Phật Học
Phổ Thông
--- o0o ---
Bài thứ tư
IV. CHƯƠNG KIM
CANG TẠNG
1.
Ngài
Kim Cang Tạng Bồ Tát hỏi Phật
2.
Phật
khen Ngài Kim Cang Tạng Bồ tát
3.
Phật
dạy: “Người mê nói ngộ, ngổ ấy thành mê”
4.
Phật
dùng thí dụ để giải thích nghĩa trên
5.
Các
Pháp hư huyễn không có thật sanh và diệt
6.
Thành Phật rồi không trở lại làm chúng sanh
7.
Tánh
Viên Giác phi tất cả tưởng
8.
Tánh
Viên Giác không thể nghĩ bàn
9.
Không thể dùng tâm chúng sanh phân biệt được cảnh Phật
10.
Phật
nói bài kệ tóm lại các ý nghĩa trên
IV. CHƯƠNG
KIM CANG TẠNG
1.
Ngài Kim Cang Tạng Bồ Tát hỏi Phật
Khi
ấy Ngài Kim Cang Tạng Bồ tát ở trong Ðại chúng đứng dậy, đi quanh bên hữu
của Phật ba vòng, và kính cẩn chắp tay, đảnh lễ dưới chân Phật, rồi quỳ
thẳng bạch rằng:
Bạch đức Ðại bi Thế Tôn, Ngài đã vì các vị Bồ tát nói rõ tánh “Viên Giác
thanh tịnh” của Như Lai, và chỉ dạy những phương tiện, tuần tự tu hành để
nhập tánh Viên Giác. Ngài đã vén mở mây vô minh mờ ám cho các chúng sanh.
Thỉnh chúng trong pháp hội này, nhờ lòng từ bi của Phật khai hóa, mà mắt
Trí huệ được sáng tỏ.
Bạch đức Thế Tôn:
1. Nếu các chúng sanh đã thành Phật từ xưa đến nay, thì tại làm sao
lại có tất cả vô minh để trở lại làm chúng sanh nữa?
2. Nếu chúng sanh sẵn có các vô minh, thì do nhơn duyên gì mà đức Như
Lai lại nói: “chúng sanh đã thành Phật từ xưa đến nay”?
3. Nếu 10 phương chúng sanh đã thành Phật từ xưa, về sau lại sanh ra
vô minh; vậy thì các đức Như Lai hiện nay đã thành Phật rồi, chừng nào các
NGài sanh trở lại phiền não nữa?
Cúi xin đức Ðại bi Thế Tôn, vì các vị Bồ tát hiện tại và tất cả chúng sanh
đời sau, nhổ sạch gốc rễ nghi lầm, khiến cho chúng sanhd dược ngộ nhập đạo
vô thượng.
LƯỢC GIẢI
Ðại ý
đoạn này, Ngài Kim Cang Tạng Bồ tát nghi: Có vô minh thì gọi là chúng
sanh, không vô minh mới kêu là Phật; thế mà Ðức Như Lai lại nói: “chúng
sanhd dã thành Phật từ xưa đến nay”.
Nếu
chúng sanhd dã thành Phật từ xưa đến nay, thì phải không còn vô minh. Nếu
không còn vô minh, thì không còn gọi là chúng sanh nữa. Tại làm sao Phật
còn gọi: “Chúng sanh”?
Lại
nữa, nếu chúng sanh sẵn có vô minh thì không thể nói “Nguyên lai thành
Phật”. Tại sao Phật lại nói: “chúng sanh nguyên lai đã thành Phật”.
Chúngs anh tu hành phải trải qua ba vô số kiếp mới thành Phật. Nếu khi
được thành Phật rồi, vô minh trở lại khởi lên làm chúng sanh nữa, thì tu
biết chừng nào cho rồi! Lại nữa, chư Phật hiện nay đã thành Phật, vậy
chừng nào các Ngài nổi vô minh trở lại làm chúng sanh nữa?
Ðoạn
này giống như trong kinh Lăng Nghiêm, khi Ngài Phú Lâu Na Di Ða La Ni Tử
hỏi Phật: “chơn tâm vốn đã thanh tịnh tại sao thoạt sanh ra sơn hà đại địa
và các chúng sanh?”
2.
Phật khen Ngài Kim Cang Tạng Bồ Tát
Khi
đó đức Thế Tôn khen Ngài Kim Cang Tạng Bồ tát và dạy rằng:
-Này
Thiện nam, quý lắm! Ông vì các vị Bồ tát hiện tại và chúng sanh đời sau
thưa hỏi Như Lai những đạo lý diệu huyền.
Nay ta vì các ông nói giáo pháp Ðại thừa, nghĩa lý rốt ráo và cao thượng,
khiến cho các vị Bồ tát tu học trong mười phương, và tất cả chúng sanh đời
sau, đều đoạn trừ hết các điều nghi ngờ, đặng tín tâm chắc chắn. Vậy các
ông nên chăm chú nghe lời ta chỉ dạy.
Khi
đó Ngài Kim Cang Tạng Bồ tát và Ðại chúng đều vui mừng, kính cẩn vâng nghe
lời Phật chỉ giáo.
LƯỢC GIẢI
Kim
Cang là chất ngọc quý, cứng rắng nhứt trong loại ngọc. Nó đã cứng mà lại
bén (sắc), hay phá hoại các vật, mà các vật không phá hoại được nó.
Ðoạn
này Ngài Kim Cang Tạng Bồ Tát đứng lên thưa hỏi những chỗ khó khăn, là
tiêu biểu phải dùng Kim cang trí mới phá trừ nổi những mê lầm(vô minh) sâu
sắc.
Ngài
Kim Cang Tạng Bồ tát cũng là một vị Thượng thủ trong hàng Bồ tát.
3. Phật dạy:
Người mê nói ngộ, Ngộ ấy thành mê
-Này Thiện nam! TẤt cả các pháp, có thủy chung, sanh diệt, tiền hậu, hữu
vô, nào tụ tán, khởi dừng, xoay vần, qua lại, các món thủ xả, mỗi niệm nối
luôn. Những loại kể trên đều là luân hồi cả. Người chưa ra khỏi luân hồi
mà nghĩ bàn đến Viên Giác, thì tánh “viên giác” đó cũng trở thành luân hồi
(vị xuất luân hồi nhi biện Viên giác, bĩ Viên Giác tánht ức đồng lưu
chuyển) Nếu người ra khỏi luân hồi (hết mê vọng rồi) thì không
còn thấy có các việc hư vọng ấy nữa.
LƯỢC GIẢI
Ðại ý
đoạn này Phật nói: Người còn ở trong vòng “mê” mà nói việc “ngộ” thì cái
“nộ’ a cũng thành “mê”. Dùng tâm chúng sanh nghĩ bàn đến cảnh giới Phật,
thì cảnh giới Phật cũng thành chúng sanh. Dùng tâm luân hồi mà nghĩ bàn
đến tánh Viên Giác, thì tánh “viên giác” cũng trở thành luân hồi.
Phật
bảo Ngài Kim Cang Tạng Bồ tát: Nếu ông đứng trong vòng hư vọng, tương đối,
có thánh có phàm, có chúng sanh, có Phật v.v.. mà luận đến cảnh giới tuyệt
đối, bất tư nghị của chư Phật thì không thể được. Bởi thế nên người muốn
hiểu chỗ cao siêu của đạo Phật thì cần phải tu, chớ không thể nói suông mà
hiểu được.
4. Phật dùng thí
dụ để giải thích nghĩa trên
-Này Thiện nam! Thí như: vì con mắt nháy mà thấy nước dợn sóng; vì mắt
xem không kịp mà thấy thành vòng lửa; nhơn mây bay mà thấy mặt trăng chạy;
vì thuyền đi mà thấy bờ trôi. Trong lúc các vật đây động, như mắt nháy,
mây bay, thuyền chạy v.v.. mà các vật yên tịnh kia như nước đứng, lửa đốm,
trăng dừng, còn thấy c huyển động thay, huống chi ông dùng tâm cấu nhiễm
sanh tử luân hồi mà quan sát tánh Viên giác thanh tịnh của Như Lai, thì
tánh Viên giác này làm sao chẳng cấu nhiễm. Thế nên ông mới sanh ra ba
điều nghi vấn trên.
LƯỢC GIẢI
Trong
đoạn này, Phật dùng những việc tầm thường trong đời làm thí dụ, như mắt
nháy, may bay, thuyền đi v.v.. mà thấy nước dợn, trăng bay, bờ chạy
v..v... để chỉ rõ: vì dùng tâm cấu nhiễm mê vọng của chúng sanh mà quan
sát nghĩ ngợi đến cảnh giới của Phật, nên cảnh Phật trở thành tương đối mê
vọng.
Vì
ngài Kim Cang Tạng Bồ tát dùng tâm phân biệt đối đãi có không, sanh diệt,
thánh phàm v.v... nên thấy có chúng sanh chưa thành Phật và có Phật đã
thành. Bởi thế nên NGài sanh ra ba điều nghi ngờ trên. Nếu Ngài nhập
được tánh Viên giác thanh tịnh rồi thì những tướng tốt đối đãi như thánh
phàm nhiễm tịnh, sanh tử và Niết bàn, chúng sanh và Phật đều không còn.
Lúc bấy giờ NGài không còn nghi ngờ như trên nữa. Vì vậy nên đoạn sau
Phật quở: “.. những lời ông thưa hỏi đó, chẳng có đúng đắn...”
****
5. Phật dạy: các
Pháp hư huyễn, không có thật sanh và thật diệt
-Này Thiện nam! Thí như người bịnh lòa mắt, trông noi hư không vọng thấy
có các hoa đốm lăng xăng. Ðến khi bịnh lòa nhặm hết rồi, thì hoa đốm kia
tự diệt. Lúc bấy giờ, người ấy không nên hỏi: “Cái bịnh lòa nhặm này đã
diệt rồi, vậy chừng nào sanh trở lại nữa?” - Tại sao thế? – Vì cái lòa
nhặm nó vọng huyễn không có thật thể vậy.
Và, cũng không nên hỏi: “Những chỗ hoa đốm diệt ở nơi hư không kia, vậy
chừng nào hoa đốm ấy sanh trở lại nữa?” - Tại sao thế? – Vì trong hư
không vốn không có hoa đốm, cho nên nó không có sanh ra hoa đốm hay diệt
hoa đốm vậy.
Sanh tử và niết bàn đối với tánh Viên giác, cũng dồng như hoa đốm sanh
diệt trong hư không. Tánh Viên Giác vẫn nhiệm mầu viên mãn, yên lặng chiếu
soi, lìa cái nhặm vô minh và cảnh giới hoa đốm.
Này Thiện nam! Nên biết hư không kia còn không phải tạm có và tạm không,
huống chi tánh Viên Giác của Như Lai là bản tánh của hư không, nó bình
đẳng tùy thuận các duyên, mà lại tạm có và tạm không hay sao.
LƯỢC GIẢI
Ðại ý
đoạn này nói: Vô minh và các vọng cảnh, đều hư huyễn không thật, cũng như
hoa đốm và mắt nhặm. Vì hoa đốm với nhặm, đều không phải thật vật, cho
nên nó không thật có sanh và diêt. Bởi thế, khi hết nhặm rồi, không nên
hỏi: “chừng nào nhặm trở lại nữa?” Hay hoa đốm đã diệt rồi, cũng không nên
hỏi: “Chừng nào nó sanh trở lại nữa?”
Hoa
đốm và bịnh nhặm, mặc tình nó vọng sanh vọng diệt, mà hư hông lúc nào cũng
vẫn thanh tịnh và yên lặng. Cũng như Vô minh và vọng cảnh, mặc tình vọng
khởi và vọng diệt, mà tánh Viên giác vẫn thanh tịnh viên mãn và xa lìa các
vô minh cùng Vọng cảnh.
Tánh
hư không bình đẳng tùy thuận các đồ vật, mà hiện ra có tướng Vuông và
Tròn. Cũng như tánh Viên Giác bình đẳng, tùy thuận các duyên mà hiện ra
tất cả Pháp.
Hư
không, không phải nhơn lúc hoa đốm diệt mà nó tạm có, cũng không phải nhơn
lúc hoa đốm sanh am2 nó tạm không; bởi tánh hư không thường có và bình
đẳng, tùy hoa đốm mặc tình sanh diệt, nhưng hư không vẫn không thay đổi.
Cũng
thế, tánh Viên giác thanh tịnh của Như Lai, thường còn bình đẳng và tùy
thuận các Pháp. Không phải nhơn lúc Vô minh diệt mà nó tạm có, hay Vô
minh sanh mà nó tạm không, nó tùy thuận tất cả, không có chướng ngại.
******
6. Phật dùng thí
dụ, để chỉ rõ khi thành Phật rồi, không trở lại làm chúng sanh
-Này Thiện nam! Thí như chất kim khoáng, sau khi được nấu lọc, bỏ hết
quặng rồi, thì chỉ còn vàng y. Chất vàng này không phải do nấu lọc mới
sanh, vì nó có sẵn từ trước kia rồi, và khi đã thành vàng y, cũng không
bao giờ trở lại thành quặng nữa, dầu trải qua bao nhiêu năm, nó cũng không
hư hoại.
Tánh Viên Giác thanh tịnh của Như Lai cũng thế.
LƯỢC GIẢI
Phật
dùng vàng để thí dụ tánh Viên Giác, dùng khaỏng dụ chúng sanh. Khi vàng
còn ở trong khoáng, cũng như Phật tánh (Viên giác) ở trong cái vỏ chúng
sanh. Vì y nơi Phật tánh sẵn có, nên Phật nói: “chúng sanh đã thành
Phật”.
Khi
chất kim khoáng được đem ra nấu luyện, lọc bỏ hết quặng chỉ còn vàng y,
thì vàng này không còn trở lại làm khoáng nữa.
Cũng
như chúng sanh, sau khi trải qua thời gian tu luyện, gạn lọc hết vô minh,
phiềnnão, tánh Viên giác hiện ra, được thành Phật rồi; lúc bấy giờ không
còn khởi vô minh phiền não trở lại làm chúng sanh nữa.
Dầu
chưa được nấu luyện, lọc bỏ quặng ra, lúc ấy chất vàng vẫn sẵn có. Ðến kh
nấu luyện, lọc bỏ hết quặng thành vàng y rồi, không phải lúc bấy giờ vàng
mới có. Tánh Viên giác cũng thế, khi làm chúng sanh, nó vẫn sẵn có, nên
nói: “chúng sanh đã thành Phật”. Trải qua thời gian tu luyện trừ hết Vô
minh phiền não, tánh Viên Giác hiện ra, không phải lúc bấy giờ nó mới
sanh.
KHi
tánh Viên Giác đã hoàn toàn hiện rồi, thì vô minh phiền não không còn sanh
trở lại nữa, nên nói: “Thành Phật rồi, không còn trở lại làm chúng sanh”.
****
7.
Tánh Viên Giác phi tất cả tướng
-Này THiện nam! Tánh Viên giác mầu nhiệm của Như Lai vốn không có Bồ đề,
và Niết bàn, không có thành Phật và chẳng thành Phật, cũng không có luân
hồi và phi luân hồi.
LƯỢC GIẢI
Ðứng
về phương diện tương đối mà nói: Vì có phiền não nên có Bồ đề, có sanh tử
nên có Niết bàn, có luân hồi nên mới có giải thoát, có chúng sanh mới có
Phật.
Song
đứng về phương diện lý tánh tuyệt đối, tức là tâm Viên Giác mầu nhiệm của
như Lai mà nói, thì phiền não đã không, nên Bồ đề chẳng có, sanh tử đã
không, nên Niết bàn chẳng có, cho đến chúng sanh đã không, nên Phật cũng
chẳng có.
Ðến
cảnh giới này, thì nói năng không trúng, suy nghĩ cũng chẳng nhằm. Hành
giả phải tự chứng nhập.
******
8.
Tánh Viên Giác không thể nghĩ bàn
-Này Thiên nam! Rất dỗi như cảnh giới Niết bàn thân tâm đoạn diệt của
Thinh Văn (1) Tiểu thừa kia, còn không thể dùng tâm phân
biệt mà thân chứng được, huống chi cảnh giới Viên giác thanh tịnh của Như
Lai mà lại dùng tâm suy nghĩ so đo của chúng sanh, làm sao nhập được.
Cũng như người dùng lửa đom đốm, để đốt núi Tu di, làm sao đốt được. Người
dùng tâm luân hồi, sanh vọng chấp luân hồi, mà muốn vào biển Niết bàn tịch
tịnh của Như Lai thì không thể được.
Thế nên ta dạy: Tất cả các vị Bồ tát và chúng sanh đời sau, trước phải
đoạn hết căn bản sanh tử luân hồi từ vô thỉ.
LƯỢC GIẢI
Cảnh
giới Niết bàn của Thinh Văn là cảnh giới Tiểu thừa (trầm không thú tịch
khôi thân diệt trí) mà còn không thể nghĩ ngợi được, huống chi cảnh giới
của Phật cao siêu tột bực, mà lại dùng cái vọng tâm sanh tử luân hồi của
phàm phu và trí của Tiểu thừa để suy nghĩ phân biệt cảnh giới Viên giác
của Như Lai, thì quyết không thể hiểu được (dĩ luân hồi tâm, sanh luân hồi
kiến, nhập ư Như Lai đại tịch diệt hải, chung bất năng chí) cũng như
người dùng lửa của con đom đốm để đốt núi Tu Di thì không thể được.
Bởi
thế nên Phật dạy: “trước phải đoạn hết căn bản sanh tử luân hồi từ vô
thỉ”, tức là diệt vọng tâm phân biệt. Cũng như trong kinh Lăng Nghiêm,
Phật dạy rành rõ hai món căn bản là:
1. Phải đoạn căn bản của sanh tử luân hồi là vọng tâm
2. Phải y trụ nơi căn bản
***
_________
(1) Thân tâm đoạn diệt của Thinh Văn – Hàng
Thinh Văn Tiểu thừa rất sợ việc hoá đạo độ sanh, vì sợ gặp những nghịch
cảnh rồi vô minh phiền não nổi lên, mà phải bị thối chuyển. Bởi thế nên
các NGài cứ lo tu giải thoát một mình. Từ đời này cho đến kiếp nọ, ưa ở
chỗ thanh vắng tịch mịch, say đắm cảnh Niết bàn của Tiểu thừa, giữ tâm yên
tịnh luôn không dám khởi niệm, say mê với cảnh thiền, thân không lay
độngcũng như tro nguội, nên nói: “Thân tâm đoạn diệt”. Chỗ khác gọi rằng:
“Trầm không thú tịch khôi thân diệt trí”, nghĩa là: say sưa với cảnh
không, thích thú nơi tịch mịch, thân yên lặng như tro nguội, tâm trí diêt,
không móng niệm.
Bởi thế nên Phật quở hàng Tiểu thừa là loại
giống khô, mộng héo (tiêu nha bại chủng), nghĩa là thứ giống khô rụi,
không thể nứt mộng sanh chồi nữa được.
Phật lại dạy rằng: Không ai đem giống gieo
trồng trên hư không được, mà phải gieo trồng trên mặt đất. Giống Bồ đề
cũng thế, không thể gieo trồng nơi chỗ trống không được, mà phải gieo
trồng nơi đất chúng sanh. Bởi thế nên muốn thành quả Phật Bồ đề thì phải
hóa độ chúng sanh.
9. Không thể
dùng tâm chúng sanh, phân biệt được cảnh Phật
-Này Thiện nam! Nếu có suy nghĩ phân biệt là từ vọng tâm (thức) khởi, nên
tất cả suy nghĩ, đều là cái vọng tưởng phân biệt duyên theo bóng dáng của
sáu trần. Nó hư vọng như hoa đốm trong hư không, chẳng phải là chơn tâm.
Nếu ông dùng cái vọng tâm suy nghĩ này, mà suy nghĩ cảnh giới của chư
Phật, thì cảnh giới ấy cũng lẩn quẩn trong vòng vọng tưởng của chúng sanh
mà thôi. Cũng như người ngồi trong đợi cho hoa đốm giữa hư không kết
thành ra quả, thì không có thể được.
Này Thiện nam! ông dùng tâm hư vọng thô phù, sanh ra các lối chấp xảo
quyệt, (chấp càng) cho nên ông không thể nhập được cảnh Viên Giác chơn
thật của Như Lai. Bởi thế, nên những lời ông hỏi trên, đều là hư vọng phân
biệt, không phải lời hỏi đúng đắn chơn thật.
LƯỢC GIẢI
Ðức
Thế Tôn, sau khi trải qua thời gian ba vô số kiếp tu hành, được thành Phật
hiệu là Thích Ca Mâu Ni rồi, Ngài dạy rằng: “Nói thành Phật thật ra không
thành cái chi khác, mà chỉ trở lại với tánh Phật sẵn có đó thôi”. Trong
kin nói: “Thành mà vẫn không thành”, hay câu: “Ngộ liễu đồng vị ngộ, vô
pháp diệc vô tâm”. (Giác ngộ rồi cũng đồng như khi chưa giác ngộ, vì không
có pháp và cũng không có Tâm gì khác).
Tánh
Phật này, không riêng gì một mình Ngài có, mà tất cả chúng sanh đều có sẵn
có. Vì căn cứ theo Phật tánh sẵn có này, nên Ngài nói: “Tất cả chúng sanh
đều có tánh Phật” hay torng kinh Hoa Nghiêm nói: “Tất cả chúng sanh đều
sẵn có đầy đủ trí huệ đức tướng của Như Lai”. )nhứt thế chúgn sanh cụ hữu
Như Lai trí huệ đức tướng). Bởi thế nên Ngài nói: “Chúng sanh đã thành
Phật từ lâu”.
Vậy,
người muốn hiểu đến lý này, phải nhập cảnh giới Phật, trình độ phải gần
như Phật mới hiểu được. NẾu chỉ dùng tâm cấu nhiễm thô phù phân biệt của
chúng sanh, mà so tính đến cảnh giới Phật, thì làm sao hiểu được. Cũng
như người muốn hiểu câu nói của cụ già tám muơi, ít nhất trình độ cũng gần
như cụ già mới hiểu. Nếu dùng trí non nớt của trẻ con năm, mười tuổi, mà
suy nghĩ câu nói của cụ già thì làm sao hiểu được. Bởi thế nên Phật nói:
“những lời ông hỏi trên đêù là hư vọng phân biệt, không phải lời hỏi chơn
thật.
***
10. Phật nói bài
kệ để tóm lại các nghĩa trên
Khi
ấy đức Thế Tôn, muốn tóm lại các nghĩa trên, nên nói kệ rằng:
Kim Cang Tạng! Nên biết:
Như Lai tành vắng lặng,
Chưa từng có chung thỉ,
Nếu dùng tâm luân hồi,
Suy nghĩ cảnh giới Phật,
Cảnh Phật thành luân hồi.
Người ở bờ luân hồi,
Không thể vào biển Phật.
Phật tánh tuy sẵn có,
Phải tu mới hiển nhiên.
Cũng như vàng sẵn có,
Phải lọc quặng mới thành.
Khi đã thành vàng y,
Không trở lại làm quặng.
Sanh tử và Niết bàn,
Phàm phu cùng chư Phật,
Thảy đều như hoa đốm.
Tâm suy nghĩ đã huyễn,
Làm sao nhập được chơn.
Nếu rõ được tâm nầy,
Mới cầu được Viên Giác.
LƯỢC GIẢI
Bài
kệ này tóm lại các nghĩa trên. Ðại ý nói: Tánh Viên Giác của Phật thanh
tịnh vắng lặng, không có thánh phàm, chúng sanh và Phật v.v... Nếu dùng
tâm phân biệt của chúng sanh mà phân biệt cảnh giới PHật, thì cảnh Phật
cũng thành cảnh chúng sanh.
Chúng
sanh tuy sẵn có Phật tánh, nhưng phải nhờ có tu mới hiển. Cũng như chất
vàng tuy sẵn có trogn khoáng, nhưng phải nhờ lọc hết quặng mới thành vàng
y. Khi đã thành vàng y rồi thì không còn trở lại làm quặng nữa. Cũng như
khi đã thành Phật rồi không còn trở lại làm chúng sanh.
Bởi
đứng trong vòng vọng nhiễm tương đối, nên thấy có sanh tử và Niết bàn,
chúng sanh và Phật; chớ đứng về tánh Viên giác thanh tịnh của Như Lai, thì
các pháp trên đây đều như hoa đốm giữa hư không.
Ngài
Kim Cang Tạng Bồ tát vì muốn đại diện cho phàm phu, nên đã dùng tâm vọng
nhiễm của chúng sanh mà suy nghĩ so đo, thấy có chúng sanh và Phật, và giả
thốt ra các lời hỏi hư vọng ấy. Những lời hỏi này, đối với cảnh Viên giác
chơn thật của Như Lai, thì chẳng nhằm chi cả. Bởi thế nên Phật quở rằng:
“Những lời ông hỏi đều không chơn chánh”.
Vậy
nên, hành giả phải rời các vọng niệm phân biệt, mới hiểu được tánh Viên
Giác.
--- o0o ---
Mục
Lục Khóa
VIII
Bài
1
|
Bài
2
|
Bài
3
|
Bài
4
|
Bài
5
Bài
6 |
Bài
7 |
Bài
8 |
Bài
9 |
Bài 10 - 11|
Bài 12
--- o0o ---
Mục
Lục Toàn Bộ | Khóa I
| Khóa II | Khóa
III | Khóa
IV
Khóa V
| Khóa
VI | Khóa VII | Khóa
VIII
Khóa IX
| Khóa
X - XI | Khóa XII
--- o0o ---
Vi tính: Trúc Oanh
Cập nhật: 05/2003