Trang tiếng Việt

 Trang Nhà Quảng Đức

Trang tiếng Anh

Phật giáo & Xã Hội


...... ... .

 

Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam

Trường Cao Cấp Phật Học Việt Nam

TP Hồ Chí Minh

Khóa III (1993-1997)

 

Nhân sinh quan Phật giáo

(Luận văn tốt nghiệp)

 

GSHD: TT  Thích Trí Quảng

Ni sinh: Thích nữ Như Ngọc

---o0o---  

  

Dẫn nhập 

Con người là gì?  Ðó là câu hỏi không đơn giản mà bao đời nay các nhà triết học và khoa học khác nhau ra công tìm lời giải đáp và đã gây ra không ít sự tranh cãi vì bất đồng quan điểm.  Sách triết học Mác-Lê nin có ghi:’Câu trả lời chỉ là chơn thật khi con người có khả năng bước ra khỏi bản thân mình với tư cách là hệ thống trong quá trình vận động sanh thành’.[1]

Dưới con mắt của bậc Giác ngộ, con người chỉ là một hiện hữu do duyên sanh, một quá trình trưởng thành mà không có thực thể bản chất thường hằng.  Từ cái nhìn ấy, giáo lý ngũ uẩn, vấn đề lớn đối với con người, là nhân sanh quan, vũ trụ quan Phật giáo đã được Ðức Phật Thích Ca, bậc Ðại trí huệ, thuyết giảng tại Ấn Ðộ cách đây hơn 2500 năm về trước, cho đến nay nó vẫn mang một giá trị vô cùng thiết thực cho con người và cuộc đời:

‘Ở đây, này các Tỳ kheo vô văn phàm phu thấy rằng ;’Thân này là của tôi; Tôi là thân này; Thân này là tự ngã của tôi.’ Thân của kẻ ấy bị biến hoại, bị đổi khác.  Khi thân này bị biến hoại, đổi khác, kẻ ấy khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não ... Cũng thế đối với thọ, tưởng, hành, thức...

Này các Tỳ kheo, và như thế nào là không chấp thủ và không ưu não? Ở đây này các vị tỳ kheo, vị đa văn thánh đệ tử thấy rằng: ‘Thân này không phải là của tôi; Tôi không phải là thân này; Thân này không phải là tự ngã của tôi.’  Thân này của vị ấy bị biến hoại và đổi khác. Nhưng dù cho thân này bị biến hoại, đổi khác, vị Thánh ấy không khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não ... Cũng thế đối với thọ, tưởng, hành, thức...’ [2]

Theo Ðức Phật, con người chỉ là năm thủ uẩn trôi chảy mãi và mục đích giáo dục của Ngài là chỉ cho con người thấy rõ khổ đau, nguyên nhân của khổ đau, sự chấm dứt khổ đau và con đường chấm dứt khổ đau từ thân năm uẩn ấy. Như thế qua ngũ uẩn, Ðức Phật không chỉ giới thiệu con người mà còn đưa ra con đường đúng đắn về mục đích con người đeo đuổi và bằng mọi giá phải đạt được, đó là hạnh phúc. Có hạnh phúc chăng khi con người bỏ quên sự phát triển tâm linh và đạo đức, chạy theo trào lưu phát triển văn minh, vật chất, chạy theo dục vọng, thỏa mãn tham ái, chấp thủ cá nhân... để rồi gây ra bao cuộc chiến tranh, khủng hoảng xã hội, đạo đức và môi sinh?

Vậy hạnh phúc chân thật là gì?

Ðức Phật dạy:

Mình là chủ nhân của chính mình, không ai khác là chủ nhân của mình.  Người khéo tự chế ngự mình, sẽ thấy được vị chủ nhân khó tìm thấy.’ (Pháp cú 160)

‘Người trí huệ giữ gìn tâm mình, vì cái tâm có nhận thức, rất tế nhị, nó chạy theo các dục. Cái tâm được khéo giữ gìn, đem lại an lạc, hạnh phúc.’  (Pháp cú 36) 

Con người chính nó là con người phải hiểu sự thật của chính mình và biết làm thế nào để đạt hạnh phúc trong hiện tại và tại đây.

Với nhận thức rằng, chỉ khi thấy rõ được chính mình, hiểu được cơ cấu của thân tâm mình, con ngưòi mới có thể tìm được ‘Hạnh phúc chân thật’ người viết đã chọn đề tài này.  Mong rằng qua tập luận văn nhỏ bé này, người đọc sẽ phần nào mở được cái nhìn mới về con người và vạn vật xung quanh, qua đó tìm được lối sống thích hợp đem đến an lạc cho thân tâm.

Vì giáo lý Ngũ uẩn rất rộng, bao gồm nhân sanh quan, vũ trụ quan và rất nhiều sự tương quan của nó, nên ở đây, người viết chỉ đề cập một số vấn đề nhằm nêu bật ý nghĩa ‘Năm uẩn là con người và thế giới’ hay ‘Con người và thế giới là một’. Mục đích nhắc con người nhớ rằng: Con người không là một thực thể thường hằng bất biến và con người không thể tách rời khỏi xã hội môi sinh.  Từ đó, mở ra một hướng mới có thể giải quyết các khủng hoảng, bất an trong cuộc sống.

Ý nghĩa trên sẽ được trình bày từ cái nhìn nhất quán của Phật giáo, qua một số Kinh, Luận thuộc tạng Nikãya và kinh tạng Ðại thừa như:

-   Tương Ưng Bộ Kinh III (HT. Thích Minh Châu dịch).

-   Bát Nhã Tâm Kinh Giảng Giải (HT. Thích Thanh Từ).

-   Tiểu Thừa Phật giáo Tư Tưởng Luận ( bản dịch của HT. Thích Quảng Ðộ)

-   Ðại Thừa Phật giáo Tư Tưởng Luận   ( bản dịch của HT. Thích Quảng Ðộ)

-   Phật Học Khái Luận (TT. Thích Chơn Thiện)

-   Luận án tiến sĩ ‘Lý Thuyết Nhân Tính Qua Kinh Tạng Pãli’ (TT. Thích Chơn Thiện)

Kết hợp với việc sưu tầm tài liệu qua thơ văn, sách báo...

Trên cơ sở đó, người viết chia đề tài thành những phần có hình thức cụ thể như sau:

Phần Dẫn Nhập được xem như Lời Nói Ðầu. 

Phần I: Giới thiệu Ngũ uẩn

1.Ðịnh nghĩa và Giải thích về Ngũ uẩn

2. Ðức Phật và những lời dạy của Ngài về nhân sanh quan, vũ trụ qua Ngũ uẩn

3. Quan niệm về Ngũ uẩn theo Kinh Tạng Ðại Thừa 

Phần II: Tu tập về Ngũ uẩn  -  Quán phá Ngũ uẩn    

1.  Ngũ uẩn vô ngã

2.  Ngũ uẩn giai không 

Phần III:     Ứng dụng sự tu tập Ngũ uẩn trong đời sống hiện tại     

1.  Y học

2.  Môi trường sống

3.  Phát triển tâm linh

Phần IV:     Nhận định và Kết luận

 1. Phật giáo: Cái nhìn trí huệ

2. Vai trò người tu sĩ trong hiện tại

Trước khi đi vào nội dung đề tài, con xin thành kính tri ân sâu sắc HT. Thích Minh Châu, Hiệu Trưởng trường CCPHVN, cùng toàn thể Ban Giám Hiệu, Văn phòng trường đã tạo điều kiện dễ dàng cho con học tập suốt 4 năm qua.  Xin được tri ân Chư Tôn túc, các vị Giáo sư đã truyền trao kiến thức cho con trong suốt thời gian con theo học tại trường.  Con kính niệm ân TT. Thích Trí Quảng, giảng sư tiến sĩ Phật học, giáo sư hướng dẫn đã tận tâm chỉ dạy trong suốt quá trình con làm luận văn. Kính niệm ân TT. Thích Chơn Thiện, giảng sư tiến sĩ Phật học, đã chỉ dạy những thâm ý khi con thực hiện đề tài này.

Con cũng xin được ghi lại đây, lòng thành kính tri ân Bổn sư Ni Trưởng thượng Như hạ Thanh cùng quý Ni sư, quý sư cô chùa Huê Lâm đã khích lệ tinh thần tu học của con trong suốt thời gian qua.  Xin được gởi lòng biết ơn đến quý Sư cô thiền viện Viên Chiếu, cùng thân phụ, thân mẫu đã góp ý, giúp cho những tư liệu, những kiến thức quý giá khi con thực hiện đề tài tự chọn.

Cuối cùng,xin tri ân tất cả quý huynh đệ, tăng ni sinh, và chư vi phật tử đã giúp đỡ con cho hoàn thành luận văn này.

Ðây là quyển luận văn đầu tay, là hoa trái đầu mùa, là thành quả của bốn năm dài học tập.  Tuy chưa đủ sức làm viên gạch dựng xây, cũng xin làm hạt cát nhỏ góp phần tô bồi tường vách Phật pháp hầu đền đáp phần nào thâm ân huấn dục.  Nếu có điều chi sơ suất, kính mong Chư vị Tôn túc, chư huynh đệ đồng học từ bi niệm thứ và chỉ chánh cho, để bước đi của con ngày càng được vững vàng hơn. 

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

 

Trường CCPH VN ngày 20-11-1996. 

Ni sinh Thích nữ như ngọc

 

 

Phần i:   giới thiệu về ngũ uẩn

Sau khi du ngoạn bốn cửa thành, tận mắt chứng kiến sự vô thường: Sanh, Già, Bịnh, Chết của con người, Thái tử Tất Ðạt Ða đã từ bỏ mọi lạc thú thế tục, quyết chí lên đường tìm ánh đạo giải thoát.  Sau khi thành đạo, bài pháp đầu tiên Thế Tôn đem đến cho loài người là bốn chân lý trong cuộc sống con người. Như vậy nguyên nhân chính làm Thế Tôn xa lìa thế tuc và lưu nhập lại thế gian là con người.  Và chúng ta dễ dàng tìm thấy bàng bạc trong kinh điển, Phật đều lấy con người làm trung tâm thuyết minh giáo lý.  Ðiều khác biệt với những tôn giáo duy tậm, duy thần xem con ngưòi là sản phẩm trong một chiều buồn củaThượng Ðế tối linh, hoặc như duy vật cho con người là kết quả của sự tiến hóa từ loài vượn người.  ÐứcPhật thì thuyết con người là do duyên sanh, hiện thân của con nguời là ngũ uẩn và môi trường của con người va chạm là thập nhị xứ, thập bát giới, Tứ Ðế...

Ðiều quan trọng nhất khiến Phật giáo trở thành một yếu tố rất cần thiết, rất phù hợp và không thể thiếu đối với con người từ xưa đến nay là toàn bộ giáo lý Phật giáo chỉ nhằm vào mục tiêu duy nhất là chấm dứt khổ đau, đem lại sự hạnh phúc cho chúng sanh. Hạnh phúc ấy không phải trong ảo vọng mà ngay chính bản thân con người.  Ðức Phật dạy:’ Này các tỳ kheo, xưa cũng như nay, ta chỉ nói lên sự khổ và sự tiêu diệt khổ mà thôi.’[3]

Từ bài pháp đâu tiên về bốn chân lý, Ðức Phật giảng ở vườn nai tại Isipatana gần Benares. Diệu đế thứ nhất với danh từ Dukkha đã trình bày quan điểm của Ðức Phật về nhân sanh và vũ trụ với một triết lý sâu sắc hàm chứa những nội dung rộng lớn.  Ðức Phật không phủ nhận có hạnh phúc trong sự sống khi Ngài bảo có khổ đau. Theo Ðức Phật, có những hình thái khác nhau về hạnh phúc vật chất lẫn tinh thần như hạnh phúc của đời ẩn sĩ, hạnh phúc của gia đình, của khoái lạc giác quan, hạnh phúc của tâm linh, hay ngay cảnh giới thuần khiết của Thiền do thức thuần tịnh sanh khởi.  Nhưng tất cả đều không thường hằng và chúng đều bao gồm trong Dukkha. ‘Cái gì vô thường là Dukkha’.[4]

Thành phần cốt lõi chúng ta cần nắm rõ thuộc khía cạnh triết lý quan trọng nhất của Diệu đế thứ nhất (Dukkha) chính là năm uẩn, chất liệu hình thành nên một ‘thực thể’ là ‘cá thể’ hay ‘cái tôi’ nhận chịu những kết quả do chính nó tạo ra.  Ðức Phật dạy ‘Tóm lại năm uẩn trói buộc là Dukkha’. Ở chỗ khác, Ngài định nghĩa rõ ràng ‘Dukkha là gì? Phải nói ràng đấy là năm uẩn [5]

Ðức Phật còn dạy:

Người nào thấy rõ được Dukkha, cũng thấy luôn nguyên nhân của Dukkha, cũng thấy luôn sự diệt Dukkha, và cũng thấy luôn con đường đưa đến sự diệt Dukha’[6]

Và như thế, giáo lý Ngũ uẩn thực sự đã diễn bày mọi đặc thù của nó qua ‘Vô Ngã tướng kinh’ (Anatta lakkhana sutta). Bài pháp thứ hai, được Ðức Phật tuyên thuyết và Giáo lý ngũ uẩn qua trí huệ viên mãn do Ðức Phật đã mở ra một cái nhìn toàn diện về  con người và thế giới, hiển nhiên bẻ gãy 62 kiến chấp của các luật gia ngoại đạo, những chấp trước sai lầm, phiến diện, què quặt do không chánh tri về con người và thế giới.

Qua phần trình bày trên, chúng ta thấy: Từ nỗi khổ đau của kiếp người gắn chặt vào sự hiện diện của con người trên cuộc đời, Ðức Phật đã nói về năm thủ uẩn, chúng ta sẽ hiểu điều này rõ hơn khi có một khái niệm về năm uẩn cấu tạo nên một cái ngã của con người.

Ðịnh nghĩa và giải thích về Ngũ Uẩn:

Theo Phật giáo, con người là một sinh thể duyên sanh bởi hai thành tố DANH và SẮC, hay vật lý và tâm lý gọi là Ngũ Uẩn (Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức). Trong ngũ uẩn, Sắc thuộc vật chất, còn Tho, Tưởng, Hành, Thức thuộc về tâm lý.

Uẩn (khandha): có nghĩa là tích tập, chức nhóm. Ý nói các pháp sắc tâm, lớn nhỏ, trước sau, tích tập mà tạo ra tự thể. Cách dịch cũ là ‘Ấm’ có nghĩa là che lấp. Ý nói các pháp sắc tâm che khuất chân lý [7].

sắc uẩn: (Rupakkhandha): Thuần túy là vật chất có hai phần:

Nội sắc uẩn: Thân con người, gồm: hình thể, lục phủ ngũ tạng . .

Ngoại sắc uẩn: Gồm những người khác và thế giới vật lý.

Theo ‘Thắng pháp tập yếu luận’ tập 2, (bản dịch của HT Minh Châu, trang 3) Sắc pháp được cấu tạo bởi bốn đại chủng: đất, nước, gió, lửa (mahabhutani) và tứ đại sở tạo sắc (upadaya rupani) là sắc do 4 đại hợp thành. Cái gì cứng là địa đại, ướt là thủy đại, nóng là hỏa đại, động là phong đại.

Sắc uẩn bao gồm tất cả thế giới vật thể, thuộc nội tâm cũng như ngoại giới’[8] Ngoài ra còn Vô biểu sắc theo Câu xá luận là sắc không chuyển động nhưng lệ thuộc vào tâm, nương vào 4 đại chủng mà có. Như khi thọ giới, lấy sắc thể thanh tịnh luôn phòng ngừa sự sai quấy của thân, khẩu, ý làm giới thể. Tướng của sắc thể đó không lộ ra ngoài nên gọi là vô biểu (vô biểu sắc gồm cả hai tính: thiện và ác)

thọ uẩn: (vedana-khandha): là sự thọ nhận, là cảm giác khi chủ thể tiếp xúc với đối tượng. Gồm có:

-   Nội thọ: Cảm thọ trong thiền định.

-   Ngoại thọ: Cảm thọ khi các căn tiếp xúc các trần (mắt thấy sắc, tai nghe tiếng..)

Câu xá luận nói: ‘Thọ lãnh nạp tùy xúc’ có nghĩa là sự lãnh nạp tùy theo cảnh của xúc .. thọ y nơi xúc mà sanh vậy’[9]  Trung Bộ Kinh I Phật dạy thọ có 3 loại: khổ, lạc, bất khổ bất lạc thọ, từ tính chất này Ðại Thừa ngũ uẩn luận chia thọ có 5: khổ, lạc, hỉ, ưu, xả. Tất cả mọi cảm giác vật lý và tâm linh của ta đều bao hàm trong thọ uẩn’ [10] (same as 2)

tưởng uẩn: (sanna-khandha) là những khả năng kinh  nghiệm, khả năng hồi tưởng và ký ức về sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp. Gồm có sắc, thọ, tưởng... thức tưởng. Câu xá luận nói: ‘Tưởng thủ tượng vi thể’, nghĩa là tưởng có công năng đối cảnh rồi chấp giữ các hình tượng sai khác. Thành duy thức luận nói: Tác nghiệp của tưởng là thi thiết các loại ngôn từ và tên gọi để xây dựng các cảnh tướng. ‘Cũng như những cảm giác (thọ), tưởng được phát sanh do sự tiếp xúc giữa 6 căn với ngoại giới. Chính những tri giác này, nhận biết sự vật là vật lý hay tâm linh’ [11]

hành uẩn: (samkhara-khandha): là khả năng tư duy, nghĩ thiện ác bao gồm mọi hoạt động xấu hay tốt của ý chí và những gì được xem là nghiệp (kamma).  Theo ‘Thế giới quan Phật giáo’ của TT. Mật Thể thì ‘Hành là sự chuyển biến của nghiệp thức’. Theo một triết gia phương Tây thì ‘Hành là ý chí muốn sống’  Ðức Phật dạy:’ Hỡi các Tỳ kheo chính ý muốn (cetana) Ta gọi là nghiệp. Khi đã muốn, người ta liền thực hành bằng thân, khẩu,ý [12] Ðại Thừa ngũ uẩn luận nói ‘Tư là chủ của hành uẩn vì nó dẫn đầu tất cả các pháp’, vì chức năng của tư là hướng ý đi vào phạm vi các hành động. Hành bao gồm sắc tư, thọ tư, . . thức tư, là sự thể hiện, hình thành các pháp hữu vi.  Cũng chính là nghiệp thiện, ác dẫn chúng sinh đi thọ thai và luân hồi sanh tử.

THỨC UẨN: (vinnana-khandha) là khả năng ghi nhận sự có mặt của các pháp qua 6 căn, là phản ứng khi có ‘căn’, làm căn bản và ‘cảnh’ làm đối tượng.  Theo Phật giáo nguyên thủy chỉ có 6 thức (nhãn, nhỉ, tỉ, thiệt, thân, ý thức) và từ ngữ tâm, ý, thức thường được dùng chung. Nhưng đến thời kỳ bộ phái và Ðại thừa Phật giáo có thêm 2 thức nữa là Mạt na và A lại Da. Lúc này nói thức là chỉ cho 6 thức đầu, ý căn chỉ cho Mạt na, còn Tâm chỉ cho A Lại Da mở ra hệ thống Duy Thức học sau này.

Thức uẩn là duyên của 4 ấm kia: Sắc, thọ, tưởng, hành, thức, còn gọi là vọng thức, đưa đến tam giới, lục đạo, sáng tạo mọi sự vật từ thân người đến những hiện tượng vũ trụ, trời đất, không gian là duyên khởi của mọi mê lầm. Thiền sư Khuê Phong nói: ‘Thức như huyễn và mộng mị, chỉ bản tâm là thực có’. Nói đến thức là nói đến huyễn hóa. Thức như trạng thái người mê ngủ mê thấy chiêm bao là thật. Trạng thái vô niệm, thanh tịnh như bầu trời quang đãng, chính là thức thứ chín của chúng sanh (bạch tịnh thức, phần tịnh của A lại da) còn Thức A lại da chính là nguyên nhân đưa đến luân hồi trong ba cõi, sáu đường. Chính trong nghĩa này mà Ðức Phật bảo: ‘Tam giới duy tâm’ và cũng trong nghĩa ấy mà Ngài nói: ‘Thức thứ tám là duyên cho tiền ngũ thức, cho hạt giống và hợp thành thế gian.  Mặc dù thức này là Bổn Tâm, ta không thể gọi là ‘Bổn tâm’ vì giấc ngủ vô minh còn trùm lên đó.’[13]

Ðức Phật và những lời dạy của Ngài về nhân sanh quan, vũ trụ quan qua ngũ uẩn.

Con người là một hợp thể đa phức ngay chính trong thế giới của con người.  Ðó là cái mà Ðức Phật gọi là ‘Căn tánh sai biệt’ Vì thế giáo lý ngũ uẩn cũng tùy theo đó có 3 thời kỳ: theo Nikãya, A tỳ đàm và Kinh Tạng Ðại Thừa với những cách khác nhau thuyết minh về vạn pháp. Như Ngài Phật Âm nói:

Trong Kinh, ngũ uẩn được thuyết minh một cách tổng hợp chứ không phân tích chi li. Nhưng trong A-tỳ-đàm thì dùng phương pháp phân biệt Kinh luận và vấn đáp để thuyết minh ngũ uẩn một cách rất chi li, thập nhị xứ, thập bát giới cho đến Tứ đế cũng thế’[14]

Tuy từ Phật giáo Nguyên thủy cho đến Phật giáo Ðại thừa có những tư tưởng khác nhau nhưng vẫn có một cái chung là đều đưa con người đến chỗ tỏ ngộ chân lý như trong các Kinh Phật vẫn thuờng dạy: giáo pháp Phật tuy nhiều nhưng đều cùng một chất liệu giải thoát như nước biển chỉ có một vị mặn. Như thế, ngũ uẩn trong luận văn này sẽ được trình bày theo hệ thống tư tưởng xuyên suốt từ sau Phật thành đạo đến thời kỳ bộ phái, Phật giáo phát triển.

Trong suốt 49 năm giáo hóa,với tâm niệm giải thoát cho muôn loài khỏi khổ đau Ðức Phật đã vân du khắp lưu vực sông Hằng, tuyên thuyết con đường ‘Như thật tri kiến’. Sau khi Ðức Phật nhập diệt, chư thánh đệ tử đứng đầu là Ngài Ca Diếp vì muốn chấn chỉnh Tăng đoàn và giữ gìn cho chánh  pháp cửu trụ đã mở ra cuộc kiết tập kinh điển lần thứ nhất sau Phật niết bàn khoảng 3 tháng. Theo truyền thống đó, đại hội kiết tập kinh điển lần hai được tổ chức sau Phật niết bàn 100 năm nhưng đều là khẩu truyền. Chư tăng chỉ hợp tụng Pháp tạng mà thôi. Mãi đến Ðại hội kiết tập Kinh điển lần ba (236 năm sau Phật niết bàn) dưới sự hổ trợ của vua A-dục (Asoka) tại thành Hoa thị (Pataliputra) Ngũ bộ Thánh điển được ghi thành văn bản Pãli trên lá bối.  Ðó là hệ thống Kinh tạng Nikãya và đến kỳ kiết tập Kinh điển lần thứ tư nửa đầu thế kỷ thứ hai Tây lịch dưới sự bảo trợ của vua Ka-nị-sắc-ca (kaniska) tại Ca-thấp-di-la (kasmir) thì hệ thống Tứ bộ A-hàm (Agama) bằng tiếng Sanskrit xuất hiện.

Trong Tương Ưng bộ kinh III và trong rất nhiều Kinh (Trường A-hàm, Tạp A-hàm... ) Ðức Phật đã giới thiệu về ngũ uẩn và cho chúng ta một nhận thức về nhân sanh quan, vũ trụ quan qua ngũ uẩn như sau:

‘Này các tỳ kheo, thế nào là năm uẩn? Phàm có sắc (thọ, tưởng, hành, thức) gì, quá khứ, hiện tại, vị lai thuộc nội hay ngoại, thô hay tế, liệt hay thắng, xa hay gần... đây được gọi là năm uẩn’ và:

-‘Này Sona sắc là thường hay vô thường? -  Vô thường, bạch Thế Tôn.

-‘Cái gì vô thường là khổ hay lạc?’ -  Là khổ, bạch Thế Tôn.

-‘Cái gì vô thường, khổ,chịu sự biến hoại có hợp lý chăng nếu quán cái ấy là:

-‘Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi?’ Thưa không, bạch Thế Tôn.

-‘Thọ, tưởng, hành, thức. . là thường hay vô thường? - Vô thường, bạch Thế Tôn.

- Do vậy, này Sona, phàm sắc, thọ, tưởng, hành, thức. . là gì? quá khứ, hiện tại, vị lai thuộc nội hay ngoại, thô hay tế, liệt hay thắng, xa hay gần tất cả cần phải như thật quán với chánh trí huệ: ‘Cái này không phải là của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải là tự ngã của tôi’[15]

Như thế ngũ uẩn cấu tạo nên con người và vũ trụ, cũng chính là pháp hữu vi không thường hằng, biến hoại và sanh diệt theo duyên. Không nhận ra điều này, con người mãi cho ngũ uẩn là thường hằng, thật có và khổ đau bắt đầu từ đây. Do đó, ngũ uẩn còn được gọi là 5 thủ uẩn.

Nguyên nhân Ðức Phật nói về 5 thủ uẩn là từ nỗi đau khổ của kiếp người gắn liền dính chặt vào sự hiện diện của con người trên cuộc đời và trong cuộc đời ‘Này các tỳ kheo, thế nào là Thánh đế về khổ? Cần phải được nói là 5 thủ uẩn tức là sắc, thọ, tưởng, hành, thức thủ uẩn. Này các tỳ kheo đây gọi là Thánh đế về khổ’[16]

Một lần ở Xá vệ, Thế Tôn đã định nghĩa 5 thủ uẩn như sau:

-   ‘Này các Tỳ kheo, phàm có sắc gì quá khứ, hiện tại, vị lai có lậu hoặc, được chấp thủ. Ðây gọi là sắc thủ uẩn (tương tự đối với thọ, tưởng, hành, thức)

Một tỳ kheo bạch Phật:

-   Bạch Thế Tôn, chấp thủ hay là 5 thủ uẩn ấy hay chấp thủ ở ngoài 5 thủ uẩn?

-   Này Tỳ kheo, chấp thủ ấy không phải là 5 thủ uẩn ấy. .  cũng không ngoài 5 thủ uẩn ấy, nhưng chỗ nào có tham dục, chỗ ấy có chấp thủ’[17]

Thiết lập nhân sanh quan trên ngũ uẩn, Ðức Phật xác nhận trở lực chính cho con người là do lầm tưởng ngũ uẩn là hiện thân, là bản thể của chính mình, từ những vọng chấp này, đau khổ phát sanh. Cái mà ta gọi là ‘linh hồn’, ‘cá thể’, hay ‘tôi’ chỉ là tên gọi cho sự nhóm họp của ngũ uẩn, chúng vô thường, hằng biến và vũ trụ luôn ở trong vòng sanh diệt từng giây, từng phút.

‘Hỡi những người Bà-La-Môn, nó giống như một giòng thác đổ, chảy mau, trôi xa, mang theo nó và mọi vật, không có lúc nào, phút nào nó ngừng chảy và cứ tiếp tục chảy mãi, trôi mãi.  Hỡi những người ẩn sĩ, đời người cũng thế, giống như một giòng thác’ và Ðức Phật lại dạy ‘Vũ trụ là giòng tương tục vô thường’[18].

Phủ nhận cái thường trụ bất biến, Ðức Phật đã tuyên bố một sự thật về cuộc đời:

‘Này các tỳ kheo, sắc đã được cái vô ngã làm cho sanh khởi, từ đâu là ngã được. Sắc đã được cái vô thường làm cho sanh khởi, từ đâu là thường được. Sắc đã được cái khổ làm cho sanh khởi, từ đâu là lạc được. Tương tự như thế với thọ, tưởng, hành,thức’[19]

Thế thì nguyên nhân tạo thành con người và vạn vật hiện hữu chỉ là một chuỗi nhân duyên trùng trùng tiếp nối, chúng tồn tại và hủy diệt tùy theo chủng loại và điều kiện các duyên phụ trợ khác.  Ðức Phật dạy:

‘Này các tỳ kheo, ví như con sông Hằng mang theo nhiều chùm bọt lớn, một người có mắt sáng sẽ nhìn chùm bọt nước ấy, quan sát. . và nhìn tận bản chất nó.. người ấy sẽ thấy chùm bọt nước ấy là rỗng không, sẽ nhìn thấy nó là không có bản chất.. là vô ngã.  Làm sao này các tỳ kheo, lại có thể có ngã tính trong chùm bọt nước ấy.. Tương tự như thế với bọt nước trong mưa thu, ảo ảnh trong ngày nắng, mà người ta thấy, được ví với thọ, tưởng, hành, thức, uẩn.

Nếu một người thấy rõ sự thật ấy, người ấy sẽ nhàm chán ngũ uẩn.  Do sự từ bỏ ấy, người ấy được giải thoát, đạt đến trí tuệ giải thoát và biết rằng: Mình giải thoát’ [20]

Những lời dạu của Ðức Phật được kiết tập trong Kinh Tạng Pãli như trên đã phần nào giới thiệu sự sanh khởi và sự chấm dứt 5 thủ uẩn. Ðó chính là chân hạnh phúc hay sự chấm dứt khổ đau, và vấn đề cần thiết để chúng ta kiếm tìm sự thật về con người và vũ trụ là thể nhận rõ ràng 5 thủ uẩn và sự vận hành của chúng. 

Quan niệm về Ngũ Uẩn theo Kinh Tạng Ðại Thừa 

Khởi nguyên tư tưuởng Phật giáo Ðại thừa đã có từ khi Ðức Phật còn tại thế, nhưng đến thời kỳ kiết tập Kinh Ðiển lần thứ ba và thứ tư, khi Kinh Tạng Nikãya và A-hàm được hìnhthành trên văn bản thì tư tưởng Ðại thừa Phật giáo mới dần dần hiện rõ.

Trong Kinh Pháp Ấn của Tạp A Hàm, Ðức Phật dạy:

‘Này các tỳ kheo, nếu có người tu hành nào đi vào trong núi rừng, nơi gốc cây hoặc chỗ vắng vẻ yên tĩnh, đúng như thật mà quan sát như sau: Năm thủ uẩn là khổ, không, vô thường, vô ngã nên sanh tâm nhàm chán.. xa lìa.. rồi trú nơi thấy biết bình đẳng. Này các Tỳ kheo, các uẩn vốn không, chỉ do tâm tạo, khi tâm sanh thì các uẩn sanh, khi tâm diệt thì các uẩn không còn hoạt động gì nữa. Biết đúng như vậy tức là: chánh giải thoát.. xa lìa mọi sự thấy biết vọng tưởng. Ðó là cửa giải thoát KHÔNG.’[21]

Chính trên cơ sở ngũ uẩn là vô thường, vô ngã này của Kinh Tạng Nikãya và A Hàm mà tư tưởng ‘Ngũ uẩn giai không’ trong kinh Bát Nhã (Ðại thừa) được hình thành. Tư tưởng KHÔNG trong kinh Bát Nhã chính là tự tánh của ngũ uẩn cũng như vạn pháp, nó vượt khỏi quan niệm tư duy, lý luận hẹp hòi của con người.

Ðại thừa Phật giáo với tinh thần triển khai sức sống của cội nguồn Nguyên Thủy đã nhìn sự vật hiện hữu với ‘Như thật tri kiến’, thành tựu nhãn quan đối với sự vật ngay từ trong bản thể của nó và từ đó có thể tùy duyên vận dụng giáo lý cho phù hợp với từng thời đại. Ðó là nét đặc thù của hệ thống Kinh điển Ðại thừa, tiêu biểu nhất là kinh Bát Nhã.

Giáo lý Bát Nhã tuy nhiều nhưng không ngoài việc giải thích một chữ KHÔNG. Phần tinh yếu của Kinh Bát Nhã biểu trưng cho trí huệ ‘Ðệ Nhất Nghĩa Ðế’ tức trí huệ quán thấy bản thể KHÔNG của vạn pháp đạt đến chỗ tâm, cảnh tự tại. Chúng ta sẽ đi sâu vào vấn đề này trong phần ‘Ngũ uẩn giai không’ của Bát Nhã Tâm Kinh ở phần sau.

Từ thể Chơn không của Kinh Bát Nhã, kinh Hoa Nghiêm đã dần dần khai triển giáo lý ngũ uẩn về phương diện ‘Diệu hữu’, pháp hiện hữu tùy duyên, tức pháp thân thường trú của con người mà Kinh Lăng già gọi là Như Lai Tạng.

Theo tinh thần Kinh Hoa Nghiêm, ngũ uẩn được gọi là pháp thế gian, khi chuyển được ngũ uẩn hữu lậu (phiền não) thành Ngũ uẩn vô lậu thì gọi là pháp xuất thế gian.  Ðức Phật dạy: ‘Những gì là pháp thế gian? Chính là Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức. Những gì là pháp xuất thế gian? Chính là Giới, Ðịnh, Huệ, Giải thoát, Giải thoát tri kiến’[22]

Pháp thế gian không sanh không diệt, gọi là Pháp thân thường trú, nên Ngũ uẩn vô lậu cũng được gọi là Ngũ uẩn pháp thân.  Pháp thân ấy chính là Chơn tâm.  Tâm con người có thể trùm khắp vũ trụ không bị giới hạn bởi bất cứ vật thể gì vì nó vốn không hình tướng. Lập trường Kinh Hoa Nghiêm chú trọng về tâm và duy tâm.  Trong hai phần Sắc và Tâm cấu tạo nên con người thì tâm là phần rất quan trọng. Chính tâm này vẽ ra ngũ uẩn và các pháp thế gian. Trong Kinh Hoa Nghiêm, Ðức Phật dạy:

‘Tâm như công họa sư

Họa chủng chủng ngũ uẩn

Nhất thiết thế giới trung

Vô pháp nhi bất tạo’. 

(Tâm như người thợ vẽ, vẽ các thứ ngũ uẩn, các pháp trong thế giới, không pháp nào chẳng tạo.)

Hay:

Thân thể tài sản và nhà cửa

Những thứ này chỉ là cái bóng của tâm

Những người ngu không thể hiểu được nó

Bị đẩy vào trong sự tạo lý thuyết và trong tranh luận

Nhưng những gì họ thiết lập chỉ là do tâm tạo

Và ngoài tâm thì không có gì tồn tại’

Trong Kinh Lăng Nghiêm Ðức Phật cũng dạy rằng:

‘Này A-na, ông chưa hiểu cái tướng trần huyễn hóa đó là từ nơi tâm sanh ra, cũng từ nơi tâm mà diệt đi. Cái tướng nó thì huyễn vọng, nhưng tánh nó là Chơn thường .. sanh diệt, khứ lai đều gốc ở nơi Chơn tâm thường trú.’

Như vậy sự sanh diệt của năm uẩn cũng như các pháp đều do tâm còn bản thể năm uẩn vốn không. Biết vậy nên không chấp trước, do đó không bị năm uẩn trói buộc. Ngộ được lý này là thành tựu Pháp thân thường trú. Chính trong vô thường này có cái chơn thường. Tuệ tri được lời Phật dạy, thì thân ngũ uẩn sẽ trở thành một phương tiện thiện xảo cho sự nghiệp tu hành và cải tạo xã hội’

Từ bình diện ‘Diệu Hữu’ của Kinh Hoa Nghiêm, Kinh Duy Ma và kinh Pháp Hoa đã ứng dụng Pháp thân thường trú đi vào cuộc đời, tùy duyên hóa độ chúng sanh. Hướng dẫn chúng sanh tu tập Giới, Ðịnh, Huệ gạn lọc tâm trí, từng bước cải tạo thân ngũ uẩn hữu lậu thành ngũ uẩn vô lậu hay Ngũ phần pháp thân (Giới, định, huệ, giải thoát, giải thoát tri kiến) như hoa sen tỏa hương thơm ngát trong bùn lầy. Từ điểm này, tiến đến chỗ cứu cánh do Ðức Phật khai thị, Pháp thân ấy chính là Phật, là bản thể của năm uẩn và các pháp. Do đó Như Lai nói diệt độ chỉ là diệt thân ngũ uẩn giả hợp nhưng pháp thân Ngài vẫn thường trụ mãi: ‘Nhục thân tuy mất, Pháp thân còn’ . Cũng theo Kinh Pháp Hoa:

‘Khi Ðức Phật chưa thành đạo, Ngài mặc áo nghiệp như chúng sanh. Nhưng sau khi tu tập thành đạo, Ngài đã kết thành ‘Áo Như Lai’ là chiếc y vô hình phủ lên Ngài. Từ đó..  việc làm thánh thiện của Ngài hoàn toàn siêu tuyệt. Các đại đệ tử cảm nhận được Ðức Phật cởi bỏ chuỗi anh lạc, nghĩa là rời bỏ cõi thanh tịnh, mang thân phàm phu, mặc vào áo thô rách là áo ngũ ấm và từ ngũ ấm thân này chuyển thành Phật thân hay mặc áo Như Lai’[23]

Áo Như Lai’ là áo nhu hòa nhẫn nhục mà chư Phật Bồ Tát dùng để thuyết pháp độ sanh. Còn hành giả Pháp Hoa nương vào áo Như Lai để tu tập nhằm đạt đến chỗ nhận ra Ðức Phật thường trú và sống với Ðức Phật thường trú. Ðó cũng chính là chất Phật mà mỗi chúng ta đều có.

‘Ngũ uẩn pháp thân’ hay ‘Pháp thân thường trú’ bàng bạc trong các kinh điển Ðại Thừa với những tên gọi khác nhau như: Chơn như, Phật tánh, Bồ Ðề, Niết Bàn. . Tất cả đều là biểu hiện của toàn cõi pháp giới. Vì thế giới này không vật nào không có mối tương quan với nhau, không vật nào không do nhân duyên hòa hợp, đan dệt với nhau mà được tạo thành. Do đó, thấy được Pháp thân có nghĩa là thấy con người và thế giới là một, trong một vật nhỏ nhiệm như hạt bụi, mầm lá xanh.. cũng chứa cả sơn hà đại địa.

Cái nhìn này không có gì xa lạ,vấn đề là ngay trong hiện tại chúng ta cần tu tập để đạt được trạng thái an lạc thường hằng. Nghĩa là phải thường xuyên dùng trí huệ Bát Nhã nhận chân được thực tướng của năm uẩn, quán chiếu sự vận hành chuyển biến của các pháp và những mối tương quan, tương duyên của chúng. Nhờ đó có thể hành động đúng đắn đem đến hòa bình an lạc cho thế giới chúng ta hiện nay.

---> Xem phần tiếp theo


[1] Triết học Mác-Lê Nin, Bộ Giáo dục đào tạo, NXBGD, 1994, tr.110.

[2] Kindred Saying, vol III, PTS London, 1992, p.18.

[3] Kinh Ví dụ con rắn-Trung bộ I Ðại Tạng Kinh VN Ap2, 1993, tr. 318

[4] Tương ưng bộ III-HT Minh Châu dịch-Ðại Tạng Việt Nam, 1993, tr. 47

[5] Tương ưng bộ III, sách đã dẫn, tr. 46

[6] Tương ưng bộ IV, sách đã dẫn, tr. 635

[7] Từ điển HánViệt, Phân viện nghiên cứu PH-1992, tr. 1804

[8] Con Ðường Thoát Khổ, TKN, Trí Hải dịch, ÐHVH, 1996, tr. 40

[9] Ðại cương Câu Xá Luận, HT Thiện Siêu, VNC PHVN, 1992, tr. 67

[10] Con Ðường Thoát Khổ, sách đã dẩn,  tr. 40

[11] Con Ðường Thoát Khổ, sách đã dẫn, tr. 40

[12] Con Ðường Thoát Khổ, sách đã dẫn, tr. 40

[13] Trích tuyển Pháp ngữ của thiền sư Pháp Nhãn, Thuần Bạch dịch, BGN số 69, 1993

[14] Tiểu thừa Phật giáo Tư tưởng luận, HT. Quảng Ðộ dịch, Tu thư ÐHVN, 1969 tr.21

[15] Tương Ưng bộ III, Ðại Tạng Kinh VN Ap3, 1993, tr. 95. 96

[16] Tương Ưng bộ V, 1993, tr. 618

[17] Tương Ưng bộ III, sách đã dẫn, tr. 93

[18] Con Ðường Thoát Khổ, sách đã dẫn, tr. 46

[19] Tương ưng bộ, sách đã dẫn , tr. 49, 51

[20] Lý thuyết nhân tính qua Kinh tạng Pãli, TT Chơn Thiện, Tr 107,108

[21] Tạp A Hàm, Kinh Pháp Ấn số 80, viện NHNT, bản đánh máy

[22] Trí độ luận I, Tuệ Sỹ dịch, tr. 111

[23] Lược giải kinh Pháp Hoa, TT Trí Quảng, THPG TPHCM, 1991, tr. 151

 

---o0o---


[ Mục lục và phần 1] [ Phần 2] [ Phần 3] [ Phần 4]

 

---o0o---
Vi tính: Tâm Diệu

Trình bày: Nhị Tường
Cập nhật: 01-05-2004

 


Webmaster:quangduc@quangduc.com

Trở về Thư Mục PG & Xã Hội

Đầu trang

 

Biên tập nội dung: Tỳ Kheo Thích Nguyên Tạng
Xin gởi bài mới và ý kiến đóng góp cho Trang Nhà qua địa chỉ: quangduc@tpg.com.au
Địa chỉ gởi thư: Tu Viện Quảng Đức, 105 Lynch Road, Fawkner, Vic. 3060. Tel: 61. 03. 9357 3544