Trang tiếng Việt

 Trang Nhà Quảng Đức

Trang tiếng Anh


...... ... .

 

Ðọc CÕI TRĂM NĂM của Nguyễn Khuê


Hoàng Độ

                                     

Nếu Hương Trời Xa Bay là “tập thơ gói trọn một đời người”, nói như Huỳnh Như Phương*, thì đến Cõi Trăm Năm, những cảm thức về một đời người ấy, điều còn lại sau khi những gì dường như đã đi qua, Nguyễn Khuê đem đến cho người đọc nhiều tâm tình, chiêm nghiệm sau những bước lận đận ở “cõi trăm năm”. Ðó là nỗi buồn. Và cũng chính từ đó, niềm tin yêu cuộc sống được vực dậy.

Gặp tác giả ngoài đời, không ai nghĩ rằng ông là người làm thơ, đã có đến hai tập thơ khá dày dặn, bởi phong cách mực thước có nét cổ điển của một nhà giáo Hán – Nôm học tại các Ðại học, Học viện Phật giáo Việt Nam... Nhưng không phải thế, là người đất Phú Xuân, như bao đời, phong hóa chốn kinh kỳ đã thầm lặng nuôi dưỡng mầm nghệ sĩ trong tâm hồn ông từ thuở mới tập tễnh với ý niệm làm người. Thi ca là một “nghiệp thức” của những con người ở xứ sở ấy. Với “nghiệp thức” đó, sự ra đời của Hương Trời Xa Bay , Cõi Trăm Năm đối với Nguyễn Khuê cũng như sự ra đời của những đứa con đối với người mẹ...

Hoài niệm là ngọn lửa trong Cõi Trăm Năm. Hoài niệm trong thơ Nguyễn Khuê không chỉ là ký ức về những bước đường mà ông đã đến, đã đi qua, hơn thế nữa, nó còn là những cảm thức sâu sắc về thân phận, về nỗi cô đơn cùng cực của con người trong cõi luân hồi mà với vốn văn hóa tinh tế của mình, ông đã đồng điệu không phải với cái vẻ bề ngoài thường hay đánh lừa người ta, mà với nỗi buồn vời vợi sau “Trăm năm một cõi hợp tan...”:

Ba ngàn thế giới

mênh mông

Diêm-phù-đề đứng ngóng trông

phương nào...

(Cõi trăm năm, tr.41)

Nỗi cô đơn đó là sự thật của con người trong cõi gọi là trăm năm mà mấy ai được trăm năm. Sự thật thì không cũ, nó luôn mới. Cảm thức nghệ thuật cũng luôn luôn mới, không có sự lặp lại. Thi ca đã nói điều đó. Ở thơ Nguyễn Khuê cũng vậy. Ông có cách nói nỗi buồn của mình. Ðôi khi ông cố giấu đi nỗi buồn thăm thẳm dưới nhiều sắc màu của niềm vui, của tình thương yêu, hay qua một danh nhân mấy trăm năm trước, như tính cách kín đáo của một người dân Phú Xuân nơi ông, nhưng rồi, nỗi cô đơn thân-phận-hiện-hữu-trầm-luân đó vẫn cứ ám ảnh, nhiều khi buộc ông phải thốt thành lời, như trong Chim Phóng Sinh, Cõi Trăm Năm...

Chiêm nghiệm về nó đã dẫn tác giả đến với giáo lý Phật Ðà. Ông có những cảm nhận sâu sắc về hiện hữu và nỗi thống khổ muôn đời của hiện hữu trầm luân :

Mây nước cùng một thể

Từ dạo tách làm hai

Mây bay và nước trôi

Ðất trời chia đôi ngã

.....................................

Cõi trăm năm mây nước

Tan hợp mãi xoay vần

Tiếng cung thương réo rắt

Khúc lưu thủy hành vân.

(Mây Nước, tr. 61-62)

Mây là nước. Nhưng bất giác với khoảnh khắc ngộ nhận, mây cứ đi tìm nước, khao khát được là nước. Như con người đi tìm hạnh phúc ở thiên giới. Trầm luân có từ đấy. Và, cái gọi là nỗi đau triền miên của nhân thế cũng có từ đấy. Cô đơn cũng lên tiếng tịch liêu của mình cũng từ khoảnh khắc ấy...  Có lúc dẫu biết con đường trở về chính là con đường hội ngộ, nhưng rồi lại mải miết đi tìm, và sau những chặng đường đó, nghệ thuật cũng có một tiếng nói của mình...

Cũng từ cảm nhận đó, ông đã thương yêu, trân quý những kỷ niệm tình người và những người mà ông đã có cơ duyên hội ngộ:

...Yêu nhau

như mới lần đầu biết yêu

Tưởng rằng yêu đến xế chiều

Vô thường

thêm một lần yêu vô thường...

(Một Cuộc Tình, tr. 53-54)

Trong Cõi Trăm Năm, Nguyễn Khuê đã có những lời thơ về một Con Người diệu kỳ, Bậc “đã chỉ ra nẻo giác”, thị hiện vì lợi ích, hạnh phúc của số đông mà ông đã thấm đượm tinh thần từ những lời dạy về chân lý giản dị của Ngài:

...Mịt mù vô thủy

Dằng dặc vô chung

Màn vô minh như bóng đêm

 vây bủa chập chùng

Từ gốc cây Vô Ưu

Sen vàng bảy bước

Người đã tuyên thuyết thông điệp đầu tiên:

“Ba cõi đều đau khổ triền miên

Ta sẽ giúp chúng sinh an lạc”...

 (Thông Ðiệp Ðản Sinh, tr. 14-15)

Bàng bạc trong tập Cõi Trăm Năm có nhiều vần thơ đẹp trong “ký họa” phong cảnh, đặc biệt là về các danh lam thắng tích trong và ngoài nước, những nơi mà tác giả đã từng đến và gởi lại chút tư tình của một tâm hồn nghệ sĩ.

Không phải là người làm thơ chuyên nghiệp, dẫu đã có thơ đăng trên các báo trong Nam ngoài Bắc từ thuở thiếu thời, thơ với Nguyễn Khuê có lẽ như một “nghiệp dĩ” của đời ông, lại được bồi đắp thêm phù sa của dòng sông mà ông đã uống và tắm mát. Ông làm thơ như để tự họa tâm thức của mình, mà tâm thức thì làm sao vẽ được. Bởi thế, với tập thơ này, ông vẫn buồn trong nỗi cô đơn đáng quý của một con người. Ðáng quý bởi lẽ ông đã dám đối diện với nó. Người ta từng biết Nguyễn Khuê là một nhà giáo mẫu mực, người đã một đời gắn bó với bục giảng và viên phấn trắng trước bao thế hệ; một nhà biên khảo với nhiều tác phẩm đóng góp chung vào nền quốc học từ những năm 1970 đến nay. Với hai tập thơ đã xuất bản, người ta lại biết thêm một “chân dung vô hình” của ông: “Trên tường đêm thấy bóng mình/ Mừng vui...bóng cũng là hình đó thôi/.../Sầu vạn cổ lạnh thiên thu/Hình đơn bóng lẻ bên nhau tự tình/Bóng là tri kỷ của hình.” (Thấy Bóng Mình, tr.44)

Cõi Trăm Năm là một tập thơ đẹp và trang nhã, về cả hình thức lẫn nội dung, tranh bìa 1 và 4 của họa sĩ Lê Ký Thương, với những phụ bản tranh màu, thư pháp của nhiều tác giả danh tiếng và các ca khúc phổ thơ Nguyễn Khuê của Lê Minh, Tôn Thất Lan, Hạo Nhiên trình bày, do NXB Văn Nghệ TPHCM phát hành, tháng 10.2002.


 

* Lời bạt trong Hương Trời Xa Bay, NXB Văn Nghệ TPHCM, 1998)


  

---o0o---

Cập nhật ngày: 01-02-2003


Webmaster:quangduc@quangduc.com

Trở về Trang Thư Mục Mừng Xuân

Đầu trang

 

Biên tập nội dung : Tỳ Kheo Thích Nguyên Tạng
Xin gởi bài mới và ý kiến đóng góp cho Trang Nhà qua địa chỉ : quangduc@quangduc.com
Địa chỉ gởi thư :  Tu Viện Quảng Đức, 105 Lynch Road, Fawkner, Vic. 3060. Tel: 61. 03. 9357 3544