Phật
Học Cơ Bản
Tập Một
Ban
Hoằng pháp Trung ương
GHPGVN
Chương
trình Phật học Hàm thụ (1998-2002)
Nguyệt san Giác Ngộ
--- o0o ---
Phần
I - Bài đọc thêm
Bức thông
điệp từ con người của Ðức Phật
Thích
Trí Chơn
A- Dẫn nhập
Cuộc
đời hoằng pháp của Ðức Thích Ca được nhân loại chiêm
ngưỡng, khảo nghiệm dưới nhiều góc độ: giải thoát
học, tôn giáo học, khoa học, triết học, sử học... Song,
tất cả đều có chung một mẫu số rằng: "Suốt 25 thế
kỷ qua, Ðức Phật, người sáng lập ra đạo Phật, luôn
được coi là một trong những nhà tư tưởng vĩ đại nhất
của nhân loại" (Almanach - những nền văn minh thế giới,
Nxb Văn hóa-Thông tin, 1996, tr.1410).
Bằng tuệ giác siêu việt đạt được trong đêm
thành đạo, Ðức Phật trải gót khắp xứ Ấn Ðộ, đem
hạt giác ngộ gieo khắp "đất tâm", muốn tất cả chúng
sanh đều được giác ngộ như chính Ngài. Và chẳng bao lâu,
hoa trái giác ngộ rộ nở khắp nơi, tạo thành vườn đạo
lý hiện hữu sinh động giữa cuộc đời và liên tục phát
triển trên khắp năm châu cho đến ngày nay.
B- Nội dung
I- Khái quát về Ðức
Phật
Sống giam mình trong ngục thất vàng ngọc và
bị ràng buộc bởi tình ái thê nhi, Thái tử Siddhattha (Sĩ
Ðạt Ta) vẫn không có được chút thảnh thơi, an lạc.
Cuộc sống luôn bị rình rập bởi già, bệnh, chết, sầu,
bi, khổ, ưu não; chàng quyết định từ bỏ vinh hoa phú quý,
làm vị Sa môn vô gia cư để tìm đường giải thoát, cứu
mình và nhân sinh.
Gần một năm theo học với hai đạo sĩ Alara
Kalama (A-la-ra ka-la-ma), lãnh đạo phái Samkhya (Số Luận) ở
thành Vesali (Tỳ Xá Lỵ) và với Uddaka Ramaputta (Uất Ðâu
Lam Phất), lãnh tụ phái Yoga (Du Già) tại kinh đô Rajagaha (Vương
Xá), Sa môn Gotama đã quán triệt tất cả những gì hai đạo
sĩ đạt được, nhưng Ngài không thỏa mãn; vì cho rằng chúng
chưa phải là quả vị giác ngộ tối thượng. Ngài quyết
định từ bỏ hai đạo sĩ, sau đó cùng với năm đệ tử
của Uddaka là Kondanna (Kiều Trần Như), Bhaddya (Bạt Ðề),
Vappa (Ðề Bà), Mahanama (Ma Ha Nam)và Assaji (Ác Bệ) xuôi về
Nam, đến Uruvela (Ưu Lâu Tần Loa) lập cứ tu hành. Cuộc tìm
kiếm chân lý trên đường khổ hạnh kéo dài sáu năm, kết
quả cũng chẳng có gì ngoài những cảm giác đớn đau,
kiệt sức, ngất xỉu... Ngài một lần nữa, chối bỏ pháp
tu (khổ hạnh) vô nghĩa và "tự mình thắp đuốc lên mà đi".
Sau 49 ngày đêm tư duy thiền quán dưới cội cây
Assatha, vào một đêm, khi sao Mai vừa ló dạng, tuệ giác siêu
việt bừng sáng nội tâm. Sa môn Gotama chứng Vô thượng Chánh
đẳng giác (Anuttara samana samboddhi), được trời người cung
kính với 10 tôn hiệu: Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri,
Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ,
Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật Thế Tôn.
Nhận lời thỉnh cầu của Phạm Thiên Sahampati
(Tự Tại Thiên), Thế Tôn rời cội boddhi (bồ đề), bắt
đầu cuộc hành trình dài 45 năm, truyền bá đạo giác
ngộ.
Hình ảnh một Thái tử sống trong nhung lụa
với vợ đẹp, con xinh, nhận thức được sự thật cuộc
đời, vượt thành xuất gia làm Sa môn khổ hạnh, cuối cùng
tự tu, tự chứng ngộ, nắm được quy luật vận hành của
vũ trụ - nhân sinh, đã trở thành thiên sử kỳ diệu vô
tiền khoáng hậu trong lịch sử tôn giáo của nhân loại.
Thiên sử ấy là bản hùng ca, là khúc khải hoàn trác
tuyệt vang vọng trong sự sống suốt gần 3 thiên kỷ nay
với những cung bậc đầy âm điệu, vừa nhân thế, vừa siêu
thế qua các điểm dưới đây.
II- Ý
nghĩa thành đạo
1- Thế Tôn -
bậc Thánh khai sáng đạo Phật - là một người như bao nhiêu
con người, tự giác ngộ chân lý, rồi đem sự giác ngộ
ấy dạy lại cho con người. Ngài không phải là Thượng đế,
thiên sứ hay thần linh ở một thế giới xa xăm nào xuất
hiện giữa cuộc đời. Ðức Phật dạy, nếu ai hiểu một
cách chân chính về Ngài thì hãy hiểu rằng, Ngài là vị
hữu tình không có si ám, sinh ra ở đời vì hạnh phúc cho
muôn loài, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì
hạnh phúc, vì an lạc cho chư Thiên và loài người (Trung
Bộ I, kinh số 4, tr.53). Chân lý được Thế Tôn chứng
ngộ, do đó, cũng ở ngay trong thế giới (hơn 5 tỷ người)
này. Chân lý đó là những quy luật vận hành của vũ
trụ-nhân sinh (định lý Duyên khởi - Paticcasamuppada). Nó
tồn tại khách quan trong sự sống; Ðức Phật dù xuất
hiện hay không xuất hiện ở đời, nó vẫn luôn vận hành
như vậy (Tương Ưng Bộ kinh II, chương I, phẩm
2, tr.51). Ðịnh lý này thật là sâu kín, khó thấy, khó
chứng, tịch tịnh, cao thượng, siêu lý luận, vi diệu;
chỉ có người trí mới hiểu thấu (kinh Pháp Hoa,
phẩm Phương tiện số 2; kinh Trường Bộ I, số 13,
tr.486).
2- Với ý nghĩa đó, Ðức Phật là người
"thấy" được chân lý mà không phải tạo dựng ra chân lý.
Ngài cực lực phản đối những luận điệu cho rằng Ngài
là người sáng tạo ra một học thuyết. Tỳ kheo Sunakkhatta
là người mắc phải sai lầm nghiêm trọng này khi phát
biểu giáo lý của Ðức Phật được hình thành là do quá
trình suy tư, phán đoán, suy luận, mường tượng rồi sau đó
kiểm nghiệm, phổ biến và thuyết giảng. Và tất nhiên, Ðức
Phật đã cải chính sự hiểu biết sai lệch này (Trung
Bộ I, kinh số 22, tr.161).
3- Sống trong sự hưởng thụ dục lạc
(khi còn ở hoàng cung) không có hạnh phúc chân thật, nhưng
ép xác khổ hạnh (lúc tu với năm anh em Kondanna) cũng chẳng
được an vui. Từ bỏ hai cực đoan này, thực hành Bát thánh
đạo (xem Phật học hàm thụ, bài 3), Thế Tôn tìm
được an lạc trên con đường này. Và đây cũng là Trung đạo
đưa đến sự chứng ngộ tối thượng (Trung Bộ I,
kinh số 9, tr.111; Tương Ưng IV, chương I, tr.518).
4- Từ bỏ hai đạo sĩ thời danh và năm
người bạn đồng tu để "tự mình thắp đuốc lên mà đi",
là bài pháp Thân giáo sinh động, thể hiện sự tự
tu, tự chứng ngộ của bậc Ðạo Sư, cho chúng ta đang
tiến bước trên lộ trình giải thoát giác ngộ. Ngài luôn
dạy đừng giao phó thân mạng, tư tưởng, lý tưởng, mục
đích sống cho bất cứ ai, chủ thuyết nào, ý hệ nào dù
chúng đã trở thành truyền thống, tập tục; vì chỉ có mình
là chủ nhân tác nghiệp, tạo nên khổ đau hay hạnh phúc.
Từ kinh nghiệm tu chứng bản thân, Ðức Phật dạy các đệ
tử hãy tự mình là ngọn đèn cho chính mình, hãy tự mình
nương tựa nơi chính mình, chớ nương tựa một gì khác. Dùng
chánh pháp làm ngọn đèn, dùng chánh pháp làm chỗ nương
tựa, chớ có nương tựa một gì khác (Trường Bộ I,
kinh số 15, tr.584; kinh Tương Ưng III, chương I, phẩm
5, tr.83).
5- Mặt khác, "tự mình thắp đuốc lên
mà đi" cũng có nghĩa là tự mình khơi dậy ngọn đèn trí
tuệ, khơi dậy hạt giống Phật nằm tiềm ẩn bên trong
mỗi con người. Vì rằng, "tất cả chúng sinh đều có
Phật tính" (Nhứt thiết chúng sinh giai hữu Phật tính -
kinh Pháp Hoa), tức là ai cũng có khả năng thành Phật.
Tiến trình đạt đến quả vị Phật là tiến trình chiến
đấu với tự thân, chiến đấu với vô minh (àvijjà) và ái
dục (tanhà). Ðức Phật tuyên bố: "Biển có thể cạn, núi
có thể sụp đổ, quả đất có thể băng hoại, nhưng khổ
đau không bao giờ chấm dứt đối với người còn vô minh và
ái dục (Tương Ưng III, chương I, phẩm 5, tr.267). Ngài
đã đoạn trừ được vô minh và ái dục, nên Ngài là bậc
tối tôn ở đời; Ngài thân dù ở trong muôn loài, tâm đã
cao thượng trên tất cả muôn loài.
6- Một yếu tố tối trọng ảnh hưởng
đến việc thành đạo của Thế Tôn: Chánh tinh tấn. Bốn mươi
chín ngày đêm ròng rã tĩnh tọa dưới cội boddhi là biểu
hiện của sự kiên trì, tinh tấn. Nhờ tinh tấn mà Thế Tôn
chứng được đạo quả. Cảnh giới Niết bàn không có bóng
dáng của kẻ biếng lười, cánh cửa giải thoát cũng không
hé mở cho người không có sức mạnh tinh tấn.
7- Từ góc độ lịch sử, sự kiện thành
đạo của Thế Tôn là điểm son trong lịch sử tôn giáo
của nhân loại, mở ra một kỷ nguyên mới, kỷ nguyên của
nhân bản, bình đẳng, vô ngã và từ bi (xem Phật
học hàm thụ, bài 1). Bậc thầy vĩ đại của nhân
loại xuất hiện từ đây, đạo Phật - đạo giải thoát vì
hạnh phúc cho muôn loài - cũng bắt đầu từ đây.
III- Thánh hạnh vĩ đại
của Ðức Phật
Với thánh cách vô thượng
và thánh hạnh vô song, Thế Tôn đã du hành qua nhiều quốc
gia, cảm hóa được nhiều thành phần trong xã hội. Từ
vua, quan, quý tộc, thức giả, tỷ phú đến giới thương
gia, nông gia, nô lệ, tướng cướp, kỹ nữ cho đến ngoại
đạo, tất cả đều được Ngài thâu nhận làm đệ tử tu
hành thanh tịnh trong hội chúng của Ngài. Sự tổng hợp đa
thành phần trong xã hội hỗn tạp thành đoàn thể hòa hợp
thanh tịnh là điều kỳ diệu, nếu không phải Thế Tôn,
sẽ không thực hiện được điều này. Kết quả kỳ diệu
này là do đức chiêu cảm của bậc giác ngộ, nhưng phần
lớn nhờ vào những lời dạy nhiệm mầu cùng với những
phương thức giáo hóa vi diệu của Thế Tôn. Trong phần này,
ta không lật lại những trang giáo lý, mà chỉ tìm hiểu
những thánh hạnh, thánh cách và một vài con đường hoằng
pháp của Ngài.
1- Sau khi thành đạo, Thế Tôn nghĩ ngay
đến việc giác ngộ cho hai vị đạo sĩ Alara Kalama và
Uddaka Ramaputta. Tuy không phải là hai vị thầy tối thượng,
hai vị này đã là những vị thầy đầu tiên hướng dẫn
Thế Tôn tu tập và Ngài đã đạt được những quả vị
nhất định. Không độ được vì họ đã qua đời, nhưng lòng
tưởng nhớ của Thế Tôn vẫn gợi lên trong ta tinh thần đại
nghĩa của Ngài. Sau đó, Ngài nghĩ ngay đến năm anh em
Kondanna và khởi hành đến Benares (Ba La Nại), cảm hóa họ
thành những đệ tử đầu tiên. Ngài cũng không quên cảm hóa
những thân chủ năm xưa: Sujata (Su Dà Ta) - cô thôn nữ cúng
Ngài bát sữa, đánh dấu sự từ bỏ khổ hạnh vô nghĩa;
Svastika - cậu thiếu niên cúng 8 bó cỏ mịn để lót nơi
ngồi thiền mà sau đó Ngài chứng Vô thượng Chánh đẳng
giác. Hình ảnh bậc Ðạo Sư nhớ đến những vị thầy đã
theo học lúc chưa thành đạo, những người bạn đồng tu,
những thân chủ năm xưa, cho ta một cái nhìn đầy lạc
quan, tin tưởng vào tình người của Ngài.
2- Tín - một ý nghĩa vô cùng quan trọng
trong mọi lĩnh vực giữa con người với con người. Ðức
Phật, dù đối với vua chúa, quý tộc hay thứ dân, đều trân
trọng chữ tín. Vua Bimbisara (Tần bà Sa La), lúc Thế Tôn chưa
thành đạo, có đề nghị nếu tìm được đạo thì hãy
nhớ hóa độ vua; vì vua vừa muốn có bậc Ðạo sư nương
tựa tinh thần, vừa muốn giao hảo với Thế Tôn để cho
xứ Magadha (Ma Kiệt Ðà) có mối quan hệ tốt với
Kapilavatthu (Ca Tỳ la Vệ) . Ðồng thời, nếu Thế Tôn trở
thành bậc thầy vĩ đại thì Vua Bimbisara sẽ ảnh hưởng
được Ngài về mặt quần chúng. Ðức Thế Tôn thừa hiểu
việc này, vẫn giữ lời hứa năm nào, đến Magadha cảm hóa
Vua Bimbisara, cuối cùng vua đã trở thành vị đệ tử
nhiệt thành.
Một lần khác, trong lúc đang ở Vesali, Ðức
Phật nhận lời mời của kỹ nữ Ambapàli (Liên Hoa Sắc),
đến thọ thực tại nhà cô vào ngày hôm sau. Cùng lúc ấy,
nhóm quý tộc Licchavi cũng thỉnh Ngài thọ thực tại nhà
của họ, đúng vào ngày Ambapàli mời. Ðức Phật từ chối
trong sự thật rằng, Ngài đã nhận lời mời của Ambapàli
trước rồi nên phải giữ chữ tín (Trường Bộ I,
kinh số 15, tr.579).
Khi ở tuổi 80, sắp vào Niết bàn, Ðức Phật
giảng bài pháp về 4 thần túc của bậc giác ngộ, có khả
năng kéo dài tuổi thọ. Tôn giả A Nan nghe nhưng không
thỉnh Thế Tôn trụ thân ở đời một thời gian, trong khi
ác ma thỉnh Ngài nên sớm vào Niết bàn. Ðến khi Thế Tôn
sắp nhập diệt, A Nan khẩn nài Ngài trụ thêm một thời
gian, Ngài đã từ chối vì đã "hứa" với ác ma.
3- Không ít người đã dùng lăng kính "
nhân giới" để tìm chữ hiếu trong "Phật giới" nên đã
không tìm thấy, rồi vội kết luận Ðức Phật bỏ gia đình,
trốn cha mẹ xuất gia là bất hiếu. Cái hiếu của bậc
hiền trí không phải là "quạt nồng ấp lạnh" hay "sửa
gối dâng trà", mà là cảm hóa phụ mẫu về với chánh đạo.
Muốn vậy, phải tu theo chánh đạo và đạt được chánh đạo.
Tinh thần hiếu của Ðức Phật là cái đại hiếu của người
đi phương xa để tìm "món thuốc" trường sinh bất tử
về để cứu cha mẹ, mà không chịu ở quanh cha mẹ để lo
bát cơm, tách nước. Do đó, ta thấy sau khi thành đạo và
đã có được một số đông đệ tử, Ðức Phật trở về
quê hương Kapilavatthu để hóa độ thân phụ và các thân
tộc họ Thích (Sakya). Kinh còn kể, Ðức Phật đã vận
thần thông lên cõi trời Tusita (Ðao Lợi) để giáo hóa thân
mẫu Maya (Ma Da) chứng quả A La Hán.
Như thế, rõ ràng Ðức Phật là bậc đại
hiếu. Lòng hiếu của Ngài thoát khỏi chữ hiếu thường tình,
không nhuốm màu ái dục. Ðó là tinh thần hiếu đạo xuất
thế của bậc giác ngộ.
IV- Một vài đặc tính
hoằng pháp của Ðức Phật
Với trí tuệ siêu phàm,
Ðức Phật đã hóa độ vô số thành phần trong xã hội
với vô số phương thức khác nhau. Những phương thức này
tùy vào bối cảnh, đối tượng mà Ngài tùy cơ giáo hóa.
Ngài không bao giờ đặt ra những bài học hay công thức cho
việc truyền pháp. Ở đây có thể rút ra một vài phương
thức được tìm thấy trong cuộc đời hoằng pháp của Ngài.
1)- Tính nhất quán: Nước trong
bốn bể vô lượng, nhưng chỉ có một vị duy nhất - vị
mặn. Cũng vậy, giáo lý của Ðức Phật nhiều vô số, nhưng
chỉ có một vị duy nhất - vị giải thoát. Bốn mươi lăm
năm truyền đạo của Ngài là 45 năm khai mở đạo mạch
giải thoát để tưới nhuần cho muôn loài, giải thoát
khỏi tham, sân, si; giải thoát khỏi sanh, già, bệnh, chết,
sầu, bi, khổ, ưu não. Dưới cặp mắt của bậc Ðại Giác,
thế giới này là vô thường, cuộc sống này là vui ít
khổ nhiều, con người này là vô ngã. Ðây là ba dấu ấn
để thẩm định lời dạy của Ðức Phật. Một bản kinh,
một bài kệ thiếu những dấu ấn này được xem là không
phải lời Phật thuyết. Những ai chấp nhận rằng thế
giới này là thường còn, cuộc sống này là hạnh phúc, con
người này là thật ngã, thì không bao giờ đặt được chân
lên bờ giải thoát. Cho nên, dù kinh điển có nhiều, pháp môn
tu có nhiều, nhưng chỉ có một mục đích duy nhất là đưa
ta đến sự giải thoát tối thượng.
2)- Tính ảnh dụ thực tiễn: Có
lẽ đây là phương thức phổ biến nhất trên đường
hoằng pháp của Ðức Phật. Hầu như các bộ kinh Ðức
Phật thuyết đều ít nhiều mang đặc tính này. Cho đến
ngay cả các tên kinh đều là biểu hiện của tính ảnh
dụ, chẳng hạn như: kinh Ví dụ tấm vải, kinh Mật hoàn,
kinh Gò mối, kinh Ví dụ cái cưa, kinh Dụ dấu chân voi, kinh
Ví dụ lõi cây... Những bộ kinh này, Ngài đưa ra những
ảnh dụ thực tiễn, cụ thể để làm sáng tỏ lời dạy
của Ngài. Chẳng hạn như kinh Ví dụ con rắn số 22 trong
Trung Bộ I, Ngài dạy các dục ví như đầu rắn; người
học giáo lý áp dụng cho việc tu hành mà không nắm được
những pháp môn căn bản, cũng như bắt rắn mà không biết
cách bắt sẽ bị rắn cắn.
3- Tính bất biến - tùy duyên: Tính
bất biến - tùy duyên dạy ta có thể uyển chuyển trong
mọi tình huống để làm việc đạo, nhưng không đánh mất
tính chất thật của mình. Nhờ phương thức này mà giáo lý
của Ðức Phật dễ dàng có mặt ở mọi nơi, mọi chốn,
mọi hoàn cảnh, đi đến đâu cũng dễ thích nghi, phù hợp
với nơi đó. Ðức Phật, với tinh thần này, rất linh
hoạt trong mọi hoàn cảnh để thực hiện việc truyền bá
chánh pháp. Nhờ vào tinh thần này mà Phật giáo mang nhiều
màu, nhiều vẻ nhưng không đánh mất chất Phật - bản
thể của đạo. Phật giáo Việt Nam không giống Phật giáo
Nhật Bản, Phật giáo Trung Hoa không giống Phật giáo Thái
Lan (tùy duyên), nhưng tất cả các hình thức Phật giáo đều
thể hiện tinh thần từ bi, bình đẳng, giải thoát của Ðức
Thích Ca (bất biến).
4- Tính khế lý - khế cơ: Ðây là
một trong những yếu tố quan trọng mà Ðức Phật thường
ứng dụng trong việc hoằng pháp độ sinh. Tính khế lý
dạy ta phải nắm vững chân lý, quy luật vận hành của
thế giới nhân sinh. Tính khế cơ dạy ta phải biết áp
dụng chân lý sống đúng thời, đúng lúc, đúng đối tượng;
đặc biệt hiểu được căn cơ, trình độ và tư tưởng
của đối tượng để theo đó sử dụng những "khế cơ"
thích hợp áp dụng cho đối tượng. Tính khế lý - khế cơ
khi mới khảo sát, nó gần giống với tính bất biến - tùy
duyên, nhưng nghiên cứu kỹ thì hai phương thức này khác
nhau. Tính tùy duyên - bất biến dùng để áp dụng cho bối
cảnh không gian - thời gian; trong khi đó, tính khế lý -
khế cơ dùng ứng dụng cho đối tượng là con người. Cùng
là giáo lý vô thường (bất biến), nhưng có lúc Ðức
Phật xem nó như một dòng chảy, có khi Ngài nhìn nó như
sự bốc cháy (tùy duyên). Vô thường là chân lý tồn tại
khách quan trong cuộc sống (khế lý). Ðức Phật xét thấy căn
cơ, trình độ của ba anh em ông Uruvela Kassapa (Ưu Lâu Tần
Loa ca Diếp) - những Bà La Môn thờ lửa - có thể thích
hợp với giáo lý này, Ngài đã thuyết giảng cho họ một bài
pháp rất vô thường, rất tâm lý (khế cơ): tất cả đều
đang bốc cháy, đang thiêu hủy. Sau bài pháp này, ba anh em
Kassapa và 1.000 đệ tử của họ đều quy y Phật. Như vậy,
áp dụng tính khế lý - khế cơ đòi hỏi hành giả phải có
tuệ nhãn sâu sắc hơn để tùy đối tượng trí, ngu mà
ứng dụng giáo lý cao thấp để hóa độ.
C- Kết luận
Ðức Phật, một con người hùng vĩ xuất
hiện trong thế giới thường nhân, với trí tuệ siêu xuất
thể hiện qua ngôn ngữ, văn tự thường tình đã gây âm
vang chấn động trong lịch sử tôn giáo và triết học.
Gần ba thiên niên kỷ trôi qua, tiến trình phát
triển của con người đã bao lần thay da đổi thịt, vô
số bài diễn văn được chép vào trang đại sử; trong đó,
cuộc đời hoằng pháp của Ðức Phật là bức thông điệp
muôn thuở cho con người khảo nghiệm, nghiên cứu, thực hành.
Ðức Phật chỉ là một con người, nhưng là con người
kết tinh của vô vàn tinh hoa tuyệt mỹ của nhân loại. Vì
thế, đứng ở góc độ nào, người ta vẫn thấy được
hiện thân của Ngài. Ðó là hiện thân của chân lý, của
trí tuệ và từ bi. Thật vậy, không phải thấy được xác
thân bốn đại của hơn 2.000 năm trước mới gọi là thấy
Phật. Ngài dạy, những ai thấy được lý Duyên khởi -
luật vận hành của nhân sinh-vũ trụ, người ấy thấy được
pháp; những ai thấy được pháp, người ấy thấy được
Như Lai (Trung Bộ I, kinh số 28).
Vâng, tất cả nhân loại đang tìm về chân lý,
hướng về chân lý, đang mơ ước được diện kiến Như
Lai./.
* Chú thích:
(1) Assatha: Tên
khoa học là Ficus religiosa; sau khi Ngài thành đạo, người
ta gọi nó là cây boddhi - bồ đề.
[^]
Bài trước
| Mục lục |
Bài kế
-oOo-
| Toàn
bộ | | Tập Một
| | Tập Hai |
|Tập Ba|
--- o0o ---
Trình bày : Nhị
Tường
Chân thành cảm ơn Đạo hữu Bình Anson đã gởi tặng
phiên bản điện tử tập sách này
( Trang nhà Quảng Đức, 01/2002)
--- o0o ---
| Thư
Mục Tác Giả |