) của Luận này).
B. ĐỐI
TRỊ CÁC CHẤP SAI LẦM
I. CHẤP
NGÃ, CÓ 5 THỨ:
1. Chấp
hư không là chơn tánh của Như Lai.
2. Chấp
Chơn như hay Niết bàn không có chi hết.
3. Chấp
Như Lai tạng có các hình tướng sai khác.
4. Chấp
Như Lai tạng có đủ các pháp nhiễm ô.
5. Chấp
chúng sanh có thỉ, chư Phật có chung.
II. CHẤP
PHÁP:
Chấp thật
có vũ trụ và vạn hữu
C. PHÂN
BIỆT HÀNH TƯỚNG PHÁT TÂM ĐẾN ĐẠO. _ Ba món phát tâm:
I. Tin hoàn
toàn mà phát tâm.
II. Hiểu
biết và làm mà phát tâm.
III. Chứng
nhập chơn như mà phát tâm.
I. NÓI
VỀ TÍN HOÀN TOÀN MÀ PHÁT TÂM:
1. Ba món
Tâm trong Tín vị:
a. Trực
tâm
b. Thâm
tâm
c. Đại
bi tâm
2. Bốn
món phương tiện:
a. Phương
tiện căn bản
b. Phương
tiện ngăn ngừa các việc tội ác.
c. Phương
tiện làm phát sanh các việc lành
d. Phương
tiện Đại nguyện và Bình đẳng.
3. Tám
tướng thành Đạo:
a.Giáng sanh
b.Nhập thai
c.Ở trong thai
d.Sanh ra
đ. Xuất
gia
e. Thành
đạo
g. Thuyếp
pháp
h. Nhập
Niết bàn.
II. NÓI
VỀ HIỂU BIẾT VÀ LÀM MÀ PHÁT TÂM:
1. Bồ
Tát biết tự tánh mình không có lục tệ:
a)Không tham
lam
b)Không nhiễm
ô
c)Không sân
hận
d)Không giải
đãi
đ)Không
tán loạn
e)Không
si mê
2. Bồ
Tát tu lục độ
a)Bố thí
b)Trì giới
c)Nhẫn nhục
d)Tinh tấn
đ) Thiền
định
e) Trí
huệ
III. NÓI
VỀ CHỨNG NHẬP CHƠN NHƯ MÀ PHÁT TÂM:
Bồ Tát
khi nhập chơn như, rồi khởi dụng độ sanh:
1. Chơn
tâm tức là thật trí.
2. Phương
tiện tâm tức là Quîền trí.
3. Nghiệp
thức tâm tức là Dị thục thức.
(Hết phần
Giải thích về chương thứ ba)
Chương
thứ tư:TÍN, TÂM, TU HÀNH, có 4 phần:
A. Bốn
món Tín tâm
B. Năm
môn tu hành
C. Các
thứ ma chướng
D. Mười
điều lợi ích tu Thiền
A. NÓI
VỀ BỐN MÓN TÍN TÂM:
I. Tin căn
bản (Phật tánh)
II. Tin
Phật
III. Tin
Pháp
IV. Tin
Tăng
B. NÓI
VỀ NĂM MÓN TU HÀNH (Lục độ)
I. Bố thí
II. Trì giới
III.Nhẫn nhục
IV. Tinh tấn
V. Chỉ, Quán
(Định, Huệ).
C. NÓI
VỀ CÁC THỨ MA CHƯỚNG:
I. Ma hiện
Phật, Bồ Tát v.v...
II. Ma nói
Pháp
III. Ma
làm hành giả hoặc điên
D. NÓI
VỀ 10 ĐIỀU LỢI ÍCH TU THIỀN
Được
mười phương Phật, Bồ Tát bảo hộ v.v....
Chương
thứ năm: Nói về LỢI ÍCH và KHUYẾN TU
Học và
tu theo luận này sẽ được lợi ích vô cùng: hành giả nên
tu theo luận Đại thừa này.
BÀI KỆ
HỔI HƯỚNG
---*^*---
Mục
Lục Toàn Bộ || Khóa I
|| Khóa II|| Khóa
III | |Khóa
IV ||Khóa V|
|Khóa
VI || Khóa VII ||Khóa
VIII ||Khóa IX ||Khóa
X - XI ||Khóa XII
--- o0o ---
Trình bày : Nhị
Tường
Chân thành cảm ơn
Đạo hữu Tâm Diệu đã gởi tặng
phiên bản điện tử tập sách này
( Trang nhà Quảng Đức,
02/2002)
--- o0o ---
| Thư
Mục Tác Giả |