Trang tiếng Việt

 Trang Nhà Quảng Đức

Trang tiếng Anh

Mừng Xuân Di Lặc


...... ... .

 

 

 THÔNG CÁO BÁO CHÍ LÀM TAI PARIS NGÀY 21.1.2003

Thông điệp Xuân Quý Mùi của Ðại lão Hòa thượng Thích Huyền Quang kêu gọi ngăn chống những nền văn hóa nô dịch, ngoại lai để bảo vệ chủ quyền dân tộc, bảo vệ quyền sống, quyền tự do tín ngưỡng, quyền ấm no cho mỗi con người,
và phát triển Phật giáo Việt Nam trên toàn thế giới
 

Ðầu xuân, xin được đọc kỹ và thâm nhập ý nghĩa bức Thông điệp Xuân Quý Mùi 2003, mà từ nơi lưu đày Quảng Ngãi suốt 20 năm qua, Ðại lão Hòa thượng Thích Huyền Quang, Xử lý Thường vụ Viện Tăng Thống, Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất, vừa gửi đến Phòng Thông tin Phật giáo Quốc tế tại Paris "để phổ biến".

Mặc dù các viên chức cao cấp của bộ máy cầm quyền cộng sản, từ Ban Tôn giáo Chính phủ đến bà Tôn Nữ Thị Ninh, Ðại sứ Hà Nội tại Quốc hội AÂu châu, khẳng định với thế giới Tây phương là "Ông Huyền Quang vẫn tự do hành đạo tại Quảng Ngãi (Ban Tôn giáo)" hay "ông" Huyền Quang đã không còn ở Quảng Ngãi từ tháng 10 năm 2001 (bà Ninh)". Nhưng Ðại lão Hòa thượng Thích Huyền Quang thì xác nhận qua bức Thông diệp Xuân Quý Mùi – 2003 rằng :

"Riêng tôi, nơi lưu đày ở quận Nghĩa Hành tỉnh Quảng Ngãi hơn hai mươi năm qua, thì mỗi khi xuân đến, tấm lòng ưu tư cho Chánh pháp và Dân tộc của chư Tôn Ðức và nam nữ Phật tử, trong cũng như ngoài nước, là những đóa hoa Xuân nở ấm nơi tâm tư. Vậy nhân dịp xuân về, tôi xin gửi đến toàn thể chư liệt vị Hòa thượng, Thượng tọa, Ðại đức Tăng Ni, nam nữ Cư sĩ Phật tử trong và ngoài nước lời cầu chúc một năm an lành, như ý và viên thành Phật sự".

Quan điểm Phật sự mà Ðại lão Hòa thượng nhắc nhở cho Phật tử Việt Nam là sự bền tâm vững chí không lay động trước mọi hoàn cảnh thịnh hay suy (tự tại vô ngại), dù rằng " hiện tại Phật giáo Việt Nam còn ngổn ngang trăm mối. Tuy nhiên, người con Phật luôn tự tại vô ngại trước mọi hoàn cảnh thịnh suy. Tự tại vô ngại mới thoát ly khỏi hai thái cực bi quan và lạc quan, là sản phẩm nhất thời của những tình cảm nông nổi. Tự tại vô ngại mới vượt khỏi vô minh, cố tín, để hoàn thành sự nghiệp cứu độ và giải thoát quần sinh".

Quan điểm Phật sự ấy cũng là lời của vua Lý Nhân Tông nói với thiền sư Mãn Giác cách đây gần một nghìn năm : "Bậc chí nhân thị hiện, tất lo việc cứu người, không hạnh nào là chẳng đủ, không việc gì là chẳng làm, không chỉ có sức định tuệ, mà cũng có công phò tá". Ðây chính là tiêu chí của Phật giáo Việt Nam suốt 2000 năm qua. Người xuất gia hay tại gia thì thiền định để phát triển trí tuệ Bát nhã, gọi là "sức định tuệ", trong công cuộc tu trì TỰ GIÁC. Nhưng tu như thế chưa đủ, vì phải thực hành trong đời sống hằng ngày. Hòa thượng căn dặn việc thực hành này như sau :

"Còn phải "có công phò tá" việc quốc gia, xã hội bằng chí nguyện LỢI THA. Chẳng việc gì là không làm, miễn việc đó nhằm cứu người, miễn việc đó giải thoát xã hội khỏi cảnh lầm than, bất công, miễn việc đó bảo vệ được chủ quyền đất nước từ lãnh thổ đến văn hóa và tinh thần. Từ xưa, chư lịch đại Tổ sư biết rất rõ rằng, phục vụ đất nước là phục vụ cho Phật giáo, vì Phật giáo đặt sự tồn tại của mình trong sự tồn tại của đất nước. Vạn Hạnh thiền sư "trụ tích trấn vương kỳ" (chống gậy trấn kinh vua) là người đã hoàn mãn tiêu chí ấy".

Việc TU-HÀNH song toàn như thế, theo Ðại lão Hòa thượng Thích Huyền Quang, là "Nhằm khẳng định bản lĩnh của nền văn hóa Phật giáo và văn hóa Việt Nam, nên từ xưa, người Phật tử Việt Nam luôn ngăn chống những nền văn hóa nô dịch, ngoại lai, để bảo vệ chủ quyền dân tộc, bảo vệ quyền sống, quyền tự do tín ngưỡng, quyền hạnh phúc, quyền ấm no cho mỗi con người. Ngoài nỗ lực bảo tồn nền văn hiến Việt Nam, sự khẳng định này cốt làm cho đạo Phật là đạo "ở nhà có thể đem mà thờ cha mẹ, giúp nước có thể đem giáo hóa dân, sống một mình có thể đem trị thân", như Mâøu Bác, bậc thức giả Trung quốc ở thế kỷ thứ II Tây lịch nhận xét về Phật giáo nước ta".

Ðánh giá tình hình Việt Nam ngày nay, Ðại lão Hòa thượng nhận thức trong một câu :

" Xã hội nước ta ngày nay nhân tâm ly tán, đạo lý suy vong, tệ nạn đầy dẫy, đoàn thể phân hóa, bè đảng hoành hành".

Ðể chữa trị các thảm họa này, người Phật tử phải làm gì ? Hòa thượng đưa ra 3 giải pháp :

Một là, "Người Phật tử không thể nhắm mắt bước theo nếp sống bại hoại, suy đồi ấy". Hai là, "phải kiến tạo cộng nghiệp thanh cao, tốt lành, để giải trừ cộng nghiệp hắc ám, bi thảm". Ba là, sử dụng "Sáu phép Lục Hòa là bửu bối cho Giáo hội ta chữa trị những loạn tưởng và lịch sử bi thảm của thời đại. Người đời tranh chấp, giành giật, thì Giáo hội ta hỷ xả, từ bi. Người đời phân hóa, ly tán, thì Giáo hội ta hòa hiệp như ánh sáng với không khí. Áp dụng triệt để sáu phép hòa kỉnh này, nạn sư tử trùng và phân hóa mới chấm dứt, đạo khí bình đẳng hình thành, xã hội bình quân, tương  ái mới xuất hiện". Ðạo khí bình đẳng nói đây, là không kỳ thị giới tính (nam nữ), chủng tộc, đẳng cấp. Xã hội bình quân, tương ái nói đây, là xóa bỏ sự chênh lệch giàu nghèo đang làm đại đa số nhân loại và nhân dân Việt Nam thất điên bát đảo.

Sáu phép hòa kỉnh (Lục hòa) là căn bản sống chung hòa hiệp của cộng đồng Phật giáo từ thời Ðức Phật, nhằm ngăn chận sự phân hóa, ly gián, hiện đang xâu xé nội bộ Phật giáo cũng như cộng đồng dân tộc. Nhưng một vấn đề không kém phần quan trọng là, giáo lý cao cả của Ðức Phật vốn bất biến, nhưng phải biết tùy duyên chuyển hóa giáo lý này cho thích nghi (khế cơ, khế lý) với căn cơ, tâm lý (đương cơ) của mọi thành phần quần chúng qua mọi thời đại lịch sử (đương thời), mọi địa lý văn hóa và chính trị trên toàn thế giới (đương địa). Tính cách Khế cơ, Khế lý theo phương cách tùy duyên nhưng bất biến này vốn là truyền thống phát huy Phật giáo qua các thời đại ở mọi quốc gia từ trên 2500 năm qua.

Ngày nay Ðại lão Hòa thượng Thích Huyền Quang còn kêu gọi Phật tử Việt Nam phải biết áp dụng giáo lý Từ bi và Trí tuệ của đạo Phật một cách sáng tạo vào mọi lĩnh vực văn hóa, xã hội, kinh tế, khoa học, giáo dục và chính trị. Hòa thượng viết : "Sự sáng tạo trên mọi lĩnh vực của đời sống sẽ là bửu bối cho công cuộc hoằng dương Chánh pháp và cứu khốn trừ nguy".

Bức Thông điệp Xuân Quý Mùi 2003 đặc biệt chú ý đến sự kiện hi hữu là "Chưa bao giờ trong lịch sử nước ta lại có đông đảo Cao tăng và Phật tử có mặt và sinh sống trên năm châu thế giới như ngày nay. Tôi hết lòng kỳ vọng vào chư Liệt vị để tiếng đại hồng chung của Phật giáo Việt Nam thành lời cảnh tỉnh và sức sống tâm linh trên toàn thế giới".

Việc mà Ðại lão Hòa thượng công nhận là "Vì cảnh tù đày, quản chế, ước vọng ấy của hàng Giáo phẩm thuộc Hội đồng Lưỡng viện (Viện Tăng Thống và Viện Hóa Ðạo), Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất, chưa đủ duyên thi hành, thì nay trông cậy vào toàn thể chư liệt vị Hòa thượng, Thượng tọa, Ðại đức Tăng Ni, nam nữ Cư sĩ Phật tử trong và ngoài nước, hiện đang sống trong cảnh tự do, xin chư Liệt vị nỗ lực thực hiện, làm nên một Nhân gian Phật giáo "cư trần lạc đạo" như tôi đã nhắc đến trong Thông điệp Xuân năm ngoái".

Sau đây là toàn văn bức Thông điệp Xuân Quý Mùi 2003 rất quan trọng trong việc tái hồi khả năng kiến quốc của nền Phật giáo dân tộc có quá trình dựng văn, dựng nước và giữ nước suốt hai nghìn năm qua :

 

 

 

GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM THỐNG NHẤT

VIỆN TĂNG THỐNG

                Phật lịch 2546                                                           Số : 01 /VTT/XLTV

 

 

THÔNG ÐIỆP XUÂN QUÝ MÙI – 2003

 

 

Nam Mô Bổn sư Thích Ca Mâu Ni Phật

Tết đến mang hoa sắc và hương thơm mùa xuân vào nở giữa lòng người, dù ở bất cứ vị trí hay hoàn cảnh nào. Riêng tôi, nơi lưu đày ở quận Nghĩa hành tỉnh Quảng Ngãi hơn hai mươi năm qua, thì mỗi khi xuân đến, tấm lòng ưu tư cho Chánh pháp và Dân tộc của chư Tôn Ðức và nam nữ Phật tử, trong cũng như ngoài nước, là những đóa hoa Xuân nở ấm nơi tâm tư. Vậy nhân dịp xuân về, tôi xin gửi đến toàn thể chư liệt vị Hòa thượng, Thượng tọa, Ðại đức Tăng Ni, nam nữ Cư sĩ Phật tử trong và ngoài nước lời cầu chúc một năm an lành, như ý và viên thành Phật sự.

Nói đến Phật sự là nói đến quá trình hoằng dương Chánh pháp từ quá khứ đến vị lai. Quá khứ Phật giáo Việt Nam huy hoàng, là nhờ chư lịch đại Tổ sư dày công un đúc. Vị lai Phật giáo Việt Nam tùy thuộc ở hiện tại. Mà hiện tại Phật giáo Việt Nam còn ngổn ngang trăm mối. Tuy nhiên, người con Phật luôn tự tại vô ngại trước mọi hoàn cảnh thịnh suy. Tự tại vô ngại mới thoát ly khỏi hai thái cực bi quan và lạc quan, là sản phẩm nhất thời của những tình cảm nông nổi. Tự tại vô ngại mới vượt khỏi vô minh, cố tín, để hoàn thành sự nghiệp cứu độ và giải thoát quần sinh.

"Bậc chí nhân thị hiện, tất lo việc cứu người, không hạnh nào là chẳng đủ, không việc gì là chẳng làm, không chỉ có sức định tuệ, mà cũng có công phò tá". Ðây là lời vua Lý Nhân Tông nói với thiền sư Mãn Giác gần một ngàn năm trước. Ðây cũng là tiêu chí của Phật giáo Việt Nam suốt hai ngàn năm qua. Không riêng "sức định tuệ" của người xuất gia hay tại gia trong công cuộc tu trì tự giác, mà còn phải "có công phò tá" việc quốc gia, xã hội bằng chí nguyện lợi tha. Chẳng việc gì là không làm, miễn việc đó nhằm cứu người, miễn việc đó giải thoát xã hội khỏi cảnh lầm than, bất công, miễn việc đó bảo vệ được chủ quyền đất nước từ lãnh thổ đến văn hóa và tinh thần. Từ xưa, chư lịch đại Tổ sư biết rất rõ rằng, phục vụ đất nước là phục vụ cho Phật giáo, vì Phật giáo đặt sự tồn tại của mình trong sự tồn tại của đất nước. Vạn Hạnh thiền sư "trụ tích trấn vương kỳ" (chống gậy trấn kinh vua) là người đã hoàn mãn tiêu chí ấy.

Nhằm khẳng định bản lĩnh của nền văn hóa Phật giáo và văn hóa Việt Nam, nên từ xưa, người Phật tử Việt Nam luôn ngăn chống những nền văn hóa nô dịch, ngoại lai, để bảo vệ chủ quyền dân tộc, bảo vệ quyền sống, quyền tự do tín ngưỡng, quyền hạnh phúc, quyền ấm no cho mỗi con người. Ngoài nỗ lực bảo tồn nền văn hiến Việt Nam, sự khẳng định này cốt làm cho đạo Phật là đạo "ở nhà có thể đem mà thờ cha mẹ, giúp nước có thể đem giáo hóa dân, sống một mình có thể đem trị thân", như Mâøu Bác, bậc thức giả Trung quốc ở thế kỷ thứ II Tây lịch nhận xét về Phật giáo nước ta.

Xã hội nước ta ngày nay nhân tâm ly tán, đạo lý suy vong, tệ nạn đầy dẫy, đoàn thể phân hóa, bè đảng hoành hành. Người Phật tử không thể nhắm mắt bước theo nếp sống bại hoại, suy đồi ấy. Mà phải kiến tạo cộng nghiệp thanh cao, tốt lành, để giải trừ cộng nghiệp hắc ám, bi thảm. Sáu phép Lục Hòa là bửu bối cho Giáo hội ta chữa trị những loạn tưởng và lịch sử bi thảm của thời đại. Người đời tranh chấp, giành giật, thì Giáo hội ta hỷ xả, từ bi. Người đời phân hóa, ly tán, thì Giáo hội ta hòa hiệp như ánh sáng với không khí. Áp dụng triệt để sáu phép hòa kỉnh này, nạn sư tử trùng và phân hóa mới chấm dứt, đạo khí bình đẳng hình thành, xã hội bình quân, tương  ái mới xuất hiện.

Với trí tuệ Bát nhã, chư lịch đại Tổ sư ở nước ta đã không ngừng khế cơ, khế lý nền giáo lý cao cả của Ðức Thế tôn vào mọi bối cảnh đương thời, đương địa, đương cơ. Ngày nay, người Phật tử Việt Nam cần học hỏi và kế thừa truyền thống khế cơ, khế lý của tiền nhân, mà sự sáng tạo trên mọi lĩnh vực của đời sống sẽ là bửu bối cho công cuộc hoằng dương Chánh pháp và cứu khốn trừ nguy.

Chưa bao giờ trong lịch sử nước ta lại có đông đảo Cao tăng và Phật tử có mặt và sinh sống trên năm châu thế giới như ngày nay. Tôi hết lòng kỳ vọng vào chư Liệt vị để tiếng đại hồng chung của Phật giáo Việt Nam thành lời cảnh tỉnh và sức sống tâm linh trên toàn thế giới.

Vì cảnh tù đày, quản chế, ước vọng ấy của hàng Giáo phẩm thuộc Hội đồng Lưỡng viện, Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất, chưa đủ duyên thi hành, thì nay trông cậy vào toàn thể chư liệt vị Hòa thượng, Thượng tọa, Ðại đức Tăng Ni, nam nữ Cư sĩ Phật tử trong và ngoài nước, hiện đang sống trong cảnh tự do, xin chư Liệt vị nỗ lực thực hiện, làm nên một Nhân gian Phật giáo "cư trần lạc đạo" như tôi đã nhắc đến trong Thông điệp Xuân năm ngoái.

Nam Mô Ðương lai Ðại từ Di Lặc Tôn Phật.

 

P.L. 2546 – Quảng Ngãi, Xuân Quý Mùi, 2003

Thay mặt Hội đồng Lưỡng viện

Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất

Xử lý Thường vụ Viện Tăng Thống

(Ký tên và đóng dấu)

 

Tỳ kheo THÍCH HUYỀN QUANG

 

 


 

  

---o0o---

Cập nhật ngày: 01-02-2003


Webmaster:quangduc@quangduc.com

Trở về Trang Thư Mục Mừng Xuân

Đầu trang

 

Biên tập nội dung : Tỳ Kheo Thích Nguyên Tạng
Xin gởi bài mới và ý kiến đóng góp cho Trang Nhà qua địa chỉ : quangduc@quangduc.com
Địa chỉ gởi thư :  Tu Viện Quảng Đức, 105 Lynch Road, Fawkner, Vic. 3060. Tel: 61. 03. 9357 3544