
Thiền
Quán, Con Đường Hạnh Phúc
Nguyễn Duy Nhiên
It's Easier Than You Think
Sylvia Boorstein
---o0o---
Mục Lục
Giới thiệu
Thiền
Quán, Con Ðường Hạnh Phúc (It's Easier Than You Think) là một
quyển sách vui tươi và rất dễ đọc. Tác giả trình
bày giáo lý của đức Phật và phương
pháp tu tập, bằng các mẩu chuyện về những kinh nghiệm trong cuộc sống hằng
ngày của chúng ta. Bà Sylvia Boorstein là một nhà tâm lý trị liệu
(psychotherapist) và cũng là một giáo thọ nổi tiếng trong cộng
đồng tu học của người Tây Phương. Trong quyển
sách này, tác giả trình bày tuệ giác của Tứ Diệu Ðế, Bát Chánh Ðạo,
Ngũ Trần Cái... một cách rất cụ thể và dễ hiểu. Tác giả hướng dẫn ta bước
từng bước một đi theo con đường của Phật, con
đường của Thiền Quán, Chánh Niệm. Con đường hạnh phúc ấy, nó dễ dàng
hơn là bạn nghĩ. Giữa những bận rộn, chật vật hằng ngày, chúng ta thường
dễ đánh mất mình trong những nỗi lo
lắng, buồn phiền. Chúng ta quên rằng ta có khả năng
sống hạnh phúc giữa sóng gió của cuộc đời. Quyển sách này có thể
được xem như một người bạn thân trong cuộc
đời, hãy mở ra và đọc, bạn sẽ thấy con
đường hạnh phúc, thảnh thơi bao giờ cũng vẫn nằm trước mặt bạn. Con đường
hạnh phúc ấy có mặt khắp mọi nơi trong cuộc sống, ngay cả bây giờ và
ở đây.
Phần 1. Dễ Hơn Là Bạn Nghĩ
Tu Tập là Bình Thường
Vài năm
trước đây, khi tôi chuẩn bị đi hướng dẫn một khóa tu thiền tại một thành
phố ở xa, một người trong ban tổ chức điện
thoại đến hỏi xem tôi có cần những món ăn gì
đặc biệt không. Tôi cám ơn sự chăm sóc của
anh và giải thích cho anh ta nghe về những sở thích
ăn uống của tôi. Tôi nói rằng tôi thường
không ăn điểm tâm gì nhiều, nhưng thích uống cà phê mỗi buổi sáng.
Anh trả lời, với một giọng rất ngạc nhiên, "Bà uống cà phê?" Tôi
chợt ý thức là tôi mới vừa tự thú lỗi lầm trong sự tu tập của mình với anh
ta. Tôi cần phải suy nghĩ thật nhanh tìm một lối thoát, mà phải cho có tư
cách nữa kìa, làm sao để vẫn giữ được cái uy
tín tâm linh của mình, rằng sự thật là tôi thích uống cà phê.
Tôi nghĩ người ta thường hay có
một số quan niệm hơi cao kỳ về thế nào là một người "biết tu tập." Trong
phòng tôi có treo một tấm hình hí họa, vẽ hai người ngồi
ăn trong một nhà hàng. Một người nói
với người kia, "Tìm gặp được một người mà
không đang đi tìm chân lý, không tu
tập, tôi cảm thấy sung sướng và thoải mái vô cùng!" Tôi
đồng ý! Trong sự tu tập ta thường rất dễ bị
lạc vào vấn đề tự tôn tự đại, dồn hết
công sức của mình vào việc làm sao để
hành xử giống như một "nhà tu".
Một người bạn rất thân của tôi,
trong khi mỗi ngày ông mỗi trở nên một vị thầy dạy thiền có uy tín, ông
lại càng bớt cảm thấy ngại ngùng khi nói cho người khác biết là ông vẫn
còn thích coi chơi đá banh bầu dục (football)
lắm. Ông còn tự thú là đôi khi lại cảm
thấy rất hào hứng về những trận
đá nữa, cổ võ trước máy ti vi như là
đang ở trong sân vận động vậy. Ông không có cái thái độ anh hùng
"Xin cho đội nào giỏi thắng"
đâu! Quen thân với ông, tôi biết ông có một
trình độ hiểu biết rất cao,
và ông vẫn hành xử như một người bình thường trong một thế giới bình
thường. Là một người tu tập và có một tâm tĩnh lặng, không có nghĩa là ta
phải trở nên kỳ quặc.
Tôi nghĩ là tôi
đã chọn tựa cho quyển sách này từ lâu
rồi, trước khi tôi bắt đầu khởi sự viết. Thật
ra, động cơ thúc đẩy tôi viết là vì tôi muốn nói cho mọi người hiểu
rằng, sống một đời sống tu tập không nhất
thiết phải là một vấn đề gì to
tát hết. Đôi khi người ta quyết định thay đổi
lối sống của mình để nuôi dưỡng chánh
niệm, để giúp cho sự tỉnh thức của họ. Có người tham gia vào một tăng
thân hoặc vào một dòng tu. Có người thay
đổi lối ăn uống của họ. Có người chọn một lối
sống độc thân. Tất cả những sự chọn lựa ấy, đối với một số người, là
những phương tiện rất hữu ích cho sự tỉnh thức của họ, nhưng tự chúng
vốn không phải là tâm linh.
Những người khác sẽ chọn những
phương tiện khác. Trong quyển sách này, phương tiện chánh là chánh niệm.
Chánh niệm, một ý thức rõ ràng, một sự quân bình chấp nhận những kinh
nghiệm trong hiện tại, là trái tim của thiền quán trong
đạo Phật. Quyển sách này có mục
đích làm tập sách vỡ lòng căn
bản cho người Phật tử, nhưng bạn đừng nản lòng. Nó dễ hơn là bạn
nghĩ.
Xoay
Xở Khéo Léo
Dưới
đây là một quang cảnh
đã làm gợi cảm hứng cho quyển sách
này:
Tôi tham dự một buổi họp mặt
của những vị giảng sư Phật giáo Hoa Kỳ. Ít nhất mỗi năm
một lần, những vị thầy dạy thiền quán trên toàn nước Mỹ, họ
đều là bạn của tôi, về lại
để gặp nhau, cùng sống chung với nhau
trong đôi ba ngày. Chúng tôi cùng nhau
hoạch định chương trình, và nói về
những gì chúng tôi dạy. Chúng tôi cũng bỏ ra một phần lớn thời giờ
để chia xẻ những kinh nghiệm cá nhân của mình.
"Năm nay anh, chị có gì lạ không?"
"Mọi việc đối với anh, chị như thế nào?"
Chúng tôi đi vòng quanh phòng và mỗi
người chia xẻ những gì đã và
đang xảy ra trong đời sống của họ.
Khi lắng nghe mọi người nói,
tôi cảm nhận được một cái gì rất
đặc biệt. Khi kể lại, họ nói những lời như,
"Tôi rất là mãn nguyện" hoặc "Tôi cũng không có vấn
đề gì" hoặc "Tôi hạnh phúc lắm." Và dù
vậy, chúng tôi chỉ kể lại những câu chuyện, kinh nghiệm rất là bình
thường. Mọi người có một đời sống bình
thường bên cạnh những ông Quýt và bà Xoài bình thường. Có người gặp khó khăn
trong vấn đề tình cảm, có vấn đề với
ba má trong tuổi già. Có một người nào
đó có con bị bệnh nặng, và một người khác phải
đối diện với một sự mất mát rất lớn trong
đời. Và mặc dù vậy, ai cũng nói những lời như "Nói chung thì tôi
cũng có hạnh phúc" hoặc là "Tôi mãn nguyện lắm." Mà việc ấy không có nghĩa
là họ đã không phải vất vả với những
gì xảy đến cho họ. Nó không có nghĩa là
họ đã siêu vượt
được hết những khó khăn, và họ có hạnh
phúc là vì họ không còn cảm thấy đau đớn vì
chúng nữa. Thật ra họ đã vất vả
nhiều lắm, và nhiều khi với đớn đau và
lo lắng, nhưng dù vậy, họ vẫn có hạnh phúc. Tôi tự bảo mình trong khi nhìn
chung quanh, "Việc mà chúng ta làm là tất cả chúng ta
đã biết cách xoay xở khéo léo."
Biết xoay xở cho khéo, việc ấy
cũng không phải là chuyện dễ đâu. Tôi rất hài
lòng khi nghĩ rằng mình biết cách xoay xở trong cuộc sống. So với mười,
hai mươi năm trước thì tôi
đã tiến bộ nhiều lắm. Khi xưa cách
hành xử của tôi bao giờ cũng đầy căng thẳng và
sợ hãi. Chúng ta ai ai cũng phải biết cách xoay xở bằng cách này hoặc cách
khác, bất cứ ai đang sống và
đọc quyển sách này
đều đã từng xoay xở. Xoay xở
một cách khéo léo hoặc là khéo léo phân nửa thôi, cũng là tuyệt diệu lắm
rồi.
Giác Ngộ
Khi tôi mới bắt
đầu tập thiền vào
đầu thập niên bảy mươi, thì chuyện ấy
rất hợp thời trang ở Tây phương. Mọi người ai ai cũng tập thiền. Mỗi cuối
tuần bạn đều có thể đi tham dự một khoá tu
tập về thiền, không dưới hình thức này thì cũng bằng hình thức
khác. Chương trình quảng cáo cho khoá tu tập bao giờ cũng hứa hẹn là sau
mấy ngày bạn sẽ được giác ngộ hoàn
toàn.
Tôi còn nhớ thời gian ấy có lần
đi tham dự một buổi tiệc bình thường,
mọi người cười đùa,
ăn uống, thăm hỏi nhau vui vẻ. Và ngay
giữa buổi tiệc có một bà ngồi yên với một vẻ mặt khác thường, mắt nhắm,
mặt thanh thản, hoàn toàn như không biết gì
đến những gì đang xảy ra chung quanh.
Một người kề sát bên tai tôi thì thầm, "Xem bà ấy kìa, bà
đã giác ngộ rồi
đấy!" Và lúc ấy tôi tự nghĩ, "Nếu giác
ngộ có nghĩa là như vậy, thì chắc tôi không muốn
đâu!"
Cái mà tôi
đã muốn, ít nhất cũng trong một thời
gian, là có được những quyền năng phi thường.
Tôi từng nghe kể truyện về những người có khả năng xuất hiện ở hai chỗ cùng
một lúc hoặc bay bổng trong không khí. Có đôi
khi, trong lúc ngồi thiền, tôi kinh nghiệm một cảm giác khinh khoái rất
đặc biệt trong thân, tôi tưởng tượng rằng có lẽ mình cũng
đang sắp sửa bay bổng đây. Tôi hy vọng tôi sẽ
bay thật. Tôi nghĩ việc ấy sẽ rất là tuyệt, bay cao lên khỏi tọa cụ
của mình, lơ lửng nửa chừng trong không khí.
Tôi nghĩ, có lẽ tôi cũng một
phần bị ảnh hưởng bởi câu chuyện của ông Nội tôi kể về bà Nội - bà mất khi
tôi mới lên chín tuổi. Trong ký ức của tôi bà là một bà cụ nhiều bệnh
hoạn, nhưng đối với ông tôi thì bà lúc
nào cũng là một thiếu nữ xinh đẹp, mà
ông đã xin cưới khi bà mới tuổi
đôi chín. Ông nói bà tôi xinh
đẹp đến độ bà "tỏa sáng trong bóng
tối." Tôi hỏi việc ấy có thật không, ông đáp,
"Thật chứ con!" Rồi ông kể, "Có một lần ở tiệc cưới của đứa cháu trai, hội
trường thời ấy được thắp sáng bằng đèn dầu vì chưa có
điện, cho nên tối om om, vậy mà ai
cũng nhìn bà nội con rồi nói, 'Coi cô ấy kìa, cô ta như là tỏa sáng trong
bóng tối' " Tôi giữ mãi hình ảnh tỏa sáng và kỳ diệu ấy trong ký ức mình
như là một lý tưởng cao đẹp. Trong sự tu tập
thiền quán của tôi, tôi muốn mình cũng sẽ
đạt được một sự tỏa sáng như vậy. Tôi nghĩ
trong những ngày xa xưa ấy, đa số
chúng tôi ai cũng mơ chuyện thần thông hết.
Những vị thầy Phật giáo dạy
thiền cho tôi, vào năm 1977, các ngài
chỉ nói đến vấn đề giác ngộ chứ không hề đề
cập gì đến chuyện thần thông. Các ngài
nói về "nhìn cho sâu sắc" và nó có thể đem
lại cho ta hạnh phúc và chấm dứt được
khổ đau. Và có lẽ đó là phép
thần thông mà tôi mong muốn nhất.
Tỉnh Thức Không Phân Biệt Tôn
Giáo
Mọi tôn giáo mà tôi biết
đều có đề cập đến việc tỉnh thức dậy để thấy
chân lý. Mọi con đường mà tôi biết đều
hứa hẹn sự kinh nghiệm trực tiếp được chân lý sẽ khai phóng chúng ta, đem
lại cho ta hạnh phúc, và thúc đẩy ta
có những hành động từ bi đối với cuộc
đời. Biết được chân lý sẽ đem lại hạnh phúc.
Tu tập chánh niệm (mindfulness)
và tâm từ (metta) không phải là những thử thách có tính cách tôn giáo. Vì
vậy mà chúng có thể là những phương tiện tu tập cho thiền sinh trong mọi
truyền thống. Có ý thức, sáng suốt, từ ái, rộng lượng, và hiểu biết -
những cái ấy đều phải có trên con
đường tu tập của tất cả mọi người.
Trong khóa tu thiền
đầu tiên mà tôi tham dự, tôi chỉ là
phần tử của một đám đông, có lẽ lên
đến trăm người, thực tập thiền quán rất nghiêm
túc tại một tu viện ở Barre, Massachusetts. Khóa tu
được diễn ra trong thinh lặng, cho nên
trừ sự khác biệt về y phục ra, ta không thể biết
được ai là ai hết.
Ngày qua ngày, chúng tôi cùng
sống chung và tu tập với nhau trong thinh lặng. Tôi thấy có những vị sư
nguyên thủy trong chiếc áo cà sa màu cam, những vị theo truyền thống Zen
có y phục riêng của họ, và các vị tăng ni Tây
Tạng. Có những bà quấn những chiếc áo sa-ri màu hồng, mà tôi
đoán có lẽ họ theo Ấn độ giáo. Có vài
người mặc y phục màu đỏ và
đeo tràng hạt, họ là
đồ đệ của một vị đạo sư Hindu nào
đó. Một người đàn ông bận áo tu sĩ của
dòng Franciscan. Tôi thường hay thích đi
ngang cạnh ông, vì sợi chuỗi mân côi dài và chiếc thánh giá
đeo ngang hông chạm nhau tạo thành một
âm thanh dễ chịu theo mỗi bước đi của ông.
Buổi tối thứ sáu, tôi bước vào
phòng ăn và thấy có người nào
đó thắp hai ngọn nến đặt trên một
chiếc bàn nhỏ, đặt trong góc phòng,
giữa một nơi công cộng của mọi người. Cạnh hai ngọn nến là một tấm bảng
ghi, "Đây là ngọn nến của ngày
Sabbath. Xin vui lòng đừng thổi tắt. Chúng sẽ
tự cháy hết, và tôi sẽ thu dọn vào ngày mai sau khi mặt trời lặn."
Tôi nhìn chung quanh và tự
nghĩ, "Tất cả chúng ta đều có mặt nơi đây!
Thực phẩm chay của chúng ta không có một sự phân cách tôn giáo nào,
nên mọi người ai cũng có thể ở đây được.
Chúng ta cùng có một lễ nghi chung là sự thinh lặng, nên mọi người
đều có thể ở đây được. Mỗi người chúng ta,
cho dù đang sống trong một truyền
thống tôn giáo nào, cũng đều đang cố
gắng để tỉnh thức dậy. Tu tập chánh niệm, chúng ta cùng có thể thực
tập chung với nhau."
Bản
đồ được vẽ ra trong quyển sách này
chắc chắn là một bản đồ của Phật giáo. Nhưng
chúng rất là rõ ràng và cụ thể và không hề bị hạn hẹp bởi giáo
điều. Chân lý là chân lý. Tâm ý dính
mắc và khổ đau ở nơi đâu cũng vậy, và
lòng mong cầu hạnh phúc và chấm dứt khổ đau,
thì cũng rất là phổ thông.
Phần 2.
Con Đường Hạnh Phúc
Giáo Lý Căn Bản của Phật
Tuệ Giác C
ăn
Bản: Bác Ba và Ông Ngoại Tôi
Bản
đồ của đức Phật trình bày về hành
trình đi đến tuệ giác và hạnh phúc hấp
dẫn được nhiều người, vì chúng rất là
đơn giản. Chủ yếu, đức Phật dạy rằng khi ta
đi buồn bực về những chuyện mà mình không thể kiểm soát
được, việc ấy chẳng có ích lợi gì.
Chúng ta không hề có một sự chọn lựa nào về những tay bài mà ta
được chia cho trong cuộc sống. Sự chọn lựa
duy nhất mà ta có, là thái độ của mình
về những lá bài trên tay và sự khéo léo trong việc chơi ván bài ấy.
Hơn hai ngàn năm
trăm năm trước đây, khi đức Phật truyền dạy những tư tưởng của ngài,
có rất nhiều người lảnh hội được ngay, họ
hiểu đức Phật thông suốt đến độ khi vừa nghe ngài nói xong, họ lập
tức đạt được một sự an lạc đời đời. Và
những người chưa hiểu đức Phật ngay lúc ấy,
họ về thực tập thiền quán và rồi họ cũng hiểu.
Giáo lý của
đức Phật bao gồm một vũ trụ quan mênh
mông, nhưng thông điệp chánh của ngài
về một lối sống lành mạnh và an vui, đối với
tôi, nó cũng giống như bác Ba sống ở cuối phố cùng dãy với tôi, và
của ông Ngoại tôi mất cách đây mười năm.
Bác Ba
đã chín mươi tuổi, và ông vẫn còn rất
thích trồng trọt. Bác Ba và vợ bác, một người bạn
đời trên gần bảy mươi năm
trời, đã chính tay chăm sóc một mảnh
vườn rộng bảy mẫu tây, và hai ông bà thường bày bán trái cây ngoài
nhà xe của họ. Một buổi đẹp trời mùa
hè năm ngoái, tôi lái xe xuống nhà bác
Ba để mua vài trái củ hành, tôi thấy
cánh cửa nhà xe rộng mở. "Ồ!" Tôi tự nghĩ. "Xem kìa, bác Ba
đã tự tạc cho mình một bức tượng của
bác ngồi trước nhà xe, trông cứ như là người thật vậy!"
Nhưng nhìn kỹ lại thì tôi nhận
thấy đó chính là bác Ba trước nhà xe,
ngồi yên như một pho tượng, chờ đợi. Ông
không đọc, cũng không viết, không sắp soạn những món hàng của mình,
cũng không gọt chuốt một vật gì, ông không làm một việc gì hết chỉ
ngồi yên chờ đợi. Mà chẳng phải là
gian hàng của bác Ba nằm trên một con đường
chánh nào hết, để ông có thể ngồi nhìn
xe cộ qua lại. Nhà xe nằm ở phía sau căn nhà
của bác, và ngôi nhà lại nằm trên một con
đường nhỏ vắng vẻ. Không có gì qua lại hết. Chỉ vì bác Ba
không có một việc nào cần phải làm, nên bác không làm gì cả. Tôi chưa bao
giờ luận bàn triết học với bác, nhưng tôi
đoán rằng có lẽ bác sẽ nói, "Nếu nó không hư, thì
đừng có sửa," và "nếu nó có hư, và ta
sửa không được, thì
đừng thèm lo gì thêm cho mệt."
Tôi
đậu xe lại, bước xuống, đi lại nhà xe
trước khi bác Ba cử động. Tôi chợt nhớ là
mình có để máy chụp hình trong xe, tôi
nói, "Bác Ba, cháu muốn chụp một tấm hình của bác
được không?" "Được," bác trả lời. Bác không
hề hỏi "Tại sao?"
Tấm hình ấy
đẹp lắm, bác Ba ngồi yên cạnh thùng cà
tô-mách và những trái zuchini. Tôi phóng lớn tấm ảnh,
đóng khung và treo trong văn
phòng của mình, cạnh bức hình của đạo
sư Meher Baba, người mà tôi rất ngưởng mộ. Tôi rọi lớn một tấm nữa,
đóng khung và
đem tặng cho bác Ba. Bác nói, "Cám ơn."
Ông Ngoại tôi thọ chín mươi tám
tuổi, ông mất vì tuổi già. Tim của ông cuối cùng ngừng hoạt
động, nhưng đầu óc của ông thì vẫn
tỉnh táo cho đến giây phút cuối. Ông sống lâu
hơn má tôi, đứa con gái trưởng, và lâu hơn cả ba người vợ của ông.
Ông đã sống qua những giai
đoạn đen tối nhất của nền kinh tế Hoa kỳ. Ông
ngoại tôi đến Hoa kỳ từ Âu châu khi còn là một thanh niên, bỏ lại
sau lưng ba má, anh, chị, em ở Áo, và không bao giờ có dịp gặp lại. Ông
đã tìm làm những công việc lao
động tay chân, vì ông không biết
đọc cũng không biết viết. Tôi nhớ ngày
còn bé, hay nhìn ông Ngoại dùng một loại xà phòng vụn
đặc biệt để rửa tay cho sạch. Ông là
một người nhiệt tình và dễ xúc động. Khi ba
má tôi làm cho tôi một buổi tiệc sinh nhật, ông Ngoại chảy nước mắt
khi nghe mọi người hát bài "Mừng sinh nhật".
Khi má tôi mất năm
bà bốn mươi bảy tuổi, ông Ngoại tôi lúc ấy cũng
đã bảy mươi bảy. Cái chết của má tôi
là một đòn thật nặng giáng xuống cho
ông. Lúc đưa đám tang má tôi ông buồn thảm vô
cùng, tôi lo không biết ông có qua
được khỏi ngày hôm đó không. Ông Ngoại
tôi không hề che dấu nỗi đau của mình với chính ông hoặc với bất cứ
một ai.
Má tôi mất vào tháng tám. Mùa
hè những năm ấy ông Ngoại đang còn làm
nhân viên trưởng trông coi việc bảo trì cho những dãy nhà nghỉ mát ở
Maine. Vài ngày sau đám tang má tôi, ông
Ngoại lấy lại sự quân bình, về tinh thần lẫn thể chất, và trở lại
đi làm. Ông lập lại câu nhân sinh quan
của ông, mà tôi đã nghe biết bao nhiêu
lần: "Thôi thì làm gì được bây giờ? Đời là
vậy!" Lúc ấy tôi thấy ông giống như là một nhà
đại triết gia vậy. Ông tiếp tục làm
việc thêm nhiều năm nữa, tục huyền và
vui thú với đám cháu chắt nội ngoại. Ông
Ngoại lúc nào cũng là một người bạn thân tình
đối với Ba tôi, cũng như đối với người vợ mới
của ba tôi khi ông tái giá. Ông không bao giờ trở lại căn nhà ngày
xưa mà má tôi đã từng sống. Trở về nơi
ấy gợi cho ông quá nhiều thương nhớ.
Tôi thường hay ghé qua thăm
ông Ngoại khi ông đã già, già lắm, sống trong một cộng
đồng dành cho những vị cao niên ở niền
nam Florida. Mỗi ngày hai lần, sau buổi điểm
tâm và ăn trưa, ông hay rủ tôi đi dạo
với ông. Chuyến đi thật dài vì ông bước rất chậm. Ông giải thích
rằng đây là chuyến
đi thưởng ngoạn của ông, một cuộc tập thể dục
hằng ngày. Tôi hỏi, "Ông Ngoại nghĩ gì khi ông Ngoại
đi dạo?" Ông nhìn tôi với vẻ ngạc
nhiên. "Con nói nghĩ gì có nghĩa là sao?" ông hỏi lại. "Khi
đi thì mình chỉ có
đi, vậy thôi!" Lúc ấy tôi nhìn ông
Ngoại tôi và nghĩ rằng ông chính là đức Phật.
Bác Ba cũng như ông Ngoại, chưa
bao giờ được nghe ai nói gì về thiền.
Tôi nghĩ là họ biết chú ý đến đời sống của họ
và trở nên minh triết. Đối với đa số
chúng ta, những người không có được tuệ giác một cách tự nhiên,
thiền tập là một phương tiện giúp ta đạt được
việc ấy.
Chân
Đế Thứ Nhất:Nỗi
Đau, Không
Tránh Được,Nỗi Khổ, Không Cần Thiết.
Bản
đồ chánh đức Phật sử dụng để trình bày
hành trình đi đến hạnh phúc và giải
thoát được gọi là Tứ Diệu
Đế, hay là Bốn Sự Thật Mầu Nhiệm.
Trong Chân
Đế Thứ Nhất đức Phật giải thích rằng "ta
không thể nào trốn tránh được nỗi đau
đớn của cuộc đời, nhưng khổ não thì tùy thuộc vào sự chọn lựa của
ta." Thật ra đức Phật không nói hẵn như vậy,
ngài nói bằng tiếng thổ ngữ của thời ấy. Lối giải thích của tôi
bằng ngôn ngữ của thời nay, cố gắng chuyên chở cái ý nghĩa mà
đức Phật muốn truyền đạt, và tôi hy
vọng làm như vậy tôi không bị mang tiếng là bất kính
đối với ngài.
Cuộc
đời là khó khăn.
Ông Scott Peck viết câu ấy mở đầu cho quyển The Road Less
Traveled, và đã bán
được hơn mấy trăm ngàn bản.
Đôi khi tôi nghĩ có lẽ khi người ta đọc câu
đầu tiên ấy, họ cảm thấy hứng khởi vì thấy có người
đã nói lên một sự thật về kinh nghiệm
của cuộc sống, và vì thế họ mua quyển sách ấy. Cuộc
đời cũng rất là bí mật. Dầu ta có
chuẩn bị, dự định kỹ lưỡng bao nhiêu,
bản chất của đời sống bao giờ cũng là
không thể đoán trước được. Mấy năm nay, tôi
có dán trên tấm kiếng trong phòng tắm một tờ giấy
để nhắc nhở mỗi ngày, "Cuộc
đời là những gì xảy
đến với ta trong khi ta bận rộn dự định cho
những việc khác." Nhưng cũng vậy thôi, tôi lúc nào cũng bỏ thì giờ
ra cố gắng sửa chữa hiện tại, để hy
vọng rằng mình sẽ được an vui hơn
trong một tương lai huyền thoại nào
đó.
Vào giữa tuổi ba mươi mấy, tôi
chợt ý thức, với một nỗi hốt hoảng lớn, là tôi hoàn toàn không trang bị
đủ để đối phó với sự to tát và cái
đáng sợ của sự sống. Tôi đã luôn phải
xoay xở để tự dối mình về một sự quân
bình tế nhị mà chúng ta cần phải có, để duy
trì một hạnh phúc đang treo mong manh
trong mỗi giây, mỗi phút. Tôi lớn lên và thành
đạt hết những gì người ta cho là sẽ
bảo đảm cho mình một hạnh phúc. Tôi
đã theo
đuổi, học hỏi một ngành chuyên môn mà tôi
đã có thể sinh sống bằng nghề ấy, và
cảm thấy rất mãn nguyện. Tôi lập gia đình,
có được bốn đứa con tuyệt trần và tôi
thương yêu chúng vô cùng. Nhưng vì chưa bao giờ nghĩ
đến sự mong manh của chúng, nên tôi
cũng không hề nghĩ ngợi hay thắc mắc gì về ý nghĩa của cuộc sống.
Một hôm, ở cuối dãy phố nơi tôi
ở, hai đứa bé gái trên
đường đi đến trường bị một xe hơi lạc tay lái
đụng tử thương. Đó là hai chị em, đứa
lên sáu và đứa lên bảy. Tôi
không quen biết chúng nhưng nghe kể, vì chúng là bạn học với con gái tôi.
Đột nhiên, tôi tỉnh dậy và ý thức
được sự thật là ta
đang sống giữa những hiểm nguy, và mỗi
giây phút của cuộc sống quý giá vô ngần. Nếu sự thật ấy
đã đánh
thức tôi dậy trong quân bình, hoặc ít nhất là nếu tôi chín mùi hơn
một chút, có lẽ tôi đã kinh nghiệm
được sự chuyển hóa mà ta thường nghe
nói trong kinh điển, và sau
đó cuộc đời tôi sẽ thay đổi hoàn toàn
và được sống trong sự trong sáng vĩnh viễn.
Nhưng chuyện ấy đã không xảy đến với
tôi. Thay vì vậy, tôi lại bị lao đầu
xuống hố sâu của ảm đạm và thất vọng. Tôi không tưởng tượng
được vì sao người ta vẫn có thể tiếp
tục sống trong một cuộc đời mà cuối
cùng chỉ có sự chết chóc, và lúc nào cũng đầy
dẫy những bất ngờ. Tôi ý thức rằng tất cả những mối liên hệ trên
đời này
đều chấm dứt bằng một sự mất mát, và sự mất mát nào cũng
đau đớn. Tôi không hiểu vì sao chúng
ta lại có thể chịu đựng được!
Sự thật là bây giờ tôi có thể
nhắc lại giai đoạn này của
đời mình một cách nhẹ nhàng,
điều ấy không có nghĩa là tôi
đã không
đau khổ trong thời gian ấy. Có chứ! Tôi đã
đọc về những triết gia theo trường phái hiện
sinh như là Camus và Sartre, và tự hỏi làm sao tôi
đã có thể xoay xở
để che dấu sự thật khủng khiếp này với
chính mình trong những năm qua. Tôi tự hỏi,
sao những người khác lại không có một ai nhận thấy nó hết! Làm sao
mọi người lại có thể sống như là mọi việc đều
tốt đẹp, trong khi tôi chắc chắn rằng nó không phải là vậy? Tôi còn
nhớ khi dạy những sinh viên trường tâm lý học về "mặc cảm hiện sinh", tôi
thường hay kể cho họ nghe câu chuyện vui về Kierkegaard. Có người nói với
Kierkegaard, "Tôi sẽ gặp lại ông thứ ba tuần tới nhé," và ông ta trả lời,
"À, tôi sẽ gặp lại anh thứ ba tới nếu, khi anh ra khỏi nhà không có miếng
ngói nào rơi trúng đầu anh, và khi băng
qua đường, anh không bị chiếc xe ngựa nào
đụng phải hết," và ông còn tiếp thêm
nhiều cái "nếu" khác nữa. Thật ra thì câu chuyện vui ấy không có gì
đáng cười hết. Tôi không thể nào nói
"Má gặp lại con chiều nay" với những đứa con
mình trước khi chúng đến trường, hoặc
là "Anh đi chơi vui vẻ nha" với bất cứ
một ai, mà không nghe thấy trong đó có
những điềm xấu xa vang vọng bên tai.
Một phần tôi cảm thấy tuyệt
vọng vì tôi nghĩ rằng, hình như chỉ duy có mình là thấy như vậy. Chung
quanh tôi, dường như ai cũng cảm thấy cuộc
đời này là tốt đẹp, chẳng có gì
đáng lo cả. Thật là một niềm vui lớn
khi lần đầu tiên tôi
đi tham dự một khóa tu thiền, và nghe
người ta nói lên sự thật hết sức rõ ràng - Sự Thật Mầu Nhiệm Thứ Nhất là
sự sống thì khó khăn và
đau đớn, tự tánh của chính nó là vậy,
chứ không phải vì chúng ta đã làm một
cái gì sai trật hết. Tôi cảm thấy vô cùng thoải mái và vui sướng khi
được gặp những người dám chấp nhận rằng cuộc
đời này là khó khăn, thường khi là
đau đớn, mà vẫn có vẻ bình an trong
khi họ công nhận sự thật ấy. Điều quan trọng
là họ trông có vẻ rất an lạc. Sự kiện ấy làm an tâm tôi vô
cùng. Tôi tự nghĩ, "Đây là những người
giống như tôi, có một đời sống y như tôi, họ
biết được sự thật và dám gọi tên nó mà vẫn cảm thấy an ổn."
Chân
Đế Thứ Hai: Dính Mắc
là Khổ
Đau
Chân
đế, tức sự thật mầu nhiệm, thứ nhất đã
không ngần ngại gì và tuyên bố thẳng thừng rằng,
đau đớn là tự tánh cố hữu của sự sống
vì tất cả mọi vật đều biến đổi không ngừng.
Chân đế thứ hai giải thích, khổ đau có mặt khi ta chống cự với những kinh
nghiệm của cuộc sống, thay vì biết cởi mở và chấp nhận chúng với
một thái độ thông minh và từ ái. Hiểu
được chỗ này, ta sẽ thấy rằng giữa
đau đớn (pain) và khổ não (suffering)
có một sự khác biệt rất lớn. Đau đớn thì
không thể tránh né được, sự sống đi kèm
với đau đớn. Nhưng khổ thì không bắt
buộc. Nếu khổ là những gì xảy ra khi ta vùng vẫy chống cự lại những kinh
nghiệm của mình, vì thiếu khả năng chấp nhận,
thì khổ là một điều dư thừa, không cần
thiết.
Tôi
đã từng hiểu lầm
điểm này, khi mới bắt
đầu tu tập tôi cứ đinh ninh rằng nếu tôi công
phu thiền tập cho đúng mức, mọi đớn đau của tôi sẽ biến mất. Đó là
một lầm lẫn lớn. Tôi rất thất vọng khi khám phá ra sự sai lầm ấy và cũng
hơi xấu hổ vì sự ngây thơ của mình. Rõ ràng là ta sẽ không bao giờ có thể
nào chấm dứt được hết những đớn đau trong
cuộc đời này.
Đức Phật có dạy, "Những g
ì
ta yêu quý sẽ đem lại cho ta đớn đau." Tôi
nghĩ đó là sự thật. Thường thì ít khi nào tôi nhắc
đến lời ấy với những thiền sinh mới bắt đầu,
tôi không muốn họ hiểu lầm là đạo Phật
bi quan. Nhưng sự thật là vậy. Vì mọi việc
đều biến đổi luôn, những mối liên hệ
của ta đối với những gì ta yêu quý,
hoặc mối liên hệ của chúng đối với ta, rồi
cũng sẽ thay đổi. Và rồi ta sẽ chịu nỗi
đau của sự mất mát, chia lìa. Chúng ta
đã chọn cuộc sống tương giao ấy, vì ta
chấp nhận sẵn sàng trả giá bằng sự đau đớn.
Đối với tôi, thấy được sự khác
biệt giữa một thái độ dững dưng đối với kinh nghiệm của sự sống v
à
một thái độ vui vẻ, nhiệt tình
đối với kinh nghiệm của sự sống mà
không bị dính mắc, luôn luôn là một thử thách lớn (trong nhà thiền có lẽ
họ gọi đó là một công án.) Theo tôi
thì chuyện ấy có thể thực hiện được. Nhưng vì
trong mỗi giây, mỗi phút của cuộc sống bao giờ cũng có một sự chọn lựa
giữa sự "dễ chịu" và "khó chịu", khó có thể nào ta lại không muốn sự "dễ
chịu". Thật ra thì rất khó để mà không
muốn gì hết.
Người ta kể thánh John of the
Cross có lời cầu nguyện rằng, "Thượng đế, xin
hãy ban cho con được thấy ảnh tượng
của ngài!" Khi mới bắt đầu tập thiền,
tôi cũng muốn được thấy hình ảnh này nọ. Thời ấy là vào cuối thập
niên sáu mươi, ban nhạc trẻ the Beatles và
đạo sư Maharishi Mahesh đang phổ cập hóa pháp môn định tâm, và nền
văn hóa lúc ấy đang có một tính chất "ảo
hóa." Và tôi cũng mong muốn có một việc kỳ lạ nào
đó xảy đến cho mình.
Vài năm
sau đó cũng đã có những chuyện "kỳ lạ" xảy
đến cho tôi. Trong một thời gian nỗ lực tích
cực hành thiền, tôi kinh nghiệm được
con người của tôi tràn ngập ánh sáng, và tỏa chiếu nữa. Thật là kỳ
diệu vô cùng. Trong lãnh vực của sự hành thiền nghiêm túc thì kinh nghiệm
ấy chẳng có gì là to tát hết, nhưng đối với
tôi thì nó huyền diệu vô cùng. Và sau một thời gian, tôi bắt
đầu cho rằng nó cũng chưa kỳ diệu đủ. Tôi nhớ
lại câu chuyện của thánh Paul, bị mù lòa vì ánh sáng chói rực trên
đường đi đến Damacus, và vì tôi chưa
bị mù, tôi bắt đầu mong ước được thấy
thêm ánh sáng nữa. Nhưng tôi không bao giờ dám thú nhận
điều ấy với bất cứ một ai, vì trong
giới tu hành, mong muốn được thêm lạc
thú thì chẳng có vẻ thiền một chút nào hết - mặc dù tôi là thế!
Chân
Đế thứ hai của đức Phật là tham muốn
bất cứ một việc gì cũng đều là
khổ đau hết. Thường thường thì người
ta hay diễn dịch rằng "nguyên nhân của khổ
đau là lòng tham muốn," nhưng theo tôi nghĩ thì
điều đó cũng không thật chính xác.
Nguyên nhân thì có vẻ như là cái này xảy ra trước và rồi nó sẽ sinh ra
một kết quả đặc biệt nào
đó. Như ta hay nói, "Mong muốn bây giờ, đau
khổ sau này." Nhưng tôi tin là "Mong muốn bây giờ,
đau khổ bây giờ."
Có lần tôi nghe một người nào
đó nói, dấu hiệu của sự giác ngộ là
khi ta lúc nào cũng đều có thể nói, và
thật sự tin nữa, "Tôi đâu có muốn đâu, nhưng
đó là những gì tôi có, thì cũng là tốt vậy!"
Má vợ của
đứa con trai tôi không những có một thái độ
khoan dung đối với những sự khó chịu, mà bà còn biết tán thưởng nó
nữa. Bà ta là người duy nhất mà tôi đi xe
chung trên xa lộ ở Los Angeles, với hằng trăm
chiếc xe phóng ào ào, xuyên qua lại ngang ngược, trong một không
khí đầy bụi bậm, khói xăng, kẹt cứng, bực
bội, mà vẫn nói với một giọng ngạc nhiên chân thành, "Chà! Coi kìa
người ta đi đâu đông quá!"
Lẽ dĩ nhiên, từ chuyện xa lộ
cho đến những nạn đói kém, cho đến chiến
tranh, khoảng cách ấy xa vời lắm, nhưng khi ta nhận thấy được rằng thái độ
chấp nhận khoan dung của con người là có thể
được, việc ấy sẽ khích lệ ta nhiều lắm. Sự
thực nghiệm tâm linh có lẽ là để khám
phá ra tiềm năng ấy trong ta và khai mở nó ra. Và chân
đế thứ ba cho ta biết việc đó chắc chắn có
thể thực hiện được.
Chân
Đế Thứ Ba: Một Tin
Vui Tuyệt Vời
Một yếu tố chủ yếu trong sự tu
tập của đạo Phật được gọi là Chánh
Kiến (Right View). Chánh Kiến có nghĩa là thấy biết và hiểu một cách chân
chánh. Một khía cạnh của Chánh Kiến là ý thức
được rõ rệt mục đích của con đường tu
tập chánh niệm. Nhưng bước chân của tôi vào con
đường tu tập chánh niệm đã
được hoàn toàn thúc
đẩy bởi Tà Kiến (Wrong View), tức một
cái thấy sai lầm. Tôi đã tưởng rằng
nếu mình công phu tu tập đúng mức, tôi sẽ
không còn kinh nghiệm những đớn đau
nữa. Lẽ dĩ nhiên cái thấy biết đó rất
là sai lầm. Không thể nào khi ta vẫn còn mang thân này, sống trong
cuộc đời, mà lại tránh khỏi
được sự đau đớn.
Sau khi khám phá ra
được sự sai lầm ấy, tôi đã tự an ủi
bằng niềm tin là dầu sao đi nữa tôi vẫn có
thể chấm dứt được nỗi khổ của mình. Và
đó chính là Chân Đế Thứ Ba. Chân Đế
Thứ Ba nói rằng giải thoát, an lạc và hạnh phúc là những chuyện ta
có thể thực hiện được - ngay trong chính cuộc
đời này. Đó quả thật là một ý
tưởng hết sức tuyệt diệu!
Trong vài năm
trước, tôi có dạy về môn tôn giáo Đông phương cho một trường đại học Thiên
Chúa giáo. Sinh viên đa số là những
thiếu niên, thiếu nữ vừa học xong cấp trung học của một trường trung học
Thiên Chúa giáo gần đó. Các em lớn lên,
phần đông, có một đời sống gia đình
thoải mái, đầy đủ và rất sùng
đạo, giữa một kỷ nguyên hòa bình. Các
em có vẻ cảm thấy rất hoang mang khi tôi bắt
đầu dạy về đạo Phật, và giới thiệu ngay
đến khái niệm về khổ. Nhưng làm sao
tôi có thể tránh được việc ấy. Ý niệm về khổ
và sự chấm dứt khổ đau là giáo
lý chủ yếu của đạo Phật. Ngày xưa
đức Phật có lần đã tuyên bố như thế
với một người đệ tử của ngài. Theo
truyền thuyết thì người đệ tử ấy đến bắt bẻ
đức Phật. Anh ta trách đức Phật đã không hề dạy gì cho anh về vũ
trụ quan và triết học như anh đã hy
vọng. Truyện kể đức Phật trả lời, "Ta chỉ dạy
có một điều và mỗi một điều mà
thôi - Khổ đau và con
đường chấm dứt khổ đau."
Những em sinh viên trẻ của tôi
lộ vẻ lo âu khi nghe tôi nói, mặc dù mọi việc dường như có vẻ là vui thú
đó, nhưng cuối cùng rồi tất cả sẽ làm
cho ta thất vọng, vì không có gì là trường tồn mãi mãi. Khi tôi cố gắng
giải thích và cho thí dụ "Cũng giống như nhiều khi các em muốn một việc gì
đó mà không
được," thì chúng không
đồng ý. Đa số các em có hết những gì
mà chúng muốn. Theo ý kiến của các em thì đạo
Phật dường như hơi bi quan, và các em hỏi tôi, "Những người Phật tử
có tổ chức tiệc ăn mừng sinh nhật không cô?"
Tôi hết sức cố gắng
để tìm những trường hợp khổ
đau nào mà các em sinh viên của tôi có
thể liên tưởng đến được. "Có bao giờ các em
bị một người bạn trai hoặc bạn gái nào
đó bỏ em không? Lúc đó em có cảm thấy đau khổ không?"
"Ồ," họ trả lời, "nếu khổ
đau là vậy thì em có thể liên tưởng
đến được!" Dù vậy, tôi cũng cảm thấy
chút gì bất mãn khi thấy mình phải là một người mang tin buồn
đến cho những người trẻ ấy.
Nhiều khi tôi thấy mình lướt
qua hai Chân Đế đầu tiên
để giảng ngay đến Chân Đế Thứ Ba, để tôi có
thể nói đến cái tin vui. Chúng ta có thể sống hạnh phúc được. Mỗi người
chúng ta có một khả năng phát triển một tâm rộng lớn đủ để có thể thương yêu,
tỉnh thức, đáp ứng, quan tâm đến mọi việc, và
không cần phải tranh đấu. Đó không phải chỉ là
một tin vui thôi, mà là một tin vui tuyệt vời.
Tam Tổ của Thiền
Tông và Nhất Tổ của Berkeley
Tăng
Xán, vị tổ thứ ba của thiền tông Trung Hoa sống vào thế kỷ thứ sáu,
viết, "Chí đạo vô nan, Duy hiềm giản trạch,"
có nghĩa là Đạo lớn không khó chỉ hiềm vì
ta có sự lựa chọn mà thôi. Khi đọc những lời
ấy, tôi nghĩ, "Chắc mình sẽ không bao giờ
đạt đạo nổi!" Dường như mỗi kinh nghiệm trong
đời đều mang lại cho tôi một cơ hội để có sự ưa ghét, và tôi lúc
nào cũng thiên vị.
Lúc
đầu tiên khi
được nghe giáo lý ấy, đứa con gái nhỏ của tôi
đang theo học môn vũ ba-lê rất chuyên cần, và vị giáo sư của nó cho
rằng nó rất có khiếu. Vào mỗi mùa giáng sinh, nó
được vũ trong vở tuồng Nutcracker
của đoàn, và mỗi năm
được giao cho đóng một vai quan trọng hơn. Mặc dầu đứa con gái của tôi chỉ
là một cô bé, tôi vẫn tưởng tượng đến
rồi một ngày nào đó, nó sẽ được đóng
vai chánh Snow Queen, và tôi không tin rằng
đến lúc ấy, tôi sẽ có một thái độ dững dưng
về việc con mình sẽ được thủ vai chánh
ấy hay là một cô bé nào khác. Tôi có một sự thiên vị.
Tôi có thể hiểu
được giáo lý vô phân biệt này trên một
lãnh vực bình thường. Tôi biết mình sẽ không bao giờ bước vào một tiệm kem
và nói "Bán cho tôi loại kem nào cũng được,"
nhưng tôi cũng biết chắc là mình sẽ không khổ tâm lắm nếu họ
đã bán hết kem sô-cô-la. Bởi vì còn
biết bao nhiêu loại kem khác cũng thơm ngon như vậy.
Đây là một bình diện phân biệt, chọn
lựa được biểu hiện qua bằng sở thích và
thị hiếu bình thường cá nhân.
Điều m
à tôi
đã không thể hiểu tới là làm sao việc
ấy cũng có thể đúng đối với những ý thích sâu
xa của ta nữa! Thật ra, tôi đã không tưởng tượng nổi vì sao người
ta lại muốn mình không còn có một sự phân biệt nào hết.
Đối với tôi thì dường như chính sự
chọn lựa ấy mới làm cho cuộc đời hào
hứng và lý thú. Lúc ấy, quan điểm của tôi hoàn
toàn đi ngược lại với giáo lý của kinh Kim
Cang: "Tâm vô sở trụ", có nghĩa là một tâm không bị dính mắc
vào đâu hết. Nhưng rõ ràng,
điều tôi không hiểu là sự sống này vẫn
có thể được hào hứng và
lý thú, và ta vẫn có thể có những dự án, hy vọng và
đeo đuổi chúng hết lòng, mà vẫn sẵn
sàng buông bỏ nếu chuyện không thành.
Tôi học bài học lớn ấy từ Bill,
một người bạn của tôi đã qua
đời cách đây hơn hai thập niên. Tôi
thường nghĩ đến anh như là vị Tổ Thứ
Nhất của vùng Berkeley. Bill bị bệnh ung thư vào năm
anh ta còn rất trẻ, mới bốn mươi tuổi. Anh có vợ, một sự nghiệp
đang lên và những
đứa con thật dễ thương. Khi biết rằng cái
chết gần kề, anh viết một lá thư để gửi đến bạn bè sau khi anh qua
đời. Trong thư, anh viết về cuộc đời của mình,
"Tôi còn muốn nhiều chuyện muốn làm nữa, nhưng không bao giờ tôi muốn nó
sẽ là gì khác hơn!" Tôi nghĩ, nếu tôi có thể sống cuộc
đời mình
được như vậy thì kỳ diệu vô cùng, muốn thêm nhiều nữa là một sự tán
thưởng đối với cuộc đời, nhưng tôi sẽ không
bao giờ muốn nó là gì "khác hơn."
Tôi có một người bạn là một vị
thầy dạy Zen, anh ta kể cho tôi nghe về một bài tử thơ. Có một tập
sách sưu tầm về các bài tử thơ này để lại bởi
những thiền sư - mà cho là được các ngài
nói lại bằng hơi thở cuối trước khi viên tịch, theo truyền thống Zen. Anh
bạn kể cho tôi nghe về một bài tử thơ viết, "Tử thơ là chuyện láo lếu.
Chết chỉ là chết."
Vị thiền sư ấy nhắc tôi nhớ
đến một người bạn khác là Pat, cũng
qua đời vì chứng bệnh ung thư vào năm
bốn mươi mấy tuổi, để lại bốn đứa con, nhiều bạn hữu và một sự
nghiệp luật sư lý thú. Tôi học được từ cô là
chúng ta vẫn có thể có sự thiên vị, một sự thiên vị sâu sắc, không
bao giờ thối chí, và cũng không hề đắng cay
về nó. Pat sống được thêm vài tháng, sau khi biết là cuộc chiến
đấu với cơn bệnh của cô đã hết còn hy
vọng. Cô ta dùng thời gian còn lại để hàn
gắn mối liên hệ với người chồng củ, hoàn tất hết những công việc luật còn
dở dang, tâm sự với bạn bè và bộc lộ hết với họ những gì cô hằng muốn nói.
Có những chuyện cô muốn giải quyết, và tuy chúng rất rắc rối về tình cảm,
nhưng cô vẫn cứ làm. Lúc gần cuối, cô nói với tôi, bằng một giọng hết sức
bình thường và thực tế, "Chị biết không, tôi
đã trưởng thành rất nhiều về mặt tình cảm nhờ chứng bệnh ung thư
này. Tôi đã làm những chuyện mà tôi
không bao giờ dám làm giá như tôi không có bệnh. Nhưng thành thật mà nói,
tôi vẫn ước gì mình không mắc bệnh và không phải trưởng thành."
Một sự thật rất
đơn sơ. Trưởng thành cũng không hay ho
gì. Sống thì vẫn thú vị hơn. Được trao cho
những gì không thể thay đổi được, cô
ta đã sống những ngày cuối của đời mình
bằng một thái độ vui vẻ và sẵn sàng.
Một ngày trước khi mất, tôi bắt gặp cô ngồi trên giường
đọc báo. "Tôi đã làm hết mọi chuyện
rồi," cô nói, "bây giờ thì chỉ còn chờ đợi
thôi." Tôi nghĩ việc ấy đủ cho cô xứng đáng làm vị Tổ Thứ Nhất của
vùng San Anselmo.
Đứa con gái của tôi không bao
giờ được đóng vai chánh Snow Queen. Nó đ
ã không trở thành một vũ
công, và thái độ chấp nhận của nó cho phép
tôi buông bỏ những kỳ vọng của chính tôi. Tôi vẫn còn thích xem
tuồng Nutcracker, và tôi rất vui thú tưởng tượng
đến cái cảm xúc của má của cô bé đang thủ vai
Snow Queen. Tôi cũng cảm thấy nỗi vui ấy khi xem những trận đấu banh trên
ti-vi, khi nhìn thấy má của một cầu thủ đứng
reo hò trên khán đài, ngay sau
khi con mình vừa thắng điểm. Tôi cảm động vô
cùng, đôi khi đến chảy nước mắt. Tôi
cũng khóc khi thấy những chuyện bất hạnh xảy đến cho người ta. Không có
một vị thuốc nào có thể chữa được
tiếng khóc. Và tôi rất mừng về sự bất lực ấy.
Chân
Đế Thứ Ba Rưỡi
Đức Phật dạy rằng, chấm dứt khổ
đau l
à chuyện có thể được. Ngài
dạy, chúng ta có thể điều kiện tâm mình,
giữ cho nó được trong sáng và rộng
lớn, để mọi kinh nghiệm của ta đến và
đi trong một đại dương bao la của tuệ giác.
Khổ đau và an lạc sẽ đến rồi đi, thỏa
mãn và thất vọng sẽ đến rồi đi, và
tâm ta vẫn giữ được sự tĩnh lặng muôn thuở
của nó. Ý thức được rằng ta không cần phải được thỏa mãn mới có
hạnh phúc, là một tự do rất lớn.
Nhưng dù sao thì tôi vẫn chưa
chấm dứt được khổ đau, tôi biết không phải vì
tôi chưa khao khát đủ. Tôi khao khát lắm chứ!
Cũng không phải vì tôi không hiểu. Trong thâm tâm tôi tin giải
thoát là chuyện có thể được. Tôi biết, chúng
ta tranh đấu vất vả vì ta chấp và cho những câu chuyện xảy ra là
của riêng mình, thay vì thấy chúng là một phần của một vở tuồng vũ trụ to
lớn đang khai mở. Tôi biết chắc
là mọi việc đều do duyên khởi và ít
nhiều tôi tin vào karma, tức luật nhân quả. Tuy nhiên, tôi vẫn vất
vả tranh đấu và tôi
đau khổ. Nhưng dù sao thì bây giờ tôi
cũng ít khổ đau hơn, và tôi cũng không
còn bị tuyệt vọng vì những nỗi khổ, như trong quá khứ.
Vì vậy, tôi cộng thêm một nửa
Chân Đế nữa. Nửa chân đế ấy là "Khổ
đau có thể chăm sóc được (manageable)." Còn
thiếu một chút nữa là chấm dứt được khổ đau,
mà tôi hoàn toàn tin là có thể được,
nhưng tôi hài lòng với việc mình có thể
đối trị được khổ đau một cách tốt đẹp hơn. Vì
biết rằng tôi có thể săn sóc được khổ đau của
mình, tôi không còn sợ hãi những đau
đớn như khi trước. Ngày nay, tôi thường nói thẳng với học trò của
mình, mặc dù đức Phật có dạy là ta có
thể chấm dứt được khổ đau, nhưng chính tôi
chưa đạt đến trình độ ấy. Học trò
của tôi không thất vọng. Và tôi cũng không hề mất
đi một điểm nào. Nghe
được rằng ta có thể săn sóc được những khổ
đau của mình, đối với họ đã là
một tin vui lắm rồi.
Một nửa Chân
Đế phụ thêm
đó, còn giúp cho tôi có lòng từ bi
đối với chính mình và người khác hơn.
Tôi có thể thấy được tôi đã bị dính
mắc ra sao, tôi đã vất vả, khổ
đau như thế nào, tôi
đã mong muốn những gì, và cuối cùng
rồi thì mọi việc cũng đã thay
đổi và giải quyết ra sao. Tôi thương
mình hơn, khi hiểu tôi đã tạo nên biết
bao nhiêu đau đớn trong tâm cũng vì
những bám víu bị điều kiện của mình. Ý
thức được nỗi khổ của mình, mặc dù
đã nhiều năm
tu tập và dù đã có một hiểu
biết nào đó, tôi vẫn rất nhạy cảm đối với một
nỗi đau chắc phải là rất to tát của tất cả mọi người
đang cùng với tôi chia xẻ trái
đất này.
Tim Tôi Vẫn Còn Níu Kéo
Trong một bài nhạc tình, câu
"Tim em gắn bó với anh" là một lời yêu thương rất nồng nàn tha thiết.
Chúng ta muốn trái tim và ý nghĩ của người mình yêu gắn chặt với mình.
Nhưng theo sự hiểu biết của nhà Phật thì chính sự bám víu, dính mắc này là
nguyên nhân của khổ đau. Mặc dù vậy,
trái tim của tôi vẫn còn rất dính mắc. Vào những ngày tốt trời thì nó ít
bị dính mắc hơn một chút.
Lúc mới bắt
đầu tu tập, một trong những việc mà
tôi thích nhất là được nghe kể chuyện về đức
Phật và Phật pháp. Trước khi tôi ý thức
được là ta cũng có khả năng
tĩnh tâm và cảm nhận được giải thoát là
gì, tôi rất thích được nghe kể những câu
chuyện về giải thoát.
Những câu truyện về
đức Phật bao giờ cũng rất là kỳ diệu.
Thường thì câu truyện được bắt đầu bằng sự
diễn tả về nơi chốn đức Phật thuyết pháp, tên của những nhân vật
chánh đến thính pháp. Thường thì câu
truyện kể lại có một vị nào đó "từ chỗ ngồi
của mình trong đại chúng, đứng dậy,
đảnh lễ đức Phật, xong ngồi xuống và nghe pháp." Và tiếp theo "Đức
Như Lai nói như vầy," rồi truyện trình bày một bài pháp trong
đó đức Phật giải thích về chân tánh của mọi
vật. Câu truyện thường được chấm dứt bằng "Sau khi nghe Phật nói xong, các
vị ... đều được giác ngộ hoàn toàn" hoặc là "Nghe xong, tất cả
đại chúng đều được hoàn toàn giác
ngộ." Lời kết ấy thường được viết như vầy: "Và
tâm các ngài, nhờ không còn bị dính mắc, được
giải thoát khỏi những sự ô nhiễm." Tôi yêu những lời ấy vô cùng.
Trải qua biết bao nhiêu năm tu tập cho đến ngày
hôm nay, mỗi khi có dịp được nghe ai thuyết
pháp, tôi đều tưởng tượng rằng có thể đây là lúc mình sẽ
đạt được sự giác ngộ hoàn toàn và cuối
cùng, như những vị ấy. Sự kiện là nó đã
xảy ra trong thời đức Phật, đã
để lại cho ta một tiền lệ rất tốt. Có điều là
nó chỉ chưa xảy đến cho tôi mà
thôi!
Tôi nghĩ việc ấy
đã không xảy
đến dễ dàng cho chúng ta, là vì tâm ta
đã bị
điều kiện bởi những phản ứng theo thói quen quá nặng nề. Thói quen của tâm
rất khó thay đổi. Tôi thường hay bị nhức đầu mỗi khi bị tức giận, vì
tôi không biết cách nào để biểu lộ sự bất mãn
của mình ra cho được tự nhiên. Bây giờ
tôi có thể bày tỏ cảm xúc tức giận của mình thoải mái hơn, nhưng
đôi khi tôi cũng cần một cơn nhức đầu để nhắc
nhở là mình đang giận. Và tôi
cũng hoàn toàn tin rằng khổ đau phát sinh mỗi
khi tôi gắng chống cự lại với những biến cố nào trong
đời mà tôi không thay
đổi được. Dù biết vậy,
đôi lúc, tôi vẫn cứ khăng khăng chống cự.
Thói quen thì rất khó mà chuyển đổi.
Tôi có một giả thuyết về vì sao
thói quen của tâm lý và tâm linh lại khó có thể mà xóa bỏ hoàn toàn
được. Tôi gọi đó là giả thuyết
chiếc-áo-thun-của-sự-thay-đổi trong tâm. Đã
lâu rồi, trên ti vi trong một tiết mục quảng cáo, có chiếu một bà mẹ
đưa lên một chiếc áo thun của
đứa con trai mình, cho thấy những nơi
bị dính dơ bởi bơ đậu phụng, mứt, chỗ cậu ta
làm rớt kem sô-cô-la, và những nơi cậu ta lăn
lộn chơi banh trên đất bùn. Bà
ta bỏ chiếc áo thun dính bẩn ấy vào máy giặt và cộng thêm với loại xà bông
mà họ muốn quảng cáo với khán giả. Sau đó khi
bà lấy ra khỏi máy giặt, chiếc áo trở nên trắng tinh như mới, không
còn một tì vết nào. Trong đời kinh nghiệm
giặt đồ của tôi, tôi chưa bao giờ từng thấy một chiếc áo nào lấy ra
khỏi máy giặt mà trông hoàn toàn như mới. Lúc nào cũng còn một vài chỗ bị
phai màu, và ngay cả những trường hợp hiếm hoi khi mọi chỗ dính bẩn
đều được giặt sạch, chiếc áo vẫn không bao
giờ có thể thẳng thớm như khi còn mới. Những dấu vết cho thấy chiếc
áo đã
được mặc rồi, dính vào nó mãi mãi. Tôi nghĩ
đối với tâm ta cũng vậy, và tôi nghĩ
việc ấy cũng bình thường thôi. Nếu chúng ta biết bên nào của chiếc áo bị
ngắn hơn, ta có thể nhét bên ấy vào cho chặt hơn một chút, và rồi thì nó
cũng xem rất chỉnh tề.
Nếu như tâm tôi không bị dính
mắc, tôi sẽ hoàn toàn vô úy. Không có gì đe
dọa tôi được, vì không có một vật gì tôi sợ phải
đánh mất, và cũng không có một vật gì
tôi cần cho hạnh phúc của mình. Nhưng tâm tôi vẫn còn dính mắc, nên
đôi khi tôi vẫn sợ rằng không có được những gì
mình nghĩ là cần thiết, hoặc sẽ đánh mất
những gì tôi nghĩ là mình muốn. Nhưng dầu sao
đó cũng không còn là một vấn
đề lớn nữa, vì sự sợ hãi không còn làm
tôi kinh khiếp như xưa. Tôi biết nó có mặt là do sự dính mắc của mình, và
tôi biết nó rồi sẽ đi qua. Tôi có thể tự nhủ,
"Tôi đang sợ hãi, bởi vì mặc dù tôi biết cái gì là chân thật, nhưng
ngay lúc này tôi đã quên mất. Nhưng
tôi biết khả năng ấy hiện hữu." Và khả
năng ấy, niềm tin tưởng ấy, đã
đem lại cho tôi thật nhiều hy vọng, giữa
những cơn dông tố hãi hùng trong cuộc
đời.
Chân
Đế Thứ Tư: Vòng
Tròn Bát Chánh
Giả sử như chúng ta dùng hình
ảnh về một cuộc hành trình để biểu thị cho sự
tầm đạo của mình. Một tấm bản đồ chánh
mà đức Phật đã
để lại cho chúng ta, cho hành trình
đi đến hạnh phúc và an lạc,
được gọi là Bát Chánh
Đạo, tức Con Đường của Tám Nguyên Tắc
Hành Động Chân Chánh. Nhưng tôi thường nghĩ
ta gọi là Vòng Tròn Bát Chánh thì đúng
hơn. Một con đường thì phải đi từ một
nơi này đến một nơi kia, và khi
ta đến gần nơi kia hơn, ta sẽ
cách xa nơi này hơn. Và con đường thì
có tính cách tiến triển từng bước một. Cũng như một chiếc thang, ta không
thể nào đột nhiên nhảy ngang vào nấc
thứ năm rồi bắt đầu leo lên
được. Trên một con
đường thật sự cũng thế, ta phải bắt đầu từ
điểm khởi đầu và tiến bước đều đặn có
thứ tự cho đến điểm cuối cùng. Nhưng với một vòng tròn thì ta có
thể bắt đầu ở bất cứ một điểm nào, và
nó cũng vẫn là nằm trên cùng một vòng tròn.
Khi giảng về con
đường Bát Chánh của ngài,
đức Phật dạy rằng nó có một số những thành
tố đặc biệt. Người ta có thể vững tin là
mình đang đi đúng đường nếu họ thấy một trong
những tám bảng hiệu đặc biệt ấy. Tám bảng đánh dấu đường đó là:
thấy biết chân chánh (chánh kiến), suy nghĩ chân chánh (chánh tư duy), nói
năng chân chánh (chánh ngữ), hành
động chân chánh (chánh nghiệp), mưu sinh chân
chánh (chánh mạng), siêng năng chân
chánh (chánh tinh tấn), thiền định chân chánh (chánh định), và nhớ
nghĩ chân chánh (chánh niệm). Người khách du hành nhìn thấy một trong
những bảng chỉ đường này sẽ biết là
mình đang đi về hướng của an lạc và
hạnh phúc.
Thứ tự mà người du hành nhìn
thấy những bảng hiệu ấy trên đường nó không
quan trọng. Vì nếu nhìn cho sâu sắc, ta sẽ thấy rõ: trong một cái
có tàng chứa hết tất cả những cái khác. Chỉ cần một chút của sự thấy
biết chân chánh thôi, ví dụ như một ý nghĩ cho rằng ta có thể
có an lạc cho dù không được thoả mãn,
sẽ khơi dậy sự suy nghĩ chân chánh thúc
đẩy ta cố gắng siêng năng
chân chánh để phát triển thêm
sự thấy biết chân chánh ấy. Và bất cứ một ai muốn tu tập nói năng
chân chánh, muốn mỗi lời mình nói ra
đều hữu ích và
đúng với sự thật, sẽ khám phá rằng ta không
thể nào không có sự nhớ nghĩ chân chánh. Nhớ nghĩ chân
chánh có nghĩa là biết chú ý trong mỗi giây mỗi phút, và những ai thực
tập điều đó đều biết rằng nó cần phải có sự
thiền định chân chánh. Ta không
thể nào nói rằng, "Bát Chánh Đạo sao phức tạp
quá. Tôi chỉ muốn tu Nhất Chánh Đạo thôi!" Việc ấy không thể nào có
được. Tất cả đều có liên hệ mật thiết
với nhau.
Vì vậy, trên hành trình
đi đến an lạc và hạnh phúc, bạn có thể
bắt đầu ở bất cứ một điểm nào. Tôi
cũng hơi do dự về việc gọi sự tu tập ấy là một vòng tròn. Vì một vòng
tròn, cho dù là nhỏ bé, cũng choáng một khoảng không gian. Và không gian
sẽ tạo nên một ý niệm về nơi này và nơi kia. Thật ra chẳng
có một nơi kia nào hết. Khi chúng ta tỉnh thức và an lạc,
chúng ta đang thật sự sống ở nơi
này hơn bao giờ hết. Nhưng vì sự tỉnh thức ấy có xảy ra và sự tu tập
có hiệu quả, nên chúng ta cần phải gọi đó là
gì. Tôi nghĩ có lẽ ta nên gọi đó là
Bát Chánh Điểm.
Chánh Kiến: Bạn Tôi Alta
và Vô Thường
Khi người ta nói
đến phương thức tạo hạnh phúc của đức Phật,
người ta thường bắt đầu bằng sự thấy biết chân chánh, tức
chánh kiến. Thấy biết chân chánh có nghĩa là tin rằng, ít nhất cũng
đôi chút, là tuy cuộc sống có nhiều sự
thất vọng không tránh được,
nhưng ta vẫn có thể có hạnh phúc. Khi nghe vậy, có nhiều người chú ý ngay
đến sự kiện là có một phương thuốc
chữa trị cho nỗi khổ trong cuộc đời, nhưng
lại miễn cưỡng không muốn nghĩ đến cái phần không tránh
được kia. Nhưng chính cái
phần không tránh được ấy mới thật sự có một
công năng khai phóng, vì không có nó chúng ta sẽ nghĩ rằng mọi việc
có thể tốt đẹp mãi mãi, nếu ta biết
khôn khéo hoặc biết cố gắng đúng mức. Nhưng
không có gì sẽ hoàn hảo mãi mãi, vì không có gì trên
đời này là thường hằng cả.
Ý thức về vô thường là một
thành phần chủ yếu của tuệ giác. Và mặc dù
đức Phật đã giảng dạy rất nhiều việc, nhưng chính ra
đức Phật đã dạy về lý vô thường trong
hơi thở cuối của ngài. Truyền thuyết kể rằng,
đó là lời nói trước câu tuyên bố cuối cùng mà
đức Phật để lại trước khi ngài nhập
diệt: "Tất cả các pháp hữu vi đều vô thường."
Có nghĩa là, "Mọi vật đều thay đổi."
Bác bạn của tôi, Alta, mất khi
bà được bảy mươi chín tuổi. Tôi gặp bác
khoảng hai mươi lăm năm trước đó, khi bác ghi tên học lớp yoga do
tôi hướng dẫn. Bác bảo tôi, "Ông nhà của tôi vừa mới mất sau một thời gian
dài bệnh hoạn, và bây giờ thì tôi bắt đầu xây
dựng đời mình lại từ đầu." Bác ta trở
nên ham thích học những lớp về tâm linh và theo học hết những khóa
do tôi hướng dẫn. Có lẽ bác cho rằng tôi là thầy của bác, nhưng thật ra,
bác mới chính là thầy của tôi.
Câu truyện về bác Alta bắt
đầu biến đổi khoảng mười năm trước đây. Bác
bị trặc lưng, có lẽ trong một chuyến chạy bộ ba dặm Anh thường ngày
của bác, và vì cơn đau khá dữ dội, bạn của
bác thuyết phục bác nên đi khám bác
sĩ.
"Lần cuối bác
đi khám sức khoẻ là lần nào?" Bác sĩ
hỏi.
"Chắc cũng
đã ba mươi lăm
năm rồi," bác Alta đáp.
Đôi lông mày của vị bác
sĩ hơi nhướng cao. "Ba mươi lăm năm?
Thế còn bác khám ngực và thử mammograms thì sao?"
"Tôi chưa thử bao giờ."
"Còn những 'thay
đổi khác' thì như thế nào?"
"Tôi
đã trải qua hết," bác trả lời.
Trải qua những biến cố
đổi thay trong cuộc đời là việc mà bác
Alta sành sỏi nhất, và với khả năng ấy, bác là
một gương mẫu cho tôi. Chúng tôi đã
trở thành bạn thân, bỏ ra nhiều ngày mưa mùa
đông trong phòng khâu vá của bác, thường là
để may quần áo cho tôi. Tôi kể cho bác nghe
về gia đình của tôi, và bác kể chuyện của bác - những câu chuyện mà
phụ nữ thường hay tâm sự với nhau trong khi may vá. Tôi thường cảm thấy
nhẹ nhõm khi thấy những chuyện tôi cho là một vấn
đề, đối với bác lại chẳng đáng gì hết.
Và tôi để ý thấy bác có thể kể cho tôi nghe
về những khó khăn trong gia đình bác, mà tôi thấy thật to lớn,
trong khi bác vẫn điềm đạm may vá không trật
một đường kim. Tôi biết bác buồn, nhưng bác vẫn có vẽ thoải mái. "Bác
không bất mãn sao?" Tôi hay hỏi. "Mình
đã làm hết những gì có thể làm rồi," bác trả lời, "thì bực mình
cũng chẳng có ích lợi gì."
Khi chúng ta thật sự hiểu rằng
bất cứ một việc gì rồi cũng thay đổi, ta sẽ
có được một cái nhìn sáng suốt hơn đối
với những biến cố xảy ra trong đời mình. Giả sử như khi gặp một
hoàn cảnh khổ đau nào ta không thể
thay đổi được, ít nhất, ta cũng có một niềm
tin là nỗi đau ấy sẽ không kéo dài
mãi mãi. Nhiều khi, chính cái ý nghĩ cho rằng nỗi
đau sẽ không bao giờ chấm dứt đã khiến
ta không thể chịu đựng nổi. Khi an ủi những
ai đang chịu tang, người ta thường nói, "Thời gian sẽ chữa lành hết
tất cả," nhưng người nghe khó có thể tin được
việc ấy. Trong cơn đau, chuyện ấy thấy mơ hồ quá. Chánh kiến có nghĩa là
ta cảm thấy khổ đau, nhưng vẫn nhớ rằng nỗi
đau nào cũng có một giới hạn, và từ đó
ta tìm được an ủi. Và, khi mọi
việc là hạnh phúc, ngay cả cực kỳ hạnh phúc, ý thức về vô thường sẽ không
làm giảm bớt niềm vui của ta, mà còn làm tăng
trưởng nó thêm nữa.
Chánh Tư Duy: Thực Tập Sự
Khác Biệt
Nhiều năm
trước đây, khi tôi mới được hơn hai mươi tuổi, đi phi cơ đối với tôi vẫn còn
là một cái gì mới lạ lắm, tôi bay đến thành
phố Newyork từ Atlanta, Georgia. Hôm ấy trời mưa to, và chiếc phi cơ chong
chóng của tôi không bay cao hơn mây, nên chúng tôi bị dằn vật dữ lắm. Tôi
ngồi bám cứng lấy chỗ gác tay trên ghế, nghiến chặt răng,
cứ thỉnh thoảng lại đếm nhịp tim của mình, và mong từng phút cho
đến khi phi cơ đáp. Một "bà
đứng tuổi" trong chiếc ghế cạnh bên
(có lẽ cũng khoảng tuổi tôi mà thôi) ngồi bất
động, nhận đĩa ăn trưa từ cô tiếp viên hàng không, và múc
ăn. "Sao cô ta chẳng sợ gì hết vậy?"
tôi tự hỏi. Sau khi phi cơ vừa chạm bánh xuống phi
đạo của phi trường Newyork, tôi thở phào
nhẹ nhõm, "Cám ơn thượng đế!" Cô ta quay sang
tôi và mỉm cười. "Đúng vậy!" cô đáp.
Đó là một bài học thật đáng để tôi nhớ
mãi. Cô ta có sợ đó chứ, nhưng cô vẫn
thưởng thức được bửa ăn trưa của mình.
Bạn của tôi Elizabeth bị giải
phẩu ung thư ngực mười năm trước đây, và
trong khi tôi và Jim, chồng chị, đứng chờ ngoài
phòng hồi sức, mấy cô y tá ghé qua báo cho chúng tôi nghe tin tức về chị
và kể lại là thấy chị rất vui tươi khi họ đẩy
vào phòng mổ. Họ tỏ vẽ khâm phục sự thoải mái và thái
độ không sợ sệt của chị. Sau này tôi
nói lại cho Elizabeth nghe về chuyện của mấy cô y tá kể. "Có thật là chị
không sợ hãi một chút nào không?" tôi hỏi. Chị cười to và nói, "Tôi sợ
khiếp đi đó chứ, nhưng tôi nghĩ làm
người khác bất an chẳng có ích lợi gì."
Cô bạn ngồi trên phi cơ cũng
như chị Elizabeth, cả hai đã không hề
chối bỏ cảm xúc của mình. Cả hai nào có ưa thích gì về chuyện xảy
đến cho họ, nhưng họ cũng không có một sự
chọn lựa nào khác. Sự chọn lựa duy nhất mà họ có là cái thái
độ trong việc sử dụng thời gian ấy. Có được
khả năng để chọn lựa một thái độ, một phong cách, đối với tôi, dường như là
một tự do lớn. Có lẽ đó là ý nghĩa sâu
sắc nhất của câu "tự do chọn lựa."
Suy nghĩ chân chánh, tức chánh
tư duy, là những gì phát huy trong tâm thức khi chúng ta hiểu rằng mình có
sự tự do chọn lựa. Sự sống lúc nào cũng sẽ khai mở theo
đường lối của nó: dễ chịu hoặc khó khăn, thất
vọng hoặc vui tươi, biết trước được hoặc bất ngờ... hoặc tất cả những cái
vừa kể! Hạnh phúc biết bao khi biết rằng, bất cứ một làn sóng nào
từ biển khơi xô đến, ta cũng có thể vui vẻ
cởi lên nó được. Nếu thiện nghệ hơn
một chút, ta có thể như những người cởi ván lướt sóng (surfer) chuyên
môn, mừng vui mỗi khi được gặp những cơn sóng
to.
Áp dụng sự suy nghĩ chân chánh
vào đời sống hằng ngày, có nghĩa là ta
cương quyết hành xử sao để nới rộng cái giới
hạn của những phản ứng bị điều kiện của ta. Nếu tôi muốn có những bắp thịt
nở nang, tôi cần phải lợi dụng hết mọi cơ hội để tập thể dục. Nếu tôi muốn
có một lối sống thương yêu, rộng lượng và không sợ hãi, tôi cần
phải thực tập khắc phục những khuynh hướng giận dữ, tham lam hoặc mê lầm
trong tôi. Cuộc đời là một phòng tập
thể dục tuyệt diệu. Mỗi hoàn cảnh là một cơ hội tu tập. Trong thuật ngữ
của nhà Phật, đó còn
được gọi là phát triển sự vô tham, vô
sân và vô si.
Tha Thứ
Bà ngoại của Ronna
đã thực tập sân hận. Trong suốt ba
mươi năm cuối của đời bà, bà mang
trong lòng một nỗi hận câm lặng đối với má
của Ronna. Sự căm hận ấy vẫn tiếp tục mặc dù ký ức của bà
đã phai mờ. Một hôm, lúc gần kề với
cái chết, bà cụ hỏi Ronna, "Con có nhớ ta giận má con về việc gì không?"
Ronna nhớ, nhưng cô ta thấy nhắc lại cũng chẳng ích lợi gì. "Không," cô
đáp, "Con cũng không nhớ nữa!" "Ta cũng quên
mất tiêu rồi," bà ngoại cô nói, "nhưng ta nhớ là ta giận nó lắm!"
Tập dượt "bắp thịt" sân hận
nhiều đến độ nó tự hoạt động một mình,
chuyện ấy tôi thấy tội nghiệp quá! Tôi bất mãn nhất là mỗi khi nghe ai
nói, "Ngày nào mà tôi vẫn còn sống tôi sẽ không bao giờ tha thứ cho người
đó!" Tôi tự nghĩ, "Thật tội nghiệp cho cô ta.
Cô đã bị người kia làm đau khổ, và
bây giờ cô còn lại định ôm giữ nỗi đau ấy mãi
bằng cách tôn thờ nó trong ký ức." Việc ấy gợi tôi nhớ
đến những cảnh trong phim cao bồi được quay vào
thập niên 40, có vị cảnh sát trưởng bắt một tội phạm nhốt vào xà-lim và
đóng cửa lại, nhưng không khóa. Điều khôi hài
là người tù la lối và khua những chấn song sắt ầm ĩ, trong khi khán giả
đều biết rằng anh ta chỉ cần đưa tay mở cửa là
có thể bước ra.
Nhưng
đôi khi tôi thấy người ta còn làm
những chuyện tệ hơn là chỉ khua những chấn song. Thay vì tự giải cứu,
chúng ta lại khư khư ôm giữ lấy cơn giận mà ta cho là chính
đáng, bằng cách cứ nhắc đi, nhắc lại những
đau buồn của mình. Việc đó cũng giống
như là ta đang cầm cây chìa
khóa trong tay, vói tay tự khóa nhốt mình lại, rồi quăng
chiếc chìa khóa ra ngoài xa.
Trong một bài pháp
đức Phật giảng tại vườn Jetavana, ngài
dạy, những ai cứ tiếp tục nghĩ về những lúc mình bị lạm dụng hoặc bị làm
xấu hổ, sẽ không bao giờ có thể giải thoát ra khỏi sự sân hận. Và những ai
có thể buông bỏ những tư tưởng ấy, ngài dạy tiếp, sẽ có thể biết thương
yêu được. Có lần tôi đang giải thích điều này
cho một lớp của tôi, thì có một cậu học trò nói to, "Lẽ dĩ nhiên, thưa cô.
Tha thứ là cái giá mà ta phải trả cho sự tự do." "Tom," tôi nói, "câu ấy
hay lắm. Tôi có thể dùng nó để đi dạy được
không?" Cậu ta đáp, "Được chứ, nhưng cô phải nhớ nhắc là "Tom nói
câu đó' " Và lúc nào tôi cũng nhắc
điều ấy.
Những Củ Hành Tây
Không phải bao giờ bạn cũng có
thể biết được lúc nào, hoặc vì lý do
gì, lòng tham lam của mình lại nổi dậy. Chánh Tư Duy, tức suy nghĩ chân
chánh là một sự cố gắng để đối trị lại sự nổi
dậy ấy. Mùa thu năm ngoái, tôi và
chị bạn thân Mary Kay trồng hành tây vào đúng
ngày trăng rằm tháng mười. Quyển lịch
niên giám nói rằng trăng tròn
sẽ bảo đảm cho việc được mùa to. Công
việc gieo trồng rất là chậm chạp, vì mỗi cọng hành non mỏng manh cần phải
được trồng riêng rẽ, nhưng cũng rất là
thích thú vì thời tiết rất mát và chúng tôi có dịp tâm sự với nhau.
Chúng tôi chúc mừng lẫn nhau về
việc đã chọn
được một ngày lành tháng tốt
để khởi công. Tôi nói, "Nếu chúng ta thật sự
thu hoạch được một mùa thật to thì sao? Chị có nghĩ là tụi
mình có thể cất chúng trong nhà hết không? Hay là phải phơi khô? Ta có
phải thái nhỏ ra, bỏ vào bao và giữ trong tủ lạnh không?" "Tụi mình có thể
đem biếu bớt cho những tiệm ăn dành
cho người nghèo," Mary Kay nói, "hoặc là cho những nơi nuôi những người
không nhà." Mary Kay là giám đốc của một nhà
tạm trú dành cho những người vô gia cư, và tôi cũng thường hay mang
đồ đến đó cho. Dù vậy, dẫu biết rằng
tôi có thể ra chợ mua một xe củ hành đem tặng
họ, nhưng tôi muốn là những cây hành từ khu vườn này phải
đi vào bụng của tôi. Một cây
hành là một cây hành, và tôi trồng là vì tôi thích trồng, không phải vì
tôi không thể mua được, mặc dù vậy tôi
cũng cảm thấy rất khó chịu về một sự mất mát giả tưởng trong tương lai.
Đó là một nỗi
đau thật sự, một tâm dính mắc vào một
cái gì nó nghĩ là nó cần, cho dù đó chỉ là
một cọng hành. Tôi không muốn phải thú tội về sự tham lam của mình, tránh
lãnh thêm khổ đau, nên tôi vượt qua
nó. "Lẽ dĩ nhiên tụi mình sẽ đem cho," Tôi
nói thật lòng. Và tôi cảm thấy vô cùng sảng khoái.
Thành phố Alexander Valley tại
California nơi tôi cư ngụ, ở một tiệm hàng có một bảng hiệu ghi, "Tự do
không phải là quyền cho phép bạn làm bất cứ việc gì bạn muốn, mà là
để làm những gì bạn cần nên làm."
Cháu Ngoại Tôi và Tu Viện
Mấy năm
trước đây, tôi có tự nguyện rằng khi đối diện với bất cứ một việc gì
mà tôi sợ hãi, và nếu tôi nghĩ là mình có thể làm
được, tôi sẽ làm. Châm ngôn của tôi
là, "Nếu người khác làm được, thì tôi
cũng có thể làm được." Nguyên tắc ấy
đã thúc
đẩy tôi làm những việc mà bình thường có lẽ tôi
đã chịu khuất phục. Nó cho phép tôi
dám lặn xuống đáy sâu để thấy được một thế
giới kỳ diệu dưới lòng đại dương, và
nó cũng đã nâng
đở tôi qua những kinh nghiệm mãnh liệt
và dị thường trong thiền tập, để tôi có thể
nhìn được tận mặt một thế giới kỳ diệu
của nội tâm.
Sợ hãi là một thói quen của tâm
thức. Có người có thói quen ấy nhiều hơn kẻ khác. Nhưng nó bao giờ cũng là
dư thừa và không cần thiết. Bị giam hãm bởi sự sợ hãi là một hình tướng
của si mê. Ta chỉ có thể hoặc là làm được một
việc gì, hoặc là không làm được, thế
thôi. Nếu tôi thật sự không thể làm
được - ví dụ như tôi rất vụng về về máy móc, lái máy bay là chuyện
không khôn ngoan chút nào hết - tôi sẽ không làm. Và nếu tôi thật sự có
khả năng, và nếu
đó là một công việc lành mạnh, tôi sẽ
bắt buộc mình phải cố gắng. Có một hôm tôi khám phá ra rằng, sự sợ hãi
thật ra chỉ là một chuỗi tác động của tế bào
thần kinh trong bộ óc mà thôi! Thấy được điều
ấy, tôi rất bất mãn là sao mình lại chịu giam cầm bởi những dòng
điện đơn sơ chạy ngoằn ngoèo trong
đầu ấy!
Các bà nội, bà ngoại thường
đóng vai trò của một vị thầy tâm linh.
Bà ngoại tôi là vị thầy đầu tiên của
tôi, và tôi hy vọng sẽ tiếp tục được nhận lãnh
vai trò ấy của bà cho các thế hệ về sau. Bài học mà tôi lãnh hội nhiều
nhất từ bà là phải biết cương quyết chịu đựng
khi đối diện với những hoàn cảnh khó khăn.
"- đâu nói rằng," bà sẽ hỏi, "là ta lúc nào cũng phải vui vẻ?"
Có một lần tôi dẫn
đứa cháu tôi, Collin, đến thăm chị bạn Mary,
lúc nó mới lên ba tuổi. Mary là một tu sĩ thuộc dòng Nữ Tu
Dominican ở San Rafael. Lúc chúng tôi đến
viếng thăm, chị đang sống tại một tu viện thật đẹp và
đồ sộ, đã
được sử dụng làm trung ương cho dòng tu của chị trong nhiều năm
qua. Tu viện có những cánh cửa to lớn, nặng nề và hùng vĩ, với
những chiếc cầu thang rất dài dẫn lên chúng. Mary kể cho tôi nghe những
cánh cửa ấy đối với chị dễ sợ như thế nào
lần đầu chị đến đây, cách đây đã hơn
ba mươi năm, khi chị mới bước vào dòng
tu. Thằng Collin cũng chẳng thích chút nào.
"Cháu không thích mấy nấc cầu
thang này, bà ngoại. Mình đi về đi!"
"Bây giờ không phải là thời
gian đi-về. Bây giờ là thời gian thăm-viếng-bác-Mary."
"Cháu thật là không
thích mấy nấc thang này, ngoại."
"Cháu
đâu cần phải thích chúng, Collin. Cháu chỉ
cần leo lên chúng mà thôi. Nắm tay ngoại
đi, hai bà cháu mình cùng
đi với nhau."
Chúng tôi
đã ở lại thăm
Mary, và dĩ nhiên, Collin cũng thích thú lắm. Nó dám leo lên cả
chiếc cầu thang chánh và dài nhất của tu viện. "Coi kìa bà ngoại, nhìn
những nấc thang ấy kìa!" Nó cảm thấy hảnh diện về chiến thắng của nó, và
tôi thì cảm thấy rất vui về những bước đầu trên
con đường tu tập tâm linh của nó. Tôi thường
kể truyện của Collin lại cho các học trò của tôi,
đặc biệt cho những ai đang thực tập thiền
quán trong một khóa tu. Tôi kể câu chuyện ấy những khi nghe một thiền sinh
nào nói, "Tôi đang kinh nghiệm thân và
tâm tôi một cách rất mới lạ, tôi cảm thấy sợ hãi quá!" Tôi muốn họ biết
rằng cái gì mới lạ và khác thường bao giờ cũng có thể gây nên một cảm giác
sợ hãi hết, nhưng cái sợ ấy không cần thiết. Nếu có một ai
đó nắm tay ta, "sợ hãi" sẽ
đổi thành "thú vị", và "thú vị" là một
trong những yếu tố của sự giác ngộ.
Chánh Nghiệp: Hành
Động Chân Chánh
Những giới luật
đạo đức đa số đều thường có dính dáng đến
những sự cấm đoán: không được làm cái này, không
được làm cái kia. Tất cả các truyền
thống tâm linh mà tôi biết, ít nhiều gì thì cũng thường có chung một bảng
danh sách liệt kê những điều ngăn cấm. Chuyện
đó cũng dễ hiểu, vì tất cả những điều
cấm ấy đều được phát triển từ ý thức rằng, nếu chúng ta không sáng suốt,
sự thúc đẩy tự nhiên của tâm tham lam và sân hận trong ta sẽ khiến
ta làm những việc lạm dụng hoặc có hại cho kẻ khác.
Điều luật cơ bản nhất là, "Đừng
gây thêm khổ đau."
Trong kinh
điển Phật giáo, khi nói đến chánh nghiệp,
người ta dùng chữ hiri và ottappa, thường
được dịch là "biết hổ thẹn" và "biết
khiếp sợ." Hổ thẹn và khiếp sợ có mang một ngụ ý hơi tiêu cực, nhưng tôi
thích những chữ ấy. Tôi tôn trọng cái ý niệm về một trách nhiệm to tát mà
những danh từ ấy muốn chuyển đạt. Nói chung
lại, chúng có nghĩa là mỗi một hành
động nào của ta cũng đều có một
khả năng gây nên khổ
đau, và mỗi một việc làm nào của ta
cũng đều có những hậu quả lan rộng, mà
ta không bao giờ có thể tưởng tượng nổi. Nhưng việc ấy không có nghĩa là
ta không nên làm gì hết. Nó có nghĩa là ta nên hành
động cho thật cẩn trọng. Tất cả mọi hành
động đều quan trọng.
Ông Ngoại Tôi và Những Trái Cam
Tôi không nhớ rằng có lúc nào
mình lại không biết chuyện ông ngoại và những trái cam không! Tôi
đoán có lẽ tôi đã nghe ông kể khi tôi
mới lên chín hoặc mười gì đó. Chắc tôi đã
thắc mắc hỏi ông, vì thấy ông làm việc tại một cây xăng,
mà ông không hề biết lái xe.
"Khi Ngoại mới
đến xứ Hoa-kỳ," ông Ngoại tôi kể, "Ngoại mới
được hai mươi lăm tuổi, và có người tập cho Ngoại lái xe
đạp. Ngoại chạy chưa được vững lắm, và
một hôm ông Ngoại vô ý đụng nhầm một bà
đang ôm những giỏ giấy đi chợ. Một chiếc giỏ
rơi xuống đất, và những trái cam đổ ra
lăn lóc khắp nơi trên mặt đường. Ngoại
hối hận về hậu quả mình gây ra quá, và rồi từ
đó trở đi quyết định là mình sẽ không
bao giờ lái một cái gì nữa hết!"
"Nhưng
đó chỉ mới có một lần thôi mà," tôi
phản đối.
"Việc
đó không thành vấn
đề," ông Ngoại nói. "Sau khi Ngoại biết được
cảm giác đụng phải người khác như thế nào rồi, Ngoại không bao giờ
muốn đâm vào ai một lần nữa."
Có lẽ
đó là một mức
độ hơi cực đoan của hiri và
ottappa, nhưng tôi cảm thấy kính phục ông Ngoại tôi rất nhiều. Và
trong suốt đời ông, tôi đã nghe ông
lặp đi lặp lại câu chuyện ấy rất nhiều lần,
tôi có cảm tưởng là Ngoại tôi rất hài lòng với quyết
định của mình. Ông sống với một ước
vọng là sẽ không làm đau khổ ai hết. Như ông
đã nói, "Tôi không bao giờ muốn gây thêm phiền phức gì cho bất cứ
ai."
Chánh Nghiệp Tích
Cực: Cứu Cấp Trên Phi Cơ
Thật ra, những hành
động cấm đoán chỉ mới là một nửa phần
của chánh nghiệp mà thôi. Một nửa phần còn lại là biết sử dụng hết mọi cơ
hội của mình để làm vơi bớt khổ
đau. Nhận lãnh trọn thế giới này không
phải chỉ là một hành động cao thượng đối với
kẻ khác mà thôi, nó còn to tát hơn thế nhiều, nó là một việc làm
rất tốt lành cho chính ta.
Đôi khi hồi tưởng lại quá khứ,
tôi cảm thấy rất buồn v
ì đã bỏ
lở những cơ hội mà tôi có thể hành động để làm
vơi chút phần nào khổ đau cho người khác. Năm
năm trước đây, tôi đã lở một cơ hội trên một chuyến bay, tôi vẫn
còn nhớ mãi và học được rất nhiều từ đó. Tuần
vừa qua, suýt chút nữa là tôi lại đánh
mất thêm một cơ hội nữa, nhưng tôi ý thức kịp thời. Sau
đó, tôi tự hỏi, không biết lỗi lầm đầu tiên
của tôi có được bôi xóa nhờ sự sửa sai lần
sau này không. Và tôi ý thức rằng, việc ấy không
ăn chung gì hết! Hành
động chân chánh, tức chánh nghiệp, là
một đòi hỏi thường xuyên trong suốt
cuộc đời. Không có một thời điểm nào
để ta có thể dừng lại và cân bằng số
điểm, xem mình thắng bại ra sao. Nếu
có một hành động nào là cần thiết và
hành động ấy tốt lành, thì nó cần phải
được thực hiện. Việc ấy nghe như là
một sứ mạng rất to tát, như một lời nguyện của vị bồ tát, phiền não vô
tận thệ nguyện đoạn, muốn
đoạn dứt hết mọi phiền não, mà sự thật
là vậy. Nhưng thật ra, việc ấy cũng không khó như ta nghĩ
đâu. Những quyết định của ta sẽ trở nên
dễ dàng hơn. Vì trốn tránh không phải là một sự chọn lựa, nên công việc
chỉ là ý thức được những việc nào là
tốt lành và thực hành chúng mà thôi.
Cứu Cấp Trên Phi Cơ: I. Sự
Sai Lầm
Tôi ngồi yên trong ghế của
mình, cột dây an toàn xong xuôi, trong khi những người hành khách cuối
cùng bước lên phi cơ từ Boston đi San
Francisco. Bổng có giọng nói cáu kỉnh của một bà mẹ gây sự chú ý
cho tôi. Tôi ngước nhìn lên và thấy gương mặt của bà ta
đỏ bừng và căng
thẳng. Đứa con trai nhỏ mặt trông tái mét và sợ sệt. Bà ta loay
hoay với mấy chiếc giỏ xách tay, đẩy đứa bé
đi tới trước đến chỗ ngồi của bà, mắng nhiếc nó từng bước một. Tôi
nhíu mặt và nhìn sang chỗ khác, tôi có những ý nghĩ không tốt về bà ta.
Chuyến bay dài sáu giờ
đồng hồ. Hai mẹ con ngồi phía sau tôi cách
chừng vài dãy ghế, đều đặn, tôi có thể
nghe tiếng gay gắt của bà. Mỗi lần nghe tiếng bà là tôi cảm thấy
bực mình. Tôi ước gì mình đã
đi trên một chuyến bay khác. Tôi cảm
thấy khó chịu vì bà ta đã làm hỏng cái
hy vọng rằng đây sẽ là một dịp cho tôi
nghỉ ngơi. Tôi lo lắng cho đứa bé trai, và
tưởng tượng ra những hình ảnh đen tối cho
tương lai và cuộc đời của nó. Tôi nghĩ
rồi sẽ có một ngày nào đó, những hành
động của người đàn bà này sẽ trở lại
ám ảnh bà ta. Tôi ngồi yên trong ghế, suy nghĩ
đủ hết tất cả mọi chuyện, trừ việc giúp đở
họ.
Trong lúc
đó, tôi không có một giải pháp can thiệp nào
hết. Có lẽ tôi quá bực mình, tôi nghĩ tôi sẽ lại thốt ra những lời bất
nhã. "Mình nói gì," tôi tự hỏi, "mà lại có thể giúp ích
được cho họ?"
Phi cơ
đáp xuống, người đàn bà và
đứa con trai mất dạng vào trong
đám đông. Khi ấy, có lẽ vì cơn nước lũ
lụt phê phán đã dừng, tôi biết
được việc gì mình
đã có thể làm. Tôi
đã có thể dừng lại bên chỗ dãy ghế của
bà ta, mỉm cười và nói, "Đi xa với lại một
đứa bé như vầy chắc chắn là cực lắm, phải không? Tôi cũng có lần
làm như vậy, lâu lắm rồi, và tôi vẫn còn nhớ mãi. Bà
đi như vầy lâu chưa? Bà có phải chờ
đợi ở phi trường lâu không? Bà
đi về đâu? Có ai ra đón không?" Dĩ nhiên
là tôi không cần phải hỏi tất cả những câu ấy. Chừng một hoặc hai
câu cũng đủ tỏ cho bà ta biết rằng tôi
thấy được nỗi cực nhọc của bà và lưu
tâm đến. Việc đó chắc chắn sẽ giúp được phần
nào.
Nào ai biết
được việc gì
đã có thể xảy ra nếu tôi và bà nói
chuyện với nhau? Có lẽ tôi đã có thể
nói cho bà ta nghe một vài điều hữu ích về
vấn đề nuôi dạy con. Có lẽ tôi đã có thể khiến cho bà cố gắng thay
đổi một phần nào. Có lẽ cuộc
đời của đứa bé trai ấy đã thay
đổi.
Những việc
đáng lẽ tôi
đã phải làm trở nên rất rõ ràng sau
đó, khi nó đã là quá trể. Tôi cảm thấy
hối hận. Nhà Phật có dạy rằng hành động này
sẽ "làm điều kiện" cho hành
động khác, và sự không-hành-động
của tôi đã điều kiện cho một quyết
định là mình sẽ hành động tốt hơn về
sau.
Cứu Cấp Trên Phi Cơ: II. Sửa
Sai.
Năm
năm sau, một lần nữa, tôi ngồi yên trong ghế trên chuyến bay United
33, từ Boston đến San Francisco, tôi hy vọng
sẽ được sáu giờ rảnh rang để viết lách, vì chỉ còn vài tuần nữa là
đến kỳ hạn cho bản thảo của quyển sách này.
Người đàn bà ngồi cạnh tôi có vẻ bất
an, bồn chồn trong ghế ngồi, háo hức muốn nói chuyện. Bà kể tôi nghe, gần
đây bà bị té và
đầu xương cụt của bà bị bầm tím, bây
giờ mỗi khi ngồi nó đau đớn lắm. Bà
giải thích là bà hơi lo và không vui, vì chuyến bay này khá dài mà lại
không được phép hút thuốc.
Tôi bỏ một thời gian
để nói chuyện, hy vọng rồi bà ta sẽ ổn
định xuống để tôi có thể trở lại viết lách mà
không tỏ ra mất lịch sự. Tôi lào xào sắp xếp lại mớ giấy tờ của mình, cố ý
cho bà thấy là tôi muốn được yên
để làm việc. Mỗi lần chúng tôi kết
thúc một chủ đề và tôi bắt
đầu quay sang chỗ khác, bà ta lại bắt
đầu một đề tài mới.
Giờ
ăn trưa đến và
đi. Tôi hy vọng là dịp nói chuyện
trong giờ ăn sẽ cho phép tôi được yên
sau đó, để có thể nghiêm chỉnh tiếp
tục sự viết lách của mình, nhưng việc ấy đã
không xảy ra. Chuyến bay càng kéo dài, bà ta lại càng trở nên bất an. Lưng
của bà đau và bà thèm thuốc lá.
Thật ra chính là bà, chứ không
phải tôi, đã
đánh thức tôi dậy trước khi tôi lại phạm lỗi
một lần nữa. Chúng tôi kể cho nhau nghe về việc làm của mình, và bà
thắc mắc, hỏi một chuỗi câu hỏi về công việc của một người
đi hướng dẫn thiền tập. Tôi dạy cho những ai?
Những gì tôi dạy có ích lợi cho những người bị căng
thẳng không? Nó có khó không? Nếu bà muốn học thì sao? Bà hăm
hở nhờ tôi ghi xuống tên của những quyển sách bà có thể
đọc, những cuộn băng bà có thể mua,
những nơi bà có thể tìm đến học.
Cuối cùng, tôi hiểu. Tôi nói,
"Bà có muốn tôi chỉ cho bà phương pháp thiền tập ngay bây giờ không? Nó có
thể sẽ làm bà cảm thấy dễ chịu hơn."
"Vâng, tôi muốn chứ," bà
đáp. "Tôi rất là muốn lắm."
Tôi bỏ viết xuống. Tôi giảng
cho bà nghe vài lời hướng dẫn về thiền tập. Bà ta ngồi yên trong một thời
gian. Và sau đó chúng tôi bàn về kinh
nghiệm của bà.
Bà nói bà cảm thấy
được thoải mái hơn. Tôi giải thích, một cảm
giác thoải mái hơn một chút sẽ làm cho bà ta cảm thấy thoải
mái hơn thật nhiều, bởi vì bây giờ bà có thể tin chắc là mình có
khả năng vượt qua được chuyến bay này.
Chúng tôi nói về việc tâm của ta có thể nắm lấy một sự khó chịu nho nhỏ
thôi và thổi phòng nó lên thật to.
Tôi bắt
đầu nhận ra là mình
đang có những giờ phút rất vui. Tôi chợt
thấy, thật là rất buồn cười khi ta bận rộn viết về niềm vui của
những hành động vô kỷ và từ ái, về
việc đem tình thương ra ban rải mỗi
khi có dịp, trong khi ta lại cố chối bỏ một người
đang khổ đau ngồi ngay sát cạnh bên
ta. Trong nửa giờ cuối của chuyến bay bà ta ngủ say, và tôi
đã viết một bài thật hay.
Chánh Ngữ:
Một Lời
Đã
Nói Ra, Bốn Ngựa Không Theo Kịp
Một tấm bảng trong một cửa tiệm
cạnh nhà tôi ghi:
Cẩn thận trong việc chọn lời của bạn
Giữ cho chúng ngắn gọn và ngọt ngào
Bạn không bao giờ biết sẽ có một ngày
Những lời nào rồi bạn sẽ phải lãnh.
Tôi
đã suy nghĩ rất nhiều về sự kiện là
đức Phật đã dành riêng một chi phần
đặc biệt trong Bát Chánh Đạo cho sự nói năng
chân chánh, tức Chánh Ngữ. Ngài có thể
đơn giản hóa bằng cách nhập nó vào chung với Chánh Nghiệp, tức hành
động chân chánh, cũng được vậy! Vì nói
năng cũng là một hình thái của hành
động. Có thời gian tôi nghĩ có lẽ đức Phật để
nó riêng ra là vì chúng ta nói nhiều quá. Nhưng rồi sau
đó tôi đã
đổi ý - vì biết có một số người không nói gì nhiều hết. Bây
giờ, tôi nghĩ nó được phân loại riêng
là vì lời nói của ta có một quyền năng rất
lớn.
Vài năm
trước đây, tôi có đọc được một câu trên một trang báo. Nó
được in ở cuối trang như một câu châm ngôn chêm
vào cho đầy hết trang báo, vì bài viết
vẫn còn dư một khoảng trống. Tôi không còn nhớ bài viết về
đề tài gì, cũng như trên tờ báo nào,
nhưng tôi vẫn còn nhớ rõ câu ấy. Nó ghi, "Gậy và
đá đôi khi có thể làm gẫy xương
ta, nhưng lời nói thì lúc nào cũng có thể gây thương tích cho ta."
Đôi khi trong lớp, tôi thường
hỏi, "Em n
ào đã từng bị gẫy
xương giơ tay lên." Sau khi các em đưa tay lên,
tôi nói, "Em nào bây giờ vẫn còn đau vì
gẫy xương thì cứ để tay cho tôi xem." Thường
thường thì tất cả những bàn tay đều bỏ
xuống. Sau đó tôi hỏi tiếp, "Giơ tay lên nếu có em nào vẫn còn cảm
thấy đau đớn về một chuyện gì
đó mà ai nói với em trong một năm
vừa qua." Rất nhiều bàn tay đưa lên.
"Giữ tay ở đó nếu em nào vẫn còn cảm
thấy khổ đau vì một lời phê bình của
ai về mình trong năm năm qua." Những bàn
tay vẫn còn đưa cao. "Mười năm qua... hai
mươi năm qua... ba mươi năm qua... lời nói của ai khi em mới được năm
tuổi." Nhiều bàn tay vẫn còn giơ cao. Họ quay chung quanh nhìn nhau
và mỉm cười, ngượng ngùng, nhưng tôi không nghĩ là có ai vui vẻ gì.
Đó là một giây phút thật dễ thương của
sự chia xẻ lòng từ ái, của việc làm chứng nhân cho một gánh nặng mà tất cả
chúng ta đang mang trên vai, một nỗi
đau của những lời phê bình gây thương
tích. Có lẽ chúng ta nghĩ nếu mình là người lớn, ta phải bỏ qua
được những lời chê trách trẻ con của
người khác. Tôi tự hỏi, nếu ta có bao giờ thật sự quên bỏ
được chúng không! Tôi nghĩ tất cả chúng ta
đều rất dễ bị thương tích, như một cái bánh kem-su, bên ngoài tuy
dòn nhưng bên trong rất là mong manh, và cũng rất là ngọt ngào.
Vào thập niên 60, châm ngôn của
xả hội thời ấy là "Hãy bộc lộ ra hết tất cả," tôi cứ tưởng tượng về việc
mình sẽ viết một quyển sách có tựa đề
Giữ Hết Lại Bên Trong. Tôi cảm thấy lo âu vì thấy mọi người không ý
thức được rằng chúng ta có thể dễ bị thương
tích đến mức nào. Nhưng mấy năm gần
đây, tôi đã đổi tựa quyển sách của tôi
thành Giữ Nó Lại Bên Trong Cho Đến
Khi Nào Chúng Ta Tìm Được Một Đường
Lối Để Phát Biểu Cho Có Hữu Ích.
Tôi tin là chúng ta có bổn phận
phải nói sự thật. Nói lên sự thật là một phương cách giúp ta chăm
sóc kẻ khác. Đức Phật dạy chúng ta phải hoàn toàn chân thật, nhưng
ngài cũng dạy thêm là bất cứ một lời nói nào của ta cũng phải có hai yếu
tố: chân chánh và hữu ích.
Khi dạy về Chánh Ngữ,
đức Phật cũng có cung cấp cho ta một kim chỉ
nam trong việc sửa sai người khác. Một sự khiển trách, đức Phật dạy, phải
có đủ những yếu tố sau đây: thời gian, chân thật, nhẹ nhàng, dễ
thương và bổ ích. Khi tôi nói cho người ta nghe về những tiêu chuẩn ấy, họ
thường kêu lên, "Nhưng nếu vậy thì sẽ không còn ai có thể khiển trách ai
được nữa hết!" Tôi thì nghĩ khác. Tôi
nghĩ với Chánh Ngữ người ta vẫn có thể phát biểu ý kiến hoặc nhận xét của
mình qua một đường lối mà người kia có
thể lắng nghe và sử dụng được, mà
không hề cảm thấy mình bị thấp kém.
Luật Sáu Mươi Giây
Trình
độ sơ cấp của chánh ngữ là những lời
nói không gây đổ vỡ thêm cho bất cứ
một hoàn cảnh nào. Việc này sẽ ngăn ngừa được
những lỗi lầm căn bản, như là nói dối hoặc cố ý dùng những lời gây
khổ đau. Trình
độ cao cấp của chánh ngữ sẽ giúp duy trì
sự quân bình của hoàn cảnh, bằng cách không cộng thêm vào
đó yếu tố phá hại của việc nói những lời thị
phi.
Những lời thị phi tức là nói
chuyện về một người nào đó không có mặt. Trừ
những trường hợp hiếm hoi, khi có thể ta cần phải phát biểu một vấn đề nào
đó thay mặt cho một người khác. Khi nói
chuyện gièm pha về một người thứ ba là ta
đang mời gọi người nghe cùng chia xẻ
cái khoảng không gian cáu kỉnh, bất an trong tâm mình. Nói chuyện ca ngợi
về một người thứ ba có thể khiến cho người nghe cảm thấy họ là không quan
trọng. Như vậy tại sao ta lại không chọn nói về những gì
đang có mặt trong hiện tại?
Sau
đây là một bài tập về chánh ngữ cho
trình độ cao cấp. Bắt đầu ngày mai khi
bạn thức dậy, đừng nói chuyện phiếm. Xem việc
gì sẽ xảy ra nếu bạn không phê bình về bất cứ một ai không có mặt.
Cẩn thận lắng nghe tiếng nói trong tâm khi nó chuẩn bị
để phê phán, và bạn hãy tự hỏi, "Tại
sao mình phải nói như thế?" Thấy được ý định
của ta là phương cách hay nhất để biết
được lời phê phán mà ta sắp nói ra có là chánh ngữ hay không. Ý
định của ta có tốt lành không, có thật
sự là một ý muốn giúp đở người khác hay
không? Hay chỉ là để khoe khoang? Hoặc
là gièm pha?
Đôi khi b
àn chuyện thị
phi có vẽ dường như là vô hại, một cố gắng để
gợi chuyện, để trám cái khoảng trống im lặng giữa hai người. Tôi nghĩ
chúng ta ưa nói chuyện phiếm vì sợ người bạn của mình sẽ nghĩ rằng
ta không thấy thích thú đủ để nói chuyện với
họ. Khi ta có thể có mặt với một người nào
đó và nói, "Tôi
đang có một thời gian tuyệt vời và rất
thích cùng đi dạo với bạn (ăn với bạn, lắng
nghe nhạc với bạn, uống trà với bạn), nên chúng ta không cần phải
nói chuyện gì", đó là một hạnh phúc
lớn. Tôi xuất thân từ một gia đình của
những "nhà vô địch" thích nói chuyện, cho nên
tôi rất ngạc nhiên khi khám phá ra là mình lại rất thích những khoá tu
thiền im lặng. Rửa xà-lách, xắt cà-rốt trong thinh lặng, với một người
khác cũng rất là thân mật. Thật vậy, chia xẻ cái không gian thinh lặng của
công việc làm xà-lách với một người lạ trong vòng một tuần, khơi dậy một
cảm giác chúng tôi là những người bạn rất thân thiết.
Một trình
độ rất cao của Chánh Ngữ đòi hỏi ta
phải ý thức được ý định của mình trong
tất cả mọi sự truyền thông, không phải chỉ có trong việc nói chuyện
phiếm mà thôi. Tôi cũng bắt đầu xem xét lại
lời nói của chính mình sau một thời gian tu tập trong thinh lặng.
Khi trở về nhà, cũng mất dăm ba ngày
trước khi lời nói của tôi trở lại cái tốc độ
phản ứng quen thuộc của nó. Tôi đã có thể ghi nhận
được cái khoảng thời gian, từ khi câu trả lời
khởi lên trong tâm tôi và cho đến khi
nó thoát ra khỏi miệng. Tôi có đủ thời giờ để ý thức được động cơ nào
đã thúc
đẩy mình. Xét ra thì những động cơ
thúc đẩy tôi cũng rất tốt đó, nhưng chúng không tốt như tôi đã
tưởng. Có lẽ 80 phần trăm những câu trả lời
của tôi là để trình bày sự
thật, 10 phần trăm là tôi bị thúc
đẩy vì muốn phô trương cách thức khéo
léo mà tôi sẽ trình bày chúng, và 10 phần trăm
còn lại là tôi muốn gây một thiên kiến nơi người nghe.
Đôi khi còn tệ hơn thế nữa!
Đôi khi 10 phần trăm chót ấy là một
hình thức che đậy, một thủ đoạn để trả đũa
người khác, cho một sự khinh thường, có thật hoặc tưởng tượng, nào
đó.
Lúc mới
đầu, tôi rất nản khi khám phá ra tôi đã
lạm dụng năng khiếu sử dụng ngôn ngữ của mình,
lấy đó làm một phương tiện kín
đáo để hành xử không
đẹp. Nhưng tôi cảm thấy thật nhẹ nhàng
sau khi quyết định sẽ không làm thế
nữa. Chánh Ngữ ở một trình độ cao cấp xét ra
cũng không phải là khó lắm. Một khi tâm ta
đã được
hướng dẫn để quán sát tìm những thông
điệp ẩn tàng, nó sẽ hành động theo đó
một cách tự nhiên. Quyết định thay đổi
ấy đã giản dị hóa cuộc đời của tôi rất
nhiều, vì tôi không còn lo nhiều về việc phải thu dọn về sau nữa.
Và Chánh Ngữ ở trình
độ tối cao là ta phải biết trung thực
hoàn toàn, nó đòi hỏi ở nơi ta một sự
có mặt trọn vẹn. Tôi học được điều này
từ Jim, một nhà tâm lý học tôi có dịp làm quen khi chúng tôi cùng dạy
chung tại một cuộc hội thảo đối thoại giữa
Phật giáo và Công giáo. Tôi đã
đọc những quyển sách của ông viết, và
rất mừng được dịp đi ăn chiều với tác giả.
"Chị nghĩ sao về
đề tài A, Sylvia?" ông hỏi. (Tôi dùng
đề tài A,B,C... vì không còn nhớ chúng
tôi nói về vấn đề gì, và những
điều tôi học từ Jim là cái phương
cách mà ông nói hơn là từ nơi chủ đề.)
"Tôi nghĩ như vầy, như vầy và
như vầy," tôi trả lời lập tức. "Còn anh nghĩ sao về
đề tài B và C?"
Ông ta chỉ ngồi yên lặng. "Chết
rồi," tôi thầm nghĩ. "Có lẽ mình đã
làm gì mích lòng ông ta chăng. Chắc là
điều mình hỏi có tính cách cá nhân
quá. Hay có lẽ mình đã nêu ra nhiều
đề tài quá."
Nhưng rồi ông từ tốn trả lời,
"Tôi nghĩ như thế này, thế này về B và C. Còn chị nghĩ sao về vấn
đề D?"
"Ồ, D," tôi
đáp ngay, "Tôi nghĩ như vầy, như vầy và
như vầy. Còn E và F thì sao?"
Và ông lại ngồi im lặng. Tôi
chợt thức tỉnh và thấy được chuyện gì
đang xảy ra. Khi tôi hỏi ông nghĩ
gì, thì ông thật sự bỏ ra thời giờ để
suy nghĩ. Ông trả lời bằng cách nói cho tôi nghe những gì ông
đang nghĩ ngay bây giờ, không phải là
của ngày hôm qua hoặc của tuần trước. Tôi cảm thấy mình
được ông quý trọng. Tôi cảm thấy ông biết tôn
trọng những câu hỏi của tôi đủ để ông nói cho tôi nghe một sự thật hiện
tại nhất về nó.
Bài thực tập của Chánh Ngữ ở
trình độ tối cao tức là luật Sáu
Mươi Giây trong khi trò chuyện. Bất cứ khi nào có ai
đặt một câu hỏi, người đáp cần phải im lặng
trong sáu mươi giây trước khi trả lời. Vì sự dừng lại ấy là bắt
buộc, cho nên câu trả lời của ta sẽ có nhiều cơ hội
để bao gồm sự suy ngẫm, xem xét ý định, duyệt
lại giọng nói - tất cả những gì là tối cần thiết cho một câu trả
lời sáng suốt.
Chánh Mạng: Chị Pearl
và Công Việc Ủi
Đồ
Chánh Mạng, tức sự mưu sinh
chân chánh, dường như khó thực tập đối với ngày
nay hơn là ở vào thời của đức Phật. Điều luật
thì cũng vẫn vậy: Chánh Mạng có nghĩa là tổ chức sự mưu sinh của
mình sao cho không lạm dụng, không bóc lột, không gây hại cho ai. Dù sao,
vào thời đại ngày nay thế nào là lạm
dụng, là bóc lột thì cũng không nhất thiết
được rõ ràng cho lắm.
Vào thời
đức Phật, những loại nghề nào bất
thiện rất dễ phân biệt. Làm binh sĩ, nuôi nô lệ, sản xuất võ khí và những
chất say - tất cả đó đều là những nghề
bị ngăn cấm. - thời đại chúng ta, binh sĩ đôi
khi cũng còn có nhiệm vụ của một người duy trì hòa bình. Và ta cũng
khó mà biết được sự tốt lành của tất
cả mọi sản phẩm của bất cứ một công ty nào, nhất là trong thời
đại mà các công ty mua bán, phụ thuộc
lẫn nhau. Nào có ai biết những gì được sản
xuất bởi công ty phụ thuộc với công ty làm bột giặt của tôi?
Ngày nay khi người ta nói, "Ông
ấy, bà ấy là một người rất thành công" thường có nghĩa là "Ông ấy bà ấy có
rất nhiều tiền." Nó không nhất thiết có nghĩa là họ có
đạo đức, có nhân cách hoặc là có hạnh
phúc. Giáo lý của đức Phật về Chánh Mạng
không hề loại bỏ những hạng người giàu có - ngài dạy cho tất cả mọi
người, trong đó có hàng vua chúa -
nhưng nó không hề được dựa trên của
cải vật chất. Nó được dựa trên sự
tốt lành.
Đối với tôi, một h
ình
ảnh trọn vẹn về Chánh Mạng nó to lớn hơn là những cấm
đoán mà
được phản ảnh qua sự chọn lựa bên ngoài của ta. Sự chọn lựa
tốt lành trong nội tâm - ví dụ một thái
độ lành mạnh về công việc làm của ta -
cũng có thể đóng góp cho sự an lạc và
hạnh phúc của ta nhiều lắm. Phương cách mưu sinh của mỗi người là một cơ
hội để ta phát huy đức tự trọng.
Bạn của tôi, chị Pearl, sinh
sống bằng nghề giữ nhà, khi bốn đứa con tôi còn
bé và tôi mới bắt đầu đeo đuổi cao học. Tôi
rất hảnh diện vì được nhận vào
một trường đại học có uy tín, và chị
Pearl thì rất vui với công việc mới của mình.
Chị Pearl nấu
ăn rất khéo, mấy đứa con tôi mê những
món chị làm. Chị lái xe chở chúng đi học, nhớ
những giờ hẹn bác sĩ, và săn sóc khi
chúng bệnh. Một chiều nọ, sau một ngày ở trường, tôi về nhà thấy
chị đã ủi xong hết
đống quần áo mà tôi nghĩ phải mất cả
tuần. Những bộ đồ phẳng phiu được treo trên
chiếc máng áo trông thật đẹp.
"Chị Pearl," tôi kêu lên, "quần
áo chỉ ủi trông đẹp quá!"
"Đẹp
thật," chị đáp. "Tôi rất hảnh diện với tài ủi
đồ của mình!"
Tôi rất sung sướng là
đã được
câu trả lời của chị đánh thức tôi dậy. Tôi vẫn còn ghi nhớ nó mãi
cho đến ngày hôm nay, ba mươi năm
sau. Không phải là tôi có một thái độ
tự cao về những công việc chuyên nghiệp
đâu! Không phải vậy! Điều mà tôi học
được ở chị Pearl là trong ngay giờ
phút này thì cái mà bạn làm, bên ngoài, chỉ mới là phân nửa
của công việc mà thôi. Nó đối với bạn ra sao,
bên trong, là phân nửa phần còn lại!
Chánh Tinh Tấn: "Nhớ, Hãy Vui
Vẻ"
Những lời dạy về Chánh Tinh
Tấn, tức sự siêng năng chân chánh, trong đạo
Phật rất là rõ rệt. Đức Phật dùng
chữ thiện và bất thiện để nói
đến những gì dẫn đến hạnh phúc và
những gì đưa đến khổ đau. Nguyên tắc
của Chánh Tinh Tấn là: hãy ghi nhận những cảm giác tốt lành như là tính
thân thiện, từ ái, hoặc rộng lượng, khi chúng có mặt trong tâm, và khuyến
khích cho chúng phát triển. Tập hành động dựa
trên những cảm xúc ấy là một phương cách
để ta phát huy hạnh phúc. Và ta cũng
cần ghi nhận những cảm xúc bất thiện, như là giận dữ và tham lam, khi
chúng khởi lên trong tâm, và cố gắng đừng làm
cho chúng phát triển thêm. Hơn nữa, đức Phật
còn khuyên rằng, những cảm xúc bất thiện cần phải
được loại trừ ra khỏi tâm ta.
Tôi tin
đức Phật có ý nói là chúng ta có thể
chọn lựa về cái trạng thái trong tâm của mình. Nhưng nói thì bao giờ cũng
dễ hơn làm. Tham lam và giận dữ, ít nhất là trong những sự bộc phát nho
nhỏ, có một tác dụng khơi động năng lượng, và
năng lượng ấy rất là quyến rũ. Có một
lần, nhiều năm về trước, tôi lái xe đến phi
trường Oakland vào nửa đêm
để đón chồng tôi, anh ta trở về trên
một chuyến bay khuya. Con đường xa lộ cảnh
vật vắng tanh và đều đều. Tôi bắt đầu
cảm thấy buồn ngủ, và chợt sợ là mình có thể bị ngủ gục trong khi
cầm tay lái. Đột nhiên, trong dòng tư
tưởng, tôi chợt nhớ đến một vấn đề giữa tôi
với một người bà con xa, và cảm thấy bực mình về những
điều mà người ấy nói về tôi.
"Chị ấy táo tợn
đến thế là cùng!" tôi nghĩ, và ngay
khi ấy tôi cảm thấy mình trở nên thật tỉnh táo. Một
đòn tức giận chính
đáng đã
đánh tiêu tan hết sự buồn ngủ trong tôi.
"Chà, cái này hay thật!" Tôi tự
chúc mừng mình về một sự khám phá mới. "Trạng thái của tâm có thể thay thế
lẫn nhau được. Tôi có thể đem cái này
để thay thế cho cái kia trong tâm. Tôi có thể
đánh thức mình dậy bằng cách nghĩ những tư tưởng tức giận!"
Và tôi
đã làm theo như vậy. Trên
đường đi đến phi trường, tôi nghĩ đến những
tư tưởng tức giận và lặp lại trong đầu
những câu đối thoại khác nhau: lời tôi nói, những gì chị ta cho là
tôi nói, những gì tôi có thể kể cho mọi người nghe về
điều chị nói là tôi
đã nói.
Đến lúc tôi quẹo vào bãi đậu xe của
phi trường, tôi đã tỉnh như sáo sậu. Tôi không nhớ rõ, nhưng tôi có
thể đoán là có lẽ sau
đó tôi đã cảm thấy cáu kỉnh và bực bội
thật sự.
Hai ngày sau, tôi có
đem câu chuyện ấy kể lại cho thầy tôi nghe,
nghĩ rằng thế nào ông ta cũng khen ngợi tôi về cái tuệ giác mới
này, về sự liên hệ mật thiết giữa thân tâm. Nghe xong ông cười và nói,
"Phải rồi, sự thay thế lẫn nhau của những tâm thức là
đúng đấy. Nhưng dù sao," ông nói thêm,
"chị có thể làm cho mình tỉnh táo bằng những tư tưởng gợi tình cũng
được vậy, và như thế có còn thú vị hơn
không!"
Sau một thời gian, tôi bắt
đầu nhận thấy ngoài những cơn bộc phát
nhỏ của lòng tham và cơn giận - mà chúng là những phản ứng tự nhiên của
tâm đối với những kinh nghiệm dễ chịu và
khó chịu - bám víu vào hai thành tố ấy sẽ làm ta mệt mỏi lắm. Kéo dài sự
mong ước và kéo dài sự ghét bỏ, cả hai đều sẽ
làm cho ta bực bội và nản chí. Chúng làm cho tâm ta mỏi mệt.
Đó cũng là một trong những lý do mà ta
khó có thể nào loại trừ chúng được. Tôi nghĩ,
vì ta cảm thấy mệt mỏi, nên không còn muốn thoát ra hoặc chịu nhìn
vấn đề cho thấu suốt nữa. Vì vậy,
chúng ta cần những điều luật để nhắc nhở mình.
Và đôi khi ta cũng phải cần đến người chung
quanh nữa.
Một hôm trong khi lái xe ngang
qua chiếc cầu Golden Gate Bridge, trên đường
đến đón một người bạn cùng đi xem nhạc
ô-pê-ra, tâm tôi lúc ấy mang một tâm trạng bực dọc không hiểu vì lý
do gì. Tôi không thấy được cái không gian bao
la của vịnh biển đang ôm ấp thành phố San Francisco mới lên
đèn. Tôi chầm chậm xe lại ngang phòng
thu tiền qua cầu và trình vé của mình cho người gác cổng. "Bà có một ngày
thật tuyệt vời nhá!" anh ta nói. Ái chà! Một dòng
điện tỉnh thức chạy suốt qua người tôi. "Từ
nảy tới giờ mình làm trò trống gì vậy?" Tôi nghĩ. "Bây giờ
đây, ta sắp gặp một người bạn mà ta
quý, đi làm một chuyện mà ta ưa thích
nhất, và ta lại bực dọc!"
Không ai chối cải là ngay bây
giờ trên thế giới này có những việc đáng
buồn, ngay cả trong đời sống của tôi cũng vậy, nhưng sự bực dọc sẽ không làm
cho bất cứ một việc nào được trở nên
tốt đẹp hơn. Thật ra nó còn có thể làm
cho sự việc trở nên tệ hơn nữa là khác. Đức
Phật dạy, "Mỗi giây phút của tâm sẽ làm
điều kiện cho giây phút kế tiếp." Sự bực dọc
lôi trì tâm ta xuống bằng chính sự mỏi mệt của nó. Hạnh phúc kéo
tâm ta lên và giúp nó tiến bước trở lại.
Chị Sharon, người mà tôi theo
học thiền quán về tâm từ (metta meditation), thường kết thúc buổi trình
pháp của tôi với chị bằng câu, "Nhớ nhá Sylvia, hãy vui vẻ!" Ban
đầu tôi cứ nghĩ đó là một lời nói xã
giao thông thường của những người sống ở vùng này. Mất một thời gian rất
lâu tôi mới hiểu rằng đó chính là một
lời hướng dẫn tu tập cho tôi.
Chánh
Định: Làm
Nhẹ Đi Nỗi
Đau
Đức Phật dạy, Chánh Định l
à
một khả năng để cho sự chú ý của ta được thẳm
thấu vào một đối tượng duy nhất. Chú
tâm vào một đơn điểm sẽ làm
phát sinh nên một phẩm tính rất cá biệt trong tâm ta. Nó là một cảm giác
dễ chịu, quân bình, thư thái rất đặc biệt -
một trạng thái mà trong kinh điển gọi
là "một tâm mềm dịu."
Lúc trước tôi có hướng dẫn một
lớp gọi là "Thực Tập Định Tâm Qua Sự Thêu
May." Chúng tôi gặp nhau mỗi kỳ hai tiếng tại một phòng thiền. Trong một
giờ đầu, tất cả chúng tôi ngồi trong thinh
lặng và thêu may. Người ta thêu thùa,
đan may, và thực tập những đường kim
mũi chỉ. Trong phòng chỉ có tiếng lách cách của những mũi kim thêu,
tiếng sột soạt của sợi chỉ xuyên qua bạt vải, bên ngoài có khi là trời
mưa, tuyết. Trong giờ thứ hai, mọi người vẫn tiếp tục công việc thêu may
của mình, và chúng tôi nói chuyện.
Trong giờ nói chuyện, chúng tôi
không hề đề cập gì
đến công việc thêu may của mình. Chúng
tôi nói về đời sống, về nỗi lo sợ, những vất
vả, những muộn phiền của chúng tôi. Lời nói của chúng tôi phát xuất từ một
không gian tĩnh lặng, và chúng tôi lắng nghe nhau trong một không
gian quân bình. Mọi người đều đồng ý rằng
chính một giờ thực tập định tâm trước đó đã giúp cho chúng tôi có
thể chia xẻ một cách thật sâu sắc. Sự thực tập
định tâm, cùng một lúc, vừa làm vững
mạnh và lại vừa làm êm dịu tâm. Đó
không phải là một sự nghịch lý. Đó là
một sự thật.
Tôi khám phá ra
được hiệu quả của sự định tâm này lần
đầu tiên vào cuối một khoá tu thiền
trong thinh lặng hai tuần, tại tiểu bang Washington vào năm
1977. Vì đây là một trong những
khóa tu tập đầu tiên của tôi, nên mọi
việc trong khóa tu đều là kỳ lạ và khó
khăn. Thân tôi đau vì ngồi lâu, tôi
vật lộn với những cơn buồn ngủ, và hoàn toàn cảm thấy lộn xộn về những lời
hướng dẫn.
Tôi bắt
đầu cho rằng kinh nghiệm này cũng
giống như là một cuộc phiêu lưu của tâm, và cảm thấy nếu hoàn tất
được nó sẽ là một chiến thắng lớn. Mỗi
ngày qua, cái đau nơi thân tôi dần dà
mất đi và tôi cũng cảm thấy bớt buồn
ngủ, nhưng không có một sự kiện gì là kỳ diệu xảy ra hết. Vào ngày cuối
cùng, nếu có ai hỏi tôi "Chị có thấy khác biệt gì không?" Tôi chắc chắn sẽ
trả lời rằng "Không!"
Chiều hôm ấy, sau khi khóa tu
thinh lặng chấm dứt, tôi gọi điện thoại về
cho nhà tôi ở California, để sắp xếp
cho anh ra phi trường đón. Trong câu chuyện, tôi hỏi thăm về ba tôi, ông
trông rất khỏe mạnh ngày trước khi tôi
đi. "Anh muốn được thành thật với em," nhà tôi nói "Anh muốn báo
cho em biết là ba em bị bệnh ung thư, mà đây
là một loại bất trị." Ngay trong giây phút ấy, tôi chợt khám phá ra
là mình đã có khác biệt
đó chứ!
Những tin buồn thì thường như
là những nhát búa chém vào tim. Ngay khi tôi nghe tin về ba tôi, tôi biết
mình đã nhận lãnh nó trong một
đường lối hơi khác thường. Không phải là
tôi không buồn. Tôi cảm thấy đau đớn lắm chứ.
Ba tôi còn trẻ, cường tráng, và vừa là một người bạn tốt của tôi.
Tin ấy như là một nhát búa giáng xuống tôi, nhưng nhát búa ấy
đã rơi vào một tấm nệm êm thay vì là
một vách đá. Tôi run rẩy nhưng tôi không sụp
đổ. Tôi cảm thấy một cơn đau và một nỗi buồn sâu xa. Và rồi tôi
bước ra ngoài, hoà nhập với những thiền sinh khác và chúng tôi uống trà.
Tôi không hề có một tham vọng
là tu sửa sao cho tâm mình sẽ không còn cảm thấy
đau buồn trước những mất mát nữa. Tôi muốn
được cảm xúc cho thật sâu sắc, và mỗi lần tôi bị tan vỡ con tim,
tôi sẽ hiện trở lại với một tâm từ ái rộng lớn hơn. Tôi nghĩ tôi sẽ dám
để cho tim mình bị vỡ tan dễ dàng hơn,
vì biết rằng tôi sẽ không bao giờ vỡ nát mãi mãi.
Chánh Niệm: Ba Tôi và Cuốn
Phim Cuối
Chánh niệm là một sự chấp nhận
có ý thức và quân bình về kinh nghiệm hiện tại của mình. Thật ra nó chỉ có
đơn giản như vậy thôi. Nó là một sự
cởi mở hoặc tiếp nhận giây phút hiện tại này, dễ chịu hoặc khó chịu,
như-là, mà không hề bám víu hoặc ghét bỏ. Theo tôi nghĩ, có ba cách
để giúp ta hiểu mục đích của sự tu tập chánh
niệm.
Phương cách thứ nhất là thấy
được chánh niệm sẽ đưa đến tuệ giác như thế nào.
Khi ta có thể duy trì khả năng tỉnh thức và
giữ quân bình trong từng mỗi giây phút của hiện tại, những chân lý của
kinh nghiệm sống tự chúng sẽ biểu lộ ra như là tuệ giác. Và khi tuệ giác tăng
trưởng, những tập quán nào của tâm có khuynh hướng thích bám víu
vào những gì không thể nắm bắt được, sẽ dần
dần suy giảm, và khổ đau cũng từ đó
bớt đi.
Phương cách thứ hai là thấy
được chính sự tu tập chánh niệm, tự nó sẽ
giải hóa tâm ta khỏi những tập quán thúc đẩy ta chạy trốn những gì
khó chịu. Ta ngồi (hoặc đứng hoặc đi hoặc nằm
hay trong bất cứ một tư thế nào), giờ này sang giờ kế, thực tập
duy trì một sự tĩnh lặng và tỉnh giác qua tất cả những phạm trù của
các trạng thái thân và tâm, khi chúng khởi lên - và không làm bất cứ
một điều gì
để thay đổi những kinh nghiệm ấy, mà
chỉ khám phá rằng ta có thể chịu đựng
chúng được. Nhờ vậy ta thấy được,
sự tu tập tự nó là một liều thuốc giải
độc cho chứng bệnh phản ứng hấp tấp thông thường của tâm, khi đối diện với
mỗi giây phút mới.
Phương cách thứ ba là nghĩ
đến sự tu tập chánh niệm tự nó chính là
sự giải thoát, thay vì là dẫn đến
sự giải thoát. Mỗi giây phút sáng tỏ không bị quấy
động bởi sự dằn co giữa sự khen chê,
ghét bỏ và ham muốn, là một giây phút giải thoát. Cuộc sống của ta chỉ
được làm bằng những giây phút mà thôi.
Thời gian mà ta thật sự có, là ngay giờ phút này
đây. Để dành những giây phút tự do bây
giờ cho một sự an nhàn trong tương lai có thể là tốt
đó, nhưng chúng không thể nào bảo
đảm cho ta một sự tự do mãi mãi. Suy
tính cho sự giải thoát trong tương lai có thể tạo
điều kiện cho Chánh Tư Duy và Chánh
Tinh Tấn, nhưng nếu nó tạo nên một sự phấn
đấu hoặc một cảm giác thiếu sút hoặc bất toàn trong tâm trong giờ
phút này, thì ta đâu nào có thật sự tự
do đâu!
Có lẽ các bạn cũng
đã nghe về câu chuyện của một vị thầy
tu bị một con cọp rượt chạy đến trước một bờ
vực thẳm. Luýnh quýnh ông ta nhảy đại xuống vực, tay nắm được một sợi dây
nho rừng mọc bên sườn núi, treo lơ lững giữa không trung. Phía dưới
ông là một vực sâu thăm thẵm, bên trên
ông là một con cọp đói đang gầm gừ. Trong khi
vị sư bị đu đưa lủng lẳng nửa chừng trong không khí, có một con chuột bắt
đầu gậm nhắm sợi dây nho rừng mà ông
đang nắm. Tình trạng của ông thấy bấp bênh vô cùng. Lúc ấy, vị sư
chợt thấy cạnh bên mình có một trái nho chín
đỏ mọc hoang, ông vói tay hái lấy và
ăn. Hương vị của trái nho mới ngọt ngào làm sao!
Ba tôi qua
đời vì chứng bệnh ung thư về viêm tủy
sống, một loại bệnh ung thư có thể đối trị
nhưng không chữa được. Trong suốt bảy năm bệnh hoạn, ông xoay xở đối phó
với sự suy sụp của sức khoẻ và sự gia tăng
của cơn đau bằng một sức chịu đựng không lay chuyển. Ông sử dụng gậy
chống, rồi đến xe lăn để đối phó với sự suy thoái của thể xác, mà
vẫn tiếp tục có một đời sống giao du rất bận
rộn. Chúng tôi đã rất cởi mở và bàn luận rất thường về cái chết
không tránh khỏi của ông trong một tương lai không xa. Ông có vẻ như
đã hòa giải
được với cái chết, mà không hề cảm
thấy tuyệt vọng hoặc chán đời. Chúng tôi nói
đùa là không biết gia đình của
đứa cháu nào là thích hợp cho sự tái
sinh của ông đây, nếu thật sự là ông
sẽ có một sự chọn lựa.
Một hôm, khi chứng bệnh của Ba
tôi đã trở nên trầm trọng, tinh thần
của ông dường như cũng đã suy sụp theo
rất nhiều. Với một ngày mới đang mờ mịt trước
mặt, tôi nói với ông, "Hai ba con mình
đi coi xi nê nha!" Ông nhìn tôi với một ánh mắt hoài nghi, "Con
biết không, Ba sắp chết đến nơi rồi!"
Tôi đáp, "Đúng rồi, nhưng không phải là ngày hôm nay
đâu ba." Chúng tôi đi xem phim
Raiders of the Lost Ark. Hai ba con tôi thích lắm. Chúng tôi
ăn tối tại Pacific Cafe, hiệu ăn mà
ông ưa nhất. Ngày hôm sau, ông bắt đầu bị
sưng phổi phải đưa vào bệnh viện. Vài tuần sau ba tôi qua
đời.
Phần 3.
Những Chướng Ngại Cho Cái Nhìn Sáng Tỏ
Nhà Phỏng Vấn và Vị
Đạo Sư
Có lẽ
đây là một dấu hiệu của thời
đại mới, nhưng tôi cũng đã thu
đạt được một vài bài học tâm linh qua
các chương trình đàm thoại trên ti-vi.
Tôi còn nhớ một hôm xem Larry King phỏng vấn một vị
đạo sư thuộc truyền thống Ấn Độ giáo. Tôi
không nhớ chính xác những gì vị đạo sư
nói, nhưng tôi nhớ rất rõ cái phong cách thư thái và
điềm tĩnh của ông. Mặc dù những khán
giả gọi vào chất vấn ông thường là để bài
bác hoặc, ít nhất, là cũng hoài nghi, vị đạo
sư vẫn giữ một sự có mặt trong sáng và an lạc, trả lời cho từng câu
hỏi một cách rõ ràng, chính xác và đôi khi còn
pha thêm chút khôi hài. Larry King là một nhà phỏng vấn nổi danh với những
câu hỏi thẳng thừng và soi mói của ông. Có một lúc ông hơi chồm qua bàn
viết và nhìn vào đôi mắt không hề chớp của vị
đạo sư. Ông hỏi, "Làm cách nào ngài lại có thể giữ cho nó
được tĩnh lặng trong ấy đến thế?" Vị đạo sư
trả lời, "Trong ấy bao giờ cũng tĩnh lặng. Nhưng tại vì chúng ta
quấy động chúng lên nhiều quá
đó thôi!"
Đây là một thử nghiệm mà
bạn có thể làm ngay bây giờ, trong không gian riêng tư của nhà bạn,
để chứng minh được những gì vị
đạo sư ấy nói là
đúng. Chọn một thời gian nào
đó khi bạn được ở một mình và cơ thể
được khoẻ khoắn, hay ít nhất thì cũng
không có một sự khó chịu nào trong thân. Tốt nhất là mình không
đang đói và cũng không buồn ngủ. Tìm
một chiếc ghế nào mà bạn ngồi cảm thấy dễ chịu nhất. Ngồi xuống trong
chiếc ghế ấy. Thọ hưởng cái cảm giác dễ chịu. Bạn có thể nhắm mắt lại nếu
muốn, hoặc mở ra, nhìn chung quanh và thưởng thức cái nhìn chung quanh ấy.
Thọ hưởng cái cảm giác dễ chịu. Đừng làm
một việc gì khác, hãy thưởng thức cái cảm giác dễ chịu ấy. Giữ ít nhất là
mười lăm phút để thọ hưởng cảm giác dễ chịu
trước khi bạn lật sang trang kế tiếp. Khi nào xong, bạn hãy
đọc trang bên.
----- -----
Thế nào, bạn có cảm thấy
dễ chịu trong trọn mười lăm phút ấy không?
Bạn có ngồi và thọ hưởng
cái cảm giác thư thái và dễ chịu ấy không?
Mất bao lâu thì có những
tư tưởng khác khởi lên làm quấy rối sự dễ chịu của bạn?
Những tư tưởng ấy là gì?
Bạn có những tư tưởng ham
muốn nào không?
Bạn có tự nghĩ rằng,
"Phải chi mình đã chọn một chiếc ghế
nào khác thoải mái hơn chiếc ghế này. Chiếc ghế này chưa phải là cái mà
mình ưa nhất. Lần tới nếu có thử nghiệm lại, mình sẽ chọn một chiếc ghế
khác thoải mái hơn"?
Bạn có những tư tưởng khó
chịu không? Như là, "Chà, ông hàng xóm của tôi giờ này lại
đi chạy máy cắt cỏ. Mình
đã có thể ngồi yên
đây thoải mái, an lạc trong mười lăm phút
rồi, nếu không có tiếng máy chạy ồn ào ngoài kia."
Bạn có những tư tưởng bồn
chồn không? "Ái chà, ngồi yên đây cũng không
dễ chịu như mình nghĩ tưởng. Có lẽ mình nên thử
đi bộ một vòng quanh xóm. Mình lại
quên mất gọi điện thoại trả lời cho chị Quận.
Lẽ ra mình phải gọi cho chị trước khi ngồi xuống, và bây giờ lại lo
lắng không biết chị nghĩ sao về mình. Nếu lỡ chị ta giận vì mình không gọi
lại đúng hẹn thì sao
đây?"
Bạn có bắt
đầu cảm thấy ngủ gục không? Bạn có nghĩ rằng,
"Cái này thì chán chết được. Cái này
có lẽ thích hợp cho mấy ông đạo ở Ấn Độ, chứ
nếu ngồi thiền là như vậy thì chắc chắn không phải là cho tôi rồi.
Có lẽ mình nên ngủ một chút cho hết mười lăm
phút."
Bạn có nghĩ rằng, "Đây
là một bài tập hết sức ngớ ngẩn. Như vầy thì có mắc mớ gì
đến việc giác ngộ chứ? Mình biết là
mình đã dại dột
đi mua quyển sách này. Mình thì lúc
nào cũng hay làm những chuyện như vậy - có những quyết
định khờ khạo, nhất thời."
Bạn có những ý nghĩ như
trên không? Một vài tư tưởng giống như thế? Hay có hết tất cả?
----- -----
Trên căn
bản thì vị đạo sư nói đúng: nó
yên lặng bên trong ta, cho đến khi nào
bị khuấy động lên. Nhưng sự khuấy
động ấy không có một chủ đích hoặc một sự cố
ý nào. Chúng ta đâu ai muốn gây thêm
phiền phức cho cuộc sống của mình làm gì. Nó cũng không phải là vì tâm của
riêng mình hư đốn: tâm của người khác cũng
không giữ được yên lặng gì hay hơn ta. Tính chất tự nhiên của tâm
là hay bị quấy động lên bởi những năng
lượng lăng xăng, như những ngọn gió thổi qua lại trên một mặt hồ
nước trong, làm gợn sóng lao xao, chúng che khuất
đi sự trong sáng của hồ nước. Thực hành
thiền tập không có nghĩa là ta sẽ làm ngưng những làn sóng gợn ấy. Có lẽ
những bậc thiền sư giác ngộ, họ có thể lúc nào cũng nhìn xuyên qua
được những làn sóng lăn
tăn đó. Nhưng những người học đạo bình thường như tôi, nếu có thể
nhớ được chúng chỉ là những gợn sóng
mà thôi, và mặt, hồ còn một phía bên kia nữa, là hạnh phúc lắm rồi.
Tâm Thức và Thời Tiết
Chúng ta thường tự kể cho mình
nghe những mẩu chuyện, mà ta cứ lập đi lập
lại không biết bao nhiêu lần. Rồi chúng ta tự làm cho mình hoang
mang và sợ hãi, quên rằng nỗi sợ và lo âu ấy bao giờ cũng là về một cái gì
có thể đã xảy ra hoặc có thể
chưa xảy ra nhưng bây giờ thì không xảy ra. Chúng ta cũng
thường quên là những gì đang xảy ra bây giờ,
chúng cũng sẽ không kéo dài lâu lắm
đâu!
Vài năm
trước đây tôi có đến hướng dẫn một khóa thiền tại thành phố
Albuquerque. Trong thiền đường của chúng tôi
có một khung cửa sổ rất lớn, chiếm gần hết trọn một vách tường. Từ chỗ tôi
ngồi, tôi có thể nhìn ra bên ngoài thấy một cánh
đồi rộng lớn chạy dài ra tới tận rặng
núi Sangre de Cristo thật đẹp ở xa xa. Tôi
chợt nhận thấy thời tiết bên ngoài, thổi lồng lộng qua cánh
đồi mênh mông, dường như nó thay
đổi rất nhanh chóng từ đầu cho đến cuối mỗi
giờ ngồi thiền của chúng tôi. Khi tôi nhắm mắt lại, mặt trời có thể còn
đang soi sáng, và khi tôi mở mắt ra
bốn mươi lăm phút sau, có thể là một
cơn bão tuyết đang quay cuồng ngoài
kia. Khi tôi nhắm mắt lại, bên ngoài trời
đang đổ tuyết, tôi có thể mở mắt ra và thấy trời
đã chuyển sang mưa. Và rồi, dường như
chỉ trong chốc lát, mặt trời lại hiển lộ ra, nhưng bên ngoài có gió lộng
quay cuốn quanh tòa nhà chúng tôi ở. Rồi đột
nhiên gió lặng yên, một ánh nắng hoàng hôn màu hồng phủ lấy núi
đồi đẹp một cách huyền diệu, và từng
bông tuyết nhẹ nhàng rơi trong thinh lặng.
Tôi tự nghĩ, "Thời tiết ngoài
kia cũng giống như tâm ta vậy." Tôi nhìn nhóm thiền sinh
độ hai mươi lăm người ngồi chung quanh tôi,
thân của mọi người ngồi thật yên và gương mặt của họ tĩnh lặng. Và
vì tôi biết chút ít về mỗi thiền sinh và biết nhiều về tôi, tôi hiểu những
gì tôi thấy chỉ mới là phân nửa của sự thật mà thôi.
Tôi tưởng tượng
đến một tấm tranh khôi hài như sau.
Tôi vẽ ra trong đầu một hình ảnh có năm
thiền sinh đang ngồi thiền. Họ quấn người chặt trong chăn và khăn
choàng, mắt nhắm, vẽ mặt an lạc, chỉ khác biệt nhau về vóc dáng mà
thôi. Gương mặt của mọi người đều y như nhau.
Và phía trên đầu mỗi người là
một vòng tròn nhỏ, vẽ những hình ảnh tiêu biểu cho những gì thật sự
đang có mặt trong đầu của mỗi người. Tôi
tưởng tượng trong một vòng tròn có chứa
đầy hình ảnh của những thức
ăn như là kem, bánh ngọt, một tô mì
nóng hổi. Một vòng tròn khác là hình của bãi biển Hạ Uy Di với hàng dừa
tha thướt. Một vòng tròn nữa là hình của đôi
tình nhân tình tự với nhau (mặc dù tôi không biết phải vẽ sao cho
tế nhị một chút.) Còn một vòng tròn là hình ảnh chiến tranh, hoặc con
người đánh giết nhau, hoặc đầy những ký hiệu
#&@#$% biểu thị cho những từ ngữ không thích hợp mà người ta dùng
để mắng nhiếc nhau. Một vòng tròn khác
đầy tối tăm và mù mịt. Một vòng tròn
nữa có vẽ hình sấm sét, hoặc có lẽ thêm vào một ngọn núi lửa
đang phun trong khung cảnh ấy. Một vòng
tròn khác là một người có vẻ mặt hoang mang
đang nhún vai, hai bàn tay mở ra và
đưa lên trời, ý diễn tả "Tôi không biết." Có lẽ vòng tròn
"tôi không biết" ấy sẽ được vẽ trên
một nền đầy những dấu hỏi. Và rồi tôi
tưởng tượng thêm hình một thiền sinh thứ sáu, trên
đầu anh là một vòng tròn mà không có
gì trong ấy hết.
Điều m
à tôi muốn nói về
bức tranh khôi hài ấy không phải là người có vòng tròn trống không là một
người may mắn. Thật ra, tôi có một ước mơ là sẽ viết một cuốn sách mà
trong đó mỗi trang đều có cùng mỗi một
bức tranh ấy. Bức tranh cũng vẽ có bấy nhiêu
đó người quấn mền ngồi thiền trông thật yên, gương mặt của họ không
hề biến đổi. Chỉ có nội dung của những vòng
tròn tượng trưng cho ý nghĩ của họ là thay
đổi mà thôi. Và cũng chỉ có bấy nhiêu
đó ý nghĩ nhưng nó sẽ di chuyển vòng vòng hết người này sang người
kế. Cùng một người nhưng có nhiều tướng trạng tâm thức khác nhau. Mỗi
tướng trạng của tâm thức đến rồi đi. Dù
cho đó có là sự tĩnh lặng cũng vậy.
Mỗi cá nhân
đều sẽ kinh nghiệm hết tất cả mọi năng lượng
khác nhau trong tâm mình, đó là
những trận bão có thể đoán trước được trong
tâm thức con người. Chúng phản ảnh những sự thăng trầm của năng lượng
trong ta, cũng như phản ứng của tâm ta đối với những kinh nghiệm dễ chịu và
khó chịu. Tất cả đều là hoàn toàn tự
nhiên. Chúng không có gì để ta phải sợ hãi
hoặc cảm thấy là chướng ngại hết. Nếu chúng ta sang sống ở một hành tinh
nào khác, ta sẽ muốn có ai báo trước cho biết thời tiết nơi ấy như thế
nào, để ta có thể lo mà chuẩn bị
trước. Con người trên hành tinh này cũng vậy, sự sống của ta sẽ
được dễ dàng hơn nếu ta biết cách
đối phó với mọi sự bất ngờ của thời tiết,
chung quanh ta cũng như là trong ta.
Những Tâm Thức
Chướng Ngại Chỉ Có Bấy Nhiêu Thôi
Trong kinh
điển Phật giáo năm năng lượng của dục lạc,
sân hận, dã dượi, xao động và
hoài nghi được gọi là "Ngũ Trần Cái"
tức là năm loại ngăn che của tâm. Chúng được
gọi là những loại ngăn che của tâm vì
chúng làm mờ mịt cái thấy sáng suốt của ta, cũng giống như những trận bão
cát trong sa mạc, hoặc sương mù trên đường
đi, có thể làm cho người lữ hành bị lạc lối. Chúng ngăn
trở không cho ta tiếp xúc được với cái tự tánh thanh tịnh của mình.
Chúng làm ta điên
đảo. Ta nhận đó cho là thật, và quên
rằng tự tánh của mình không phải chỉ là một trận bão
đi ngang qua. Trận bão lướt qua thì sẽ
chỉ là một trận bão lướt qua. Còn chân tánh thì bao giờ cũng vẫn là cái
chân tánh trong ta muôn đời sáng tỏ.
Năm
loại năng lượng khác nhau ấy thật ra là chỉ có bấy nhiêu thôi,
nhưng chúng lại được cải trang qua biết bao
nhiêu là bộ mặt khác nhau. Bánh kem thì khác với bánh pizza
và khác với lại tình dục, nhưng trên cơ bản thì tất cả chúng
đều là những
đối tượng của ái dục. Cùng một năng
lượng của sân hận đã cung cấp nhiên liệu cho sự bực tức của ta
đối với người hàng xóm vặn nhạc quá
lớn, và sự bất mãn của ta với một vị tổng thống bất tài. Tâm càu nhàu nào
thì cũng chỉ là tâm càu nhàu; tâm buồn ngủ là tâm buồn ngủ; tâm xao
động là tâm xao
động; tâm hoài nghi là tâm hoài nghi.
Sự kiện là trong tâm ta sẽ có
những trận bão tố khởi lên và qua đi, điều ấy
không phải là một vấn đề. Sống ở một
nơi mà thời tiết thay đổi luôn luôn
cũng không phải là vấn đề. Nhưng dù
sao đi nữa, ta phải biết mặc đồ cho thích hợp
với các loại thời tiết khác nhau, và có
đủ khôn ngoan để ở trong nhà khi ngoài
trời dông tố. Và ta cũng nên nhớ là thời tiết nào rồi cũng sẽ thay
đổi. Những tâm thức khó khăn của ta chỉ trở
thành vấn đề khi nào ta thật sự
tin rằng chúng sẽ tiếp tục mãi mãi. Rồi từ
đó, vì chúng là những năng lượng bất
an, ta đâm ra sợ hãi.
Chúng ta có hai loại sợ hãi.
Một là nỗi sợ rằng những gì đang xảy ra bây
giờ, chúng sẽ tiếp tục mãi mãi. Điều
đó hoàn toàn là không thật - không có gì có thể tiếp diễn mãi mãi
được. Nỗi sợ thứ nhì là mặc dù nó sẽ
không tiếp diễn mãi mãi, nhưng nỗi đau đang
có mặt sẽ mãnh liệt đến mức ta không
thể nào chịu đựng được. Và nỗi
sợ thứ hai này có tàng chứa một chân lý rất sâu sắc. Ta không bao giờ có
thể chối bỏ được là trong cuộc
đời này, tấm thân ta có thể bị nhiều
đau đớn, những mối tương giao của ta có thể
sẽ mang lại khổ đau, sẽ có những lúc ta cảm thấy một nỗi đau thật lớn.
Nhưng mặc dù vậy, tôi nghĩ là chúng ta
đã tự coi thường mình, chúng ta đã
đánh giá mình hơi thấp.
Đôi khi cuộc đời có thể có nhiều đau đớn,
nhưng tôi tin rằng chúng ta có một khả năng chịu đựng rất to tát.
Vì chúng ta hay hoảng hốt lên
mỗi khi vừa có một ngọn gió chướng ngại nào nổi lên trong tâm thức, nên ta
thường chống cự lại với nó. Chúng ta hoặc là cố gắng thay
đổi nó hoặc muốn loại trừ nó đi. Tình
trạng rối loạn và dằn co ấy lại càng làm cho tâm trạng ta trở nên khốn khó
hơn.
Việc ấy cũng giống như một cảnh
của chú mèo Daffy, một nhân vật trong phim hoạt họa của trẻ con,
đang thong dong đi trên
đường, đột nhiên
đạp nhằm một đống kẹo dẻo mạch-nha. Trong cơn
vội vã, vụng về cố gắng tự giải cứu mình, chú ta té tới, té lui và
cuối cùng toàn thân bị dính cứng trong đống
kẹo dẻo ấy, không thoát ra được. Trong hoàn cảnh ấy, ngay cả trẻ
con cũng còn thấy được giải pháp nào
mới là đúng.
Giải pháp hay nhất là một thái
độ nhận diện không hoảng sợ. "Đây là
kẹo dẻo mạch-nha. Tôi không thấy nên dẫm vào, nhưng bây giờ thì biết là
mình đang bị kẹt. Nhưng nó chỉ là
kẹo mach-nha mà thôi. Cả thế giới này đâu
phải làm toàn bằng kẹo mạch-nha. Và bây giờ thì hành
động nào là khôn ngoan nhất?"
Ăn
Xúp Bằng Nĩa
Chúng ta tự tạo nên những vấn
đề rất to tát vì không thấy
được những năng lượng bất an của tâm, nhất là
khi chúng ẩn núp dưới hình dạng của những câu chuyện. Chúng cũng giống như
những đứa trẻ con nhà láng giềng hóa
trang làm những con ma vào ngày lễ Halloween. Khi chúng ta mở cửa
ra và thấy đứa bé hàng xóm phủ một tấm
vải trắng để đi xin kẹo, mặc dù nó
trông giống như một con ma, nhưng ta vẫn biết
đó chỉ là đứa bé nhà láng giềng
mà thôi. Và khi tôi nhớ những biến cố trong
đời mình chỉ là những năng lượng của
tâm núp dưới tấm vải trắng của một câu chuyện, tôi có thể tiếp xử với
chúng một cách ưu ái hơn.
Dưới
đây là một bài thực tập
để chứng tỏ cho thấy chính cái trạng thái tâm
thức của ta, chứ không phải việc gì xảy ra,
đã quyết
định cho kinh nghiệm của mình:
Trường Hợp Thứ Nhất
Bạn
đang có liên hệ tình cảm với một người
nào đó, và mối tương giao bắt
đầu có dấu hiệu đổ vỡ. Bạn và người
kia, cả hai đều thất vọng vì mối tình
đã không thành. Người này cảm thấy bất
mãn và tức giận với người kia vì họ đã
không giống như người mình mơ ước. Cả hai quyết
định cùng gặp nhau một lần chót
để giải quyết cho dứt khoát. Hai người bỏ một
ngày rủ nhau đi ra biển để lánh xa hết
tất cả. Nhưng khi ngày trôi qua, mỗi người lại chỉ nhớ
đến những đau đớn, thất bại trong mối tương
giao giữa đôi bên. Bạn cảm thấy tức giận và
đuối sức. Trên
đường về, vì cả hai cảm thấy
đói, bạn dừng lại tại một quán ăn chiều.
Người tình cũ của bạn ăn xúp bằng nĩa.
Bạn tự bảo lòng, "Cái này thì còn thật là tệ hơn là mình nghĩ! Tên
khờ này lại còn đi ăn xúp bằng nĩa!"
Trường Hợp Thứ Hai
Bạn cảm thấy yêu tha thiết.
Người kia cũng yêu bạn đắm say. Cả hai bỏ một
ngày đi ra biển chơi. Bạn nằm tắm
nắng, đọc truyện tình, đùa giỡn
trên sóng, âu yếm với nhau. Trên đường về, cả
hai cảm thấy đói nên bạn dừng lại tại một nhà hàng. Người thương
của bạn ăn xúp bằng nĩa. Bạn tự bảo lòng,
"Trông thật là đáng yêu!
Ăn xúp bằng nĩa!"
Tôi nghĩ có lẽ
đó là ý nghĩa của câu "Chúng ta tự tạo
nên thực tại của chính mình." Tôi thường có khó khăn
về ý nghĩa của câu ấy, lần đầu tiên khi tôi nghe nói vào thập niên
bảy mươi. Vì dầu cho có cố gắng đến đâu, tôi
vẫn không thể nào tạo được một thực
tại là ngày mai mặt trời sẽ mọc ở phương Tây, và tôi cũng không thể
nào chữa lành cho những người tôi thương bị mắc bệnh nan y, như một phép
lạ. Nhưng có một thực tại mà tôi có thể tạo
được - là cái quan điểm
của tôi về bất cứ một vấn đề nào.
Ái Dục
Theo kinh
điển nhà Phật thì năng
lượng của lòng ái dục đứng đầu hết
trong danh sách của các tâm thức chướng ngại. Trước hết nó là một
loại năng lượng có nhiều thử thách và
khá lý thú, vì danh từ ái dục tự nó có hàm chứa một ngụ ý dâm ô. Ví dụ khi
một người nói là họ đang có ái dục về một cái
gì, chắc chắn là chúng ta không ai lại nghĩ là họ muốn nói tới bánh
kẹo hoặc là một tô phở.
Ái dục có tính cách hổ thẹn. Có
lần, trong một lớp dạy về các năng lượng khó
khăn trong tâm, tôi hỏi các thiền sinh là năng
lượng nào đã gây nhiều khó khăn
nhất trong cuộc sống của mỗi người. Khi chúng tôi đi vòng quanh
phòng, phần đông đều phát biểu rằng lòng
thù ghét hoặc sân hận là một chướng ngại khổ sở nhất
đối với họ. Dường như ai cũng có thể chấp
nhận được điều ấy dễ dàng, và nó cũng không có gì là lạ hoặc gây
khó chịu cho người nghe. Cuối cùng, có một người
đàn ông phát biểu, "Thật ra thì tôi
nghĩ lòng ái dục là gây cho tôi nhiều khó khăn
nhất." Mặc dù không ai nhúc nhích, nhưng tôi thấy dường như có một
sự ngượng ngùng rõ rệt. Có những tiếng cười rụt rè, khúc khích phá lên
khắp nơi trong phòng. Đột nhiên, người
đàn ông dễ thương,
đáng kính và thành thật ấy, lại như có
một cái gì bất thiện phủ trùm lên ông.
Mặc dù trong kinh
điển có đề cập đến lòng ái dục như là
một năng lượng nhục dục, nhưng theo tôi nghĩ
chúng ta nên hiểu rằng đó là
một năng lượng tham muốn về bất cứ một đối
tượng nào cũng vậy. Nó là cái năng
lượng của cảm nghĩ là ta sẽ không thể nào có hạnh phúc trừ khi mình
phải có được một cái gì
đó. Nó là một cảm giác thiếu thốn
trong tâm. Bạn có bao giờ có cảm giác ấy không? Bạn
đứng dậy, đi lại mở cửa tủ lạnh rồi đứng đấy
nhìn vào, bạn đứng đó với cánh cửa tủ
lạnh mở toang, bạn không biết là mình thật sự muốn gì nữa, nhưng
bạn có cảm giác là mình muốn một cái gì đó.
Nó cũng chính là cái năng lượng đã xúi
dục chúng ta đột nhiên phải vặn ti-vi
lên, và dùng chiếc máy bấm để đổi hết đài
này sang đài kế, may ra có một cái gì
đó hay ho đang xảy ra chăng!
Tâm thiếu thốn thì chỉ là một
tâm thiếu thốn, và nhiều khi nó xuất hiện mà không cần
đến một sự đòi hỏi nào của sinh lý.
Mấy năm trước đây khi đứa cháu gái của tôi lên
hai tuổi, em trai của nó chào đời. Bà
nội của nó và tôi đến ở với nó đêm má
nó phải vào nhà thương. Chúng tôi lo cho nó hết sức chu tất. Nó
cũng rất thân với chúng tôi, và cả hai bà ngoại, nội hoàn toàn dành hết
tất cả cho sự an vui của cháu. Mặc dù vậy, trong suốt buổi tối hôm ấy, rõ
ràng là nó đã cảm thấy sự vắng mặt của
má nó. Nó bảo, "Cháu muốn uống nước cam," và chúng tôi
đi lấy nước. Rồi nó đòi, "Cháu muốn
ăn một miếng bánh," và chúng tôi lại
cho nó bánh. Một hồi sau nó lại nói, "Bây giờ cháu muốn
đọc sách," và tiếp theo là "Cháu muốn
đồ chơi. Cháu muốn búp bế. Cháu muốn ăn táo."
Đến một lúc, tôi và bà nội nó nhìn nhau và hiểu là
đứa cháu gái mình chỉ cảm thấy cần
một cái gì đó thôi. Bà nội của nó nói,
"Chắc là nó nhớ mong một cái gì." Đứa cháu
gái tôi cảm nhận cái năng lượng của sự nhung nhớ về một cái gì mà
nó không biết rõ. Và lẽ dĩ nhiên, nó đâu có
khả năng để nói là "Cháu cảm thấy cái năng
lượng của sự cần thiết và ham muốn, nhưng cháu không biết là mình
đang cần cái gì."
Đôi khi cái tâm ngh
èo
túng ấy khởi lên để đáp ứng lại một sự thiếu
thốn trong lòng, như trong trường hợp của
đứa cháu gái tôi. Nhưng cũng có đôi lúc dường
như nó xuất hiện thật vô cớ. Thật ra cũng không phải hoàn toàn là
vô cớ đâu! Thường thì
đó là những phản ứng tự nhiên của ta
khi tiếp xúc với những gì mình ưa thích. Như có bao giờ bạn
đi ngang qua một tiệm bánh và trở nên
ý thức đến một mùi bánh thơm thoang
thoảng bay ra không? Trước khi bạn ngửi thấy mùi bánh ấy, bạn không
đói bụng. Bây giờ thì
đột nhiên một cơn
đói bụng ghê gớm chợt nổi dậy.
Điều này không phải là một sự kiện gì
quái lạ hết, vì đường lối vận hành
bình thường của tâm là như vậy. Mỗi khi tiếp xúc với những kinh nghiệm dễ
chịu, tham muốn sẽ khởi lên. Mà hành động
theo sự ham muốn cũng không nhất thiết là sai bậy, vì
đôi khi những ham muốn ấy cũng rất lành
mạnh, đặc biệt là những ham muốn của
cảm thọ. Ta không thể khờ khạo mà nghĩ rằng mỗi khi cảm thấy
đói bụng chúng ta chỉ cần nói, "Cái này
chỉ là lòng ham muốn khởi lên mà thôi" và rồi không cần phải làm gì hết.
Và cũng vậy, khi ta giả vờ như không biết đến
những cảm giác dục tình, thay vì chọn những biện pháp khéo léo, có
ý thức để đối trị nó, thì kết quả cũng
sẽ không tốt đẹp gì hơn. Sự ham muốn
của cảm thọ là những năng lượng đều đặn và
thường xuyên tràn lấn tâm ta và bắt giữ sự chú ý của ta. Chọn những ham
muốn lành mạnh của cảm thọ là một phần trong cuộc sống
được làm bằng những tương giao của ta
với thế giới chung quanh này.
Cũng có những ham muốn phức tạp
hơn là những nhu cầu rõ rệt của sinh lý như là về thực phẩm hoặc tình dục
chẳng hạn. Đó là lòng ham muốn về
những kinh nghiệm thú vị. Tôi hay thích đọc
tạp chí Smithsonian. Mỗi tháng tôi nhận
được một tờ báo mới gởi đến tận nhà,
và phía bìa sau là những hình quảng cáo về những chuyến du lịch không
tưởng đến những nơi thật xa xôi. Có lúc bất
ngờ tôi thấy mình thật sự dự tính cho một cuộc du hành mười bảy
ngày đến Bắc Cực. Năm phút trước khi đọc
trang quảng cáo ấy, tôi không hề nghĩ đến bất cứ một chuyến đi xa nào
hết. Mà trong đời tôi, cho đến giây phút ấy,
tôi cũng không hề có một ý thích gì
đến thăm viếng miền Bắc Cực. Vậy mà đùng
một cái, tờ quảng cáo hấp dẫn đã khiến
tôi thật sự xem xét giá tiền của chuyến đi và
tự hỏi không biết mình có sắp đặt được thời
giờ để tham gia không.
Những loại sách liệt kê các món
hàng và những tài liệu quảng cáo gởi qua
đường bưu điện cũng có thể khích động được năng lượng của ái dục trong ta.
Mỗi ngày tôi đều nhận được những tập
sách quảng cáo về những món hàng mà tôi không bao giờ cần
đến. Những trang bìa
được trình bày rất hấp dẫn khiến lần
nào tôi cũng quyết định là mình cũng
nên xem qua thử một chút. Và khi đọc vào
rồi, thế nào tôi cũng tìm thấy một món đồ đặc
biệt nào đó mà tôi phân vân
không biết mình có cần không. Hoặc là nghĩ, có thể cá nhân mình không cần,
nhưng nó sẽ rất thích hợp cho một người quen nào
đó. Mặc dù chưa
đến ngày sinh nhật của họ. Tôi bắt
đầu nghĩ đến khi nào là sinh nhật họ,
hay là để dành món quà ấy cho một dịp
lễ nào khác. Tất cả những chuyện ấy thật ra cũng dễ hiểu, vì
đường lối vận hành của tâm là mỗi khi
tiếp xúc với một kinh nghiệm dễ chịu, chúng ta sẽ cảm thấy một sự lôi kéo,
một năng lực ham muốn, và tâm ta sẽ
chạy theo hướng của những kinh nghiệm cảm thọ dễ chịu ấy.
Và
đôi khi dù không có một kinh nghiệm lý thú nào có mặt, tâm ta cũng
vẫn có đầy đủ khả năng để gợi lại những hình
ảnh trong quá khứ, và rồi tham muốn chúng. Tôi rất ngạc nhiên khi khám phá
ra tâm ta lại có thể ham muốn thật nhiều mặc dù
đang sống trong tu viện. Tôi đã bỏ ra
rất nhiều thời gian trong những tu viện để
thực tập thiền quán. Thực phẩm ở đây thì rất
đơn sơ, và hoàn cảnh không hề cho phép
ta có những sinh hoạt gì nhiều. Mặc dù vậy, tôi cũng
đã phác thảo ra trong
đầu, toàn bộ một nhóm y phục rộng rãi
và thoải mái mà tôi có thể mặc để đi tham dự
một khoá tu trong một tương lai viển vông nào
đó. Tôi tưởng tượng sẽ đan cho mình
một tấm mền ấm hơn. Tôi phác họa trong đầu sẽ
mua một chiếc đòn gỗ hoặc một tọa cụ khác, ngồi thoải mái hơn cái
mà tôi đang có. Mặc dù những nguyên
nhân gây nên sự tham muốn ở đây thì
rất là ít ỏi, nhưng tâm tôi vẫn cứ hoạt động
tối đa. Tôi tưởng tượng kinh nghiệm tu tập của mình sẽ có nhiều
thành quả hơn, nếu họ làm đồ ăn sáng ngon hơn
hoặc mua một hiệu trà khác hơn. Tùy ở sự tu tập của tôi ngày hôm ấy
tốt đẹp đến đâu, tôi có thể thấy mình
nghĩ đến thực đơn của buổi ăn chiều, ngay sau
khi vừa ăn trưa xong. Nhưng tôi không hề nghĩ là tâm tôi
động loạn gì nhiều hơn bất cứ một ai
khác. Tánh tự nhiên của tâm là luôn luôn nhìn về phía chân trời, tìm kiếm
những kinh nghiệm nào khả dĩ có thể đem lại
sự thú vị cho nó, và rồi bám chặt vào
đó. Đó là tình trạng bị điều kiện của
chúng ta.
Và
đôi khi năng lượng của sự ham muốn trong tâm sẽ khiến cho ta đột nhiên
biết yêu. Khi tâm và thân ta tràn ngập năng
lượng của ái dục, người khác đối với ta tự nhiên sẽ trở nên hấp dẫn
hơn. Chúng ta vẽ vời nên những hình ảnh mơ mộng lãng mạn hoặc gợi tình về
người khác, mà không cần biết họ là người như thế nào, chỉ dựa ở nơi tâm
ta lúc ấy cảm thấy ra sao. Đây là một
hiện tượng đặc biệt rất khó đối trị. Nó xảy
ra rất thường trong những khoá tu khi mọi người tuyệt đối nguyện giữ thinh
lặng, và vì vậy họ không thể nào xét
đoán được người khác xem có hợp với mình không. Họ cảm thấy kích
thích trong tâm và thân, và đột nhiên
bị xúc động mạnh, giống như là họ vừa
biết yêu một người mà mình không hề quen biết, chỉ dựa trên cách cô nàng
ta đi vào thiền
đường hoặc nhìn anh chàng ta
ăn mà thôi. Chính tôi cũng
đã từng cảm thấy phải lòng yêu những
người đâu đâu chỉ vì họ vô tình bước
vào tầm nhìn của tôi, khi tôi đang cảm thấy
vui thú hoặc đang ngập tràn với năng
lượng của ái dục. Tôi cũng đã mơ tưởng ra những hình ảnh bỏ trốn
theo những người xa lạ ấy. Cả sự việc rất là buồn cười và không thực, vì
tôi đã có chồng và hoàn toàn không hề
có một tình ý nào khác với bất cứ ai. Và những người mà tôi cảm thấy
"yêu", tôi cũng có biết chút ít về họ, họ hoặc
đã đính
hôn hoặc cũng đã có gia đình.
Cả chuỗi sự kiện ấy hoàn toàn chỉ là những mơ tưởng vô vọng. Nhưng dù vậy,
tâm ta cứ bám vào vấn đề ấy và quyết
định rằng đây là một mối tương giao
quan trọng nhất trong đời mình,
đây là người bạn
đời tâm linh mà mình hằng tìm kiếm.
Nghĩ cũng đáng sợ khi thấy tâm ta lại có thể
dựng lên cả một tấn tuồng từ một năng
lượng rất đơn sơ của thân và tâm.
Khi năng
lượng của ái dục phát khởi lên, chúng ta nhìn chung quanh, và
đùng một cái cho rằng, "Cái này là cái
mà mình đang cần đây!" Thật ra nó cũng không
phải là một vấn đề, mà là khôi
hài thì đúng hơn. Nó chỉ trở thành một
vấn đề khi ta thiếu chánh niệm, khi ta quên
đi và cho
đó là thật.
Nhưng không phải là tôi muốn
khuyên bạn không nên yêu. Biết yêu nhiệm mầu lắm chứ! Tôi chỉ muốn nói là
khi ta yêu, ta nên từ tốn một chút để có thể
biết chắc người mà ta yêu không phải
đơn giản chỉ là một nhân vật được tạo
dựng nên bởi lòng ham muốn của chính mình.
Giáo lý của Phật dạy về ái dục
có lẽ cũng tương tự với một huyền thoại của Âu Châu, là nếu bạn nuốt trọn
trái tim của một con gà, bạn sẽ phải lòng yêu và sống trọn
đời với bất cứ một người nào mà bạn sẽ
gặp ngay sau đó. Thật ra tôi nghĩ có lẽ
chuyện ấy cũng đã thật sự xảy ra cho rất nhiều người. Sau khi
đã nuốt trọn một trái tim và
đang ở trong một trạng thái gợi tình,
bất cứ một người nào mà họ gặp tiếp đó sẽ
thấy hấp dẫn hơn. Là một thiền sinh có nghĩa là ta tạo cho mình một
khoảng không gian trong tâm, để ta có thể
tỉnh táo và thấy được thế nào
một phản ứng lành mạnh và vững vàng.
Một liều thuốc có khả năng
hóa giải được chướng ngại về ái dục là sự kiềm chế. Thái
độ kiềm chế trong thời
đại ngày nay nghe có vẻ lạc hậu quá.
Tôi cũng cảm thấy hơi ngượng một chút khi sử dụng danh từ ấy, vì tôi thấy
bắt đầu giống bà Nội mình rồi
đó, đối với cụ thì chỉ cần nói một số
chữ khiếm nhã thôi cũng đủ là hành
động bất luân rồi. Nhưng kiềm chế
là một danh từ rất hay. Nó có nghĩa là ta biết chờ
đợi lâu đủ để thấy được hai việc xảy ra.
Việc thứ nhất là ta hy vọng sẽ
thấy rõ được đối tượng của sự ham muốn có lành
mạnh không, và hành động theo nó có hợp luân
lý, có trách nhiệm và đúng đắn hay
không. Và việc thứ hai sự chờ đợi có
thể cho phép ta thấy được là ham muốn tự nó chỉ là một năng
lượng của tâm mà thôi. Đó là
một loại năng lượng đi tô màu cảm giác
ta và thúc đẩy hành
động của ta. Nhưng khi đã biết nó chỉ
là một loại năng lượng, ta sẽ hiểu nó không
hề có quyền năng bắt ta phải hành
động. Nó không phải là một mệnh lệnh, chỉ là một lời
đề nghị mà thôi. Nếu sự ham muốn là
lành mạnh và đúng lúc, ta có thể quyết định
sẽ hành theo. Và nếu sự ham muốn là bất thiện và không
đúng lúc, ta có thể tự kiềm chế lại, và
năng lượng ấy chắc chắn rồi sẽ qua đi.
Liều Thuốc Giải Trừ Ái Dục
Sau
đây là một câu chuyện ngụ ngôn ví dụ
cho ta thấy năng lượng của ái dục có thể bị
khắc phục được bằng sự tu tập định tâm. Cũng như những chuyện cổ tích
khác, câu chuyện ngụ ngôn này đã
được khẩu truyền qua nhiều thế hệ. Tôi không
biết nguồn gốc của nó, nhưng tôi nghe lại từ một người bạn, và chị
ta đã
được nghe từ vị giáo sĩ Do Thái Zalman Schachter-Shalomi. Thế nên,
bây giờ thì đây là một câu truyện Phật
giáo nhưng có nguồn gốc từ Do Thái giáo vậy.
Ngày xưa thật xưa, trước khi
chúng ta quá khôn ngoan, ở một vùng đất nọ,
nơi mà vẫn còn những cô công chúa thật
đẹp với trái tim còn đang say ngủ và
những chàng trai khờ khạo, có một anh thanh niên
đem lòng yêu thương một cô công chúa
miền xa. Lòng ái dục về nàng công chúa đã
ngập tràn tim anh. Chàng thanh niên ấy tin chắc rồi sẽ có một ngày họ
được gặp và thành hôn với nhau. Anh ta
còn tưởng tượng là mình sẽ trở thành một người cha của một bầy con
đông đảo.
Rồi một hôm trong một chuyến
đi, cô công chúa cùng
đoàn tùy tùng
đi ngang qua nơi anh đang sống. Và
chàng thanh niên khờ dại ấy bị lòng ái dục làm mù quáng, nhào ra khỏi
đám đông, quỳ xuống trước chân cô công chúa và
kêu lên, "Chừng nào chúng ta mới sẽ được sống
bên nhau?" Cô công chúa với giọng khinh khi nhìn anh thanh niên
nói, "- trong nghĩa địa!" Ý của cô là
"Không bao giờ là trong kiếp này, tên ngốc kia!" Nhưng anh thanh niên lại
tiếp nhận lời ấy như là một mệnh lệnh, anh ta tìm
đến một nghĩa địa và chờ ở
đấy.
Anh chờ và chờ và tiếp tục chờ.
Thời gian hoàn toàn là vô nghĩa đối với anh.
Anh chỉ có một mục đích duy nhất và một con tim không biết lay
chuyển.
Và anh tiếp tục chờ
đợi...
Bổng một ngày nọ, tâm anh trở
nên thật bình lặng và tập trung đến mức toàn
thân tâm anh ngập tràn niềm vui và ánh sáng, nó xua tan hết mọi hận thù và
nhỏ nhen. Anh cảm thấy yêu thương hết tất cả mọi người, mọi loài không
phân biệt. Và người chung quanh cũng cảm nhận
được tình thương bao la ấy của anh, họ rủ nhau tìm
đến để được anh ban ơn phước.
Và anh vẫn tiếp tục chờ
đợi...
Anh cũng
đã nhiều lần
được gặp thần Chết. Thật ra thần Chết là
người khách ghé qua thường xuyên nhất, vào đủ
mọi giờ, mọi lúc, dẫn theo đủ hết mọi hạng người trong xả hội, già
trẻ, giàu nghèo, đẹp xấu, được nhiều người
thương hoặc bị mọi người ghét bỏ. Với một cái nhìn tĩnh lặng, chàng
thanh niên chợt nhận thấy cái mong manh, vô thường của sự sống, cái bước
tiến vô tình và lạnh lùng của thời gian. Anh chợt ý thức
được những khổ đau của ta có là vì ta
bám víu vào những bóng ma của các kinh nghiệm rỗng tênh. Và rồi anh trở
nên minh triết hơn. Và người chung quanh cũng cảm nhận
được sự minh triết ấy, họ lại càng tìm
đến đông hơn để được anh ban ơn phước.
Cô công chúa ngày xưa bây giờ
đã lập gia
đình, nhưng vẫn chưa có
được một mặt con nào. Nghe tiếng
đồn về một vị thánh sống trong nghĩa địa, có
khả năng ban ơn phước cho mọi người, cô tìm
đến để xin được một đứa con. Và chàng
thanh niên si mê khi xưa, ngày nay với một hạnh phúc vô biên và cuộc sống
tự tại, kêu gọi hết tất cả những thần linh trong toàn cõi vũ trụ về ban
phước cho cô. Và cô công chúa ấy sau cùng đã
trở thành mẹ của một bầy con kháu khỉnh.
Ác Cảm
Ngược lại với lòng ái dục là
lòng ác cảm, một năng lượng của sân hận và
tiêu cực. Ác cảm không dễ chịu. Đức Phật nói
đến lòng sân hận như là một thứ độc
dược trong tâm, nó là một loại nọc độc
làm lu mờ tâm ý ta. Khác với một tâm
đầy ái dục lúc nào cũng tìm kiếm chung quanh một vật gì nắm bắt
để thỏa mãn, tâm ác cảm ngược lại muốn
loại bỏ chúng đi.
Đôi khi người ta lại cho rằng
sự tức giận có một cảm giác thú vị, vì nó là một loại năng
lượng kích thích rất mạnh. Ví dụ, một người tâm đang ở trong một trạng
thái buồn ngủ hoặc dã dượi, đột nhiên
sẽ cảm thấy trở nên sống động và tỉnh
thức hơn. Cơn giận đôi khi khiến ta cảm thấy
như mình rất có quyền thế, nhất là khi ta nghĩ cơn giận của mình là
chính đáng. Nhưng cuối cùng thì sự
giận dữ chỉ là một cơn bão trong tâm mà thôi, nó chỉ làm cho ta mệt mỏi và
rối loạn thêm.
"Tôi phải
đối xử với cơn giận của mình bằng cách
nào?" là một trong những câu hỏi tôi thường
được nghe nhiều nhất. Khi người ta nghĩ tôi sẽ khuyên rằng sự biểu
lộ cơn giận ra ngoài là hoàn toàn không cần thiết, họ thường cảm thấy hơi
lo và phản đối ngay. Tôi nghĩ, có lẽ người ta
sợ là một khi họ không còn được tranh
cãi và chiến đấu nữa, họ sẽ không còn
có thể truyền thông một cách tự nhiên và thành thật với kẻ khác
được. Tôi rất thích dạy cho người ta hiểu là
nếu ta truyền đạt thông
điệp của mình mà không nổi giận, ta sẽ
có thể nói bất cứ một điều gì ta muốn
cho bất cứ một ai trên thế giới này, mà vẫn có thể nhấn mạnh
được quan điểm của mình và cảm thấy
được lắng nghe. Thông điệp ấy có thể nói lên
sự thật là ta đã hoặc
đang cảm thấy tức giận, nhưng không nhất
thiết nó phải là một sự biểu lộ của cơn giận ấy!
Trong bộ Vinaya, tức
những giới luật và uy nghi của bậc xuất gia,
đức Phật có để lại những lời hướng dẫn sau đây cho việc biểu lộ cơn giận.
Ngài nói:
Trước khi khiển trách một người
nào, ta nên suy ngẫm những điều này...
Lời nói phải hợp thời, hợp lúc. Lời nói phải chân thật, không dối trá. Lời
nói phải vì lợi ích của người ấy, không phải cho sự mất mát. Lời nói phải
ôn hòa, không được gay gắt. Lời nói phải vì
từ bi, không phải vì giận dữ.
Trong nhiều năm
qua, tôi đã ghi chép lại những lời dạy ấy trên một tấm thẻ nhỏ
để trong văn phòng. Và tôi thường
đưa cho những cặp vợ chồng xem, khi họ đến
tham vấn tôi về những khó khăn trong đời sống hôn phối.
Tôi rất thích ý tưởng về việc
"hợp thời, hợp lúc." Nó nhắc nhở là ta không cần phải biểu lộ sự tức giận
của mình ra ngay tức thì, và chọn một thời gian khác thích hợp hơn sẽ có
thể giúp cho người kia dễ dàng tiếp nhận thông
điệp của mình hơn. "Chân thật", theo ý
tôi, có nghĩa là ta có đủ thời giờ để suy
ngẫm về điều gì đã thật sự
làm cho mình tức giận, thay vì đưa ra những
nguyên cớ nông cạn, như chúng ta vẫn thường làm.
"Anh không bao giờ chịu
đậy nắp của ống kem đánh răng lại mỗi khi xài
xong!" có lẽ là không đúng sự thật. "Thường
thường" thì có lẽ chính xác hơn là "không bao giờ." Và cũng rất
có thể, sự thật không phải ống kem đánh răng
là nguồn gốc của nỗi bực tức của ta. "Khi anh không
đậy nắp của ống kem đánh răng lại, em cảm
thấy là anh không biết chìu ý của em, và
điều ấy làm cho em lo sợ" thì có lẽ
gần đúng với sự thật hơn.
"Ôn hòa", "từ bi" và "vì lợi
ích của người ấy" có nghĩa là ta biết bỏ thì giờ
để quán xét lại ý định của mình trước
khi bày tỏ sự bất bình. Nó có nghĩa là ta phải chắc rằng ý
định của mình là
để giải hòa hoặc
để hướng dẫn với lòng từ ái, chứ không
phải có mục đích gây đau đớn để trả thù
cho nỗi thương tích của mình.
Những cặp vợ chồng
đôi khi xin phép tôi đem tấm thẻ ấy về để in
lại, và sẽ trưng bày trong nhà ở những nơi dễ thấy nhất. Nhiều năm
nay tôi đã từng mơ ước là phải chi có một hảng sản xuất loại giấy
trang trí dán tường nào lại muốn sáng chế kiểu mới này,
để chúng ta có thể trang trí hết những căn phòng
trong nhà với những lời dạy của đức Phật về
phương cách biểu lộ cơn giận.
Vài năm
trước đây tôi có đi tham dự một khóa hội thảo, khi có người đứng lên
hỏi đức Đạt Lai Lạt Ma, "Ngài có bao
giờ nổi giận không?" Ông trả lời, "Lẽ dĩ nhiên. Nếu có
điều gì xảy ra mà tôi không thích, nếu
đó là chuyện mà tôi không muốn xảy ra,
cơn giận sẽ khởi lên." Qua giọng nói của ông, tôi nhận thấy rất rõ là mặc
dù cơn giận có khởi lên, nhưng đối với ông nó
chẳng có gì là đáng kể. Chúng tôi
hiểu, mỗi khi cơn giận phát khởi lên ta chỉ cần làm những gì thích
đáng để giải quyết vấn đề và rồi cơn
giận sẽ qua đi. Nhưng tôi không bao giờ có
thể tưởng tượng được đức Đạt Lai Lạt Ma, một người mà tôi nghĩ rằng
có lẽ là có một tâm thức lành mạnh nhất trên thế giới này, lại có thể biểu
lộ cơn giận của ngài bằng một phương cách nào là bất thiện.
Biết ý thức
được sự phát khởi bất ngờ của cơn giận cũng
giống như là ta có một hàn thử biểu trong tâm vậy. Mỗi khi tôi thấy
nhiệt độ tăng vọt lên, là tôi biết
ngay có một chuyện gì đó vừa xảy ra, hoặc đe
dọa, hoặc làm tôi buồn bực. Nếu khôn ngoan, thì thay vì biểu lộ
phản ứng giận dữ ra bên ngoài, tôi có thể ngồi xuống
để tìm hiểu cái nguyên nhân của sự sợ
hãi hoặc nỗi buồn ấy là gì. Khi thấy được
nguyên nhân rồi, từ đó tôi sẽ có thể
giải quyết vấn đề khôn khéo hơn, không bị lộn xộn vì cái năng
lượng tiêu cực của cơn giận.
Lòng sân hận thường thường là
một vấn đề lớn đối với những ai sinh trưởng
trong một gia đình mà sự biểu lộ cơn giận ra ngoài là chuyện thường
tình. Họ có quá nhiều cơ hội để thực tập tức
giận và không hề ý thức đến những
phương cách nào khác. Với họ, sân hận trở thành một phản ứng tự
nhiên của tâm đối với những hoàn cảnh
khó chịu. Đôi khi người ta than với tôi họ
cảm thấy mình là nạn nhân của một "nút bấm tức giận." Hoặc còn tệ
hơn nữa, có người lớn lên với một mặc cảm xấu bởi vì họ rất dễ "nóng
tánh." Người ta tâm sự với tôi, "Tôi cảm thấy trong tôi tràn ngập một sự căm
thù." Tôi rất buồn khi nghe điều ấy, vì
biết rằng người ta đã
đi bám chấp vào một thứ năng
lượng đặc biệt của tâm và cho nó là một bản chất bất biến của mình,
dù năng lượng ấy có hay ho hoặc thú vị đến
đâu. Khi người ta bắt đầu thấy được cơn giận, cũng như mọi năng lượng khác
của tâm, chỉ là một hiện tượng nhất thời và vì vậy có thể
đối trị được, họ cảm thấy rất nhẹ nhõm.
Ý kiến của họ về con người mình cũng tiến triển hơn. Họ có thể nghĩ, "Cái
này đâu phải là tôi, nó chỉ là một yếu
điểm phản xạ của tôi mà thôi! Tôi có
thể bước đi khập khiễng trong chốc lát đấy,
nhưng rồi tôi sẽ lấy lại được quân bình!"
Một khi chúng ta thấy
được tâm phiền não chỉ là những năng
lượng, ta sẽ có thể đối phó với chúng khôn khéo hơn. Chúng ta có thể ghi
nhận chúng, tìm hiểu chúng, có những quyết
định cân nhắc về chúng, và từ
đó ta có thể hành
động khôn ngoan hơn. Ta sẽ không còn
cảm thấy bị chúng đàn áp và tấn công
nữa. Mỗi khi tôi bị áp đảo bởi một năng lượng
nào của tâm, tôi có cảm tưởng như là có một bàn tay khổng lồ không
biết từ đâu, bắt lấy tâm ý tôi, và nắm
lắc nó một cách thô bạo. Bây giờ, mỗi khi tôi kinh nghiệm bất cứ một trạng
thái tâm thức nào, dù có là khó khăn và
không kiểm soát được, tôi vẫn biết nguồn gốc
của chúng là từ ở nơi chính tâm tôi, chứ không phải do một nguyên
nhân nào ở bên ngoài hết. Và cho dù có một biến cố nào bên ngoài khơi ngòi
cho những phản ứng sợ hãi hoặc buồn lo đi
nữa, mà chúng được biểu lộ qua hình
tướng của sự giận dữ, thì thật ra chính cái khuôn mẫu của tâm tôi
đã uốn nắn nên những phản ứng ấy.
Cũng có
đôi khi tâm ta cảm thấy buồn lo, sợ hãi
hoặc tức giận mà không có một lý do ngoại tại nào rõ rệt hết.
Đôi khi cơn giận dường như tự phát khởi lên
một mình nó. Như có hôm ta bắt đầu một ngày
mà tâm mình cảm thấy rất bực bội. Đó là
một tâm thức bực dọc, một tâm thức đang kiếm
cớ để gây sự. Lẽ dĩ nhiên, cũng phải có một vài nguyên nhân
nào đó, vì mọi việc
đều do duyên khởi, nhưng việc ấy không
nhất thiết phải là do một sự kiện nào ở bên ngoài ta. Có lẽ
đêm qua chúng ta có một giấc mộng
không lành. Có lẽ chúng ta bị thiếu ngủ. Có lẽ có một biến chuyển về những
chất kích thích tố trong cơ thể ta. Có lẽ vì ảnh hưởng của mặt trăng.
Dầu sao thì những hóa học trong cơ thể ta bao giờ cũng ít nhiều có
trách nhiệm về những năng lượng khó chịu
trong tâm mình.
Vì
đôi khi ta cảm thấy quạu quọ, mà dường như nó xuất hiện từ
đâu đâu không giải thích được, nên
chúng ta thường hay đi tìm một nguyên
cớ để bực mình, một hoàn cảnh nào
đó bên ngoài
để ta đổ trút năng lượng tiêu cực ấy
lên. Ngay cả trong những khóa tu thiền, khi người ta hoàn toàn không biết
nhau, cũng nhiều khi có những mối thù truyền kiếp
được dựng lên
đối với những người lạ mặt, để đáp ứng cho
cái trạng thái bực dọc nhất thời của họ. Đột nhiên, một người nào
đó bị trở thành một cái bia nhận lãnh
hết những bực dọc, ác cảm nội tại của một người khác, chỉ vì cô ta
đi đứng hơi ồn ào hoặc anh ta ho hơi
lớn tiếng trong thiền đường. Và rồi
người ấy tự nhiên trở thành một người mà bạn nhất
định không ưa nổi, mỗi mỗi cử chỉ của anh ta,
từ giờ phút ấy, sẽ đem lại cho bạn những lý do để bạn tự bào chữa
cho cái ác cảm của mình.
Nhưng chúng ta không thể nào
nói rằng vì những cảm giác tiêu cực chỉ có tính cách nhất thời, nên chúng
ta cứ làm lơ chúng đi. Cho dù nếu,
đặc biệt là nếu, chúng chỉ là
một phản ứng do sự chuyển biến hóa học trong cơ thể ta hoặc sự thất thường
của tính khí, ta vẫn cần phải ý thức rõ ràng
được sự có mặt của chúng. Bằng không, ta có thể đi tin vào lời phán
xét của chúng đối với những gì
đang xảy ra chung quanh, và từ
đó ta sẽ có những hành
động thiếu sáng suốt. Chúng ta cần nhớ, bất
cứ một tính khí nào đang có mặt, nó
cũng đang ảnh hưởng đến kinh nghiệm của ta.
Mặt khác, nếu cơn giận trong
tâm là một phản ứng đối với một sự kiện nào
bên ngoài, chúng ta cần nên tìm hiểu tính chất buồn lo hoặc sợ hãi của nó,
và rồi làm những gì cần làm để giải quyết
chúng. Biết rằng sự tiêu cực hoặc ác cảm chỉ là một năng
lượng nhất thời không bao giờ có nghĩa là ta nên làm lơ nó. Trái
lại, ta cần biết nhận diện nó cho rõ rệt, và luôn luôn xử sự cho thật khôn
khéo.
Nhưng, Chiếc
Đòn
Gỗ Ấy Là Của Tôi!
Nhiều năm
về trước, tôi có tham dự một khóa tu thiền quán nghiêm túc kéo dài
vài tuần. Trong những ngày ấy, không những tôi sử dụng một chiếc tọa cụ
để ngồi thiền mà còn giữ một chiếc
đòn gỗ cạnh bên,
để khi nào cảm thấy mỏi mệt tôi có thể
đổi sang ngồi. Tôi rất sợ cơ thể mình
sẽ bị đau, và tôi cảm thấy mình cần
hết mọi sự giúp đở chung quanh. Tôi cũng
thường tìm ngồi sát vách tường ở cuối thiền
đường để tôi có thể dựa lưng vào, nếu
lỡ có cần đến.
Một buổi chiều, tôi
đang an ổn ngồi thiền ở chỗ thường ngày
của mình gần vách tường cuối phòng trên tọa cụ, với chiếc
đòn gỗ sát một bên.
Đột nhiên, tôi nghe có tiếng quần áo
sột soạt đi đến gần. Tôi hé mắt ra nhìn
và thấy một bàn tay vói xuống, lấy chiếc đòn
gỗ của tôi, và đem nó đi. Rồi tôi thấy người
ấy để nó xuống một chỗ cách xa tôi, và ngồi xuống trên chiếc
đòn gỗ ấy. Anh ta là một thiền sinh
mới đến mà tôi chưa hề gặp trước
đó trong khóa tu.
Một ngọn núi lửa của sự bực tức
chợt bùng nổ trong tâm tôi. Nó là một cơn giận vô cùng "chính
đáng." Anh ta đã lấy cái
đòn gỗ của tôi! Trong giây phút
ấy thì dầu tôi đã có tọa cụ của mình
và thân tôi cảm thấy rất an ổn, cũng chẳng nghĩa lý gì. Và dầu tôi biết là
nếu cần, tôi vẫn có thể xin thêm tọa cụ hoặc một chiếc
đòn gỗ khác từ ban tổ chức, vẫn không
làm tôi bớt giận. Người ấy đang ngồi trên
chiếc đòn nhỏ của tôi. Tôi bỏ
nhiều giờ bực tức thảo ra trong đầu những lá
thơ gay gắt cho người đã dám lấy chiếc ghế của tôi. Thật ra, tôi
không hề viết xuống một dòng chữ nào, nhưng tâm tôi không ngừng soạn thảo
ra đủ hết mọi lá thư mà tôi có thể gởi
cho người ấy. Từ những lời lạnh lùng vô tình, cho
đến lời mỉa mai châm biếm, và một
đòi hỏi thẳng thừng. Mỗi ngày, người
ấy vẫn đến ngồi trên chiếc
đòn gỗ của tôi, rõ ràng là không một
chút ngại ngùng. Mỗi khi tôi vào thiền đường,
cơn giận tôi lại tăng lên thêm một cấp bậc mới.
Ngày qua, chiếc
đòn gỗ của tôi không có dấu hiệu gì là
sẽ trở lại với khổ chủ của nó, một nỗi lo rằng có thể người ấy sẽ
đem nó theo về nhà luôn, khiến cơn
giận của tôi tăng lên thêm bội phần.
Tôi bắt đầu không ưa tất cả mọi việc về người
ấy. Tôi không ưa cách đi đứng của anh ta, cách anh ngồi, cách anh ta ăn
uống. Một ngày nọ, sau buổi ăn trưa mà
tôi đã không ưa lối rửa chén dĩa của
anh ta, tôi trở về thiền đường cho khóa thiền
buổi chiều và thấy chiếc đòn gỗ
của tôi đã trở về nơi vị trí cũ, cạnh
bên chỗ tôi ngồi. Người sử dụng nó trong mấy ngày qua
đã biến mất. Có lẽ anh ta
đã đến
tham dự khóa tu trễ và phải trở về sớm.
Đột nhiên tâm tôi trở nên thật tĩnh
lặng. Nó cũng giống như đã bị tung
hoành bởi một cơn bão tố trong mấy ngày qua, và bây giờ
đột nhiên cơn bão biến mất.
Tâm tôi
đã chịu
đựng một cơn bão lớn trong suốt năm ngày
qua. Tôi chợt ý thức là mình đã sống
trong cơn bão ấy chỉ vì một chiếc đòn
gỗ nhỏ mà tôi không hề cần đến. Kinh nghiệm
ấy thật lạ lùng! Tôi đã tiêu
dùng hết biết bao nhiêu năng lượng của mình.
Dễ sợ thật! Tôi tự nghĩ, "Không lẽ đây lại là
thái độ của tôi trong suốt cuộc đời này
hay sao?"
Lười Biếng và Hôn Trầm
Tôi có một người bạn, chị ta
thường đi khắp nơi trên thế giới
để hướng dẫn những khóa tu thiền quán nhiều
ngày. Những người bạn thân của chị ai cũng biết, vì chị kể, cái trở
ngại lớn nhất của chị là cái tâm lười biếng. Mỗi khi
điện thoại reng và có giọng ai ở
đầu dây nói, "Chúng tôi muốn mời chị đến dạy
một khoá tu thiền sẽ được tổ chức tại Paris" (hoặc một nơi xa xôi nào
đó), ý nghĩa đầu tiên trong tâm chị
lúc nào cũng là "Ồ thôi! Xa xôi quá! Đi mệt
chết!" Nhưng câu trả lời của chị thì bao giờ cũng là "Được
rồi!" Chị biết câu trả lời đầu tiên trong
đầu chị bao giờ cũng bị sàng lọc bởi
cái khuôn thước trong tâm thức, và nó tìm hết mọi lý lẽ
để biến việc chị ưa thích thành một
công việc nhọc nhằn, cho dù việc ấy có hấp dẫn
đến đâu. Chị biết là mình thích
đi hướng dẫn các khóa tu, và chị là
một vị giảng sư có khả năng, chị chỉ cần vượt
qua cái phản ứng đầu tiên ấy bằng một
đáp ứng khôn khéo, sáng suốt.
Sự lười biếng và uể oải nghe
thì có vẻ như là xấu xa lắm. Chúng dường như có một chút âm vang gì hơi
bất luân trong ấy. Đối với người Tây phương,
tôi nghĩ chúng được xem như những điều mà ta có thể chọn lựa
được. Ví dụ, nói dối hoặc nói lời chân thật là
tùy nơi quyết định của chúng ta, chúng không
phải là những bẩm tính sở hữu của tâm. Cũng vậy, lười biếng hoặc
siêng năng là những gì chúng ta có thể
chọn lựa được, thay vì
đó là những sở hữu tính của tâm. Nhưng
theo giáo lý Ngũ Trần Cái, tức Năm Điều Ngăn
Ngại của tâm, thì sự lười biếng, uể oải và hôn trầm chỉ là
để diễn tả một tình trạng năng
lượng đang bị suy sút trong tâm. Vì năng
lượng của tâm lúc nào cũng luôn luôn thay
đổi, tăng giảm, cho nên tình trạng năng
lượng suy sút trong tâm cũng chỉ là một phần của những kinh nghiệm
hằng ngày của ta mà thôi. Đối với một số
người, không biết vì một lý do gì, tình trạng thiếu năng
lượng ấy lại là một kinh nghiệm xảy ra rất thường với họ. Nhưng
điều đó không có nghĩa họ là những
người biếng nhác. Nó chỉ có thể có nghĩa là, cũng như trường hợp của chị
bạn tôi, họ cần phải biết ý thức được sự có
mặt của trạng thái tâm thức ấy như là một chiếc máy sàng lọc nhất
thời, để nó khỏi vô tình ảnh hưởng
đến những quyết định chọn lựa của ta.
Những người
đang bị buồn ngủ hoặc hôn trầm, có nhiều khi
bề ngoài họ có thể trông như là những thiền giả xuất sắc. Họ có thể
ngồi thật yên hằng giờ trên tọa cụ, trông rất là
định. Sự thật là họ
đang mê ngủ hay ít nhất cũng
đang ở trong một trạng thái ngủ gà ngủ
gật nào đó. Khả năng ngồi lâu, tự chính nó,
không hề là dấu hiệu của một sự tu tập tiến triển. Một thiền sư
Thái Lan, trả lời cho một thiền sinh hỏi mỗi ngày mình phải ngồi bao lâu,
đáp, "Các vị ngồi bao lâu không thành
vấn đề, tôi đã từng thấy những con gà
ngồi yên trên tổ của nó ngày này qua ngày nọ, mà chúng có bao giờ giác ngộ
đâu!"
Ngồi không phải là thiền. Ngồi
chỉ là ngồi. Ngồi với một tâm tĩnh lặng, với ý thức sáng tỏ và một khả năng
quán chiếu, sẵn sàng tiếp nhận sự bừng dậy của tuệ giác -
đó mới là thiền.
Thiền sinh bị buồn ngủ, hoặc
cảm thấy uể oải trong tâm không nhất thiết cần phải xả thiền. Nếu ý thức
được trạng thái ấy chỉ là một kinh
nghiệm nhất thời và tạm bợ, họ có thể làm rất nhiều việc trong khi chờ cho
nó trôi qua. Họ có thể mở mắt ra. Họ có thể thở những hơi dài và sâu. Họ
có thể ngồi thẳng lưng lên. Họ có thể đứng
dậy và đi thiền hành, chưa từng
có ai ngủ gật trong khi đi bao giờ cả. Quan
trọng hơn hết, họ đừng để bị kẹt vào trạng thái ấy của tâm, và cho
đó là hình bóng hoặc một cá tính riêng
của họ. Thật ra họ không phải là những người biếng nhác, mà chỉ là những
người đang kinh nghiệm một năng lượng thấp
trong tâm.
Nếu ta liên tưởng
đến tâm mình như là một con quay
hồi chuyển (gyroscope), có tính cách di
động để đạt đến một vị trí quân bình và cân xứng, nhưng luôn luôn
chuyển động và thay
đổi để đáp ứng lại những gì
đang xảy ra chung quanh, ta sẽ hiểu rằng có
những lúc nó có nhiều năng lượng và sẽ có những lúc ít năng
lượng. Tất cả chỉ là những biến chuyển tự nhiên của năng
lượng trong tâm trên con đường đi đến
một sự quân bình toàn vẹn hơn.
Xao
Động
Nếu ác cảm là một tâm hay
đi gây sự và hôn trầm là một tâm buồn
ngủ, thì xao động là một tâm lúc nào
cũng đưa mắt nhìn về phía chân trời
tìm kiếm một tai họa nào đó mà nó tin
chắc chắn rồi sẽ xảy ra. Nói về mặt năng
lượng thì đây là cực
đối nghịch lại với hôn trầm. Hôn trầm là
một tâm thức ít năng lượng, còn xao
động là một tâm thức quá nhiều năng
lượng.
Đôi khi sự xao động được biểu
lộ ra bằng một sự bồn chồn và bất an trong cơ thể. Nhưng thật ra
thì sự bất an nơi thân cũng chưa phải là một vấn
đề lớn. Nó có thể gây chút khó khăn trong
những khóa tu, khi ta cần phải ngồi yên
để tránh làm phiền
đến người khác. Vấn đề nghiêm trọng
hơn là sự bất an trong tâm. Tâm ta vì quá dư thừa năng
lượng, lúc nào cũng nhìn quanh quẩn tìm kiếm một lý do gì
đó để lo lắng. Những người bị chế ngự bởi
năng lượng xao động này trở thành những người lúc nào cũng lo âu,
và mặc dầu họ thường xấu hổ không dám chấp nhận việc ấy ("Lo nghĩ về những
gì mình không thể thay đổi được thì
vớ vẩn quá!"), xao động là một tập
quán tâm thức đặc biệt rất khó mà sửa
đổi.
Tôi biết rất rõ về tâm thức xao
động này hơn bất cứ một tâm thức
chướng ngại nào khác, vì chính nó đã
làm tôi điêu
đứng nhiều nhất. Tâm tôi có một khả năng và
thói quen nắm bắt bất cứ một dữ kiện trung hòa nào và thêu dệt thành nên
một nỗi lo thật lớn.
Ví dụ như câu chuyện sau. Tôi
đứng chờ ở một góc đường tại một xứ lạ, nơi
tôi và chồng tôi đồng ý hẹn gặp nhau
lúc năm giờ. Lúc ấy là hai phút trước năm
giờ. Tôi có ý nghĩ, "Nếu anh ta không đến trong hai phút nữa thì
sao? Điều đó chắc chắn có nghĩa là anh
đã bị cướp hoặc rất có thể là bị giết?
Hoặc bị bắt làm con tin đâu rồi. Hay là
bị đứng tim chăng! Tôi không biết tòa
đại sứ của mình nằm ở
đâu đây nữa! Nếu anh không đến tôi sẽ đi ngay
tới tòa đại sứ liền lập tức..." Những
ý nghĩ ấy diễn ra chỉ trong chừng vài ba giây
đồng hồ thôi. Trong thời gian ngắn ngủi ấy,
chất kích thích tố (hormone) tràn ngập cơ thể tôi, tim tôi
đập nhanh, mồ hôi toát ra, lại càng
giúp làm tăng thêm nỗi lo của tôi:
"Mình có quen biết ai ở xứ này không? Làm sao gọi cho mấy
đứa con biết đây?" Nhưng rồi đúng năm giờ,
anh ấy xuất hiện. Tôi thở phào nhẹ nhõm và cảm thấy mệt mỏi.
Đối với những người lo lắng
"chuy
ên môn" thì vở tuồng vừa kể là một chuyện xảy ra rất thường.
Chỉ có tên của nơi chốn và nhân vật là thay
đổi để thích hợp với mỗi hoàn cảnh mà thôi. Và cái tâm thức xao
động luôn dò xét chung quanh, tìm kiếm
chất liệu để bày vẽ nên chuyện thì bao
giờ cũng giống y như nhau.
Sau một thời gian tu tập, tôi
ít còn lo sợ vu vơ như xưa nữa. Tuy tâm tôi vẫn còn vẽ vời nên những
chuyện kinh khiếp, nhưng tôi không còn dễ để
bị chúng lừa nữa. Đôi khi tôi có thể bắt gặp tại trận khi cái máy đặt
truyện trong đầu đang sắp sửa chế biến thêm một câu truyện mới, và
có khi tôi có thể phá lên cười được. Giả sử
như nếu tôi có thể tự tách mình ra khỏi chiếc máy lo nghĩ ấy, chắc
chắn tôi sẽ làm ngay mà không một chút luyến tiếc. Nhưng tôi
đã được
sanh ra với nó, vì một lý do nghiệp quả nào
đó tôi không rõ. Nó dính liền với tôi.
Bây giờ tôi nghĩ đến nó, và luôn tôi
nữa, với một tình thương mến. Tôi đối xử với
việc ấy giống như với một người láng giềng khó chịu cạnh nhà vặn
nhạc lớn tiếng nửa khuya. Nếu bắt buộc phải ở trong phòng của mình thì tôi
có hai sự chọn lựa. Tôi có thể giữ sự thoải mái và nói, "Họ là những người
hàng xóm rất khó chịu. Có lẽ rồi một ngày nào họ cũng sẽ dọn
đi nơi khác. Trong khi đó, tôi có thể mua đồ
nhét lỗ tai hoặc mua một máy cát-sết nhỏ với ống nghe, và những băng
nhạc mà mình ưa thích." Hoặc tôi có thể nổi tam bành lên và gọi
người chủ nhà, hay viết thơ khiếu nại gởi đến
cho những ai có trách nhiệm trong khu phố, và rồi cơn giận lại càng
sôi sục lên. Nhưng chỉ khi nào tôi ý thức
được việc gì đang xảy ra, tôi mới có
thể thật sự có một sự chọn lựa.
Người
Đàn
Bà Trên Bãi Biển Guaymas
Một trong những vị thầy quan
trọng nhất của tôi là một người đàn bà
mà tôi không hề biết tên, mặc dù tôi đã
kể câu chuyện về bà có đến hằng chục lần. Bà
đã dạy cho tôi một bài học rất thấm
thía là quan niệm của tôi về một cuộc sống hiểm nghèo và nguy nan, trước
sau gì thì cũng chỉ là một quan niệm mà thôi. Và nó không bao giờ là một
quan niệm duy nhất. Tôi và bà ta nhìn cùng một hoàn cảnh với hai ánh mắt
hoàn toàn khác nhau. Tôi hiểu cái nhìn của mỗi người chúng ta
đều bị điều kiện bởi cặp mắt kiếng nhận thức
của mình. Tôi biết đôi kiếng màu
của tôi đã tô sơn lên trên những kinh
nghiệm của tôi, và giả sử như nếu tôi mang một cặp mắt kiếng của người
khác, thì hoàn cảnh ấy có thể đã
được nhìn khác hẳn
đi rồi!
Tôi gặp bà trên bãi biển
Guaymas hai mươi năm trước đây. Đó là
vào mùa hè ở sa mạc Sonora vùng Mexico, trời rất nóng. Tôi lưu trú tại một
khách sạn rất tối tân, rộng lớn và có máy lạnh. Gần
đó là một khu vực cư trú, dành cho
những người, trong đó có người đàn bà
ấy, sống trong những toa xe rờ-moọc (trailer) nhỏ. Bà ta còn trẻ và có hai
đứa con trai nhỏ. Đứa bé lớn mới lên năm,
còn đứa nhỏ chỉ mới bắt đầu biết bò.
Bà ta giải thích rằng không thích sống tại Los Angeles vào mùa hè, nên
xuống sống ở Mexico vài tháng, và chồng của bà bay xuống trong chiếc máy
bay riêng nhỏ để thăm ba mẹ con vào
mỗi cuối tuần.
Câu chuyện của bà
đối với tôi dường như có rất nhiều điều bất
ổn:
- Là một người
đàn bà sống một mình trên một bãi biển
nơi xứ lạ.
- Phải trông chừng một
đứa con thơ bò lanh quanh gần chỗ có
nước sâu, trong khi vừa lo cho một đứa năm
tuổi đang tập bơi lặn.
- Phải lo
đến những vấn đề như là nước ngọt
sạch, hoặc là sửa tươi và những thực phẩm dễ hư khác trong một khí hậu
nóng bức.
- Văn
phòng bác sĩ gần nhất là ở đâu - bà
có nghĩ tới chuyện ấy không?
- Sự nguy hiểm của việc chồng
bà phải lái phi cơ xuống thăm vào mỗi
cuối tuần.
Thật ra thì chỉ cần nghĩ
đến hoàn cảnh của bà ta thôi cũng
đã có thể cung cấp cho tôi
đầy đủ những chất liệu để xây dựng thành
một thảm kịch rồi.
Nhưng bà ta thì dường
như sống rất là thoải mái và vô tư.
Một
đêm, có một trận bão to kéo ngang qua
với những tiếng sấm sét long trời lở đất và
ánh chớp lóe sáng rực đêm
đen. Mưa đổ như thác lũ. Tôi cảm thấy lo âu
khi nhìn ra ngoài của sổ từ từng lầu thứ sáu của mình, nghĩ
đến nước lụt và nguy cơ có thể xảy ra
cho những toa xe rờ-moọc dưới kia. Đến lúc
trời vừa sáng thì cơn bão cũng qua đi.
Tôi vội vã đi ra ngoài tìm thăm
người đàn bà và hai đứa con. Khu cư
ngụ của họ trông thật điêu tàn! Cơn mưa
đêm qua đã
cuốn trôi hết những đồ vật nào nằm bên
ngoài toa xe ra rãi rác khắp nơi trên bãi biển. Mọi người
đang bận rộn quét dọn, thu nhặt lại những món
đồ nào là của họ. Người đàn bà
của tôi cũng đang quét dọn, hai đứa con trai
của bà đùa chơi cạnh
đó.
"Trận bão
đêm qua như thế nào?" Tôi hỏi.
"Thú vị lắm," bà
đáp.
"Mấy cháu có sợ sệt gì không?"
Tôi nhìn về hướng chúng đang hân hoan nô đùa
trên những vũng nước.
"Ồ,
đâu có!" Bà
đáp, "Cháu nhỏ thì ngủ say không biết
gì hết. Còn cháu lớn đáng lẽ cũng ngủ luôn
suốt đêm, nhưng tôi đánh thức cháu dậy
cho nó được xem cơn bão."
Tôi hoàn toàn sửng sốt. Tôi tự
nghĩ "Còn có nhiều lối khác để ta nhìn
cuộc sống này nữa! "
Tôi hiểu rằng bà ta và tôi cùng
thu nhận những dữ kiện như nhau, nhưng lại nhìn chúng qua những cặp mắt
kiếng lọc màu khác nhau. Tôi chỉ thấy những tai họa ghê gớm, còn bà ta lại
thấy một câu chuyện hấp dẫn, thú vị. Phải chi tôi
được đổi mắt kiếng với bà!
Tôi ước gì mình có thể nói rằng
từ giờ phút đó trở đi, sau khi thấy được ảnh
hưởng mạnh mẽ của tâm ta đối với những việc xảy ra chung quanh, tôi đã
có thể có được một cái nhìn sáng suốt
hơn trong mọi hoàn cảnh. Nhưng việc ấy đã
không xảy ra. Nếu chúng ta chỉ cần đơn giản
đổi cặp mắt kiếng lọc màu của mình thôi thì dễ quá! Tâm thức của
tôi trong kiếp sống này được trang bị với một
chiếc máy lọc có những cá tính đặc biệt, và nó luôn sẵn sàng
để chế biến bất cứ một kinh nghiệm nào
mà tôi thu nhận được qua khuôn thước của nó.
Nhưng mặc dù những cặp mắt
kiếng lọc màu ấy có vẻ như là những khí cụ cố
định của tâm ta, nếu biết nhận diện ta vẫn có thể làm giảm
đi sức mạnh của chúng. Tôi nghĩ đó cũng là
một cách khác để diễn tả Chân Đế thứ ba của
đức Phật: "Chấm dứt khổ đau là việc có thể
được."
Với sự tu tập, chúng ta sẽ có
thể giải thoát tâm mình ra khỏi những hành
động phản ứng vô ý thức. Mặc dù không cần phải thay
đổi những tập quán và khuynh hướng của
mình, chúng ta vẫn có thể có ý thức về chúng và hành xử cho khôn khéo. Khi
tâm ta được sáng tỏ và vững vàng, ta
sẽ thấy rằng những cặp kính lọc màu ấy trước sau chỉ là những dụng cụ
lọc màu mà thôi, và ta vẫn có thể chọn cho mình những phản ứng nào là
tốt lành nhất.
Người
đàn bà trên bãi biển ở Guaymas là một
vị đại sư của tôi. Mặc dù ngay lúc ấy
tôi không hề thay đổi cách cư xử của mình
được chút nào, nhưng tôi
đã học
được là ta có thể chọn một sự đáp ứng
khác đối với những gì xảy đến cho mình.
Việc ấy khơi dậy trong tôi một niềm tin lớn, là làm những gì mình cần làm
để có thể có được một thái độ khác.
Ngày nay, mỗi khi máy hát trong
đầu tôi bắt đầu phát thanh những câu chuyện
tai ương, tôi thường có thể cười vào chúng. Tôi vẫn muốn thà rằng
nó đừng phát thanh thì hay hơn! Trong
phòng làm việc, tôi có treo trên tường một tấm bích ảnh lớn của
đạo sư Meher Baba với hàng chữ, "Đừng
Âu Lo, Hãy Vui Vẻ." Có những ngày tôi tin vào lời khuyên
đó như là tuệ giác của vũ trụ này. Cho
đến ngày nào tôi có thể thực hiện
được việc ấy, tôi vẫn tự cảm thấy hài
lòng khi thấy mình không còn quan trọng hóa những nỗi lo lắng của mình
nữa.
Bớt Sợ Hãi
Tôi thường kể cho người khác
nghe là một trong những lý do tôi tu tập là vì "Tôi muốn
được trở thành một bà già vô úy, hoàn
toàn không còn sợ hãi nữa." Mà sự thật là tôi muốn
được như vậy. Nhưng tới từng tuổi này
trong cuộc đời, tôi không còn chắc là
mình có thể trở nên hoàn toàn vô úy được
không. Bây giờ, được "bớt sợ hãi" là tôi mừng lắm rồi!
Một câu chuyện trong nhà thiền
mà tôi vẫn còn nhớ trong thời gian mới bắt
đầu tu tập là về một vị sư hoàn toàn không biết sợ hãi. Vị sư ấy
trụ trì tại một thiền viện ở Nhật vào thời kỳ mà những toán võ sĩ
samsurai đi lang thang khắp vùng
quê khủng bố bất cứ ai trên bước đường của
họ. Một hôm, tin một toán võ sĩ đang
sắp sửa tiến vào thành phố nơi thiền viện của vị sư ở loan ra, tất
cả tăng chúng cùng với dân làng
đều sợ hãi bỏ
đi trốn hết. Chỉ có vị sư trú trì là ở
lại, ngài ngồi yên trong tư thế thiền định
trong thiền đường. Tên chủ tướng của toán samsurai, nổi giận
vì danh tiếng của hắn không đủ để làm
vị sư trú trì khiếp đảm trốn chạy, tung cửa
bước vào thiền đường vung lưỡi gương
sáng chói đưa ngay trước mặt vị sư thách thức. "Ngươi không biết ta
chăng," vị chủ tướng nói, "ta là hạng người có thể
đâm lưỡi gươm này xuyên qua thân nhà
ngươi tức thì mà không hề chớp mắt." Vị sư trú trì nhìn ông ta và
điềm tĩnh trả lời, "Và thưa ngài, tôi
là hạng người có thể để ngài
đâm lưỡi gươm ấy xuyên qua người bất
cứ lúc nào mà không hề chớp mắt."
Tôi nghĩ những vị thầy của tôi
kể cho nghe câu chuyện ấy vì họ nghĩ nó sẽ khơi dậy sự cảm hứng trong lòng
chúng tôi. Nhưng thật ra tôi cảm thấy mình bị mất niềm tin hơn là
được hứng khởi. Vì tôi biết mình còn
cách xa mẩu người lý tưởng ấy vời vợi, và không tin là mình sẽ bao giờ có
thể đạt được một thái độ hoàn toàn vô
úy như vậy.
Tôi tin rằng những nỗi sợ sâu
xa nhất của ta trong đời này
đã ăn sâu
vào các tế bào trong bộ thần kinh hệ ta,
để vĩnh viễn trở thành một phần kinh
nghiệm của ta trọn đời. Robert Stolorow,
người đi tiên phong trong phong trào Tâm Lý Học Trị Liệu có viết,
cho dù ta có áp dụng khoa tâm lý trị liệu để
phân tích và tìm hiểu nguyên nhân của sự sợ hãi thâm sâu
đến đâu, mỗi khi có cùng một nhóm sự
kiện đồng khởi lên, chắc chắn sẽ có
cùng một phản ứng sợ hãi trong ta khởi lên. Cho dù tuệ giác của ta có siêu
việt đến đâu, bản chất của ta cũng vẫn chỉ là
con người, bị điều kiện bởi những kinh nghiệm
của mình.
Một trong những
điều làm tôi khiếp sợ nhất trong tuổi
thơ của mình là sợ má tôi sẽ chết. Má tôi bị một chứng bệnh sưng tim khiến
mỗi đêm bà không thể nào nằm dài xuống
ngủ yên được . Phổi của bà sẽ bị
đầy nước, và bà phải bật ngồi dậy ho
sù sụ, cố gắng để thở. Tôi nằm trong giường ở
phòng cạnh bên lắng nghe tiếng ho của má tôi. Tiếng ho sù sụ trong
đêm là một âm thanh kinh hoàng nhất
trong tuổi thơ của tôi. Tiếng ho đêm
cho đến ngày nay vẫn còn là một nhược
điểm trong bộ thần kinh của tôi. Có "một cái
gì đó" trong tôi cảm thấy rất bất an
mỗi khi nghe tiếng ho đêm.
Bốn
đứa con tôi giờ đã trưởng thành. Thuở
bé chúng cũng đã có
đầy đủ hết những chứng bệnh của tuổi nhỏ.
Chúng bị đậu mùa, bị lên sởi, và quai bị. Chúng bị té. Chúng bị
những vết thương cần phải được khâu lại.
Chúng bị gãy tay, chân cần phải đeo
nạng. Chúng bị mổ hạch ở cổ, trong thời mà người ta vẫn còn làm
chuyện ấy. Và tôi đã trải qua hết
những chuyện ấy mà không sao cả. Nhưng mỗi khi chúng ho vào ban
đêm, tôi lại
đâm ra hoảng sợ. Bao giờ việc ấy cũng làm
cho tôi rất khó chịu. Tôi cứ phải tự nhủ, "Nó chỉ bị cảm cúm soàng thôi!"
Thật ra thì sự kiện tóc tai tôi dựng đứng và
cảm thấy hoang mang chỉ là một phản ứng tự nhiên mà thôi. Tôi nghĩ mỗi
người chúng ta đều có những nỗi sợ riêng
khác nhau những khi nghe tiếng ho sù sụ trong
đêm khuya.
Nhưng dầu sao thì ta cũng không
nên nản lòng về chuyện ấy. Tôi thấy đó chỉ là
một chi tiết mới giúp ta thấy thêm được sự
hoạt động của tâm thức mình. Sự sợ hãi không nhất thiết phải là một
vấn đề lớn, nếu ta biết nhận diện được nó chỉ
là kết quả của sự bị điều kiện của ta,
trực tiếp từ trong kiếp sống này và có lẽ trong những tiền kiếp xa
xưa nữa, nào ai biết được! Chúng ta có thể nhìn
nhận nỗi sợ của mình và tập sống với nó. Nếu tôi cảm thấy bất an về những
việc vô hại như là cơn ho của một cơn cảm cúm, tôi vẫn có thể tự nhủ, "Đây
chỉ là một kết quả của những gì mà tôi
đã bị điều kiện trước đây." Những ý
tưởng ấy giúp tôi khỏi phải có những hành
động vô ích và không cần thiết.
Mới
đây có người giải thích cho tôi biết về hệ
thống báo động. Nó được bố trí để phát hiện và báo hiệu mỗi khi có
một sự di động nào xảy ra trong vùng
mà con mắt điện tử kiểm soát. Tôi nghĩ con
người chúng ta cũng tương tự như thế. Chúng ta là những chiếc máy
báo động biết đi. Những chiếc ăng-ten của ta
được bố trí để thu nhận những dấu hiệu nào
được xem là một
đe dọa cho ta. Khi mọi sự chung quanh suôn
sẻ, chúng ta sẽ để cho chúng trôi qua như những bối cảnh của tri giác.
Nhưng mỗi người chúng ta sẽ bị kích động để sẵn sàng phản ứng, vừa
khi có một sự kiện gì đó mà ta ghi
nhận là đe dọa xảy ra. Trong mỗi người chúng
ta đều có những nút báo động.
Một trong những phương cách
để xây dựng một mối tương giao thân thiết với
người khác là chia xẻ những nỗi sợ của mình với họ, nói cho họ nghe
những việc gì đe dọa chúng ta. Chúng ta tập
kể cho nhau nghe những việc như, "Tôi muốn anh, chị biết rằng tôi có một
nỗi sợ bị bỏ rơi, vì khi còn nhỏ má tôi không bao giờ có mặt
để bảo vệ, chăm sóc cho tôi." Và chúng
ta thân mật chia xẻ với nhau, nói cho nhau nghe những khó khăn
của mình.
Và một khi ta hiểu
được lý do vì sao người khác lại có
những nỗi sợ hãi kỳ quặc như vậy, ta sẽ cảm thấy thương hại hơn là giận
ghét họ. Thay vì nghĩ, "Thật là chán vô cùng, tôi phải bị kẹt với người
này suốt cuộc đời," ta lại có thể cảm rằng,
"Thật là tội nghiệp, người mà tôi thương lại có những nỗi sợ như
vầy. Chắc người ấy cũng phải chịu nhiều khổ
đau lắm, khi mang vác trong tâm những nỗi lo âu ấy."
Nếu bạn vẫn còn sợ hãi,
điều ấy không có gì là xấu hổ hết.
Chúng ta có thể làm một người lớn và vẫn còn có những nỗi sợ. Chúng ta
chia xẻ những nỗi sợ sâu kín của mình với những người thân thiết nhất -
thường thì đó là một vị thầy, một nhà
tâm lý trị liệu. Nếu chúng ta thật sự may mắn, người ấy cũng chính là
người bạn đời của ta. Những nỗi sợ hãi,
khi được nói to lên sẽ không bao giờ
còn đáng sợ như khi ta dấu kín nó. Tôi lớn
tuổi đủ để chính mình được tai nghe
tổng thống Hoa Kỳ Franklin Roosevelt nói câu bất hủ, "Chúng ta không có gì
để sợ, trừ chính cái sợ ấy." Tôi nghĩ ông nói
đúng.
Hoài Nghi
Hoài nghi, trong
đạo Phật được diễn tả như là một tâm
thức phức tạp có tính cách "trơn trợt" khó nắm bắt. Mà thật vậy, chương về
Hoài Nghi này đã lẫn tránh tôi nhiều
nhất. Tôi viết nó sau cùng hết khi biết chắc là mọi việc khác
đều đã xong xuôi. Nếu nói theo thứ tự
thì có lẽ Hoài Nghi phải được sắp lên
phía trước, nhưng mỗi khi tôi đặt bút xuống,
những tư tưởng hay ho tôi có về nó tự nhiên lẫn trốn
đi đâu hết. Tôi bắt đầu thật sự ngờ vực,
không biết mình có thể viết
được về nó hay không. Tôi kể cho lớp học sáng thứ Tư của tôi, như đã
từng kể với nhiều lớp trước đó, tôi nghĩ mình
không thể viết về sự hoài nghi vì tôi không hề có một sự nghi ngờ nào hết.
Bây giờ nghĩ lại, tôi thấy mình đã lầm
to. Tôi chỉ không có một số hoài nghi nào đó
thôi. Nhưng một loại hoài nghi khác, trong kinh gọi là
Đại Nghi, chắc chắn là tôi
đã có và bây giờ
đôi khi nó vẫn còn.
Đối với người đi hướng dẫn kẻ khác tu tập,
chấp nhận được sự thật ấy không phải là dễ. Nhưng trừ khi tôi chấp
nhận nó, tôi thấy không thể nào hoàn tất được
quyển sách này.
Chúng ta có lẽ ai cũng
đã từng kinh nghiệm
được nhiều trình
độ khác nhau của lòng hoài nghi - mọi
vấn đề từ sự bất an cá nhân cho đến sự bất an
của vũ trụ. Mọi biểu hiện của hoài nghi
đều là một phản ảnh của một tâm "trượt
vuột," khi ta không nắm bắt được sự thật về
chân tánh của vạn vật. Nhìn cho thật kỹ ta sẽ thấy rằng, qua lịch
sử của vũ trụ này, mỗi người chúng ta đều có
một nét đặc thù duy nhất và thế giới này chỉ có thể là như
vậy! Sự thật thì "Không có gì là vấn đề hết."
Một tâm hoài nghi, vì không nắm bắt
được chân lý ấy, phát sinh ra những lời đồn đại như là "Tôi có vấn
đề," "Bạn có vấn đề," và "Thế giới này
có đủ hết mọi vấn đề."
Năng
lượng của lòng hoài nghi vi tế hơn bốn năng
lượng phiền toái khác mà ta đã
dề cập đến trước đây. Vì bốn tâm thức
kia có kèm theo với chúng những cảm giác nơi thân, khiến ta có thể nhận
diện được chúng dễ dàng. Ví dụ, ta có
thể biết được lòng tham dục sẽ có
những cảm thọ ra sao trong thân, đặc biệt là
những ham muốn về thực phẩm, về tình dục, chúng sẽ ảnh hưởng
đến những phần nào trên cơ thể của ta.
Ta nhận diện được lòng ác cảm qua một
sự căng thẳng trong thân, hoặc những cảm thọ
thiêu đốt, khuấy động trong tâm. Ta
thấy được tâm hôn trầm vì nó biểu hiện bằng sự buồn ngủ. Tâm xao
động có mặt như là một sự bồn chồn
hoặc một cơ thể bức rức, nhiều khi là cả hai. Những năng
lượng ở nơi thân bao giờ cũng rất dễ cho ta nhận diện.
Hoài nghi thì len lỏi vào tâm
ta giả dạng thành những tư tưởng chán nản, thất vọng. Một khi
đã vượt qua
được cánh cổng của chánh niệm rồi, tâm hoài
nghi hoạt động như là một tên gián
điệp, đi phá hoại niềm tin và
đức tín ở ta. Nó có thể tiêu hủy lòng
tự tin của ta một cách rất tự nhiên, vì nó hoạt
động ngay từ chính bên trong.
Tôi thường nói, "Tôi không bao
giờ có một hoài nghi nào hết, vì ba má tôi lúc nào cũng hoàn toàn tin
tưởng nơi tôi." Nếu xét về mặt trao truyền một
đức tự tin cho tôi thì ba má tôi
đã thành công. Trong suốt cuộc
đời lúc nào tôi cũng nghĩ, "Nếu người
khác làm được thì tôi cũng phải làm
được." Giả sử như đột nhiên có ai bảo
rằng tôi cần phải biết tiếng Phạn (Sanskrit) trong vòng sáu tháng, tôi sẽ
không ngần ngại gì mà bắt đầu học ngay, không
hề nao núng.
Lần
đầu tiên khi tôi nghe giảng về giáo lý
của Phật, lúc ấy tuy chưa hề có một hiểu biết sâu xa nào về
đạo, tôi đã có ý nghĩ, "Một ngày nào
đó tôi sẽ đi dạy về giáo pháp này."
Bây giờ thì đó đã là sự thật, tôi
đã đi
dạy. Tôi thú thật là ý nghĩ ấy lúc đó
thật là táo bạo. Nhưng chính những ý nghĩ táo bạo
đã đem
lại cho tôi nhiều can đảm.
Tôi nghĩ, tôi cũng
đã trao truyền cái hạt giống tự tin ấy
xuống cho con cháu của mình, mặc dù tôi không hề nhớ là mình có một ý nghĩ
nào về việc ấy. Tôi thấy được lòng tự
tin biểu lộ nơi đứa cháu của tôi khi nó mới
vừa lên hai tuổi.
Thuở ấy, mỗi tuần hai bà cháu
tôi có một ngày với nhau, và thỉnh thoảng tôi chở nó
đi dạo phố. Ngày hôm ấy khác hơn mọi
hôm vì tôi bị đau lưng, không thể bồng ẳm
hoặc cất dỡ được một vật nặng gì hết.
"Cháu này," Tôi giải thích,
trong khi mở cửa xe và tháo giây an toàn trong ghế ngồi cho nó. "Bà không
bồng cháu xuống được. Cháu hãy tự leo
xuống một mình đi."
Đứa cháu tôi đứng lên
trên ghế và cẩn thận quay lưng lại. Nó từ từ tuột xuống ghế, rồi lại lần
mò leo theo cửa xe bước xuống đường. Xong
xuôi, nó đứng ngước mặt lên nhìn tôi.
Tôi mỉm cười thành thật khen,
"Cháu của tôi giờ lớn quá rồi!"
"Cháu bự rồi!" Nó thích thú trả
lời.
Tôi thích câu trả lời của nó,
thật là dễ thương. Tôi kể lại cho mọi người trong nhà nghe. Và từ
đó "Cháu bự rồi" trở thành một câu nói
để diễn tả lòng tự tin.
Nhìn lại câu chuyện nho nhỏ của
đứa cháu tôi ngày hôm ấy trong bãi
đậu xe, tôi nghĩ điều quan trọng là
khả năng duy trì
được sự chú tâm của nó vào một số hành
động khá phức tạp. Theo kinh điển nhà
Phật thì khả năng duy trì chánh niệm
của ta trong giây phút hiện tại là một liều thuốc giải
độc cho tâm hoài nghi.
Lòng tự tin cá nhân của ta
đối với những công việc thường ngày
trong đời sống là những bước gần gũi
của sự hoài nghi. Sự thật là tôi cảm thấy thoải mái với tiếng Sankrit. Sự
thật là tôi không phải lúc nào cũng cảm thấy thoải mái về cuộc
đời. Tôi thấy khó mà chấp nhận
được rằng mình có một hoài nghi nào về
cuộc sống. Tôi thường gạt nó qua một bên và xem
đó như là "một tuệ giác thâm sâu về
khổ đau" hoặc "một nỗi muộn phiền lãng
mạn," hoặc một hình thức khác của "vì sự sống này quá mỏng manh, nên vũ
trụ này không thể nào là an ổn."
"Tôi tốt lành"
đó là lòng tự trọng. "Anh, chị tốt
lành" - một sự khoan dung không phê phán - là lòng thân thiện và có lẽ
được phát sinh từ tâm tánh hiền hòa
của chính ta hoặc do tình thương của cha mẹ. "Vũ trụ này tốt lành" - một
sự mãn nguyện to tát - chúng ta gọi đó là
đức tin.
Tôi thường cảm thấy rất tự hào
về sự kiện là mình không cần một đức tin.
"Đức tin là dư thừa," tôi thường nói. Ta hoặc biết hoặc là không
biết, thế thôi. "Những hệ thống đức tin cũng
đều là dư thừa," tôi giải thích, dẫn chứng rằng
đức Phật lúc nào cũng nhấn mạnh
đến một sự khám phá cá nhân và trực
tiếp đối với chân lý. Sự thật thì
đức Phật có dạy chúng ta không nên tin
vào lời người khác mà phải tự chính mình tu tập và chứng nghiệm lấy, nhưng
ngài không hề nói là đức tin không cần thiết.
Điều đó là do tôi đặt ra.
Bây giờ nghĩ lại, tôi thấy mình
dường như hơi tự kiêu khi xem thường đức tin.
Có ai trên đời này mà lại không
cần một đức tin? Sự sống này quá phức
tạp, khó hiểu và hoàn toàn nằm ngoài tầm kiểm soát của ta. Nhưng sự sống
tự nó vẫn đẹp, lẽ dĩ nhiên, vì nó là
nó, là như vậy. Đức Phật dạy vũ trụ này
rất có trật tự. Không có một cái gì là sai trật hết. Nhưng có
điều nó bí ẩn vô cùng.
Đức tin, đối với tôi, l
à
một đặc tính có thể giữ cho tâm ta được quân
bình khi năng lượng trơn trợt của lòng
hoài nghi làm mịt mờ sự thật. Và cái năng
lượng trơn trợt ấy, cũng giống như những tâm thức khó khăn khác, sẽ phát
sinh lên tự nhiên như bất cứ một sự kiện nào khác trong tâm. Tôi
không thể nào cứ mãi tự dối mình "Tôi không có vấn
đề gì với sự hoài nghi hết!" Tất cả
những nỗi lo âu phiền muộn của tôi về cuộc
đời đều là những biểu hiện của lòng hoài nghi. Nhưng cũng phải mất
một thời gian khá lâu tôi mới thấy được việc
ấy.
Một thời gian không lâu trước
đây, tôi bị một nỗi nghi ngờ khá lớn áp đảo mình.
Một buổi sáng thức dậy, tôi chợt cảm thấy bị tràn ngập vì những sự mất
mát, tan vỡ của cuộc sống. Tại sao lại là ngày hôm ấy mà không phải là
những ngày khác, vẫn còn là một phỏng đoán. Đêm
hôm trước tôi có nhận được một tin buồn trong
gia đình, nhưng nó không đến nỗi nào
là xấu lắm. Lúc ấy mùa đang chớm vào
Thu, trời tối sớm hơn, bình minh đến muộn
hơn, nhưng thật ra cũng không khác gì hơn so với mấy ngày hôm
trước. Những lý do ấy tôi nghĩ không ăn chung
gì mấy. Nhưng tâm hồn tôi cảm thấy trống vắng vô cùng.
Tôi sống ngoài
đồng quê, lúc ấy
đang ở chung nhà với chồng tôi và một
người bạn rất thân của gia đình. Cả
hai cũng đều là những người bạn tâm
linh của tôi.
"Sao, sáng nay chị khỏe không?"
Người bạn hỏi.
Bỗng nhiên tôi bật khóc, "Tôi
cảm thấy buồn khổ quá. Tôi là một tên đạo đức
giả. Tôi đi đây đó dạy người khác là 'Ta có thể có an lạc,' 'Đời
sống nhiệm mầu,' 'Ta có thể bị mất mát, đau đớn nhưng ta không phải chịu
khổ đau,' nhưng sự thật không phải như vậy! Đời sống này toàn là
khổ đau, mà con người chúng ta không
thể nào có đủ sức để chịu đựng. Và nếu
rủi tất cả mọi tôn giáo trên cuộc đời này
đều là giả tạo hết thì sao, chẳng lẽ
chúng ta cứ lập đi lập lại cho nhau nghe toàn
những lời dối gạt?"
Có lẽ tôi
đã không nói hết một hơi như vậy,
nhưng đó là những gì tôi
đã kêu than trong khi sửa soạn cho
buổi ăn sáng. Hai người ngồi lắng nghe. Tôi
vừa khóc, vừa chiên trứng. Không một ai cố gắng thay
đổi quan niệm của tôi. Không ai nhắc nhở tôi
về chân lý của đạo. Cũng không ai cố gắng an ủi gì tôi. Nhưng tôi
biết là họ đang lắng nghe.
Tôi lại tiếp tục bài kinh cầu
về nỗi hoài nghi với chính mình và về cuộc
đời trong suốt buổi ăn sáng hôm ấy. "Xem kìa cuộc
đời này
đầy dẫy toàn những khổ đau!" Tôi cứ
khăng khăng. "Mọi vật đang dẩy chết. Không có ai là thật sự biết gì
hết. Con người giết hại lẫn nhau. Trái đất này
đang đi đến chỗ diệt vong. Đi giảng dạy cho
người khác cách sống an lạc thật là một chuyện khôi hài. Mà không
phải là khôi hài nữa, nói láo thì đúng
hơn, vì tôi nào có cảm thấy an lạc
đâu! Có lẽ có một vài người nào đó
có thể đã giải thoát khỏi khổ
đau, nhưng không có tôi rồi đó!"
Đối với chồng tôi, những cơn
muộn phiền bùng nổ của tôi thật ra không gì là lạ.
Đối với người bạn thì anh ta có vẻ hơi
ngạc nhiên một chút. Tôi hơi trách mình là thiếu lịch sự với khách. Nhưng
tôi không có một sự lựa chọn nào khác, tôi khóc, và chúng tôi
ăn sáng. Cả hai người ngồi lắng nghe tôi,
thỉnh thoảng họ nói chêm những câu như, "Mình có thêm trứng chiên
không?" hoặc "Chị làm ơn đưa dùm dĩa
bánh mì!"
Sau buổi
ăn sáng chúng tôi rửa chén dĩa. Một giờ sau,
có người nào đó đề nghị, "Có ai muốn
học kinh không nào?" Tôi đáp ngay, "Có
chứ, sao lại không?"
Và mọi chuyện như là
đã không có một việc gì xảy ra. Mà
thật sự là đã không có chuyện
gì xảy ra hết! Cơn hoài nghi kéo đến và
đi, ngang qua như một cơn bão. Không
một ai trong chúng tôi bị nao núng. Tôi đã
duy trì được nó trong chánh niệm, chồng tôi và
bạn tôi đã gìn giữ tôi bằng sự có mặt
của họ, và cuối cùng chân lý đã trở về
sáng tỏ. Sự vật trong cuộc đời tuy có hư hao
thật đó, nhưng vẫn có thể xử lý được.
Khi Những Tâm
Chướng Ngại Khởi Lên Cùng Một Lúc
Thường thường, những người
đang bị bối rối hoặc bất an, họ cảm thấy như
tâm mình đang bị chế ngự bởi một loại
năng lượng chướng ngại nào đó. Ví dụ
như, "Tôi đang giận điên lên đây!"
hoặc "Lòng tham trong tôi đang bừng
bừng nổi dậy!" hoặc "Tôi đang bị lòng hoài nghi xâm chiếm!" Và khi
nghe ai nói là mình đang bị nhiều tâm chướng
ngại tấn công cùng một lúc, họ nghĩ "Trời ơi, như vậy là hết chống
đở nỗi!" Có lẽ họ quan niệm rằng sự tấn công
của nhiều tâm thức chướng ngại so với lại chỉ có một
tâm thức chướng ngại, cũng giống như là bệnh sưng phổi so với chứng sổ mũi
soàng vậy. Nhưng thật ra, bất cứ sự tấn công nào của một tâm chướng
ngại bao giờ cũng là sự tấn công của nhiều tâm chướng ngại cùng một
lúc hết. Bạn thử nghĩ xem!
Giả sử như bạn
đang thương một người nào
đó. Tình yêu chiếm ngự tâm bạn. Bạn mơ
tưởng đến người ấy cả ngày. Mới
đầu thì nó thú vị lắm. Cho
đến khi công việc trong sở bắt đầu chất chồng
trước mặt, và ông chủ bắt đầu lộ vẻ
khó chịu, bạn nghĩ, "Thôi, mình phải làm việc
đàng hoàng lại mới
được!" Rồi lòng bực tức bắt
đầu khởi lên. "Ta cần phải dẹp trừ hết
những ý nghĩ mơ mộng này!" Nhưng chúng không chịu
đi đâu hết. Ta cố gắng loại trừ những ý nghĩ,
những đối tượng mơ mộng ra khỏi tâm tưởng của mình, nhưng hoàn toàn
vô hiệu quả. "Ước gì những ý nghĩ này đừng
đeo đuổi mình nữa!" Bây giờ thì công việc lại càng chồng chất và
cơn giận đang tăng lên, vì người mình
yêu đã không gọi
điện thoại đến cho mình như
đã hứa. Rồi lòng hoài nghi sinh lên,
"Nữa rồi, mình lại đi đem lòng thương
yêu người mà chẳng thèm nghĩ gì đến mình.
Mình khờ dại quá!" Lòng bực tức lại càng gia tăng.
"Ông chủ lại hỏi nữa đây! Công việc chưa có cái nào xong xuôi hết.
Đầu óc thì bây giờ cứ rối bời lên!"
Rồi tâm lười biếng bắt đầu chiếm ngự, "Mình
thấy mệt mỏi quá!" Năm tâm chướng ngại ấy,
chúng cùng nối tiếp nhau đổ xuống như
một dòng thác, cái này tiếp theo cái kia, sau khi một tâm
chướng ngại đã len
được vào tâm ta.
Ví dụ của tôi thì có lẽ hơi quá
một chút đấy, nhưng sự thật là vậy.
Bạn hãy thử xét lại những kinh nghiệm của chính bạn
đi! Không cần biết là tâm chướng ngại
nào khởi lên đầu tiên, theo sau nó
chắc chắn sẽ là bốn tâm kia. Thật ra chúng không có một thứ tự nhất
định nào hết, tùy theo từng hoàn cảnh
mà thôi.
Đây l
à một thí dụ khác:
giả sử như bạn có một người bạn mới mà bạn rất muốn làm thân. Bạn rủ nhau
đi xem hát nhạc kịch ô-pê-ra. Ngày hôm
ấy thật dài, bạn cảm thấy mệt mỏi, tâm thần uể oải. Nhạc chẳng có gì là
hấp dẫn, và bạn ngồi xem mà chỉ thấy mí mắt như muốn sụp xuống. "Mình mà
ngủ gật thì kỳ lắm," bạn nghĩ "người ta đã
phải khó khăn lắm mới mua được vé, mà
chúng cũng đâu có rẻ gì!" Bạn bực mình
với cơn buồn ngủ. "Đi chỗ khác đi, đừng làm
cho ta bị mất mặt!" Cơn buồn ngủ vẫn cứ tiếp tục. Và cơn giận bắt
đầu khởi lên "Mình không thể nào gượng
thức nổi cho đến phần nghỉ giải lao. Chắc là
mình sẽ ngủ gật ngay tại đây và có lẽ
còn ngái to nữa." Bạn mong ngóng chờ đợi cho
đến lúc vãn tuồng. Và khi ấy, bạn chợt thắc mắc không viết vở tuồng
này sẽ có một đoạn kết nào gợi tình
hấp dẫn không! Khi nghĩ đến chuyện ấy, đột
nhiên bạn cảm thấy tỉnh hẵn dậy. "Tốt quá," bạn nghĩ "Bây giờ thì
mình tỉnh rồi! Nếu mình cứ nghĩ đến những tư
tưởng gợi tình ấy, mình sẽ có thể tỉnh ngủ
được..." Lúc ấy vở tuồng cũng vừa chấm dứt.
Người bạn quay sang hỏi, "Sao chị thấy vở nhạc kịch này như thế
nào?" Máy báo động trong bạn kêu lên -
nãy giờ bạn nào có mặt đâu mà biết!
Có một lần, tôi bị sự tấn công
của nhiều tâm thức chướng ngại cùng một lúc. Hôm
đó là vào ngày 31 tháng Mười năm
1985 tại Barre, Massachusetts, nguyên do là vì một cây kẹo cao-su
(chewing gum). Hôm ấy là ngày lễ Halloween. Tôi
đang tham dự một khóa tu thiền quán thật nghiêm
túc vài tuần trong một tu viện thật đẹp, có
khắc hàng chữ "Từ Bi" phía trên cánh cửa chánh dẫn vào. Trong suốt
thời gian tu tập tôi thấy rất sảng khoái. Tôi cảm thấy một niềm vui sướng
rất bình an, nếu thật sự là có một trạng thái như vậy. Tôi rất hài lòng
với sự tu tập của mình, và hoàn toàn tự tin ở tôi. Tôi nhìn thấy mọi việc
sáng tỏ khác thường, và cho rằng mình sẽ giữ
được trạng thái ấy mãi mãi.
Khi tôi bước vào thiền
đường cho buổi ngồi thiền tối cuối cùng,
tôi ngạc nhiên và rất vui khi thấy một khung cảnh thật
đẹp và dễ thương. Dân thường trú tại
tu viện, những người đã lo cho các nhu
cầu của thiền sinh trong mấy tuần qua, đã
trang hoàng căn phòng thiền
đường cho ngày lễ Halloween. Chung
quanh phòng có trưng bày những quả bí đã
được lấy hết ruột, vỏ ngoài có khắc
mặt người thật khéo léo, bên trong mỗi quả bí có một ngọn nến hồng thắp
sáng.
Khi tôi
đi về chỗ ngồi của mình, tôi thấy ban
tổ chức có để trên tọa cụ của mỗi
người một cây kẹo, làm quà Halloween. "Dễ thương quá," tôi tự nghĩ. Vừa
lúc ấy, tôi để ý thấy chiếc kẹo trên
tọa cụ của tôi là một thanh kẹo cao-su nho. Tôi không ưa kẹo cao-su nho!
Tôi hơi bực mình một chút. Tôi không muốn kẹo cao-su nho! Người chung
quanh tôi có những thứ khác ngon lành hơn, tôi muốn cái của họ. Giây phút
ghét bỏ trôi qua, tiếp theo là giây phút của lòng tham muốn, nhưng tôi
không có ý định sẽ trao đổi nó với ai nên
tôi ngồi xuống, với thanh kẹo cao-su nho trong tay. Tôi lại có một giây
phút tham ái khác. Một người bạn của tôi, tọa cụ của anh nằm ngay phía
trước mặt, chưa trở về chỗ ngồi của mình, tôi thấy muốn cho anh cây kẹo
sao-su của tôi. Tôi nghĩ có lẽ anh sẽ vui thích lắm, vì anh có
được đến những hai món quà Halloween.
"Hay lắm," tôi tự khen, "Mình vừa biến một trạng thái tiêu cực trở thành
tích cực!"
Tôi
đặt thanh kẹo của mình cạnh cây kẹo
của anh trên tọa cụ. Tôi quan sát thấy anh bước
đến chỗ ngồi của anh, cầm hai cây kẹo lên
và ngồi xuống. Vừa khi đó, trong tôi chợt
phát khởi lên một ý nghĩ "Mình đã
làm một chuyện khờ dại hết sức! Tại sao mình lại
để kẹo trên tọa cụ của anh ta. Bây giờ
thì anh biết là có người khác cho anh kẹo, và có lẽ anh nghĩ là có một
người nào đó đã ái mộ anh. Ý nghĩ ấy
chắc thế nào cũng làm xao động cái tâm thức
tĩnh lặng của anh trong mấy tuần qua. Và chính tôi, một người lúc
nào cũng tự hào là tu tập tinh chuyên, lại gây cho anh sự
động tâm ấy!" Đến lúc này thì tôi
đã hoàn toàn bất mãn vì hành
động vô ý thức của mình, và nghi ngờ
cái tuệ giác mà tôi đang có là
đến đâu. Thêm nữa, tôi cảm thấy mệt
nhoài. Cả câu chuyện chỉ diễn ra trong vòng ba mươi giây. Tôi
đi từ một trạng thái an tĩnh vui sướng đến
một trạng thái bối rối bất an không đầy một phút.
Mặc dù
đó chỉ là một cây kẹo nhỏ nhặt, nhưng
tôi thấy câu chuyện ấy quan trọng. Trước hết
đó là một thí dụ rất hay về tính chất mỏng manh, vô thường, và
trống không của các trạng thái trong tâm thức ta. Nó cũng giống như thời
tiết, cứ đến rồi lại đi. Vui vẻ. Buồn bực.
Tĩnh lặng. Tả tơi. Mưa, nắng, gió, tuyết, chúng biến chuyển chỉ trong
chừng một khoảnh khắc.
Trong khoảng thời gian bối rối
vì thanh kẹo cao-su ấy, tôi học được một bài
học quý giá về liều thuốc giải độc hay nhất
cho bất cứ một tâm thức chướng ngại nào. Liều thuốc mầu nhiệm nhất
có thể đem lại sự quân bình cho ta là
một cái thấy rõ ràng. Trong buổi tối hôm ấy, tôi ghi nhận
được hết tất cả mọi chuyện khi nó đang diễn
ra. Và tôi bật cười! "Mình mới vừa bị nhiều tâm thức chướng ngại
tấn công cùng một lúc. Thôi, cũng đừng mơ
mộng là mình sẽ có thể an trú trong cái trạng thái vui vẻ và tĩnh
lặng mãi. Có lúc sẽ là an lạc và thanh thản, và rồi cũng sẽ có những lúc
khác. Thở vào cho sâu. Mỉm cười. Hãy mừng là mình vừa mới học
được một điều mới. Thở vào một hơi
tiếp. Thưởng thức đi!"
Phần 4.
Một Cái Nhìn Sáng Tỏ:
Tuệ Giác và Từ Bi
Tự
Tánh Của Tâm
Khi người ta nghe nhà Phật nói
về sự trống không, khi họ nghe tâm ta được
diễn tả như là một khoảng không gian thênh thang rộng lớn, họ lại
tưởng tượng đến tâm tĩnh lặng cũng giống như
là một điểm đen (black hole) trong vũ
trụ vậy. Và từ đó họ có thể đâm ra sợ
hãi và nói, "Tôi càng lúc càng trở nên thoải mái trong khi ngồi
thiền, nhưng rồi tôi hoảng sợ là tôi sẽ quên
đi mình là ai," hoặc "Tôi sợ là mình lạc
đi đâu đó và rồi không còn biết
đường mà trở về nữa."
Nói chung thì chuyện ấy sẽ
không bao giờ xảy ra. Chúng ta lúc nào cũng vẫn nhớ mình là ai. Và thường
thì tác dụng của thiền quán là để giúp chúng
ta có mặt trong hiện tại hơn, bây giờ và ở
đây, chứ không phải đưa ta đến một nơi chốn
xa xôi, lạ kỳ nào khác. Một tâm rộng lớn và không xao
động, không có nghĩa là tâm ta sẽ
trống vắng không còn một ý nghĩ hoặc ý niệm hoặc cảm thọ nào nữa. Nó chỉ
có nghĩa là tâm ta không còn xao động,
thế thôi!
Khi tôi còn bé, thành phố nhỏ
nơi tôi ở có thông qua một sắc lệnh là cấm làm "ồn ào nơi công cộng." Tôi
thường thắc mắc không biết thế nào là làm ồn ào nơi công cộng. La hét ở
chỗ đông người chăng? Hay là ca hát
trên đường phố? Ngày nay, giữa
đời sống phức tạp ở thành phố, ý niệm
về việc giữ cho một nơi chốn nào đó được
thinh lặng thật là một việc hết sức kỳ diệu.
Tự tánh của tâm ta là tĩnh
lặng. Đối với tôi thì khám phá ấy, ít
nhất trong thời gian đầu, vừa đem lại một tin
vui mà cũng vừa mang một tin buồn. Tin buồn là vì một tâm thư thái,
một tâm không bị động loạn, trạng thái ấy thì
không có gì là kỳ diệu hoặc phiêu diêu, biến hóa như tôi
đã từng mơ tưởng hết. Còn tin vui là
vì sự tĩnh lặng ấy lại chính là một trạng thái nhiệm mầu nhất của tâm ta,
và nó không bao giờ nhàm chán hoặc buồn tẻ hết. Chúng ta có thể kinh
nghiệm được nó mãi mãi. Và sở dĩ chúng
ta có thể kinh nghiệm được nó mãi
mãi bởi vì nó chính là tự tánh của ta.
Không Có Một Cây Tùng Rực Lửa
Annie Dillard
đã có một ảnh hưởng rất lớn
đối với tôi vào những năm
tôi mới bắt đầu bước chân vào con
đường tu tập. Tôi đã đọc quyển
Người Hành Hương tại Con Suối Tinker của bà rất nhiều lần. Trong
quyển ấy có một đoạn đã làm tôi xúc
động thật mạnh. Bà ghi lại, có một lần
trong khi bà đi xuyên qua rừng, trên
đường trở về căn nhà gỗ của mình tại
Con Suối Tinker, nơi đây bà sống suốt
một năm trời trong rừng vắng để tiếp xúc với
thiên nhiên. Rõ ràng là lúc ấy tâm bà rất tĩnh lặng, sự chú ý của
bà rất cao, và bà đang sống trong một trạng
thái như tiếp xúc được hết với mọi sinh vật có mặt chung quanh bà.
Lẽ dĩ nhiên, đây là một trạng thái tâm
thức mà từ đó người ta có thể có được những
tuệ giác rất khác thường.
Ngày hôm ấy trên
đường trở về căn nhà nhỏ, bà chợt thấy
một cây tùng bên đường bốc rực lửa. Tôi biết,
khi đọc những dòng ấy, không phải bà muốn nói là cây tùng ấy
đang bốc cháy thật sự. Tôi nghĩ có lẽ bà
muốn diễn tả cây tùng ấy có tỏa ra một hào quang hoặc một ánh sáng chói
chang nào đó. Sự kiện ấy, tự chính nó, tôi
nghĩ không có gì là lạ thường hết, nhưng vì bà
đã nhìn nó bằng một con mắt khác
thường. Bà diễn tả lại giây phút ấy như có một năng
lượng chuyển hóa rất lớn, và viết rằng bà sống cho những ảnh tượng
như vậy.
Và tôi cũng muốn mình sẽ có
được một cây tùng rực lửa giống như
thế. Tôi nghĩ rằng nếu tâm ta tĩnh lặng đủ,
nó sẽ bùng sáng lên như một ngày lễ lớn, có pháo bông rực sáng
trong nội tâm, không cần biết bên ngoài là đêm
hay ngày. Tôi nghĩ có lẽ tôi cũng ít nhiều đã
bị ảnh hưởng vì cuốn phim Yellow Submarine của ban nhạc the
Beatles, trong màn đầu mọi vật đang
trắng đen đột nhiên trở nên đầy màu
sắc. Tôi muốn thế giới của tôi được bừng
sáng, rực rở màu sắc.
Khi tiếp tục thiền tập,
đôi khi tôi cũng có lúc kinh nghiệm được
những giây phút có những sự kiện thú vị xảy ra trong thân và tâm.
Có lúc tôi cảm thấy cơ thể mình lâng lâng vui sướng, thân tôi rung
động mạnh vì một niềm hoan lạc, màu
sắc chung quanh tôi dường như sắc sảo hơn,
đường viền của những chiếc lá chừng như rõ nét hơn. Thực phẩm trong
khóa tu có những hương vị thơm ngon hơn bình thường. Nhưng nó không có
nghĩa là một trái táo khô sẽ trở nên mọng nước hơn. Một trái táo khô sẽ
vẫn là một trái táo khô, tôi biết vậy. Và hương vị ngọt ngào sẽ vẫn là
hương vị ngọt ngào, và tôi cũng biết vậy. Nhưng không có gì bốc lửa, không
có gì tỏa hào quang, và cũng không có một trời hoa pháo nào xảy ra trong
tâm tôi. Một hôm, sau nhiều năm tu tập, trong
một khóa tu thiền, tôi đi dạo ra bên ngoài tu viện và ngồi xuống
trên một chiếc băng gỗ cạnh cửa sau, chờ vài
phút cho đến giờ ăn trưa. Ngày hôm ấy
trời có nhiều sương mù và mây xám. Tu viện là một tòa nhà cũ kỹ nằm yên
trong một khung cảnh buồn tẻ. Trời tháng hai California u ám và tẻ nhạt.
Chiếc băng ghế ngồi lạnh lẽo. Phía trước mặt
tôi là một thân cây, vẫn còn trơ trọi vì những nụ lá xanh chưa nở.
Tôi tự nghĩ, "Không biết đây có phải là
cây tùng của mình không!"
Tôi nhắm mắt lại và chú ý
đến hơi hở của mình. Tôi cảm thọ
được thân mình
đang ngồi trên chiếc băng
ghế lạnh. Tôi cảm thọ được không khí ẩm ướt chung quanh. Tôi cảm thấy rất
thư thái. Tôi bắt đầu thấy thích chiếc băng ghế lạnh, tôi thích sự cứng
chắc của nó, tôi thích hơi sương lành lạnh chung quanh tôi. Tôi ý
thức là mình đang có hạnh phúc. Tôi thấy hơi
đói nhưng vẫn thấy là hạnh phúc. Rồi chuông báo hiệu giờ
ăn trưa vang lên. Tôi nghe tiếng
chuông, tôi thích âm thanh ấm áp ấy, nhưng tôi không cảm thấy một sự thúc
đẩy nào bảo tôi phải
đứng dậy để đi vào trong nhà sắp hàng.
Tôi vẫn ngồi yên đó. Đột nhiên, tôi ý
thức được đây là một kinh nghiệm khá
đặc biệt, và sự kiện là không có một
sự thúc đẩy nào khởi lên trong tôi bắt
tôi đi làm một chuyện khác, là phi
thường lắm. Đây là một tiếng chuông
kêu gọi tôi đi vào nhà làm một công
việc thú vị hơn, trong một khung cảnh ấm cúng hơn, và dù vậy trong tâm tôi
không hề có một ý muốn nào khởi lên bảo tôi phải thay
đổi hoàn cảnh hiện tại của mình. Tôi
hoàn toàn mãn nguyện. Tôi tự nghĩ, "Hay thật! Mãn nguyện là một trạng thái
tâm thức kỳ diệu nhất. Nó khác thường vô cùng." Tôi lại nghĩ tiếp, "Có lẽ
đây là giây phút giác ngộ của tôi. Có
lẽ nếu tôi mở mắt ra, thân cây trước mặt tôi sẽ ngời sáng và tỏa chiếu hào
quang." Tôi rụt rè nhút nhát, từ từ mở mắt ra. Thân cây trước mặt tôi vẫn
không có một chút gì thay đổi, nó vẫn thật
tầm thường. Nhưng tôi cảm thấy vô cùng hạnh phúc.
Thỉnh thoảng trong tôi cũng vẫn
còn có một ước vọng về một cây tùng rực lửa. Thường thường, những lúc nào
tôi cảm thấy thật tĩnh lặng và an lạc, tôi lại có một ý nghĩ, "Cảm giác
này thật kỳ diệu, có lẽ bây giờ là lúc cây tùng bốc lửa của mình xuất hiện
đây!" Nhưng chuyện ấy chưa bao giờ xảy ra! Mà
thật ra tôi nghĩ đó cũng là một
điều may mắn cho tôi. Nếu tôi có thấy được
một lần, nó chắc chắn sẽ không kéo dài lâu và rồi cũng qua
đi, nhưng tôi lại bắt đầu tìm kiếm
để mong được thấy thêm một cây tùng
khác nữa. Nó sẽ thành một chướng ngại lớn.
Những cây tùng rực lửa ấy hiếm
hoi và khó mà xảy ra lắm. Nhưng những giây phút an lạc thì có thể có mặt
trong mỗi giây mỗi phút trong cuộc đời. Thật
ra, mỗi giây phút của ta đều có tàng chứa sự an lạc. Sở dĩ ta không
tiếp xúc được với chúng, cũng bởi vì
tâm ta vẫn chưa dừng lại đó thôi.
Ba Con Dấu Của Thực Tại
Đức Phật có nói đến ba sự thật
về những kinh nghiệm trong cuộc sống, về
tất cả những kinh
nghiệm trong cuộc sống của ta. Chúng bảo đảm
sẽ đem lại cho ta hạnh phúc và an lạc nếu ta có thể thật sự hiểu
được chúng. Thật ra thì ba sự thật ấy
rất là hiển nhiên, mỗi khi tôi đem ra dạy,
người ta thường hay nói, "Chỉ có vậy thôi sao? Ai mà lại không biết
việc đó!" Đúng vậy, chúng là những sự
thật hết sức bình thường, và mọi người có lẽ ai cũng
đều biết chút ít về chúng. Nhưng tôi tin rằng
điều quan trọng trên phương diện tu tập là ta phải hiểu cho thật
thẳm thấu, làm thế nào để chúng có thể
giúp ta bớt sợ hãi hơn và có hành động
từ ái hơn.
Ba sự thật ấy còn
được gọi là ba con dấu, trong kinh
điển gọi là Tam Pháp Ấn, là ba
đặc tính của mọi kinh nghiệm trong cuộc sống
của ta: anicca, dukkha và anatta. Anicca
có nghĩa là vô thường, tất cả mọi việc
đều biến đổi không ngừng. Không có gì trên
đời này là có thể tồn tại mãi
được. Sự việc hiện lên từ một chân
trời giả tưởng mà ta gọi là "tương lai," chúng
đi qua như những kinh nghiệm, và biến
mất vào trong một khoảng trống không mà ta gọi là "quá khứ." Và ngày hôm
qua của ta cũng nằm trong cùng với một khoảng trống không như cuộc Thế
Chiến vừa qua. Dukkha có nghĩa là sự không vừa lòng, bất toại
nguyện. Vì chung quanh ta không có gì là bền vững, không một nơi nào
cho ta an nghỉ, nên cuộc sống là một chuỗi dài của những sự
điều chỉnh liên tục
để đi tìm hạnh phúc. Và con dấu thứ
ba, Anatta, có nghĩa là vô ngã, không có một thực thể riêng
biệt. Nó có nghĩa là tất cả những kinh nghiệm của ta chỉ là một dòng sông
trôi chảy không ngừng nghỉ, nó khởi lên, hiển lộ ra, và rồi biến mất
đi. Và chỉ là vậy! Ý niệm cho rằng có
một người nào đó riêng biệt
đứng bên ngoài nhìn dòng sông ấy, chỉ
là một ảo tưởng mà thôi.
Nếu những sự thật ấy quá
đơn giản và ai cũng biết, thì tại sao
chúng ta phải cần đến sự tu tập làm
gì? Nói cho cùng, trong chúng ta có những người có tuệ giác một cách tự
nhiên. Nhưng còn đa số chúng ta, một cái biết
kiến thức dường như vẫn là chưa đủ. Sự
tu tập vì vậy rất cần thiết, vì nó có thể
đem lại cho chúng ta một cái thấy sáng suốt và
sâu sắc, và nó còn có một tác dụng chuyển hóa nữa. Trong kinh
điển, sự chuyển hóa này còn
được gọi là một sự phát triển tuệ
giác. Bạn không thể nhìn thấy được tuệ giác,
nhưng bạn có thể thấy được những phản ảnh của chúng. Những phản ảnh của
chúng chính là sự an lạc, không sợ hãi và lòng từ ái của bạn.
Như Bọt Nước, Sương Mai
Trên một chuyến xe buổi sáng ở
Massachusetts, tôi một mình với chú tài xế trên
đường đến phi trường Logan. Chú trông cũng
trạc tuổi tôi nên tôi đoán có lẽ chú
cũng đã có con, cháu. Chỉ trong vài phút, chúng tôi
đã thăm
hỏi nhau hết về những chi tiết cần thiết - có bao nhiêu con cháu,
trai hay gái, mấy tuổi. Và rồi chúng tôi lại bàn tiếp
đến sự kỳ diệu của tính chất di truyền, như là
màu tóc đỏ của ông nội và tánh nhút
nhát ghê gớm của dì nó đã biểu hiện
thật rõ ràng nơi đứa cháu trai bốn tuổi.
Vui miệng, câu chuyện tự nhiên
từ đó bắt sang những niềm hạnh phúc: đứa cháu
trai của chú là một diễn viên, cháu trai tôi biết nói tiếng Thụy
Điễn, gia đình của chú ai cũng biết
thương và lo lắng cho nhau, gia đình
tôi cũng thế. Và sau một hồi, chúng tôi lại sang
đến những khó khăn: đứa nào có những
vấn đề về sức khỏe, về công ăn việc làm,
về chuyện vợ chồng...
Tôi
để ý thấy rằng cuộc đời của chúng ta ai cũng
giống như nhau, có những niềm hạnh phúc và nỗi khổ
đau tương xứng, chỉ duy có tên tuổi
nhân vật là thay đổi mà thôi. Chú gật
gù đồng ý và mỉm cười, khi nhớ lại một
kỷ niệm xưa. "Chúng tôi vui lắm," chú kể, "diện quần áo thật kẻng cho mấy
đứa con nít để đi lễ. Đứa lớn nhất được mười
chín tuổi khi em nó mới sanh, cả gia đình tôi cùng bước vào một
lượt trông thật đẹp mắt, tất cả là tám
người.
"Ngày lễ Giáng Sinh," chú tiếp
tục, "đó mới thật là nhộn nhịp. Vào
lúc ấy cái gì thấy cũng là quan trọng vô cùng, và bây giờ nhìn lại thì như
là chưa từng xảy ra. Tôi đã làm việc
cho sở bưu điện hơn ba mươi bốn năm trời,
trước khi về hưu và bắt đầu lái xe, mà
bây giờ nhìn lại cũng thấy dường như chuyện sở bưu
điện ấy cũng chưa xảy ra bao giờ!"
Kinh Kim Cang
đã diễn tả sự thật ấy rất hào hùng,
khuyên ta nên nghĩ đến "cuộc sống vô thường"
này như là "mộng huyễn, như bọt nước, như sương mai, như ánh chớp"
(Nhất thiết hữu vi pháp, như mộng huyễn, bào ảnh, như lộ, diệc như
điển, ưng tác như thị quán.) Những
học trò của tôi, đôi khi cũng gặp khó khăn
với những ý niệm như là sự trống không hoặc là không có một thực
thể riêng biệt. Vì trong giây phút này mọi vật thấy dường như là rất thực,
rất quan trọng và rất vững chắc. Tôi nghĩ, có lẽ vì sự dũng mạnh của ý
kinh hoặc những hình ảnh ví dụ đã làm
cho họ bị rắc rối. Chỉ cần chiêm nghiệm lại kinh nghiệm của chính cuộc
đời mình, ta sẽ biết rằng những
điều kinh nói là sự thật.
Anicca: Vô Thường
Anicca là chân lý về vô
thường, về cái tự tánh thay đổi và
biến chuyển liên tục của mọi kinh nghiệm. Lẽ dĩ nhiên, chúng ta ai mà lại
không biết rằng sự vật sẽ thay đổi, rằng
không có gì là tồn tại mãi mãi. Tôi không biết một người nào mà lại
thích đi gặp nha sĩ, nhưng chúng ta ai cũng đã
phải đi, và ít nhiều gì cũng tương
đối cảm thấy thoải mái, cho dù có vấn
đề gì đi
chăng nữa. Và tôi dám chắc là sẽ không ai dám
đi gặp nha sĩ nếu mỗi buổi hẹn đều kéo dài
vô tận, không biết khi nào ta mới được bước
ra khỏi phòng thuốc. Chúng ta biết là việc gì rồi cũng sẽ
đổi khác, cái gì rồi cũng sẽ qua,
những khi mình đi gặp nha sĩ. Nhưng trong
cuộc sống, đôi khi ta lại quên việc ấy, nhất là khi mình bị bối
rối. Buồn rầu làm ta bối rối, mất mát và muộn phiền làm cho ta sợ hãi. Nếu
chúng ta có thể giữ cho tâm mình được trong
sáng một chút thôi, và ý thức được
rằng cái gì cũng chỉ là tạm thời, chúng ta sẽ có thể
đối diện với những hoàn cảnh phức tạp,
khó khăn bằng một sự ung dung.
Cái Này Rồi Cũng Sẽ Qua
Đứa con thứ tư của tôi ch
ào
đời khi đứa đầu tiên
được năm tuổi. Tôi rất vui mừng với hoàn
cảnh của mình, và niềm hân hoan ấy tràn ngập tâm tôi. Tôi vẽ hàng chữ "Cái
này rồi cũng sẽ qua," trên khung cửa nhà bếp. Và ngày ấy cũng
đã trôi qua. Bây giờ hồi tưởng lại
những ngày tháng đó tôi cảm thấy thật nhiều
thương nhớ. Khi tôi hiểu được thời gian lướt qua rất nhanh và những
việc trong đời tôi đã trôi ngang như
một bóng mờ, tôi chợt ý thức rằng ngày mai
đây khi thức dậy, nhìn lại mình tôi sẽ thấy
đã già tám mươi tuổi. Khi mẹ chồng tôi
đã lớn tuổi, bà ta thường hay thở dài
và nói, "Mới quay lưng một chốc mà rồi xong hết!" Tôi thường nghĩ
đó chỉ là kinh nghiệm cá nhân của bà
về cuộc đời. Bây giờ thì tôi biết
đó là sự thật.
Không Có Sự Dễ Chịu Nào là
Lâu Dài
Căn
nhà tôi đang ở cũng đã
được một trăm tuổi. Khi chúng tôi mới dọn vào,
ở trước cửa chánh có một hàng rào để vịn tay
dọc theo những bậc thang dẫn lên nhà. Những người chủ trước, các cụ
đã lớn tuổi, dọn
đến một căn nhà khác dễ dàng cho sự ra
vào của họ hơn. Vì hàng rào vịn tay ấy trông không
được đẹp mắt cho lắm, và chúng tôi vẫn
còn trẻ trung, khoẻ mạnh, lúc vừa mới dọn vào chúng tôi
đã cho người tháo gỡ nó xuống.
Mới
đây, chúng tôi đã cho dựng gắn chiếc
hàn rào vịn tay ấy lên lại. Chúng tôi chưa cần
đến nó nhưng đa số bạn bè chúng tôi
cần. Điều thật lạ lùng là tôi có cảm
tưởng như là mình mới tháo gỡ nó xuống ngày hôm qua
đây thôi! Nếu tôi kể lại một câu chuyện về
cuộc đời vô thường, bắt đầu bằng, "Cuộc đời tôi trôi qua như bóng mây..."
thì tôi có thể trở thành bi quan. Lòng thương cảm phải
được sử dụng để giúp ta trân quý giây phút
hiện tại này hơn thì mới có ích lợi. Còn nếu ta chỉ biết thương
nhớ, tiếc nuối về những gì mình đã bỏ
lỡ, chúng sẽ chỉ trì kéo ta xuống thêm mà thôi.
Phyllis là một trong những
người mà tôi biết ngày nay phải cần đến chiếc
hàng rào vịn tay ấy. Mười năm trước
khi mới gặp chị, chị có thể lên xuống những bậc thang trước nhà tôi
hết sức dễ dàng. Bây giờ cơ thể chị quá mỏng mảnh, chị phải cần
đến một chiếc ghế đặc biệt mới có thể ngồi
thoải mái. Tuần rồi, trong khi sắp xếp lại mấy chiếc gối dựa lưng cho chị,
tôi hỏi, "Chị có cảm thấy dễ chịu hơn không?"
"Đở
lắm," chị trả lời một cách nuối tiếc, "nhưng không có sự dễ chịu nào
là được lâu hết!"
Dukkha: Bất Toại Nguyện
Khi ta nói, "Cuộc
đời này không toại nguyện," việc ấy có
vẻ hơi thiếu lịch sự, như là chúng ta đang phàn
nàn về một cái gì. Tôi nhớ khi lên lớp Ba, tôi bị cô giáo phê "Không vừa
ý" trong mục "Làm việc và chơi đùa với
bạn." Bây giờ mỗi lần nghĩ lại tôi vẫn còn cảm thấy hơi bất mãn. Tôi nghĩ,
có lẽ tôi bị điểm xấu vì khi so sánh
với những người khác, họ đã làm việc
và chơi với nhau hay hơn tôi. Nhưng làm sao mà cuộc sống lại có thể là
"không toại nguyện" được? Ta so sánh nó với
cái gì đây?
Con dấu thứ hai của những kinh
nghiệm trong cuộc sống là sự bất toại nguyện, tức dukkha.
Đức Phật dạy rằng sự bất toại nguyện cơ bản
nhất của ta phát sinh từ một ý thức về sự vô thường. Đáng lẽ điều ấy phải
khai phóng ta mới phải! Vì khi ta "hiểu"
được tính cách tạm bợ của mọi vật, ta cũng sẽ
"hiểu" là nếu mình bám víu vào bất cứ một cái gì, chẳng những hành
động ấy hoàn toàn vô ích mà còn sẽ
mang lại cho ta nhiều khổ đau nữa.
Không một việc gì mà có thể tồn
tại mãi được. Có lần tôi hướng dẫn một khóa
tu dài một tuần cho toàn những thiền sinh mới.
Đa số những phương pháp thiền tập, kể cả
phương pháp thiền quán mà tôi hướng dẫn,
đều bắt đầu bằng cách yêu cầu mỗi
người chú ý đến cảm thọ của hơi thở. Lý do là
vì chúng ta ai cũng thở, hơi thở rất bình dị và ai cũng có thể cảm nhận
được nó rất dễ dàng. Biết chú ý vào
kinh nghiệm của hơi thở sẽ đem lại cho ta sự
tĩnh lặng và một khả năng tập trung
sáng tỏ.
Tôi cố diễn
đạt những lời hướng dẫn của tôi sao cho mọi
người có thể chú ý và kinh nghiệm được
sự biến đổi liên tục đang xảy ra trong
họ và chung quanh họ. Tôi cố ý làm việc ấy. Vì hy vọng của tôi khi
hướng dẫn mọi người là không những họ sẽ được
trở nên tĩnh lặng, mà còn phát sinh
được tuệ giác, và sẽ tự chứng nghiệm
được những chân lý giải thoát mà đức
Phật đã dạy. Tôi nói những lời như, "Khi bạn
đặt sự chú ý của mình vào kinh nghiệm
của hơi thở, bạn hãy nhớ ghi nhận sự sinh lên và diệt
đi của chúng. Hể cái gì có sinh thì sẽ
có diệt."
Mỗi ngày qua trong khóa tu, và
tôi tiếp tục đưa ra những lời hướng dẫn tương
tự, với hy vọng sẽ giúp mọi người chú ý đến cái tính cách tạm bợ của mọi
hiện tượng. "Khi đi, hãy ghi nhận mỗi bước chân
đặt xuống của ta sanh lên và diệt
đi như thế nào." "Khi
ăn trưa, hãy ghi nhận
đến cơn đói bụng của ta lúc ban đầu, nó dần
mất đi khi ta tiếp tục ăn."
Cuối cùng, một buổi chiều, như
là không còn chịu đựng được nữa, một thiền
sinh cắt ngang lời tôi: "Sao bà cứ lại nói như thế hoài vậy?" anh
ta kêu lên. "Tôi không chịu nổi khi bà cứ nói như vậy."
"Tôi nói như vậy," tôi
đáp, "vì
đó là sự thật."
Tôi rất cảm thông với sự bất
mãn của anh. Tôi có thể chia xẻ được điều ấy
vì tôi cũng đã từng trải qua
một thời gian dài tương tự. Trên con đường tu
tập, tôi cũng đã từng có những lúc mà tôi chỉ ý thức
được duy có mỗi sự sanh diệt của các hiện
tượng mà thôi. Cuộc sống đối với tôi
dường như chỉ là những bài toán khó khăn,
đau đớn, và vô lý trên con đường đi
đến cái chết. Trong một buổi trình pháp, tôi kể cho vị thầy tôi
nghe là tôi cảm thấy mọi chuyện bây giờ đối
với tôi dường như rất là trống vắng và vô nghĩa.
"Cẩn thận nhé Sylvia," ông bảo,
"đừng để cho cái tuệ giác về tính chất bất
toại nguyện này làm khổ đến kinh
nghiệm sống của chị."
"Cám ơn thầy nhiều lắm," tôi
lịch sự trả lời, như học trò đối với một vị
thầy mình kính mến, tin là ông hiểu rõ những gì ông nói, và tôi
chào ông bước ra ngoài. Khi cánh cửa khép lại phía sau lưng, tôi nghĩ,
"Nhưng phải LÀM SAO đây?"
Không lâu sao
đó, vẫn còn bị dính mắc với quan niệm
rằng đời-vô-nghĩa-vì-bất-toại-nguyện,
tôi cùng với nhà tôi đi nghỉ mát ở Hạ Uy Di vào
một ngày lễ. Kinh nghiệm lần ấy mới thật là kỳ cục! Hạ Uy Di phải là một
nơi của tình yêu và thơ mộng. Hai vợ chồng tôi cùng ngồi với nhau ngoài
vỉa hè của một nhà hàng, ngắm mặt trời hoàng hôn lặn cuối chân trời. Chung
quanh tôi là những cặp tình nhân nắm tay nhau, nhìn hoàng hôn mỉm cười,
chắc chắn là họ đang thì thầm với nhau
những lời tình tứ, trong khi chỉ có mình tôi là
đang khóc thầm trong lòng! "Lại một
buổi chiều tàn, một ngày lại trôi qua! Mọi việc
đang đi qua! Cuộc đời sao thấy trống vắng và
vô nghĩa quá!" Tôi đoán có lẽ lần ấy tôi đã
không là một người bạn đồng hành vui
tươi lắm đối với nhà tôi.
Nhưng tôi nghĩ chúng ta vẫn có
thể ý thức được tính chất bất toại nguyện của
cuộc sống mà không cần phải chán bỏ hết tất cả. Khi ta ý thức
được sự mỏng manh và tạm bợ của mọi
hiện tượng, sự thật là sớm muộn gì chúng ta rồi cũng sẽ mất nhau, ta sẽ
cảm thấy mình cần phải biết luôn thương yêu nhau, hiểu biết nhau hơn.
Đối với một người bị bệnh nan y chúng ta
thường nói, "Bà ấy không còn được bao
nhiêu ngày nữa." Thật ra thì tất cả chúng ta cũng sẽ còn có
được bao nhiêu ngày nữa? Nào ai có thể
biết chắc được con số ấy là bao nhiêu.
Chúng ta không có một giây phút nào để lãng
phí cả!
Dẫu
Đời Có Là
Vô Nghĩa, Món Nấm Vẫn Quan Trọng
Cuộc
đời của người bạn tôi, Alta, là một
bài học cho tôi, mà cái chết của bà cũng là một bài học nữa. Suốt bảy mươi
chín năm trời, bà có một cuộc sống dồi
dào sức khỏe, đùng một cái bà ngã bệnh
nặng, và mọi người ai cũng biết là bà khó có thể nào qua khỏi. Bà
đã chấp nhận số phần ấy với một thái
độ khoan dung thường ngày của bà.
Nhưng đó chỉ là phân nửa bài học mà bà
đã dạy tôi.
Phân nửa bài học còn lại, là về
cái gì là thật sự có ý nghĩa. Lần cuối cùng bà còn có thể nói chuyện với
tôi, hai ngày trước khi bà nhắm mắt, chúng tôi bàn về ý nghĩa của cuộc
đời.
"Tôi
đã suy nghĩ nhiều về ý nghĩa của cuộc
đời này," bà nói, "và nó dường như
không có gì là quan trọng lắm! Em nghĩ sao?"
"Có lẽ thật ra nó chẳng có gì
cả, nhưng người ta lại cứ làm loạn cả lên." Tôi
đáp.
"Ừ chắc là vậy," bà trả lời và
tiếp, "Em đã
đọc một bài
điếu văn thật hay lúc bác trai ở nhà
mất."
"Em sẽ viết một bài cho chị."
"Nhưng tôi không muốn làm phiền
gì đâu..."
"Ồ có gì
đâu mà chị lại nói vậy, Alta! Chị muốn
em nói gì về chị?"
"Cái gì cũng
được. Em nói bất cứ điều gì em muốn."
"Em biết rồi, nếu em
đọc cái công thức về món nấm ngâm sốt đặc
biệt của chị, có được không?"
"Ý
đó hay lắm! Món đó thì tuyệt. Tôi biết có nhiều người thích nó
lắm!"
"Mà chị còn nhớ công thức
không? Chị đọc lại cho em nghe đi!"
"Tôi không nhớ hết. Em tìm
trong hộp đựng giấy tờ đồ ăn để trong nhà
bếp. Em nhớ nhắc kỹ là không nên nấu lâu hơn bốn tiếng
đồng hồ trước khi dùng. Nấm sẽ khô héo
đi!"
Tôi nghĩ, nấm cũng có ý nghĩa
quan trọng như bất cứ một việc gì khác trên cuộc
đời này.
Anatta: Vô Ngã
Sự hiểu biết có năng
lực giải thoát thứ ba mà đức Phật dạy
là vô ngã, tức anatta. Thật ra
đó cũng chỉ là một hình thái khác của luật biến
đổi mà thôi. Vì mọi vật
đều luôn luôn thay đổi, nên không có
ai có thể làm chủ của sự thay đổi
được, và cũng không thể có một ai
để cho sự thay đổi ấy xảy đến. Chúng ta là
động từ chứ không phải danh từ, là
những kinh nghiệm đang xảy ra, là
những câu chuyện mà tự chúng tự kể lấy và rồi tiếp nối nhau. Một câu
chuyện này đều có liên hệ
đến tất cả những câu chuyện khác. Trong kinh
điển đức Phật dùng chữ duyên khởi
để diễn tả rằng mọi việc nhờ nương nhau mà
có, tất cả mọi hiện tượng đều có liên
quan mật thiết với nhau, hoàn toàn không có một cái gì có thể
đứng riêng rẽ, cá biệt, một mình
được hết.
Cái Nhìn Xa Rộng, Cái Nhìn
Nhỏ Gần
Tôi nhớ có
đọc đâu đó là những phi hành gia
đã từng
đặt chân lên mặt trăng, hoặc có lẽ
tất cả những phi hành gia nào đã
đi xa đủ để có thể nhìn lại và thấy
được toàn thể trái
đất một lần thôi, họ đều cùng chia xẻ
chung với nhau một kinh nghiệm. Họ cảm nhận
được sự nhiệm mầu của những gì đang
xảy ra trên mặt điạ cầu mà
không hề cộng thêm vào đó một sự phê
phán tốt xấu, như khi bắt đầu trở về gần lại
trái đất. Tôi cũng có một kinh nghiệm tương tợ khi tôi có dịp đi đâu cách
xa gia đình mình. Chỉ sự hiện hữu của những người tôi thương thôi,
cũng đủ quan trọng hơn bất cứ một sự bất mãn
hoặc ưa thích nào của tôi có về họ khi chúng tôi ở gần nhau. Sự thực
nghiệm tâm linh sẽ giúp chúng ta có một cái nhìn rộng lớn và bao dung, cho
dù chúng ta có đang rất thân thiết và
gần kề bên nhau.
Tấm ảnh mà tôi thích nhất là
hình trái đất mọc khi nhìn từ mặt trăng.
Nó tuyệt đẹp. Một trái banh lớn màu xanh dương và lá cây lơ lững
giữa không gian mênh mông đen thẳm, nằm yên
trên quỷ đạo của nó. Từ điểm nhìn ấy,
quang cảnh trên trái đất kỳ diệu vô ngần! Có
loài sinh vật sinh ra, có loài chết
đi, cây cỏ một bên đang nở rộ, một bên
đang tàn héo, có tuyết rơi, mưa
đổ, gió thổi, núi lửa phun, động đất rung
chuyển, tiếng người ta nói chuyện, âm thanh ca nhạc hát vang. Từ mặt trăng
nhìn về, đó là một vở tuồng vũ
trụ lạ kỳ. Và từ ở chỗ chúng ta đứng, bên
trong vở tuồng ấy, nhìn lên mặt trăng, thì
đó lại là một câu chuyện khác. Nó biến
từ một vở tuồng của chung thành một vở tuồng của riêng tôi, và từ
đó trở thành một vấn
đề. Nếu bạn đứng xa đủ để nhìn lại,
thì nó không phải là câu chuyện riêng của bạn
đâu - nó là một trong những năm tỷ
rưởi câu chuyện trên quả đất này.
Làm cách nào
để giữ cho ta có được hai cái nhìn như
thế cùng một lúc là một thử thách lớn. Có một lần, cách
đây hai mươi năm, người bạn của tôi, Zalman,
có đưa ra một ví dụ mà tôi đã
kể lại cho các thiền sinh của tôi nghe rất nhiều lần. Nó cho ta thấy muốn
giữ cho mình có được hai quan điểm ấy cùng
một lúc đòi hỏi một sự tinh tế vô
cùng. Ông ta bảo chúng ta hãy tưởng tượng mình
đang ở trong một rạp hát, bắt đầu chiếu đoạn
mở đầu cho cuốn phim kinh dị Psycho của Alfred Hitchcock. Nữ
tài tử Janet Leigh bị đâm nhiều nhát dao
trong phòng tắm. Chúng ta cảm thấy sợ hãi và
định đứng lên bỏ về, nhưng người bạn
ngồi cạnh bên cản lại và nói, "Có gì đâu,
người ta chỉ đóng phim thôi mà!" Ông Zalman bảo ta hãy tưởng tượng
tiếp, là mình lại ngồi xuống và tiếp tục theo dõi truyện phim, bắt
đầu thấy nó hấp dẫn, và rồi cũng người
bạn ấy, cứ mỗi hai phút lại khều ta và nói, "Nhớ nhé,
đây chỉ là
đóng phim thôi!" Ta sẽ bực mình và
bảo, "Để yên cho tôi một chút có
được không, tôi đang thưởng thức truyện phim
mà!"
Dẫu biết rằng cuộc
đời này cũng giống như một cuốn phim
mà mỗi người chúng ta được giao phó cho một
vai tuồng, điều ấy không có nghĩa là ta có thể có một thái
độ bất cần hoặc dững dưng với nó được. Thật
ra những diễn viên giỏi bao giờ cũng cảm nhận
được vai tuồng của họ, và hài lòng khi
được người khác phê bình là nhân vật
của họ rất sống động. Tôi muốn cảm nhận được
sự sống của tôi một cách trọn vẹn, đóng vai trò của mình như nó là
thật, và vui vẻ cởi bỏ áo mão sau khi màn đã
buông xuống. Muốn được như vậy, tôi cần phải
giữ cho mình một cái nhìn bao dung và rộng lớn.
Khi ba tôi sắp mất, tôi
đã có mặt bên cạnh ông suốt những ngày
chót của cuộc đời. Những ngày cuối ấy,
ba tôi bị chìm trong một cơn hôn mê, thỉnh thoảng ông tỉnh dậy. Chúng tôi
biết ba không còn được bao lâu nữa, cố giúp
cho ông được dễ chịu chừng nào tốt chừng ấy, chờ hơi thở chót. Rồi
có lúc ba tôi dường như đang trút một hơi thở
cuối: thân ông rung động mạnh, hơi thở đứt quảng, tất cả những triệu chứng
của một người sắp chết. Tôi siết chặt tay ông và nói một bài
đã sửa soạn trước: "Hãy
đi vào nơi có ánh sáng" và "Bây giờ là
cơ hội để ba rời bỏ thân xác này." Tôi
rất hài lòng là mình đã nói những lời
ấy, vì đó là những lời mà người hấp
hối cần được nghe! Nào là "Ba
đã làm hết những gì ba cần làm trong
kiếp sống này rồi." "Mọi người đều thương và
quý ba." "Đã
đến lúc ba phải tiếp tục hành trình
của mình rồi." "Ba đâu cần gì cái thân
hư hao này nữa..." Mỗi lần thấy ba tôi vất vả với hơi thở của ông, là tôi
lập lại bài diễn thuyết ấy. Có lúc ông trở nên thoải mái hơn và ngủ thiếp
đi, tôi lại chờ đợi. Vào lúc cuối, hơi
thở của ông trở nên đứt quảng liên
tục, tôi nhỏm dậy và lại bắt đầu nói về "Hãy
đi vào ánh sáng..." Ông mở mắt ra nhìn
tôi và nói một cách thật rành mạch, "Con biết không, chẳng có gì
đâu con, đừng làm cho to chuyện!"
Bác Thợ Sửa Máy
May: Quên
Đi Câu Truyện Của Mình
Tuệ giác của Vô Ngã, một ý thức
rằng câu truyện này là không có chủ, điều ấy
có lẽ khó hiểu nhất. Ví dụ, khi ta nói "Tôi buồn quá," thì ta thật
sự cảm thấy như có một người nào đó trong ta
là chủ của nỗi buồn ấy. Có một lần, tôi gặp
được một người mà ông ta có thể nhìn
thấu suốt qua được câu truyện của ông, và
hoàn toàn tự tại.
Chiếc máy may của tôi bị hư,
cần được sửa. Vì vừa dọn
đến một thành phố mới nên tôi giở
quyển sách điện thoại niên giám ra
để tìm một
đại lý sửa máy may. Khi lái xe đến tiệm, tôi
chú ý đến một tấm bảng để bên ngoài cửa sổ ghi: "Công việc tốt
đẹp. Mọi người thật tuyệt. Cuộc đời kỳ diệu!"
Tấm bảng ấy hơi khác thường đối với một cửa tiệm sửa máy may. Mà
thật ra nó cũng bất thường đối với bất cứ một
cửa hiệu nào khác.
Bước vào bên trong, tôi nhận
thấy trên những vách tường và trên mặt quầy hàng có trưng bày những khẩu
hiệu lạc quan, như là: "Khi cuộc đời trao cho
bạn một trái chanh, hãy pha cho mình một ly chanh
đá!" "Ngày hôm nay là của bạn, muốn nó
sẽ ra sao là tùy ở nơi bạn." Người chủ tiệm ra dấu chào tôi, và rồi tiếp
tục chú ý hoàn toàn đến người khách hàng
đang ở trước mặt ông. Ông ta chẳng có gì
là vội vã, thế nên tôi cũng vậy.
Khi
đến phiên tôi, ông ta tiếp
đãi thật chu
đáo. Sau khi đã hoàn tất thủ tục bỏ
sửa chiếc máy may, tôi mạo hiểm hỏi một câu tâm lý hơi có tính cách cá
nhân: "Bác trông có vẻ là một người vui tính," tôi nói. "Chắc Mẹ bác cũng
vui tính và yêu đời như bác?"
"Không," ông trả lời. "Mẹ tôi
nghiện rượu và rất chán đời."
"Tôi
đoán," tôi tiếp tục, "chắc là Ba của
bác phải là một người gương mẫu cho bác noi theo."
"Không Ba của tôi ưa nổi nóng
bất thường lắm, và ông hay đánh đập chúng
tôi."
"Thế nhưng bác lại trở thành
một người thành công như vầy thì thật là hay quá!" Tôi buột miệng khen.
"Tôi không thành công lắm
đâu! Tôi cũng đã có lúc tệ hại lắm!"
Ông mỉm cười, hơi có một nét gì hối tiếc. "Tôi học hành không ra gì. Không
bao giờ thật sự biết đọc. Tôi ra Trung học vì
mình cứ lớn dần và lớn dần, đến một lúc nhà
trường bắt buộc phải cho tôi lên lớp vậy!"
Ông kể lại câu truyện của
đời ông không chút ngại ngùng. Và tôi
tiếp tục hỏi. Trường hợp của ông hình như rất ngoại lệ, nó bất chấp hết
mọi sự khôn ngoan thường tình.
"Sau khi ra Trung học mọi việc
lại càng tệ bạc hơn. Tôi vướng vào nghiện ngập. Tôi bị lôi thôi
đủ chuyện này nọ. Cuối cùng, không
biết làm gì hơn, nên tôi xin gia nhập vào thủy quân lục chiến. Ngày
đầu tiên, họ phát cho tất cả chúng tôi
đồng phục, tóc hớt ngắn y như nhau. Họ bảo
chúng tôi ngồi quay mặt vào trong tường, và xởn hết tóc mọi người.
Rồi họ xoay người bọn tôi lại, sáu đứa tất
cả, cùng một lúc đối diện trước một
tấm gương lớn. Tôi giật mình hơi kinh hoảng một chút. Tôi không tìm
được ra mình trong ấy. Không có một
người nào trong đó mà tôi biết
được câu truyện đời của anh ta!"
Đối với tôi, đó là câu
quan trọng nhất trong bài tự thuật của ông. " Không có một người nào trong
đó mà tôi biết
được câu truyện đời của anh ta!" Ông ta kể
tiếp, sau khi thấy rằng tất cả vấn đề chỉ nằm ở chỗ câu truyện nào
là "của" ta, ông quyết định tìm cho
mình một câu truyện mới. Câu truyện cũ, ông nghĩ,
đã không giúp ích gì cho ông lắm.
Sau khi giải ngũ, nhờ
đã học về máy móc, ông
được huấn luyện thêm về ngành sửa máy
may, lập gia đình, có con, và làm chủ
một cửa tiệm nhỏ nhưng khá đông khách. Ông
cười to và nói với tôi là chưa bao giờ ông
đọc hơn trọn một quyển sách trong suốt đời mình.
Nhưng người ta cứ thích đổ xô kéo đến tiệm
ông. Tôi nghĩ một phần có lẽ vì ông sửa máy may giỏi. Còn phần lớn
có lẽ vì họ thích cái không gian chung quanh ông. Tôi
đoán chắc là không phải khác hàng nào
cũng nhiều chuyện như tôi. Tôi nghĩ họ chỉ linh cảm rằng ông ta có biết
một cái gì đó rất đặc biệt.
Thiên Trú
Trong kinh Phật, tứ vô lượng
tâm: từ, bi, hỷ và xả còn được gọi là
thiên trú, tức những nơi cư ngụ của các bậc Phạm Thiên. Tự tánh của
tâm, khi không bị vô minh che lấp, rộng lớn tột cùng. Tâm ta tự nó vô cùng
tĩnh lặng, ôm trọn hết tất cả mọi sự và giữ gìn chúng trong một sự quân
bình rất tự tại.
Và từ chính nơi chốn an tĩnh
này mà những phản ứng trong tâm ta phát khởi lên
để đáp ứng lại những biến cố của cuộc đời.
Tâm Từ phát sinh lên như một phản ứng tự nhiên
đối với mọi người và mọi loài. Tâm Bi
phát khởi khi ta tiếp xúc được với nỗi khổ
của người khác. Tâm Hỷ là một niềm vui sinh lên từ sự chia xẻ với
hạnh phúc và sự may mắn của kẻ khác, khi ý thức
được nó. Và tất cả ba trạng thái ấy
của tâm, từ, bi và hỷ, là những phản ảnh khác nhau của một tâm buông xả,
trầm tĩnh cơ bản, trong ta.
Sự trầm tĩnh ấy không có nghĩa
là trống không. Sự trầm tĩnh của tâm xả tàng chứa hết tất cả.
Tâm Từ
Từ trong tiếng Pali gọi là
metta, có nghĩa là một tình thân toàn vẹn và không hạn chế.
Đức Phật dạy, khi tâm ta an ổn, nó sẽ có
những đặc tính như là thân thiết, tương
đắc và
đầy thiện ý. Một tâm an ổn sẽ thương mến, hầu như, hết tất cả mọi người.
Ngay đối với những kẻ, dầu cho cá nhân hoặc hành
động của họ có khó ưa đến đâu, tâm an ổn của
ta cũng sẽ thích nghi được bằng tình thương.
Có nhiều phương cách khác nhau
để giúp ta nuôi dưỡng và phát huy tâm
từ. Có những phương cách sử dụng thiền quán. Có những phương cách áp dụng
sự thực tập vào đời sống hằng ngày,
như là mỉm cười với người bán hàng ở tiệm siêu thị, giúp người khác khuân
những món đồ nặng, giữ cửa thang máy cho
người cuối cùng bước vào. Nếu chỉ nhìn phớt qua, ta sẽ có cảm tưởng
như sự thực tập tâm từ, metta, là để
giúp cho kẻ khác. Nhưng thật ra nó cũng là cho chính ta.
Tình thân ái không có gì là
khó. Chúng ta không cần phải học cách thân ái. Chúng ta chỉ cần
phải nhớ để bày tỏ sự thân ái
mà thôi. Các em bé, trừ những khi sợ hãi, bao giờ cũng thân thiện. Những
chú chó con cũng thân thiện. Một anh bạn của tôi, mới
đây khám phá ra rằng những con chim cánh cụt
(penguin) ở Galapagos, cũng rất là thân thiện, vì chúng không cảm
thấy sợ hãi.
"Tôi
đang sợ sệt một vấn đề gì
đây?" là một câu tôi tự hỏi mỗi khi
cảm thấy mình không thích thân thiện với một người nào
đó. Luôn luôn phải có một cái gì! Khi
mới bắt đầu thực tập thiền quán về tâm từ,
trong khi ngồi thiền tôi tập phóng những tư tưởng, mong ước tốt lành
của tôi đến tất cả những người tôi biết. Tôi
giật mình khi khám phá ra là mình đã
cất giữ trong tâm một danh sách thật dài về những người mà tôi ghét. Thật
ra nó cũng chẳng có gì là quan trọng, bực mình người này một chút, không
ưa gì người kia lắm, hơi bất mãn về một người nọ... những chuyện lặt vặt
đâu đâu nhưng chúng đã khéo léo và bí
mật dẫn tôi đến việc sắp xếp họ vào
trong một nhóm người mà "Tôi không ưa thích gì mấy."
Nhưng không phải là tôi cố ý
ghét bỏ gì những người đó mà xếp họ
vào một danh sách riêng. Thật ra, tôi rất ngạc nhiên về những ký ức ấy, và
cũng rất bất mãn về những ảnh hưởng của chúng có
đối với tôi. Nghĩ thật là kỳ cục, vì
chuyện cũng đã biết mấy năm
qua rồi! Nó cũng làm xấu đi cái hình
ảnh mà tôi có về chính mình. Tôi đã
từng rất hảnh diện rằng tôi là một người rất cởi mở và rộng lượng, nhưng
khi thấy được chân tướng của mình, tôi
thất vọng vô cùng.
Cũng vì cảm thấy thất vọng và
không muốn âm thầm mang cái danh sách thù ghét ấy trong tâm mãi, tôi quyết
định thực tập ban rãi tâm từ, tình
thương đến những ai đã từng gây thương
tích cho tôi.
Dần dần cái danh sách của những
người "khó ưa" ấy cũng bắt đầu thay đổi.
Những người tôi không ưa không còn là một
đe dọa đối với tôi nữa. Sau một thời gian,
tuy vẫn còn nhớ tên những người trên danh sách ấy, nhưng cái năng
lượng tiêu cực của nó đã biến
mất. Ngày hôm nay, tôi khám phá ra là mình không còn nhớ một tên nào nữa!
Dễ thương cũng là một
danh từ kỳ cục khác, nhưng nó đi đôi với lại
thân ái. Không phải tôi bắt đầu
tu tập vì muốn mình được là một
người dễ thương. Tôi nghĩ mình bao giờ cũng đã
là dễ thương rồi. Tôi tu tập vì muốn được bớt
sợ hãi. Nhưng dầu sao thì tôi cũng đã
trở nên dễ thương hơn, và lại còn được
bớt sợ hãi nữa.
Biết Thương Yêu là Biết Hạnh
Phúc
Phóng rãi tâm từ, gởi những ý
nghĩ tốt lành, đến người ta thương mến thường
thường thì bao giờ cũng dễ. Ban rãi ý nghĩ tốt lành của ta
đến những người nằm trong danh sách "khó
thương", cái đó mới là khó. Điều mà
giúp ta có thể thực hiện được việc ấy là
nhớ lại ít nhất một việc gì tích cực mà người ấy
đã làm, kỷ niệm
đó có thể sẽ giúp mở rộng trái tim ta. Chìa
khóa ở đây là sự tha thứ. Không làm
được điều ấy ta chỉ sẽ gặp đớn đau thôi.
Ngày sinh nhật thứ mười chín
của tôi, một tháng sau khi tôi làm đám cưới,
bà cố dì của tôi, Sarah, mất trong bệnh viện Bellevue, sau một cơn
bệnh dai dẳng và suy nhược. Ba tôi, thân nhân duy nhất của bà, không có
mặt trong nước, còn lại chỉ có mình tôi là phải
đứng ra để lo việc mai táng. Những người thân
thích của bà gọi điện thoại lại cho
tôi, bảo đảm là sẽ không có một vấn đề
gì hết, bà cố tôi là một thành viên trong hội mai táng và những chi
phí đã
được trang trải xong xuôi hết rồi. Tôi chỉ cứ việc có mặt vào sáng
mai tại nhà quàng. Tôi lo sợ chết đi được,
tôi không hề có một kinh nghiệm gì với chuyện chôn cất hết. Ba
chồng tôi bảo, "Ngày mai Ba sẽ đi với con!"
Khung cảnh của nhà quàng tối tăm
và ảm đạm, tôi cảm thấy kỳ quặc. Tôi là
người đàn bà duy nhất có mặt ở
đó. Có những nhóm ông cụ già, không có
họ hàng gì với chúng tôi, tụm lại với nhau, họ là những người trong ban
tụng niệm minyan, gồm có mười người mỗi nhóm. Có hai người
đàn bà lớn tuổi bước ra từ căn
phòng phía sau và ra về. Ông chủ nhà quàng bước
đến gần bên tôi và nói, "Đó
là những bác đã
đến để tắm rửa, sửa soạn cho người chết trước
khi chôn. Bây giờ, cần một phụ nữ trong gia đình vào nhà trong
để kiểm soát lại thân thể người chết." Chắc là
gương mặt của tôi lúc ấy phải là tái ngắt. Ba chồng tôi nói, "Để
Ba vào coi cho!"
Ba chồng của tôi, Harry
Boorstein, sống thêm mười lăm năm nữa, những
kỷ niệm tôi có về ông thì rất là chung chung, lờ mờ, không có gì rõ
rệt, chỉ nhớ ông là một người tốt. Nhưng mỗi lần tôi nghĩ
đến ông trong giây phút ấy tại nhà
quàng, tôi cảm thấy một sự biết ơn vô cùng và trái tim tôi mở rộng. Mỗi
khi tôi nhớ lại bất cứ một lời nói vu vơ nào, một hành
động vô ý nào của ông, tôi chỉ có thể
nhớ lại câu nói ấy của ông tại nhà quàng - "Để
Ba vào coi cho" - và tôi thấy thương ông. Tôi rất trân quý giây
phút đó, vì nó là cây chìa khóa kỳ
diệu để thương ông mãi mãi, và khi tôi
biết thương yêu, tôi hạnh phúc.
Thương Yêu Mọi Người là
Chuyện Dễ Nhất
Nửa giờ sau khi cất cánh trên
chuyến bay từ Chicago, viên phi công thông báo, "Không có gì
đáng lo cả, thưa quý vị, nhưng chúng ta bị hư
mất một hệ thống thủy lực của phi cơ, chúng ta sẽ quay trở lại Chicago để
sửa, thay vì băng ngang qua rặng núi
Rocky mà không có hệ thống ấy." Trong khi viên phi công báo tin,
chiếc phi cơ đánh một vòng tròn lớn
quay trở lại. "Chừng ba mươi phút nữa chúng ta sẽ
đáp xuống đất, xin quý vị hãy ngồi
nghỉ cho thoải mái."
"Thoải mái?!" Tôi
đang đọc quyển sách mới của bạn tôi Joseph "Kinh
Nghiệm Thiền Quán", viết về chánh niệm và thiền quán, khi nghe
lời thông báo ấy. Chánh niệm tức là ý thức
được rõ ràng kinh nghiệm của mình trong giờ phút hiện tại, và tôi ý
thức rõ ràng là mình đang lo sợ.
Tôi lại cầm cuốn sách lên đọc, hy vọng rằng
nó sẽ làm cho tôi quên đi một chút.
"Khi có những cảm thọ khó khăn khởi lên," Joseph viết, "đừng
nên làm ngơ, hoặc đánh lãng sự
chú ý của mình." "Được rồi, Joseph," Tôi nói
thầm, và đóng sách lại.
Tôi nghĩ
đến những gì mình cần nên làm. Tôi
chợt ý thức là mình có thể chết, và tôi hoàn toàn không hề có một sự chọn
lựa nào về việc ấy hết. Tôi quyết định là
mình sẽ thực hành từ bi quán, đem tâm từ ban
rãi đến những người thân thuộc trong
gia đình, mà đây cũng là một sự
thực tập hằng ngày của tôi. "Cầu xin cho Grace
được an vui... Cầu xin cho Nathan được an
vui... Cầu xin cho Erik được an vui... Cầu xin cho Leah... Cầu xin cho
Collin..." Tất cả là mười ba tên. Làm xong suôi, chiếc phi cơ của
chúng tôi vẫn còn bay lướt nhẹ nhàng trong không trung. Thế là tôi lập lại
một lần nữa. Tôi cảm thấy mình trầm tĩnh hơn trước.
Chiếc phi cơ bắt
đầu hạ thấp xuống, và mặc dù mọi việc
có vẻ bình thường, chúng tôi được hướng dẫn
cởi mắt kiếng và giày, và bỏ hết những
đồ nhọn như là viết ra khỏi túi. Tôi bắt
đầu nghĩ đến những người quen khác, nằm ngoài
cái danh sách mười ba người thân trong gia đình
của tôi, tôi cũng muốn cầu xin cho họ được an
lạc và hạnh phúc. Thế là tôi bắt đầu
lập thêm một danh sách mới, "Cầu xin cho Miriam
được an vui... Cầu xin cho Aaron...
Eugenia... Henry..." Đầu óc tôi đầy tên tuổi của những người mà tôi
biết câu truyện đời của họ, và tôi bắt
đầu niệm mỗi lúc một nhanh hơn, muốn chắc
rằng sẽ nhắc được hết tên của mọi người.
Bên ngoài cửa sổ, tôi có thể
nhìn thấy mặt đất mỗi lúc đang một dâng lên
gần hơn. Những cô tiếp viên hàng không hướng dẫn cho chúng tôi cái tư thế
tự ôm choàng lấy mình, và chúng tôi ngả người tới phía trước hai tay
choàng ôm chặt hai đầu gối. Tôi tự nghĩ,
"Trong vòng một phút nữa, tôi hoặc sẽ chết hoặc không chết. Tôi có
nên lập lại cái danh sách mười ba người thân thuộc của mình một lần nữa
không? Tôi có bỏ sót một ai mà tôi thương mến không? Cầu xin cho tất cả
mọi loài được an vui! Cầu xin cho tất cả mọi
loài được hạnh phúc! Cầu xin cho tất
cả mọi loài được an vui!"
Chúng tôi chạm bánh xuống
đất, hệ thống thắng vẫn hoạt động tốt đẹp,
chiếc phi cơ từ từ dừng lại. Dọc theo phi đạo đậu một hàng dài
những chiếc xe cứu cấp, đèn
đỏ nhấp nhóa sáng rực, và may mắn là
chúng tôi không phải cần đến họ. Tôi học được
hai điều: Yêu thương tất cả mọi người dễ hơn là chỉ yêu thương một
nhóm người đặc biệt nào
đó. Nó không đòi hỏi ta phải nhớ ai là
có tên trong danh sách, ai không có tên, ai là trên bảng danh sách chánh
và ai trên bảng phụ. Và ta cũng không cần phải lo sợ là mình sẽ bỏ sót một
người nào.
Tôi cũng học
được rằng, lòng thương yêu chân thật
hướng về kẻ khác sẽ xóa bỏ hết những nỗi sợ hãi trong ta. Tôi
đã không hề
đánh lãng hướng sự chú ý của mình; tôi
biết rất rõ ràng cái gì đang xảy ra, và
tôi cũng biết là tôi có một phương thức hữu hiệu
để đối phó với hoàn cảnh ấy. Một thời
gian sau kinh nghiệm đó, tôi nghĩ, "Tôi muốn
dạy phương pháp này cho người khác để
họ có thể sử dụng trong giờ phút trước khi lâm chung." Về sau này
tôi hiểu là, "Tôi muốn dạy phương pháp này để
họ thực tập cho từng mỗi giây phút của cuộc sống." Tất cả những giờ phút
của ta đều là những giây phút trước cái chết của mình, và sự cầu
mong an vui là một phương pháp sống vô úy nhất.
Đôi khi tôi nghĩ chỉ có mỗi một việc đáng để
nói mà thôi, đó là "Tôi thương
yêu bạn."
Tâm Bi
Tâm bi là một phản ứng tự nhiên
của con tim khi nó không bị che mờ bởi cái vọng tưởng chúng ta là những cá
thể độc lập, cách biệt nhau. Trong kinh điển,
Bi có nghĩa là "sự rung động của con
tim" khi ta ý thức được nỗi khổ của kẻ khác. Tôi nghĩ chúng ta cảm thấy nó
như là một sự rung động của chính con
tim mình theo cùng với nhịp điệu của
kẻ khác. Nó đòi hỏi một trạng thái tĩnh lặng trong tâm. Một sự rung
động rất tinh tế.
Có một lần tôi
đi trên chuyến bay sớm tại thành phố
Laramie, Wyoming, sau khi vừa hướng dẫn xong một khóa tu ba ngày.
Đó là một khóa tu thinh lặng cho
khoảng ba mươi thiền sinh. Trong suốt khóa tu, tôi
đã cố gắng
để tâm chú ý đến từng kinh nghiệm của mỗi
thiền sinh, và bây giờ tôi cảm thấy rất thoải mái và hài lòng vì
nghĩ rằng khóa tu đã thành công.
Có một cặp vợ chồng lớn tuổi
đến ngồi cạnh ghế của tôi. Khi phi cơ vừa cất
cánh, các cô tiếp viên cũng bắt đầu
dọn buổi ăn sáng.
"Chúng tôi có xin trước
đồ ăn chay," ông lão nói với cô tiếp
viên hàng không.
"Để
cháu coi lại," cô trả lời, một lúc sau cô trở lại với lời xin lỗi, "Xin
lỗi bác, họ đã quên không để thực phẩm
của bác trên chuyến bay này. Thôi, bác
để cháu dọn đồ ăn thường ra, rồi bác cứ coi xem có món nào
ăn được thì bác cứ việc dùng?" Cô mời
mọc.
"Thôi, chắc không
được đâu," ông lão
đáp. "Chúng tôi không làm vậy
được!"
Tự nhiên tôi bật khóc và rất
lấy làm ngạc nhiên. Chuyện ấy chẳng có gì là quan trọng và chuyến bay cũng
chỉ ngắn thôi. Có lẽ tôi cảm thấy xúc động vì
hai vợ chồng bác gợi cho tôi nhớ đến hình
ảnh ông bà Nội của tôi, và tôi cảm thông được
hoàn cảnh khó xử của họ. Đối với người
ngoài thì trường hợp của hai ông bà rất là
đặc biệt và kỳ cục. Nhưng
đối với họ thì
đó là một sự thất vọng không thể trả
giá được. Vì tâm tôi tĩnh lặng, tôi có
thể cảm nhận được nỗi đau của họ.
Bất cứ một nỗi
đau nào cũng là quan trọng
đối với người cảm thọ nó. Khi tôi còn
nhỏ, người ta thường hay nói với những đứa
trẻ nào không ăn hết đĩa của mình,
"Người ta chết đói ở các xứ nghèo
đó, nhớ vậy đi." Tôi rất cám ơn là
đã không có ai nói với tôi những lời
ấy. Tôi, bẩm sinh là một đứa trẻ khó ăn uống,
nếu lại đi cộng thêm cái mặc cảm tội lỗi, hỗ thẹn vào một tình
trạng đã khó khăn,
thì chỉ làm tăng thêm nỗi khổ
của tôi mà thôi. Những người nói những lời ấy, có lẽ họ quên rằng,
đói là
đau đớn, nhưng ăn khi ta không đói cũng là
đau đớn nữa. Mà
đau đớn là
đau đớn. Phân chia, xếp hạng nó là một
chuyện dư thừa.
Chúng ta
đánh giá mỗi nỗi đau bằng cách đưa nó qua cái
hệ thống phán xét của mình, mà thật ra hệ thống
đó lại được làm bằng những ý kiến của
chính ta. "Đây là một nỗi
đau lớn," hoặc "Đây là một nỗi
đau nhỏ không đáng kể." Mỗi khi tôi cảm thấy
xa cách đối với nỗi đau của một người nào, thường thì bao giờ cũng
bởi vì tôi đã có một thành kiến về nó.
Cũng có thể tôi nghĩ hoàn cảnh của người ấy khốn cùng quá, không thể chịu
đựng nổi, và tôi tự bảo vệ mình bằng
cách che tai bịt mắt mình lại. Lúc còn nhỏ chúng ta cũng làm như vậy khi
xem phim, ta thường che mắt lại mỗi khi đến
những cảnh rùng rợn và nói "Chừng nào hết
đoạn ghê gớm này nói cho tôi biết
nha!" Bây giờ đôi khi tôi vẫn còn có
hành động ấy, một phản xạ tự nhiên,
khi xem những đoạn phim nào quá hãi
hùng.
Cũng có lúc tôi cảm thấy xa
cách với nỗi đau của người khác vì tôi
không chịu được lối phán xét của họ. "Tại sao
anh lại đi lo âu về ba chuyện nhỏ nhặt này?" Tôi tự nghĩ.
"Cái mà đáng lo là cái kia kìa, nó mới
quan trọng hơn!" Đi quyết định dùm
người khác việc nào mới "đáng" để cho họ lo,
điều ấy thật tức cười. Mỗi người có một sự dính mắc khác nhau và
không ai giống ai hết. Có lúc tôi cũng hổ thẹn chịu nhận rằng, có những
nỗi khổ đối với tôi rất lớn vì mình bị
dính mắc, mà tôi biết rằng so với người khác nó chẳng ra gì cả. Không cần
gì đến sự phê bình của người ngoài,
tánh tôi cũng đã hay khắt khe với
chính mình. "Mình thật là một người ích kỷ hết sức!" Tôi thường tự trách.
"Thế giới này đầy dẫy những khổ đau, mà
mình lại cứ lo âu vì ba chuyện lặt vặt này hay sao?"
Chúng ta khó có thể nào nhận
diện trực tiếp được nỗi đau, vì chúng
nhiều quá. Có lẽ đức Phật đã nói
đúng, cuộc đời này có quá nhiều khổ
đau, nên
đôi khi chúng ta thường hay cố gắng làm cho chúng nhỏ
đi. "Sự việc có thể còn tệ hơn như vầy
nữa," bằng một thiện ý chúng ta thường nói thế với một người bạn
đang gặp chuyện buồn, hy vọng lời khuyên
ấy sẽ làm họ bớt khổ. "Của đi thay người."
"Dầu sao thì công việc anh cũng còn vững." Hoặc là một sự so sánh
cao xa như là, "Trong cái vũ trụ mênh mông này thì chuyện ấy có nghĩa lý
gì?" Tất cả những lời đó đều là một
hình thái khác của câu "Người ta chết đói ở
các xứ nghèo đó, nhớ vậy đi", nhưng dành
cho người lớn. Theo tôi nghĩ, những lời ấy chỉ cộng thêm một sự khinh miệt
vào nỗi đau của họ mà thôi, chứ thật
ra chẳng giúp ích gì thêm.
Lẽ dĩ nhiên, sự thật là so với
cái mênh mông vô cùng của vũ trụ này thì nỗi
đau của ta rất là nhỏ nhoi và không
đáng kể. Nhìn qua lăng kính của một
bầu vũ trụ mênh mông thì tất cả mọi việc
đều không
đáng kể như nhau. Nhưng việc ấy
không đúng với cái cảm xúc thực tế của ta. Có
những người và những vấn đề đối với ta
rất là quan trọng. Và ta đâu có sống
trong một bầu vũ trụ mênh mông. Chúng ta
đang sống ở nơi này
đây!
Nhớ
đến quan điểm về một bầu vũ trụ bao la,
nhớ đến hình ảnh trái
đất mọc khi nhìn từ mặt trăng,
nhớ đến tính cách tương duyên
của mọi hiện tượng - tất cả những điều ấy sẽ
giúp cho ta tiếp xúc trực tiếp hơn với nỗi đau của mình. Chúng cần
thiết để giúp ta có thể thấy rõ ràng
và chịu đựng được nỗi đau của mình.
Và, cũng nhờ nhớ được cái tính chất cá
biệt của ta, nhớ được những
thương tâm trong câu truyện đời của ta, mà dường như rất thực và
quan trọng, việc ấy sẽ giữ cho hai chân ta
đứng trong thế giới này với một lòng thương yêu sâu xa và
hành động từ ái, chứ không phải lơ lửng trên
mâỵ.
Rộng Lượng là Một Hành
Động Tự Nhiên
Tôi cảm thấy khiếp phục mỗi khi
được chứng kiến những hành
động nhân ái không tự kỷ. Chúng là
những ví dụ cụ thể nhất cho ý niệm về Vô Ngã của
đức Phật. Lẽ dĩ nhiên, thân ta, nói về
mặt vật lý, nó tách biệt với lại những thân thể khác, vào ra thế giới này
ở những thời điểm khác nhau và không
gian khác nhau. Nhưng cái bản chất tâm thức có mặt trong những thân ấy thì
chỉ là một mà thôi. Ý thức được việc ấy, các
nỗi sợ hãi của ta sẽ tan biến và thái
độ chia xẻ sẽ là một hành động hoàn
toàn tự nhiên.
Một người
đàn bà trẻ hơn tôi nhiều
đang thay đổi y phục cạnh tôi trong phòng
thay đồ của một nhà tập thể dục. Chúng
tôi đang bàn về những ích lợi của việc
tập thể dục đều đặn, giữ cho thân thể được
thon và khoẻ. Cô ta nói thêm, "Em mới vừa bị mổ vài tháng trước, và
bác sĩ của em rất ngạc nhiên về sự phục hồi sức khoẻ nhanh chóng của em."
"Cô bị mổ về cái gì?" Tôi hỏi.
"Em cho em gái của em một cái
thận. Nó bị bệnh tiểu đường, và cần
phải thay thận."
Cô nói bằng một giọng hết sức
bình thường như là cô nói, "Em có một chiếc xe
đạp không dùng
đến..." Đối với cô ta chuyện ấy hoàn
toàn như không có gì là đặc biệt. Một chuyện
cần làm phải làm, thế thôi.
Tôi
đã có nhiều năm
đặc biệt suy nghĩ về một câu chuyện của đức Phật. Trong một tiền kiếp của
ngài, đức Phật đi trên một con
đường núi, chợt ngài nghe có tiếng
khóc phía bên dưới vực thẳm vọng lên. Nhìn xuống dưới vực sâu, ngài thấy
có một bầy cọp con đang bị đói khát, và
một cọp mẹ quá yếu đuối không còn
đủ sức để nuôi chúng. Đức Phật tương lai
không chút do dự, tự lao mình xuống vực thẳm
để hiến thân nuôi những bầy cọp con đói khát.
Câu truyện ấy
được kể để làm thí dụ về sự bố thí.
Nhưng nó làm cho tôi hơi lo, vì tôi không thể nào tưởng tượng
được một thái độ vô ngã tự nhiên
đến vậy.
Nhưng bây giờ thì tôi
đã có thể. Tôi có năm
đứa cháu. Đối với chúng, tôi không hề có một chút do dự nào về hành
động vực thẳm. Và tôi cũng sẽ không
hảnh diện về việc ấy, vì thật ra đó chẳng có
gì là to tát cả. Tôi không thể không làm
được. Cái to tát là bước kế tiếp, là
làm sao luôn nhớ rằng bất cứ một đứa cháu nào,
của bất cứ ai, cũng đều là của ta. Và
đứa cháu nào của ta cũng là cháu của
tất cả mọi người.
Nhưng bạn không cần phải có con
hoặc cháu mới có thể hiểu được việc ấy. Chân
lý về không có một cái tôi riêng biệt này tự nó sẽ hiển lộ ra khi
tâm ta được định. Tôi thấy rõ
điều ấy những khi có một tai họa nào
đó xảy ra. Một chiếc phi cơ chở đầy hành
khách rớt trên sông Potomac, những người qua
đường liều mình nhảy xuống dòng sông
đông đá lạnh cóng để cứu người khác - không phải vì
đó là những người họ biết, mà vì những
người ấy đang cần sự cứu giúp. Lửa cháy trên
tòa nhà chọc trời World Trade Center, người ta phụ khiêng một người bạn
ngồi trên xe lăn xuống sáu mươi bảy tầng
thang lầu, không kể gì đến hiểm nguy
của chính họ. Không một ai nghĩ, "Tôi sẽ ra tay nghĩa hiệp," hoặc "Tôi sẽ
làm chuyện nhân ái." Khi tâm ý ta tĩnh lặng, ta nhận thức
được chúng ta đều là một phần tử của
nhau. Thật ra tôi nghĩ, chữ rộng lượng cũng chưa
được chính xác lắm vì ta vẫn còn nghĩ
đến có người ban cho và người thọ
nhận. Khi sự chia xẻ là một việc làm tự nhiên và tự
động, chúng ta gọi đó là Bi.
Tôi thường nghĩ rằng nếu tôi
xem mọi người khác như là thân thuộc của tôi, nó sẽ trở thành một gánh
nặng. Nhưng sự thật là ngược lại như thế! Khi một người nào tôi biết làm
một việc gì đó đáng ca ngợi, tôi không cảm
thấy tôi cần phải làm việc ấy. Vì các vị ấy
đang thay mặt cho tôi, hoặc cũng chính là
tôi, đang gánh vác công việc ấy. Mẹ Theresa
giúp những người khốn khổ dùm tôi, Beethoven sáng tác nhạc dùm tôi,
thánh Gandhi tranh đấu dùm tôi... và
bạn cũng chính là tôi nữa.
Tâm Hỷ: Niềm Vui Vị Tha
Jerry Rice, vị cầu thủ bắt banh
nổi tiếng của đội banh bầu dục San Franciso,
trong một cuộc phỏng vấn nói về những thành tích của anh trong quá
khứ. Người phóng viên hỏi, "Anh còn muốn đạt
thêm một thành tích mới nào nữa không?" Jerry mỉm cười
đáp, "Tôi muốn đạt được hết tất cả!" Người
phóng viên hỏi tiếp, "Trong số tất cả những kinh nghiệm vui nhất
trong sự nghiệp chơi banh của anh, thì anh có thể kể lại một kinh nghiệm
nào mà đã
đem lại cho anh một niềm vui to tát nhất không?"
"Tôi còn nhớ trong trận
đá chung kết Super Bowl XXIII," Jerry đáp,
"Đó là lần đầu tiên tôi
được chơi trong một trận chung kết, vào
hai phút cuối trước khi cuộc chơi chấm dứt, Joe Montana chọi banh cho cầu
thủ John Taylor, anh ta đang đứng trong vùng
đất cấm của đối phương, khi Taylor bắt được
quả banh ấy, tôi cảm thấy một nỗi vui thật lớn như chính mình
đã bắt
được banh vậy."
Đó là một niềm vui của
tâm hỷ, của lòng vị tha, vui với niềm vui của kẻ khác - một niềm vui trong
giây phút hiện tại mà đối tượng của nó hoàn
toàn không quan trọng. Niềm vui của tất cả mọi người
đều được chia xẻ đồng đều.
Có một lần tôi
được nghe đức Đạt Lai Lạt Ma dạy về sự khôn
ngoan của việc đặt hạnh phúc người khác lên, ít nhất, là cũng ngang
hàng với của mình. Ngài giải thích, số người chung quanh ta rất nhiều,
thành thử cơ hội có hạnh phúc của ta sẽ tăng
lên vô cùng tận, nếu ta biết kinh nghiệm hạnh phúc của người khác
như là của chính ta. Trên hành tinh này, cơ hội
để cảm thấy hạnh phúc của tôi sẽ được tăng lên
gấp 5.5 tỷ lần nếu tôi biết thực hiện việc ấy.
Đó là một lợi thế rất lớn!
Vì bản chất của niềm vui vị
tha, của tâm hỷ, là hạnh phúc chứ không phải khổ
đau, ta cứ tưởng là nó sẽ dễ thực hiện
lắm. Nhưng thật ra nó lại phức tạp và rắc rối vô cùng. Tôi nghĩ, thường
thường chúng ta hầu hết ai cũng đã có
lần cảm được niềm vui của tâm hỷ. Có việc gì
may mắn xảy ra cho một người khác, ta cảm thấy vui thành thật. Nhưng rồi,
từ cái tâm chưa được hài lòng hoàn
toàn của ta, lại có một ý nghĩ khởi lên, "Ước gì phải chi mình cũng
được chút may mắn như người kia!"
Tôi nhận thấy việc ấy xảy ra
mỗi khi tôi xem những chương trình quảng cáo trên ti-vi về những người vừa
trúng một giải xổ số. Nó chiếu một người vừa ra mở cửa nhà của anh hoặc
chị ta, thì được trao cho một tấm chi phiếu
10 triệu đồng. Tôi cảm thấy vui mừng thật sự khi thấy người vừa được trúng
giải bàng hoàng sung sướng, cười rồi khóc. Rồi tôi lại nghĩ tiếp,
"Không biết nếu chuyện ấy xảy ra cho mình, mình sẽ làm gì
đây!"
"Dĩ nhiên," tôi lập tức tự nhắc
nhở mình, "Tôi sẽ tặng đi hết một phần lớn
của số tiền cho các hội từ thiện. Ít nhất là 75 phần trăm.
Hay có lẽ là 50 phần trăm. Phần còn
lại tôi sẽ cho hết mấy đứa con. Để cho chúng
nó trang trải tiền nhà mỗi tháng." Rồi tôi lại nhớ, "Chúng nó cũng
đâu có khó khăn gì về tài chánh
đâu. Hay là tôi sẽ bỏ vào một trương
mục ủy thác để dành cho mấy
đứa cháu lên
đại học." Rồi tôi lại nghĩ tiếp, "Nhưng mà
cũng còn ít nhất là mười năm nữa chúng nó mới
lên đại học, mà có ai biết
được chừng đó chúng sẽ ra sao, hay là
đại học sẽ như thế nào. Hay là mình và
anh Seymour có thể làm một chuyến du hành ba tháng trên biển vòng quanh
thế giới. Nhưng mà cũng không được, anh ấy
hay bị say sóng!" Chỉ trong chừng vài giây
đồng hồ, một tâm đang tràn ngập niềm
vui với cái vui của kẻ khác, đã trở
thành một tâm đầy những dự định, toan tính
ích kỷ cho lợi lạc của chính mình, mà chẳng biết phát xuất từ
đâu! Trước khi người trúng giải xổ số xuất
hiện trên ti-vi với tấm ngân phiếu, tôi cảm thấy rất hài lòng với
những gì mình đang có! Nhưng dường như là
tâm ta, nếu không được soi sáng bởi chánh
niệm và tĩnh lặng, nó sẽ dễ bị hấp dẫn bởi cái ý nghĩ muốn
được thỏa mãn thêm một chút nữa!
Tôi nghĩ, chúng ta chấp nhận
mỗi khi người khác nghe những tin vui, sự may mắn của ta, khi họ chúc mừng
ta, là họ ước mong rồi một ngày họ cũng sẽ
được như thế. Và có lẽ khi ta cầu chúc lại cho họ, là chúng ta công
nhận niềm vui của mình, và giúp cho người kia cất bỏ
đi cái mặc cảm tội lỗi về một nỗi ghen tức mà
họ có thể có trong tâm. Tôi học được điều này
khi tôi còn nhỏ, lắng nghe những lời người ta chúc mừng nhau trong các lễ
đám cưới. Mẹ của một cô gái chưa chồng, ôm mẹ
của cô dâu và nói, "Chúc cho chị sẽ giữ
được hạnh phúc của ngày hôm nay mãi
mãi." Mẹ của cô dâu đáp lại, "Chúc cho con
gái của chị cũng sẽ có một ngày như thế này." Người mẹ kia lại nói,
"Hy vọng trời sẽ nghe lời cầu chúc của chị!"
Tôi cũng
đã từng cảm thấy hổ thẹn, có khi là
tội lỗi, vì mỗi khi nghe có ai được một sự
may mắn nào, dính dáng đến việc tôi
đang mơ ước, là tôi cảm thấy ghen tức ngay. Tôi thường hay tự
trách, "Sao lại vậy Sylvia? Mình đã có
quá đầy đủ rồi. Sao mình lại còn có
thể suy nghĩ như vậy được?"
Nhưng vấn
đề không phải là ta có
đầy đủ hay là không
đầy đủ. Cuộc sống này tràn ngập những
điều kỳ diệu mà có thể
đem lại cho chúng ta hạnh phúc, ta muốn nhận
lãnh bao nhiêu mà chẳng được! Vấn đề là
ta có đủ sáng suốt để ý thức được việc ấy
không! Dưới ánh mắt của chánh niệm tất cả những người nhận thật ra chỉ là
một mà thôi.
Trong trận banh chung kết Super
Bowl XXIII, khi Joe Montana chọi quả banh
định mệnh ấy, John Taylor đã có mặt ở
đúng nơi, đúng lúc, và tâm của Jerry Rice cũng vậy nữa.
Tâm Xả: Trong Tĩnh Lặng Có
Hết Tất Cả
Người ta thường thắc mắc không
biết là mình có thể vừa có an lạc mà lại vừa có thể có nhiệt tình không!
Tôi tin là nó có thể được. Tôi muốn thực hiện
việc đó trong sự tu tập của tôi. Tôi nghĩ, người ta đặt câu hỏi ấy vì
họ đã lẩn lộn giữa sự vắng lặng với
lại an lạc hoặc bình thản. An lạc (peaceful) có nghĩa là "không sân
hận." Bình thản (equanimous) có nghĩa là "quân bình" Chúng không hề
có nghĩa là "lạnh lùng," hoặc "lãnh đạm."
Những bước
đầu trên con
đường tu tập theo Phật của tôi, tôi thường lo
sợ mình sẽ trở thành một người lạnh lùng, không tình cảm. Tôi nghĩ
rồi mình sẽ giống như người có một trái tim bằng phẳng, như là vừa bị
chiếc xe hủ-lô cán qua vậy, không phản ứng trong bất cứ một hoàn cảnh nào.
Tôi nghĩ tôi cũng đã có một quan niệm
sai lầm như những người khác - tin rằng thực nghiệm tâm linh có nghĩa là
đạt đến một sự "tĩnh lặng bất lay chuyển." Ý
nghĩ ấy dường như lại được xác nhận qua những mẩu chuyện mà thầy
tôi kể, về những người hành thiền tinh chuyên
đến nổi "sự ham muốn về tình dục không còn nữa, và vợ chồng sống
với nhau như anh chị em." Tôi hơi lo ngại, vì mặc dù muốn
được giác ngộ, nhưng tôi không muốn
chuyện đó xảy
đến cho tôi.
Sự tĩnh lặng và an bình là
những trạng thái tâm rất đẹp, và thật
ra chúng có chung một tính chất phẳng lặng và êm ái. Yếu tố tĩnh lặng này
là một tâm hành rất quan trọng trong tâm, nó làm quân bình những hăng
hái, những ước vọng, và vui sướng trong ta, và từ
đó cái thấy sáng tỏ và sự hiểu biết
của ta có thể hiển lộ ra. Nhưng tĩnh lặng và an bình không phải là những
mục tiêu của sự tu tập, ít ra là đối với tôi.
Tôi muốn mình vẫn còn có thể có một nhiệt tình. Khi tôi càng hiểu
rằng, mọi vật đều trống rỗng và vô
nghĩa trừ khi chúng ta cho phép chúng là quan trọng, tôi lại càng muốn
mình có được khả năng "cho phép" ấy. Tôi đang
có mặt trong một cuộc đời. Tôi vẫn muốn nhớ nó chỉ là một
cuốn phim mà thôi, nhưng tôi cũng muốn sống như là nó có thật nữa.
Tám năm
về trước, trong buổi tối đầu tiên của một khóa tu nhiều ngày nhất
trong năm, do tôi hướng dẫn ở California, con
gái tôi, Emily, bất ngờ ghé qua thăm.
"Má với ba có muốn dẫn Johan và
con đi ăn tối hôm nay không?" Nó hỏi.
"Muốn chứ, nhưng tối nay thì
không được, vì khóa tu bắt
đầu tối nay, Má cần phải có mặt để hướng
dẫn." Tôi giải thích.
"Má có chắc là Má không muốn
đi ăn tối với con không?"
"Không phải vậy, Má muốn
đi với con chớ, nhưng không được vì Má
có lớp phải dạy."
"Má không thể
đi ra một chút để ăn mừng Má sắp sửa được làm
bà ngoại lần đầu tiên sao?"
Tôi hét to vì vui sướng. Tôi
không phải là mình nữa. Tôi nhảy tưng tưng lên. Ngay khi ấy thì chuông
điện thoại reng, tôi nhắc lên.
Đó là chị bạn thân của tôi. "Em nói
chuyện không được," tôi trả lời, "em bị kích
động quá đi!"
Sau
đó, Emily cười và nói, "Con tiếc quá,
con đã không
đem theo máy quay phim." Bốn người chúng tôi
dẫn nhau đi ăn tối hôm ấy. Xong xuôi tôi trở lại khoá tu và dạy lớp
đầu tiên.
Sự tu tập
đã giúp tôi trở nên nồng nhiệt hơn,
chứ không hề làm giảm nó đi. Những khi tôi
vui sướng, mà chuyện đó rất thường,
tôi lại mê say, ngây ngất. Khi buồn, tôi khóc rất dễ dàng. Và không
có gì là lớn chuyện hết. Nó là sao thì nó là vậy, và rồi kế tiếp sẽ là một
chuyện khác.
Xong là
Xong
Một trong những vị thầy của tôi
thường dùng câu này mỗi khi ông muốn tôi trở về chú ý
đến giây phút hiện tại. "Xong là
xong," ông ta nói. Giờ đã
đến đoạn cuối của quyển sách này, tôi
thắc mắc không hiểu làm sao tôi biết được khi
nào là xong. Tôi rất thích kể chuyện, và mỗi ngày là một câu chuyện
mới.
Tôi còn nhớ một lần nói chuyện
với Jack, một người thầy và cũng là một người bạn tốt của tôi.
"Tôi lo là tôi
đã dần dần mất
đi cái nhiệt tâm của mình trên con
đường tu tập," tôi nói với Jack, "Tôi nghĩ là
tôi hiểu cái phương thức của hạnh phúc rồi. Tôi tin chắc là mình sẽ phải
thực tập nó suốt cuộc đời, nhưng tôi không còn
cảm thấy thắc mắc, cần thiết để hỏi thêm
gì nữa hết."
"Chị nói vậy cũng
đúng," Jack đáp. "Khi chị đã nhận lãnh
xong thông điệp rồi, thì chị cúp máy
điện thoại."
Tôi có hai thông
điệp muốn trao cho bạn trong quyển sách này.
Thông điệp thứ nhất là về một
đời sống tâm linh. Tôi thấy nó đơn giản lắm.
Người thường cũng thực hành việc ấy, mặc dù họ không biết là họ
đang làm việc ấy. Giữa những cuộc sống
tầm thường, với những niềm vui và nỗi muộn phiền quen thuộc, họ sống với
lòng từ ái, biết ơn, và họ hạnh phúc.
Thông
điệp thứ hai là về những vị thầy minh
triết. Họ có mặt ở khắp mọi nơi. Tôi để ý là
trong quyển sách này, nhiều vị thầy của tôi là những người trên phi cơ.
Tôi cũng có nghĩ đến sự kiện ấy như là
tượng trưng cho một cái gì hơi huyền bí, như là "phi cơ
đưa ta đến những nơi chốn mới lạ" hoặc "phi
cơ đưa ta lên cao," tôi biết những ý tưởng ấy chỉ là sự thêu dệt
thêm của tâm ý ta mà thôi. Tôi gặp nhiều vị thầy trên phi cơ là vì tôi
phải đi phi cơ rất nhiều. Mọi người
ai cũng đều là một vị thầy. "Hãy
luôn luôn chú ý đến tất cả mọi người,"
tôi nghĩ, "vì mọi người ai cũng đều có
thể là một vị Phật."
Lời khuyên của Jack cũng có thể
nói ngược lại, "Khi bạn đã trao thông
điệp xong rồi, thì bạn cúp máy
điện thoại." Tôi nghĩ tôi đã làm xong
việc ấy.
---o0o---
Nguồn: www.budsas.org
Trình bày: Nhị Tường
Cập nhật: 01-06-2004