Trang tiếng Việt

 Trang Nhà Quảng Đức

Trang tiếng Anh

Phật giáo & Xã Hội


...... ... .

 

 

QUÁN XÉT
NHÂN DUYÊN ĐỜI SỐNG

THÍCH TOÀN CHÂU
( Biên soạn  2006)

 

 

         PHẦN MỘT: NGUYÊN LÝ VỚI HIỆN TƯỢNG ĐỜI SỐNG

  

          CHƯƠNG MỘT:   NHỮNG NHẬN THỨC CƠ BẢN

Nói tới đời sống, không ai trong chúng ta nông cạn mà cho rằng, đời sống chỉ có tinh thần, hay đời sống chỉ có vật chất. Bởi trong mỗi hữu tình chúng sanh đầy đủ cả yếu tố tinh thần và đầy đủ cả mọi yếu tố vật chất. Trong con người (nói riêng) có đủ mọi yếu tố của trời, đất, vũ trụ, Phật và chúng sanh. Cho nên con người có khả năng chọn và mở một hướng đi cho mình, một lẽ sống cho mình, mà không cần phải trách trời đất quỷ thần, hay đổ lỗi cho bất cứ ai. Đạo Nho nói : “Quân tử bất oán thiên, bất vưu nhơn”. Đạo Phật nói: “Mọi cuộc sống thế nào đều do chính mình đã gây tạo”.

Nhưng tại sao chúng ta phải cứ mãi bận tâm tới đời sống?

_ Vì đời sống là tất cả, không có đời sống thì không có tất cả. Hơn nữa, đời sống của mỗi chúng ta cũng không phải chỉ có trong hiện tại hay trong một đời kiếp nầy, mà đã có trong quá khứ và có suốt tận vị lai, chỉ có thay hình đổi dạng, sanh tử tử sanh luôn nối tiếp nhau. Trong đó, chủ động là tâm thức, tâm thức định hướng đời sống. Theo các bậc đạt ngộ thấy thì, tâm thức chúng sanh còn đồng nghĩa với nghiệp lực, bởi tâm thức chúng sanh luôn mang theo mê muội và tập nhiễm. Nếu tâm thức hay tinh thần mê muội, không sáng sạch (chưa được vô nhiễm) thì nghiệp lực của tâm thức (hay nghiệp cảm) hoàn toàn chủ động trong việc tác thành đời sống. Và chính vì lẽ nầy mà ta cần phải có một tinh thần nhận thức sáng suốt về đời sống. Nhận thức đóng vai trò chủ đạo trong mọi định hướng đời sống. Nhận thức đổi thay thì định hướng đời sống cũng theo đó mà đổi thay. Phật học gọi đó là CHUYỂN. Muốn chuyển đời sống, phải chuyển nghiệp; muốn chuyển nghiệp, phải chuyển tri kiến hay nhận thức. Cho nên chuyển nhận thức, hay khai sáng tri kiến, là điều cần thiết nhất của sự chuyển hóa đời sống.

Đời sống đều bình đẳng có, dù có theo nghiệp duyên hay có theo hạnh nguyện khác nhau thế nào. Nhận thức và nhân duyên thọ nhận đời sống cũng đều bình đẳng trước trời đất. Nhưng cũng đều có sự khác nhau và có sự đồng nhau. Nói theo Phật giáo, có Biệt nghiệp và có Cộng nghiệp; Trong Biệt nghiệp lại có Cộng nghiệp, và trong Cộng nghiệp lại có Biệt nghiệp (cộng trung bất cộng, bất công trung cộng).

 

MỤC MỘT : NHẬN THỨC ĐỊNH HƯỚNG ĐỜI SỐNG

Vậy điều quan trọng mà chúng tôi muốn nói ở đây là sự nhận thức, là khả năng nhận thức. Hay là khả năng nhận thức đã bị hạn chế trước các định kiến ? Hay đã tê liệt bởi những dục vọng ?

 Nhận thức không những là mở cửa đời sống, định hướng đời sống, mà còn là nhân duyên của đời sống. Nhận thức không phải chỉ lợi hại trong một đời kiếp nầy, mà còn lợi hại tới cả những đời kiếp sau của mỗi chúng ta. Bởi từ nhận thức thế nào đó, mà có tác nghiệp thế nào đó và đưa đến đời sống thế nào đó.

 

MỤC HAI:  PHẬT PHÁP ĐỐI VỚI NHẬN THỨC

Cái nhận thức của người học Phật là cần nhận thức bằng Tri kiến Giác ngộ, bởi chỉ có Tri kiến Giác ngộ mới có khả năng chuyển đổi, loại bỏ được những kiến thức mê vọng của chúng sanh, nguyên nhân của mọi đau khổ. Nhận thức của chúng sanh luôn mang theo vô minh phiền não; Tâm tư tà kiến xấu ác càng làm cho nghiệp thức thêm mê muội, tức tạo thêm gánh nặng cho nghiệp thức, cho tâm tánh. Vô minh phiền não với nghiệp thức nặng nhẹ thế nào cũng tùy duyên, tức tùy thuộc nhiều điều kiện ở ngoại tại đã tác động và gây ảnh hưởng thế nào đó, qua luật tương quan tương duyên của nó. Bởi mang sẵn vô minh phiền não nên dễ ích kỷ hẹp hòi, dễ trở nên tà kiến độc ác. Nếu không nhờ Phật pháp soi sáng chỉ rõ chánh tà mê ngộ thì phần tri kiến hay nhận thức đó khó biết tự kiểm chứng và soi sáng lại chính mình, khó biết tự tẩy rửa, tự loại trừ những tâm niệm hẹp hòi ích kỷ, và từ đó có thể trở nên xấu ác; khó thấy và khó tin chính tâm niệm của mình, chính hành vi tạo tác của mình tốt xấu thiện ác chánh tà trí ngu thế nào, là những cái nhân tác thành đời sống sướng khổ tốt xấu khác nhau.

Cho nên Phật Pháp cứu độ chúng sanh, chuyển hóa chúng sanh, chính là cứu độ và chuyển hóa phần tinh thần tâm thức đó, khai mở chỉ bày cái Tri Kiến Phật cho chúng sanh. Phải thấy, phải tin và phải dụng được cái Tri Kiến Phật vốn sẵn của mình, mới tự tẩy rửa loại trừ được vô minh phiền não, là những thứ tác hại chính cho đời sống của mình, đánh mất mọi an vui tốt đẹp của đời sống.

 

MỤC BA: TỘI LỖI CỦA XẤU ÁC DO MÊ MUỘI

Anh chàng Vô Não (Ahimsaka/Angulimala) đến cầu học pháp thần thông với nhà ngoại đạo Sàn Xà Đề. Chàng Vô Não vốn là một học viên thông minh xuất chúng, nên bị bạn cùng lớp ganh ghét và họ đã bày ra mưu kế để hảm hại chàng, bằng cách vu oan rằng chàng có tình ý với bà vợ của ông Thầy. Lúc mới nghe tin này, vị Thầy không tin, nhưng câu chuyện cứ được nói đi nói lại mãi, nên ông Sàn Đề nghĩ chắc đúng, nên ông quay trở lại trừng phạt người học trò của mình.

Ngày hôm sau, chàng Vô Não tới tìm Thầy mình để học như thường lệ. Ông Sàn Đề đã ra tay trừng phạt người học trò hết sức độc ác, ông muốn cho thằng nầy mắc bẫy luật pháp, bên ngoài tỏ vẻ trìu mến bảo: Giờ con muốn mau đắc pháp Thần thông không? Chàng Vô Não nghe thế rất mừng, thưa thầy con rất muốn mau đạt pháp Thần thông, xin Thầy truyền dạy cho con.

Nầy con, đứa học trò thương mến của Ta, con muốn mau đạt pháp Thần thông thì thực hiện ngay việc nầy xong, Ta sẽ truyền pháp Thần thông cho con ngay. Con hãy tìm giết cho được một ngàn người và chặt ngón tay cái xâu lại mang về đây là Thầy sẽ trao pháp thần thông cho con.

Do nghe theo tà sư, trong vài ngày anh chàng Vô Não đã giết được chín trăm chín mươi chín người, không tìm đâu ra người thứ một ngàn để giết, bởi ai nấy nghe hung tin đều trốn hết, và hung tin ấy cũng đã đến tai quan quyền, Vua chúa, đã có lệnh truy nã nhưng chưa bắt được hung thủ. Anh ta nghĩ chỉ còn bà Mẹ mình không chạy trốn, ta về giết Mẹ là mau nhất. Trên đường về từ đàng xa, vừa thấy Mẹ, anh ta tiến tới tin chắc sẽ giết được Mẹ mình, thì Đức Phật với Tâm Bi mẫn liền xuất hiện ngay trước anh ta, gần hơn bà Mẹ của anh. Do đó anh ta bỏ ý định giết Mẹ mình, tiến tới giết Đức Phật. Nhưng lạ thay với sức tráng niên khoẻ mạnh nhất của mình, anh ta vẫn không tài nào chạy tới gần sát hơn Đức Phật để giết, dù thấy Phật chỉ đi chậm rãi. Tới lúc mệt lã, anh ta la lên, nầy ông Sa môn Cồ Đàm, ông hãy đứng lại, tôi không giết ông nữa đâu!

Nầy Vô Não ! Trên đường tội lỗi Ta đã dừng lại từ lâu rồi, chỉ tại ngươi chưa chịu dừng lại mà thôi, nên không cách nào đuổi kịp ta, dù ta chẳng hề chạy trốn ngươi.

Câu nói đó của Đức Phật, anh ta có phần tỉnh ngộ, nhưng chưa bỏ ý định giết Phật, để lấy cho đủ số ngón tay đem về dâng Thầy cầu đắc pháp Thần thông. Anh ta bèn nghĩ , với sức mạnh của mình thừa khả năng để giết ông Sa môn nầy; Hay hơn hết là mình hãy chứng tỏ mình sẽ không giết ông ta nữa, liền quăng bỏ dao xuống và nói: Nầy ông Sa môn Cù Đàm, tôi đã liệng bỏ dao rồi, sao ông không đứng hẳn lại?  Đức Phật trả lời: Nầy Vô Não, điều ta muốn là ngươi hãy buông bỏ con dao trong tâm của ngươi, chớ  không phải cây dao trên tay.

Lời khai thị lần thứ hai nầy của Đức Phật, anh chàng Vô Não thực sự tỉnh ngộ và tự hổ thẹn hối hận, quỳ xuống sám hối xin Phật thâu nhận làm đệ tử  xuất gia theo Phật, và được Đức Phật chấp nhận ngay .

Mấy tuần sau, trong lúc quan quyền truy nã thì tìm thấy chàng Vô Não, một hung thủ giết người ghê gớm, đã cạo bỏ râu tóc khoác áo Cà sa ngồi giữa chúng hội đệ tử xuất gia của Phật. Họ không dám tự ý bắt hung thủ nữa, mà phải trình lên quan phủ, quan phủ phải trình lên xin phán chỉ của nhà Vua. Vua nghe sự kiện một chàng thanh niên giết người ghê rợn, nay tỉnh ngộ hối cải mau như thế, lại xuất gia ngồi trong chúng đức Tăng đoàn của Phật. Vua phán:  Lạ thay! Vậy là đã được Đức Phật cảm hóa và  xá tội cho nó rồi, đã được xuất gia làm Tăng; Đức Ta lớn bao nhiêu mà dám làm trái ý động lòng Phật! Thôi, đặc biệt miễn tội cho kẻ còn duyên phước đó.

 

MỤC BỐN: TU, MỘT TIẾN TRÌNH CHUYỂN HÓA

Qua câu chuyện trên để chứng minh: Chuyển tri kiến, chuyển nhận thức, là điều cần thiết nhất. Ba tạng Kinh Luật Luận của Phật giáo, trước hết cũng nhắm chuyển tri kiến , chuyển tâm tư nhận thức. Phật chỉ bày (khai thị) cho chúng sanh thấy cái giá trị Tri Kiến Phật vốn sẵn của mình, mà tự chuyển hóa nhận thức, đưa đến chuyển hóa lẽ sống, để có thể đủ khả năng ngộ nhập Tri Kiến Phật. Trên lộ trình chuyển đổi nhận thức, thì cũng là tiến trình chuyển đổi đời sống.

Nhưng tiến trình chuyển đổi từ tâm mê vọng đầy vô minh phiền não của chúng sanh phàm phu, mà trở nên Hiền Thánh, Phật Bồ Tát, không phải là ngắn ngủi dễ dàng, chỉ trừ một số ít trường hợp nhân duyên đặc biệt với căn tánh đặc biệt. Bởi mỗi mỗi còn phải được thể hiện qua hạnh nguyện, qua đời sống, qua sự trang nghiêm tới đâu của Chánh Báo và cả Y Báo, qua khả năng Diệu Dụng của Chánh Báo đã tu sửa, đã chuyển hóa, cũng như đã loại bỏ, đoạn trừ, mà Trí Huệ Đức Tướng Như Lai đủ duyên bừng dậy. Cái khó nhất của sự chuyển hóa đời sống chúng sanh ở chỗ là, khó loại bỏ mọi tập tánh ( tâm niệm) tạp nhiễm mê vọng. Bởi luôn sống trong tạp nhiễm và sử dụng tạp nhiễm, nên không thể loại bỏ tạp nhiễm. Vì vậy, cần sử dụng Chánh Pháp làm nhân duyên tốt lành cho đời sống, với ý thức tinh thần lập chí nguyện kiên vững, mới có khả năng tiến đến đời sống hoàn mỹ như ý. Mà rõ ràng nhất là, nếu sống chết chưa thanh thoát tự tại, thì dù gì gì chăng nữa, vẫn không được gọi là có một đời sống hoàn mỹ như ý. Bởi biểu nghiệp luôn luôn đi đôi với đời sống.

Truyền thống của những nhà tu hành theo Phật, là truyền thống Giác Ngộ và Giải Thoát ngay hiện đời. Hầu hết các vị Thiền sư đều xả bỏ thân mạng mình rất tự tại, biểu hiện sự thanh thoát và an lạc trong lúc sắp chết, tức biểu hiện tinh thần vô nhiễm đối với vạn pháp, không bị cận tử nghiệp hành hạ thân tâm, nên mới được gọi là Tịch Diệt, tức đã diệt hết phiền não ác nghiệp, mà an nhiên trở về với trạng thái sáng sạch vắng lặng của Tâm Thể, đó là biểu hiện sự “ Tịch Diệt Vi Lạc”, là Niết Bàn, là Tự Tánh Thanh Tịnh Niết Bàn, là Hữu Dư Y và Vô Dư Y Niết Bàn.

Để đạt đến chỗ hoàn mỹ của đời sống, là phàm phu chúng sanh, chưa có Thánh Trí Giải Thoát, chúng ta phải làm từ đầu trên sự hướng thiện, xả tà quy Chánh, giải mê khai Ngộ. Phải nhận rõ đời sống với mọi sắc thái của đời sống ngay nơi bản thân ta, ngay nơi mọi biểu nghiệp của ta. Đời sống gắn liền với nghiệp. Muốn có đời sống tốt lành, thì phải xây dựng đời sống bằng nghiệp tốt lành. Đó là chân lý. Cho nên muốn mở mang, cải tiến và chuyển hóa đời sống, trước hết phải mở mang, cải tiến và chuyển hóa nhận thức, không bị những định kiến cực đoan, hay các giáo điều bóp nghẹt. Tư duy và nhận thức của ta, tri kiến của ta, là chủ nhân ông định hướng đời sống của ta. Bao giờ ta an lạc và giải thoát trước nhận thức của Ta, bấy giờ Ta sẽ có An lạc và Giải thoát trước mọi đời sống. Nói cách khác, bao giờ Ta không đau khổ bởi nhận thức, bởi tri kiến và tạo tác của Ta, thì bấy giờ Ta sẽ có An lạc trước mọi kiếp sống của Ta. Điều nầy tìm thấy trong Chánh Pháp của Đức Phật. Và đó là chủ đích của người muốn viết loạt bài nầy.

 

Từ xưa đến nay, mọi tư duy đều phát xuất từ đời sống và vì đời sống. Các tôn giáo xuất hiện cũng nhằm hướng dẫn đời sống đạt đến An lạc, giải tỏa những ưu tư về đời sống, lý giải những nguyên nhân, sự hình thành và chung cùng của đời sống. Nhưng có Chánh tà, mê Ngộ, phàm Thánh khác nhau.

 

        MỤC NĂM: ĐỜI SỐNG ĐỨNG TRƯỚC THỜI ĐẠI KHOA HỌC

Nhìn vào đời sống hiện tại, ai nấy đều thấy rõ là đời sống văn minh tiến bộ tiện nghi và sung sướng nhất đối với đa số người trong sinh hoạt xã hội. Có khả năng rút ngắn thời gian của mọi công việc, mà thành quả cũng vượt mức hơn. Do đó có thể gia tăng được thời gian An vui Hạnh phúc, hay dễ làm thêm những việc hữu ích như ý, gia tăng sản phẩm để đáp ứng mọi nhu cầu của đời sống trong thời đại nạn nhân mãn này. Tuy nhiên, HOẶC, NGHIỆP, KHỔ vẫn là thật tế của kiếp chúng sanh không thể chạy trốn, và thực tế đó chẳng ai thay thế cho ai được, chỉ trừ những người am hiểu và tin dùng được Pháp Phật mà tự trừ HOẶC giải NGHIỆP của mình, tiến lên Thánh vị Giải thoát.

Chữ HOẶC, tức là chỉ cho Vô minh lầm loạn, và phiền não được tiếp tục sanh khởi từ đó.

 Có đời sống là có nghiệp, nghiệp có mặt trong đời sống. Nghiệp là những biểu hiện của đời sống. Mà động cơ tạo nghiệp chính là tâm thức, là Tập Đế tại (ở nơi) tâm thức. Từ tâm thức hiện hành và tác động thế nào đó, mà nghiệp được biểu hiện thế nào đó trước đời sống: Là Thiện hay là ác, là Chánh hay là tà, là Trí hay là ngu,v.v…

Phàm phu chúng sanh, chưa có Chánh Kiến, chỉ biết nhìn ở sắc thái của đời sống và chỉ biết lo cho những sắc thái hiện tại của đời sống, tức là lo phần quả của đời sống, mà không biết lo soi sáng và chuyển hóa tâm thức mình.

Điều cần yếu nhất của người Tu học Phật là dùng Pháp Phật để tự soi sáng tâm thức, thấy rõ tâm thức, mới đủ nhân tố chuyển hóa tâm thức, tức chuyển hóa đời sống: ly khổ đắc lạc. Còn nếu cứ để phiền não sanh khởi,Vô minh hiện hành, thì khó tránh khỏi tác nghiệp bất thiện. Đã sống trong Vô minh phiền não, cộng với những nghiệp bất thiện thì có quả của nó là khổ. Bấy giờ khổ trở thành một thực tế của đời sống chúng sanh, không ai tài nào giải quyết được, chỉ có giải quyết tạm thời bằng cung ứng đầy đủ mọi vật chất mọi tiện lợi cần có cho đời sống.

Vậy muốn thoát khổ thì điều căn cốt là phải thoát khỏi tình trạng mê lầm của nhận thức, của tâm trí mê vọng, từ đó mới có khả năng dứt trừ các phiền não (tham, sân, si, mạn, nghi, ác kiến…) và từ bỏ ác nghiệp.

  Những nhà khoa học, hầu hết đều nhắm vào sự phát triển vật chất để phụng sự đời sống vật chất, phương tiện hóa vật chất, nâng cao đời sống vật chất đến chỗ tiện lợi và tinh vi nhất. Nhưng, mọi lý giải  về hiện tượng sanh diệt biến động, chỉ đơn thuần theo tính Vật lý học, nên gặp nhiều trường hợp sai lầm và bế tắc, không thể biện chứng bằng lăng kính vật lý. Nói theo Phật học thì: Nếu không tin ở giá trị tinh thần Tâm linh Giác tánh, không tin tâm là Bản Thể của mọi hiện tượng biến động sanh diệt thì đó đều là hạng Duy vật đoạn kiến. Tức dù có khả năng phân tích lý giải hiện tượng sanh diệt của vật chất, mà chẳng thấy chẳng hiểu gì về hiện tượng và Bản thể của TÂM. Chẳng tin chẳng thấy TÂM NĂNG SANH VẠN PHÁP. Cho nên những nhà khoa học nào không tin năng lực của tâm, không tin nghiệp lực ở tại tâm chi phối đời sống và không biết sống với Tâm linh Giác tánh, tức Trí mà chưa có đạt Định Huệ Giải Thoát tương ưng, thì vẫn chưa có Chánh Tri Kiến đối với đời sống bản thân chúng sanh, và như vậy, không có cơ để có thể thấu triệt căn nguyên của vũ trụ vạn hữu, chẳng thể biết những gì là Hữu thỉ Hữu chung, những gì là Vô thỉ Vô chung. Hoặc có thể biết phần nào pháp Hữu thỉ Hữu chung, chứ không biết pháp Vô thỉ Vô chung, khi mà chưa hiểu chưa tin và chưa sống với Tâm linh Giác tánh của mình, chưa biết tôn trọng tánh linh kẻ khác, chưa tránh nghiệp sát hại chúng sanh, dù trực tiếp hay gián tiếp, thì dù có Trí tuệ Tài năng bằng mấy, vẫn không thoát quả báo của ác nghiệp; Chưa kể hầu hết chỉ biết chấp vào hiện tượng sanh diệt, mà chẳng biết gì Bản Thể bất sanh diệt. Ở giữa Bản Thể bất sanh diệt, mà chỉ biết có hiện tượng sanh diệt, lấy hiện tượng sanh diệt làm pháp trọng yếu đệ nhất của đời sống, tức tự tách ly hiện tượng sanh diệt ra ngoài Bản Thể bất sanh diệt. Bị trú trước (bám chặt)  vào hiện tượng sanh diệt; mà bỏ mất, không biết Thật Tướng bất sanh diệt chẳng lìa hiện tượng sanh diệt. Cho nên mắt của những nhà khoa học thuần vật lý, chưa phải là Huệ nhãn, càng chưa có Pháp nhãn và Phật nhãn. Và đó là mắt (cái thấy) của tâm sanh diệt, chứ chưa phải là cái thấy của tâm bất sanh diệt, tức chưa phải là cái thấy của Giác Tánh thường vắng lặng sáng sạch của sức Định Huệ quân đẳng. Đó đều do chưa đủ duyên học Pháp Quán Chiếu Bát Nhã của Phật đạo. Bao giờ thoát khỏi lẫn quẩn “ Tri Kiến Lập Tri”, bấy giờ Trí Bát Nhã mới hiện tiền và mới thật sự thấy chân tướng của Vũ trụ vạn hữu.

   Dù thỏa mãn tiện nghi, nhiều lớp người được giàu sang sung sướng vượt mức chưa từng thấy, vẫn không thoát khỏi được những căn nguyên đau khổ và mê vọng của kiếp nhân sinh; chưa kể còn lắm hiểm họa khó lường trước đang đe dọa cả thế giới loài người (nói riêng), loài người hủy diệt thế giới loài người (nói riêng), là điều khó tránh khỏi. Trừ khi có những bậc Thánh nhân, Phật Bồ Tát hiện vào giới Khoa học, hiện thân làm những vị lãnh đạo của những cường quốc trên thế giới. Chúng tôi tin sẽ có để chận đứng những thảm họa lớn cho loài người.

  Trước thực trạng càng ngày càng có thêm nhiều người khủng hoảng về tinh thần , lo sợ hơn về đời sống, không thể tìm thấy An lạc Hạnh phúc trong đời sống, kể cả những người thừa thải vật chất, nhất là những ai chỉ biết vật chất và đam mê vật chất, coi vật chất là tối thượng của lẽ sống; Giá trị tinh thần Đạo đức bị coi nhẹ, xa lìa đời sống tâm linh. Chính điểm nầy đã làm họ đánh mất sự hoàn mỹ của đời sống. Dù được thỏa mãn về đời sống vật chất, vẫn đau khổ, bởi không thấy rõ nguyên nhân chính của mọi đau khổ.

Biết bao người còn phải đau khổ hơn, mất hạnh phúc hơn, vì bị ảnh hưởng những mặt xấu của khoa học vật lý, và phát triển vật chất mà trở lại phá hoại đời sống vật chất, như phá hoại môi trường sống, làm ô nhiễm nguồn nước, những khí độc thải ra từ các nhà máy. Ngày nay ít tìm ra những nơi có khí hậu trong lành và yên tĩnh. Tất cả sự phá hoại môi trường sống đó đều do quá đặc trọng sự cạnh tranh đời sống tiện nghi sung sướng về vật chất. Dù đó là xu hướng tất yếu của hoàn cầu đã đến lúc không thể đổi thay, tức đâu đâu cũng đều phải phấn đấu thi nhau lo sản xuất, lo đời sống kinh tế để thoát cảnh đói nghèo và lạc hậu, mới có thể ổn định về mặt kinh tế và đồng thời cũng có khả năng làm cho quốc dân giàu mạnh, bằng phương tiện máy móc hiện đại, bằng biến chế và xuất khẩu sản phẩm; Nhưng ý thức bảo vệ sức khoẻ đời sống chung không thể không đặt lên hàng ưu tiên. Tức là: Cần phải kiểm soát kỹ những biến chế có pha hóa chất, cần có quyết nghị đưa những nhà máy và các trại chăn nuôi gia súc gia cầm ra khỏi xa các vùng dân cư, hầu giúp cho môi trường sống ít bị ô nhiễm nặng nề, và cũng để tránh sự bất công: Bởi một chủ làm giàu mà nhiều nhà phải gánh chịu khổ đau. Tuy đời sống vật chất đã được tiện lợi sung sướng hơn, mà hiểm họa đến với đời sống cũng thêm nhiều hơn, lớn hơn, mang thêm nhiều mầm bệnh hơn cho cá nhân gia đình và xã hội, không chỉ từ những sự phá hoại môi trường sống; Mà còn từ các loại thuốc kích thích sự tăng trưởng của động thực vật, phân bón hóa học, đường hóa học, các loại thuốc bảo quản thực phẩm, thuốc diệt cỏ dại, biến chế các thức ăn uống pha nhiều hóa chất để bảo quản được lâu, như xì dầu (nước tương), các thứ ướp bằng mùi vị hóa chất như trà sen …, các loại bột hóa chất để pha chế bất cứ thứ gì, những thứ nước uống  kích thích nhằm thỏa mãn tánh tham lam và dục vọng của con người, mà người sản xuất và người bán ra thu lợi. Cho nên sống đầy đủ  tiện nghi sung sướng mà nhiều mầm bệnh, đầy bất an. Rõ ràng ngay trong đời sống đầy đủ tiện nghi, cũng không phải đã bảo đảm An vui Hạnh phúc. Mặt khác, bởi quá nặng phô trương đời sống vật chất, mà về mặt tinh thần ngày càng đánh mất ý thức tu dưỡng, coi rẻ đời sống thiện lương, chẳng biết học pháp an định tâm thần, cho đến không còn biết quý trọng tinh thần an định sáng suốt, không biết tự soi sáng ý thức và tiềm năng Giác ngộ, mà truyền thống Tổ tiên chúng ta đã trân trọng tiếp nhận từ Chánh pháp của Phật, đã áp dụng vào đời sống chung và riêng, đã thấy rõ giá trị linh thiêng và hướng thượng của đời sống, không tuyệt vọng trước mọi khổ đau của kiếp người.

Cho nên gia tăng đời sống kinh tế, mà không duy trì đời sống đạo đức của Tổ tiên, không giúp cho mọi người tin hiểu luật nhân quả nghiệp báo, là nguyên nhân người bóc lột người, người ám hại người, nguyên nhân của mọi gian tham trộm cắp xảy ra hàng ngày khắp đó đây. Nếu ỷ vào giàu mạnh và luật pháp, mà không cần Chánh Tín trong đời sống của mỗi người, thì đó là một điều sai lầm lớn. Không ai kiểm soát nổi tội ác đối với phần lớn những người thiếu Chánh Tín. Thế mà rất nhiều các vùng quê còn bị ngăn cấm việc tu sửa và xây dựng chùa chiền, gây khó khăn cho những người đi chùa.

Đến hôm nay, mặc dù những phát minh của các nhà Khoa học thiện lương đã giúp cho những người hiểu lẽ sống và sống đời lương thiện dễ giúp nhau hơn, dễ thực hiện việc trả ân  và ban ân, dễ làm những việc phước thiện, dù rất xa cách và chưa có nhân duyên gặp nhau. Những người Tu học Phật không quên biết ơn các nhà Khoa học thiện lương sáng suốt đã giúp cho đời sống ngày một tiện nghi, vừa dễ có thì giờ Tu học, vừa dễ thực hiện đời sống thanh thoát ngay giữa lòng thế gian, mà nhẹ khổ công, như phương tiện xe tàu, điện đài, các loại máy móc tiện lợi cho sự phát triển và nâng cao đời sống trí thức, các loại thuốc trừ bệnh hiệu quả và mau chóng. Nhưng những người học Phật không đến nỗi mù quáng công nhận sự toàn vẹn tốt lành của hết thảy các giới khoa học, khi mà con người của họ chưa phải là những bậc Thánh đức Giác ngộ, chưa thấy giá trị Tâm linh có mặt trong và trước đời sống; Và khi mà sự sáng chế của họ chưa phải toàn là phụng sự cho đời sống tốt đẹp thiện lương của loài người; Cũng như khi mà nhiều nhà khoa học chưa tin luật Nhân Quả gắn liền với Tinh thần và Tâm linh; Luật Nhân Quả tác động và chi phối đời sống là bởi tinh thần, hơn là do vật chất đơn thuần. Nhất là khi mà một số những nhà Khoa học thuần vật lý, không có ý thức bảo tồn nhân loại, đã chế tạo bom đạn vũ khí, nhằm phục vụ chủ nghĩa cá nhân hẹp hòi độc ác, chủ nghĩa dân tộc và tôn giáo mù quáng cực đoan, chủ nghĩa Đế quốc thôn tính thống trị, đã sát hại hàng triệu sinh linh, đã hủy diệt một phần môi trường sống đáng quý trên trái đất, đã làm thỏa mãn cho lửa tham sân si mạn độc ác bùng phát dữ dội tại thế giới loài người.

      Ngày nay loài người đã có ý thức đoàn kết để tự cứu, nhưng chưa dễ loại trừ vũ khí giết người hàng loạt trong nháy mắt, chưa dễ vì tinh thần và lý tưởng cao cả của đời sống mà cùng nhau từ bỏ vũ khí hạt nhân, hóa học; chưa dễ bảo vệ sự an toàn và hạnh phúc chung của loài người. Vì vậy mà Chánh Pháp của Đức Phật cần truyền bá sâu rộng khắp thế giới hơn bao giờ hết; Hạnh lợi tha, Đức Hỷ Xả và Tâm Bồ Đề cần đề cao để làm gương cho sự xây dựng tinh thần Đạo đức xã hội.

Mặc dù  Trí Tuệ và Tài năng làm sáng giá con người và đời sống cá nhân, cũng góp phần cải tiến nâng cao đời sống xã hội. Do đó ai nấy đều mong mỏi đạt được, nhất là giới trẻ. Vì bất cứ thời nào hay con người nào mà kém Trí tuệ Tài năng, tức kém thông minh sáng suốt và kém sức phấn đấu cho thành đạt sự nghiệp, thì khó có một đời sống sung túc như ý. Nhưng theo tinh thần Phật giáo, cũng như theo Cổ đức, con người nếu chỉ đạt tới đó thôi thì chưa bảo đảm sẽ có một đời sống hoàn hảo cho bản thân, gia đình. Bởi đó chỉ mới là Trí dục, một trong ba yếu tố của một đời sống tốt đẹp. Tức muốn có một đời sống hoàn mỹ, phải đầy đủ ba yếu tố cơ bản: Trí dục, Đức dục và Thể dục (Nuôi nấng và làm đẹp đời sống con người bằng Trí, nuôi nấng và làm đẹp đời sống con người bằng Đức, nuôi nấng và làm đẹp đời sống con người bằng vận động điều hòa thân thể không để bệnh tật), chưa trừ những ngoại lệ khác của bản thân, như Chánh báo Y báo thế nào, duyên nghiệp thế nào.v.v… Thế thì, dù Trí tuệ và Tài năng đầy đủ, mà không biết tu tập bản thân, không lấy Đạo đức làm nền tảng đời sống bản thân, gia đình và xã hội, thì khó có một cuộc sống An vui Hạnh phúc bền lâu, huống là có thể truyền đạt và làm gương cho con cháu.

                  Do đâu mà có Đạo đức?

1.- Do Thiện căn vốn sẵn có từ nhiều đời kiếp trước. Và ai đã vốn sẵn có Thiện căn, tức đã có nhân duyên tu tập pháp lành, thì không bao giờ sống và làm những gì trái với lương tâm Đạo đức, không có sự tham lam bất chánh tà kiến độc ác. Và nếu là người như thế thì khi gặp Phật Pháp họ thấy rất thích hợp.

   2.- Nếu chưa có Thiện căn, thì phải nhờ Nhân duyên học đạo Thánh hiền (Khổng giáo,Lão,Trang), học hiểu Chân lý, hiểu Giáo Pháp Nhơn Thiên Thừa của Phật dạy, và quyết lấy đó làm nền tảng đời sống mới trở thành người có Đạo đức tương đối của thế gian. Nói cách khác, trước hết phải tin hiểu lý Nhân duyên, luật Nhân quả. Nếu không tin hiểu lý Nhân duyên, luật Nhân quả, không có ý thức quyết cải ác tùng thiện, xả tà quy chánh, tức nếu chưa đủ bản chất Thiện và Chánh, thì cũng khó góp phần an bình chung, khó tránh khỏi những trường hợp “lợi bất cập hại”. Vì Trí tuệ và Tài năng chỉ mới là cái lợi của đời sống, cũng như cái máy tạo ra sản phẩm cho đời sống, chứ chưa phải là giá trị chất liệu của nguồn sống, của an vui hạnh phúc. Nếu cho rằng, có Trí tuệ và Tài năng là có An vui Hạnh phúc, thì tại sao có lắm kẻ Trí tuệ và Tài năng lại là những tay phạm pháp lớn? Những kẻ tội ác tày trời? Như vậy, cổ võ Trí tuệ Tài năng, mà không kèm theo đề xướng Đạo đức Nhân từ, là một khuyết điểm lớn cho sự xây dựng đời sống An vui Hạnh phúc chung. Ngày xưa tại các Thiền môn không truyền bí quyết võ nghệ cho những kẻ thiếu Đạo đức, cũng vì tinh thần và ý nghĩa đó. Cho nên Đạo đức Tâm linh, tinh thần Giác ngộ, và Hạnh nguyện Lợi tha mới là giá trị chất liệu của nguồn sống chung, mà không hề có sự tổn hại kẻ khác. Thời nay, một câu: “Tiên học lễ, hậu học văn”, còn chưa thực hiện được trong đa phần xã hội. Nói chi có nhiều người Tài trí mà thuần mực Đạo đức.

        Để kết luận đoạn nầy, là người học Phật, chúng tôi cần khẳng định rằng, Trí tuệ và Tài năng mà không lấy Đạo đức làm nền tảng cuộc sống, thì Lợi bất cập hại cũng không phải là ít. Không phải như người quyết Tu học Phật, thường sống với tinh thần Tự giác Giác tha, Tự lợi Lợi tha, lấy Giới luật Phật chế làm kỷ cương, lấy Từ Bi làm chất liệu, lấy sự loại bỏ tham sân si mạn, loại bỏ tà kiến xấu ác làm giá trị đời sống. Cho nên những tấm gương Đạo đức luôn có mặt trong những quốc gia đa phần sống theo Phật giáo: Thà rằng mình chịu thiệt hại, kể cả hy sinh vì chân lý và lẽ phải chung; Chứ không hại kẻ vô tội.

       Nói như thế, chớ hiểu lầm rằng: Đạo Phật nhu nhược, yếm thế. Đức Phật đã được tán thán là đấng: “ Đại Hùng, Đại Lực, Đại Từ Bi”, bởi các bậc Thánh Trí siêu thoát. Chính khả năng chinh phục, đè bẹp cả 96 phái ngoại đạo tại Ấn Độ thời bấy giờ, đã chứng minh tinh thần đó. Và suốt gần một ngàn tám trăm năm Đạo Phật được tôn vinh, hiển hách, làm đẹp đẽ, giàu mạnh và an bình cho xã hội Ấn Độ nói riêng, cũng đã chứng minh tinh thần đó. Nếu Từ Bi mà thiếu sáng suốt, thiếu ý chí Hùng lực, thiếu ý thức hộ trì Phật Pháp và bảo vệ Tổ quốc, không nhận rõ chánh tà thiện ác, để tà ác xâm hại, không biết đối phó và không có khả năng hóa giải, thì Từ Bi có thể trở thành tự hại.

 

MỤC SÁU: THẢM HỌA ĐẦU TIÊN, LỚN NHẤT ĐẾN VỚI PHẬT GIÁO NÓI RIÊNG VÀ NHÂN LOẠI NÓI CHUNG

Đó là thế kỷ mười hai, Hồi giáo Thổ Nhĩ Kỳ xâm lăng đánh phá Ấn Độ; Tới lúc thành công chúng sát hại hàng vạn Tăng Tín đồ Phật giáo, đập phá vô vàn cơ sở và di tích Phật giáo. Vào năm 1197 chúng đánh chiếm trường Đại học Phật giáo Nalanda, một trường Đại học lớn nhất Á Châu, mà cũng là trường Đại Học lớn nhất của Thế giới thời bấy giờ; một trường Đại Học có trên ba ngàn Giáo sư, Giáo thọ sư, và thường là trên mười ngàn Sinh viên vừa Tăng sĩ vừa Học sĩ, vừa Thế học vừa Phật học; được tuyển chọn khắp các quốc gia không phân biệt Phật giáo hay không Phật giáo, cũng không phân biệt hệ phái, tư tưởng, có Tôn giáo hay không Tôn giáo; một trường Đại Học đã đào tạo nên các bậc Tăng tài nổi tiếng từ Thế kỷ thứ 5, như các Ngài Pháp Hộ, Pháp Xứng, Vô Trước, Thế Thân, An Huệ.v..v. đều là những vị Thượng thủ được xuất thân từ trường Đại học nổi tiếng nầy. Vào Thế kỷ thứ 7 Ngài Huyền Trang du học Ấn Độ cũng học tại đây và được nể trọng là một Tăng sĩ suất sắc ngay từ đó; Đặc biệt được một vị Đại sư trưởng lão là Ngài Giới Hiền đã thọ tới 120 tuổi giảng dạy môn Pháp Tướng Duy Thức Học cho Ngài Huyền Trang. Lúc quân Hồi giáo Thổ Nhĩ Kỳ đánh chiếm trường Đại học Nalanda, chúng giết hại trên tám ngàn Nhân sĩ và trên một ngàn năm trăm Tăng sĩ Phật giáo. Một trường Đại học với thư viện, mà chúng phải đốt cháy suốt hơn sáu tháng mới xong. Tại thư viện đó có trên tám triệu bản Kinh văn của Phật giáo, Kỳ Na giáo.v..v. và những sách quý hiếm của thế giới có ở đó đều bị chúng thiêu hủy. Cho thấy kho tàng Di sản Văn hóa Đạo đức của nhân loại đã bị quân tà kiến độc ác thiêu hủy.

May thay, Phật giáo được cực thịnh tại Trung Hoa qua nhiều thời đại, nhất là thời nhà Đường. Do đó ba tạng Kinh Luật Luận đều đã được phiên dịch qua Hán tự tới thời đó là trọn đủ, và được tiếp tục bảo trì cho tới ngày nay. Cho nên giờ đây Hán tạng đầy đủ hơn cả.

Vào thời Cách mạng Văn hóa Trung Hoa dưới chế độ Cộng sản của Mao Trạch Đông, Vệ binh đỏ đã ngang tàng đập phá nhiều Di tích giá trị của Trung Hoa, với chiêu bài loại bỏ những tàn tích của các chế độ phong kiến, thì Phật giáo cũng khó tránh khỏi một phần nạn ấy. Nhưng kho tàng Phật giáo ở khắp nơi tại Trung Hoa quá lớn, không dễ gì phá diệt nổi. Vả lại, Cách Mạng Văn Hóa của Vệ Binh Đỏ cũng không thể tồn tại lâu. Và giả sử sự cuồng vọng đó có kéo dài lâu hơn, thì kho tàng Phật Giáo tại Trung Hoa cũng không dễ gì bị hủy diệt như tại Ấn Độ, bởi hai lý do sau đây:

Thứ nhất, tại động Đôn Hoàng Ngàn Phật, gồm một ngàn hang động tại tỉnh Cam Túc, được các triều đại Vua chúa quyết bảo tồn Phật Pháp, đã tiếp tục nhau cho đục khoét trong những dãy núi sâu thành những hang động rộng lớn tiếp nối nhau để cất chứa đầy đủ tất cả Ba tạng Kinh điển của Phật Giáo, gồm cả những sách sử liên hệ đến Phật Giáo qua các triều đại kể từ khởi thủy Phật Giáo mới được du nhập, gồm cả những sách hiếm quý của các triều đại Trung Hoa, với bao nhiêu tranh ảnh qúy hiếm của Phật giáo, mà các nhà Văn hóa Khảo cổ đã công bố : Nếu đem ra sắp xếp lại sát liền nhau thì phải dài đến 25 cây số, với bao nhiêu tượng Phật Bồ Tát.v..v. cũng được lưu giữ trong đó. Trước khi Cách Mạng Văn Hoá bùng phát, thì có một vị Tăng đã dự biết trước sẽ có một đại nạn xảy ra cho dân tộc Trung Hoa và Phật Giáo, Ngài đã lấp bít cửa hang động đó lại và khéo trang bị, về sau bọn Vệ Binh Đỏ hầu hết là lớp thanh thiếu niên mới lớn lên không tài nào biết được. Bây giờ đó là một Di sản Văn hóa quý nhất không những của riêng Phật Giáo mà của cả Thế giới Nhân loại, đã được Thế giới công nhận.

Thứ hai, lúc Cách Mạng Văn Hóa vừa xảy ra, đứng trước nguy cơ khó tránh đó, Ngài Thái Hư Đại Sư thấy không có khả năng ngăn chận được, Ngài đã  gặp trực tiếp Chủ tịch Mao Trạch Đông và yêu cầu rằng: Dù đập phá Chùa Chiền, Tu Viện, bắt Tăng Sĩ hoàn tục, chúng tôi xin yêu cầu Chủ tịch lưu tâm cho một điều là, xin đừng hủy hoại Kinh sách Phật Giáo. Và Chủ tịch Mao Trạch Đông đã nể lời thỉnh cầu của một vị danh Tăng thạc đức đó, nên đã không cho xâm phạm tới kho tàng Kinh sách nhà Phật. Một điểm cần lưu ý ở đây là: Vấn đề đập phá ngang tàng, học sinh tổ chức đánh Thầy giáo.v.v… của Vệ Binh Đỏ, không phải do chính Chủ tịch Mao Trạch Đông chủ trương, mà là do một số thuộc hạ đề xướng và phát khởi, nhưng có sự mặc nhiên đồng ý của Chủ tịch Mao Trạch Đông. Cho nên sau thấy khắp nơi phản ứng bất lợi, Chủ tịch Mao Trạch Đông mới ra lệnh đình chỉ.

Với hai lý do trên, nên giờ đây Ba tạng Kinh Luật Luận bằng Hán tự là đầy đủ nhất.

Thế nhưng, thời nay có một số Giảng sư đã không đủ duyên Tu học Phật Pháp thấu đáo, không được Tu học bằng truyền thừa, chẳng những giảng sai yếu lý của Thánh giáo, mà còn phủ nhận cả một số Kinh giáo Đại Thừa, cho rằng không phải do Phật thuyết, lấy lý do là không tìm thấy trong số Kinh điển ở Ấn Độ. Đó chẳng những là không hiểu gì về lịch sử Phật Giáo thịnh suy qua sự vô thường đổi thay của thế cuộc, mà còn tiếp tay cho hạng tà kiến nhằm hủy diệt Chánh Pháp của Phật. Tục ngữ ta có câu : “Ăn cơm Phật đốt râu Thầy chùa”. Những Giảng sư ấy không biết rằng, nếu Phật giáo Trung Hoa cũng bị hủy diệt như Phật giáo Ấn Độ thì tới ngày nay kho tàng Phật giáo thế giới cũng chẳng còn bao nhiêu, sẽ bị coi như các Tôn giáo bình thường khác hiện có từ xưa nay trên thế giới. Dù những Tôn giáo đó có cả hàng triệu hàng tỉ tín đồ, vẫn lung lay hoảng hốt trước thời đại Văn minh Khoa học; chứ không thể ung dung tự tại và được những nhà Khoa Học nổi danh nể phục, tận lực nghiên cứu và quy hướng thực hành như đối với Phật Giáo. Giáo Pháp của Đức Phật, của chư Tổ Sư Bồ Tát, được các hàng đệ tử thật Tu thật  Chứng phiên dịch luận giải, hệ thống hóa rõ ràng, là một Di sản quý giá nhất cho đời sống nhân loại, nói riêng. Và đã được tổ chức UNESSCO của Thế giới  công nhận.

 

                 MỤC BẢY:  ĐỜI SỐNG LÀ PHÁP DUYÊN SANH

Đã có đời sống là có Nhân duyên, và có Nhân duyên là có đời sống. Đó là nguyên lý chung. Do Nhân duyên khác nhau mà có đời sống khác nhau. Đó là những dị biệt, tức thiện ác khác nhau, chánh tà khác nhau, mê ngộ khác nhau, trí ngu v..v.. khác nhau, là tính cách khác nhau. Mọi tính cách khác nhau đó đều không có định tánh, chỉ là duyên sanh. Nên nhà Phật gọi là Duyên sanh vô tánh. Với pháp duyên sanh vô tánh, nên ta có khả năng chuyển đổi tất cả những gì ta muốn và ta cần chuyển đổi. Đời sống cũng là pháp duyên sanh vô tánh. Càng đặt thành định tánh và càng thấy nó là định tánh, thì nhận thức càng bị bế tắc. Qua Tri kiến Giác ngộ thấy rõ các pháp không có định tánh, tức có khả năng tự tại trước các pháp và an lạc ngay đó. Tóm lại, Tâm là pháp Duyên sanh, mọi hiện tượng, mọi biến thái sanh diệt là pháp Duyên sanh, thì đời sống cũng là pháp Duyên sanh. Đời sống là sự tập thành của những yếu tố tâm lý và vật lý. Đời sống chúng sanh khác nhau, từ những tập tánh với nhân duyên khác nhau.

Xin tạm dùng một ví dụ để rõ nghĩa đoạn trên:

Bà C. là người tham lam gian dối, những người ở gần bà ấy đều biết đó là người tham lam gian dối, và nhiều người đều nghĩ rằng, không ai có thể làm cho bà ta bỏ được tánh tham lam gian dối, kể cả luật pháp trừng trị. Do đó mà cho rằng, tham lam gian dối ấy là định tánh, khó mà thay đổi được, “ đánh chết cái nết không chừa ”.

Nhưng nếu bà ấy đủ duyên gặp Phật Bồ Tát, hoặc gặp một vị Đạo Sư Trí Đức thượng thượng, đủ khả năng và đủ nhân duyên giáo hóa Bà ta tin tưởng tu theo Pháp của Phật; Bà ta sẽ bỏ được tánh tham lam gian dối, mà trở nên người ngay chánh hiền thiện. Cũng có thể có một vài nhân duyên đặc biệt khác làm cho Bà ta tỉnh ngộ mà bỏ thói hư tật xấu đó.

Như vậy, do chúng ta không đủ khả năng chuyển hóa được tánh tình bà ấy, và cũng chính bà ấy không đủ nhân duyên thâm nhập tu tập theo Chánh Pháp để tự chuyển hóa tâm tánh mình, nên đều thấy đó là thứ có định tánh.

Khi tham lam gian dối đã thành tập tánh trong đời sống, thì đó là thứ phiền não nặng nề nhất. Luận Câu Xá nói : muốn trị được phiền não nặng nề thấp kém nhất, thì phải bằng Trí đức cao siêu nhất.

Chúng ta cũng thấy, có trường hợp con nhà giàu mà đi ăn cắp ăn trộm. Nếu cha mẹ của nó sống đời ngay chánh và quyết giáo dục con mình trở nên tốt thì, không chỉ la rầy đánh đập và bắt đem trả vật bị lấy lại cho chủ nọ; mà khi trả xong về nhà, phải đưa tiền của ra biểu nó đem đi cho những người nghèo cực lương thiện, hoặc đem cúng chùa, ủng hộ các tổ chức Từ thiện. Kỹ hơn nữa bắt nó đến chùa nghe giảng, lạy Phật v.v.. Đó là cha mẹ muốn và biết chuyển hóa đứa con tham lam keo kiệt, trở thành người có tánh hạnh tốt, có tinh thần cao cả. Nhưng đủ duyên làm được như thế thật không dễ; Bởi nhà giàu có mà sanh con mang nhiều thói hư tật xấu, là do cha mẹ sống thiếu Đạo Đức, nên lại bị ác báo phá tán, gây nhiều phiền não khổ đau cho Cha Mẹ và gia đình. Nhớ rằng mỗi mỗi đều có quả báo: “Thiện giả thiện báo, ác giả ác báo, như nhược bất báo thời thần vị đáo”.

 

MỤC TÁM: ĐỨC PHẬT LÀ VỊ SIÊU TÔN GIÁO, SIÊU TƯ TƯỞNG

Trên tất cả các Tôn giáo, trên hết thảy mọi tư tưởng, với sự Giác ngộ tuyệt đối siêu tư tưởng siêu Tôn giáo, được mệnh danh là Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, Đức Phật đã thấy rõ nguyên nhân và sự hình thành luân hồi sanh tử của chúng sanh, Ngài không còn bị động và sử dụng cấu trúc sanh tử đó nữa; Căn nguyên đưa đến luân hồi sanh tử và những xiềng xích luân hồi sanh tử trong Tam giới đối với Ngài đã được tận diệt; Kiến Tư hoặc, Trần sa hoặc và Vô minh hoặc đã được dứt sạch, sau suốt 49 ngày đêm Thiền tọa tại gốc Bồ đề; Tâm trí  Ngài đã hoàn toàn  vắng lặng sáng sạch, Ngài đã nhập Đại Định, đã dụng Đại Trí và đã chứng quả vị Đại Giác, chẳng những Ngài đã thấy rõ suốt tánh tướng của mười phương hiện tại, mà còn thấy rõ suốt về quá khứ và vị lai của vũ trụ vạn hữu. Tuệ Giác của Tâm thể Linh diệu bừng dậy, với Ngũ nhãn Lục thông đã chứng, trăm ngàn môn Tam Muội đã đạt, Tam Thân Tứ Trí đã hoàn toàn thành tựu, Đức Phật thấy suốt cả mười phương vô lượng vô biên thế giới, như nhìn những vật ở ngay trước mắt.

 

MỤC CHÍN: ĐỨC PHẬT LÀ ĐẤNG GIÁC NGỘ TUYỆT ĐỐI

Sự Giác ngộ thấu triệt đó của Đức Phật, là Giác ngộ Bản Thể bất sanh diệt của nhân sanh vũ trụ. Nhưng với mọi hiện tượng sanh diệt của bất cứ thế giới xa xôi nào, Ngài cũng đều tỏ rõ hết. Bởi hiện tượng sanh diệt không ngoài Bản Thể bất sanh diệt, mười phương thế giới không ngoài một điểm Linh diệu sáng sạch của Tự Tánh Thanh Tịnh Tâm. Ngộ Nhập được Tự Tánh Thanh Tịnh Tâm, là Ngộ Nhập Thật Tướng bất sanh diệt của vạn pháp, cũng chính là thành tựu Tự Tánh Phật Đạo.

Giả sử lúc đó tâm trí Ngài còn vướng bận bất cứ một cái gì, còn chấp giữ bất cứ một thứ gì, dù đó chỉ là chấp giữ về tư tưởng, về tinh thần, về khái niệm, thì chắc chắn Ngài không thể đạt tới Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Ngài đã khéo biết xả bỏ hết mọi khái niệm về Thượng Đế, về Thần linh, về Bản ngã, về Duy linh thường kiến và Duy vật đoạn kiến. Mọi vọng niệm, hay biến động của tâm thức mất dạng tự bao giờ trước Tuệ Giác của Ngài. Chỉ thuần một Thể Tánh sáng suốt trong lặng biến mãn thường tại, mà tràn đầy Tịnh lạc. Tuy nhiên, Ngài cũng chẳng trú trước ở Thể Tánh Chơn Không đó, nhờ thấy Chơn Không cũng Không, vắng bặt luôn cả những Tri kiến lập tri, buông bỏ hết mọi Tri kiến vọng lập, không chấp có người năng chứng, chẳng chấp có pháp sở chứng. Bấy giờ ngay đó Diệu Hữu bừng dậy từ Như Lai Tàng, tức chẳng phải Ngài chỉ Ngộ chứng “Không Như Lai Tàng”, mà Ngài còn chứng đạt tới chỗ tột cùng hay tối thượng của Thánh Trí Tự Chứng là “Bất Không Như Lai Tàng”. Bấy giờ đó không phải là Chủng tử của vạn pháp, mà là hằng sa Tánh Công Đức. Nhiều Kinh Luận gọi đó là Trí Huệ Đức Tướng Như Lai. “Hết thảy chúng sanh đều đầy đủ Trí Huệ Đức Tướng Như Lai”. Trí Tuệ Đức Tướng đó chẳng sanh chẳng diệt, chẳng đến chẳng đi, chẳng phải do tu hành chứng đạt mới có, cho nên gọi đó là Như Lai. Phật với chúng sanh đồng một Bản Thể nầy. Thể Tánh Như Lai Tàng nầy có đủ vô số công năng Diệu dụng. Phật chứng Bản Thể nầy, sống trong Bản Thể nầy, nên Ngài sử dụng được Bất Tư Nghị Lực của hằng sa Công đức Diệu Dụng, tức có khả năng trong khoảng một tích tắc ứng hóa ra vô lượng thân khắp vô lượng thế giới để hóa độ vô lượng vô số vô biên hữu tình chúng sanh.

 

MỤC MƯỜI: BỔN GIÁC CHẲNG GIỮ TỰ TÁNH

 Hết thảy chúng sanh cũng từ Bản Thể nầy mà ra. Bởi như  Đức Phật đã dạy trong Kinh Lăng Nghiêm, Bản Thể nầy có hai tính cách:

 1_ Bất thủ tự tánh (không tự giữ lấy Giác Tánh trong lặng sáng sạch của mình).

2_ Hựu năng tùy duyên (lại thường hay theo duyên, theo vọng trần, do đó mà quên chính mình, tức bỏ quên Tự Tánh Bổn Giác).

Chúng sanh chưa chứng Bản Thể nầy, nên bị vọng duyên và mãi mê theo vọng duyên.

Chúng sanh quên mất Bản Thể nầy, phóng theo vọng duyên của Vô minh biến thái mà thành Nghiệp Thức, từ đó mà rước lấy mọi sanh tử khổ não.

Xin dẫn một đoạn ngắn trong phần mở đầu của bộ Tông Kính Lục (*), do Ngài Vĩnh Minh Diên Thọ Thiền Sư trước tác, để Quý đọc giả thấy một chút Lý thâm diệu ở đây. Và xin tùy hỷ cho sự dành thì giờ phiên dịch, phổ biến, hầu góp một phần nhỏ vào sự hoằng truyền Chánh Pháp Vi Diệu của Phật Giáo:

 

           “Xét rằng:       

Nguồn CHƠN phẳng lặng,

Biển GIÁC đứng trong,

Bặt mối DANH TƯỚNG,

Không vết NĂNG SỞ.

 

Tối sơ Bất Giác bỗng khởi động Tâm, tạo thành nguyên do của Nghiệp Thức, gây nên lầm lỗi của Giác Minh. Nhân (bởi vì, nhân nơi) MINH khởi CHIẾU, Kiến Phần vụt lên; Tùy CHIẾU lập TRẦN, Tướng Phần bày hiện, như gương hiện hình, liền khởi căn thân. Tiếp đến tùy TƯỞNG mà thế giới thành ra những sai biệt. Sau hết là nhân nơi TRÍ mà có ghét yêu chẳng đồng.

Từ đó sót CHƠN mất TÁNH, chấp TƯỚNG theo DANH, chứa tình trần trệ trước, kết sóng thức tương tục. – Chìm mê trong Tam Giới, lấp Chơn Giác nơi đêm dài mơ mộng; lăn lóc trong cửu cư mù Trí Nhãn nơi ngã tư tăm tối. Do đó mà giây KHỔ của NGHIỆP quấn lại, đánh mất cửa Giải Thoát đi! Ở trong vô thân mà thọ thân, quay về giữa vô thú mà lập thú. Ước theo chỗ Y Báo thì chia ra Nhị thập ngũ hữu (hai mươi lăm cõi), luận đến phần Chánh Báo thì đủ mười hai loại sanh (trong bản dịch mỗi mỗi đều có chú thích), đều từ căn do TÌNH TƯỞNG, gây nên Y CHÁNH sai khác. Chính trên cảnh chẳng đổi dời mà luống chịu luân hồi; ở trong pháp không cổi mở mà tự buộc ràng. Như con tằm mùa xuân kia làm thành cái kén, giống loài bướm mùa thu nọ đáp vào ngọn đèn. Đem cuộn tơ vọng tưởng nhị kiến quấn lấy nghiệp chất khổ tụ; dùng đôi cánh vô minh tham ái nhảy vào vòng lửa sanh tử; dùng ngôn âm vang dội trong hang để luận bàn về sự tốt xấu của Tứ sanh; bằng tấm gương của vọng tưởng mà hiện ra hình dáng dung mạo trong Tam hữu. Thế rồi gió suy tưởng TRÁI THUẬN lay động Biển Giác, nước ái dục tham si nhuần thấm mầm khổ, một mạch theo trần, không biết trở lại. Phát tri kiến cuồng loạn che cả Tự tâm, lập sắc thanh huyễn hóa nhận làm tha pháp (mọi đối tượng của vọng tâm phân biệt). Từ đó, mảy bụi dồn lại dần dần kết thành núi cao chọc trời, giọt nước gợn sóng cuối cùng nổi lên sóng lớn nuốt thuyền (dận chìm thuyền).

Như vậy, Về sau muốn trở lại đầu mối cội gốc thì cứ theo căn Lợi Độn chẳng đồng, ở trong một cảnh giới Chơn Như, khai ra Tam Thừa Ngũ Tánh. Hoặc có những kẻ thấy KHÔNG mà chứng QUẢ; Hoặc có những người rõ DUYÊN mà nhập CHƠN; Hoặc có hạng phải trải qua ba A Tăng Kỳ Kiếp huân tu luyện tập lần lần mới đầy đủ Pháp môn Tu hành; Hoặc có những vị NHẤT NIỆM VIÊN TU liền thành Phật Đạo.

Thế thì, sự Chứng Đạt có khác, Tánh Nhất Như chẳng phải khác. Bởi vì thành lập danh PHÀM danh THÁNH, nên tuồng như có chia ra tướng TỤC tướng CHƠN.

Nếu muốn rỗng suốt tột nguồn Vi Diệu, nghiền ngẫm Yếu Chỉ, thông đạt Tông Môn, thì điều căn bản là Thức Tánh phải lìa bỏ hết mọi danh tướng, rốt ráo vắng lặng; Dứt sạch những móng niệm dị biệt về THĂNG TRẦM, không có các cảm nghĩ sai khác về TRÓI MỞ (tuyệt thăng trầm chi dị, vô phược thoát chi thù). Đã không có những con người tại thế, cũng chẳng có hàng Diệt Độ, thì hai mé (tức là hai bờ: sanh tử và Niết Bàn) bình đẳng, một đường thông suốt, THỨC TRÍ đều rỗng, DANH THỂ thảy lặng. Không có gì khác, chỉ một Chơn Tâm; Thông đạt Chơn Tâm gọi là người thấy Đạo; mê muội Chơn Tâm kêu là đầu mối sanh tử.

Lại có các hạng: Gốc gác tà kiến, Chủng tánh ngoại đạo, Tâm trí Tiểu Thừa, Quyền cơ Bồ Tát, chẳng rõ căn bịnh sanh tử, không biết gốc thấy ngã nhơn, chỉ muốn chán ỒN chê ĐỘNG, phá TƯỚNG chẻ TRẦN. Tuy rằng ưa TỊNH ngầm KHÔNG, chứ chẳng biết đó là chôn vùi Chơn Tâm chống lại Giác Tánh. Như kẻ chẳng phân biện được màng đỏ trong mắt, chỉ lo diệt lớp trùng quang trên đèn; không biết xét nghiệm thân huyễn trong Thức, luống công trốn tránh bóng hư giữa ngày. Thế là nhọc thân mệt trí mất sức bỏ công, chẳng khác gì đủ nước giúp cho băng, đun củi càng thêm lửa. Đâu có biết rằng, trùng quang tại mắt đỏ, bóng hư theo huyễn thân. Do trừ hết bịnh mắt mà trùng quang tự tiêu, nhờ thôi chấp huyễn chất mà bóng hư phải diệt. Nếu hay: Quay ánh sáng chiếu lại chính mình, phản cảnh quán tâm thì: Phật Nhãn sáng mà bóng nghiệp tự KHÔNG, Pháp Thân hiện mà vết trần dứt sạch. Đem dao Trí Tự Giác mổ lấy Tâm Châu trong triền; dùng Tuệ kiếm Nhứt Niệm chặt đứt võng kiến giữa trần. Ấy là ý chỉ thấu Tâm, lời nói đạt Thức. Lời tóm gọn mà nghĩa phong phú, văn chất trực mà lý thấu đáo. Nêu THEN NGHI ở cửa Chánh Trí, phát CỎ VỌNG nơi gốc Chơn Giác; Lành bịnh trầm kha nhập tủy, cắt đứt rễ chùm cố chấp, thì vật ngã (VẬT là khách thể; NGÃ là chủ thể. Vật tức chỉ cho tất cả những gì đối tượng với Ta, với Ngã) chạm ngọn lửa Trí chảy tan vào lò Duy Tâm; Danh Tướng gặp ánh Huệ Nhật giải tỏa được biển Nhứt Chơn. Đây là Pháp của nội chứng, đâu phải ở lời văn. Hiểu biết không thể đến cùng, thấy nghe chẳng thể tới kịp”. 

____________________________________________________________

Chú thích:

(*) (Bộ Tông Kính Lục gồm 100 quyển, Toàn Châu nầy mới dịch được 14 quyển trên 20 năm trước, và đã nhờ Hòa thượng Thích Thiện Siêu dò duyệt. Nhưng rồi, thấy Lý Đạo quá cao siêu, hiếm người đủ khả năng trình độ tiếp nhận, không hợp với cơ duyên truyền bá Phật Pháp lúc đó, nhất là khi nghĩ đến phải giảng dạy cho các Đạo tràng, cần biên soạn dịch giải những Pháp thích hợp căn cơ hơn; Lại còn phải lo kiến tạo cơ sở Tu viện riêng, nên bị gác lại. Nay sự kiến tạo cơ sở đã tạm ổn định, vấn đề giảng dạy cũng gác lại được, tự thấy đủ điều kiện để làm cái việc cần làm hơn của một người xuất gia đã đủ duyên thâm nhập Chánh Pháp của Phật. Đó là lo phiên dịch tiếp và phổ biến, hầu góp một cành hoa giá trị trong những cành hoa giá trị miên viễn của Phật Giáo. Ngưỡng cầu Tam Bảo gia hộ).

        

                  CHƯƠNG HAI: TẬP ĐẾ VỚI ĐỜI SỐNG

Ngay bước đầu học Phật, trong Giáo lý căn bản đã cho chúng ta thấy: Nhân Quả của thế gian bao gồm Tập Đế và Khổ Đế . Tập Đế là nhân, Khổ Đế là quả.

TẬP ĐẾ là cái NHÂN của pháp thế gian. Cái Nhân đó có thiện ác tốt xấu chánh tà trí ngu v.v… khác nhau, và cái Nhân đó ngay nơi tâm trí và hành vi tạo tác của mỗi chúng sanh, chứ không đâu khác. Cái Nhân đó tốt thì có Quả tốt, cái Nhân đó xấu thì hiện thành Quả xấu. Nó cũng là những cái Duyên ( những cái phụ thuộc đồng tính chất, đồng loại) cho sự thành Quả thế nào đó. Cái tập tánh đó đã được chứa chất trong Tàng Thức của mỗi chúng sanh, lâu đời lâu kiếp thành ra cái vốn sẵn, đủ duyên là sẵn sàng trổi dậy, nó là phần mê vọng và tạp nhiễm của Tâm. Như vậy, Tập Đế là tập tánh và hành nghiệp không tốt lành, là những tập tánh của Vô minh phiền não, biểu hiện nhiễm nghiệp được phát khởi từ Vô minh phiền não, hay là có sự cộng hành của vô minh phiền não.

    KHỔ ĐẾ: Quả Khổ Đế thì quá nhiều, nhìn vào đời sống chúng sanh xảy ra hằng ngày, ai cũng có thể thấy rõ cả. Cho nên ở đây chúng tôi thấy không cần luận giải, vì đó là hiện trạng đã quá rõ ràng . Chỉ tóm tắt bằng một câu mà kinh giáo nhà Phật đã dạy: “KHỔ, nói lược có Tam khổ (ba loại khổ: khổ khổ, hoại khổ, hành khổ ), Bát khổ (Tám thứ khổ: sanh, lão, bệnh, tử, ái biệt ly, cầu bất đắc, oán tắng hội, ngũ ấm xí thạnh); Nói rộng thì có Bát vạn tứ thiên trần lao chư khổ (tức tám vạn bốn ngàn phiền não các khổ)”.Và hết thảy mọi khổ đau đều do Vô Minh , Phiền Não và Ác Nghiệp mà ra . Bởi thế ở đây cần giải thích một ít điểm khó hiểu về nhân duyên của đời sống. Trước khi hiểu sâu về căn nguyên và mọi diễn biến trong đời sống của Tập Đế .       

 

 

 

 

     MỤC MỘT: NHÂN VÀ DUYÊN CỦA ĐỜI SỐNG TẬP ĐẾ

NHÂN là hạt giống, là yếu tố chính, là cái chất mầm, là năng lực tác động, là thứ đã gieo ,đã gây tạo . QUẢ là sự hình thành của năng lực tác động đó,hay của NHÂN đó .

NHÂN có nhân gần và những nhân xa về quá khứ đã gây tạo thế nào đó, mà sự mê muội của mình từ nhiều đời kiếp tới nay chẳng thể nhớ biết được; Chỉ với Thánh Trí của Phật Bồ Tát và Tổ Sư mới thấy rõ suốt về nhân quả liên hệ nhau trong ba thời kỳ. Những sự gây tạo hiện tại của Ta nó vừa là nhân mà cũng có thể vừa là duyên cho nhân quá khứ bùng vỡ. Cho nên lắm lúc ta thấy, nhân xấu hiện tại không có gì quá đáng, mà quả phải chịu thì quá nặng nề .Về phần tốt cũng thế, lắm người chỉ ở tốt bình thường, tạo Phước bình thường, không lớn lao, mà Phước báo đến với họ rất lớn lao,thì những cái nhân tốt hiện tại đó chính là những thuận duyên cho nhân tốt quá khứ bùng phát.

Những chúng sanh tâm trí mê muội, thiếu Thiện căn Tu học  Phật, chẳng tin, chẳng thể sống tốt  làm tốt cho chính mình, cũng do đó.  Nếu đã hiểu, nhất là nhờ Tu tập mà hiểu sâu hơn, và tin mọi kết quả trong đời sống chúng ta, đều do NHÂN và DUYÊN chúng ta gây tạo, thì mới ý thức và lập chí Tu sửa, lo hoàn thiện những kiếp sống của mình trên dòng sanh tử, hoặc có thể quyết lo tiến tu, hay thực hành ĐẠO ĐẾ để tự giải quyết nghiệp nhân sanh tử khổ đau , tức không màng tới an vui hạnh phúc tạm bợ  của thế gian.

 

DUYÊN là những thứ phụ gây tác động cho NHÂN kết thành QỦA. Nếu nhân tốt mà duyên xấu thì không thể thành quả tốt được. Muốn có quả tốt phải có nhân tốt với nhiều duyên tốt. Hạt giống tốt, mà gieo trên đất không tốt, điều kiện thời tiết không tốt, nước, phân không hợp lẽ, thì không thể có quả tốt.

Nhân xấu cũng thế, một nhân xấu mà hầu hết duyên đều tốt, thì nhân xấu đó có thể bị chận đứng hay hóa chuyển, và cuối cùng kết quả có khả năng trở thành tốt. Có nhân tốt, mà duyên vừa có tốt vừa có xấu, thì quả của nó cũng không hoàn toàn tốt. Sự sống trên dòng tâm thức với mọi hiện tượng liên hệ của nó cũng thế. 

Nếu một thời gian đầu của tuổi trẻ Ta có tu tạo nhân tốt, rồi sau đó Ta gây tạo những nhân xấu, thì nhân tốt của thời gian đầu bị gặp nghịch duyên. Những nhân xấu sau đó là những nghịch duyên của những nhân tốt trước đó. Thế là những nhân tốt trước đó thiếu thuận duyên để đạt thành quả tốt đúng như đã gieo. Nhân với duyên có thuận nhau, có nghịch nhau, có hơn có kém, có trợ lực với có xóa tan qua thời gian diễn biến, hết sức phức tạp, nên những ai chưa qua một quá trình Tu học Phật Pháp thì chẳng thể hiểu nổi.

Nhất là với sự xen tạp giữa nghịch duyên và thuận duyên qua sự chi phối của các loại Tâm Sở, trong sự hợp tác của Ý Thức cộng hành thế nào đó.

          

MỤC HAI: TÂM THỨC LÀ NHÂN TỐ CỦA MỌI HIỆN TƯỢNG

      Tâm thức chúng sanh đối với thế giới và mọi hiện tượng của nó qua luật Nhân Quả cũng thế. Tâm Thức chúng sanh là cái Nhân, là yếu tố chính của mọi hiện tượng sai biệt (khác biệt  nhau), mà đồng thời là năng lực tác động cho sự hình thành bản thân và thế giới khổ vui của chúng sanh . Khi Tâm Thức được thể hiện qua hành động hay qua lời nói, thì đấy là một sự kết hợp đã có khả năng tác động mạnh , trở thành nghiệp nhân, và nếu đủ thuận duyên với yếu tố thời gian, sẽ tác thành nghiệp quả của nó. Cho nên Tâm Thức cũng được mệnh danh là nghiệp--Ý nghiệp,  nó là chủ nhân của các nghiệp thân , khẩu , và yếu tố thiện ác tốt xấu ….cũng phát xuất từ đó (tức phát xuất từ tâm thức).

    

MỤC BA: CĂN NGUYÊN CỦA NGHIỆP THỨC MÊ VỌNG

Với Tuệ Giác của Đức Phật, Ngài thấy rõ khởi thủy của tâm thức chúng sanh là pháp Duyên sanh, là thứ bị sanh. Pháp Duyên sanh đó là Vô Minh Nghiệp Tướng, là cái nhân đầu tiên của nghiệp thức sanh tử, là tướng vi tế thứ nhất của vọng tâm, cho nên còn có tên là Nghiệp Thức. Từ đó mà hình thành ra Thức năng biến và Tâm năng duyên gọi là Năng Kiến Tướng (là tướng vi tế thứ hai của vọng tâm) và Cảnh Giới Tướng (tướng vi tế  thứ ba của vọng tâm).

  Trong Khởi Tín Luận của Đức Mã Minh Bồ Tát đã cho những ai đủ khả năng nghiên cứu và Tịnh tu Tịnh quán thấy rõ điều nầy. Vô Minh Nghiệp Tướng  hay Nghiệp Thức đó nhân đâu mà có? --Khởi Tín Luận dạy: “Do y vào  Bất Giác cho nên tâm động, gọi đó là nghiệp. Giác thì chẳng động. Động thì có khổ, vì quả chẳng lìa nhân vậy”.

  TÂM mà Luận nói đó, là Thường Trú Chơn Tâm, bất sanh bất diệt, là Tánh Bổn Giác. Đức Phật Chứng ngộ là Chứng ngộ Chơn Tâm Thường Trú, Giác Tánh sáng suốt trong lặng nầy.

 

MỤC BỐN: BẤT GIÁC VỚI NGHIỆP NHÂN SANH TỬ

Luận lại cho thấy nghiệp có hai nghĩa. Nghĩa thứ nhất là động tác, nghĩa thứ hai là nhân .

Theo nghĩa thứ nhất, do y vào một niệm bất giác ban đầu động Tịnh tâm kia, thì chính cái trạng thái động tâm nầy được gọi là Nghiệp Tướng. Trái lại, Chơn Giác thì không động niệm. Như  vậy, động tâm khởi  niệm ban đầu đó là do Bất Giác. Theo nghĩa thứ hai (là nghĩa nhân), nghiệp là nhân của sanh tử khổ não, tức Nghiệp Thức ấy làm cái nhân sanh tử. Vì vậy mà Luận nói: “Động thì có khổ, vì quả chẳng lìa nhân vậy”. Cái trạng thái nghiệp thức nầy tuy có động niệm mà rất vi tế, một niệm duyên khởi, NĂNG, SỞ chưa phân, tức là cái cảnh mờ tối làm KHÔNG, cảnh mờ tối hay KHÔNG đó chính ngay nơi Tự Thể Phần của Thức A Lại Da, Tự Thể Phần nầy cũng được gọi là Nghiệp Thức Căn Bản. Đó là tướng vi tế thứ nhất .

MỤC NĂM: NĂNG KIẾN VỚI NĂNG DUYÊN

 “Tướng vi tế thứ hai là Năng Kiến Tướng, vì nương vào động cho nên Năng Kiến, bất động thì vô kiến ”

 “Tướng vi tế thứ ba là Cảnh Giới Tướng, do y vào Năng Kiến cho nên cảnh giới vọng hiện ra, lìa kiến thì không có cảnh giới”.

                 Luận giải thích hai tướng đó như sau :

  Đây là giải thích CHUYỂN, HIỆN hai tướng. “Năng Kiến Tướng”tức Chuyển Tướng, cũng gọi là Chuyển Thức. Trí Chơn Như chiếu, vốn không năng sở (tức không có chủ thể và đối tượng). Nay đã mê Trí Thể , nương vào một niệm động tâm ,để mất Thể sáng  tỏ tinh anh  kia , chuyển  thành vọng kiến . Cho nên nói rằng :“Vì nương vào động cho nên năng kiến” . Trái lại, cho thấy rõ Chơn Giác Bất Động thì không có kiến (tức không có chủ thể nhận thức). Đây chỉ là ước theo năng duyên để nói rõ nghĩa Chuyển Tướng của Thức A Lại Da . Nhưng , tuy Thức A Lại Da có năng duyên , mà không thể biết được đối  tượng của nó duyên. Như  Luận Nhiếp Đại Thừa nói : “Vì Ý Thức duyên cảnh ba đời và duyên cảnh chẳng phải ba đời , thì có thể biết được ; Còn cảnh mà Thức A Lại Da nầy duyên thì chẳng thể biết được”.

   Cảnh Giới Tướng, tức Hiện Tướng, cũng gọi là Hiện Thức. Vì Chơn Tâm vô tướng, do một niệm vọng động, chuyển làm vọng kiến. Nương vào bệnh Năng Kiến nầy mà vọng hiện ra cái Tướng Cảnh giới  không  hoa ( tức hoa đốm ở hư không ), cho nên nói rằng :“Do nương vào Năng Kiến, cho nên Cảnh Giới vọng hiện ra”. Trái lại cho thấy rõ, bệnh màng mắt nếu trừ thì hoa đốm nơi hư không (trước mặt) diệt, cho nên nói : “Lìa KIẾN thì không có cảnh giới ”. Đây chỉ là ước theo sở duyên (đối cảnh làm duyên), để nói rõ Hiện Tướng của Thức A Lại Da. Luận lại nói : “Năng Kiến hiện ra những

cái tướng của tất cả  cảnh giới, cũng giống như gương sáng hiện ra các sắc tượng, Hiện Thức cũng vậy”.

Ba tướng vi tế nầy đều do căn bản vô minh, một niệm vọng động, mà thành ra Tam Tế đây, tức là Tâm Bất Tương Ưng , nhiếp thuộc về vị A Lại Da . Như trong Kinh Lăng Nghiêm Đức Phật dạy: “Tánh Giác tất nhiên là minh (sáng), vọng làm Minh Giác (minh giác tức vô minh); Giác chẳng phải Sở minh (tức Giác chẳng phải cái vọng của nghiệp thức), nhân nơi minh lập ra  sở (tức là nhân nơi minh mà lập ra sở minh. Chữ SỞ ở đây là chỉ cho chỗ vọng của nghiệp thức, chứ đừng hiểu theo nghĩa tạo tác cảnh giới ). SỞ đã vọng lập ( tức đã  lập ra chỗ vọng của Nghiệp thức làm đối tượng), thì sanh ra Vọng Năng của Ông (Vọng Năng tức Năng Kiến Tướng: Kiến Phần của Thức A Lại Da ). Trong cái không có đồng nhau và không có khác nhau , mà vụt chốc thành ra khác nhau (tức vụt chốc thành ra Cảnh Giới Tướng,  đối lại Năng Kiến Tướng).  Nói rằng,  không có đồng nhau với khác nhau ấy, tức là cái tướng chỗ vọng mờ tối của Nghiệp Thức, là khoảng không gian chẳng phân . Thành  ra khác nhau nói  đó, là trạng thái mờ tối đông kết lại làm SẮC (thành ra tướng khác nhau của bốn đại vậy). Cái khác nhau với đối tượng khác nhau kia , nhân nơi khác nhau mà lập ra cái đồng nhau (tức lập ra tướng hư không vậy ). Đồng nhau với khác nhau đã được phát minh, nhân đây lại lập ra cái không đồng nhau cũng không khác nhau (tức tướng hư không vậy)”. Căn thân và Khí thế giới đều là những thứ được tác thành của tướng Năng Kiến bệnh , và đều là Tướng Phần của Thức A Lại Da. (đoạn trên là trích dịch  Khởi Tín Luận).

         

MỤC SÁU: TẬP ĐẾ QUA DUYÊN KHỞI PHÁP

Ba tướng vi tế đó, là Pháp duyên khởi đầu tiên  của Tâm Thức. 

          Do y cứ theo đó mà lập ra bốn thứ Duyên Khởi:  

        

          1._ Tiểu Thừa chủ trương: Nghiệp Cảm Duyên Khởi .                                                       

        2._ Đại Thừa Thỉ Giáo chủ trương : A Lại Da Duyên Khởi, nói: A Lại Da Thức hàm tàng Chủng tử của vạn pháp, tất cả Căn Thân và Khí Thế Giới đều do Thức A Lại Da  mà sanh .

        3._ Đại Thừa Chung Giáo chủ trương : Chơn Như Duyên Khởi, nói: Từ Chơn Như Duyên Khởi mà sanh vạn pháp.

        4._Nhất Thừa Viên Giáo chủ trương: Pháp Giới Duyên Khởi, nói: Tất cả sự vật khắp Pháp Giới, nào hữu vi, nào vô vi , nào sắc, nào tâm, nào Y báo, nào Chánh báo , quá khứ, hiện tại, vị lai, hết thảy đều thành  một đại duyên khởi. Pháp giới duyên khởi nói đó, tức dùng tất cả pháp khởi lên tất cả pháp, dùng một pháp khởi lên tất cả pháp, hai thứ đó đồng thời, đều không trước sau. Tam Tế Lục Thô mà trong Đại Thừa Khởi Tín Luận nêu lên chính là hành tướng của  Vạn Pháp Duyên Khởi. Thì Vô Minh Nghiệp Tướng,  chính là chỉ cho tối sơ nhất niệm, bất giác tâm động. Tâm động chính là nghiệp.

Theo Hoa Nghiêm Tông thì: “ Trong Thức A Lại Da, vốn tự  đầy đủ Chủng tử của mười Pháp giới (từ pháp giới Chư Phật xuống đến pháp giới địa ngục), nếu gặp duyên nhiễm huân thì phát khởi thành hiện hành nhiễm, gặp duyên tịnh huân thì phát khởi thành hiện hành tịnh”.

 

MỤC BẢY: TRƯỚC THỰC TRẠNG MÊ VỌNG CỦA CHÚNG  SANH.

Chúng sanh với Tập Đế mê vọng gắn liền nhau. Tập Đế là căn bịnh từ vô thỉ kiếp. Và do tâm bịnh mà có thân bịnh (bệnh), có khổ quả sanh tử. Nên Ngài Văn Thù đến thăm hỏi bịnh Ngài Duy Ma Cật: “Cư Sĩ bịnh có khó chịu lắm không?  Điều trị có bớt không ?  Bịnh không đến nỗi nặng thêm chứ ?  Đức Thế Tôn gởi rất nhiều lời ân cần thăm hỏi. Bịnh Cư Sĩ do đâu mà sanh ?  Nó sanh đã bao lâu rồi ?  Và phải bằng cách nào mới chữa trị cho hết hẳn ?”.

Ngài Duy Ma Cật trả lời: “ Từ nơi si mà có ái, thì tôi sanh bịnh; Vì tất cả chúng sanh bịnh, nên tôi bịnh. Nếu tất cả chúng sanh chẳng mắc bịnh, thì bịnh tôi dứt hẳn. Sao lại có lý đó ? --- Bồ Tát vì chúng sanh mà vào đường sanh tử ; Có sanh tử thì có bịnh….”( Tùng si hữu ái, tắc ngã bệnh sanh; dĩ nhất thiết chúng sanh bịnh, thị cố ngã bịnh. Nhược nhất thiết chúng sanh đắc vô bịnh giả, tắc ngã bịnh diệt. Sở dĩ giả hà ? --- Bồ Tát vị chúng sanh cố , nhập sanh tử . Hữu sanh tử, tắc hữu bịnh…..).

Sự vấn đáp của hai đức Đại Bồ Tát ấy rất dài. Ở đây chỉ dẫn chứng một chút để bổ túc cho sự giải về Tập Đế nầy.

Si ái là nhân của sanh tử, là bộ máy sinh động của vòng luân hồi. Trong si ái luôn có mặt Vô minh , nếu không có Vô minh thì không có si ái. Si ái được tiếp nối thành ra bộ mặt Tập Đế. Tham dục với Vô minh là hai anh chàng mạnh nhất của nghiệp cảm sanh tử. Tham dục, tức ham muốn đủ thứ, mà trong các Kinh Luận nói gọn là Ngũ dục ( tức ham bạc vàng của cải ; Ham sắc dục; Ham khen ngợi, danh; Ham ăn uống cao lương mỹ vị, máu thịt chúng sanh; Và ham ngủ nghỉ êm ái say sưa. Chúng sanh nếu chẳng móng tâm tham tài, thì lại móng tâm tham sắc; Tạm ngưng tham sắc thì thay vào ham danh..v..v..). Luận Cu Xá nói: “Tham dục nhiễm tâm linh bất Giải Thoát, Vô Minh nhiễm huệ linh bất Thanh Tịnh”. Nghĩa là niệm tham dục làm nhơ nhiễm Tâm, khiến cho Tâm không được Giải Thoát; Vô Minh làm nhơ nhiễm Huệ, khiến cho Huệ (Tuệ) chẳng được Thanh Tịnh sáng suốt. 

Đó là nguyên nhân tác thành đau khổ của đời sống. Cho nên Ta ngu mê, Ta đần độn, Ta hụp lặn trong biển khổ sanh tử, Ta rước lấy những đau khổ là tại Ta hơn là tại ai khác, tức tại Ta thích sống với nhiễm tâm, khoái xúc cảm, luôn tìm sự xúc cảm thỏa mãn nhiễm tâm và thích tương ưng với nhiễm pháp. Có những người nói: “Biết đó là nhân của khổ mà con không bỏ được”; Cũng như những người đã ghiền hút thuốc, uống rượu nói: “Biết hút thuốc là có tác hại cho sức khỏe, nhưng đã quen rồi thiếu đi không chịu được”. Chính đó là Tập Đế. Đối với rượu.v.v.. cũng thế. Qủa có mặt ngay nơi Nhân. Thấy Tập Đế thế nào đó, là đã biết đường hướng (kết quả) của Tập Đế đó sẽ thế nào rồi.  Nếu Ta không cộng nghiệp với hạng xấu ác, không liên lụy với hạng xấu ác, làm gì có vấn đề suốt cả đời khổ bởi: Hết gặp kẻ xấu ác nầy gây họa, tới gặp kẻ xấu ác khác gây họa. Tóm lại, đã chấp nhận sống bằng tánh Tập Đế, lấy Tập Đế làm Ta, Ta với Tập Đế không lìa nhau thì, Ta với Khổ Đế cũng không lìa nhau. Đó là chân lý, đó là ĐẾ (đã như thế thì phải như thế).

 

 

CHƯƠNG BA: CẦN DÙNG PHẬT PHÁP ĐỂ CHUYỂN TẬP ĐẾ.

          

               MỤC MỘT:  CẦN XA LÌA ÁC PHÁP

Chúng sanh muốn chuyển Tập Đế và trừ Tập Đế của mình, điều tiên quyết là phải xa lìa ác pháp, phải thường sáng suốt, thấy rõ các pháp. Những gì là ác pháp ?--- Việc làm, hành vi của Ta gây họa hại đến kẻ khác, tự tổn thương giá trị tinh thần của Ta và ác báo sẽ đến với Ta, là ác pháp của Ta, là Ta đã gây tạo ác pháp. Lời nói của Ta gây tổn hại đến kẻ khác, nhằm mưu lợi cho Ta, là ác pháp của Ta; Ý niệm tư tưởng của Ta xấu xa độc ác, ích kỷ hẹp hòi, là ác pháp của Ta, ác pháp từ nơi tâm của Ta. Tâm ích kỷ: Làm, nghĩ, nói , mỗi mỗi nhằm lợi mình hại kẻ khác, là ác pháp tự bóp nghẹt đời sống của Ta, gây ảnh hưởng xấu cho xã hội nói chung. Khi Ta chấp nhận, đồng thuận, tương ưng với những nghiệp xấu ác của kẻ khác, là cộng nghiệp xấu ác của Ta, nói riêng. Khi Ta dụng tâm xấu ác hay tâm nhơ nhiễm tương ưng ( cùng hợp nhau) với những gì xấu ác và mê muội bên ngoài, thì sự tương ưng đó cũng là ác pháp. Ta dung dưỡng những gì xấu ác, bất chánh bên cạnh Ta, cũng là ác pháp của Ta. Tánh ganh tỵ, mê muội, xấu xa, là những ác pháp làm xấu đời sống của Ta. Như vậy, mọi sự xấu xa đều từ Tập Đế xấu của Ta, đều do phiền não nặng nề của Ta. Và đó chính là ác pháp tự làm tổn hại Ta. Muốn đủ khả năng Tu học Phật, trước hết phải xa lìa ác pháp.

 

           MỤC HAI:  DO ĐÂU KHÓ LÌA ÁC PHÁP ?

Do không tin không hiểu và không dụng được Phật pháp vào đời sống của Ta, mà không lìa được ác pháp, ác pháp cứ mãi gắn liền với đời sống chúng sanh, với nghiệp chúng sanh.

Phải nhận rõ ác pháp, phải thấy rõ khổ quả của ác pháp, mới chịu lo Tu học theo Giáo Pháp của Đức Phật, mới lo chuyển Tập Đế. Phải thật sự xa lìa ác pháp, mới có khả năng giải trừ Tập Đế mê vọng ra khỏi Tâm Thức và đời sống của Ta. Bao giờ Ta chưa quyết chí tinh tấn Tu tập theo Thánh giáo của Phật, lúc đó Ta chưa đủ khả năng tận trừ ác pháp.

Những ai không hiểu không tin Phật Pháp, không tin Nhân quả tội phước, không tin hiểu giá trị Tâm linh Giác tánh của mình, thì chỉ biết sống với phiền não nhiễm tâm, tương ưng với thế gian nhiễm pháp, chỉ biết nương tựa vào những pháp vô thường hư giả, nương vọng tâm sanh khởi vọng tâm, nương nhiễm pháp sanh khởi nhiễm pháp, vọng tâm nhiễm pháp làm chủ đời sống của Ta. Vì vậy mà ác pháp cũng dễ làm chủ đời sống của Ta.

 

MỤC BA: PHƯỚC THIỆN HỮU LẬU CÒN XA THÁNH ĐẠO

Những người có tin hiểu Phật pháp, mà chưa thâm đạt về Pháp Tánh Pháp Tướng, quán tâm chưa thông, quán pháp chưa suốt, tâm không dễ tịnh, trí không dễ sáng, niệm Phật chưa nhập tâm, lễ sám chưa thấy an vui giải thoát, mặc dù lập nguyện thực hành thiện pháp, cũng chưa dễ trừ hẳn nhiễm tâm và ác pháp, bởi vọng tâm còn chủ động, chỉ biết cầu Phước báo Hữu lậu, đắm mê vào Phước báo Hữu lậu, không biết và không có khả năng ngộ nhập Chơn Tâm Thường Trú, Giác Tánh sáng suốt trong lặng thì, cũng chưa đủ khả năng trừ nhiễm tâm, chưa bảo đảm lìa ác pháp. Đắm vào danh tướng của Phước báo Hữu lậu, tức chưa xả nhiễm tâm, chưa lìa ác pháp. Phước báo Hữu lậu trá hình trang bị đẹp, nếu không có Trí Giác hiện tiền, không có khả năng phát khởi Vô Lậu Trí, cuối cùng vẫn không có khả năng Thể nhập Thánh Trí Vô lậu (VÔ LẬU là tâm trí không còn bóng dáng phiền não mê vọng ), thì vẫn chết giữa dòng Vô minh nhiễm pháp thế gian, dù có thể giàu sang sung sướng hơn, nhưng chưa có khả năng thoát khổ sanh tử, cũng tức là chưa có khả năng Thể Nhập Tự Tánh Thanh Tịnh Tâm, chưa Tự tại và An lạc trước các pháp, tức trước mọi sự đổi thay của đời sống.

 

          MỤC BỐN: XÁC ĐỊNH RÕ THIỆN ÁC TRONG TA

Vô minh phiền não đã trở thành những anh bạn đồng hành của chúng sanh từ Vô Thỉ kiếp, không dễ dứt trừ. Những anh bạn đồng hành nầy có khả năng gây ác nghiệp và thường gây ác nghiệp.

Bao giờ Phật Pháp có mặt trong Quán Trí, trong hơi thở, trong nhịp sống của Ta, lúc đó ác nghiệp mới không có khả năng hiện hành, không có khả năng chi phối đời sống của Ta.

Như vậy, ác pháp là của Vô minh Phiền não, chính bản thân Phiền não là ác pháp. Ác pháp không lìa chúng sanh thế gian, mặc dù trong chúng sanh thế gian có nhiều Thiện pháp, bởi trong đó có 11 Thiện Tâm Sở, nếu Tu hành theo đường hướng Giác ngộ Giải thoát của Phật thì còn có 5 thứ Tâm Sở Biệt Cảnh là : Dục, Thắng giải, Niệm, Định và Huệ. Còn nếu những Thiện Tâm Sở yếu kém, không có thuận duyên sanh trưởng, thì những Tâm Sở Phiền não ( 26 thứ Tâm Sở Phiền não) vẫn chủ động cuộc sống của chúng sanh theo đà nhiễm ác dễ dàng. Bao giờ chưa có Ngũ Căn, Ngũ Lực, Thất Giác Chi, Bát Chánh Đạo, thì nhiễm tâm chưa dễ trừ, Thánh đạo chưa dễ thấy, Tập Đế còn nguyên vẹn, tức ác pháp cũng dễ sanh khởi. Và điều rõ ràng nhất mà bất cứ ai trong chúng ta cũng dễ thấy, đó là: Ác pháp là của những con ma ích kỷ, hẹp hòi, tham, sân, si, mạn trong tâm chúng sanh, mọi tánh xấu trong tâm chúng sanh. Và đó là những kẻ mang nặng ác pháp.

Người thế tục cùng nhau hô hào trừ xấu ác trên quả, mà không biết, không tin học theo Phật Pháp để ai nấy hiểu rõ mà trừ xấu ác trên nhân của tâm mình. Chỉ có trừ xấu ác ngay trên tâm chúng sanh, mới có khả năng giảm trừ xấu ác của xã hội, của thế giới chúng sanh. Không học Pháp Phật để giải trừ những xấu ác, hẹp hòi, ích kỷ, tham, sân, si, mạn, và bất tín, tà kiến trong tâm của từng con người, của từng chúng sanh trong xã hội loài người, làm gì giải trừ được những tham lam bất công, lường gạt, dối trá, tham nhũng, bóc lột, mạnh hiếp yếu, thế hiếp cô..v.v…trong xã hội cạnh tranh sinh tồn và mê muội hưởng thụ vô độ, luôn khoe sắc tài danh lợi nầy. Nếu không có tâm vị tha của Phật, nếu không có hạnh cứu tế của Bồ tát, không có tinh thần Giác Ngộ Giải Thoát, không có Chánh Kiến Chánh Tín của Đệ tử Phật, hay của những nhà Đạo đức Thánh hiền từ ngàn xưa, thì kiếm đâu ra hạng phục vụ kẻ khác mà không vì danh, không vì tướng, không vì quyền lợi nào đó. Không có ánh Từ quang của Phật, của Bồ Tát, của Thánh hiền, dễ gì xã hội loài người có được an bình tốt đẹp Vị tha Vô ngã, nhà nhà ấm êm hạnh phúc.

         

       MỤC NĂM: GIẢI TRỪ XẤU ÁC CẦN DỤNG ĐỨC HẠNH

Vậy muốn giải trừ những bất công xã hội, phải giải trừ ác pháp trong lòng người, nhất là trong lòng những hạng Quan quyền, những người tài năng; Hoặc là đừng vì Tài năng mà bỏ quên Đức hạnh. Cổ đức đã bảo: “Đức thắng Tài là Quân tử, Tài thắng Đức là tiểu nhơn” (TIỂU NHƠN, tức con người lòng dạ hẹp hòi ích kỷ, nhận thức nông cạn, quý quyền lợi danh vị hơn quý lương tri đạo đức). Và phải có những nhà lãnh đạo, những tay điều hành đầy đủ Chánh Kiến Chánh Tín, theo tinh thần Phật Giáo; Đào tạo những mẫu người có Tâm Đức, có Trí Giác và có Tinh thần Vị tha cao cả; Lấy tinh thần phụng sự Phật Pháp, lợi lạc chúng sanh làm Kim Chỉ Nam để an dân hộ quốc, mọi thứ khác chỉ là những phương tiện đối phó nhất thời.

 

MỤC SÁU: CÀNG NHIỀU ÁC NHÂN, CÀNG LẮM KHỔ QUẢ

Đó là điều quá rõ ràng trong đời sống xã hội từ ngàn xưa. Xã hội nào, thời nào trừ được nhiều ác nhân thì xã hội đó, thời đó, hay con người đó có được nhiều an lạc.

Muốn cho xã hội giảm thiểu những xấu ác, những tham lam bất chánh, những si mê cuồng loạn, thì phải dùng Pháp của Phật để soi sáng và chuyển hóa tâm tánh chúng sanh.

Phải thấy sự nguy hại của lòng dạ ích kỷ, hẹp hòi, cuồng tín dẫn đến độc ác đang có mặt khắp nơi trên thế giới, nhất là  những nơi thiếu nền tảng Đạo Đức, những nơi tà kiến tà pháp điều động chủ đạo tinh thần con người, và những nơi Y Báo xấu, tức là những nơi mà môi trường và phương tiện cho sự sinh tồn quá khó khăn, như mưa gió không điều hòa, thời tiết không thuận lợi, đất đai kém màu mỡ, cây cối không tốt tươi, nhiều thiên tai hạn hán, nhiều khí độc và côn trùng phá hại; Những nơi mà quanh năm suốt tháng phấn đấu cho sự sống vật chất,vẫn không đầy đủ sung túc; Những nơi mà không tìm thấy sự an bình thanh thản nơi nét mặt người già, không tìm thấy sự hồn nhiên vô tư và vui khỏe nơi những lớp người non trẻ, và thanh thiếu niên thường có thái độ ngang tàng vô lễ, cũng không tìm thấy đời sống tương đối sung mãn trong đại đa số quần chúng, làm gì có đời sống Đạo Đức, Nhân nghĩa, Vị tha, khiêm cung và cao cả ở đó; Làm gì biết tới Chơn Tâm và Giác Tánh, làm gì biết quý trọng đời sống Đạo Đức Tâm linh.  Đó là những nơi không đủ nhân duyên với Chánh Đạo, với Thánh hiền, những nơi không dễ tìm ra bạn Tri thức Lương thiện Nhân Đức, không tìm đâu ra những vị Đạo Sư Từ Bi và thanh thoát, chẳng màng sắc tài danh vị; Không tìm đâu ra những nhà lãnh đạo và điều hành sáng suốt, Vị tha cao cả, vì an vui tốt đẹp cho xã hội và chúng sanh nói chung. Những nơi như thế Kinh Phật gọi là Y Báo xấu.

 

         MỤC BẢY: Y BÁO XẤU BỞI CHÁNH BÁO XẤU

Y Báo xấu như thế là đã do Chánh Báo xấu, tức là hầu hết tâm địa con người mù quáng xấu ác, hành vi lẽ sống không tốt lành lương thiện, hiếm có người lập tâm lập hạnh đạo đức lương thiện, không dễ thấy có người Tu các hạnh: Bố thí, Trì giới, Nhẫn nhục, Tinh tấn, Thiền định…, mà thấy đời sống của hầu hết là xấu ác, khổ đau, tham lam bất chánh, sân si  sát hại; không có nhân tướng Phước Đức. Đó gọi là Chánh Báo xấu. Trong Tập Đế, sợ nhất là Chánh Báo và Y Báo xấu. Cái xấu nhất đó là, đọa vào Ba đường ác (địa ngục, ngạ qủy, súc sanh), tức là Tập Đế và Khổ Đế xấu nhất. Nếu được mang thân người, mà cả Y Báo Chánh Báo đều xấu, tức cả Nhân cả Quả đều xấu. Thì khó mà tu nhân tốt, tức không dễ sống đời Nhân đức Thiện lương, không dễ thực hành đạo hạnh hiếu nghĩa, không có khả năng bố thí vị tha, cha con vợ chồng không êm ái hạnh phúc, đời sống không lúc nào được thanh thản, lòng người luôn xáo trộn, phố phường làng xóm luôn xáo trộn, các phiền não: Tham, sân, si, mạn, nghi, ác kiến luôn đua nhau bùng phát, thiêu đốt tâm tư; Thiếu vắng Tâm đức, thiếu vắng Trí giác, lương tri và tình người. Đó đều là Chánh Báo xấu. Ai bị cái nghiệp chung Chánh Báo xấu như thế, thì đó cũng chính là Y Báo xấu. Và đó là điều đáng sợ nhất của đời sống, của kiếp người. Tất cả đều tại Tập Đế xấu, tức tội chướng và ác nghiệp quá nặng. Muốn thoát khỏi tội chướng ác nghiệp nặng nề, thì điều luôn luôn cần trước hết là phải thực hiện hạnh sám hối, bằng niệm Phật Bồ Tát, bằng lạy sám và trì tụng Kinh Chú. Nếu tội chưa tiêu, nghiệp chưa chuyển, chưa có khả năng sanh Phước Huệ, thì cũng chưa dễ thực hành các hạnh nguyện khác. Nếu không nhờ Từ Bi Cam Lộ của chư Phật Bồ Tát, thì lấy gì để giải trừ tội chướng ác nghiệp và khổ quả đang nặng nề. Nhưng những kẻ không tin thì phải chìm đắm mãi trong Vô minh phiền não tội chướng ác nghiệp và khổ quả.

 

           MỤC TÁM: GIÁ TRỊ CỦA CHÁNH TRI KIẾN

Nếu Tập Đế mà có Đạo Đế soi sáng, hóa chuyển, thì đời sống sẽ tốt đẹp hơn, Tập Đế cũng nhẹ nhàng và cũng dễ chuyển hóa hơn, tức có khả năng thoát Khổ Đế; Hoặc là những khổ quả hiện tại là cái đánh thức Tri giác thấy rõ kiếp nhân sanh là quá khổ, trở thành vị thuốc hay của Tri kiến và Hạnh nguyện Tu tập Giải Thoát. Vì vậy, Chánh Tri Kiến hết sức quan trọng, có Chánh Tri Kiến thì đủ khả năng tiến theo đường hướng của Phật Bồ Tát; Chánh Tri Kiến là nền tảng của Chánh Tín, Chánh Tinh Tấn, Chánh Niệm, Chánh Định.v.v.. và của Bồ Đề Tâm, của Bồ Tát Hạnh. Cho người ta tiền của, bạc vàng, sự nghiệp dễ hơn giúp cho tinh thần người ta đầy đủ Chánh Tri Kiến. Tập Đế mãi xấu ác là bởi thiếu Chánh Tri Kiến của học Phật. Cho nên không có Chánh Tri Kiến của Tu  học Phật. Là một điều đáng sợ trong đời sống của chúng sanh, sợ hơn cả nghèo cực và khổ đau. Có Chánh Tri Kiến là có khả năng hóa giải những nhân duyên không tốt lành trở nên tốt lành, làm đẹp đời sống không khó, lập các hạnh nguyện và tiến đến Giải Thoát cũng không khó. Chánh Tri Kiến nuôi lớn Bồ Đề Tâm, trang nghiêm Bồ Tát Hạnh, giúp cho thế giới chúng sanh bớt khổ thêm vui. Ai đầy đủ Chánh Tri Kiến của Tu học Phật, tức đầy đủ Văn Huệ và Tư Huệ, là người đó đã có tiềm năng Giải Thoát, có khả năng thẳng tiến trên Chánh Đạo.

Nhưng từ nhân duyên nào mà có Chánh Tri Kiến ?

Muốn có Chánh Tri Kiến, trước hết phải Nhiếp Thọ Chánh Pháp, mà nhiều Kinh Luận gọi là Văn Huệ, Tư Huệ.

 

 

 

MỤC CHÍN:  NHIẾP THỌ CHÁNH PHÁP

Trong Thắng Man Sư Tử Hống Nhất Thừa Đại Phương Tiện Phương Quảng Kinh, chương Nhiếp Thọ Chánh Pháp, Thắng Man Phu Nhơn (1) bạch Phật rằng: Bạch Đức Thế Tôn ! Con nay muốn nói Đại Nguyện, phải nương vào sức Oai thần Biện tài của Phật, may mắn thay nếu được Ngài cho phép.

Đức Phật nói: Thắng Man, Ngươi cứ nói tự nhiên.

Thắng Man Phu nhơn nói: Bồ Tát có hằng hà sa số các nguyện, mà tất cả các nguyện đều vào trong một Đại Nguyện. Một Đại Nguyện ấy được gọi là Nhiếp Thọ Chánh Pháp của Như Lai. Nhiếp Thọ Chánh Pháp như thế quả thật là Hạnh Nguyện rộng lớn.

Đức Phật nói: Lành thay Thắng Man ! Ngươi tu tập Trí Huệ Phương tiện đã lâu, sự thấy biết của Ngươi thật là sâu xa vi diệu, những chúng sanh nào trong thời vị lai đã nhiều đời kiếp lâu xa gieo trồng các Thiện căn đều có khả năng hiểu rõ những lý nghĩa mà Ngươi đã nói. Giá trị của Nhiếp Thọ Chánh Pháp như Ngươi đã nói, đó là điều mà chư Phật trong quá khứ đều đã nói, chư Phật trong hiện tại đang nói, và chư Phật trong vị lai cũng đều sẽ nói. Nay ta chứng đắc Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, cũng lại thường dùng mỗi mỗi Công Đức của Nhiếp Thọ Chánh Pháp mà nói cho nhau. Như vậy sự xưng dương tán thán về Nhiếp Thọ Chánh Pháp, có Công Đức vô số kể, không có ngằn mé. Trí Huệ Như Lai cũng không có ngằn mé. Ngươi biết vì sao không ? – Vì Nhiếp Thọ Chánh Pháp có Công Đức rất lớn, có lợi ích quá lớn.

Lúc đó Thắng Man Phu nhơn lại bạch Phật rằng: Bạch Đức Thế Tôn ! Con phải nương sức Oai thần của Phật để lại diễn thuyết lý nghĩa rộng lớn của Nhiếp Thọ Chánh Pháp.

Đức Phật nói: Ngươi cứ tự nhiên nói đi !

Thắng Man Phu nhơn nói: Cái nghĩa rộng lớn của Nhiếp Thọ Chánh Pháp ấy, là được vô lượng tất cả Phật Pháp, cho đến đủ khả năng thâu nhiếp cả tám vạn Hành Uẩn. Thí như lúc kiếp đầu tiên mới thành các sắc mây nổi lên, mưa các trận mưa báu. Như vậy những sắc mây Thiện căn của Nhiếp Thọ Chánh Pháp, có khả năng mưa vô lượng những đám mưa Phước báo.

Bạch Đức Thế Tôn ! Lại như trong Đại thủy của kiếp đầu tiên, đủ khả năng sanh ra Tam Thiên Đại Thiên Giới Tạng (chữ GIỚI ở đây là cảnh giới, thế giới), và bốn trăm ức mỗi mỗi loại châu lục. Như vậy, người Nhiếp Thọ Chánh Pháp sanh ra vô lượng Giới Tạng Đại Thừa (sanh ra vô lượng thế giới kho tàng Đại Thừa), và sanh ra mỗi mỗi Pháp môn với những sức Thần thông của các Bồ Tát; Sanh ra tất cả thế gian an ổn khoái lạc, sanh ra tất cả thế gian như ý tự tại, và sanh ra Kiếp Thành của Xuất thế gian An lạc, cho đến những thứ mà Trời Người chưa có được, cũng đều ở trong Công Đức của Nhiếp Thọ Chánh Pháp sanh ra.

Lại như Đại địa gánh vác bốn thứ nặng nề. Bốn thứ nặng nề ấy là gì ? – Một là biển lớn. Hai là các núi. Ba là cỏ cây. Bốn là chúng sanh.

Như vậy Thiện Nam tử Thiện Nữ nhơn Nhiếp Thọ Chánh Pháp đủ khả năng gánh vác bốn thứ trọng trách, còn hơn Đại địa kia.

Bốn thứ trọng trách đó là những gì ? – Nghĩa là lìa Thiện Tri Thức để đi giáo hóa chúng sanh nhưng mà không nghe theo các chúng sanh phi pháp, dùng Thiện căn Trời Người mà làm cho các chúng sanh đó thành thục Thiện căn; Với người cầu Thanh Văn, thì trao cho Pháp Thanh Văn Thừa; Với người cầu Duyên Giác, thì trao cho Pháp Duyên Giác Thừa; Với người cầu Đại Thừa, thì trao cho Pháp Đại Thừa. Đó gọi là các Thiện Nam tử và các Thiện Nữ nhơn Nhiếp Thọ Chánh Pháp, đủ khả năng gánh vác bốn thứ trọng trách, còn hơn cả đại địa kia.

Bạch Đức Thế Tôn ! Như vậy là các Thiện Nam tử các Thiện Nữ nhơn v.v… Nhiếp Thọ Chánh Pháp, kiến lập đại địa, đủ khả năng gánh vác bốn thứ trọng trách, khắp vì chúng sanh mà làm người bạn bất thỉnh, Đại Bi an ủi thương xót chúng sanh, làm Mẹ của pháp thế gian.

Lại như đại địa là cái chỗ của bốn thứ báu sanh ra. Bốn thứ báu đó là gì ? – Một là Vô giá. Hai là Thượng giá. Ba là Trung giá. Bốn là Hạ giá (Giá trị bậc hạ, thấp).

Thiện Nam tử Thiện Nữ nhơn Nhiếp Thọ Chánh Pháp, kiến lập đại địa như vậy, những Hữu tình nào đủ duyên gặp Thiện Nam tử Thiện Nữ nhơn ấy rồi thì, có được bốn thứ quý báu lớn, đó là thứ quý báu thù thằng nhất trong tất cả các thứ quý báu. Bốn thứ quý báu đó là gì ?

Nghĩa là các Hữu Tình (HỮU TÌNH, nói cho đủ là Hữu tình chúng sanh, một tên gọi khác của chúng sanh) đủ duyên gặp bạn lành ấy rồi thì:

1.- Hoặc có người đạt được Thiện căn của Trời Người.

2.- Hoặc có người chứng được quả vị Thanh Văn.

3.- Hoặc có người chứng được quả vị Bích Chi Phật (Duyên Giác).

4.- Hoặc có người đạt được Công Đức Thiện căn của Vô Thượng Thừa (Phật Thừa Vô Thượng Giác).

Đó gọi là Thiện Nam tử Thiện Nữ nhơn Nhiếp Thọ Chánh Pháp của Phật, kiến lập đại địa, mà Hữu tình chúng sanh nào đủ duyên gặp rồi thì liền có khả năng đạt được bốn thứ quý báu.

Bạch Đức Thế Tôn ! Bốn thứ quý báu ấy xuất hiện, gọi là Chơn Thật Nhiếp Thọ Chánh Pháp.

Bạch Đức Thế Tôn ! Nói về Người Nhiếp Thọ Chánh Pháp như thế, nghĩa là Người Nhiếp Thọ Chánh Pháp không khác với Chánh Pháp. Chánh Pháp cũng không khác với Người Nhiếp Thọ Chánh Pháp. Chánh Pháp chính là Người Nhiếp Thọ Chánh Pháp.

Bạch Đức Thế Tôn ! Tinh thần Nhiếp Thọ Chánh Pháp không khác với Ba La Mật. Ba La Mật không khác với Tinh thần Nhiếp Thọ Chánh Pháp. Tinh Thần Nhiếp Thọ Chánh Pháp chính là Ba La Mật. Vì sao vậy ?

--Vì Thiện Nam tử Thiện Nữ nhơn Nhiếp Thọ Chánh Pháp thì:

Đối với người đáng dùng THÍ mà thành thục Thiện căn, thì người Đệ tử Phật đã Nhiếp Thọ Chánh Pháp nên dùng pháp Bố Thí để thành thục Thiện căn cho họ; Cho đến đối với những người đáng dùng sự XẢ THÂN để thành thục Thiện căn, thì vị đã Nhiếp Thọ Chánh Pháp phải biết tùy ý họ mà thành thục Thiện căn cho họ, nhằm giúp cho những Hữu tình chúng sanh đó được an trú trong Chánh Pháp. Ấy gọi là Thí Ba La Mật.

Đối với người đáng dùng GIỚI để thành thục Thiện căn, giữ gìn sáu căn cho thân nghiệp khẩu nghiệp ý nghiệp Thanh Tịnh; Cho đến với những người đáng dùng Oai nghi, thì người đã Nhiếp Thọ Chánh Pháp phải khéo tùy thuận ý họ mà thành thục các căn lành đó cho họ, giúp cho các Hữu tình ấy an trú trong Chánh Pháp. Ấy gọi là Giới Ba La Mật.

Đối với người đáng dùng pháp NHẪN NHỤC để thành thục Thiện căn, mà nếu bị người đó chưởi mắng, dèm pha gây phiền loạn, thì dùng tâm không giận tức và tâm lợi ích, bằng sức nhẫn tối thượng, cho đến sắc diện cũng không biến đổi, tùy thuận ý nó mà thành thục Thiện căn cho nó, khiến cho Hữu tình đó an trú trong Chánh Pháp. Ấy gọi là Nhẫn Ba La Mật.

Đối với người đáng dùng TINH TẤN mà thành thục Thiện căn, với hạng Hữu tình như thế, đệ tử Phật đã Nhiếp Thọ Chánh Pháp chớ khởi cái tâm giãi đãi hạ liệt (lười biếng tầm thường), mà khởi tâm rất ưa muốn siêng năng đệ nhất; Ở nơi bốn Oai nghi tùy thuận ý người đó mà thành thục Thiện căn Tinh Tấn cho họ, khiến cho Hữu tình đó an trú trong Chánh Pháp. Ấy gọi là Tinh Tấn Ba La Mật.

Đối với người đáng dùng TỊNH LỰ (Thiền) mà thành thục Thiện căn, thì vị đã Nhiếp Thọ Chánh Pháp ở nơi Hữu tình đó dùng Chánh Niệm thành thục không tán loạn, việc đã từng làm chớ để lãng quên mất, tùy thuận ý người đó mà thành thục Thiện căn Tịnh Lự cho họ, giúp cho Hữu tình đó an trú trong Chánh Pháp. Ấy gọi là Tịnh Lự Ba La Mật (Thiền Ba La Mật).

Đối với người đáng dùng TRÍ HUỆ (Tuệ) mà thành thục Thiện căn, tức biết vị Hữu tình đó vì lợi ích cho nên mới hỏi nghĩa lý của các Pháp, thì người đệ tử Phật đã Nhiếp Thọ Chánh Pháp nên vận dụng cái Tâm không biết mỏi mệt mà vì họ để diễn thuyết tất cả các Luận, tất cả những điểm sáng tỏ, cho đến diễn thuyết mỗi mỗi chỗ của các công năng khéo léo, làm cho khả năng diễn giải của mình đạt đến rốt ráo, tùy thuận ý người đó mà thành thục căn lành Trí Huệ cho họ, giúp cho những Hữu tình đó an trú trong Chánh Pháp. Ấy gọi là Trí Huệ Ba La Mật.

Vậy nên, Bạch Đức Thế Tôn ! Nhiếp Thọ Chánh Pháp không khác với Ba La Mật; Ba La Mật không khác với Nhiếp Thọ Chánh Pháp. Nhiếp Thọ Chánh Pháp tức là Ba La Mật.

Bấy giờ Thắng Man Phu Nhơn lại bạch Phật rằng: Bạch Đức Thế Tôn ! Con nay nương sức Oai thần Biện tài của Phật, lại nói tiếp nghĩa rộng lớn.

Đức Phật nói: Ngươi còn muốn nói nghĩa rộng lớn gì nữa ?

Bạch Đức Thế Tôn ! Người Nhiếp Thọ Chánh Pháp không khác với Chánh Pháp được nhiếp thọ. Chánh Pháp được nhiếp thọ không khác với Người nhiếp thọ. Thế thì Thiện Nam tử Thiện Nữ nhơn Nhiếp Thọ Chánh Pháp, là Chánh Pháp được nhiếp thọ. Vì sao vậy ? – Nếu như thiện Nam tử Thiện Nữ nhơn Nhiếp Thọ Chánh Pháp thì, vì Chánh Pháp cho nên mới xả thân mạng tài sản.

 Những người vì Chánh Pháp mà xả thân như thế, chứng được Pháp Thân Như Lai, rốt ráo vắng lặng bất khả tư nghị, không có biến đổi, được thường bất hoại; Trong thời gian sau của sanh tử xa lìa lão bịnh.

Những người vì Chánh Pháp mà xả mạng thì chứng được thường vô biên, thành tựu bất khả tư nghị các Thiện Công Đức; Trong thời gian sau của sanh tử, vĩnh viễn lìa cả TỬ, an trú vào TẤT CẢ THẦN BIẾN của Phật Pháp.

Những người vì Chánh Pháp cho nên xả tài sản, thì chứng Báo Thân Viên Mãn đầy đủ Công Đức trang nghiêm bất tư nghị, không cùng tận cũng không giảm thiểu; Trong thời gian sau của sanh tử, Trí, Đức và Tinh thần Giác Ngộ Giải Thoát vượt quá hẳn chúng Hữu tình, được chúng Hữu tình tôn trọng cúng dường.

Bạch Đức Thế Tôn ! Những Thiện Nam tử Thiện Nữ nhơn, v.v... Nhiếp Thọ Chánh Pháp, xả thân mạng tài sản vì Chánh Pháp, thì được sự thọ ký của các Đức Như Lai.

Bạch Đức Thế Tôn ! Nếu như có các hàng Tỷ Kheo, Tỷ Kheo Ni, Ưu Bà Tắc, Ưu Bà Di, cùng nhau kết làm bạn đảng, nổi lên những sự tranh cải kiện cáo, Chánh Pháp muốn diệt; Thì Thiện Nam tử Thiện Nữ nhơn hãy dùng cái tâm không quanh co không dối trá, tâm ưa thích Chánh Pháp, tâm Nhiếp Thọ Chánh Pháp, mà vào trong hàng ngũ bạn lành. Những ai vào trong hàng ngũ bạn lành chắc chắn là được sự thọ ký của chư Phật.

Bạch Đức Thế Tôn ! Con thấy Nhiếp Thọ Chánh Pháp có lợi ích hết sức lớn lao như thế; Đức Như Lai lấy Nhiếp Thọ Chánh Pháp nầy làm con mắt, làm căn bản của Đạo Pháp, làm Pháp dẫn đường, làm Pháp thông đạt.

Lúc bấy giờ Đức Thế Tôn nghe Thắng Man Phu Nhơn nói Nhiếp Thọ Chánh Pháp có Oai lực lớn lao như thế rồi, Ngài khen rằng: Đúng như vậy, đúng như vậy ! Đúng như lời Ngươi đã nói, Nhiếp Thọ Chánh Pháp có Oai đức hết sức lớn lao. Như đại lực sĩ, cạo chạm phải cái Mạt Ma một chút xíu, mà sanh ra sự khổ đau lớn, lại thêm bịnh nặng. Cũng như vậy, nầy Thắng Man ! Nhờ giúp cho người ta một phần ít Nhiếp Thọ Chánh Pháp thôi, mà làm cho Ma Ba Tuần sầu não thống thiết (đau như cắt) kêu gào thở than hết hơi, cũng lại như vậy.

Nầy Thắng Man ! Người ta thường chẳng thấy được rằng: chỉ còn một pháp lành thôi mà cũng còn làm cho Ma sầu não; Người chỉ mới Nhiếp Thọ một phần ít Chánh Pháp mà làm cho Ma Ba Tuần sầu não thống thiết, người ta chẳng thường thấy được, cũng giống như thế.

Nầy Thắng Man ! Ví như Ngưu Vương hình sắc đoan chánh, thân lượng đặt biệt, lướt che hết các loại trâu thường. Cũng như thế đó Thắng Man ! Người tu Đại Thừa, dù cho mới Nhiếp Thọ một phần ít Đại Thừa Chánh Pháp, thì chính đó cũng đã có khả năng lướt che tất cả pháp lành của các hàng Thanh Văn, Duyên Giác.

Nầy Thắng Man ! Lại ví như Tu Di Sơn Vương cao rộng trang nghiêm tuyệt đẹp che cả các núi. Cũng ví như thế đó Thắng Man ! Người mới hướng tới Đại Thừa, dùng tâm lợi ích tràn đầy mà Nhiếp Thọ Chánh Pháp, chẳng màng tới thân mạng, nhờ thế mà có khả năng vượt khỏi hẳn ý niệm coi trọng thân mạng đó, ở lâu nơi tất cả Thiện căn của Đại Thừa. Vậy nên nầy Thắng Man ! Ngươi phải đem tinh thần Nhiếp Thọ Chánh Pháp mà khai thị giáo hóa tất cả hữu tình chúng sanh.

Nhiếp Thọ Chánh Pháp có được Phước lợi lớn và quả báo Phước Đức lớn như thế đó Thắng Man !

Nầy Thắng Man ! Ta ở nơi vô số A Tăng Kỳ Kiếp khen ngợi chỗ có Công Đức của tinh thần Nhiếp Thọ Chánh Pháp, không thể cùng tận được. Vậy nên Nhiếp Thọ Chánh Pháp thành tựu vô lượng Công Đức như thế”.

(Đó là dịch trọn chương Nhiếp Thọ Chánh Pháp trong Thắng Man Sư Tử Hống Nhất Thừa Đại Phương Tiện Phương Quảng Kinh [Bằng Hán Tự. – Vào thời Lưu Tống Ngài Tam Tạng Cầu Na Bạt Đa La người Thiên Trúc dịch từ chữ Phạn ra chữ Hán. --Về Nhiếp Thọ Chánh Pháp thì chương nầy chỉ mới là một phần trong đó, ở đây không tiện dịch hết]).

 

MỤC MƯỜI: VỌNG TƯỞNG VỚI CHÁNH KIẾN:

           TIẾT MỘT: CHO THẤY NHẬN THỨC CHƠN VỌNG QUA PHÁP TỨ ĐẾ.

Đọc đoạn dưới đây trong Kinh Thắng Man, chúng ta sẽ rõ lẽ nầy (xin dịch dẫn tiếp):

“Bạch Đức Thế Tôn ! Trong Tứ Thánh Đế, Ba Đế là VÔ THƯỜNG, Một Đế là THƯỜNG.   Vì sao vậy? – Vì Ba Đế nhiếp vào tướng Hữu vi. Cái nhiếp vào tướng Hữu vi ấy là Vô thường, thứ Vô thường ấy là pháp hư vọng; Cái pháp hư vọng ấy chẳng phải là ĐẾ (tức chẳng phải là thứ chắc thật), chẳng phải THƯỜNG, chẳng phải Y (tức chẳng phải là chỗ để đáng nương tựa). Vậy nên Khổ Đế, Tập Đế, Đạo Đế, chẳng phải Đệ Nhất Nghĩa Đế, chẳng phải THƯỜNG, chẳng phải Y (tức chẳng phải chỗ y cứ  vĩnh viễn của Thánh Trí, Đạo Đế cũng chỉ là Pháp phương tiện, dù không thể thiếu trước khi chưa thành tựu Giác Ngộ Giải Thoát rốt ráo). Chỉ một mình Khổ Diệt Đế (tức là cái ĐẾ của KHỔ đã diệt), lìa tướng Hữu vi. Cái mà lìa tướng Hữu vi ấy là THƯỜNG; Cái THƯỜNG ấy chẳng phải pháp hư vọng; Cái chẳng phải pháp hư vọng ấy, là ĐẾ, là THƯỜNG, là Y (là nơi đáng nương tựa). Vậy nên Diệt Đế là Đệ Nhất Nghĩa. Bất Tư Nghị là Diệt Đế, vượt quá hạn mức tâm thức duyên của tất cả chúng sanh; Cũng không phải là cảnh giới mà Trí Huệ của tất cả A La Hán và Bích Chi Phật thấu đạt. Ví như kẻ mù từ lúc sanh ra (ví cho phàm phu và ngoại đạo) chẳng thấy các sắc; Hài nhi mới sanh bảy ngày (ví cho Nhị Thừa) chẳng thấy mặt trời. Khổ Diệt Đế ấy cũng lại như vậy, chẳng phải chỗ mà tâm thức của tất cả phàm phu duyên tới được; Cũng chẳng phải cảnh giới mà Trí Huệ của hàng Nhị Thừa thấu đạt được. Tâm thức của phàm phu (nói phàm phu tức gồm hết cả ngoại đạo trong đó) điên đảo trong hai thứ chấp. Còn Trí của tất cả A La Hán với Bích Chi Phật, thì đó là Biên Kiến Thanh Tịnh (cái kiến chấp về một phía Thanh Tịnh).

 

TIẾT HAI: VỚI CHẤP THƯỜNG CHẤP ĐOẠN CỦA PHÀM PHU, NHỊ THỪA.

Hàng phàm phu đối với Ngũ Thọ Ấm, Ngã kiến vọng tưởng chấp trước, mà sanh ra hai thứ kiến chấp, ấy gọi là Biên Kiến. Còn gọi là Thường Kiến và Đoạn Kiến. Thấy “Chư hạnh vô thường”, ấy là Đoạn kiến, chẳng phải Chánh kiến. Thấy Niết Bàn là THƯỜNG, ấy là Thường Kiến (chấp thường hằng, không biến dịch), chẳng phải Chánh Kiến (tức bị sa vào một bên, nên không phải Chánh Kiến). Vì vọng tưởng thấy cho nên mới tác thành cái thấy như thế. Đối với (ở nơi) các căn của thân, tự phân biệt tư duy, làm tan mất cái thấy Hiện Pháp, ở nơi pháp có tương tục mà chẳng thấy chân tướng của pháp tương tục, khởi lên ở nơi đoạn kiến (khởi ư đoạn kiến); Vì vọng tưởng thấy nên đối với tâm tương tục ngu ám chẳng hiểu, chẳng biết cảnh giới của Ý thức sanh diệt tiếp nối nhau trong từng sát na, do đó mà khởi ý tưởng chấp thường. Vì vọng tưởng thấy, cái thấy của vọng tưởng nầy, đối với nghĩa tương tục kia, hoặc là bị vượt qua, hoặc là do bất cập (tức là nhận thức không kịp nổi), mà tác thành ý tưởng phân biệt khác nhau: Hoặc cho là ĐOẠN, hoặc cho là THƯỜNG. Chúng sanh điên đảo, ở nơi Ngũ Thọ Ấm (thân tâm chúng sanh), vô thường mà tưởng là thường, khổ mà có vọng tưởng đấy là vui, Vô ngã mà tưởng là Ngã, bất tịnh mà tưởng là tịnh. Còn Trí của tất cả các vị A La Hán và Bích Chi Phật, thì đối với cảnh giới của Nhất Thiết Trí và đối với Pháp Thân của Như Lai, vốn là chỗ mà họ không có khả năng thấy được.

 

TIẾT BA:  XÁC ĐỊNH VỀ CHÁNH KIẾN CỦA ĐỆ TỬ PHẬT.

Hoặc có chúng sanh tin lời nói của Đức Phật, cho nên Tâm Trí khởi lên tưởng THƯỜNG, tưởng LẠC, tưởng NGÃ, tưởng TỊNH, thì đó chẳng phải là cái thấy điên đảo, mà đó gọi là Chánh Kiến. Vì sao vậy ?  -- Vì rằng, Pháp Thân của Như Lai là Thường Ba La Mật, là Lạc Ba La Mật, là Ngã Ba La Mật, là Tịnh Ba La Mật (BA LA MẬT là pháp rốt ráo, vượt hẳn các pháp đối đãi của tâm duyên lự phân biệt). Đối với Pháp Thân của Phật mà tác thành tri kiến nhận thức như thế, đó gọi là Chánh Kiến. Người có Chánh Kiến là đệ tử thật sự của Phật, từ miệng Phật sanh ra, từ Chánh Pháp sanh ra, từ Pháp hóa sanh. Đắc Pháp thì dư tài sản. (Dịch trong Kinh Thắng Man, bản xưa, trang 18-19.   Những chú thích trong ngoặc đơn là lời của dịch giả).

 

MỤC MƯỜI MỘT: HẾT THẢY ĐỀU TỪ DUYÊN KHỞI PHÁP

Qua sự Chứng ngộ của Đức Phật và Chư Thánh Đệ tử đã thấy rõ thì, hết thảy mọi hiện tượng của Nhân sanh vũ trụ đều từ Duyên sanh, Duyên Khởi pháp, không phải do một ai sanh ra, cũng không phải một mình ai đủ khả năng vụt chốc kiến lập hết thảy.

Hiện tượng nhiễm pháp cũng từ Duyên sanh, Duyên khởi, mà hiện tượng tịnh pháp cũng từ Duyên sanh, Duyên khởi. Mọi pháp Duyên khởi đều không có định tánh, cả thế gian vũ trụ đều không có định tánh, bởi do các duyên mà hình thành, mà biến hoại. Cho nên Tập Đế, tâm thức mê vọng của chúng sanh thảy đều Duyên sanh Vô Ngã tánh.  Ngay Chủng Tánh Phật cũng từ Duyên mà khởi (mà trỗi dậy). Hai bài Kệ sau đây trong Kinh Pháp Hoa đã cho chúng ta thấy rõ lý đó:

                         “Chư Phật lưỡng túc tôn,

                        Tri pháp thường vô tánh,

                         Phật chủng tùng duyên khởi,

Thị cố thuyết nhất thừa.

Thị Pháp trụ Pháp vị,

Thế gian tướng thường trụ,

Ư Đạo Tràng tri dĩ,

Đạo Sư phương tiện thuyết”.

 

Giải nghĩa chính hai bài kệ nầy:

Câu 1: Chư Phật là những đấng Tôn quý nhất, đầy đủ trọn vẹn cả Phước Đức và Trí Huệ, hai thứ đáng quý trọng nhất của mọi đời sống là Phước Đức và Trí Huệ. Chư Phật là những đấng đã đầy đủ trọn vẹn cả hai thứ quý báu đó, nên được tôn xưng là “Lưỡng Túc Tôn”.

Câu 2: Các Ngài biết rõ các pháp đều Vô Tánh (tức biết rõ hết thảy mọi hiện tượng tâm lý và vật lý đều không có định tánh, tâm lý là tâm sanh diệt ) câu nầy là nói về lý Chơn Không của các pháp (xin nhắc lại: các pháp, tức chỉ cho Tâm nhân duyên sanh diệt với hết thảy mọi sự vật trong trời đất vũ trụ).

Câu 3: Nhưng trong Chơn Không đó có Diệu Hữu, “ Phật chủng tùng duyên khởi”, chính là Diệu Hữu. Diệu Hữu đó (Chủng Tánh Phật đó) từ duyên mà trỗi dậy. Cho thấy rằng, muốn Chủng Tánh Phật của chính mình trỗi dậy, thì: Thứ nhất, phải liễu ngộ lý Chơn Không của hết thảy các pháp (tức hết thảy Sắc pháp, Tâm pháp, Tâm sở hữu pháp, Tâm bất tương ưng hành pháp và Vô vi pháp). Muốn được như thế thì trước hết phải học hiểu Tu quán theo Kinh Luận Đại Thừa Giáo. Thứ hai, phải đủ Trí năng thấu hiểu lý Liễu Nghĩa của Phật thuyết.

Vì để khai thị cho các hàng Đại Đệ tử, các bực Đại A La Hán, các vị đã liễu triệt lý Chơn Không (Vô tánh) giúp cho Tri Kiến Phật của họ đủ duyên bừng dậy (tức Diệu Hữu bừng dậy, Diệu Dụng được phát khởi), mà Đức Phật thuyết tới Pháp Nhứt Thừa – tức thuyết về Nhứt Thừa Thật Tướng.

 Như vậy, Pháp Trụ (ở câu 5) là Chơn Không Vô Tánh.Vì Vô Tánh (hay Chơn Không) là pháp luôn luôn có mặt nơi hết thảy các pháp, nơi mọi hiện tượng thế gian sanh diệt, nên gọi Vô Tánh là “ Pháp Trụ”( THỊ PHÁP TRỤ: Ấy là Pháp Trụ. Tức đó là thứ luôn luôn có mặt trong sự có mặt của các pháp, đối với các pháp thì Vô Tánh là pháp bất ly. Ở đâu có các pháp ở đó có Vô Tánh, cho nên gọi là Pháp Trụ.)

“ Thị Pháp Trụ Pháp Vị, Thế gian tướng thường trụ”. Nghĩa đen: Ấy là Pháp Trụ, ấy là Pháp Vị, ấy là Tướng Thường Trú của thế gian. (nghĩa của chữ THỊ ở đây là: ẤY LÀ, ĐÓ LÀ).

PHÁP TRỤ như vừa giải trên. Còn “ Pháp Vị ?” Pháp Vị chính là Chủng Tánh Phật , cũng gọi là Tri Kiến Phật. Chủng Tánh hay Tri Kiến Phật phát khởi, phải nhờ duyên. DUYÊN là Đức Phật và Pháp Nhất Thừa Thật Tướng của Phật thuyết. Thì chỉ có Thật Tướng Vô Tướng, mới là Tướng Thường Trú của thế gian. Mọi tướng hư giả của vọng tâm chúng sanh biến ra và tự chấp lấy, đều không phải là Thật Tướng, không phải là tướng thường trú của thế gian.

         Chúng sanh mê nhiễm là do không hiểu VÔ TÁNH của hết thảy pháp; Mà cái chính là do thiếu Thiện căn, tức do thiếu Nhân duyên với Chánh Pháp của Phật, thiếu Chánh Tri Kiến, sống mịt mờ trước Tập Đế nội tại, với mọi khổ đau từ đó. Không có Chánh Tri Kiến dụng Quán Trí để thấy rõ Tập Đế của chúng sanh thế gian – nhiễm pháp. Tập Đế đó không ngoài HOẶC và NGHIỆP. Cho nên hiểu Chánh Pháp, tư duy thâm nhập Chánh Pháp là điều cần thiết trước nhất, vì đó là Thắng Phương tiện của Chánh Tri Kiến, để sử dụng Quán Trí, Quán ngay bộ mặt hư huyễn mê vọng của Tập Đế, mà trang nghiêm mình trên Chánh Đạo và mới có khả năng hóa giải ngay hiện tiền. Nếu bất lực với pháp nầy, thì chỉ còn cách cầu sanh về Tịnh độ của Chư Phật. Vì ở đó toàn huân tập bằng Tịnh pháp, Thắng duyên, không có nhiễm pháp nào cho nhiễm tâm sanh khởi.

Nhưng, nếu đã thấy rõ cái nguy hại của Tập Đế đang ngún cháy trong ta, mà lo lập tâm quyết chí, thì ngay hiện tại ở đây, ngay trong đời sống nầy, cũng không thiếu Tịnh duyên với Tịnh pháp. Đó là hiện tiền Tam Bảo, các bậc Minh Sư, các Thiện hữu Tri thức, các Đạo tràng nghe giảng Pháp tu học, hoặc làø chốn Già Lam Thanh Tịnh hợp cho Thiền hành Tịnh quán; Và nếu biết tạo điều kiện cho những Đức tánh Từ Bi, Hỷ Xả, Lợi Tha trong ta đủ duyên phát khởi, với đầy đủ tinh thần và ý chí phụng sự Phật Pháp, thì cũng đã đủ sức tự cứu mình. Cho nên ai đã đủ duyên với Đại Thừa Pháp, đã có Công hạnh được Chư Phật Bồ Tát hộ niệm, thì sợ gì sanh tử hư huyễn của Duyên Khởi Pháp. Tức đã đủ Trí Năng dụng Duyên Khởi Pháp mà chuyển Duyên Khởi Pháp. Đồng thời ngay đó bằng Định Lực Tuệ Giác mà quán triệt duyên khởi pháp, tức KHÔNG, VÔ TÁNH, mà THẬT TƯỚNG TRUNG ĐẠO cũng ngay đó.

 

MỤC MƯỜI HAI: PHÁP DUYÊN KHỞI ĐẦU TIÊN CỦA CHÚNG SANH.

Tam Tế, là những pháp Duyên Khởi đầu tiên của tất cả hữu tình chúng sanh, để từ đó hình thành nghiệp cảm sanh tử của hết thảy thế giới chúng sanh. Tập Đế hiện tại là cái Nhân của mọi đau khổ tương lai, nhưng nó là cái Quả của Tam Tế Lục Thô đã hình thành từ Vô Thỉ Kiếp , mà hiện tại mỗi mỗi chúng ta đang mang nặng nó, đang khổ đau và mê muội bởi nó. Từ vô lượng kiếp đến nay khổ đau nhọc nhằn trong sanh tử  chỉ vì trần lao phiền  não, bỏ mất  Giác Tánh Tịnh Tâm của mình, cũng tại không thấy rõ cái bộ mặt Duyên Sanh Duyên Khởi huyễn hóa từ Vô Thỉ nầy. Vì vậy cái cần nhất bây giờ, là phải nắm được ngọn đuốc Chánh Pháp, tạo điều kiện cho Trí Giác của mình bừng dậy, thấy rõ pháp Duyên Sanh Duyên Khởi và ngay đó mà chuyển vật, không bị vật chuyển, đủ khả  năng  thẳng tiến  trên đường Bồ Đề. Thì chỉ cần Nhất niệm Tịnh tâm cũng đủ sức về Tịnh độ. Bởi y lý nầy mà trong Di Đà Sớ Sao nói: “Bất lao đờn chỉ đáo Tây Phương”(chẳng nhọc phải qua một gảy móng tay mà đến Tây Phương. Nghĩa là thời gian đến Tây Phương còn nhanh hơn thời gian của một gảy móng tay, tức nhanh hơn một tích tắc). Và nếu được như thế thì đâu có bị ở trong hoa sen búp 12 Tiểu kiếp, như hạng Hạ phẩm Hạ sanh. Cho nên hiện tại ai đủ niềm tin, một lòng ham lo Tu học, Tịnh hóa chính mình bằng Giới Định Huệ, thì đó là một căn lành quý nhất. Chính vì lẽ nầy mà chúng tôi muốn trình bày diễn giải lại Tam Tế, để ai nấy đều thấy được điểm chủ yếu của lý Duyên Khởi, không còn mịt mờ trước những câu Pháp ngữ Khai thị chứa một đạo lý thâm diệu, như: “Mê Chơn khởi vọng, bội Giác hiệp trần, tùng vô thỉ lai, đồ lao sanh tử, tùy thiện ác chi lãng, phiêu khổ lạc chi châu….”

 Sau đây là phần giải mà tôi đã y Luận giải lại, lúc dạy cho Tăng sinh trường Trung cấp Phật học Đồng Nai, khóa IV, năm thứ IV, vào ngày 7 tháng 7 năm 2004. Tăng sinh lúc đó và cả bản thân tôi rất hài lòng bài giải nầy. Ai nấy đều tỏ ý xin bản giải nầy, và đó cũng là điều rất mừng của tôi, vì thấy họ rất ham thích chiều sâu của Phật Pháp. Bài nầy cũng giúp chúng ta gỡ được những điểm khúc mắc cốt yếu khó hiểu trong Duy Thức học; Cũng như phần giải trên của Luận đã cho chúng ta hiểu thêm những điểm khó hiểu trong Kinh Lăng Nghiêm, mà ngay chúng tôi mấy mươi năm trước hai lần học Lăng Nghiêm Trực Chỉ với hai vị Giáo thọ Tôn Sư (2), mà chúng tôi vẫn mịt mờ trước một số danh từ khó hiểu, như “Minh Giác”v.v.. “Bổn Giác diệu minh, vọng vi Minh Giác”. Minh Giác là chỉ cho cái gì ? Chẳng ai giải rõ cái từ khó hiểu đó. Cho tới khi nghiên cứu và ngộ được lý của Khởi Tín Luận dạy, mới rõ mặt nó và dễ quán  chiếu. Để thấy rằng, học những bộ Luận Đại Thừa là điều hết sức quan trọng cho những ai muốn thâm nhập Thánh giáo của Phật, mà lợi lạc của sự sống tinh thần cũng dễ tiến xa.

       

    Sau đây là đoạn giải gọn về Tam Tế đã nói trên:

 Căn bản vô minh khởi động Chơn Như  mà hiện ra những vọng pháp (tức hiện ra những hiện tượng mê) của sanh tử lưu chuyển. Tướng trạng đó có chia ra Tam Tế Lục Thô khác nhau (mà bài nầy chỉ giải Tam Tế, vì nó là cái khó nhất cần giải)

TAM TẾ: Ba tướng vi tế, ba trạng thái vi tế của tâm, của tâm biến, tâm duyên. Chữ TẾ, là chỉ cho trạng thái vi tế khó lường biết của Tâm và Tâm Biến ban đầu. Trạng thái đó không có sự phân chia giữa Tâm với Tâm Sở, nó thuộc Tâm Bất Tương Ưng, nên chỉ có Đức Phật mới thấy rõ.

1._Vô Minh Nghiệp Tướng . Nói gọn là Nghiệp Tướng, còn gọi là Nghiệp Thức, tức chỉ cho cái tướng động đầu tiên của từ Chơn khởi vọng. Trạng thái của tướng nầy còn chưa thể chia ra chủ và khách. Tức có khởi động mà chưa có gì tùy tùng, chưa có đối mặt nào tương ưng. Vô minh  là chẳng tỏ rõ tất cả Pháp, là cội gốc của sanh tử  trong Ba cõi (cõi dục, cõi sắc, cõi vô sắc:Tam giới)

2._Năng Kiến Tướng, nói lược là Kiến Tướng, còn gọi là Chuyển Tướng, Chuyển Thức. Y vào Nghiệp Tướng lúc mới khởi động (tức lúc Tâm Chơn Như mới có hiện tượng khởi động), chuyển thành cái Tướng Năng Kiến, tức y vào Vô Minh Nghiệp Tướng đã khởi, mà phát sanh cái Tâm nhận thức đối tượng, để từ đó phân định chủ thể và khách thể.   Như vậy, Năng Kiến là Bản năng nhận thức, là cái trạng thái đầu tiên của tâm nhận biết về Bản năng hay Bản ngã, và bộ mặt chấp ngã vi tế đầu tiên chính là Tâm Năng Kiến nầy. Nó cũng là cái Tâm Năng Duyên đầu tiên, là cái mặt tác dụng tự nhận thức, được hình thành qua sự khởi động chuyển biến (của Tâm Chơn Như), mà gọi là Chuyển Thức. Theo Đại Thừa Giáo, mọi trạng thái sanh diệt biến động của tâm thức, của tri kiến, đều gọi là Tướng. Đối  lại, Giác Tánh bất động mới gọi là Tánh. Vì thế mà trạng thái  nhận thức đầu tiên, cái tri kiến đầu tiên, dù là rất vi tế, cũng được gọi là Tướng. Năng Kiến Tướng là vậy. Khi nói Năng Kiến Tướng , là đứng về mặt trạng thái nhận thức. Khi nói Chuyển Tướng là đứng về mặt tác dụng nhận thức (3).

3._Cảnh Giới Tướng, lại gọi là Hiện Tướng, Cảnh Tướng, Hiện Thức. Do y vào Chuyển Thức trước, mà vọng hiện ra cái tướng cảnh giới. Bởi vì Năng Kiến Tướng (Chuyển Thức) đã khởi thì đồng thời vọng hiện ra đối tượng nhận thức, được gọi là Cảnh Giới Tướng. Lấy Gương và các hình bóng trong đó để ví dụ: Cũng giống như y vào Gương sáng, mà ảnh hiện ra các sắc tượng. Thì Năng Kiến Tướng được ví như Gương sáng(lấy gương sáng ví dụ cho Năng Kiến Tướng), Cảnh Giới Tướng được ví dụ như những sắc tượng hiện ra trong đó. Lại ví dụ như : y vào Tâm Thức trong giấc ngủ say, mà có cảnh mộng, thì Tâm Thức trong giấc ngủ say, là ví cho Năng Kiến Tướng (Năng Kiến Tướng được ví như tâm thức trong giấc ngủ say) ; còn cảnh trong mộng, là ví cho Cảnh Giới Tướng (Cảnh Giới Tướng được ví như cảnh trong mộng). Như vậy, Cảnh Giới Tướng là tướng do Tâm Thức trong mê hiện ra. Nếu lìa Năng Kiến Tướng thì cũng không có cảnh giới sở kiến (cảnh giới để mà thấy). Năng Kiến Tướng chính là cái tác dụng Tâm Năng Duyên; Còn Cảnh Giới Tướng là cái Cảnh làm đối tượng cho Tâm Năng Duyên duyên tới, có sự phân ranh giữa hai pháp nên gọi là GIỚI, đó là phân ranh giữa Sắc pháp với Tâm pháp, do bản năng mê tự biến ra và duyên lấy.

 

Phối qua thuyết của Duy Thức Tông thì:

Nghiệp Tướng là Tự Thể Phần trong Thức A Lại Da.

Năng Kiến Tướng là Kiến Phần trong Thức A Lại Da.

Cảnh Giới Tướng là Tướng  Phần trong Thức A Lại Da.

Do ba thứ vô minh vi tế nầy mà trên đà mê vọng của vọng tâm diễn tiến thành Lục Thô. Cho nên Duy Thức Luận gọi Thức Biến là biến ở chỗ nầy: Nghiệp Thức động, Chuyển Thức biến (cái bản năng nhận thức biến), nó biến ra Hiện Thức, tức biến ra căn thân và Khí thế giới. Như Tâm thức trong lúc ngủ say, mê vọng chuyển biến, mặc tình biến ra đủ thứ cảnh mộng rồi tự duyên tự chấp lấy, càng duyên càng chấp thì vọng càng thêm vọng. HOẶC, NGHIỆP, KHỔ tiếp nối không ngừng từ đây, lộ rõ bộ mặt Biến Kế Sở Chấp và bản thân  Y Tha Khởi  của Thức Năng Biến .  Cho thấy rằng, mọi thứ Y Tha Khởi đều không có thật thể, đều Vô Ngã tánh. Thế nên bản thân của Chuyển Thức(Thức Năng Biến) có ra là do nương vào cái khác mà có (tức y nơi Nghiệp thức mà khởi), gọi Chuyển Thức là Tánh Y Tha Khởi. Nó có tâm tánh, nhưng là thứ tâm tánh nương vào cái khác mà sanh khởi, tức tánh đó thuộc về duyên sanh,gọi là Duyên Sanh Vô Tánh( Phi tự tánh, phi tha tánh, phi cộng tánh, phi vô nhân tánh), tạm gọi là Y Tha Khởi Tánh. Như vậy, Y Tha Khởi của Chuyển Thức là Nghiệp Thức. Nghiệp Thức là nơi y cứ của Chuyển Thức sanh khởi, thì gọi Chuyển Thức (Năng Kiến Tướng ) là Pháp Y Tha Khởi. Năng Kiến Tướng nó biến ra Cảnh Giới Tướng (tức Chuyển Thức nó biến ra Hiện Thức), rồi nó duyên lấy chấp lấy cái của nó biến ra đó, thì về mặt nầy Chuyển Thức được gọi là Biến Kế Sở Chấp Tánh. Nhìn lại trước Chuyển Thức, thì Nghiệp Thức cũng thế, nhưng Nghiệp Thức nó chỉ là Thức Y Tha Khởi , chứ không phải Biến Kế Sở Chấp. Vì Nghiệp Thức là thứ đầu tiên do Chơn Như bất giác tùy duyên mà hiện khởi, chỉ là một trạng thái mờ tối vọng động trên Bản thể Chơn Như trong lặng. Cho nên Nghiệp Thức cũng là pháp Y Tha Khởi. Hiện Thức cũng thế, y vào Chuyển Thức  mà có, tức do Chuyển Thức biến ra. Nhưng Hiện Thức chỉ là pháp Y Tha Khởi.                     

Tóm lại, Tâm Chơn Như động , bởi gió vô minh, thành ra Vô Minh Nghiệp Tướng (Nghiệp Thức). Tức là Tâm Chơn Như đã hoàn toàn tùy duyên vô minh  huân, và ngay đó xuất hiện bộ mặt Năng Kiến, gọi là Năng Kiến Tướng. Bộ mặt Năng Kiến nầy đủ tánh năng biến và năng duyên, tự xác định thành Chủ Thể,  bản năng Ngã tướng.

Trên pháp Chơn Như Duyên Khởi, một pháp đã khởi, thì tất cả pháp theo đó mà khởi, Tâm Pháp đã khởi thì Tâm Sở Hữu Pháp.v.v..theo đó mà khởi. Bộ mặt Năng Kiến Năng Duyên đã lập, tất nhiên những pháp đối tượng Sở Kiến Sở Duyên cũng được hình thành từ đó. “Nhất ba tài động vạn ba tùy” (một lượn sóng vừa nổi lên, ngàn vạn  lượn  sóng theo  đó mà nổi lên ).  Ba tướng của tâm vi tế, cội gốc của sanh tử luân hồi, cũng từ Pháp Duyên Khởi nầy vậy.

  Vì để triệt tiêu tận cội gốc nầy mà Thiền gia bảo: “ Nhất trần bất lập ”. Có lập thành Sở Kiến Sở Duyên, là do có Năng Kiến Năng Duyên. Có Năng có Sở là có Ngã có Pháp, tức còn có vọng. Mọi pháp sanh diệt hình thành từ đây.

Đó là căn nguyên hay sự hình thành của Tập Đế.

 

(Kính lạy Tam Bảo và Đức Bồ tát Quan Thế Âm đã cho con đủ duyên thích làm cái việc khó làm, thích tư duy cái nặng tư duy nầy).

Pháp Hạnh Tịnh Thất ngày Rằm tháng 5 Giáp Thân (ngày 2 tháng 7 năm 2004)

  

Hôm nay, trong lúc duyệt và đánh lại phần giải về Tam Tế đó, có tư duy bổ túc thêm.

Pháp Hạnh Tịnh Thất ngày 17 tháng 6 năm 2006 (ngày 22 tháng 5 Bính Tuất)

 

          

          Chú thích:

(1). Thắng Man Phu Nhơn (Tên chữ Phạn là  ùSrimàlà, dịch âm là Thi Lị Ma La, Thất Lị Ma La), là con gái của vua Ba Tư Nặc, mẹ Nàng là Mạt Lị Phu Nhơn. Nàng thông minh, lợi căn sáng suốt. Lớn lên làm Hậu phi của vua Hữu Xứng, nước A Du Xà (Ayodhyà).  Đầu Kinh Thắng Man nói: “Bấy giờ vua Ba Tư Nặc và Mạt Lị Phu Nhơn, tin Pháp chưa lâu, cùng nói với nhau rằng: Thắng Man Phu Nhơn là con gái của chúng ta, lợi căn sáng suốt, thông minh dễ Ngộ, nếu được thấy Đức Phật thì chắc hẳn mau hiểu Pháp, tâm được vô ngại; Nay hợp thời khiến cho Nó tin, phát khởi ý đạo của Nó. Phu Nhơn thưa rằng: Nay đúng là hợp thời…”

Bởi nhận sự un đúc của Cha Mẹ Quy y Phật Đạo, kính lễ tán thán Đức Như Lai. Lúc gặp Đức Như Lai, được thọ Pháp âm, Nàng rất vui sướng, sanh đại hoan hỷ. Vốn sẵn Thiện căn đầy đủ Chủng tánh Đại Thừa, được đảnh lễ Ngài, phát tâm đọc tụng thọ trì Chánh Pháp, đã đủ khả năng thuyết Kệ thậm thâm vi diệu cho chúng Chiên Đề La. Nàng được Đức Như Lai thọ ký cho tương lai làm Phật, Ngài bảo là: “Sau hai vạn A Tăng Kỳ Kiếp, Ngươi sẽ được làm Phật hiệu là Phổ Quang Như Lai”. Nàng đã từng nương vào sự gia bị của Phật lực, mà tuyên thuyết: Thắng Man Sư Tử Hống Nhất Thừa Đại Phương Tiện Phương Quảng Kinh. Sau đó lại đối với vua Hữu Xứng (Phu quân của nàng) mà thuyết những pháp của Đại Thừa, cùng với nhà vua đồng giáo hóa nhân dân trong nước của họ.

(2). Cố Hòa thượng Thích Mật Nguyện và Hòa thượng Thích Trí Tịnh, là những vị thâm nhập Đại Thừa Pháp. Nhất là cố Hòa thượng Thích Mật Nguyện được học từ sự truyền chỉ của Ngài Đại lão Hòa thượng Thập Tháp, một vị uyên thâm và cao đức thượng thặng trong Tòng lâm thời bấy giờ. Vì vậy mà chúng tôi cũng được học lại từ Ngài Mật Nguyện văn dịch rất rõ ràng dễ hiểu, nhưng những người học dễ gì thông thuộc văn và ý Kinh như các Ngài đó, nếu không có thì giờ khảo cứu và học lại.

    (3). Cho nên điều cần thiết đầu tiên của vị tu hành nhằm đạt Vô Lậu Thánh đạo là Vô niệm, Vô tâm: “Chơn Tâm vô niệm”, “Thật Tướng Vô Tướng”. Với Thiền, còn niệm coi như biển còn dậy sóng. Với Thiền quán thì, NIỆM là cái bọt giữa biển cả trong lặng. Biển Giác của Chư Phật trong lặng sáng sạch, không có ngằn mé,  chẳng có một vọng pháp nào, chẳng có một giả tướng nào. Cho nên lúc tu quán, lúc muốn nhập Bản Thể, mà còn thấy một cái gì ngoài tâm       thì còn là ngoại đạo, chưa đúng nghĩa Tri Kiến Phật. Kinh Lăng Nghiêm dạy: “Tâm ngoại hữu pháp, cố danh ngoại đạo”. Từ Bổn Thể Vô Niệm mà tương ưng với Bổn Nguyện của Chư Phật, tức Từ Bi. Thì Từ Bi bấy giờ là Diệu Dụng độ sanh của Phật tâm. “Tự Tánh Di Đà, Duy Tâm Tịnh Độ” là ở chỗ nầy. Những vị Thiện căn sâu dày, Phật Pháp uyên thâm, đời sống đã không rời Chánh Pháp, tâm tánh đã tĩnh lặng sáng suốt, không còn loạn động, ý chí vững như bàn thạch, nhiếp niệm là Trí Giác hiện tiền, chẳng cần phí hơi nhọc sức niệm như hạng sơ cơ. Lúc cần vãng sanh, chỉ cần Chánh Niệm quán tưởng Phật, đủ khả năng tương ưng với Nguyện lực của Chư Phật. Tâm Phật thường tại Tam Muội, Ngài chứng biết ngay, và muốn vãng sanh tất được vãng sanh. Hoặc giả lúc sắp bỏ thân mạng, nếu tâm lực yếu thì cần nhiếp niệm, Tịnh niệm danh hiệu Phật mười lần là quyết định vãng sanh; Giả sử không đủ mười lần mà với Tín tâm kiên cố thành Định lực không có niệm khác xen tạp, cũng được vãng sanh. Muốn được như thế thì phải tập ngay lúc còn khoẻ mạnh, tức phải Chơn Quán, Thanh Tịnh Quán ngay hoặc đủ Trí Năng buông bỏ tạp niệm bất cứ lúc nào. Trước hết phải có những giờ phút sống với TÂM KHÔNG, tức phải liễu ngộ Lý Vô Sanh qua Tâm Không Tức Phật. Chớ có bỏ tâm tìm Phật, chư Phật sẽ xuất hiện ngay nơi Biển Giác trong lặng của Ta, không cần nhọc công tìm cầu.

 

 QUÁN XÉT NHÂN DUYÊN ĐỜI SỐNG, PHẦN MỘT đến đây đã hết, xem PHẦN HAI tiếp theo.

Pháp Hạnh Tịnh Thất, 313/24 ấp Nội Hóa I, xã Bình An, Dĩ An, Bình Dương.

 

---o0o---

Trình bày: Anna

Cập nhật: 01-06-2005

 


Webmaster:quangduc@quangduc.com

Trở về Thư Mục PG & Xã Hội

Đầu trang

 

Biên tập nội dung: Tỳ Kheo Thích Nguyên Tạng
Xin gởi bài mới và ý kiến đóng góp cho Trang Nhà qua địa chỉ: quangduc@tpg.com.au
Địa chỉ gởi thư: Tu Viện Quảng Đức, 105 Lynch Road, Fawkner, Vic. 3060. Tel: 61. 03. 9357 3544