Trang tiếng Việt

 Trang Nhà Quảng Đức

Trang tiếng Anh

Mừng Xuân Di Lặc


...... ... .

 

 

Bên tách trà Xuân

Huỳnh Kim Bửu

--- o0o --- 

  

 

 Ngày đầu năm, bạn đến nhà mừng Xuân chúc Tết, chủ khách mừng rỡ, nói những lời tốt lành với nhau, rồi cùng nhau thưởng thức vị trà ngon, đem chuyện văn chương kim cổ Đông Tây ra luận bàn như là một cái thú của mấy ngày Tết cổ truyền, hòa điệu với câu đối đỏ, thơ khai bút làm nên một tình Xuân ý vị:

 “Ngày Tết đến cũng một vài câu đối”

(Trần Tế Xương)

 Nghĩ như thế, tôi xin góp chuyện để thêm vui câu chuyện văn chương bên tách trà Xuân của các bạn.

 Bài thơ Đánh thuế sầu

Lục Thế Minh, quê Trường Châu, do chân hiếu liêm đi thi, nhưng thi không đỗ. Buồn vì hỏng thi, “Thi không ăn ớt thế mà cay” (Trần Tế Xương), Thế Minh xuống thuyền trở về sớm. Khi thuyền đi qua cửa tuần ty thì quan tuần ngỡ là thuyền buôn, nên cho gọi vào, đòi đánh thuế. Thế Minh không nói, chỉ xin đưa cho quan một bài thơ:

 “Hiến sách kim môn khổ vị thu

Qui tâm nhai dạ thủy đông lưu

 Biên chủ tải đắc sầu thiên hộc

 Văn thuyết quân vương bất thuế sầu”.

 Nghĩa là:

 Cửa vàng dâng sách lại về không

 Nước chảy về đông chạnh nỗi lòng

 Nghìn hộc sầu đây thuyền chở nặng

 Lệ vua có đánh thuế sầu không?

 Đọc thơ, quan tuần rất đỗi ngạc nhiên và thấy ngượng, bèn cho đem trà nước ra mời “nhà thơ”, xong cuộc trà mới cho xuống thuyền ra đi.

 Văn chương "thôi xao"

 Ai đọc thơ Đường cũng đều không quên bài thơ của Giả Đảo (793-865):

“Tuyệt cú

 Nhị cú tam niên đắc

 Nhất ngâm song lệ thùy

Tri âm như bất thưởng

 Qui ngọa cố sơn thu”.

“Tuyệt cú

 Hai câu làm mất ba năm

 Một ngâm lã chã hai hàng lệ rơi

 Tri âm nếu chẳng đoái hoài

Trở về núi cũ nằm dài với thu”

(Trần Trọng San dịch)

 Bài thơ hay vì tâm trạng nhà thơ và vì qua đó ta còn học được sự lao tâm khổ tứ trong việc sáng tác: Ba năm mà làm được hai câu thơ! Chứ đâu phải thơ là cứ “xuất khẩu thành thi”, “thất bộ thành thi”.

 Giả Đảo làm thơ là thế. Lần khác, một đêm trăng, nhà thơ đến chơi nhà bạn. Cảnh trăng quê đẹp khiến Giả Đảo cảm hứng, nghĩ ra hai câu thơ:

 “Điểu tức trì biên thụ

 Tăng thôi nguyệt hạ môn”

 (Chim ngủ cây bên ao

 Sư dưới trăng đẩy cửa)

 Tứ thơ đến mau lẹ và như thế là có hồn rồi nhưng còn chữ dùng thì phải cân nhắc thêm: Nên dùng chữ “thôi” hay chữ nào khác? Một tia sáng lóe trong đầu nhà thơ: Thế là chữ “xao”. “Tăng xao nguyệt hạ môn”. Tác giả cứ chân bước, mồm lẩm nhẩm đọc, khi thì “Tăng thôi...” khi thì “Tăng xao...”. Và còn làm cả động tác huơ tay, đưa tay ra nữa. Người đi đường thấy, biết ông là thi sĩ Giả Đảo, nhưng rất lạ về những động tác của ông. Thi sĩ đang chân bước, mồm lẩm nhẩm, tay không yên thì đánh rầm một cái: Ông đâm sâờm vào một xe đang ngược chiều. Người ta thất kinh, chạy đến cứu ông, đỡ ông dậy, may là bị thương nhẹ thôi. Ông cố bước tới xin lỗi người ngồi trên xe và nhận ra vị ấy là Hàn Dũ làm Kinh triệu doãn kiêm Ngự sử Đại phu, nổi tiếng một thi hào thời bấy giờ. Hàn Dũ hỏi chuyện, khen tài thơ, sự lao động sáng tạo của Giả Đảo và còn “nghiêm túc” góp ý nữa:

 - Hai câu thơ đã hay rồi, nhưng nếu dùng chữ cho đắc thì còn hay hơn nữa. Chữ “Thôi” là đẩy, chữ “Xao” là gõ. Đẩy thì chỉ tả động tác, còn thì vừa động tác vừa âm thanh, nên chi phải “đắc” hơn.

 Đến đây hai câu thơ của Giả Đảo đã “thập thành”:

 “Điểu tức trì biên thụ

 Tăng xao nguyệt hạ môn”

 (Chim ngủ cây bên ao

 Sư dưới trăng gõ cửa)

 Và chuyện “Văn chương thôi xao” được nói nhiều từ đây, “Thôi xao” đã trở thành một thuật ngữ dùng trong văn học để chỉ công việc lao động trên trang viết của nhà văn, nhà thơ.

 Những tấm gương “thôi xao” sau đó thường được kể, như chuyện Vương An Thạch, thời Bắc Tống, đã có một câu thơ trong bài Bạc thuyền qua châu, ông đã tự sửa đi sửa lại nhiều lần.

 Đó là câu:

 “Xuân phong hựu lục Giang Nam ngạn”

 (Giang Nam gió thổi xanh bờ biếc)

 Để có chữ “Lục” rất đắc, trước đó Vương An Thạch đã thử dùng các chữ: Đáo, nhập, mãn, quá.

 Nhà thơ Huy Cận của chúng ta đã từng “tâm sự”: Câu “Cuọi một cành khô lạc mấy dòng” trong bài Tràng giang, ông đã chữa nhiều lần.

Phần dư cảo – Thơ đốt còn sót lại

 Những người yêu Nguyễn Du và Truyện Kiều, ít ai không thuộc hai câu thơ:

 “Bất tri tam bách dư niên hậu

 Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như”

 Hai câu này là hai câu kết trong bài thơ được sáng tác sau khi tác giả đã đọc câu chuyện nàng Tiểu Thanh chép trong tình sử.

 Tây Hồ hoa uyển tẫn thành khư

 Độc điếu song tiền nhất chỉ thư

Chi phấn hữu thần liên tử hậu

 Văn chương vô mệnh lụy phần dư

 Cổ kim hận sự thiên nan vấn

Phong vận kỳ oan ngã tự cư

 Bất tri tam bách dư niên hậu

 Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như?

 Tạm dịch:

 Hồ Tây vườn đã thành gò

 Viếng nàng ta đọc tập thơ của nàng

Phấn son thuyền cũng bàng hoàng

 Văn chương lụy kiếp tro tàn thế a?

 Hận xưa khôn hỏi trời già

Nỗi oan phong vận mình ta buộc ràng.

 Ba trăm năm lẻ mơ màng

 Có ai hậu thế khóc chàng Tố Như?

 Vậy thì nàng Tiểu Thanh là ai? Nàng có viết một tập thơ? Và “Văn chương vô mệnh lụy phần dư - Văn chương lụy kiếp tro tàn” là nghĩa làm sao?

 Tình sử chép rằng:

 Tiểu Thanh sống vào đầu đời Minh, là một cô gái tài sắc vẹn toàn, hiếm có trong phận nữ nhi, nhưng cuộc đời và duyên số thì thật chẳng ra gì. Nàng lấy lẽ một người đàn ông họ Phùng và bị vợ cả cả ghen. Vợ cả buộc nàng phải ra ở riêng, mỗi khi muốn gặp chồng thì phải được vợ cả cho phép, muốn viết thư hỏi han chồng thì thư đó phải được vợ cả “kiểm duyệt”. Cái ghen của người vợ cả ngày càng cay nghiệt, khiến Tiểu Thanh phải cảnh giác, đề phòng cả việc nàng bị đầu độc trong các đồ ăn thức uống.

 Nhà nàng ở cạnh Hồ Tây, thiếu bạn tri âm, nàng chỉ biết dùng thời gian để làm bài thơ tâm sự, lòng mình thổ lộ với mình, lại luôn bị vợ cả rình rập dày vò vô cớ. Chẳng bao lâu, vì buồn bã, sức khỏe Tiểu Thanh sa sút, rồi nàng qua đời, để lại một tập thơ. Người chồng họ Phùng nhờ đọc tập thơ mà hiểu rõ tình cảm của nàng, chàng rất thương tiếc cho người vợ lẽ xấu số và tự trách mình. Tiểu Thanh chết rồi mà vợ cả vâỡn ghen đem đốt hết tập thơ của nàng. May sao còn sót lại một số ít bài, người ta gom lại, thành tập Phần dư cảo (Thơ đốt còn sót lại) để lại cho đời.

 Nguyễn Du, với tấm lòng thương yêu rộng lớn không bờ bến của một bậc thi hào, đã viết lại tình sử của nàng Tiểu Thanh bằng thơ, có sức rung cảm lạ thường. Cái lụy là của người tài sắc, của nàng Tiểu Thanh (Tạo vật đố tài, tạo vật đố hồng nhan) là có cớ, nhưng văn chương vốn không mệnh mà cũng mắc luốy: Văn chương vô mệnh lụy phần dư, đến thế sao? Đó là dấu hỏi lớn của Nguyễn Du. Từ đó, có sự liên hệ:

 “Bất tri tam bách dư niên hậu

 Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như”.

 Năm Thân này, những người yêu văn học mong sao được đọc nhiều tác phẩm mới, hay, ngang Tây du ký và được gặp những nhân vật điển hình hơn nhân vật Tôn Ngộ Không của Ngô Thừa Ân.

--- o0o ---

Vi tính: T. Thông Chơn - Huệ Dũng

Cập nhật ngày: 01-02-2004


Webmaster:quangduc@quangduc.com

Trở về Trang Thư Mục Mừng Xuân

Đầu trang

 

Biên tập nội dung : Tỳ Kheo Thích Nguyên Tạng
Xin gởi bài mới và ý kiến đóng góp cho Trang Nhà qua địa chỉ : quangduc@quangduc.com
Địa chỉ gởi thư :  Tu Viện Quảng Đức, 105 Lynch Road, Fawkner, Vic. 3060. Tel: 61. 03. 9357 3544