Trang tiếng Việt

 Trang Nhà Quảng Đức

Trang tiếng Anh

PHẬT HỌC CƠ BẢN


...... ... .

 

 

GIÁO DỤC HỌC PHẬT GIÁO

LÝ KIM HOA Ph.D.

 

---o0o---

 

Dẫn nhập.

1. Khái niệm về giáo dục.

Giáo dục có từ rất sớm khi động vật xuất hiện trên hành tinh. Do bản năng sinh tồn và bảo tồn nòi giống loài vật cũng biết dạy con chuyền cành, săn mồi tìm kiếm thức ăn. Có điều là động vật không có khả năng truyền đạt bằng ngôn ngữ nên cách dạy con săn mồi từ xưa vẫn không có tiến bộ thay đổi. Còn giáo dục của loài người thì theo thời gian đã tiến triển từ những cách luyện tập giản đơn truyền đạt từ một người riêng lẻ đến một người riêng lẻ, rồi từ một người đến tổ chức đám đông. Từ đó trường học được thành lập, bao nhiêu lãnh vực giáo dục được phát triển như loại hình, quan niệm, triết lý, nội dung, tổ chức, phương pháp v.v...đều luôn luôn tiến bộ để tốt hơn, hiệu quả hơn và thích nghi với hoàn cảnh thực tế. Vì vậy W.O.Lester  Smith, giáo sư Đại Học Luân Đôn, chủ tịch Hội nghiên cứu giáo dục Anh Quốc năm 1964 đã nói: ”Khi nghĩ về giáo dục ta không được quên rằng giáo dục có tính cách phát triển của một cơ thể. Nó thường xuyên tuỳ thuộc và liên tục thay đổi để tự thích ứng với những nhu cầu mới và hoàn cảnh mới. Nếu cứ khư khư muốn đơn giản hoá ý nghĩa của giáo dục vào một định nghĩa theo chủ quan có tính giáo điều thì ắt hẳn không phải thái độ đúng đắn của nhà giáo dục. Nhà giáo dục Ý Disraeli có lần đã bảo rằng ông rất ghét những định nghĩa. Ông cho rằng trong việc nghiên cứu giáo dục thì những định nghĩa không khác gì những tên đầy tớ tốt nhưng lại là những ông chủ xấu. Vì lẽ nó phục vụ trung thành cho một quan điểm chủ quan và do đó giết chết ý tưởng, sáng kiến về những quan điểm rộng rãi và phương cách thích nghi trong tiến trình sinh hoạt của loài người.

2. Quan niệm buổi đầu về giáo dục.

Giáo dục  theo từ  tiếng Hán  thì  giáo nghĩa là dạy là rèn  luyện về  đường tinh thần nhằm phát triển  tri thức  và huấn luyện  tình  cảm đạo đức,  dục  là nuôi là săn  sóc về mặt thể chất. Ở Trung Quốc từ giáo dục xuất hiện rất sớm. Trong Mạnh Tử có câu: "Đắc thiên hạ anh tài nhi giáo dục chi.” (Tận Thượng). Nghĩa là giáo dục để được anh tài trong thiên hạ. Theo phương Tây thì từ Education vốn phát xuất từ  chữ  Educare của tiếng La Tinh. Chữ E có nghĩa là out tức là làm phát xuất ra và chữ ducare có nghĩa là to lead tức dắt dẫn lôi kéo của tiếng Anh.  Động từ Educare là dắt dẫn,  hướng  dẫn  để  làm phát  khởi ra những khả năng tiềm tại. Sự dắt dẫn này nhằm đưa con người từ không biết đến biết,  từ xấu đến tốt,  từ thấp kém đến cao thượng, thiếu sót đến đầy đủ.  Từ Education xuất hiện ở Pháp từ đầu thế kỷ 16 nhưng đến  giữa thế kỷ 17,  Viện  Hàn Lâm Pháp mới đưa ra định nghĩa  đầu  tiên  như  sau: “Giáo  dục  là sự  dạy  dỗ trẻ em hoặc về phương diện trí tuệ hoặc về phương diện thể chất.” (L’éducation c’est le soin qu’on prend de l’instruction des enfants, soit en ce qui regarde les exercices de l’esprit, soit en ce qui regarde les exercices du corps.) Như vậy lúc đầu chữ Education đồng nghĩa với chữ Intruction, nghĩa là giảng dạy hay nói cách khác là sự truyền thụ kiến thức làm cho nảy nở thêm lên ví như vun trồng loài cây hay tập luyện loài vật vậy.

Như vậy quan niệm buổi đầu về giáo dục,  phương Đông cũng như phương Tây đều giống nhau ở chỗ lấy con người làm đối tượng và nhằm phát triển ba phương diện trí tuệ, tình cảm và thể chất. (Xin tham khảo thêm bài của HT. Thích Thiện Siêu, SĐD, tr. 30, đoạn nói về từ Giáo Dục )

3. Giáo dục học Phật giáo.

Phật giáo có hay không có một nền giáo dục? Nếu có thì nền giáo dục ấy như thế nào? Câu hỏi đặt ra nghe có vẻ ngớ ngẩn nhưng thật sự ta phải đặt ra, ta phải khẳng định rõ ràng và có bổn phận nói đến tai giới nghiên cứu trong nước và nước ngoài. Bởi giáo dục Phật giáo là một lãnh vực còn bị bỏ hoang đối với giới nghiên cứu giáo dục. Những tác phẩm có tính cách tổng kết giới thiệu các nền giáo dục của thế giới như quyển The World of Education của Rena Foy của nhà xuất bản Mac Millan Luân Đôn ấn hành năm 1967 cũng chỉ nói đến giáo dục cổ Hi Lạp, giáo dục của đế quốc La Mã, giáo dục Khổng giáo, giáo dục Thiên chúa giáo và quyển The Development of Education in The 20th Century của Meyer do  nhà xuất bản Prentice-Hall tái bản nhiều lần đều không hề động cập đến giáo dục Phật giáo. Tiến sĩ Kanazawa Tomitar  trong lời tựa quyển Nghiên cứu tư tưởng giáo dục Phật giáo của ông xuất bản năm 1955 đã than rằng: “Nhìn lại quá trình nghiên cứu lịch sử giáo dục Phật giáo Nhật Bản từ trước đến nay, ta thấy vai trò của Phật giáo đã nhìn lại quá trình nghiên cứu lịch sử giáo dục Phật giáo Nhật Bản từ trước đến nay, ta thấy vai trò của Phật giáo đã hết sức bị xem nhẹ.” Khổng Tử đề cao lễ nhạc, giảng dạy đạo tam cương ngũ thường, san định Kinh Thi, để lại cho đời bộ Luận Ngữ đươc hậu thế tôn xưng là “Vạn thế sư biểu”. Jesus Christ cho đến khi bị đóng đinh trên cây thập giá còn lại một quyển gọi là Kinh Thánh nằm gọn trong lòng bàn tay, nhà xuất bản Prentice-Hall trong The Educator’s Encyclopedia đã lặt ra 4 điểm gọi là những đóng góp của Thiên chúa giáo cho nền giáo dục thế giới. Còn Thích Ca Mâu Ni từ khi đứng dậy dưới cây Pippala cho đến khi nằm xuống giữa hai cây Sala một đêm trăng vàng, ròng rã 45 năm không mỏi mệt đi khắp miền của bán đảo Ấn Độ giảng dạy từ vương hầu tể tướng, bà la môn, cư sĩ, thương nhân cho đến người paria cũng được hoá độ. Những lời vàng ấy đã được kết tập thành ba tạng giáo bằng văn hệ Pali và Sanskrit và đã được dịch ra nhiều thứ tiếng, có tác dụng như ngọn gió mát trong lành thổi vào cái sinh hoạt của con người nhất là trong thế giới đầy sôi sục của thế kỷ 21. Đó là điều không hể phủ nhận.

Vậy đến đây câu hỏi có hay không có một nền giáo dục Phật giáo tưởng không phải đợi câu trả lời. Trước khi triển khai sang các phần khác, ở đây xin được trích một đoạn của giáo sư Minh Chi  trong  bài   GIÁO DỤC PHẬT GIÁO ĐỐI DIỆN NHỮNG  VẤN  ĐỀ  HIỆN  ĐẠI trong cuộc hội thảo GIÁO DỤC PHẬT GIÁO TRONG THỜI HIỆN ĐẠI do Viện Nghiên Cứu Phật Học Việt Nam tại TP. HCM tổ chức, xuất bản năm 2001 để cùng nhau suy nghĩ :

“Cho đến nay, chúng ta thường hạn chế số người làm chức năng giáo dục trong tăng sĩ, và giờ giáo dục Phật giáo trong các buổi thuyết pháp hay là lên lớp ở các trường Phật học cơ bản và cao cấp. Một quan niệm hẹp như vậy làm giảm sút hiệu quả của giáo dục Phật giáo rất nhiều. Tất cả những người không kể là xuất gia hay tại gia, một khi đã tin vào chân lý của những giá trị triết lý đạo ức của đạo Phật và sống theo đúng những giá trị đó, đều mặc nhiên trở thành những nhà giáo dục Phật giáo, bằng thân giáo, bằng mọi hành vi và lời nói của mình.” (Minh Chi, SĐD, tr.88 )

Nếu thời Phật tại thế đã có một Duy Ma Cật giảng diễn Phật pháp dưới sự ấn khả của Phật, cũng như một Thắng Man phu nhân được Phật cho phép đã giảng giải ý nghĩa nhất thừa đạo, là hình ảnh một cư sĩ nam một cư sĩ nữ đã thực hành vai trò giáo dục, giảng nói ý nghĩa cao tột của Phật giáo thì sau Phật diệt độ không lâu một Asoka đã thực hiện truyền bá Phật giáo sang phương Nam và sự nghiệp truyền bá Phật giáo cũng như sự nghiệp giáo dục Phật giáo của ông không bao giờ phai mờ trong lịch sử đạo Phật.

 II. Các lãnh vực giáo dục.

1. Tư tưởng giáo dục Phật giáo.

1.1. Tư tưởng nhất thừa.

Tư tưởng nhất thừa là cứu cánh của giáo dục Phật giáo. Tư tưởng này thể hiện rõ nét nhất trong Kinh Pháp Hoa. Phẩm Phương Tiện có bài kệ như sau:

Chư Phật lưỡng túc tôn

Tri pháp thường vô tính,

Phật chủng tùy duyên khởi.

Thị cố thuyết nhất thừa

Thị pháp trụ pháp vị,

Thế gian tướng thường trú.

Nghĩa là:

Chư Phật lưỡng túc tôn

Biết pháp thường không tính,

Giống Phật tùy duyên khởi.

Cho nên nói nhất thừa

Là pháp trụ pháp vị,

Tướng thế gian thường trú.

(Bản dịch KINH PHÁP HOA của Nguyên Hồng )

Về hình thức ngữ pháp trong bài kệ này ta lưu ý chữ “Thị cố” là một liên từ và chữ “Thị” là một động từ. Về nội dung cần lưu ý chữ “tính” ở câu đầu và chữ “tướng” ở câu cuối. Không tính nghĩa là không có tự tính. Tất cả các pháp đều theo luật duyên khởi. Nhất thừa là “pháp trụ pháp vị”, nhất thừa là “tướng thế gian thường trú”.

Tướng thường trú là thật tướng bình đẳng thường hằng trong tất cả các pháp không phân biệt thế gian hay xuất thế gian.

Qua bài kệ này ta thấy nhất thừa là tư tưởng tuyệt đối bình đẳng không phân biệt, là phổ biến và luôn tồn tại. Kinh Niết Bàn Phật dạy:”Nhất thiết chúng sinh tất hữu Phật tính.” Nghĩa là tất cả chúng sinh đều có Phật tính tất hữu. Cái Phật tính tất hữu tồn tại trong tất cả chúng sinh. Cho nên tất cả chúng sinh đều có khả năng thành Phật. Có khả năng đạt được sự viên mãn cao tột. Tư tưởng nhất thừa cũng là tư tưởng một là tất cả, tất cả là một (nhất tức nhất thiết, nhất thiết tức nhất), là tư tưởng không xa rời (bất ly). Là phiền não tức bồ đề, sinh tử tức niết bàn, cảnh giới niết bàn và thế giới hiện thực là một. Là Phật cũng ở thân này(Tức thân thành Phật), là tâm thanh tịnh tức cõi Phật thanh tịnh (Kinh Duy Ma).

Tổ sư Huệ Năng trong Kinh Pháp Bảo Đàn có bài kệ như sau: 

            Phật pháp tại thế gian

            Bất ly thế gian giác.

            Ly thế mích bồ đề

            Cáp như cầu thố giác.

Nghĩa là:

            Phật pháp ở trong đời

            Không lìa đời mà có.

            Bỏ đời đi tìm đạo

            Như tìm sừng con thỏ.

(Nguyên Hồng dịch, KINH PHÁP BẢO ĐÀN, 2000, NXB TP. HCM )

Lý Đạo Tải người xã Vạn Tư huyện Gia Bình tỉnh Bắc Ninh đỗ Giáp Khoa triều Nhà Trần, ngày nọ theo vua Trần Nhân Tôn đến chùa Vĩnh Nghiêm nghe thiền sư Pháp Loa thuyết pháp bèn ngộ đạo than rằng:

            Vi quan cư Bồng Đảo,

            Đắc đạo đáo Phổ Đà.

            Chân thế thượng tiên,

            Tây phương Phật dã.

nghĩa là:

            Làm quan ở Bồng Đảo

            Đắc đạo đáo Phổ Đà.

            Là tiên ấy cũng là ta,

Cũng là Phật ở liên toà phương Tây.rồi nhân đấy qua núi Yên Tử trụ trì chùa Yên Vân, hiệu Kim Cương Huyền Quang. Sau khi mất được dân chúng lập đền thờ ở xã Vạn Tư huyện Gia Bình tỉnh Bắc Ninh được triều đình sắc phong là Huyền Quang tôn giả hộ quốc tế thế thiền sư chi thần. Qua bài thơ ngộ đạo tư tưởng nhất thừa cũng được toát lên rõ rệt.

Thiền sư Đạo Nguyêân, tổ sư phái thiền Tào Động, trong Vĩnh Bình Quảng Kýù đã viết:”Nhất trần cử, đại địa thâu. Nhất hoa khai, thế giới khởi. Nhất niệm thấu thoát, bát vạn tứ thiên trần lao đốn trừ. Nhất cú đương cơ, bát vạn tứ thiên pháp môn thành tựu. Thí như cử võng tắc võng tuỳ, cử lãnh tắc sa tuỳ. Nhất vi vô lượng, vô lượng vi nhất. Tiểu trung hiện đại, đại trung hiện tiểu. Ư nhất hào đoan, hiện bảo vương sát. Ư vi trần lý, chuyển đại pháp luân.” (Quyển 6, tr.554-555 ) Nghĩa là đưa một hạt bụi lên thâu hết cả đại địa, một đoá hoa nở mở ra cả một thế giới. Một niệm thông suốt dứt  trừ  ngay tám vạn  bốn  ngàn  trần lao. Một câu trúng cơ là tám vạn bốn ngàn pháp môn thành tựu. Ví như nhấc lưới thì cả lưới đều theo lên, nhấc áo thì cả áo đều theo. Một là không lường hết, không lường hết là một. Trong cái nhỏ hiện ra cái lớn. Trong cái lớn hiện ra cái nhỏ. Một vương quốc hiện ra trên đầu một mảy lông. Quay bánh xe pháp lớn trong một hạt bụi.

Như trên đã trưng dẫn cái đạo lý nhất thừa nói riêng hay triết lý Phật giáo nói chung mà người đời thường cho là cao siêu huyền diệu đó liệu có làm ra cơm gạo thuốc men để giải quyết cảnh nghèo đói bệnh tật cho nhân loại không? Cái đạo lý cao siêu đó có giải quyết được cái mâu thuẫn về sắc tộc, tôn giáo đang sôi sục trên thế giới, là nguy cơ đe dọa nhân loại trong thế kỷ 21 này với vũ khí hạt nhân, vũ khí hoá học, vũ khí sinh học đang ngấp nghé thực hiện những cuộc thám sát giết người hàng loạt hay không?

Để trả lời câu thắc mắc đó xin dẫn ra một câu trong Kinh PHÁP HOA, Phẩm Phương Tiện. Phật nói: ”Chư Phật thế tôn vì một nhân duyên trọng đại mà xuất hiện ở đời.” Xưa nay người giảng kinh dạy đạo thường thích đào sâu cái huyền bí nhiệm mầu, thành ra người giảng diễn Phật pháp lại là người làm cho Phật pháp trở thành nên khó hiểu, trở thành khó tiếp cận. Khi giảng câu này, các giảng sư không ắt nói đến ứng thân như lai, rồi nói đến ba thân của như lai rồi nói đến bản thể tự tính thanh tịnh để giảng nghĩa chữ đại sự nhân duyên là giáo hoá chúng sinh đạt đến Phật thừa cứu cánh. Nhưng chắc ít ai giảng nói chữ xuất hiện với một ý nghĩa hết sức thế gian là tinh thần nhập cuộc, tinh thần dấn thân, dũng mãnh không sợ sệt, tự nguyện dạy dỗ dìu dắt mọi người để được kết quả cao nhất, hoàn thiện nhất của con người. Giảng như vậy không có nghĩa là hạ thấp giáo lý nhà Phật, không có nghĩa là thế tục hoá đạo Phật mà chính là vận dụng được tinh thần Phật pháp vào trong cuộc sống. Nếu không vận dụng tinh thần  được tinh thần Phật dạy vào cuộc sống thì không hực hiện được ý nghĩa giáo dục, cô phụ cái “đại sự nhân duyên xuất hiện ư thế” của Phật biết bao, và không có lý gì để chứng tỏ sự tồn tại của Phật giáo là cần thiết cho nhân loại.

1.2. Tư tưởng xã hội.

Trong khi khuyến khích sinh hoạt xuất gia, đó là phương pháp để đạt mục đích giải thoát, một mặt đức Phật cũng rất quan tâm và tôn trọng sinh hoạt thế tục. Trong 45 năm hoạt động giáo hóa, từ những việc lớn liên quan chính trị quốc gia đến những việc nhỏ như kinh tế tiêu phí của tăng đoàn và chi tiêu trong gia đình của tín đồ tại gia, từ vấn đề lớn như chế độ chủng tính đến nhỏ như như quyền lợi và nghĩa vụ của vợ chồng, nhiều vấn đề hiện thực đa dạng thuộc phạm vi thế tục đều được Phật dạy đến. Từ sau thời đức Phật nội dung giáo dục đa dạng này đã được triển khai, thực tiễn hóa trong sinh hoạt kinh tế xã hội hiên thực. Đến nay nếu hệ thống kết quả đó chắc chúng ta sẽ có một kho tài liệu không nhỏ các kinh điển và những trước tác về “học thuyết xã hội của Phật giáo”. 

1.2.1. Xã hội quan trong Phật giáo nguyên thủy.

Giáo nghĩa căn bản của đức Phật là dạy chúng ta giải thoát vô minh phiền não, giác ngộ thành Phật bằng thực hành 8 con đường chân chính. Qua đó rõ ràng xã hội quan của Phật giáo nguyên thủy đặt nền móng trên chủ nghĩa lợi tha và chủ nghĩa liên đới.

Xã hội quan Phật giáo thường được biểu hiện bằng tăng già, tức chúng hòa hợp. Nghĩa hẹp của tăng già là đoàn thể xuất gia sống hòa hợp. Nếu ai có hành vi phá hoại sự hòa hợp đó là phạm tội ngũ nghịch. Thế nhưng có trường hợp từ tăng già không chỉ riêng đoàn thể xuất gia như tì khưu, tì khưu ni thôi mà còn được hiểu với ý nghĩa là một tập thể các đệ tử  đức Phật và tín đồ nhà Phật. Mối tương quan xã hội trong trường hợp này là tăng già thí pháp cho người tại gia, đối lại người tại gia thí y thực cho người xuất gia, hai bên dựa vào nhau, phò trợ nhau duy trì cuộc sống hòa hợp. Đây có thể coi như tế bào của một cộng đồng thể từ đó phat triển ra xã hội, đến quốc gia, thế giới trong lý tưởng xã hội của Phật đà. Đức Phật không chỉ chú trọng vào tăng già mà còn mở rộng sự hòa hợp vào các tổ chức, đoàn thể bằng đường lối 4 phép nhiếp hóa, tức bố thí, ái ngữ, lợi hành và đồng sự. Bố thí như thế gian gọi là hoạt động từ thiện, phúc lợi xã hội. Bố thí trong Phật giáo là đưa ra chứ không thu vào cho mình. Bố thí có phạm vi rộng gồm tài, pháp, vô úy, và thái độ hành vi bố thí là “tam luân không tịch”. Công đức bố thí diễn tả trong câu chuyện “Ngọn đèn của một nữ thí chủ” tạo rất nhiều ấn tượng. Ái ngữ là nói lời nhu nhuyến tạo sự đoàn kết hòa hợp đem lại niềm vui lòng hi vọng và tin tưởng cho mọi người. Lợi hành là làm tất cả mọi sự cho phúc lợi thế gian và xuất thế gian. Đồng sự là kề vai sát cánh, đồng hành cùng mọi người, vất vả gian nan cùng chia sẻ, phúc lợi cùng chung hưởng đồng đều. Không có người chỉ huy cho người khác làm hay ngồi xem người khác làm. (Xem Kinh Lễ Bái Sáu Phương – Kinh Dạy Người Thi Ca La Việt, Nam truyền đại tạng kinh, Q.8, tr. 257 ) Tổ chức nông thiền của tổ Bách Trượng đời Đường ở Trung Quốc với câu “Nhất nhật bất tác nhất nhật bất thực” (Một ngày không làm một ngày không ăn ) là một thí dụ.

Đức Phật dạy làm người phải có nghĩa vụ đền đáp, đó là thái độ sống đạo đức trong quan hệ gia đình và xã hội.  Trong Kinh Lễ Bái Sáu Phương Phật dạy nên lễ bái sáu phương. Đây không phải hành động sụp lạy 6 cái khoảng không vô tri vô giác. Lễ bái là phụng thờ, tôn kính, tri ân, báo đáp. Sùáu phương đó là: Phương Đông tượng trưng cha mẹ, Phương Nam tượng trưng thầy dạy, Phương Tây tượng trưng vợ con trong gia đình, Phương Bắc tượng trưng bạn hữu, Phương dưới tượng trưng người giúp việc và Phương trên tượng trưng đạo sĩ. Đó là sáu đối tượng mà làm người phải có nghĩa vụ báo ân báo đức và phục vụ. 

1.2.2. Đạo đức kinh tế trong Phật giáo nguyên thủy.

Cuộc đời đức Phật phần lớn du hành rày đây mai đó. Phật tán thán người đời đã vì những người xuất gia tu hành thiết lập tinh xá, cung cấp giường nằm, tọa cụ, y phục, ẩm thực vật, chăm sóc thuốc thang cho người xuất gia. Những việc làm đó gọi là tạo phúc lợi thế gian. Còn hoan hỉ tu tập Phật đạo là tạo phúc lợi xuất thế gian. Không chỉ hướng về tăng già xuất gia, đức Phật cũng đặc biệt ca ngợi những việc làm công ích như săn sóc người bệnh, thiết lập những phương tiện giúp người qua đường như làm thuyền bè, cầu bến, nhà nghỉ, mở đường, tránh hiểm, đào giếng nước, nhà cấp nước uống, trồng cây xanh v.v..(Tạp A Hàm, Q.36 )

Phật tử hành thiện hạnh tu thiện nghiệp là tïạo phúc đức. Vì ý nghĩa đó, nơi phát sinh phúc đức gọi là phúc điền. Và do đó phúc điền trở thành nguyên nhân của hành vi lợi tha. Kết quả đó, cũng giống như đối vớităng ni, Phật tử mở rộng phúc điền đối với đông đảo dân chúng, đặc biệt là tăng tiến các hoạt động trợ giúp người nghèo người bệnh và các hoạt động phúc lợi công cộng.

Với người xuất gia đức Phật khuyên tinh tiến tu hành, nhưng đối với người tại gia Phật khuyên trước tiên phải siêng năng trong nghề nghiệp. Phật dạy mối quan hệ hỗ tương quan trọng nhất là phải nắm vững chức năng của mình trong trật tự xã hội. Bất cứ ai từ vua chúa võ sĩ bà la môn nông dân thương nhân đều có chức nghiệp của mình. Không những thế, chức nghiệp không phân biệt quí tiện. Có điều là người tại gia phải sở đắc bằng chức nghiệp chính đáng của mình. Những chức nghiệp chính đáng được đưc Phật nêu ra như sau: nông nghiệp, chăn nuôi, thương nghiệp, thủ công nghiệp, kinh doanh cho thuê nhà ở, công chức, thầy giáo, thư ký, giúp việc nhà v.v... tức là những nghề nghiệp hiẹân chính thức được công nhận.  Còn những hoạt động kiếm lợi nhuận như buôn bán chế tạo vũ khí, thuốc độc, nấu rượu, kinh doanh quán rượu, hành thương qua sa mạc, buôn bán nô lệ, hành nghề sát sinh, bán hàng thịt, mãi dâm, kinh doanh du hí, làm thầy bói toán. Đó là những nghề nghiệp theo giới luật nhà Phật là không thích đáng. Đặc biệt trong kinh Tạp A Hàm và Tăng Nhất A Hàm Phật dạy nhiều chi tiết liên quan về thương nghiệp.

Về mặt quản lý gia đình hợp lý, Phật dạy thu nhập phải do hoạt động nghề nghiệp chính đáng và chia làm 4 phần: chi phí cho xã hội, chi phí cho gia đình, ngân khoản tái đầu tư, ngân khoản dự trữ bảo hiểm tai nạn. Chính sách quản lý theo Phật dạy này đã trở thành nguyên lý chỉ đạo về quản lý kinh tế truyền thống của các nước Phật giáo ở Châu Á. (Xem Ono Shinzo trong Nguyên Lý Kinh Tế Học, quyển thượng, 1956 ) Tên gọi cũng như tỷ lệ phân chia của 4 phần trên tương đối có khác nhưng về đại thể không cách xa nhau mấy.

Điều đức Phật cảnh giác nhất đối với kinh tế gia đình là sự lãng phí. Phật dạy có 6 nguyên nhân đưa đén lãng phí là : 1. Uống rượu, 2. Chơi đêm, 3. Ham khoái lạc, 4. Cờ bạc,  5. Bạn xấu, 6. Lười biếng. (Kinh Lễ Bái Sáu Phương ) 

1.2.3. Tinh thần và nội dung của luân lý đại thừa phát triển.

Nối tiếp phần trên xin nói thêm về tư tưỏng phúc điền thời hậu kỳ Phật giáo. Theo đó thì tư tưởng phúc điền còn nhân rộng ra có tam phúc điền và bát phúc điền. Tam phúc điền là: 1. Kính điền (Phụng sự Tam bảo ) 2. Ân điền (Báo ơn cha mẹ ) và 3. Bi điền (Phục vụ người nghèo khổ tật bệnh ). Tam phúc điền còn được gọi dươới tên khác là: 1. Báo ân điền (Báo ân cha mẹ ) 2. Công đức điền (Cúng dường Tam bảo ) và 3. Bần cùng phúc điền (Phục vụ người nghèo khổ). (Sự phân chia này là trong Ưu Bà Tắc Giới Giáo ) Bát phúc điền thông thường là: 1. Phật điền  2. Thánh nhân điền  3. Tăng điền (Ba loại này gọi là Giáo điền ) 4. Hòa thượng điền  5. A Xà Lê (Sư tượng ) điền  6. Phụ điền  7. Mẫu điền (Bốn loại này gọi là Ân điền ) và  8. Bệnh điền (Loại này gọi là Bi điền ). Bát phúc điền đôi khi cũng chỉ vào 8 hành sự sau đây: 1. Mở đường, đào giếng  2. Làm cầu qua sông  3. San lấp lối đi hiểm trở  4. Hiếu dưỡng cha mẹ  5. Cung kính Tam bảo  6. Cấp dưỡng bệnh nhân  7. Cứu tế người nghèo khổ  8. Mở pháp hội vô giá (tức cúng thí cô hồn ). (Sự phân chia này được mô tả trong Kinh Phạm Võng ).

Ở Nhật Bản cũng như các quốc gia theo Phật giáo ở Đông Nam Á có thể nói đã dựa trên cơ sở này mà phát huy tư tưởng chính sách xã hội và sự nghiệp xã hội. (Những điều đề cập này được dẫn lại trong Nghiên Cứu Sử Kinh Tế Nhật Bản,  Quyển hạ tr. 590 của Uchida Ginz và Nhật Bản Phật Giáo Xã Hội Sự Nghiệp Sử của Asano Kenshin )

Các cao tăng nhiều đời đã dốc chí suy nghĩ và thực hiện ý nghĩa về chính sách xã hội của tư tưỏng phúc điền mới để lại cho đời nhiều sự nghiệp quí trọng .

Các cao tăng nhiều đời đã dốc chí suy nghĩ và thực hiện ý nghĩa về chính sách xã hội của tư tưỏng phúc điền mới để lại cho đời nhiều sự nghiệp quí trọng nay đã trở thành tài sản của cộng đồng như  tinh xá, phòng tăng, bệnh xá, trường học, nhà cứu tế, vườn cây, rừng trồng, bến thuyền, cầu đường, giếng nước công cộng, nhà vệ sinh công cộng v.v... Và những tài sản ấy ngày nay còn là của công là do liên quan căn bản đến giới không trộm cắp trong giới luật nhà Phật. Ở Nhật Bản ngày nay ngoại ô thành phố nhà cửa phòng xá vẫn không dùng ổ khoá, vật rơi không ai nhặt, việc lấy trộm bị khinh miệt như một sự đồi bại về đạo đức.

Trong hậu kỳ Phật giáo có rất nhiều hình tượng bồ tát mỗi mỗi tượng trưng cho ý nghĩa của Phật dạy như bồ tát Di Lặc tượng trưng tinh thần vị tha hóa độ, tương lai sẽ là vị Phật kế tiếp đức Thích Ca Mâu Ni thuyết giáo độ sinh.

Tì khưu Pháp Tạng lập 48 lời nguyện mở ra cảnh giới Tịnh Độ tiếp dẫn chúng sinh, thành Phật hiệu A Di Đà vô lượng quang vô lượng thọ. Xuất phát từ tinh thần từ bi cứu khổ có bồ tát Quán Thế Âm. Tượng trưng trí tuệ bát nhã để giác ngộ thì hình tượng Văn Thù đã được nhân cách hóav.v... Đứng về thể mà nói thì hình tượng bồ tát là đồng thể với chư Phật quá khứ hiện tại cũng như vị lai. Đứng về dụng mà nói thì hình tượng bồ tát là mẫu người vị tha không còn ai vị tha hơn, là mẫu người lý tưởng, với trí tuệ sắc như gươm và lòng dũng cảm hùng mạnh như núi Tu Di đi vào đời để giải quyết các mặt sinh hoạt trong cuộc sống hiẹân thực. Chúng sinh đau khổ, bồ tát thương yêu chúng sinh như con. Nỗi đau của chúng sinh như biển lớn thì số bồ tát cũng không thể kể xiết. Trong thực tiễn, người tu Phật hành bồ tát đạo là người sáng suốt và dũng cảm dùng mọi phương tiện đem giáo pháp đến với mọi người. Trước khi thành lập giáo đoàn đại thừa Phật giáo thì chỉ tăng già là đoàn thể xuất gia duy nhất đủ tư cách “đại Phật tuyên dương” thực hành tài thí. Thế nhưng về sau tình hình ngày một tăng dần sắc thái tại tục. Kinh Duy Ma, Kinh Thắng Man là những thí dụ chân xác. Trong thời hiện tại không thiếu những hình bóng, không thiếu những đoàn thể tổ chức tại tục làm công việc nghiên cứu diễn giảng Phật pháp.

 

1.2.4. Lý tưởng và thực tiễn trong Phật giáo đại thừa phát triển.

Tuyệt đỉnh lý tưởng của xã hội Phật giáo là thế giới Tịnh Độ. Một thế giới bình đẳng, hòa bình an vui không phải lo âu về cuộc sống, “tưởng y y chí, tưởng thực thực lai”. Thế nhưng hiện tại cộng đồng xã hội Phật giáo chỉ thực hiện một phần. Cho nên đương nhiên dù mang một lý tưởng siêu xuất thế gian, Phật giáo cũng không thoát khỏi sự chi phối của hoàn cảnh xã hội, đặc biệt là về chính trị và luật pháp. Tất nhiên dưới chế độ quân chủ chuyên chế đương thời, muốn đưa Phật giáo vào trong dân chúng không thể không thông qua những hoạt động chính trị của quốc gia.

Trong Chính Pháp Chính Lý Luận (Đại Chính ĐTK Q.31 ) và Du Già Sư Địa Luận (Q.61, Nhật Bản Quốc Dịch ĐTK, Luận Bộ Q.8 ) có nói đến tư cách và điều kiện đức hạnh của nhà vua như sau: 1. Xuất thân chủng tính tôn qúi  2. Có thể hành động tự do tự tại  3. Không bạo ác  4. Thưởng phạt nghiêm minh  5. Cho dân chúng thấm nhuần ân trạch  6. Tiếp thu những lời trung ngôn chính trực  7. Xử lý thận trọng mọi sự  8. Thường để tâm vào những điều dạy chân chính  9.Đánh giá đức tính và năng lực của bề tôi, tôn trọng các công lao quá khứ của họ  10. Tránh những hành động buông thả phóng túng. Kinh Nhân Vương Bát Nhã được Nhật Bản quí trọng như một trong những kinh điển hộ quốc. Các kinh điển hậu kỳ đại thừa con dạy vị quốc chủ phải có 3 chức năng xây dựng đất nước: 1. Kiến lập đế vương nghiệp luận dạy rằng: “Khéo dạy binh sĩ việc quân trận, chiến đấu, hàng phục binh chúng nước ngoài, phủ dục nhân dân.” 2. Kiến lập điền trạch nghiệp luận dạy rằng: “Khéo dạy nhân dân xây dựng nhà ở, kinh doanh nông nghiệp cho đời sống được an cư no đủ.”  3. Kiến lập tài bảo nghiệp luận dạy rằng: “Khéo dạy nhân dân học các ngành công thương tạp nghệ để có nhiều của cải tuy ý tiêu dùng, cuộc sống thêm an vui.” (Xem Đại Thừa Thập Tập Địa Tạng Thập Luân Kinh, Q.2, Đại Chính ĐTK 13.7.30 )

Ngoài ra, thế giới Hoa Nghiêm mở ra một mô dạng xã hội sinh thái học của Phật giáo. Nơi đay dân chúng trong xã hội chỉ trồng một căn lành rất nhỏ cũng được một kết quả vô cùng to lớn (Kinh Hoa Nghiêm, Phẩm Ly Thế Gian ). Qua đó ta khám phá ra một nguyên lý kinh tế học quan trọng.  Và tư tưởng Tịnh Độ trong Phật giáo là một đề xuất về một xã hội lý tưởng như trên đã nói. Tuy nhiên Tịnh Độ của Phật giáo không phải một thứ thiên đàng hư cấu, không tưởng mà đó là một thế giới hiên thực do khả năng vận dụng trí tuệ giác ngộ và nỗ lực của con người như tinh thần của Kinh Pháp Hoa, Kinh Duy Ma, Kinh Pháp Bảo Đàn đã thuyết giảng.

 

1.2.5. Các kinh điển đậm màu sắc xã hội.

1. Kinh Pháp Hoa: Phẩm Phổ Môn với tinh thần cứu khổ cứu nạn của bồ tát Quán Thế Âm. Phẩm Phổ Hiền bồ tát khuyến phát dạy về thiểu dục tri túc. Phẩm Dược Vương nói về thiêu thân cúng dường, vì pháp xả thân.

2. Kinh Hoa Nghiêm: Nói về hành trình cầu đạo của đồng tử Thiện Tài.

3. Kinh Duy Ma: Hình ảnh người cư sĩ tại gia.

4. Kinh Khổng Tước Minh Vương: Nói thụ trì độc tụng kinh này sẽ được giải trừ ách nạn, oán địch, tật bệnh, được sống yên ổn.

5. Luận Du Già Sư Địa: Nói về niềm vui được 7 thứ thánh tài mà của cải thế gian không có được:

- Niềm vui thanh tịnh do tôn trọng chữ tín.

- Niềm vui làm các thiện hạnh.

- Niềm vui có những sở thích cao thượng.

- Niềm vui không chê bai khuyết điểm người khác.

- Niềm vui hiểu đúng Phật pháp.

- Niềm vui không để lại của cải dư thừa cho con cháu.

- Niềm vui phát sinh do thực hành Phật pháp.

6. Kinh Đại Tập: Nói về những tác hại do không tin kính kinh này.

7. Kinh Kim Quang Minh : Phẩm Tứ Thiên Vương nói về hộ trì quốc gia. Kinh này cùng với Kinh Pháp Hoa và Kinh Nhân Vương được Phật giáo Nhật Bản gọi là “hộ quốc tam bộ kinh”.

8. Kinh Phạm Võng : Không tuyệt đối cấm tì khưu xuất gia (Phương Nam là 227 giới, Phương Bắc là 250 giới ) ăn cá thịt. Phật chế cho các tì khưu bệnh được phép dùng. Thịt được chia làm 3 loại tịnh nhục và bất tịnh nhục. Ba tịnh nhục là không thấy, không nghe và không nghi. Phạm vào một là bất tịnh nhục. Ngoài ra về loại thịt cũng chia loại tịnh và loại bất tịnh. Thịt heo, thịt gà được coi là tịnh. Thịt voi, thịt ngựa, thịt sư tử, thịt chó sói được coi là bất tịnh.

9. Kinh Vô Lượng Thọ : 48 lời nguyện mở cảnh giới Cực Lạc của bồ tát Pháp Tạng. Ở thế gian có thứ gì thì có nỗi khổ lo âu về thứ đó, bới cái mình có là cái người khác muốn có, cái mình muốn giữ là cái người khác muốn lấy.

10. Luận Bảo Hành Vương Chính : Nói về tư cách và vai trò người quốc chủ.

11. Kinh Đại Bảo Tích : Dạy thiết lập kho lẫm phòng bị đói kém, ổn định vật giá sinh hoạt.

 

1.2.6. Tinh thần bình đẳng trong giáo dục Phật giáo.

Tư tưởng nhất thừa là cứu cánh của giáo dục Phật giáo nên nó bao trùm mọi tư duy và hành động của giáo dục Phật giáo, trong đó có tư tưởng bình đẳng trong xã hội. Chư Phật thế tôn vì một nhân duyên trọng đại mà xuất hiện ở đời. Câu này nói lên nguyên nhân chủ quan cho sự hiện hữu của đức Phật và giáo lý của ngài. Nguyên nhân chủ quan là lòng từ bi vô hạn của chư Phật. Vì lòng từ bi mà xuất hiện ở đời độ thoát chúng sinh trở về với bản thể thanh tịnh bình đẳng. Còn xuất hiện ở đâu và khi nào, đó là nguyên nhân khách quan, là bối cảnh xã hội mà thuật ngữ Phật học gọi là thời và cơ.

Xã hội Ấn Độ thời Thích Ca Mâu Ni ra đời là mảnh đất phì nhiêu cho tư tưởng bình đẳng phát sinh và nảy nở. Nói theo ngôn từ của nhà nghiên cứu văn hoá và xã hội thì Thích Ca Mâu Ni là người đã làm một cuộc cách mạng văn hóa và xã hội thời bấy giờ. Bởi vì Thích Ca Mâu Ni đã làm đổ nhào mọi tư duy tư tưởng cũng như thang giá trị xã hội đương thời. Nếu thử làm một so sánh nhỏ cũng thấy không kém phần thú vị. Thí dụ đạo bà la môn chủ trương thần Brahma sáng tạo ra vũ trụ. Phật dạy vạn sự vạn vật đều do duyên sinh. Đạo bà la môn chủ trương sát tế đẫm máu. Đạo Phật chủ trương từ bi không giết hại sinh mệnh. Đạo bà la môn nặng tế lễ cầu thần linh cứu giúp. Đạo Phật thì tu tập thiền quán để tự giác ngộ và giải thoát. Để trở thành thầy bà la môn, người đó phải xuất thân từ giai cấp bà la môn. Còn để trở thành tu sĩ Phật giáo thì bình đẳng không phân chia giai cấp. Thầy bà la môn ở tại gia, phải có vợ con và bắt buộc phải có kinh tế gia đình sung túc. Tu sĩ Phật giáo thì xuất gia từ thân cát ái và không nắm cầm tiền bạc. Thầy bà la môn để tóc dài quấn quanh đầu, bịt khăn trắng để bảo vệ khối tư tưởng. Tu sĩ Phật giáo cạo bỏ râu tóc. Thầy bà la môn ăn mặc toàn trắng tương trưng cho sự thanh khiết. Tu sĩ Phật giáo mặc áo phấn tảo màu đất vàng biểu tượng cùng đồùng hành với những người lầm than trong xã hội. Theo luật Manu, phụ nữ là tài sản của nam giới. Theo Phật giáo thì nam nữ bình đẳng, được xuất gia tu học, độ đệ tử và chứng quả vị như nam giới v.v...

Phật dạy:”Tất cả chúng sinh đềàu có Phật tính tất hữu.” cho nên đối với quan hệ giữa người và người là một quan hệ tuyệt đối bình đẳng, không có người cao thượng hay hèn hạ vì phân biệt giai cấp, không có tôn ti vì phân biệt nam nữ, cũng không có hạng giáo dục được và hạng người nào là không giáo  dục  được.  Theo Phật dạy thì cao  thượng  hay hèn hạ là do hành vi con người chứ không do giai cấp. Không thể nói trong giới quí tộc không có người hèn hạ, cũng như không thể nói trong giới bình dân không có người cao thượng. Tư tưởng bình đẳng trong đạo Phật dạy con người phá bỏ sự phân chia giai cấp. Điều này Phật dạy trong nhiều kinh, và chính tự thân đức Phật tự thân thực hiện trong việc độ người xuất gia và sinh hoạt bình đẳng trong tăng đoàn. Rõ nét nhất, trong Kinh Tiện Dân (Nipata ) câu 136 Phật dạy:”Không ai sinh ra là tiện dân, không ai sinh ra là bà la môn. Do hành vi mà con người thành tiện dân, do hành vi mà con người thành bà la môn.” Đường lối giáo dục bình đẳng không phân biệt, Phật dạy:”Giáo pháp của ta như nước trong, rửa sạch mọi ô uế, không phân biệt giàu  nghèo, giai cấp, nam nữ. Chỉ cần tu tập theo đường lối của ta thì đều được cứu độ. Ta quyết không vì nể những hạng tôn quí mà chọn lấy kẻ giàu sang vương giả. Ta đã độ cho Upali, người sinh ra trong giai cấp tiện dân và Shurata nghèo khổ. Ta cũng dùng cách thích ứng với năng lực những hạng ngu si tham dục. Giáo pháp ta không thiên vị một đảng phái nào mà là con đường chân chính bình đẳng an ổn cho tất cả dân chúng.” Đây là một đoạn dẫn của Hữu Tùng Viên Đế để kết luận bộ “PHẬT GIÁO THÁNH ĐIỂN” do ông biên dịch. (Trích dẫn lại của Ono Shinzo trong tác phẩm NGHIÊN CỨU HỌC THUYẾT KINH TẾ XÃ HỘI PHẬT GIÁO, 1956, ????Tokyo)

Việc Phật độ cho người nữ xuất gia là một đặc điểm ưu việt trong giáo dục Phật giáo nhất là ở thời điểm Phật tại thế. Hơn thế nữa không những được độ cho xuất gia mà còn  được  đầy  đủ  các  quyền  hành  xử  vai trò "đại Phật tuyên dương” tức thay Phật thuyết giảng độ chúng, tổ chức và điều hành ni bộ để tu học. Về điểm nam nữ bình quyền bình đẳng, ở thế kỷ 21 này còn là niềm ước mơ ở nhiều nơi trên hành tinh chúng ta nhưng vẫn còn tồn tại nhiều điều phi lý như đạo luật xử ném đá cho đến chết những phụ nữ ngoại tình mà trong khi đó thì nam giới không bị áp dụng điều luật đó, hoặc nữ tu không được làm phép thánh cho tín đồ v.v...

Hơn thế nữa tinh thần bình đẳng đến triệt để không những nữ nhân mà cực ác xiển đề cũng thành Phật. Nghĩa là không một hạng người nào không được độ thành Phật. Tất cả đều có Phật tính thì tại sao không thành Phật được. Có phải do ta không đủ năng lực giúp họ khơi dậy cái Phật tính tất hữu trong họ hay không? Đứng về ý nghĩa giáo dục mà nói, đó là do người thầy không đủ kiến thức, phương pháp sư phạm cũng như nhiệt tâm nên đã nói một cách thiếu trách nhiệm rằng đó là một đứa trẻ không giáo dục được.

Nếu đem đối chiếu tư tưởng nhất thừa và tư tưởng bình đẳng trong giáo dục Phật giáo mà đức Phật đã dạy trên 2500 năm với tư tưởng bình đẳng trong giáo dục của thế giới thời hiện tại có thể nói là không thể làm một so sánh được. Vì tư tưởng bình đẳng trong giáo dục mới được quan niệm và triển khai trong thế kỷ 20 nhưng còn rất nhiều chỗ bất cập và bất khả thi. Với ý tưởng bình đẳng trong giáo dục thì mọi trẻ em đến tuổi đi học đều có quyền hưởng quyền được giáo dục một cách đồng đều. Giai đoạn trẻ em được hưởng quyền lợi giáo dục đồng đều đó ngắn dài khác nhau và hưởng những gì hưởng như thế nào khác nhau tuỳ theo mỗi quốc gia. Nhưng nói chung quốc gia nào cũng có giai đoạn giáo dục đó. Nước ta gọi là giai đoạn giáo dục phổ cập, Trung Quốc, Nhật Bản gọi là nghĩa vụ giáo dục, các nước Âu Mỹ gọi là giáo dục cưỡng bách (Education obligatoire, hay compulsory education ). Cho dù bằng ngôn từ gì, phổ cập hay nghĩa vụ hay cưỡng bách khắp thế giới không thiếu trẻ con đi ăn xin, bán rong, đánh giày hay bị bóc lột lao động trong những nhà máy mà Ủy ban nhân quyền Liên Hiệp Quốc đã nhiều lần lên tiếng.

Về mặt lý thuyết và phương pháp, tâm lý giáo dục cũng từ thế kỷ 20 được phát triển đa dạng và phương pháp trắc nghiệm tâm lý được áp dụng khá phổ biến trong học đường. Phương pháp trắc nghiệm trí thông minh gọi là IQ Test được dùng để phân loại trẻ. Theo lý thuyết người ta cho rằng trẻ em có chỉ số thông minh IQ dưới 70 là trẻ không giáo dục được (uneducable ). Với tinh thần giáo dục Phật giáo thì đây là quan điểm không thể chấp nhận. May thay quan niệm này ngày nay vừa được xét lại.

Phật giáo là giáo thuyết lấy con người làm trung tâm, giải quyết mọi sinh hoạt thực tế của con người trong hoàn cảnh nó đang sống để từ đó thăng tiến hơn lên. Đạo Nguyên thiền sư khai tổ của dòng thiền Tào Động Nhật Bản đã nói “thế pháp tức Phật pháp” và chân như pháp thân không có nghĩa là trạng thái của một thế giới thanh tịnh nào khác hoàn toàn không liên quan đến sinh hoạt thực tế của con người. Cho nên vai trò của giáo dục Phật giáo là quan sát cái xã hội đang liên tục biến đổi để cải thiện con người và xã hội. Người tu Phật hành Phật sự phải đứng trên lập trường lấy hiện tượng sinh hoạt thực tế của xã hội làm cơ sở giải đáp nguyện vọng về tinh thần cũng như vật chất của dân chúng. Nói vắn tắt là Phật giáo phải hiện đại hóa thực tế hóa và động thái hóa. Nói hiện đại hóa, thực tế hóa, động thái hóa tức đương nhiên bao hàm vấn đề xã hội hóa và dân chủ hóa. Phật giáo vốn không xa rời lập trường xúc tiến lợi ích cho dân chúng. Và “bồ tát” trụ tâm nơi từ bi hỉ xã vì tất cả dân chúng mà nỗ lực theo đuổi lợi ích thế gian và xuất thế gian.

Khi xuất hiện Phật giáo đại chúng bộ thì tên Phật giáo đại thừa cũng mang ý nghĩa Phật giáo thế tục hóa, nhưng đồng thời cũng mang ý nghĩa xã hội hóa. Nói như  một nhà nghiên cứu tôn giáo triết học người Đức Leopold Zielger trong Der ewige Buddho, 1922: “Tôn giáo của đức Phật xưa nay vốn là tôn giáo lấy dân chúng làm bản vị, một tôn giáo vô cùng dâ chủ, một tôn giáo luôn luôn đổi mới”. Vì vậy Phật giáo thời hiện tại phải xác minh lại tính xã hội và vì dân. Nói xác minh lại bởi vì trong quá khứ việc thế tục hóa Phật giáo ở Trung Quốc cũng như ở Nhật Bản cũng như Việt Nam đã nhiều thời trở thành một thứ tôn giáo gia tộc hóa, triều đại hóa. Và khi quyền thế chi phối thì Phật giáo trở thành một thứ công cụ xa rời lớp dân chúng bình dân, mất đi tính xã hội vốn có. Từ đó Phật giáo trở thành một thứ đồ cổ mỗi khi được nhắc đến, còn trong thưc tế chỉ còn lại như một thứ nghi lễ trong tang tế mà thôi.

Điều mà người tu Phật, hành Phật sự ngày nay là triển khai nguyên lý, giáo thuyết của đức Phật, vận dụng làm sống lại tính xã hội hóa của đạo Phật. Trong kinh giáo nguyên thủy cũng như kinh giáo thời đại thừa phát triển đức Phật đã từng dạy phải làm thế nào.

 

1.3 Tư tưởng hoà bình.

Năm 1945 sau khi kết thúc chiến tranh thế giới lần thứ II, nhân dân thế giới nỗ lực xây dựng hoà bình trong các lãnh vực hoạt động xã hội như chính trị, kinh tế, văn hoá v.v... Giáo dục cũng không ra ngoài lệ đó. Lại nữa cơ quan  văn hoá giáo  dục Liên Hiệp Quốc cũng nỗ lực  quan tâm đến các hoạt động giáo dục phục vụ hoà bình.

Trong ý nghĩa đó, hầu hết các nền giáo dục trên thế giới ngày nay đều được coi trọng và mệnh danh là giáo dục hoà bình. Thế nhưng giáo dục hoà bình trong thế giới hiện thực liên quan mật thiết đến các vấn đề như chính trị, kinh tế và cấu tạo xã hội chứ không đơn giản chỉ là một danh từ. 

1.3.1 Tư tưởng hoà bình trong giáo dục Phật giáo đối với vấn đề cấu tạo xã hội.

Theo tư tưởng hoà bình trong giáo dục Phật giáo đối với tổ chức cơ cấu xã hội thì bình đẳng là yếu tố cơ bản cho việc cải tạo xã hội nếu không nói là cách mạng cơ cấu tổ chức xã hội. Danh từ xã hội được hiểu từ tế bào của cơ cấu xã hội là gia đình hạt nhân (nuclear family ) trở lên cho đến gia tộc, đẳng cấp, tập đoàn, làng xã, quốc gia, cộng đồng quốc tế và thế giới.

Khởi nguyên luận về xã hội của Phật giáo thường bao gồm những thuyết minh về sự phát sinh của gia tộc, về tư hữu tài sản, quân chủ, quốc gia, cho đến những chức phận đoàn thể v.v... có tính hiện thực hết sức phổ quát và cao độ.

Theo đó, con người lúc ban sơ đều có tự do bình đẳng, sống với nhau không có oán ghét sống vui vẻ hồn nhiên, yên ổn tự tại, tuổi thọ cao, không phân biệt tôn ti nam nữ. Nhưng về sau, thế giới biến đổi, tham dục nổi lên, con người sinh ra phân biệt đẹp xấu, kiêu mạn, cạnh tranh, phân biệt quan hệ nam nữ. Do đó từ sinh hoạt tự nhiên phát sinh ra gia đình và gia tộc.

Khi con người bắt  đầu  biết  ăn  gạo,  những người lười biếng không muốn mỗi ngày đi hái lượm, bắt đầu chứa để dành dụm. Rồi do thu hoạch sút giảm mà sinh ra tranh giành và bảo vệ của riêng. Sự phân chia ranh giới đất đai, phát triển quyền sở hữu của mình và của người khác phát sinh từ đó.

Khi biết chứa để, biết quyền tư hữu tài sản là lúc phát sinh hành vi chiếm đoạt, trôïm cướp, dối trá, giết chóc và phục thù. Từ đó phát triển dần lên mối quan hệ về quyền lợi. Những người cùng quyền lợi hợp lại với nhau để bảo vệ. Người có tài có đức đươc suy cử lên nắm quyền lực bảo vệ dân chúng. Để duy trì tình trạng này, một phần tài sản của mỗi người phải nộp cho người nắm chức quyền trong việc điều hành và bảo vệ. Đó là khởi nguyên của quốc gia và dân chủ v.v...(Theo D.27, Aggamma sutta và rải rác trong số mười mấy kinh. Tân dịch Phật giáo thánh điển, Cải đính bản,  tr. 310~311 )

Trong quan hệ xã hội, Phật giáo chủ trương thực hiện tinh thần bình đẳng tuyệt đối của tư tưởng nhất thừa đạo. Trong 45 năm du hoá, đức Phật đã giảng dạy, đã thực thi việc phá vở cái xã hội bất bình đẳng của Ấn Độ, đã hoá độ và tổ chức một xã hội lý tưởng bằng lối sống lục hoà, bằng pháp thất diệt tránh trong hàng ngũ xuất gia, 5 giới cho người tại gia, 6 pháp ba la mật cho hàng bồ tát. Tất cả đều xuất phát từ  tinh thần từ bi độ tha của đạo Phật.

Lời mở đầu bản hiến chương của tổ chức văn hoá giáo  dục  Liên  Hiệp  Quốc  (UNESCO )  có  câu:” Chiến tranh  là do tâm phát  khởi thì  hoà bình  cũng  do  tâm  xây dựng.” Phải chăng câu này đã được bắt nguồn từ tinh thần Phật dạy là “Tâm bình thì thế giới mới bình”? Không thế mà cố thủ tướng  Nehru, trong ngày độc lập của Ấn Độ đã nói:”Xưa vua Asoka chinh phạt nước Kalinga, cảm vì nỗi đau của nhiều người tử thương trong cuộc chiến nên đã qui y theo Phật giáo. Từ đó nhà vua đem giáo pháp từ bi trí tuệ của Phật dạy ra giáo hóa người đời, thay vì chinh phạt bằng vũ lực. Không những chỉ trong nước Ấn Độ, nhà vua còn phái khiển nhiều đoàn sứ giả hoà bình sang các nước láng giềng. Nay chúng ta dùng biểu tượng pháp luân Asoka cakra cho lá quốc kỳ độc lập của Ấn Độ và sư tử Asoka làm quốc huy là sự lựa chọn có ý nghĩa chứ không phải ngẫu nhiên. Đó là chúng ta tiếp nối cái lý tưởng chính trị của Asoka đại vương, nó tượng trưng cho sự nỗ lực và lòng chân thành của người Ấn Độ đối với lý tưởng hoà bình.”

(Sait Eizaburo, TƯ TƯỞNG XÃ HỘI CỦA PHẬT GIÁO, Tokyo, 1971, tr. 253 ) 

1.3.2  Tư  tưởng hoà bình trong giáo dục Phật giáo đối với vấn đề chính trị, chiến tranh và quốc phòng.

Nói giáo dục Phật giáo liên quan đến vấn đề chính trị và lòng yêu nước, liên quan đến vấn đề chiến tranh và quốc phòng ắt hẳn là vấn đề mới lạ, không những đối với người bình thường mà đến những nhà nghiên cứu khoa học xã hội trong nước cũng vậy. Tác phẩm MẤY VẤN ĐỀ VỀ PHẬT GIÁO VÀ LỊCH SỬ TƯ TƯỞNG VIỆT NAM do Viện Triết Học xuất bản tại Hà Nội năm 1986 đã chứng tỏ điều đó. Đây là tác phẩm tập hợp những bài thuyết trình, tham luận của hai cuộc hội thảo cùng một chủ đề là “Mối quan hệ giữa Phật giáo và lịch sử tư tưởng Việt Nam, một do Viện Triết Học tổ chức tại Hà Nội tháng 12 năm 1984 và một do Viện Khoa Học Xã Hội TP. Hồ Chí Minh tổ chức tại TP. Hồ Chí Minh tháng 3 năm 1985 là một chứng cứ.

Vậy Phật Thích Ca có dạy đệ tử lòng yêu nước không? Có dạy một đường lối chính trị giúp dân giúp nước nào không? Có đề cập gì đến vấn đề chiến tranh và quốc phòng không? Sau đây là một số dẫn chứng trong sách và kinh điển đại thừa cũng như nguyên thuỷ để chúng ta cùng suy nghĩ.

Nhà nho Lê Quí Đôn của Việt Nam trong KIẾN VĂN TIỂU LỤC quyển 9, Chương Thiền Dật chép:

“Thái Bình Quảng Ký chép: Na Bạt Ma từ Tây Vực đến Kim Lăng. Tống Văn Đế hỏi: Đệ tử thường muốn trì trai không sát sinh, lấy mình thay cho loài vật, mà không được như chí muốn, xin sư dùng cách nào dạy bảo cho? Na Bạt Ma thưa: Về việc tu hành, vua chúa và thường dân có khác nhau. Thường dân thân danh nhỏ mọn, đạo đức không lan đến nơi xa, giáo hoá không ra khỏi gia đình, lời nói không dạy bảo được người hầu hạ; nếu không tự bản thân khắc khổ, làm điều làønh giữ bụng thanh thì sẽ dụng tâm vào việc gì? Còn như vua chúa, coi bốn biển như một nhà, muôn dân như con cái, nói ra một điều thiện thì dân chúng đều vui mừng, ban ra một chính lệnh tốt thì thần và người được hoà hợp, hình phạt công minh thì mệnh người không chết yểu, công việc giản dị thì sức dân khỏi nhọc nhằn. Được như thế cũng là trì trai to lắm rồi, cần gì phải bớt thức ăn trong một lúc, giữ tính mệnh cho một con chim mới là tế độ rộng rãi.”

Pháp Uyển Châu Lâm chép: Phật nói ngày trước có chim anh vũ thấy vua nước Ca Xi là người vô đạo muốn khuyên vua sửa đổi tính nết làm điều lành, bèn nói với vua rằng: Nhà vua làm bảy việc phi pháp sẽ có hại đến bản thân như đam mê sắc dục, hay uống rượu, cờ bạc, săn bắn, nói điều hung ác, thuế khoá nặng nề và cướp bóc của dân. Lại nói: Nhà vua có ba việc có thể làm tan nát quốc gia như  thân cận với kẻ gian tà nịnh hót không thu nạp lời nói phải và thích đánh dẹp nước khác. Nay người làm vua một nước, cả nước đều mong đợi ngóng trông, nhà vua nên như cái cầu tế độ cho muôn dân, nhà vua nên như cái cân dầu thân dầu sơ đều cân nhắc cho đúng, nhà vua nên như mặt trời soi khắp thế gian, nhà vua nên như mặt trăng chiếu ánh vàng cho loài vật được trong mát, nhà vua như cha mẹ nuôi dưỡng thương yêu nhân dân, nhà vua như trời che phủ tất cả, nhà vua như đất bồi dưỡng mọi loài. Như thế Phật nói đường lối cốt yếu về trị nước rất là đầy đủ. (Lê Quí Đôn, Tập II, Kiến Văn Tiểu Lục, bản dịch của NXB Khoa Học Xã Hội, Hà Nội, năm 1977 )

Kinh Lăng Nghiêm nói: Nếu chúng sinh biết yêu quí sửa sang đất nước, phán đoán công việc làng xóm thì ở trước mặt những người ấy ta sẽ hiện ra thân phận một quan tể, vì họ thuyết pháp, để nguyện vọng của họ được thành tựu; về phần nữ giới, nếu có người nào muốn làm việc nội chính để sửa sang nhà và nước, thf ở trước mặt những người ấy ta sẽ hiện ra thân phận nữ chúa quốc phu nhân, mệnh phụ hoặc đại gia vì họ thuyết pháp để nguyện vọng của họ được thành tựu. Đấy phải chăng ý nghĩa tề gia trị quốc là gì? (Lê Quí Đôn, Sách đã dẫn )

 Luận Kim Cương nóùi: Thân người con trai có bảo bối yên sinh, tức là điều lành có thể giúp rập vua chúa, nuôi dưỡng cha mẹ, có bảo bối yên bang, tức là xử lý mọi việc, trên dươi đều tin theo. Đó là đem việc trung với vua hiếu với cha mẹ, kỳ vọng sâu sắc vào người đời. (Lê Quí Đôn, Sách đãdẫn )

Trong Hứa Sử Truyện, một truyện nôm thời Tây Sơn có những câu:

            Gặp cơn ác đảng tung hoành,

            Dễ ta đâu khá nỡ đành ngồi coi.

            ...................................................

            Vả chăng quyền xảo Thích trung,

            Bồ tát đa hạnh thiệt trong đạo này.

            Làm sao mà đặng lợi người,

            Giúp nước cứu đời cũng một việc tu.

một đoạn khác:

            Mật Hạnh nghe luân từ bi,

            Nói rằng Phật chế tu trì đa môn.

            Giả như cố ý bất nhân,

            Buông lòng sát hại tội dường hà sa.

            Vốn nay vì nước vì nhà,

            Cứu dân giúp chúa sao mà chẳng nên.

            Luật rằng phương tiện xảo quyền,

            Tuỳ cơ lợi vật phép truyền xưa nay.

            Đồ Trừng, Ấn Phong hai thầy,

            Ở trong quân trận ngày ngày ngăn binh.

một đoạn khác:

            Đạo là cứu độ từ bi,

            Nước nghèo dân chết bỏ đi nỡ nào.

v.v... Hứa Sử Truyện xưa nay được các nhà văn học sử xếp vào loại truyện vô danh hay khuyết danh. Gần đây người ta đã phát hiện được một số bản lưu hành ở Phú Yên, ở Nha Trang, cùng với một số các bản trong các chùa có thể chứng minh Hứa Sử Truyện là tác phẩm của thiền sư Toàn Nhật ở Phú Yên và sống trong khoảng cuối thờiTây Sơn đầu thời Nguyễn.

Theo Phật giáo nguyên thủy thì mục đích của người Phật tử là lấy giải thoát làm đầu. Sự giải thoát phải do chính nỗ lực cá nhân trong sinh hoạt thực tiễn, cụ thể như thiền định, trí tuệ và giới luật mà đạt được. Do đó việc dạy người đời tu đạo giải thoát của đức Phật không đụng chạm trực tiếp gì đến vấn đề tổ chức xã hội và hoạt động chính trị cả. Hơn nữa tự thân đức Phật cũng không một lần can dự trực tiếp đến chính trị.

Thế nhưng, vận mệnh tổ quốc Kapilavastu sớm muộn không khỏi bị đe doạ bởi cường quốc láng giềng Kosala, cho nên những vấn đề về quốc gia, chính trị, chiến tranh, không phải người đạo sĩ xuất thân vương tộc ấy không quan tâm.

Đức Phật không phải chỉ coi những hoạt động chính trị của quốc gia là đường lối quan trọng nhất nâng cao hạnh phúc nhân dân trong cuộc sống hiện tại, mà còn coi đó là chính pháp, tức là nguyên lý căn bản của Phật giáo mà thực hiện theo đó tức là thực hiện trực tiếp lý tưởng của Phật giáo. Vì ý nghĩa đó, đức Phật đối với vương pháp, tức là đối với trật tự chính trị thế tục đã biểu thị một sự quan tâm nhất định và có một yêu cầu nhất định.

Trên lập trường này, đức Phật đã có lời dạy tóm tắt hết sức ngắn gọn và trong sáng như sau: “Trong thiên hạ có nhiều đường lối, trong đó vương pháp là đường lối lớn nhất. Thế nhưng Phật đạo mới là con đường chí thượng.” (Kinh NÊ HOÀN, quyển thượng, Tân Dịch Phật Giáo Thánh Điển, Cải đính bản, tr. 507 )

Lời dạy này có ý nghĩa là chính pháp trên vương pháp, nghĩa là trên trật tự luật pháp quốc gia. Nó không những chỉ là đường lối chi phối trật tự có tính đạo đức tôn giáo, mà hơn nữa vương pháp phải được chỉ đạo bởi chính pháp.

Từ lập trường này, đức Phật đối với vị quân chủ của thế tục cũng thường yêu cầu theo đường lối chính trị chính pháp. Nói cách khác, trạng thái tự nhiên của một quốc gia dù thành lập từ một lý do nào cũng phải có thái độ đạo đức cao, phải phát huy tinh thần và đạo đức nội tại.

Đức Phật không phải chỉ là một người theo chủ nghĩa thế giới (Cosmopolitan ) nhưng đức Phật vẫn thừa nhận tình cảm tự nhiên của dân tộc. Trong đời đức Phật có nhiều việc rất cảm động. Trong đó sự kiện cảm động nhất là lúc về già, khi đất nước Kapilavastu, nơi sinh trưởng của ngài, bị vua nước láng giềng Kosala uy hiếp toan tiêu diệt thì đức Phật về thăm tổ quốc. Khi đi qua đô thành của cố hương, ngài ngồi dưới một gốc  cây khô  trụi lá bên  đường chờ đợi cuộc tiến quân của địch. Vua nước địch trông thấy hỏi đức Phật: “Này Thế Tôn! Có bao nhiêu cây nigroda cành lá sum sê tươi mát, vì sao người ngồi dưới cây khô?” Đức Phật trả lời: “Thưa nhà vua! Thân tộc là bóng mát.” Đức Phật nhấn mạnh hai ba lần câu trả lời. Cảm thấu ý nghĩa sâu của câu trả lời, nhà vua liền cho rút quân. Nhưng sự việc đã diễn đi diễn lại đến ba lần. Cuối cùng Uidobala (Tì Lưu Ly vương ) không từ bỏ được ý định phục thù. Lần thứ địch quân tiến đến, đức Phật cũng làm như thế rồi sau khi quán “túc duyên”, “quán pháp” ngài trở về tinh xá. (Xem Tăng Nhất A Hàm, Kinh số 26, Tân Dịch Phật Giáo Thánh Điển, Cải đính bản, tr.498~501 )

Chính trị của đức Phật là triệt để “Vô hại chủ nghĩa”, là triệt để “Bất sát chủ nghĩa” do đóù đề cao chủ nghĩa hoà bình. Chủ nghĩa hoà bình của đức Phật là không làm hại một quốc gia dân tộc khác, và do đó sẽ là một quốc gia độc lập không bị nước khác xâm lược. Đường lối cốt yếu của chính trị là hành xử nội bộ quốc gia bằng chính pháp. Đức Phật đã nói lý do vì sao Bạt Kì là một nước nhỏ nằm giữa các nước lớn mà không bị diệt vong. Đức Phật nói có bảy pháp không bị diệt vong. (Xem Trung A Hàm quyển 35 Kinh Vũ Thế,Trung A Hàm,Q.2 Kinh Du Hành. Tân Dịch Phật

Giáo Thánh Điển,Cải đính bản,tr.506~507)

Bảy pháp làm cho quốc gia không bị suy vong đó là:

1. Thường hội họp lo việc phòng bị cho chu đáo.

2. Trên dưới thống nhất hoà hợp chung lo việc nước.

3. Tôn trọng các chế độ, tập quán truyền thống.

4. Không dùng quyền lực xâm phạm vợ con của người.

5. Tôn trọng ý kiến xây dựng của những bậc có đức vọng.

6. Kính trọng và không phá hoại tín ngưỡng.

7. Kính trọng và bảo vệ những thánh giả hiền đức.

Vị quân chủ trước tiên phải lấy đức tu thân, sao cho nhân dân vui phục. Vị quân chủ phải lưu ý thực hành 8 điều:

1. Không tham lam vơ vét của cải, không thịnh nộ, không hôn mê.

2. Thường hoà mục với quần thần, tiếp nhận sự can gián.

3. Thường thích ban cho, cùng vui với nhân dân.

4. Thuế khoá, tư pháp, phải xử lý đúng pháp luật.

5. Phải giữ sự trong sạch đối với phụ nữ, thương yêu bảo hộ vợ.

6. Không say sưa hoang loạn rượu chè.

7. Tránh vui chơi, lo chăm nom việc quân sự.

8. Thường lưu ý giữ gìn sức khoẻ.

(Tăng Nhất A Hàm, Q.1, Phẩm Tế Cấm. Đại Tạng Kinh Q.2, tr. 778 )

Về điểm này trước tiên đức Phật nhằm vào môn đệ của Nigantha Nataputta sau khi qui y Phật, nói về nhiệm vụ của một quốc vương lý tưởng cho vua Pajjota. (Kinh Đại Tát Già Ni Kiền Tử  Sở Thuyết, Q.10, Đại Tạng Kinh,  Q.9, Tân Dịch Phật Giáo Thánh Điển, Cải đính bản, tr. 221~222)

Theo đó thì nhiệm vụ của một vị quân chủ, bậc cha mẹ chân chính của dân, là bảo hộ dân, tạo hạnh phúc cho dân, làm cho dân hết khổ, đem lòng thương yêu nuôi dưỡng dân. Vị quân chủ thường quan sát thấy sự khổ vui của dân, cân nhắc sự thịnh vượng của dân, biết rõ tình hình thu nhập trong năm tốt hay xấu, biết dân vui mừng hay lo âu. Vị quân chủ là người phải biết công tội nặng nhẹ để thưởng phạt công minh. Vị quân chủ là người phải rõ tình hình thực tế trong dân, đem uy lực bảo hộ dân, không cướp đoạt lợi ích của dân, không trưng thu thuế khoá một cách hà khắc khốc liệt cho đời sống của dân được ổn định.

Trường hợp xử đoán tội phạm, vị quân chủ phải lấy từ tâm làm gốc. Phải dùng trí tuệ sáng suốt quan sát xử trí theo 5 phương châm:

1. Cứu  xét rõ sự thật, căn cứ sự thật mà xử đoán.

2. Khi vị quân chủ có đủ sức, có thể phạt mà đem lại hiệu quả thì phạt. Khi không đủ sức dù phạt chỉ gây sự tạo loạn thì hoãn.

3. Xét rõ hành vi phạm tội là cố ý hay không cố ý để quyết định xử phạt.

4. Dùng lời lẽ khéo léo chỉ dạy cho thấy phạm tội như vậy thì đối với pháp luật sẽ ra sao, để tội phạm tự giác tội của mình.

5. Căm ghét tội lỗi mà không căm ghét con người. Lấy lòng từ bi làm gốc để cho tội phạm ăn năn hối cải.

Khi các quan liêu của quốc vương không nghĩ gì đến đại kế quốc gia, làm đổ nát chính đạo và đại nghĩa của dân thì sẽ xảy ra tình trạng dân chúng lừa dối nhau, mạnh hiếp yếu, cao quí khinh miệt hạ tiện, giàu chê nghèo v.v... bạo loạn tăng trưởng. Khi ấy những người trung thực sẽ ẩn lánh, bọn siểm nịnh lộng quyền, lấy chính trị làm của riêng. Người có tâm huyết e ngại nguy hại đến bản thân làm thinh không nói, công quyền dần dần bị lạm dụng để làm giàu riêng, nỗi nghèo khổ khốn cùøng của dân không thể cứu vãn được. Đối với những hạng quan liêu như vậy quốc vương phải xử phạt rất nặng...    (Xem Kinh Tăng Nhất A Hàm, Q. 44, Phật dạy vai trò một quốc vương thực hiện lý tưởng quốc gia theo Phật giáo. )

Nếu vị quân chủ nắm giữ đường lối chính trị theo chính pháp mà trường hợp  có địch từ nước ngoài xâm lược thì phải làm sao? Phật dạy quốc vương có nghĩa vụ bảo vệ đất nước, cho nên khi nước địch xâm nhập thì phải đẩy lui. (Kinh Tứ Thập Hoa Nghiêm, Q.11. Đại Chính Tân Tu Đại Tạng Kinh, Q.10, tr.712 hạ ) Mặc dù lý tưởng là hoà bình nhưng trường hợp đó không thể không vào cuộc chiến. Phật dạy vị quốc vương theo chính pháp khi chấp nhận cuộc chiến phải suy nghĩ ba điều:

1. Suy nghĩ xem binh lực nước địch bằng ta hay mạnh hơn ta. Nếu bằng thì khi xảy ra chiến tranh cả hai bên đều tổn hại không được ích gì. Nếu địch mạnh hơn ta thì địch sống ta chết. Nghĩ vậy rồi tìm kiếm các nước thân hữu thân thiện của nước địch dùng phương pháp ngoại giao mà hoà giải tranh chấp.

2. Trường hợp hoà giải được thì nước địch có yêu cầu điều chi nên tìm cách đáp ứng để giải tiêu tranh chấp.

3. Trường hợp quân nước địch đông, thế lực quân ta yếu thì dùng kế sách hay làm cho địch thấy ta cường mạnh dũng cảm khiến địch phải kinh sợ không dám động binh.

Nếu cả ba thủ đoạn áp dụng mà không giải quyết được thì trước khi lâm chiến phải tâm niệm rằng:

1. Địch vì không có lòng từ bi giết hại chúng sinh, ta nên vì sự ái hộ mà cố làm giảm thiểu đến tối đa sự giết chóc lẫn nhau.

2. Dùng phương tiện hàng phục vua nước địch để quân hai bên thoát khỏi cuộc chiến.

3. Dùng phương tiện bắt sống binh địch hơn là tàn sát cố làm sao dù phải chấp nhận cuộc chiến tự vệ nhưng ít đổ máu. (Xem Kinh Đại Pháp Cổ, Đại Chính ĐTK 9, tr.292 thượng trung )

Những nhà vua tiêu biểu thực hiện theo đường lối chính pháp hoà bình của đức Phật có thể kể các vua thời Lý Trần của Việt Nam, Lương Vũ Đế của Trung Quốc, Thánh Đức Thái Tử của Nhật Bản, Asoka của Ấn Độ v.v...

Về tư tưởng hoà bình trong giáo dục Phật giáo liên quan đến tinh thần yêu nước, việc trị nước yên dân, quốc phòng và chiến tranh như  trên đã trình bày và trưng dẫn đã đến lúc phải tạm dừng mặc dầu chưa phải hết. Sau đây xin được giới thiệu thêm một số tư liệu trong kinh điển ở đây chưa đề cập đến để làm nguồn tư liệu chính thống cho những ai quan tâm có thể tra cứu và thâm nhập chủ đề này.

1.3.3. Các kinh điển đề cập các vấn đề chính trị, chiến tranh và quốc phòng.

1. Thư gửi đại vương Kanika: Tên Phạn Mah

raja Kanika-, Lekha, nguyên bản Sanskrit và bản Hán dịch đều không còn, chỉ còn bản bản dịch tiếng Tây Tạng. Thư này đề cập đến tộc Kusyana. Đại vương Kanika tức vua Kaniska. Trong thư, Matrceta dạy vua Kaniska về tư cách cần phải có của một vị quốc vương.

2. Long Thọ bồ tát vị Thiền Đà Ca Vương thuyết pháp yếu kệ: 1 quyển do Cầu Na Bạt Ma dịch ra tiếng Hán vào đời Lưu Tống năm Nguyên Gia thứ 8 (Tây lịch 431 ), ĐTK 32. Vua Thiền Đà Ca tín ngưỡng Phật giáo, nội dung yếu kệ Long Thọ dạy nhà vua về tư cách của một vị quốc vương.

3. Ratnavalì (Bửu Hành Vương Chính Luận: 1 quyển, Chân Đế tam tạng dịch ra tiếng Hán (trong khoảng Tây lịch 557-569 ), ĐTK 32 gồm 5 Chương: An lạc giải thoát phẩm, Tạp phẩm, Bồ đề tư lương luận, Chính giáo vương phẩm và Xuất gia chính hạnh phẩm. Bản Tây Tạng có tên là Rgyal-po-la gatmbyaba rin-po-chehi phrenba, Rajaparikatharatnama-

la nguyên văn Sanskrit được phát hiện ở Nepal, giáo sư Giuseppe Tucci dịch ra Anh ngữ đăng trong JRAS năm 1934-1936 dưới nhan đề The Ratnavalì of Nagarjuna, nội dung nói về chính đạo luận.

4. Vương pháp chính lý luận: 1 quyển, Di Lặc tạo, Huyền Trang dịch tiếng Hán năm Trinh Quán thứ 2 (Tây lịch  646 ), ĐTK 31, Di Lặc dựa vào những liên quan trong kinh Phật vị Ưu Điền vương thuyết pháp chính luận mà giải thích rõ cho nhà vua.

5. Gián vương kinh: 1 quyển, ĐTK 14, nguyên tên là Raja-vavadaka, nguyên bản thất truyền, hiện còn bản Tây Tạng. Nội dung Phật dạy cho vua Prasenajit về phương sách trị nước của một quốc vương. Các bản dịch khác có tên Như Lai thị giáo Thắng Quân vương kinh của Huyền Trang đời Đường và Thắng Quân vương sở vấn kinh của Thi Hộ đời Tống.

6. Kim Quang Minh Kinh: Nguyên bản Suvarn?prabhasotta-marasutra, Đàm Vô Sấm dịch ra tiếng Hán 4 quyển, Bửu Qui hợp toàn bộ Kim Quang Minh Kinh 7 quyển. Nghĩa Tịnh dịch Kim Quang Minh Tối Thắng Vương Kinh 10 quyển. Đây là bộ kinh được Nhật Bản trân trọng là một trong “Hộ quốc tam bộ kinh”  và cũng là bộ kinh ảnh hưởng đến tư tưởng “Lập chính an quốc” của phái Nhật Liên.

7. Tứ Thập Hoa Nghiêm: 40 quyển, Bát Nhã đời Đường dịch ra tiếng Hán. Tên đầy đủ là Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh. Trong quyển 11, 12 Phật có dạy rõ về quốc vương luận.

8. Chư Pháp Tập Yếu Kinh: 10 quyển, Nhật Xứng đời

Tống dịch. Trong quyển 10, Phẩm vương giả trị quốc dạy những điều thiết yếu cho nhà vua.

9. Chính Pháp Niệm Xứ  Kinh:70 quyển, đời Nguyên Ngụy, Bát Nhã Lưu Chi dịch, ĐTK 17, xem từ quyển 543-55.

10. Đại Tát Già Ni Kiền Tử sở thuyết kinh: 10 quyển, Nguyên Ngụy, Bồ Đề Lưu Chi dịch.

 

2. Nội dung giáo dục Phật giáo.

Khi xây dựng một nền giáo dục, dù thuộc phạm vi hẹp hay trên một bình diện rộng, trước tiên phải xác định đối tượng giáo dục và mục tiêu giáo dục, sau đó là xây dựng nội dung chương trình giáo dục rồi đến phương pháp giáo dục và tổ chức giáo dục để đạt mục tiêu cho đối tượng đó. Nói phạm vi hẹp thí dụ như giáo dục khiếm thị và nói bình diện rộng như giáo dục quốc dân chẳng hạn.

Giáo dục Phật giáo là nền giáo dục có bình diện rộng. Đối tượng của giáo dục Phật giáo là con người trong hoàn cảnh sống của nó. Vượt ra ngoài mọi phân biệt về chủng tộc, ranh giới địa lý hay văn hoá, giáo dục Phật giáo lấy con người trong thế giới này làm đối tượng và cứu cánh cũng ở con người trong thế giới này. Phật giáo quí trọng giá trị con người. Trong nhiều kinh sách Phật giáo thường nhắc câu "Thân người khó được.” (Nhân thân nan đắc) vì con người đủ điều kiện thuận lợi hơn bất cứ loài chúng sinh nào khác để được giáo dục và học tập tiến đến chỗ hoàn thiện nhân cách. Phật giáo coi trọng cuộc sống hiện thực, thế giới hiện thực, không bao giờ dạy người chối bỏ cuộc sống để mơ về một cõi hư ảo xa xôi. Tư tưởng Duy Ma và Huệ Năng hát biểu điều này rất sắc nét.

 

2.1. Trí dục, đức dục, thể dục trong giáo dục Phật giáo.

Các nền giáo dục hiện đại trên thế giới đều chủ trương ba phương diện của giáo dục là Trí dục, Đức dục và Thể dục và gïọi là xây dựng con người toàn diện . Đức Phật tuy không thiết lập ba phạm trù như ngôn ngữ hiện đại, nhưng nội dung giáo dục của đức Phật đã bao gồm đầy đủ từ trên hai nghìn năm trước. Có điều là Trí dục trong giáo dục Phật giáo không dạy con người giong ruổi truy cầu cái thế giới hiện tượng, coi nó là thế giới khách quan ngoài ta rồi đem tâm phân biệt chấp trước, cóp nhạêt lại thành một số hiểu biết theo thế gian trí mà gọi là trí tuệ. Trí dục Phật giáo thoát ra ngoài phân biệt tự tha, chủ khách. Tất cả là ở nơi ta, ngoài ta không có một pháp nào khác. Đức Phật chưa hề thiết lập một phòng thí nghiẹâm vi sinh, nhưng do tâm ái hộ chúng sinh, Phật đã dạy các tỳ kheo phải sắm đãy lọc nước. Chưa thiết lập một đài thiên văn nhưng Phật đã dạy rằng có thế giới này, có thế giới khác, có vô lượng thế giới. Chưa thiết lập đài truyền tin vô tuyến,  Phật đã dạy tu chứng lục thông thì có được thiên nhãn thông, thiên nhĩ thông. Câu nói của Phật “Ta bấm ngón chân rúng động ba ngàn thế giới” phải đợi đến luạât vạn vật hấp dẫn được chứng minh mới thấy lời ấy là không ngoa. Phật dạy có bốn loài sinh là sinh trứng, sinh thai, sinh do hơi ẩm ướt, sinh do chuyển hoá thì ngày nay các nhà nghiên cứu vũ trụ học phải đợi kết quả tìm kiếm trên sao hoả có nước hay không mới xác định được là có hay không có sinh vật. Phật dạy vạn vật đều do 4 yếu tố tạo thành, đó là đất, nước, gió và lửa, điều đó ngày nay ngàønh nghiên cứu năng lượng học đã phát hiện năng lượng nguyên tử trong vật chất. Có người sẽ hỏi rằng nếu đức Phật giỏi giang như thế, lại có lòng thương người sao không biên tập thành những công trình nghiên cứu hay đào tạo các đệ tử thành những khoa học gia để nhân loại sớm văn minh hạnh phúc, rút ngắn thời gian tăm tối? Đức Phật không làm thế vì mục đích giáo dục của Phật không nhằm đào tạo chính trị gia, khoa học gia, nhà văn hoá, thầy thuốc hay thợ thủ công. Mục đích của đức Phật như đã nói trong Kinh Pháp Hoa:”Ta vì nhân duyên việc lớn xuất hiện ở đời.”

Quyển “Phật Giáo Đại Từ Điển” của Mochizuki, một bộ từ điển gồm mười mấy quyển mỗi quyển dày cả ngàn trang, mỗi năm đều tiếp tục ra những quyển “bổ di”, có thể nói đây là một bộ Bách Khoa Toàn Thư Phật Giáo của Nhật Bản. Trong lời đề tựa xuất bản lần đầu có giới thiệu : đây là thành tựu của một tập thể trên 400 tiến sĩ, nhà nghiên cứu khoa học đủ các ngành khoa học xã hội nhân văn, khoa học tự nhiên, khoa học kỹ thuật công nghệ, từ những nhà tôn giáo học, triết học, giáo dục học, văn học, ngôn ngữ học, mỹ học, chính trị học, xã hội học, luật học, dân tộc học, tâm lý học đến các nhà vật lý học, hoá học, sinh vật học, y dược học, thực vật học, điểu học, âm học, đến các nhà công kỹ nghệ, kiến trúc v.v... đã làm việc cật lực trong 30 năm mà nguyên văn nói là "tam thập niên ác chiến khổ đấu”. Chừng đó đủ cho ta thấy rằng nếu nội dung giáo dục Phật giáo chẳng liên quan gì đến vấn đề trí dục, cho dù là trí dục thế gian thì cần gì phải tập hợp một lực lượng chuyên môn ưu tú vàđông đảo như vậy. Nếu giáo dục Phật giáo dạy người chỉ biết gõ mõ chuông tán tụng thì làm từ điển Phật học chỉ cần vài cung văn thầy cúng là đủ.

Đức dục theo giáo dục học Phật giáo là không phải dạy cái luân lý đạo đức phát sinh trong quan hệ xã hội, trong sự đối đãi theo quan niệm thông thường về bổn phận hay mang tính ơn đền oán trả. Cái đức dục đó chỉ nhằm thiết lập một trật tự về gia đình và xã hội, nó có nhiều điểm tuỳ thuộc vào thời gian, không gian và thể chế xã hội. Đức dục của xã hội phong kiến sẽ không hoàn toàn tương thích với xã hội dân chủ, của xã hội tư bản chủ nghĩa có những điểm đối nghịch với xã hội xã hội chủ nghĩa.

Trong bài diễn văn khai mạc Hội thảo giáo dục Phật giáo trong thời hiện đại, hòa thượng Thích Minh Châu đã nói "trong đạo đức học Phật giáo nổi bật là lòng từ bi vô lượng”. Hoà thượng đã trích dẫn một số câu trong Kinh Từ (Metta sutta ) và Kinh Tập (Sutta Nipata ) như sau:

Mong sao tất cả chúng sinh đều thấy an lạc,

Mong sao tất cả chúng sinh đều đạt được niềm vui tự nội.,

...

Như một người mẹ suốt đời chăm sóc đứa con,

 Đứa con độc nhất,

Đối với các chúng sinh cũng thế,

Tâm mình phải quảng đại,

Lòng từ đối với toàn cõi thế gian,

Bên trên bên dưới và xuyên suốt,

Không bị ngăn ngại vì thù hận và ác tâm.”

 (Thích Minh Châu, SĐD, tr. 16 )

Tinh thần từ bi không phân biệt bạn thù, chỉ có ban cho mà không tranh lấy, hợïp tác mà không đối đầu, hoà bình không chiến tranh, vị tha không vị kỷ. Qua Kinh Vu Lan sự kiện Phật dạy đức Mục Kiền Liên cứu mẹ ta thấy rõ tinh thần đó. Thân mẫu đức Mục Kiền Liên tay che bát cơm không cho mọi người chung quanh trông thấy, nhưng khi đưa cơm vào miệng cũng không ăn được. Bởi theo tinh thần từ bi của đạo Phật thì không thể chấp nhận có một người no đủ giữa đám người đói khát. Chính tinh thần đó mà hành sự Vu Lan đã trở thành Mùa Báo Hiếu và cúng thí cô hồn.

Từ bi của Phật giáo không phải là lòng thương hại, tình cảm tội nghiệp hay một sự ban ơn. Từ bi không phải là hành vi lim dim ngồi rục một chỗ để kẻ ác tha hồ tung hoành. Từ bi là một sức mạnh. Châm ngôn của giáo dục Gia Đình Phật Tử là Bi-Trí-Dũng. Ba là một, một đủ ba. Gia Đình Phật Tử, tăng tín đồ Phật giáo đã thể hiện tinh thần đó bằng nhiều hành động mang sắc thái khác nhau nhưng cùng một ý nghĩa trong công cuộc vận động năm 1963 ở Miền Nam Việt Nam. Dưới thời Nhà Trần thế kỷ thứ 13, vua chúa tướng quân đều là Phật tử đã đánh tan quân xâm lược Mông Cổ trên đất nước này, trong khi từ Á sang Âu những nơi đoàn kỵ binh Mông Cổ đi qua là cỏ không mọc được dưới dấu chân ngựa.

Tứ tính bình đẳng của Phật giáo là tư tưởng đạo đức chính trị cao tột. Sinh hoạt tăng đoàn trong Phật giáo nguyên thuỷ là đạo đức kinh tế xã hội cao tột. Người xuất gia để lại cho đời tất cả những gì mà thế gian gọi là quyền lợi vật chất, là tài sản của cải, không chiếm hữu làm của riêng cho dù một cọng rau, chỉ trừ mảnh vải che thân, cái bát ăn và bình lọc nước. Hoạt động hoằng pháp và làm việc phúc lợi của Asoka là cách quảng khai tinh thần hoà bình cao tột, dữ lạc bạt khổ của giáo dục đức dục trong đạo Phật.

Thể dục là một trong ba phương diện  xưa nay của giáo dục. Ý nghĩa của thể dục (physical education ) ngày nay không chỉ gói trọn trong việc rèn luyện thể lực mà đã được triển khai trong phạm vi rộng là giáo dục sức khoẻ và sự lành mạnh (health education ). Câu thành ngữ “Một tâm hồn lành mạnh trong một thân thể tráng kiện.” nay đã thành câu nói quen thuộc. Người khoẻ mạnh là người có đặc tính của một nhân cách thống nhất, như thân thể thì có thể lực mạnh mẽ và điều hoà, trí năng thì sáng suốt hoạt bát và có cảm xúc ổn định.

Về phương diện này giáo dục Phật giáo dạy người cách làm chủ bản thân, cân bằng giữa tinh thần và thể chất. Phật dạy không nên nuông chiều thể xác, cũng không chủ trương ép xác khổ hạnh. Thích Ca Mâu Ni từ bỏ những người khổ tu, đứng dậy nhận bát sữa của người nữ thí chủ, xuống sông tắm gội rồi lên tĩnh toạ dưới cội bồ đề là hành động phủ nhận lối thực hành khổ hạnh, hành hạ xác thân một cách vô ích mà 6 năm qua là thời gian quá đủ để thể nghiệm.

Giáo dục sức khoẻ trong Phật giáo là một vấn đề đã và đang còn bị lãng quên, nhưng không phải vì kém thú vị. Đứng về mặt rèn luyện thể chất để khoẻ mạnh, cứng cỏi chịu đựng được những gì khó chịu đựng được từ những tác động của hoàn cảnh bên ngoài thì viẹâc Bồ Đề Đạt Ma truyền thiền học sang Đông độ là một minh chứng cụ thể. Bồ Đề Đạt Ma làm sao chịu được cái nóng cái rét trên đường xuyên qua các nước Tây vực mà không có đến một phương tiện bảo vệ thô sơ? Làm sao đủ sức chống chọi gió mưa chướng khí thú dữ khi ở động Thiếu thất để rồi sau đó Chùa Thiếu Lâm trở thành nơi phát tích của các phái võ Trung Hoa mà ngày nay còn truyền tụng câu “Thiên hạ võ công xuất phát tự Thiếu Lâm”? Và hiện nay ở bàn thờ tổ nơi Đạt Ma Đường chùa Thiếu Lâm vẫn còn tấm hoành phi với bốn chữ THIỀN VÕ SONG TU. Tam tạng pháp sư Huyền Trang đời Đưòng của Trung Hoa sang Thiên Trúc thỉnh kinh làm sao băng qua sa mạc vượt suối trèo đèo lại gặp nhiều thổ dân yêu quái mà hoàn thành được chuyến đi lịch sử không thể có lần thứ hai? Daisetsu Suzuki từ khi đem thiền học sang giảng tập ở Âu Mỹ thì thiền học ngày một được nhiều giới hâm mộ và trở nên phổ biến nhanh ở các nước có nền văn minh công nghiệp. Vì sao vậy? Vì việc hành thiền còn là phương thuốc giúp con người giải toả những căng thẳng khẩn trương (stress )trong sinh hoạt bận rộn hiện nay. Ngày nay người ta sợ nhất là việc xảy ra những hiện tượng tâm lý như bất an, xung động, thần kinh căng thẳng, trầm cảm, sợ hãi vu vơ, u uất, hoang tưởng v.v... Những bệnh thời đại đó đã dẫn đến những hành vi mà con người không kiểm soát được bằng lý trí như hành động hiếu sát, tự sát tập thể cho một mục đích thât vu vơ mơ hồ. Phật giáo gọi đó là những tâm sở phiền não. Có thể chuyển hóa các tâm sở ác đó thành tâm sở thiện  nếu học môn pháp tướng duy thức học và tu tập thiền quán. Việc ăn chay theo cách hành trì của Phật giáo phương Bắc nghĩa là chỉ ăn ngũ cốc và hoa quả không ăn cá thịt ngày nay đã được xác nhận là lợi ích về dưỡng sinh rất hiệu quả. Y học và khoa dinh dưỡng học hiện đại đã có nhiều nghiên cứu có giá trị đã được công bố.

 

2.2. Giới, định, tuệ trong giáo dục Phật giáo.

Có thể nói nội dung giáo dục của Phật giáo là không ra ngoài ba môn học: Giới học, Định học và Tuệ học. Điểm này rất thống nhất trong nhiều bài phát biểu và tham luận tại Hội thảo giáo dục Phật giáo (SĐD ). Trong bài diễn văn khai mạc, hoà thượng Thích Minh Châu, Viện trưởng Viẹân Nghiên Cứu Phật Học Việt Nam nói: “Có thể nói toàn bộ giáo lý của đức Phật là một hệ thống triển khai nội dung Giới Định Tuệ.” (SĐD, tr. 14-15 ). Hòa thượng cũng có bài phát biểu nhan đề là: “Giới, Định, Tuệ con đường giáo dục chấm dứt đau khổ sanh tử luân hồi” trong đó hòa thượng nói: “Ba vô lậu học là một chương trình giáo dục, một hệ thống tu học cho hàng xuất gia, đã được đức Phật truyền dạy trong nhiều kinh điển” (SĐD, tr. 19 ). Trong bài phát biểu của hoà thượng Thích Thiện Siêu, Trưởng ban giáo dục tăng ni Trung Ương nói: “Để thực hiện giải thoát cần phải tu tập nội dung giáo lý của Ngài tức Giới, Định, Tuệ.” (SĐD, tr. 28-29 ). Giáo sư Tiến sĩ Trần Tuấn Lộ, Họâi đồng Khoa Học Xã Hội Thành ủy TP.HCM, trong bài tham luận cũng nói: “Nôïi dung đặc trưng của giáo dục Phật giáo, nội dung giáo dục thuần túy củûa Phật giáo là Phật pháp, bao gồm Giới, Định, Tuệ.” (SĐD, tr. 168 )

Quả thực nói đến chỗ rốt ráo cứu cánh thì ba môn học là chương trình giáo dục con đường “chấm dứt khổ đau sinh tử luân hồi”. Nhưng tùy theo căn trí, cơ duyên chứ không phải bất cứ đối tượng chúng sinh nào cứ gặp được Phật pháp là một đời làm xong. Và vì thế ba môn Giới, Định, Tuệ không chỉ là hệ thống tu học dành riêng cho hàng xuất gia.

Vậy trước tiên xác định ba môn học gồm những gì và triển khai ứng dụng vào cơ duyên chúng sinh như thế nào.

Hòa thượng Thích Minh Châu giảng như sau: “Giới học tức là sống biết hổ thẹn, biết sợ hãi những điều ác mình làm, sống như thế nào không để cho sắc đẹp, tiếng hay, hương thơm, vị ngon, xúc êm dịu chi phối tâm của mình, sống như thế nào cho thân hành, khẩu hành, ý hành, mạng sống được thanh tịnh... Định học là loại trừ 5 triền cái, làm ô uế tâm, làm chướng ngại trí tuệ, tức tham dục, sân hận, hôn trầm, thụy miên, trạo hối và nghi... Người hành giả dùng 5 thiền chi, dùng tầm đối trị với hôn trầm thụy miên, dùng từ đối trị với nghi, dùng hỷ đối trị với sân, dùng lạc đối trị với trạo hối, dùng nhứt tâm đối trị với tham dục... Phát triển túc mạng trí, thiên nhãn trí, lậu tận trí thuộc tuệ học” (HT. Thích Minh Châu, SĐD, tr. 19~22 ).

Thông thường người ta gọi chung một từ giới luật. Thực ra giới tiếng Phạn là ila có ý nghĩa là tính cách, hành vi, khuôn phép đạo đức, tính cách thiện, hành vi thiện. Còn luật là vinaya có ý nghĩa là qui tắc sinh hoạt củûa giáo đoàn. Luật có tính đặc thù. Giới có tính phổ biến. Do giới và luật có quan hệ mật thiết nên thường được gộp chung làm một từ. Theo các văn kiện Pali thì pháp luật (dhammavinaya ) được dùng phổ thông hơn là giới luật (silavinaya ). Giới là từ pháp giáo (dhammadesana ) nói ra nên sau đó được kết tập vào kinh tạng (suttapitaka ). Còn luật là những qui tắc cá biệt được chế định tùy thời, cần thiết cho sinh hoạt giáo đoàn nên sau đó được kết tập vào luật tạng (vinayapitaka )

Là một và đứng đầu trong ba môn tu nói ra nên sau đó được kết tập vào kinh tạng (suttapicška ). Còn luật là những qui tắc cá biệt được chế định tùy thời, cần thiết cho sinh hoạt giáo đoàn nên sau đó được kết tập vào luật tạng (vinayapicška )

Là một và đứng đầu trong ba môn tu  học, giới được Phật chế cho người tại gia và giới cho người xuất gia. Về cấp độ có tiểu thừa giới nhằm hoàn thiện tư cách của chính mình và đại thừa giới ngoài việc hoàn thiện chính mình còn có đặc tính lợi tha cao độ, lấy việc làm cho tha nhân và xã hội được hoàn thiện làm mục tiêu quan trọng. Đại thừa giới, cũng gọi là bồ tát giới, tập trung vào tu tập ba tịnh giới tức Nhiếp luật nghi giới, Nhiếp thiện pháp giới và Nhiếp chúng sinh giới. Nhiếp luật nghi giới giống với tiểu thừa giới, tức là những hoạt động chủ quan, thực hiện tinh thần giới luật một cách tiêu cực. Nói cách khác đó là những hành vi liên quan đến tự lợi như đoạn diệt phiền não, ngăn ngừa ác hạnh. Nhiếp thiện pháp giới là những hoạt động ý chí nhằm thực hiện tích cực tinh thần giới luật. Nói cách khác là khởi tâm bồ tát làm các thiện hạnh, tự lợi và lợi tha. Nhiếp chúng sinh giới là những hoạt động ý chí nhằm thực hiện tích cực tinh thần Phật Đà. Nói cách khác là phát thệ nguyện từ tâm vì lợi ích cho tất cả.

Nói một cách gần với chúng ta hơn thì giới luật là những qui luật tất yếu. Vận hành đúng qui luật thì đạt hiệu quả mong muốn. Muốn được đầu óc minh mẫn, tâm trí sáng suốt mà rượu chè be bét, say sưa li bì là điều không thể. Muốn hòa bình yên ổn mà cứ hiếu sát là điều không thể. Giới luật không phải là những ràng buộc vô lý đặt ra để tự trói mình. Giới còn cóù nghĩa là Biệt giải thoát. Giữ được phần nào là giải thoát phần nấy. Vì vậy khi truyền giới, truyền giới sư hỏi rõ : “Giới này người có giữ được chăng?” Nếu quyết tâm cao, hoàn cảnh bản thân thuận lợi, tự thấy sức mình giữ được thì trả lời rõ ràng rằng : “Giới này con xin giữ được. Ngay giây phút trang nghiêm đó ta được giới thể xuất phát từ sự động tâm của mình. Còn tự thấy chưa giữ được thì làm thinh không trả lời. Vì vậy thụ giới cũng được phép “thiểu phần thụ”, “bán phần thụ” và “mãn phần thụ”.  Vì lẽ đó người làm nghề sát sinh như lò mổ hay đánh cá vẫn được qui y Phật pháp mà không có gì trở ngại. Khi đã thụ giới rồi nhưng hoàn cảnh phải nhập ngũ tòng quân ra trận thì làm lễ xả giới. Khi mãn hạn trở về, có điều kiện thì thụ giới tu trì trở lại. Thụ giới trong đạo Phật không như mắc phải một lời thề suốt đời không thể cởi ra được, nếu cởi bỏ sẽ bị tru diệt. Phật đã cho người xuất gia dù đã thụ đại giới nhưng khi gặp hoàn cảnh không tiếp tục được có thể về đời. Khi có điều kiện muốn sống đời thanh tịnh vẫn được xuất gia thụ giới trở lại, miễn sao hành xử đúng tư cách trong vị trí của mình thì không có gì hổ thẹn hay bị ác nghiệp. Nói tóm lại giữ giới là làm việc lành việc phải, tuân thủ các nguyên tắc hợp lý thì sẽ đạt kết quả tốt.

Định là tu tập thiền định. Định tâm tĩnh trí để sử dụng năng lực quán chiếu tu tập thân tâm, đạt đến giác ngộ. Định tiếng Phạn là samadhi, cũng được dịch là chánh định hoặc dịch âm là tam ma địa hay tam muội. Trong Đại Thừa Nghĩa Chương định nghĩa như sau: “Dĩ thể tịch tịnh ly ư tà loạn cố viết tam muội.” nghĩa là lấy cái thể vắng lặng lìa các tà loạn gọi là tam muội. Theo no Shinzo trong quyển Nghiên cứu kinh tế xã hội Phật giáo thì môn thiền định xuất hiện rất sớm ở Ấn Độ. Khoảng trước công nguyên 350 – 250 đã có 2 phái Yoga (Du già ) và Samkhya (Số luận ) được thành lập. Đó là các học phái lấy chủ nghĩa tu định làm trung tâm. Yoga chủ trương ức chế 5 cảm quan, thống nhất tinh thần, phát triển thành phái khổ tu fakir từ xưa của Ấn Độ. Chính tư tưởng Yoga đã làm cơ sở lý luận cho học thuyết của phái Samkhya mà về sau có ảnh hưởng đến Jaina giáo (Kỳ na giáo ) và Phật giáo. Ảnh hưởng đó là phương pháp tu định, tức là tĩnh tọa, điều hòa hơi thở, nhờ đó xả bỏ được vọng niệm, trấn tĩnh tinh thần, không sát sinh, không nói dối, không trộm cắp, không tà dâm, không tham, gìn giữ điều cấm, thanh tịnh, tri túc, khổ hạnh, học tụng, niệm thần linh, tổng trì, tức tập trung vào một chỗ và tĩnh lự, tức giữ liên tục đồng một quán niệm, qua đó đạt được tam muội, tức chỉ còn đối tượng hiển hiện, tự thể của tâm rỗng không, đạt tới cảnh địa siêu tự nhiên (SĐD, tr. 67 ). Thiền Ấn Độ lấy tiêu ngữ là vô ngã vô tâm, hình thức toạ thiền là chính thân đoan toạ, kết già phu toạ. Thiền định là pháp môn mà Thích Ca Mâu Ni đã tu tập và chưng ngộ dưới cội bồ đề. Thiền Trung Quốc chú trọng ắm vững cảnh địa vô ngã vô tâm rồi từ đó xuất phát trong sinh hoạt thường ngày. Thiền Trung Quốc triển khai giáo lý Hoa Nghiêm được tái hiện trong Luận Đại Thừa Khởi Tín, kết hợp tư tưởng Duy Ma, phát huy tinh thần đại thừa bồ tát đạo đem lại ý nghĩa giáo dục tích cực và hoạt động cho thế giới và con người. Hai nhân vật có tính đại diện tinh thần tích cực này là thiền sư Đạo Nguyên, tổ sư phái Tào Động Nhật Bản và Huệ Năng tổ sư thiền phái phương Nam của Trung Hoa. Huệ Năng dạy cách tu thiền định rất linh hoạt, trong Kinh Pháp Bảo Đàn lục tổ Huệ Năng đã đem tinh thần đại thừa phá chấp rất mạnh mẽ. Tổ định nghĩa hai chữ toạ thiền như sau: “Đối với các cảnh giới thiện ác bên ngoài không khởi tâm niệm gọi là tọa. Trong thì thấy tự tính bất động gọi là thiền.” (Phẩm 5: Tọa thiền ) Định nghĩa hai chữ thiền định tổ nói: “Ngoài lìa tướng là thiền. Trong không loạn là định.” (Phẩm 5: Toạ thiền ) Để phá chấp, có khi tổ dùng những lời lẽ sắc mạnh như: “Đạo do tâm ngộ, đâu phải tại cái ngồi.” (Phẩm 9: Tuyên chiếu ) Hay: “Lại có người dạy ngồi để quán tâm quán tĩnh, không động thân không khởi niệm để từ đó tạo công lực. Người mê không hiểu trở lại cố chấp cái ngồi mà thành khùng thành điên.” (Phẩm 4: Định Tuệ )

Việt Nam thừa hưởng từ hai nguồn tư tưởng và cách sinh hoạt trên. Tuệ Trung thượng sĩ trong bài Phật tâm ca có câu:

Hành diệc thiền, tọa diệc thiền,

Nhất đoá hồng lô hỏa lý liên.

nghĩa là:

Đi cũng thiền, ngồi cũng thiền,

Trong lò lửa đỏ một hoa sen.

Và ngay cả trong lúc nhìn ngắm vẻ đẹp của đất trời cũng giữ được sự tĩnh lặng thì cần gì đến hình thức ngồi thiền:

Đường trung đoan  tọa tịch vô ngôn,

Nhàn khán Côn Lôn nhất lũ yên.

Tự thị quyện thì tâm tự tức,

Bất quan nhiếp niệm bất quan thiền.

nghĩa là:

Giữa nhà ngay ngắn lặng ngồi yên,

Nhàn ngắm Côn Lôn sợi khói lên.

Đến lúc mỏi rồi, tâm tự dứt,

Cần chi nhiếp niệm với tham thiền.

Tu tập thiền định nhất thiết phải có thầy hướng dẫn nếu không sẽ bị sai lạc, không những không đạt mục đích mà còn có những tác hại nghiêm trọng. Trong Phật giáo có nêu rõ 5 loại thiền định là ngoại đạo thiền, phàm phu thiền, tiểu thừa thiền, đại thừa thiền và tối thượng thừa thiền. Thiền dưỡng sinh, thiền y học trị bệnh, thiền ma thuật, thiền phát sinh cuồng loạn v.v... tốt có xấu có, ích lợi có tai hại có mà ta gặp không ít trong thực tế. Ngay cả giới xuất gia có học tập tu trì chưa hẳn đã không khỏi đoạ lạc. Kinh sách Phật giáo có nói đến một loại cô hồn vốn là thiền tăng không chứng ngộ. Đến nay đã có ít nhất là ba tác phẩm văn học Phật giáo Việt Nam nói đến. Tác phẩm Thập giới cô hồn quốc ngữ văn của vua Lê Thánh Tôn có đoạn như sau:

“Chịu giáo Thích gia, thìn lòng trì giới, nhuộm sa vàng màu tươi bông cải, sơn thác đỏ thức chuốt lệnh bầu. Mũ tì lư rập tăm tắp vỏ dừa, đội khi hầu nắng; gậy tích trượng chỉn lô nhô đốt trúc, chống thuở còn sương. Lần sổ châu chuốt hạt kim cương, quét đôi guốc dạo non Linh Thứu. Kinh Pháp Hoa giảng đã mưa nhộc nhộc, đượm áo nạp đầm đầm; phiến bối diệp tung thổi gió hiu hiu, quét lòng mình thây thẩy. Già lẫn chiền là nơi ăn ở, khói cùng mây ấy chốn láng giềng. Hái củi quế tiễn trà, khủng khỉnh một bình một bát, nằm am mây tắm suối, nghêu ngao nửa bụt nửa tiên. Náu từ bi kín nước tưới hoa, ngồi thiền định thiêu hương chúc thánh... (Ngỡ) là ba nghìn cung Đâu Suất được thoát thân phàm; chẳng cộc mười hai cửa Phong đô gây nên mộng hoạ.

Hỡi ôi! Sống bởi chưng chưa sạch mọi lòng nhẫn nhục; thác cho phải chịu khó diệt đoạn tân toan.

Kệ than rằng:

Một bình một bát một cà sa,

Náu ở chiền già làm cửa nhà,

Kinh giã ngọc lâu hương lọn triện.

Định lui thiền viện bóng xoay hoa.

Thân làm rửa sạch quê hà hữu,

Giới hạnh vâng đòi giáo Thích già.

Nói những thiên đường cùng địa ngục.

Pháp sao chẳng độ được mình ta.

(Hợp tuyển Thơ văn Việt Nam, Tập II, NXB Văn Học, Hà Nội, 1976, tr. 445-446 )

Bài thỉnh Thiền tăng trong Mông sơn thí thực khoa nghi của Phật giáo như sau:

“Nhất tâm triệu thỉnh     : Xuất trần thượng sĩ phi tích cao tăng. Tinh tu ngũ giới tịnh nhân, phạm hạnh tì khưu ni chúng. Hoàng hoa thúy trúc, không đàm bí mật chân thuyên. Bạch hỗ lê nô, đồ diễn khổ không diệu kệ.

Ô hô: Kinh song lãnh tẩm tam canh nguyệt,

Thiền thất hư minh bán dạ đăng.

Như thị truy y Thích tử chi lưu, nhất loại cô hồn đẳng chúng.”

(Chính khắc trung khoa Du già tập yếu, bản khắc gỗ ở chùa Báo Quốc Huế, năm Đồng Khánh Mậu Tý )

Tác phẩm Khoa mông sơn thí thực này đã được hòa thượng Thích Trí Hải chùa Bích Liên ở Bình Định diễn nôm và khắc bản in. Đoạn trên như sau:

“Lại thỉnh kẻ xuất trần phi tích,

Thượng sĩ kìa với khách cao tăng.

Trai tinh ngũ giới đạo hằng,

Gái tì khưu lại đủ ngần nết tu.

Làng hoa trúc nào câu mật đế,

Nhà hỗ nô vấn kệ khổ không.

Ôi thôi: Kinh song trăng thấm lạnh lùng,

Nhà thiền leo lét đèn chong canh dài!

Thiền lưu này những ai ai,

Chân hồn xin hãy chứng lai pháp đàn.”

(Bích Liên đường, tán nhân Trí Hải phụng diễn nghĩa. Mông sơn thí thực khoa nghi, Cẩm giang Vĩnh Khánh Tự tăng chí tâm phụng lục. Bản gỗ khắc ở chùa Vĩnh Khánh, tháng giêng năm Khải Định, Nhâm Tuất )

Tuệ tức trí tuệ. Để nói rốt ráo nghĩa này, trong Phật giáo thường dùng nguyên từ bát nhã (pađđ, prajđa ). Về hình thái của trí tuệ tuy có phân chia tiểu thừa với đại thừa, có nhị thừa, tam thừa, ngũ thừa, nhất thừa nhưng rốt cuộc dù ở hình thái nào, cấp bậc nào, trí tuệ cũng kết hợp với nghiệp đạo mà thành lập Ba môn học giới định tuệ thường đước suy luận diễn dịch như sau: Nhân giới sinh định, nhân định phát tuệ.  Nghĩa là nhân giữ giới mà tâm được định tĩnh. Do tâm định tĩnh mới phát sinh trí tuệ. Đây là lối suy luận diễn dịch theo thế tục đế nên dễ hiểu và dễ chấp nhận. Nhưng con đường tu học giải thoát đòi hỏi sự hiện diện của trí tuệ ngay từ lúc khởi đầu. Chẳng thế mà tiêu ngữ của Viện Đại Học Vạn Hạnh đã lấy bốn chữ Duy Tuệ Thị Nghiệp làm châm ngôn cho giáo dục Phật giáo. Con đường của người tu Phật là học ba môn giới định tuệ, hành lục độ, tu thập thiện nghiệp, chứng thập địa. Nếu xét trong 10 thứ bậc của thập địa thì bậc đầu tiên là Hoan hỷ địa, tức Kiến đạo (dimarga ). Như vậy ngay từ bậc thứ nhất bát nhã tức trí tuệ đã được xác lập. Lại nữa định và tuệ không phải hai pháp biệt lập. Phẩm Định Tuệ trong Kinh Pháp Bảo Đàn tổ

Huệ Năng dạy chúng rằng:

“Pháp môn của ta lấy định tuệ làm gốc. Đại chúng chớ lầm bảo rằng định và tuệ khác nhau. Định tuệ đồng một thẻ không phải hai. Định là thể của tuệ. Tuệ là dụng của định. Ngay khi có tuệ thì định ở trong tuệ. Khi định thì có tuệ ở trong định. Nếu biết ý nghĩa này thì định tuệ đều phải tu học như nhau.

Các người học đạo chớ nên nói một cách riêng rẽ rằng có định trước rồi sau mới phát tuệ. Hoặc có tuệ trước rồi sau mới phát định. Hiểu như vậy thành ra pháp có hai tướng.” (SĐD, tr. 111 )

“Định tuệ như ánh sáng đèn. Có đèn sáng liền, không đèn tối ngay. Đèn là thể của ánh sáng. Ánh sáng là dụng của đèn. Tuy hai tên gọi mà vốn đồng một thể. Pháp định tuệ cũng như vậy.” (SĐD, tr. 112)

Đứng về mặt thế trí, Phật nhấn mạnh vai trò quốc vương, tức người đứng đầu lãnh đạo đất nước, tự thân phải học rông nhớ nhiều, hiểu biết các ngôn ngữ khác (Tứ Thập Hoa Nghiêm, Q.11, Đại Chính Q.10, tr. 713 thượng ) , thường học tập mở mang trí tuệ         (Niệm Xứ, Q.55, Đại Chính Q.17, tr. 325 trung ) và suy tư nghĩa lý chân thật (Bảo Hành, Đại Chính Q.32, tr. 499 trung ). Đặc biệt đối với Phật giáo thì việc phổ biến học vấn và làm phổ cập trong dân chúng bình dân là điều rất quan tâm. Cứ xem vai trò của ngôi chùa và sư sãi trong việc giáo dục và sinh hoạt cộng đồng trong các nước theo Phật giáo nguyên thủy như Thái Lan, Myanma, Lào, Cam bô đia thì rõ. Ở Nhật Bản trước khi Minh Trị hiện đại hoá nền giáo dục quốc dân đã tồn tại một loại hình giáo dục được thiết lập trong nhà chùa gọi là Terakoya để dạy dỗ cho con em trong vùng do các sư điều hành và giảng dạy. Thời gian học mỗi ngày ở Terakoya là khoảng 3-4 tiếng đồng hồ. Giáo viên lần lượt giảng bài cho từng học trò, trong khi các em khác tự mình học thuộc lòng, tập viết, tập đọc. Trọng tâm chính của việc giảng dạy là hai kỹ năng đọc và viết, sau đó đến môn toán. Ngoài ra cũng có những Terakoya lấy các môn đạo đức, pháp luật, dạy nghề làm cơ bản cho quá trình giảng dạy. Ở Terakoya các em còn được học chữ Hán, lịch sử, địa lý và làm văn v.v... Nói chung  Terakoya cung cấp cho cho người Nhật một nền giáo dục hoàn toàn thế tục khá phong phú. Mục đích các Terakoya không chỉ cung cấp kiến thức mà còn trau giồi những hiểu biết về nghề nghiệp trong tương lai giúp hình thành nhân cách. Terakoya là một đóng góp giáo dục của Phật giáo và đã có chỗ đứng xứng đáng trong lịch sử giáo dục Nhật Bản.

Ngoài ra để thực hành hạnh lợi tha Phật dạy phải học ngũ minh. Trong đó ngoài nội điển còn có các môn như Pháp tướng duy thức học, tạm gọi theo thế tục là Tâm lý học, Nhân minh học, tạm gọi theo thế tục là Luận lý học cho đến y dược học, ngôn ngữ học, kỹ thuật học v.v... Đó là những cái học thuộc về thế trí để làm phương tiện sử dụng trong sinh hoạt hiện tại.

 

3. Phương pháp giáo dục Phật giáo

Các nhà giáo dục xưa nay khi đề cập phương pháp giáo  dục  thường  quan tâm đến ba lĩnh vực.  Đó là phương pháp soạn thảo chương trình (curiculum planning),  phương pháp tổ chức học đường và các tiện ích giáo dục (schools and facilities), phương pháp giảng dạy và học tập (teaching and learning). Muốn đạt hiệu quả giáo dục , ba lĩnh vực này phải được vận dụng một cách linh động, tiến bộ mãi để phù hợp trình độ đáp ứng nhu cầu đưa con người và xã hội tiến lên. Một nhà giáo dục ta ngày xưa đã nói :”Học hhư nghịch thuỷ hành chu, phi tiến tắc thoái”. Nghĩa là việc học như người đi thuyền trên dòng nước ngược, không tiến lên ắt sẽ thoái lui. Với nguyên tắc tất yếu như thế thì chắc chắn sẽ không có một phương pháp giáo dục nào là cố định, sẽ không có môti phương pháp giáo dục tối ưu có thể áp dụng cho tất cả mọi người, ở khắp mọi nơi và cho mãi mãi.

Tuy nhiên phương pháp giáo dục nói trên thực ra nhằm khoanh vùng trong hệ thống giáo dục học đường (school education), một hệ thống giáo dục mang tính hàn lâm, có thi cử và có bằng cấp học vị. Nếu là phương pháp giáo dục đó thì không phải là phương pháp ứng dụng của Phật giáo vì giáo dục Phật giáo không nhằm mục đích đó. Còn giáo dục với ý nghĩa rộng hơn, hay nói khác hơn là ý nghĩa thực sự của nó thì vươn tới mọi sinh hoạt của con người trong cuộc sống cũng như trong cộng đồng xã hội. Chẳng hạn như giáo dục xã hội, giáo dục truyền thông đại chúng, giáo dục suốt đời (lifelong education). Đây là một phương pháp giáo dục ít đòi hỏi phương tiện, tiện ích mà đòi hỏi ở tấm lòng, đòi hỏi ở người thầy có kỹ năng chẩn đoán giống như thầy thuốc chữa bệnh cho bệnh nhân vậy. Đức Phật nói : Ta như lương y vì bệnh cho thuốc.

Trong giáo dục Phật giáo, không một đối tượng được áp dụng một phương pháp nào mà chưa trải qua thể nghiệm. Đức Thích Ca Mâu Ni tự thân đã qua quá trình hỏi đạo, biện chiết với các nhà tư tưởng cũng như  thực hành các phương pháp luyện tập của các nhà khổ tu trước khi quyết tâm thiền định dưới cây bồ đề cho đến khi thành chính quả. Văn Thù, bậc đại trí, đã chỉ cho đồng tử Thiện Tài du hành học đạo, tiếp xúc với đủ hạng người từ trưởng giả, bà la môn, người thần tiên, đồng nam đồng nữ, cư sĩ, người lái thuyền, ngoại đạo v.v... Như thế có thể nói phương pháp giáo dục trong Phật giáo là phương pháp kinh nghiệm, phương pháp giáo dục từ kinh nghiệm thực tế.

Bốn chân lý đầu tiên Thích Ca Mâu Ni giảng dạy, Phật đã không phán rằng :”Ta có con đường diệt khổ tuyệt vời, các người cứ thực hành theo lời ta dạy sẽ được cứu khổ”. Đức Phật đã đưa ra chân lý thứ nhất là sự khổ để chiêm nghiệm, từ đó phăng tìm nguyên nhân. Sự giác ngộ sẽ đến bằng con đường đó, bằng phương pháp đó. Thích Ca Mâu Ni đã từ những cơ sở thực tế đó xây dưng phương pháp giáo dục cải tạo thế gian. Cùng dạy người tu tập thiền học nhưng đối tượng là người thụt bễ lò rèn Phật dạy cho phương pháp đếm hơi thở, đối tượng là người phu giữ mộ ở nghĩa địa Phật dạy cho phương pháp tu quán bất tịnh. Đây là lối giáo dục gọi là đương cơ tuỳ theo đối tượng, được áp dụng rộng rãi trong Phật giáo một cách linh động. Qua đó có thể nói đây là phương pháp thể nghiệm trong giáo dục Phật giáo. Những nhà giáo dục phương Tây của thế kỷ 20 đã ví việc thực hiện phương pháp giáo dục mà không căn cứ vào thực tế khác nào một người đi đầu lơ lửng trên không mà chân không chạm đất.

Đức Phật đã trả lời câu hỏi của Mlunkyaputta. Đó là chuyện người bị xuông mũi tên độc được đưa đến cứu chữa. Hành động thích đáng của người chữa bệnh là rút ngay mũi tên ra và làm các biện pháp cấp cứu. Dẫu người kia cứ nằng nặc đòi phải nói cho biết ai bắn, tên tuổi là chi, hình dáng thế nào, xứ sở ở đâu và vì sao bắn rồi mơi chịu để cho cứu chữa thì cũng nhất  định  phải  cứu  chữa  mà  không  trả  lời. Bởi  vì người ấy sẽ chết trước khi được nghe câu giải đáp. Đó là lý do vì sao đức Phật không nặng giảng giải những điều siêu hình. Vì những điều đó sẽ không giúp gì cho việc thoát khổ cuộc đời. Phương pháp mang lại hiệu quả này là phương pháp giáo dục thực tiễn.

Ngày xưa đứa con thương yêu mất, bà Kisagotami đau xót ôm con đi hết đền này miếu nọ khấn xin thần linh cứu sống con bà. Trông thấy đức Phật tướng hảo trang nghiêm, bà sụp lạy thưa: "Xin ngài hãy cứu sống con tôi.” Đức Phật bảo:” Này người đàn bà đau khổ, người hãy vào làng xin một nắm hạt cải về thoa lên mặt đứa trẻ thì đứa trẻ sẽ sống lại.” Người đàn bà vui mừng sắp vội vã quay đi, đức Phật dặn thêm một câu: "Nhưng người nhớ xin cho được hạt cải ở gia đình nào xưa nay chưa có người chết.” Chiều tối người đàn bà mệt lã ôm con trở lại, đức Phật còn chở ở đấy. Người đàn bà sụt sùi thưa: "Thưa ngài, con đi khắp xóm làng nhưng xưa nay không có gia đình nào chưa hề có người chết.” Phật bảo: “Này người đàn bà tội nghiệp! Cả thế gian này có cùng nỗi khổ như con.” Ngay sau câu nói người đàn bà đã tỉnh ngộ. Đức Phật với đôi mắt hiền từ dõi theo bóng người đàn bà đang lặng lẽ ôm con đi về phía nghĩa địa. Đây là phương pháp tự tỉnh, về sau được áp dụng nhiều trong thiền học. Trong các công án thiền, có những câu gợi ý ngắn gọn, có những câu hỏi phản vấn, có những câu sử dụng tính mâu thuẫn và cả đến sử dụng cái “vô ngôn” như một cú đánh, một tiếng hét. Các câu này được sao lục rất nhiều trong Bích Nham Lục, Vô Môn Quan, Thiền Ngữ Lục hay Công án thiền.

Dùng lời hay không dùng lời, trong giáo dục Phật giáo cả hai đều là phương pháp có giá trị. Trong Phật giáo thường nói Ngôn giáo và Thân giáo. Thân giáo còn có phần quan trọng hơn. Nhân cách và hình ảnh ông thầy là điều không thể thiếu trong phương pháp giáo dục Phật giáo. Bởi nếu giáo dục chỉ cần ngôn từ để giảng giải thì giáo dục đó sẽ không có hiệu quả. Người xưa có nói: Tam tuế anh nhi tuy đạo đắc. Bát thập lão ông hành bất đắc. Nghĩa là nếu chỉ nói thì đứa bé ba tuổi cũng nói được. Nhưng làm thì chưa chắc ông lão tám mươi tuổi đã làm được. Và ngày nay chỉ cần phương tiện nghe nhìn cũng có thể dạy và học được sao? Thế nhưng đến nay hình ảnh ông thầy vẫn là nhu cầu không thể thiếu. Giáo dục Phật giáo không chấp nhận câu nói: “Hãy làm như những gì ta nói chứ đừng làm như những gì ta làm” (Fais ce que je dis et ne fais pas ce que je fais ). Bởi đó là phản giáo dục. Hình ảnh ông thầy trong giáo dục Phật giáo bao giờ cũng được quí trọng như tất cả mẫu mực. Chính vì thế vai trò của chư tăng được xếp vào hàng Tam bảo. Không những tự  thân  ông  thầy  là  sự  thể hiện đầy  đủ  ý nghĩa, lý tưởng và mục đích của giáo dục mà trong vô hình còn thêm một hiệu quả không nhỏ về mặt giáo dục tình cảm và đạo đức. Xin mượn câu nói của giáo sư Minh Chi trong bài phát biểu tại cuộc Hội thảo Giáo dục Phật giáo để suy gẫm: “Tôi cho rằng, một trong những nguyên nhân khiến cho đạo không truyền được vào đời, khiến cho giáo dục Phật giáo có hiệu quả hạn chế là vì chúng ta coi nhẹ thân giáo, tức là người làm chức năng giáo dục Phật giáo, phải thực hành hằng ngày, hằng giây phút những giá trị cao cả của đạo Phật trong cuộc sống của mình.”

Phương pháp giáo dục Phật giáo còn triển khai hai phân ngành có tính chuyên môn như phương pháp phân tích tâm lý, áp dụng cho lãnh vực hiện tượng học mà chuyên từ Phật học gọi là Pháp tướng duy thức học. Phương pháp này chủ yếu phân tích triệt để các hành tướng của tâm thức để nhận diện mọi hiện tượng và mối liên quan của nó trong thế giới nội tâm ngoại cảnh. Phương pháp này phát triển và áp dung nhiều ở thời kỳ bộ phái Phật giáo. Một ngành nữa là phương pháp Luận lý, trong Phật học gọi là Nhân minh học. Ngành luận lý còn triển khai rộng sâu với những kiểu lý luận sắc bén, nhất là thời kỳ đại thừa thành lập mà Asvaghosa (Mã Minh ) và Nagarjuna    (Long Thọ ) là những tên tuổi sáng chói trong ngành luận lý học Phật giáo.

Sau đây xin nêu một vài đoạn trong Kinh Pháp Bảo Đàn để thấy phương pháp lý luận của Lục tổ Huệ Năng biến hoá như thế nào. Trong Phẩm Phú chúc, Huệ Năng dặn dò đệ tử nắm vững tôn chỉ căn bản trong khi giáo hoá như sau:

 “Trước hết lấy pháp môn ba khoa, sử dụng một cách linh động ba mươi sáu cặp đối lập, rồi thoát ra ngoài hai thái cực của sự đối lập đó, giảng nói tất cả pháp mà không lìa tự tính.” (Phẩm 10 : Phú Chúc)

Rồi Huệ Năng cụ thể cách lý luận như sau:

“Nếu có ai hỏi người một pháp gì thì trả lời đều có hai cửa, dùng phép đối chọi mà bên này bên kia có tác nhân với nhau, cuối cùng loại trừ cả hai không theo bên nào.” (Phẩm 10 : Phú Chúc)

Đây rõ ràng Huệ Năng đã dùng khái niệm mâu thuẫn có tính phổ quát trong Lưỡng đao luận pháp hay cũng gọi là Song quan luận pháp (Dilemma) như phép luận lý phương Tây, để cuối cùng cho thấy cả hai đều sai.

Thí dụ Huệ Năng hỏi Pháp Đạt, người tự hào đã tụng kinh Pháp Hoa đến 3 ngàn bộ.

"Huệ Năng hỏi: - Nếu ngươi chỉ bo bo chấp chỗ tụng niệm ấy làm công khoá hằng ngày thì khác nào con ly ngưu yêu thích cái đuôi dài của nó!

Đạt hỏi lại: - Nếu vậy chỉ cần hiểu nghĩa, khỏi cần nhọc sức tụng kinh?

Huệ Năng trả lời: - Kinh có lỗi chi mà cấm cản không cho ngươi tụng?” (Phẩm 7 : Cơ Duyên)

Ngoài ra để thực hiện tốt việc giáo dục, đức Phật còn dạy phải thực hành các phương tiện như học ngũ minh, tu tứ nhiếp pháp, hành lục ba la mật. Ứng phú đạo tràng cũng có thể coi là một phương tiện. Nhưng trong thời mạt pháp phương diện của một ông thầy để tiếp tăng độ chúng phần nhiều gói trọn trong hai thời công phu, bộ luật tiểu, và biết ứng phú đạo tràng. Vì vậy mà không ít trở nên biếng nhác, không có tinh thần tu học, lấy phương tiện làm cứu cánh.

Đức Thích Ca Mâu Ni từ lúc đứng dậy dưới cây bồ đề đến khi nằm xuống giữa hai cây sala trong đêm trăng tròn, suốt 45 năm rày đây mai đó để ngày nay khảo cổ học đã phát hiện bao nghiêu di chỉ trên thế giới là Trung tâm Phật giáo, trong đó có Trung tâm Luy Lâu của Viêt Nam chúng ta. Phải chăng đó là do hiệu quả của đường lối giáo dục của Phật giáo. Đó là đường lối giáo dục “tìm đến với người chứ không đợi người tìm đến”.

Một hôm đức Phật hỏi ngài Phú Lâu Na sắp lên đường làm sứ mệnh giáo dục rằng: “Ông đến đó giảng dạy lỡ người ta không nghe mà còn mắng nhiếc ông thì sao? Phú Lâu Na đáp: “Con sẽ cám ơn họ vì họ vì họ đã không nỡ đánh đập con.” Phật hỏi: “Lỡ người ta đánh đập ông thì sao?” Phú Lâu Na đáp:” Con sẽ cám ơn họ vì họ đã không nỡ giết con.” Phật hỏi: "Lỡ người ta giết ông thì sao? "Phú Lâu Na đáp: "Con sẽ cám ơn họ vì nhờ họ  mà con đã hiến dâng đời con cho sự nghiệp cao cả.”

Tinh thần giáo dục Phật giáo là như thế và vì vậy mà Phật giáo luôn cần những con người như Phú Lâu Na.

 

III. Phần kết.  

Ở đây chúng tôi muốn đề cập đến hình tượng mẫu người lý tưởng trong giáo dục Phật giáo để tạm làm phần kết khép lại giảng khoá này.

J.J. Rousseau chủ trương giáo dục không có mục đích huấn luyện con người thành một người lính, một quan toà hay một cố đạo mà huấn luyện con người sao cho thành người.

Giáo dục lấy con người làm đối tượng và cứu cánh cũng ở con người. Đó là quan điểm giáo dục của Phật giáo.

Xưa nay giáo dục vẫn luôn luôn cố gắng xây dựng cho thời đại một mẫu người lý tưởng. Xưa kia ở Phương Đông là hình ảnh người quân tử trong giáo dục Khổng giáo, là hình ảnh người samurai trong giáo dục phong kiến Nhật Bản. Và Phương Tây là hình ảnh những élites gentlemen những chivalries. Và ngày nay khắp Đông Tây không phân biệt thể chế chính trị, quốc gia nào cũng cố gắng xây dựng cho thời đại một mẫu người lý tưởng. Xác định mẫu người là điều cần thiết, là mục đích của giáo dục. Nếu không, việc làm sẽ trở nên vô mục đích hay mù mờ về mục đích. White Head trong The Aims of Education (Ernest Benn, 1966, p.1 ) cũng trước tiên xác định mẫu người như sau: “Mục tiêu mà chúng ta hướng đến là con người có cả văn hoá và kiến thức chuyên môn trong hướng dặc biệt. Kiến thức chuyên môn sẽ là điểm khởi hành và văn hoá sẽ hướng dẫn đến chỗ thâm sâu như triết học và cao thượng như nghệ thuật”. (What we should aim at producing is men who possess both culture and expert knowledge in some special direction. Their expert knowledge will give them the ground to start from, and their culture will lead them  as deep as philosophy and as high as art.)

Tác giả Shitahodo Ykichi trong giảng khoá Giáo Dục Học ở Đại Học Kyoto đã dẫn: "Văn hoá Nhật Bản nếu loại trừ Phật Giáo ra thì sẽ không còn gì cả. Phật giáo đã làm trọn ý nghĩa rất lớn về giáo dục xã hội”. (Nihon bunka kara Bukkyo wo torisareba jijitsujo nani ga nokoru ka to iwareru hodo, Bukkyo no hatashita shakai kyoiku teki igi wa oookii ). (Kyoikugaku, Tokyo 1962, tr.240 )

Vậy giáo dục nói chung đều nhằm mục đích xây dựng con người và xã hội. Điều này ta đã thấy rõ trong giáo dục Phật giáo qua quá trình triển khai ở các phần trên.

Mẫu người lý tưởng trong giáo dục Phật giáo có thể nói đó là hình tượng của bồ tát. Hình tượng này vô cùng đa dạng vì cuộc sống vốn đa dạng. Cuộc sống đa dạng nên bồ tát tuy đa hạnh nhưng hạnh nào cũng là hạnh bồ tát miễn sao không “trụ tâm thủ tướng” và thực hành hạnh nguyện đến chỗ rốt ráo tức thực hành bồ tát đạo. Chúng ta thường tụng niệm và hình ảnh gần gũi chúng ta có cứu khổ cứu nanï Quán Thế Aâm, có đại lực Đại Thế Chí, có đại nguyện Địa Tạng, có đại hiếu Mục Kiền Liên v.v… Nhưng mở Kinh Pháp Hoa, ta còn gặp nhiều hình tượng hơn nữa. Có hình tượng thanh tịnh trang nghiêm, có hình tượng oai hùng, có hình tượng thân thương cảm động như Phật thân,  Thanh  văn  Duyên  giác,  Đế thích  Phạm Thiên, tiểu vương, trưởng giả, tể quan, cư sĩ, bà la môn, tì khưu, tì khưu ni, ưu bà tắc, ưu bà di, đồng nam đồng nữ, cho đến trời rồng dạ xoa phi nhân v.v… tất cả đều là mẫu người phương tiện thực hành giáo duc Phật giáo. Ta không thể kể hết có bao nhiêu hình tượng bồ tát cũng như ta không thể đếm kể hết có bao nhiêu số cát sông Hằng. Nhưng tiêu biểu đại diện cho tất cả hình tượng ấy ta thường thấy được thờ phụng trong các chùa với pho tượng trung tôn là Thích Ca Mâu Ni, bên trái là Văn Thù, bên phải là Phổ Hiền. Đây là ý nghĩa tượng trưng cho đại trí và đại hạnh. Giáo hoá độ sinh phải có trí tuệ và hạnh nguyện lớn. Trí tuệ và hạnh nguyện là hai chân của một con người đi vào pháp giới trong hành trình học đạo và hành đạo. Phẩm Nhập pháp giới trong Kinh Hoa Nghiêm kể chuyện đồng tử Thiện Tài đã đầu tiên gặp Văn Thù và cuối cuộc hành trình đã gặp Phổ Hiền không phải cũng ý nghĩa như vậy sao?

Chính vì tinh thần bồ tát thể hiện một cách linh động và đa dạng mà giáo dục Phật giáo đã thâm nhập một cách hoà bình và phát huy tích cực nhiều mặt vào đời sống con người và xã hội. Tiến sĩ Nakamura Hajime, giáo sư ngành Đông Phương Học Đại Học Tokyo, trong bài diễn thuyết "Contribution of Eastern Thought and Buddhism to World Culture ”   (Sự  đóng  góp  của  tư  tưởng  phương Đông và Phật giáo cho văn hoá thế giới ) tại Viện Đại Học Vạn Hạnh Sài Gòn ngày 15 tháng 5 năm 1973 nhân dịp giáo sư nhận bằng Tiến sĩ danh dự cuẢ Đại Học này đã trưng dẫn không biết bao nhiêu những đóng góp cụ thể của Phật giáo cho văn hoá thế giới.

Về các mặt tư tưởng, tình cảm, văn hoá, nghệ thuật, ngôn ngữ, sự đóng góp của Phật giáo trong lĩnh vực này cũng để lại những thành tựu không nhỏ. Đặc biệt thấy rõ là ở các nước Việt Nam, Trung Quốc, Nhật Bản, Triều Tiên, Thái lan, Mianma, Lào, Cambođia v.v… Nhà văn Liên Xô V. A. Pronilov. I. D, Ladanowv, trong cuốn Japoncy, xuất bản năm 1985 đã viết: "Nhà sư Nhật Bản không phải bao giờ cũng hoàn toàn là người chuyên hoạt động về tôn giáo mà còn có thể từng là (và hiện vẫn là ) nhà giáo, nhà kinh doanh, nhà hoạt động chính trị, nhà quân sự v.v… Bởi thế ở Nhật Bản, đạo Phật có ảnh hưởng rất sâu rộng tác động đến tất cả các lĩnh vực trong đời sống xã hội.” (Người Nhật, NXB Hậu Giang, 1989, tr.17 ).

Về phương diện dựng nước giữ nước và kiến tạo hoà bình thế giới, lịch sử Phật giáo luôn xuất hiện những khuôn mặt lớn như Lương Vũ Đế của Trung Quốc, Thánh Đức thái tử, thị thánh Không Dã thiền sư của Nhật Bản, Asoka của Aán Độ. Ở Việt Nam có các thế hệ vua Trần và các tướng quân, có những thiền sư Khuông Việt, Vạn Hạnh. Trong thời kháng  chiến  chống thực  dân  Pháp có những đạo Lành thiền sư ở Nam Bộ đã cùng Âu Dương Lân, Diệp Kỳ Sanh v.v… lập kế hoạch kháng chiến dưới thời Tự Đức, có những Bạch Xỉ tướng quân ở Quảng Bình với cờ  hịch  tuyên  truyền  chống  Pháp  bằng  khẩu  hiệu "Trượng nghĩa cứu dân. Nhân hỉ từ bi câu đạo Phật. Tặc kinh uy vũ tâ xưng thần”, và những nhà sư như Võ Trứ ở thôn Nhơn Ân, huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định dưới thời Thành Thái đã giả làm thầy bùa vào cho thuốc trong các làng mọi để tổ chức vũ trang. (Xem Châu Bản Triều Nguyễn, chuyên đề Phật giáo,  của Lý Kim Hoa, NXB Văn Hoá Thông Tin, Hà Nội, 2003 ). Trong chiến tranh đã có những Thích Quảng Đức, Tiêu Diêu, Quảng Hương, Nguyên Hương, Thanh Tuệ, ni cô Diệu Quang và nhiều tăng ni Phật tử cả đến những vị chỉ từ chiến khu về sau ngày giải phóng và còn những người vô danh mà lịch sử không biết đến.

 

---o0o---

Nguồn: Báo Giác Ngộ. Trình bày: Nhị Tường
 Cập nhật: 01-1-2006 

 


Webmaster:quangduc@quangduc.com

Trở về Trang Phật Học

Đầu trang

 

Biên tập nội dung: Tỳ Kheo Thích Nguyên Tạng
Xin gởi bài mới và ý kiến đóng góp cho Trang Nhà qua địa chỉ: quangduc@tpg.com.au
Địa chỉ gởi thư: Tu Viện Quảng Đức, 105 Lynch Road, Fawkner, Vic. 3060. Tel: 61. 03. 9357 3544