Một mất mát lớn đối với cuộc
đấu tranh cho Tự Do Tôn Giáo và Dân Chủ tại Việt Nam,
Ðại Lão Hòa Thượng Thích Ðức Nhuận,
vị Cố Vấn Chỉ Ðạo Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất, một trong ba nhà
lãnh đạo tối cao của Giáo Hội, vừa viên tịch tại Sài Gòn ngày 21.01.2002.
Ngài là bậc chân tu, khiêm cung, hòa nhã, độ lượng, an bần, lạc đạo,
tâm lực từ bi vô ngã, trí lực thông đạt vô chấp, dũng lực bất khuất vô úy.
Tuy chưa bao giờ tự nhận là một Thiền Sư của dòng nào, nhưng xét về mặt
biểu hiện thực tại, thì Ngài đúng là một Tu Sỹ Chân chính của truyền
thống Thiền Việt Nam. Ðối với Ngài, việc viết về Ngài, không làm tăng,
cũng chẳng giảm giá trị đạo hạnh và sự nghiệp đóng góp cho Dân Tộc và Ðạo
Pháp của Ngài. Nhưng lại hết sức cần cho những người đang dấn thân vào
cuộc tranh đấu cho Tự Do Dân Chủ tại Việt Nam hiện nay.
Ngài không những là một Tu Sĩ,
mà còn là Thi Sĩ, Văn Sĩ, và là Chiến Sĩ của Dân Tộc, hiên ngang, bất
khuất, kiên trì chống lại chủ nghĩa Cộng Sản Phi Nhân, Phi Dân Tộc,
khi Ngài giữ những trọng trách trong Giáo Hội, cũng như ngay trong nhà tù
Cộng Sản. Nhà cầm quyền Cộng Sản Việt Nam luôn đặt Ngài lên thành đối
tượng cần triệt hạ. Hết cầm tù, cô lập, rồi quản chế, ngay khi Ngài vừa
viên tịch, nhục thân từ nhà thương đưa về Chùa, thì không được đưa vào
phòng riêng của ngài, phải đặt trước sân, vì Công An đã ra lệnh cho HT Ðức
Nghiệp, khóa phòng lại chờ Công An "xử lý". Sau thời gian Tăng Ni vừa năn
nỉ, khóc lóc, vừa
tỏ thái độ quyết liệt, Sư Ðức
Nghiệp mới nhượng bộ, cho đưa nhục thân của Ngài đặt ở phòng khách. Ôi !
tình đồng môn sao mà mỏng thế? Ôi! quyền lực Cộng Sản sao mà tệ thế? Ðến
người chết rồi vẫn không chịu buông tha.
Trong hàng lãnh đạo Phật Giáo,
Ngài là một nhà tư tưởng lấy Con Người làm cứu cánh, mà Con Người, theo
Ngài phải có nguồn cội đó là Dân Tộc, và Con Người cũng phải có cuộc sống
Ðạo Lý mới trở thành Con người Văn Minh. Do vậy căn bản tư tưởng của Ngài
được đặt trong Nguyên lý Con Người, Dân Tộc, và Ðạo Pháp. Tư
tưởng ấy hoàn toàn trái ngược với Cộng Sản Duy Vật: Phi Nhân, Phi Dân
Tộc, Phi Văn Hóa. Tư tưởng đó đã được dàn trải ra trong các Thông Ðiệp
của Ðức Tăng Thống GHPGVNTN suốt thời gian Ngài giữ chức Chánh Thư Ký Viện
Tăng Thống, mà ngài có trách nhiệm chấp bút các Thông Ðiệp. Ðây là một
trong 14 tội, mà Cộng Sản đã nêu ra trong bản án 10 năm của Ngài.
Khi Cộng Sản chiếm trọn Miền
Nam, Hòa Thượng Thích Ðôn Hậu từ Hà Nội trở về thăm Ngài, kể với Ngài về
những chính sách thâm hiểm, tiêu diệt Phật giáo và các Tôn Giáo khác của
Ðảng Cộng Sản tại Miền Bắc. Ngài đã thưa với Hòa Thượng rằng: Ngài đang
nằm trong sổ đen của họ, sự có mặt của Ngài trong hàng ngũ lãnh đạo, chỉ
đem lại nhiều khó khăn đến cho Giáo Hội, Ngài xin Hòa Thượng dùng uy tín
để cản Cộng Sản không phá vỡ hệ thống của Giáo Hội. Sau đó Hòa Thượng Ðôn
Hậu được Giáo Hội bầu vào chức Chánh Thư Ký Viện Tăng Thống. Nhờ thế mà
khi Cộng Sản xuống tay bắt nhốt hàng giáo Phẩm Lãnh Ðạo không chịu làm
công cụ cho Ðảng, trong Giáo Hội Quốc Doanh, Hờa Thượng Ðôn Hậu đã giữ
được niềm tin của Tăng Sĩ và Tín Ðồ, cũng như ấn tín, hồ sơ căn bản của
Giáo Hội tại chùa Linh Mụ, để chờ thời cơ phục hoạt Giáo Hội Phật Giáo
Việt Nam Thống Nhất.
Thời gian Quốc nạn và Pháp nạn
này, Ngài đã cùng các tăng sĩ trẻ tại Sài Gòn thành lập Ủy Ban Bảo Vệ
Phật Giáo và Cứu Nguy Dân Tộc. Về mặt Quốc Dân, ngài đã quy tụ giới
trí thức và tranh đấu để thành lập Lực lượng dân Tộc Kháng chiến Giải
Cứu Việt Nam, ngày 20. 07.1977, Lực Lượng ra tuyên ngôn với tên vị Chủ
Tịch là Lý Vạn Thắng, hiệu của Ngài. Cả hai tổ chức sinh hoạt hoàn toàn
tách biệt nhau. Sau khi Cộng Sản truy lùng khủng bố. Nhiều thành viên bị
bắt, mà không một ai khai Ngài là Lãnh Tụ của họ. Nhưng Cộng Sản biết rõ
Ngài là nhân vật quan trọng của hai lực lượng này, nên gán chung vào tội
danh "tổ chức chống cách mạng;". Ngài bị kết án 10 năm. Còn
hai Thượng Tọa Tuệ Sỷ và Trí Siêu thì bị án tử hình. Vì bị Quốc Tế phản
đối, Cộng Sản phải giảm án Ngài xuống còn 9 năm, hai án tử hình xuống còn
20 năm.
Khi vừa ra khỏi tù 1993 thì
Ngài lập tức liên lạc với Hòa Thượng Huyền Quang, đã nhận di chúc và ấn
tín từ đám tang của Ðại Lão Hòa Thượng Ðôn Hậu, Chánh Thư Ký xử lý Viện
Tăng Thống, để phục hoạt Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất. Ngài đã
quy tụ được hầu hết các Tăng Sĩ của Giáo Hội tại Sài Gòn và Miền nam để
đẩy cao phong trào đấu tranh cho Nhân Quyền và Tự Do Tôn Giáo. Khi cộng
Sản bị dư luận Quốc Tế áp lực buộc phải thả Hòa Thượng Quảng Ðộ, Tổng Thư
Ký Viện Hóa Ðạo về Sài Gòn, thì Ngài lập tức yêu cầu các Tăng Ni và Phật
tử, liên lạc ngay với Hòa Thượng Quảng Ðộ để hoạt động cho chính danh.
Ngài lại trở về tĩnh tu và viết sách.
Ðây không phải là lần đầu, mà
đã nhiều lần như vậy, Ngài đã xuất hiện đúng lúc khó khăn nhất của tình
thế, nhưng sau khi xuôi chèo mát mái, thì Ngài lại quay về với chính mình.
Cũng như thời 63, Phật giáo bị bao vây, cô lập tại Huế, thì chính Ngài là
người đã nhân danh Tổng Thư Ký Giáo Hội Tăng Già Toàn Quốc, phát động
Phong Trào Ðấu Tranh tại Sài Gòn, mở vòng vây cho các nhà lãnh đạo Huế,
vào Sài Gòn lập thành Ủy Ban Liên Phái, thực hiện thành công việc Ðấu
Tranh Bình Ðẳng Tôn Giáo. Lúc Dân Tộc và Ðạo Pháp gặp nguy, thì Ngài
quyết liệt ra tay, không một chút e dè sợ hãi, lúc yên ổn Ngài lui về an
nhiên, an bần, tu tập, không tranh chấp, không nhận công, khiêm tốn,vui
hiền, tự tại Ngài đúng là biểu hiện của Thiền sư Dòng Việt. Một Văn Hóa
Nhân của Dân Tộc. Tranh đấu là thể hiện Văn Hóa Tính, chứ không phải là
chiếm quyền thống trị xã hội. Xin vĩnh biệt người tu sĩ, người chiến sĩ
thương yêu. Ðất nuớc mất đi một nhà lãnh đạo đấu tranh kiên cường mà
không thù hận, trong lúc Toàn Dân đang bừng khởi khí thế chống Giặc Cộng
dâng đất cho kẻ thù truyền kiếp của Dân tộc là Trung Cộng. Vô cùng thương
nhớ!