MUÔN DẶM TÌM CHA
Bút ký của Tâm Huệ
Một người con khi xa gia đình,
xa quê hương, thổn thức mong chờ một chuyến về thăm nhà như thế nào thì
người con Phật cũng khao khát được về thăm xứ Phật một cách thiết tha như
thế ấy! Duyên lành đã đến với tôi khi Thượng tọa Thích Quảng Ba hướng dẫn
một đoàn hành hương tham dự Lễ Khánh Thành Trung Tâm Viên Giác tại Bồ Ðề
Ðạo Tràng, Aán Ðộ.
Sau khi dứt khoát từ chối một
chuyến du ngoạn khác rất hấp dẫn, tôi ghi tên ngay, để rồi háo hức đợi chờ
ngày được thỏa lòng nguyện ước.
Ngày ấy đã đến, trải qua một
cuộc hành trình dài thăm thẳm qua hằng ngàn cây số đường hẹp, đầy ổ “khủng
long”, với biết bao nhiêu rác rến, bò heo lổm ngổm ngoài đường, chúng tôi
đã vượt hàng trăm thị trấn, thôn làng, và hạnh phúc thay, cũng đã chiêm
bái được bao nhiêu là Phật tích.
Có những buổi sáng sớm xe bus
lên đường trong sương lạnh, chúng tôi se lòng thương xót thấy những con
người nghèo khổ đang ngồi quanh ngọn lửa đốt bằng rác và phân bò để sưởi
ấm. Những túp lều lụp xụp đơn sơ làm chúng tôi quặn thắt trái tim. Trẻ ăn
xin tật nguyền lê lết dưới cát nóng và những người ăn mày còm cõi bám theo
van xin làm chúng tôi vừa nghẹn ngào, vừa sợ hãi, và không còn hứng thú đi
mua sắm. Ði ngang vài trường học hiếm hoi mà đàn trẻ con rách rưới phải
ngồi xuống đất để học, chúng tôi ngậm ngùi thương cảm cho những người con
của đất Phật.
Trên cánh đồng lúa và củ cải
với những hoa vàng tươi, đâu đâu cũng có các bánh phân bò xếp hàng thẳng
lối. Nhìn các phụ nữ, các em gái nhỏ dùng tay nhồi và vo thành bánh các
đống phân bò mà đứt ruột! Nhìn các đường mương bùn lầy nước đọng bốc mùi
hôi hám bên khu chợ, bên xóm dân cư, và các đống rác hiện diện một cách tự
nhiên ở khắp nơi mà lòng bồi hồi thương xót. Dân cư đông đúc, cuộc sống
lầm than chắc phải là nỗi đau của người hữu trách, nhưng họ đã bất lực
không cứu giúp được để cải tiến cuộc sống cho đám dân đen. Như chuyện một
vị Hoàng tộc đã đến vùng bùn lầy nước đọng, hàng ngày đi từ đường này sang
đường khác, dùng cây gắp rác bỏ vào bao, làm gương để dạy cho dân chúng
biết giữ gìn vệ sinh chung. Cứ chiều tối đến, bà trở về khách sạn sang
trọng, để rồi sáng hôm sau lại đi lang thang các nẻo đường làm gương cho
mọi người. Nhưng đã có mấy ai thức tỉnh làm theo bà? Rồi sau 6 tháng, bà
trở về cung điện, mọi việc lại như cũ, như bây giờ và vẫn như thế cho đến
bao giờ?
Cảnh vật miền Trung Bắc Ấn là
như thế đó. Dân tình rất bình dị, nhân hậu, giúp đỡ du khách hết mình,
nhưng lối hành xử lại rất tùy hứng. Còn thức ăn thì đặc biệt, ngon có, lạ
có. Ðặc biệt hơn, khó tìm bóng dáng người phụ nữ trên đường phố, mà ta chỉ
có thấy họ thấp thoáng trong nhà, cạnh vườn...
Ðã quá xa rồi một thời vàng
son của hơn 2,500 về trước, nhưng dư hưởng Ðức Phật vẫn còn đây! Quỳ bên
Kim thân Ðức Phật Như Lai tại tháp Niết bàn, chị em chúng tôi rưng rưng
khóc vì thương cảm, tưởng chừng như trong mơ, trông thấy hoa Sa La, hoa
trời Mạn Ðà La, hoa Chiên Ðàn, các hương trầm đang rải rắc trên Kim thân
Người để cúng dường.
Tìm đến Lâm Tỳ Ni với cung
điện cũ, chúng tôi đi qua khu vườn Ni Câu Ðà um tùm, cảm động hồi tưởng
đến cảnh Tịnh Phạn vương ra ngoài thành đón người con vĩ nhân của dòng họ
Thích Ca. Xúc động bước vào cung điện thành Ca Tỳ La Vệ với các cây xoài
cổ thụ đầy bóng mát, với 4 cửa thành lịch sử và “nền cũ lâu đài bóng tịch
dương”...
Phái đoàn chúng tôi đến công
viên Lâm Tỳ Ni đảnh lễ kinh hành và đọc tụng những câu kinh cảm niệm công
đức sâu dày của Ðức Phật, ngậm ngùi tưởng nhớ đến hình ảnh Hoàng hậu Ma
Gia vịn nhánh cây Vô Ưu và hạ sinh Thái Tử. Bên trụ đá vua A Dục, niềm xúc
động trào dâng thành những giọt nước mắt cảm hòa, chúng tôi còn chiêm bái
những bức phù điêu chạm hình đức Phật được hạ sinh trong đền thờ Hoàng hậu
Ma Gia, và hồ nước nên thơ màu xanh rêu dưới tàng cây Bồ Ðề tỏa rộng. Thầy
chúng tôi gặp lại vị Hòa thượng Nepal quen cũ, rất hiền hòa, nhiệt tình và
còn khỏe mạnh, dù tuổi hạc đã cao.
Phái đoàn chúng tôi đã đến
đại tháp Bồ Ðề, một nơi linh thiêng mà tất cả các Phật tử đều phải đến.
Mỗi sáng sớm, chúng tôi và các Phật tử bốn phương nối gót theo Thượng Tọa
Quảng Ba đi những bước kinh hành niệm câu “Nam Mô A Di Ðà Phật”, ngồi kiết
già, lễ hồng danh Phật, tụng niệm vòng quanh tháp, nơi có những hoa sen
nâng bước cho người con Phật tín thành.
Tiếng tụng kinh, niệm Phật
vang lên trầm hùng, làm ấm một cõi quốc độ còn mơ màng trong sương sớm.
Chúng tôi vui mừng khi tìm được chiếc lá từ gốc Bồ Ðề lịch sử, rơi thấp
thoáng theo cơn gió nhẹ trên những mái đầu đang thành tâm cầu nguyện cho
hòa bình thế giới, cho sự hưng thịnh của Phật giáo Việt nam, cho tất cả
chúng sanh trong 3 cõi 6 đường, trong đó có gia đình và cá nhân chúng tôi,
được an lành và biết giác ngộ, biết tu theo Phật pháp.
Sau buổi hành lễ sáng sớm tại
Bồ Ðề Ðạo Tràng, hai cô cháu chúng tôi, Tâm Huệ và Thiện Lạc, đi lần vào
thôn xóm và được một người Aán dẫn đến bờ sông Ni Liên Thiền, nước cạn khô
và mênh mông biển cát, giảng giải và nhắc lại giây phút cô bé chăn dê
Sujata dâng bát cháo sữa lên đức Bồ tát, rồi dẫn chúng tôi vào ngồi đền
Hồi giáo to rộng với thật nhiều tượng Phật, tượng Thần cổ xưa.
Có một hôm phái đoàn chúng
tôi cuốc
bộ 4km đến khổ hạnh lâm, trèo
núi lên ngôi chùa Tây Tạng, vào một cái hang hẹp, nơi trước kia Thái Tử
Tất Ðạt Ða đã tu khổ hạnh suốt 6 năm trường, tới đảnh lễ tượng Phật gầy ốm
vì ngồi ép xác quá lâu. Khi trở về thì bóng tối đã phủ đầy. Người dân Aán
vẫn làm việc, đập đá, chở đá, dùng cơm chiều trong bóng tối, và chúng tôi
lần bước 4km nữa trong bóng mờ, gợi nhớ làng quê Việt Nam lúc hoàng hôn...
Chúng tôi tìm lại hình bóng
đức Phật nơi Tháp chuyển Pháp luân (Ba La Nại - Saranath) quán tưởng hình
ảnh Ðức Phật thuyết giảngcho năm người bạn đạo về tính chất vô thường của
vạn pháp và con đường Trung đạo trong bài Chuyển Pháp Luân, đưa vào Tăng
đoàn đầu tiên của Tam Bảo. Nhóm chúng tôi cũng được dịp vuốt ve và cho đàn
nai đủ loại đang ngơ ngác đợi chờ người cho thức ăn xuyên qua hàng rào kẽm
gai của khu Lộc Uyển xinh đẹp một thời vang bóng!
Chúng tôi được ngắm nhìn
nhiều tượng Phật cổ xưa, tượng Sư tử bốn đầu trong Bảo tàng viên khảo cổ
tại Saranath, đi thăm Viện Phật Học Quốc Tế, các Chùa Tàu, Tây Tạng, Miến
điện, Nhật Bản... và tại Ba La Nại, một nhóm chúng tôi được đi viếng sông
Hằng linh thiêng huyền bí vào buổi sáng sớm để xem cảnh mặt trời mọc lúc
bình minh.
Bằng xe cáp, chúng tôi đã
vượt qua các mỏm đá của núi Kỳ Xà Quật, gần thành Vương Xá cũ, để lên tháp
Hòa Bình do Phật giáo Nhật đến xây. Sau khi vào lễ Phật tại chánh điện,
chúng tôi bước xuống chân núi bằng các bậc tam cấp để chiêm bái Linh Thứu
Sơn.
Mãi đến bây giờ, khi viết lời
tâm ký này, chúng tôi cũng không ngờ được rằng mình đã có diễm phúc đến
được nơi đây, đạo tràng pháp hội linh thiêng, nơi đức Phật đã giảng bộ
kinh Diệu Pháp Liên Hoa, kinh Lăng Nghiêm Ðại Ðịnh, kinh Bát Nhã La Mật
... chứa đựng tinh hoa của giáo lý Phật Ðà.
Nơi đây cũng đã có dấu chân
của Ngài Huyền Trang đến ngủ qua đêm. Cũng nơi đây, Tâm đã truyền Tâm khi
đức Như Lai đưa cành hoa lên mà cả hội chúng chỉ có Ngài Ca Diếp thông đạt
được.
Hang của ngài A Nan, ngài Ðại
Ca Diếp ở đây! Hang của ngài Xá Lợi Phất, Mục Kiền Liên ở đây! Vườn xoài
của bác sỹ Kỳ Ðà một danh sư thời Ðức Phật ở đây! Nơi đây, chân Ðức Thế
Tôn đã bị đổ máu vì người em họ ngỗ nghịch Ðề Bà Ðạt Ða. Nơi đây, đoàn tùy
tùng dừng lại để Vua Tần Bà Sa La xuống ngựa đi bộ để lên hầu thăm đức
Phật. Thật là một nơi chốn lịch sử bi hùng.
Chúng tôi cũng đã đến Trúc
Lâm Tinh Xá với những bụi trúc xanh, hồ nước trong mà vua Tần Bà Sa La
dâng cúng cho Ðức Phật và Thánh Chúng. Nơi đây, Ðức Thế Tôn thường đến
giảng pháp và độ sanh. Ôi! biết bao ân tình và cảm niệm!
Viện Ðại Học Na Lan Ðà cũng
gây cho tôi một ấn tượng mạnh mẽ, vì Na Lan Ðà là một Viện Ðại Học có tầm
cỡ quốc tế, cả lẫn chất và lượng, cũng là Viện Ðại Học Phật Giáo đầu tiên
trên thế giới. Nơi đây, các vị Luận sư nổi tiếng xưa kia như ngài Long Thọ,
Trần Na ... từng giảng dạy, là nơi nhiều vị tổ thiền Ấn Ðộ lưu trú, là nơi
các nhân vật kiệt xuất có khi là giảng viên, có khi là tăng sinh như
Huyền Trang, Thánh Thiên, Mã Minh, Vô Trước, Thế Thân, Hộ Pháp, Giới Hiền
từng đến tu học và giảng dạy... Tăng sinh của Viện không những học tập
kinh điển mà còn phải thực hành những nghi lễ và các pháp tu thiền định.
Nhưng nay, sự hoang tàn của một công trình vĩ đại đã để lại trong lòøng
chúng tôi mối cảm hoài sâu đậm.
Và sau cùng, chúng tôi không
thể nào quên được tháp Trà tỳ ở Kusinara, nơi hỏa thiêu nhục thân của đức
Phật, nay đã bị tàn phá, hiện được bao bọc bởi một công viên đẹp đẽ. Sau
khi kinh hành và lễ lạy quanh đại tháp chính, chúng tôi ngồi quanh Thầy
chúng tôi, mắt rưng lệ ngồi nghe lời giảng dạy của Thầy, bồi hồi xúc động
và thầm mong ước được ở lại đây mãi mãi, được tu tập hành trì dước bóng từ
bi và dư hưởng của bậc Ðại Giác...
Và như lời pháp đức Phật đã
ban dạy, tính chất của vạn pháp là vô thường vô ngã, vạn pháp đều xoay
theo vòng tròn “Thành, Trụ, Hoại, Không”, chuyến hành hương xứ Phật của
chúng tôi sắp đến ngày kết thúc! Lòng quyến luyến càng thấm đậm hơn sau 5
ngày dự lễ khánh thành tại Trung Tâm Viên Giác, đẹp đẻ, hùng tráng, trọng
thể với sự hiện diện của chư tôn Hòa Thượng, Thượng Tọa, Ðại Ðức Tăng Ni,
cùng các Tăng, Ni du học sinh và hàng trăm Phật tử khắp thế giới đổ về.
Ðại lễ khánh thành, Ðại giới
đàn Minh Hải và Ðại lễ chẩn tế cô hồn cùng buổi phát chẩn cho người nghèo
làm cho chuyến hành hương thập phần ý nghĩa.
Phái đoàn chúng tôi cũng đã
đến thăm 2 ngôi chùa Việt Nam tại Ấn: VIỆT NAM PHẬT QUỐC TỰ rộng rãi tráng
lệ của Thầy Huyền Diệu và ngôi CHÙA SONG LAÂM LINH SƠN của Hòa Thượng
Huyền Vi do Sư cô Trí Thuận, một sư cô đầy năng lực, tháo vát, hiếu khách
và rất dễ thương, trụ trì. Ngoài ra cũng ghé đến thăm CHÙA LINH SƠN đồ sộ,
đẹp đẽ của Thầy Linh Quang gần công viên Lâm Tỳ Ni, thuộc lãnh thổ Nepal.
Các chùa Việt Nam đều rộng đẹp, tiện nghi, là nơi trú ngụ tốt đẹp cho Phật
tử Việt nam khi hành hương đến các vùng này.
Ngoài ra, cuộc gặp gỡ tâm
tình của chúng tôi tại Delhi với gần 60 Thầy Cô Tăng, Ni sinh từ Việt Nam
du học sáng Ấn, giúp thắm đượm thêm tình cảm đạo vị. Những tâm cảm chứa
chan đã gieo trong lòng toàn thể Phật tử chúng tôi một niềm xúc động vô
biên, một sự hoan hỷ vô bờ, đã làm tăng tiến những tín thành trong tâm hồn
người con Phật.
Chúng con muôn vàn cảm tạ quý
Hòa Thượng, quý Thượng Tọa đã ban cho chúng con những đạo từ cao cả, những
giây phút quý báu. Và đặc biệt chúng con vô cùng cảm niệm công đức của
Thượng Tọa Thích Quảng Ba, một bực đạo cao đức trọng, một bậc uyên thâm và
đa tài, đa năng đã hướng dẫn, giảng dạy, khuyên bảo, chăm sóc, hòa đồng
với chúng con trong suốt quãng đường xa muôn dặm và đường dài giáo pháp.
Chúng con cũng xin cảm tạ quý
Thầy Chơn Phát, Quảng Thức, Chơn Tâm, quý Sư cô Ðồng Nguyên, Nhật Hạnh,
cùng đi và giúp đỡ chúng con trong suốt cuộc hành trình tìm về xứ Phật.
Những giờ phút văn nghệ thoải mái vui tươi, và những giờ phút căng thẳng
lo âu cho anh Tâm Cần đi lạc đoàn một đêm, là những kỷ niệm không bao giờ
quên được mỗi khi hồi tưởng lại chuyến đi kỳ diệu đầm ấm nầy.
Những kỷ niệm và tâm tình vui
buồn bên nhau sẽ còn đọng mãi mãi trong trái tim chúng con cho đến cuối
cuộc đời! Chúng con xin đem hết tâm sức để học hỏi đạo pháp và trau dồi
đức hạnh để đáp trả phần nào công ơn của Thượng Tọa, của quý Thầy, quý Cô
đã dẫn dắt chúng con trên bước đường tu học.
Chúng con ước mong rằng Thầy
sẽ còn hướng dẫn Phật tử chúng con nhiều chuyến hành hương nhiều thánh
tích Phật giáo khác trên thế giới, để chúng con được đi chiêm bái và mở
rộng kiến thức.
NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MAÂU
NI PHẬT
(Phật tử Tâm Huệ, Sydney, 25/4/2002)
--- o0o ---
| Mục lục Tác giả |
Chân thành cảm ơn TT Thích
Quảng Ba đã gởi tặng bài này.
Cập nhật ngày:
01-05-2002