Quy Y Tam Bảo
Bình Anson
Là Phật tử, chúng
ta tìm về nơi nương tựa cao quý nhất trên thế gian là Tam Bảo: Phật Bảo,
Pháp Bảo và Tăng Bảo.
Ðức Phật tìm ra
Con Ðường Giải Thoát, vượt thoát ra khỏi mọi hình thức khổ não của kiếp
sống triền miên luân hồi trong sinh tử. Với lòng từ bi vô lượng, Ngài đã
chỉ dạy rõ ràng cho chúng sinh về Con Đường đó. Pháp Bảo là Con Ðường, là
những lời dạy quý báu của Ngài. Tăng Bảo là những vị đã có niềm tin nơi
Ðức Phật, lắng nghe và thông hiểu lời dạy, nỗ lực hành trình theo Con
Ðường và chứng đắc các Ðạo Quả cao thượng.
1) Quy Y Phật
Người Phật tử hằng
ngày đọc tụng, suy gẫm, xưng tán mười hồng danh của Ðức Thế Tôn là:
Ðấng Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô
Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn.
- Ðấng Ứng Cúng
(Araham), còn phiên âm là A-la-hán, vì Ngài có phẩm hạnh hoàn toàn
trong sạch, đã tận diệt ô nhiễm, xa lìa những bợn nhơ ngủ ngầm trong tâm.
Ngài đã phá tan và thoát ra khỏi vòng luân hồi, chấm dứt chuỗi dài sinh tử
triền miên và không còn tái sinh trong cõi Ta-bà nầy nữa. Ngài là bậc chí
tôn chí thánh, xứng đáng để chư Thiên và nhân loại lễ bái cúng dường.
- Ðấng Chánh
Biến Tri (Sammāsambuddho), vì Ngài thông suốt các pháp một cách
chân chánh và tự mình chứng ngộ, không thầy chỉ dạy. Nơi đây, "không thầy
chỉ dạy" có nghĩa là không có vị thầy nào chỉ dạy cho Ngài phương pháp tu
học để chứng đắc Ðạo Quả Chánh Ðẳng Chánh Giác. Trước kia, Ngài có học với
những vị thầy như Ālāra Kālāma, Uddaka Rāmaputta để hiểu biết thế gian
pháp, nhưng để tiến đến tầng siêu thế thì chính Ngài phải tự mình quán
nhìn vào trong, tìm chân lý bên trong. Đắc tuệ giải thoát, Ngài chứng ngộ
Chân Lý tối hậu, chưa từng được biết.
- Ðấng Minh
Hạnh Túc (Vijjācaranasampanno), vì Ngài có đầy đủ minh trí và
giới hạnh, trí tuệ viên thông, vừa sâu sắc vừa mênh mông bao quát, đức
hạnh thanh cao siêu xuất.
- Ðấng Thiện
Thệ (Sugato) là người đi chân chánh. Ngài đi chân chánh vì đi
trên Con Ðường Cao Quý, tức Bát Chánh Ðạo. Ngài đi theo phương pháp chân
chánh, vì dứt bỏ mọi luyến ái và hướng đến trạng thái chu toàn. Mục tiêu
cuộc hành trình của Ngài chân chánh vì đó là Niết Bàn. Ngài đi chân chánh
vì đi thẳng đường, không quanh co hay lui tới.
- Ðấng Thế Gian
Giải (Lokavidū), thông suốt cả Tam Giới gồm Dục Giới, Sắc Giới
và Vô Sắc Giới. Ngài đã kinh nghiệm và thông suốt thấu đáo thế gian dưới
tất cả mọi khía cạnh như về bản chất cá nhân, về sự phát sinh, sự chấm dứt
và phương tiện đưa đến chấm dứt thế gian.
- Ðấng Vô
Thượng Sĩ (Anuttaro), không ai sánh bằng, vô song, vô
thượng. Trong toàn thể tam giới, Ðức Phật có nhiều đặc tính cao thượng,
quý trọng hơn tất cả, về giới hạnh, về pháp hành thiền, về trí tuệ, về
giải thoát, về tri kiến giải thoát, không ai hơn hoặc sánh bằng Ngài.
- Ðấng Ðiều Ngự
Trượng Phu (Purisadamma-sārathi), dẫn dắt những người hữu duyên
đáng được giáo hóa. Ngài rèn luyện, un đúc, khép vào khuôn khổ giới luật
những chúng sinh cần được huấn luyện và đưa những chúng sinh ấy đến giới
đức trong sạch, trí tuệ tuyệt hảo.
Xin lưu ý ở đây là
có sách ghi chung Vô Thượng Sĩ và Điều Ngự Trượng Phu thành một danh hiệu.
- Ðấng Thiên
Nhân Sư (Satthā Devāmanussānam), bậc thầy của chư Thiên và nhân
loại, vì Ngài dạy các pháp có lợi ích trong hiện tiền, tại nơi đây, có lợi
ích trong những kiếp sống vị lai và các pháp dẫn đến mục tiêu tối hậu là
Niết Bàn.
- Ðấng Giác Ngộ
(Buddho). Từ giấc mơ vô minh, Ngài đã thức tỉnh, chứng ngộ Ðạo
Quả Vô Thượng dưới cội bồ đề. Ðây là kết quả của công phu tích cực tu tập
thực hành tròn đủ ba mươi pháp Ba La Mật qua nhiều đời, nhiều kiếp. Trong
đời sống cuối cùng, sau cuộc chiến đấu kỳ diệu phi thường kéo dài sáu năm
đăng đẳng, không có sự hỗ trợ từ bên ngoài và không được sự hướng dẫn của
một năng lực siêu phàm nào, cô độc một mình, Bồ Tát Gotama (Cồ Ðàm), lúc
ấy ba mươi lăm tuổi, tận diệt mọi ô nhiễm ngủ ngầm từ vô lượng tiền kiếp,
chấm dứt mọi tiến trình tham ái, và chứng ngộ thực tướng của vạn pháp, trở
thành một vị Phật, bậc Toàn Giác.
- Ðức Thế Tôn
(Bhagavā), một danh từ diễn đạt lòng tôn sùng kính mộ. Ðây là
một hồng danh đặc biệt mà Ngài thành đạt do sự liễu ngộ vô thượng, Chánh
Ðẳng Chánh Giác, cùng với tri kiến toàn hảo.
Khi thấu hiểu
những đức hạnh, trí tuệ, công đức và lòng từ bi vô lượng của Ðức Phật.
chúng ta cảm thấy cần phải tỏ lòng kính mộ đến một lý tưởng trong sạch.
Trong tâm ta tràn ngập những tư tưởng tri ân, kính mộ, tôn sùng, quý mến.
Khi thành kính chiêm bái kim thân Ngài, ta tìm thấy một nguồn năng lực dồi
dào, thúc giục xây dựng trong tâm mình một nơi tôn thờ trang nghiêm, rồi
cố dọn lòng trong sạch để xứng đáng đón rước hình ảnh của Ngài, tôn trí
hình ảnh ấy vào đền thờ nội tâm với đầy sự kính mến tiềm tàng trong lòng.
Trước bàn thờ ấy, ta nguyện hàng ngày dâng lên Ðức Phật những lễ vật -
không phải những ngọn nến phải tiêu mòn hay những đóa hoa phải tàn héo -
mà kính cẩn dâng lên Ngài những hành động từ ái, những thái độ hy sinh cao
cả, những công trình phục vụ hoàn toàn vị tha. Ðó là lễ vật mà ta chú
nguyện hằng ngày sẽ dâng đến Ðức Phật.
Ta nhận định chắc
chắn rằng đó hẳn là nơi nương tựa chu toàn nhất cho chúng sinh, và từ đó
phát sinh một niềm tin vững chắc nơi Ðức Bổn Sư ,và từ đáy lòng, ta tự
nguyện:
"Buddham saranam gacchāmi" - Con xin về nương tựa nơi
Ðức Phật.
2) Quy Y Pháp
Ðức Phật là nương
tựa cao quý, nhưng Ngài đã nhập diệt. Trước giờ Ngài nhập Ðại Niết Bàn,
Ðức Ānanda (A Nan) bạch hỏi: "Sau khi Ngài nhập diệt, ai sẽ thay
thế Ngài để lãnh đạo Giáo Hội?" Ðức Phật dạy:
"Nầy Ānanda, có
thể thầy nghĩ rằng Giáo Huấn Tối Cao sẽ không còn ai giảng dạy, quý thầy
sẽ không còn Ðạo Sư dẫn dắt. Này Ānanda, thầy không nên nghĩ như thế. Giáo
Pháp và Giới Luật đã được Như Lai truyền dạy rõ ràng và quảng bá rộng rãi.
Nầy Ānanda, khi Như Lai nhập diệt, Giáo Pháp và Giới Luật (Dhamma-Vinaya)
ấy sẽ là Đạo Sư của quý vị." (Ðại Kinh Bát
Niết Bàn, Trường Bộ)
Đây là một lời dạy
rất rõ ràng. Từ ngày ấy, hơn hai ngàn năm trăm năm đã trôi qua, giáo lý
vàng ngọc mà trong suốt 45 năm Ðức Thế Tôn đã dày công giảng dạy bằng
nhiều phương cách khác nhau, vẫn được lưu truyền trọn vẹn. Giáo Pháp, hay
những lời dạy của Ðức Thế Tôn, được gìn giữ đầy đủ trong ba tạng: Luật,
Kinh và Thắng pháp. Ðó là kho tàng Pháp Bảo.
Giáo Pháp này có
đặc tính gìn giữ, bảo vệ, nâng đỡ những chúng sinh thực hành đúng lời dạy,
không để rơi vào khổ cảnh. Giáo Pháp đem ánh sáng đến người tối tăm mê
muội, giúp phân biệt điều phải lẽ quấy, đường chánh nẻo tà. Giáo Pháp chỉ
rõ định luật "nghiệp báo - tái sinh" để giúp chúng sinh dựa theo đó sửa
mình, dọn đường tiến đến những cảnh giới nhàn lạc, hạnh phúc. Hơn nữa, nếu
thực hành đúng mức, Giáo Pháp có thể đưa thoát ra khỏi mọi hình thức khổ
đau của vòng luân hồi, đến trạng thái tịch tịnh trường cửu. Ðó là nơi
nương tựa chu toàn.
Câu kinh để tán
dương Ân Ðức Pháp Bảo mà người Phật tử đọc tụng mỗi ngày có ý nghĩa
như sau: "Giáo Pháp do Đức Thế Tôn thuyết giảng toàn hảo, thiết thực
hiện tại, trổ quả tức thời, mời đến để thấy, có khả năng hướng thượng,
được bậc thiện trí tự mình chứng biết".
- Giáo Pháp Do
Ðức Thế Tôn Thuyết Giảng Toàn Hảo (Svākkhāto bhagavatā dhammo).
Toàn thể Giáo Pháp được Ðức Thế Tôn truyền dạy một cách toàn hảo bởi vì
toàn hảo ở đoạn đầu, toàn hảo ở đoạn giữa và toàn hảo ở đoạn cuối. Và bởi
vì Giáo Pháp mở đường đưa đến đời sống trong sạch toàn hảo.
Hiểu theo một cách
khác, toàn thể Giáo Pháp hoàn toàn tốt đẹp ở đoạn đầu là "Giới", vì giới
đem lại trạng thái an lành, hoàn toàn tốt đẹp, hoàn toàn tốt đẹp ở đoạn
giữa là "Ðịnh" (tức thiền an chỉ và thiền minh quán) vì định đem lại tình
trạng an lạc tự tại và trí tuệ minh sát, và hoàn toàn tốt đẹp tốt đẹp ở
đoạn cuối là Ðạo Quả và Niết Bàn.
Thêm vào đó, Tam
Tạng Pháp Bảo, từ tạng Luật đến tạng Kinh và tạng Thắng pháp, nếu phân
tích từng phần, đoạn nào cũng toàn hảo vì đoạn nào cũng nhằm đưa đến giải
thoát.
- Thiết Thực
Hiện Tại (Sanditthiko), có nghĩa là khi đã thực hành đầy đủ,
hành giả thấy được kết quả rõ ràng, hiển nhiên, ngay trong hiện tại. Khi
vị ấy hoàn tất cuộc hành trình trên Con Ðường, đương nhiên hành giả đến
nơi tuyệt đối an lành. Và trạng thái tuyệt đối an lành nầy chính hành giả
tự tạo cho mình (tự mình chứng ngộ) không phải có ai ban bố.
Sở dĩ phàm nhân
chúng ta còn đau khổ là vì chúng ta còn chứa chấp trong tâm nhiều bợn nhơ
như tham, sân, si, ganh tỵ, ngã mạn, tà kiến, và vì chúng ta bị màn vô
minh che lấp nên không thấy được sự thật. Chúng ta thấy giả tưởng thực,
thấy vô thường biến đổi ngỡ là thường còn, thấy đau khổ tưởng hạnh phúc,
và chạy theo cố rượt bắt cho được cái huyền ảo, không thực có. Kết quả
hiển nhiên phải là thất bại và từ đó sinh ra bất mãn, bất toại nguyện, đau
khổ. Bậc Thánh Nhân đã thanh lọc mọi bợn nhơ - thô kịch và vi tế - đã khai
triển trí tuệ minh sát. Lúc ấy, không cần có ai ban thưởng, hoát nhiên vị
ấy thấy rõ, trực nhận thực tướng của vạn pháp, chứng ngộ Ðạo Quả.
- Trổ Quả Tức
Thời (Akāliko),
không đợi thì giờ, có nghĩa là khi đắc Ðạo rồi thì Quả tức khắc trổ liền
sau đó. Hạng phàm nhân, khi có hành động thiện hay bất thiện thì hành động
nầy là nhân. Nhân đã gieo, quả sẽ trổ, sớm hay muộn, trong kiếp hiện tiền
hay trong một kiếp nào ở thời vị lai. Ðó là quả tại thế (vipāka).
Còn Quả ở đây thuộc về siêu thế pháp, Quả (phala) của Ðạo
(magga). Ðạo là chặp tâm của hành giả lúc bước vào dòng giải thoát.
Khi Ðạo phát sinh vừa chấm dứt thì tức khắc liền sau đó Quả phát sinh. Vì
lẽ ấy, một trong các đặc tính của Giáo Pháp là khi đến mức Ðạo rồi Quả
liền trổ sinh, không đợi thì giờ (akāliko).
- Mời Ðến Để
Thấy (Ehipassiko),
có nghĩa là xứng đáng để mời người khác đến xem. Tại sao? Vì bên
trong Giáo Pháp có chứa đựng nội dung phong phú, và vì Giáo Pháp đưa đến
lối sống tinh khiết trong sạch. Nếu người kia không có gì trong tay, hay
trong tay có nắm những vật bẩn thỉu ắt không nói rằng trong tay mình có
vòng vàng châu báu và sẽ không mời ai đến xem. Nơi đây, trong Giáo Pháp
nầy, chắc chắn và rõ ràng có chín pháp siêu thế (bốn Ðạo, bốn Quả, và Niết
Bàn) và có đời sống tuyệt đối trong sạch, vì lẽ ấy xứng đáng mời đến để
xem, để quan sát.
- Có Khả Năng
Hướng Thượng (Opanayiko),
đây là Pháp dẫn dắt chúng sinh, đưa đến giải thoát tối thượng là Niết Bàn.
- Được Bậc
Thiện Trí Tự Mình Chứng Biết (Paccattam veditabbo
viññūhī’ti). Trên con đường dẫn đến Niết Bàn chỉ có bậc thiện trí mới
có thể thấu đạt Giáo Pháp, hạng cuồng si không thể được. Nên ghi nhận rằng
nơi đây, "thấu đạt" Giáo Pháp có nghĩa là chứng ngộ, thấu hiểu bằng trí
tuệ minh sát chớ không phải hiểu biết ở tầng lớp trí thức, lý luận sách
vở. Và mỗi cá nhân chỉ có thể tự mình chứng ngộ.
Trên đây là những
ân đức (guna) của Pháp Bảo. Người nào đã thấu hiểu những đặc tính
và thấm nhuần ý nghĩa của Pháp Bảo thì càng ngày càng cảm thấy quý mến,
kính mộ, tôn sùng những lời vàng ngọc ấy. Niềm tin của người ấy ngày càng
vững chắc. Từ lý trí đến cảm tính, người ấy vững lòng đặt trọn cuộc sống
của mình dưới sự hướng dẫn và bảo bọc của Giáo Pháp. Từ tận đáy lòng,
người ấy thành tâm tự nguyện:
"Dhammam saranam gacchāmi"- Con xin về nương tựa nơi
Giáo Pháp.
3) Quy Y Tăng Bảo
Giữa khu rừng rậm
mênh mông của những kiếp sinh tồn trong vòng luân hồi, giữa cảnh đôn đáo
chạy tới chạy lui để tìm con đường thoát ra khỏi những hiểm họa rùng rợn
của khu rừng ấy, Ðức Phật đã gia công trong nhiều kiếp sống để thực chứng
Con Ðường Giải Thoát. Trong kiếp cuối cùng, khi đã đến mức tận cùng của
Con Ðường, chứng ngộ Ðạo Quả Vô Thượng, Chánh Ðẳng Chánh Giác, Chánh Biến
Tri, Ngài không quản ngại công lao, đi từ làng nầy đến làng khác, từ tỉnh
nọ đến tỉnh kia, đi trên những lộ lớn và các nẻo nhỏ, cùng khắp miền Bắc
xứ Ấn Ðộ, để truyền bá bức thông điệp từ bi và trí tuệ, đem sự an lành đến
toàn thể chúng sinh. Trong những năm đầu tiên sau khi Thành Ðạo, Ngài gửi
sáu mươi vị đệ tử A-la-hán đi hoằng pháp với những lời nhắn nhủ như sau:
"Này các Tỳ
Khưu, quý vị đã thoát khỏi các sự trói buộc thuộc về cõi trời và
loài người. Này các Tỳ Khưu, hãy cất bước du
hành vì lợi ích của nhiều người, vì an lạc của nhiều người, vì lòng thương
xót thế gian, vì sự tiến hóa, sự lợi ích, sự an vui của chư thiên và nhân
loại, chớ đi hai người chung một đường. Này các Tỳ Khưu,
hãy thuyết giảng Giáo Pháp toàn hảo ở đoạn đầu, toàn hảo ở đoạn giữa, và
toàn hảo ở đoạn kết, có ý nghĩa, có văn tự. Hãy quảng bá
đời sống thiêng liêng cao thượng, toàn thiện và thanh
tịnh.
"Có những chúng sinh ít bị ô
nhiễm, do không nghe Giáo Pháp họ sẽ bị thoái hóa; nhưng nếu hiểu được
Giáo Pháp, họ sẽ thăng tiến" (Mahāvagga, Đại Phẩm).
Như vậy, chức vụ
căn bản của chư vị A-la-hán, những bậc Thánh đã thành tựu mục tiêu giải
thoát, là nâng đỡ đời sống đạo đức của người khác bằng cách nêu gương lành
trong sạch và truyền dạy Giáo Pháp.
Ðức Bổn Sư là
người khám phá ra và soi sáng Con Ðường. Giáo Pháp, những lời dạy của
Ngài, là Con Ðường. Con Ðường vẫn còn đó, nhưng nếu không có người đi, lâu
ngày chồi cây sẽ mọc lên trở lại và sẽ lấp mất. Lại nữa, tuy có Con Ðường
nhưng nếu không ai chỉ dẫn, ắt ta sẽ lạc nẻo. Chư Tăng là những vị đã noi
theo bước chân của Ðức Bổn Sư đi trên Con Ðường và, đúng theo tôn chỉ "tự
giác giác tha"của Phật Giáo, các Ngài sẵn sàng và hoan hỷ dẫn dắt những ai
vui lòng bước theo chân mình.
Câu kinh đọc tụng
để tán dương ân đức Tăng Bảo có ý nghĩa như sau:
"Chúng Tăng đệ
tử Thanh văn của Đức Thế Tôn là bậc Thiện hạnh; chúng Tăng đệ tử Thanh văn
của Đức Thế Tôn là bậc Trực hạnh; chúng Tăng đệ tử Thanh văn của Đức Thế
Tôn là bậc Như lý hạnh; chúng Tăng đệ tử Thanh văn của Đức Thế Tôn là bậc
Chân chánh hạnh. Chúng Tăng đệ tử Thanh văn của Đức Thế Tôn nếu tính đôi
thì có bốn, nếu tính riêng rẽ thì có tám. Chúng Tăng đệ tử Thanh văn của
Đức Thế Tôn đáng được thọ lãnh lễ vật, đáng được nghênh tiếp, đáng được
cúng dường, đáng được chấp tay chào, đáng là phước điền vô thượng ở trên
đời."
- Chúng Tăng Đệ
Tử Thanh Văn Của Đức Thế Tôn Là Bậc Thiện Hạnh
(Supatipanno bhagavato sāvakasangho).
Các vị nầy có phẩm hạnh toàn hảo hay thiện hạnh (supatipanno), vì
các ngài đi vào con đường chân chánh, con đường thẳng tiến không trở đi
trở lại, con đường thích ứng với Chân Lý, con đường hợp với Giáo Pháp mà
Ðức Thế Tôn đã giảng giải một cách toàn hảo.
- Chúng Tăng Đệ
Tử Thanh Văn Của Đức Thế Tôn Là Bậc Trực Hạnh (Ujupatipanno
bhavagato sāvakasangho) vì Ngài đi vào con đường ngay thẳng không
quanh co, không xiêng vẹo, con đường chánh đáng, đúng thật là con đường.
Con đường của các
Ngài là ngay thẳng vì đi ở khoảng giữa (trung đạo), lánh xa hai cực đoan
lợi dưỡng và khổ hạnh, lánh xa những quanh co xiêng vẹo của thân, khẩu, ý.
Con đường ấy là chánh đáng vì là con đường của chư vị A-la-hán. Ðó đúng
thật là Con Ðường vì dẫn ngay đến giải thoát, Niết Bàn.
- Chúng Tăng Đệ
Tử Thanh Văn Của Đức Thế Tôn Là Bậc Như Lý Hạnh (Ñāyapatipanno
bhagavato sāvakasangho) vì các Ngài tận lực đi suốt ba giai đoạn Giới,
Ðịnh, Tuệ của Con Ðường.
- Chúng Tăng Đệ
Tử Thanh Văn Của Đức Thế Tôn Là Bậc Chân Chánh Hạnh
(Sāmīcipatipanno bhagavato sāvakasangho)
vì các Ngài chuyên cần tiến bước trên
con đường dẫn thoát ra khỏi mọi hình thức đau khổ.
- Chúng Tăng Đệ
Tử Thanh Văn Của Đức Thế Tôn Nếu Tính Ðôi Thì Có Bốn Và Nếu Tính Riêng Rẽ
Thì Có Tám (Yadidam cattāri purisayugāni
atthapurisa-puggalā esa bhagavato sāvakasangho).
Có bốn Ðạo: Dự Lưu Ðạo, Nhất Lai Ðạo, Bất Lai Ðạo và
A-la-hán Ðạo, và có bốn Quả là Dự Lưu Quả, Nhất Lai Quả, Bất Lai Quả và
A-la-hán Quả. Nếu tính đôi theo Ðạo và Quả thì có bốn đôi. Nếu tính riêng
rẽ thì có tám bậc hay còn gọi là tám chúng.
- Xứng Ðáng
Được Thọ Lãnh Lễ Vật (Āhuneyyo).
Những lễ vật được đề cập đến ở đây là bốn vật dụng
cần thiết trong đời sống, tức: vật thực, y phục, thuốc men, và chỗ ở. Chư
Tăng là những vị giới đức trong sạch, xứng đáng thọ lãnh các lễ vật mà
người dâng có thể đi từ phương xa đến, hoặc đã dày công tạo nên, và dâng
cúng một cách thành kính.
- Xứng Ðáng
Được Nghênh Tiếp (Pāhuneyyo).
Sự tiếp đãi nồng hậu mà người thí chủ thường dành để
đón mừng những khách quý hay thân bằng quyến thuộc từ những nơi xa
xôi đến, chư Tăng là những vị xứng đáng thọ lãnh sự tiếp đón nồng hậu ấy.
- Xứng Ðáng
Được Cúng Dường (Dakkhineyyo)
trong ý nghĩa là các Ngài giúp cho các lễ vật cúng dường ấy trở nên trong
sạch và có khả năng tạo nhiều quả phúc.
- Xứng Ðáng
Được Chấp Tay Chào (Añjalikaranīyo)
vì các Ngài có nhiều đức hạnh thanh cao trong sạch.
- Xứng Ðáng Là
Phước Ðiền Vô Thượng Ở Trên Đời (Anuttaram puññakkhettam lokasā’ti)
trong ý nghĩa các Ngài là ruộng đất vô thượng để mọi người gieo nhân phước
báu.
Tăng Bảo chắc chắn
là nơi nương tựa chu toàn. Khi hiểu rõ như vậy, chúng ta đặt trọn niềm tin
và hướng về ngôi Tăng Bảo và tự nguyện quy y:
Sangham saranam gacchāmi - Con xin về nương tựa nơi
Tăng Đoàn.
*
Ba câu nguyện quy
y Tam Bảo bắt nguồn từ thời Đức Phật còn tại thế, và thường được các vị cư
sĩ ngoại đạo thốt ra sau khi được Ngài giảng dạy, xin trở thành Phật tử,
và tự nguyện hành trì theo Con Đường mà Ngài hoằng truyền. Ba câu nguyện
nầy thường được ghi ở đoạn cuối của nhiều bài giảng trong Kinh Tạng, và
tóm tắt lại trong tập Tiểu Tụng thuộc Tiểu Bộ:
Buddham saranam gacchāmi
Dhammam saranam gacchāmi
Sangham saranam gacchāmi
Dutiyampi Buddham saranam gacchāmi
Dutiyampi Dhammam saranam gacchāmi
Dutiyampi Sangham saranam gacchāmi
Tatiyampi Buddham saranam gacchāmi
Tatiyampi Dhammam saranam gacchāmi
Tatiyampi Sangham saranam gacchāmi
Có nghĩa là:
Con xin về nương tựa nơi Ðức Phật
Con xin về nương tựa nơi Giáo Pháp
Con xin về nương tựa nơi Tăng Đoàn
Lần thứ hai, con xin về nương tựa nơi Ðức Phật
Lần thứ hai, con xin về nương tựa nơi Giáo Pháp
Lần thứ hai, con xin về nương tựa nơi Tăng Đoàn
Lần thứ ba, con xin về nương tựa nơi Ðức Phật.
Lần thứ ba, con xin về nương tựa nơi Giáo Pháp
Lần thứ ba, con xin về nương tựa nơi Tăng Đoàn
Về sau nầy, trong
truyền thống Phật giáo Bắc Tông, ba câu nguyện Tam Quy nêu trên đã được
sửa đổi, chứa thêm các ý nghĩa khác. Tuy nhiên, hàng Phật tử trong truyền
thống Phật giáo Nam Tông vẫn tôn trọng, gìn giữ và tụng đọc nguyên vẹn ba
câu nguyện đó, bằng tiếng Pāli nguyên thủy và có thể tiếp theo là lời dịch
bằng ngôn ngữ địa phương. Lời nguyện này thường được tụng đọc thường
xuyên, hằng ngày, tại nhà riêng, cũng như tại chùa, và trong các buổi lễ
sinh hoạt Phật Giáo.
Đôi khi, một người
mới vào đạo thường tham dự lễ Quy Y với một vị tu sĩ có uy tín, và xin vị
ấy đặt cho một pháp danh. Đây là điều tốt, có tác động tâm lý lâu dài,
giúp tăng trưởng niềm tín thành nơi người Phật tử. Tuy nhiên, đó chỉ là
một ước lệ, bắt đầu được quảng bá trong các thập niên cuối thế kỷ 20 trong
một vài cộng đồng Phật Giáo, không phải là một điều bắt buộc cần thiết và
cũng không hoàn toàn phổ thông trong các cộng đồng Phật Giáo khác. Điều
quan trọng cần ghi nhớ ở đây là tinh thần tự nguyện của mỗi cá nhân trong
quyết định nhận Tam Bảo làm nơi nương tựa tâm linh, mà trong đó, Tăng Bảo
là đoàn thể các vị Thánh, những vị đã nhập dòng giải thoát (bốn đôi, tám
chúng), hàng xuất gia lẫn tại gia. Vai trò của vị tu sĩ trong buổi lễ Quy
Y chỉ là để chứng minh lòng thành tâm tự nguyện xin nương tựa nơi Tam Bảo
của người Phật tử.
*
Khi
tự nguyện bước theo dấu chân Ðức Phật, hành theo những lời dạy của Ngài và
đặt mình dưới sự dẫn dắt của chư Thánh Tăng, người Phật tử không làm nô lệ
cho một quyển sách hay một cá nhân, mà hoàn toàn tự do thực hiện ý chí mở
mang kiến thức và khai triển trí tuệ. Người Phật tử không tin rằng chỉ quy
y Tam Bảo suông mà mình có thể trở nên trong sạch, bởi vì Ðức Phật dạy
rằng:
"Tự mình làm điều ác,
Tự mình làm nhiễm ô,
Tự mình không làm ác,
Tự mình làm thanh tịnh.
Tịnh, không tịnh tự mình,
Không ai thanh tịnh ai." (Pháp Cú, câu 165)
Ðức Phật là vị Tôn
Sư có tâm từ vô lượng, tâm bi vô biên, nhưng Ngài chỉ có thể tế độ chúng
ta bằng cách khám phá và soi sáng Con Đường. Chính ta phải tự đặt chân lên
con đường và tiến bước, chính ta phải lãnh lấy trách nhiệm thanh lọc thân
tâm của mình. Dù là một vị Phật đại từ đại bi có rất nhiều quyền năng,
Ngài không thể rửa gội bợn nhơ của ai chỉ vì người nầy có đức tin nơi Ngài
và van vái nguyện cầu. Ðức Phật dạy: "Quý vị phải cố gắng, chư Phật chỉ
là những vị Thầy chỉ đường."
Ðức Phật là tinh
hoa của nhân loại. Chúng ta là những người tình nguyện bước theo dấu chân
Ngài. Trước kim thân Phật chúng ta kính cẩn đảnh lễ. Ðó là hình thức tôn
kính của người Phật tử. Ðó không phải là "đức tin mù quáng" mà người đời
thường hiểu, không phải chỉ là nhắm mắt tin suông, không căn cứ trên suy
luận, trên thực tế của đời sống. Niềm tin nơi Tam Bảo, saddhā, trái
lại, là Tình Thương, là Tín Nhiệm, là lòng thành kính phát sinh từ tâm trí
xuyên qua sự hiểu biết, khi ta nhận thức được giá trị của đức hạnh tự chế
ngự, tự kiểm soát, của lòng hy sinh cao cả, khi ta cảm nhận được tâm Từ,
tâm Bi mà Ðức Phật ban rải cho tất cả chúng ta, và khi ta nhận thức được
chân giá trị của phần di sản quý báu mà Ðức Phật để lại cho chúng ta, một
bảo vật vô giá, Giáo Pháp của Ngài.
Có người xem Phật
Giáo là một hệ thống triết học. Ðối với người khác, đó là một hệ thống
luân lý. Cũng có người chủ trương rằng Phật Giáo là một tôn giáo. Dù nhãn
hiệu nào mà người ta có thể gắn vào hệ thống giáo lý do Ðức Phật truyền
giảng, Phật Giáo là một "lối sống" bao hàm trọn vẹn các lãnh vực tôn giáo,
luân lý và triết học, một "lối sống" có khả năng thanh lọc tâm và phát
triển trí đến trạng thái cao thượng nhất mà con người có thể tiến đạt đến.
Ðây không phải là giáo lý để làm đề tài tranh luận, cũng không phải một
học thuyết để nghiên cứu học hỏi suông nhằm thỏa mãn trí thức. Chính Ðức
Phật gọi giáo lý nầy là "Dhamma Vinaya", Giáo Pháp-Giới Luật, và
Ngài luôn luôn nhấn mạnh đến sắc thái thực dụng của giáo pháp đó.
Perth, Tây Úc,
Tháng 4-2005
---o0o---
Nguồn:
www.buddhanet.net/budsas
Trình bày: Nhị Tường
Cập nhật: 01-06-2005