Trang tiếng Việt

 Trang Nhà Quảng Đức

Trang tiếng Anh

Phật giáo & Xã Hội


......... .

 

 

 

Những đoản văn

viết trong 25 năm qua

 

Thích Như Điển 

---o0o---

 Phần 1

  

Lời nói đầu 

Nếu nói 20 năm là một thế hệ, thì những bài viết trong quyển sách thứ 36 nầy đã hơn một thế hệ rồi. Đó là 25 năm của một chặng đường lịch sử mà chúng tôi đã đi qua.

Chúng tôi là những người Việt Nam sinh ra trước năm 1975 và kể từ đó đến nay đã có không biết bao nhiêu cuộc chia ly để kẻ ở người đi, kẻ còn người mất. Nếu không có ngày 30 tháng 4 năm 1975 thì chúng tôi đã không hiện hữu ở ngoại quốc ngày nay lâu như vậy. Nếu đa phần là sinh viên đi du học thì sau khi thành tài, lại phải về nước để phục vụ quê hương. Nhưng ở đây thì không phải thế, càng ngày người Việt Nam càng ra ngoại quốc nhiều hơn. Con số thống kê chính thức của người Việt Nam năm 2002 ở ngoại quốc là 1.500.000 người. Đó là chưa kể khoảng 500.000 người bị chết chìm nơi biển cả hay trong rừng sâu khi đi tìm tự do. Như vậy nếu còn sống sót hết thì con số phải được cộng chung thành 2 triệu người. Trong số ấy cũng có lắm trẻ sơ sinh được chào đời và cũng có nhiều người bị chết đi do bệnh tật hay già yếu.

Ngày xưa ở Việt Nam mỗi gia đình trung bình là 5 người con. Bây giờ ở ngoại quốc, mỗi gia đình tính là 2 người con ở thế hệ thứ nhất và một người con ở thế hệ thứ hai, thì số sinh vẫn nhiều hơn số tử. Do đó con số 2 triệu nó không dừng tại đó.

Thế hệ trước, khi chúng tôi bỏ nước ra đi, có không biết bao nhiêu điều nhục nhằn chua xót. Có người giàu có cũng phải ra đi. Có người nghèo khổ cũng không thể ở lại. Vợ xa chồng, con xa cha vì phải đi học tập cải tạo nơi rừng sâu nước độc, rồi bị bỏ mạng nơi chốn núi đồi nào đó, chẳng còn ai đoái hoài đến nắm xương tàn kia! Rồi ngày tháng qua đi, nhưng tiếng gầm của biển, tiếng uy hiếp của hải tặc trên đại dương... không thể nào làm cho người thân an giấc ngủ, mà lúc nào cũng nhớ nhớ thương thương về người thân của mình bị hãm hiếp đọa đày. Do vậy mà những áng văn thơ, nhật ký đã được viết ra, đăng tải trên khắp báo chí để ghi lại một nỗi nhọc nhằn, một sự mất mát mà ông cha họ, hay chính bàn tay của họ đã bao đời gây dựng nên, mà nay chỉ còn là 2 bàn tay trắng!

Tôi sinh ra cũng đúng vào thời điểm loạn ly của đất nước; nhưng được cái may là vào chùa tu rất sớm từ năm 1964 và đi ra khỏi nước từ năm 1972; tuy không bị cái cộng nghiệp mất mát, tủi hờn như cả miền Nam Việt Nam phải hứng chịu; nhưng tôi đã là người Việt Nam thì cũng cùng chung một số phận là rời bỏ quê hương, chưa bao giờ có ngày trở lại; nên trong thời gian 25 năm ấy, những sáng tác của tôi đã ghi lại những thực thể mà người tỵ nạn Việt Nam đã trải qua. Có lúc tôi ghi lại một cuộc hành trình qua những cái đẹp của núi sông cảnh trí của một đất nước nào đó tôi đã đi qua. Đôi khi cũng ghi lại một vài cảm nghĩ đối với vấn đề giáo dục và thế hệ trẻ trong tương lai của Việt Nam tại Hải Ngoại. Hay một bài tùy bút, một bài cảm tưởng v.v... Đó là cả một tấm lòng của tôi đối với mọi người.

Trong 25 năm ấy tôi đã xuất bản tổng cộng là 34 cuốn sách và ngoài những sách tôi viết mà quý độc giả đã đọc, cũng có rất nhiều bài được đăng trên báo Viên Giác. Nay tôi tập họp lại những bài viết ấy để in thành quyển sách thứ 36 nầy. Sách nầy sẽ được dịch ra tiếng Đức và cũng như lâu nay Bộ Nội Vụ đặc trách về truyền thông và văn hóa của Đức sẽ tài trợ phần vật chất để sách nầy được xuất bản. Ơn ấy cho đến bao giờ tôi cũng không thể nào quên được.

Rồi mai đây thế hệ thứ hai, thứ ba của người Việt Nam được sanh ra tại Hải Ngoại, có lẽ họ sẽ không biết gì và cũng chẳng liên hệ gì với quá khứ như cha ông họ hay những người đi trước đã kinh qua. Do vậy một chặng đường lịch sử phải cần ghi lại cho mai hậu là vậy.

Cũng như thế đấy, có nhiều gia đình người Đức trong đệ nhị thế chiến (1939-1945) đã bỏ quê hương nầy, tránh nạn độc tài phát-xít để đi lánh nạn và lập nghiệp tại Mỹ, Canada hay Úc Châu, thì nay thế hệ thứ 3, thứ 4 của con cháu họ, chắc không hiểu và cũng chẳng quan tâm về một sự kiện như thế đã xảy ra nơi quê hương của cha ông họ cách đây gần 100 năm về trước. Tuy nhiên lịch sử vẫn là lịch sử. Lịch sử là những chứng cứ hùng hồn nhất của một dân tộc, có thể cả tốt lẫn xấu, chúng ta không được phép bỏ qua hay lờ đi. Vì nếu tốt thì ta có thể rút ra làm một bài học cho bản thân mình. Nếu xấu thì nên tránh xa, không cần đề cập đến nữa.

Câu chuyện của Việt Nam nó cũng là một câu chuyện thương tâm như thế. Cho nên thế giới mới động tình mà cưu mang cho cả 2 triệu người đang sinh sống, học hành, làm việc ở ngoại quốc ngày nay. Dĩ nhiên là họ còn có bổn phận đóng góp công sức, trí tuệ, bạc tiền cho những nơi học đang sinh sống nữa, chứ không chỉ thuần là ngửa tay để đi nhận những ân huệ của nhân dân và chính quyền sở tại mãi ban cho.

Để đóng góp phần mình một chút gì cho quê hương nước Đức nầy, nơi đã cho tôi tự do và không khí của đất trời để sống, để thở; nên tôi đã sáng tác, hoạt động, trải rộng lòng từ bi đến mọi loài và mọi người. Có được như vậy là cả một ơn đức khó có gì sánh được. Nên tôi góp phần mình vào việc chung nầy bằng những tác phẩm, tuy không giá trị lắm đối với đời; nhưng là một chứng nhân của thời đại, khi mà con người ngày nay cần những thông tin phải được cập nhật hóa hằng ngày.

Một con én không đem lại một mùa Xuân. Một tác phẩm không làm hài lòng tất cả mọi người; nhưng nếu một mùa Xuân có nhiều cánh én thì mùa Xuân ấy đẹp biết bao và trong gia tài tri thức của con người có được sự tập hợp của trí tuệ qua sách vở, biên khảo thì trí tuệ ấy càng phong phú hơn nhiều. Đây là niềm hy vọng và sự cầu nguyện của tôi cho mọi người và mọi loài được thâm nhập như thế. 

Viết tại thư phòng Chùa Viên Giác

vào một sáng mùa Xuân năm 2003

để kỷ niệm năm thứ 25 thành lập

Chùa Viên Giác và Báo Viên Giác.

Tác giả

Thích Như Điển

 

 

Phật Giáo Việt Nam xưa và nay

(Trích bài nói chuyện bằng tiếng Đức

của ĐĐ Thích Như Điển tại Lemgo và Hannover)

 

Kính thưa liệt Quý vị,

Trong những thế kỷ gần đây, quý vị là những người Tây phương, có cơ hội tiếp xúc, tìm hiểu về người Đông phương của việc buôn bán, ngoại giao, chính trị, văn hóa ... và đương nhiên trong đó có phần Tôn Giáo. Chúng tôi cũng thế, là những người sanh ra và lớn lên tại Đông phương, chịu ảnh hưởng của Đông phương rất nhiều và cũng đã biết người Tây phương bằng sách vở qua nhiều thế kỷ trước. Ngày xưa chúng ta ở xa nhau, đã tìm hiểu đến nhau là điều đáng quý và bây giờ chúng ta có cơ hội gần nhau và tìm hiểu nhau hơn nữa là một điều đáng nói biết bao.

Phật Giáo đã đã truyền Việt Nam từ Trung Hoa và Ấn Độ bắt đầu từ thế kỷ thứ 2 sau công nguyên. Một lịch sử kéo dài gần 18 thế kỷ, nối liền với vận mệnh của dân tộc Việt Nam như thế, chúng tôi không thể trình bày với quý vị trong khoảng thời gian hơn nửa tiếng đồng hồ nầy được, mà chúng tôi chỉ trình bày những phần chính về sự phát triển cũng như suy vong của Phật Giáo trong mạch sống dân tộc Việt Nam mà thôi. Sau đó quý vị có gì thắc mắc thì chúng tôi sẽ lần lượt trả lời trong phần câu hỏi của quý vị.

Người Nhật Bản có câu phương ngôn là: "Xưa là xưa, nay là nay". Nếu xét cho kỹ ý nghĩa của câu nầy cũng chí lý thật, vì sống cho ngày hôm nay thôi, chứ chuyện xưa thì đã quá xa xôi đối với chúng ta. Thế nhưng, muốn tham cứu về lịch sử thì không biết xưa thì làm sao mà có nay. Do đó tôi trình bày cho quý vị cả xưa lẫn nay của Phật Giáo Việt Nam.

Đạo Phật được phát sanh từ Ấn Độ cách đây 2522 năm và được truyền sang các nước Á Châu khác theo từng thời điểm của từng quốc gia một. Phật Giáo ngày nay có hai phái chính là: Đại Thừa Phật Giáo và Tiểu Thừa Phật Giáo. Các nước theo Đại Thừa Phật Giáo như: Tây Tạng, Trung Hoa, Đại Hàn, Nhật Bản và Việt Nam. Các nước theo Tiểu Thừa Phật Giáo như: Thái Lan, Tích Lan, Miến Điện, Cao Miên, Lào và Nam Việt Nam. Nếu xét về căn bản giáo lý của hai bộ phái nầy có rất nhiều điểm dị biệt, nếu có thì giờ chúng tôi sẽ trình bày riêng với quý vị trong phần câu hỏi.

Riêng về Việt Nam, Phật Giáo được truyền vào từ Trung Hoa nhân kỳ Bắc thuộc lần thứ nhất (BC. 111-931 NC) do các nhà sư Trung Hoa chạy loạn đến Bắc Phần Việt Nam sinh sống và truyền đạo tại đó. Ngoài ra còn một thuyết nữa cho rằng Đạo Phật Việt Nam được truyền vào trực tiếp từ Ấn Độ do những thương nhân và tu sĩ lúc bấy giờ. Người Ấn Độ xưa kia hay buôn bán với người Trung Hoa bằng đường thủy, trước khi họ sang Trung Hoa, bắt buộc họ phải ghé Việt Nam vì điều kiện gió mùa. Và đây cũng là cơ hội để họ truyền Đạo tại Việt Nam.

Kể từ khi Phật Giáo được truyền vào Việt Nam (thế kỷ thứ 2) mãi cho đến thế kỷ thứ 10, Phật Giáo mới giữ một vai trò quan trọng trong triều đình cũng như nhân gian lúc bấy giờ. Phật Giáo được truyền vào Việt Nam hầu hết là Thiền tông và các Tăng đồ phải học thông viết thạo chữ Hán mới có thể đọc được kinh điển của Phật Giáo. Cũng vì lúc bấy giờ trong dân gian không có ai thông thạo chữ Hán bằng các vị Thiền sư, nên mỗi lần có sứ Trung Hoa sang Việt Nam, là nhà Vua phải nhờ các vị Thiền sư ra đối đáp.

Vào triều Tiền Lê (980-1009) đã có một Thiền sư danh tiếng, đó là Khuông Việt Thái sư đã được vua Lê Đại Hành mời làm Thầy cho Vua và cho nhân dân trong nước. Đến triều nhà Lý (1010-1225) Thiền sư Vạn Hạnh cũng là một vị danh Tăng, đã đóng góp cho lịch sử Việt Nam một gương sáng muôn đời bất diệt. Đó là khai sáng thời kỳ tự chủ, độc lập của triều đại nhà Lý. Cũng chính triều đại nầy, Phật Giáo được thịnh hành nhất. Từ vua đến quan, từ dân đến thợ đều một lòng quy ngưỡng theo Phật Giáo. Đất nước được thái bình thịnh trị, bên ngoài không có giặc ngoại xâm, bên trong kinh tế, chính trị, văn hóa tôn giáo được phát triển cao độ nhất trong lịch sử Việt Nam tự cổ chí kim. Mặc dầu Phật Giáo chiếm một địa vị độc tôn từ triều đình cho đến dân chúng lúc bấy giờ, nhưng Khổng Giáo cũng như Lão Giáo được tự do phát triển và chính các vua tôi nhà Lý đã khuyến khích triều đình cũng như nhân dân không những chỉ tin theo Phật mà còn phải tìm hiểu và học hỏi Khổng cũng như Lão Giáo nữa.

Sang nhà Trần (1225-1400), lúc đầu Phật Giáo phát triển một cách rất mạnh mẽ. Điển hình là vua Trần Nhân Tông nhường ngôi cho con là Trần Anh Tông để đi tu, cũng chính vị vua nầy là một Thiền sư khai tông phái Trúc Lâm Yên Tử. Nhưng dần dần về sau Phật Giáo bị Nho Giáo chèn ép và không còn phát triển mạnh như lúc trước nữa. Vào khoảng năm 1400, quân nhà Minh sang đô hộ Việt Nam lần thứ 2, biết bao nhiêu Tăng sĩ đã bị bắt, chùa chiền bị đập phá, kinh sách bị thiêu hủy, các cơ sở tín ngưỡng, từ thiện, văn hóa xã hội v.v... bị chôn vùi bởi thiên tai và bởi quân cướp nước nhà Minh gây nên.

Sau khi đất nước đã được khôi phục lại nền tự chủ bởi vị anh hùng áo vải Lam Sơn Lê Lợi, Phật Giáo Việt Nam lại có cơ hội phát triển, mãi cho đến thời Trịnh Nguyễn phân tranh và sự hiện diện của người Pháp trên đất nước Việt Nam thì Phật Giáo lại chịu nhiều cơn pháp nạn. Trong khi người Pháp đô hộ Việt Nam gần 100 năm sống dưới chế độ thực dân phong kiến Phật Giáo cũng không phát triển được gì, mặc dầu hơn 80% nhân dân Việt Nam là đồng bào Phật Tử. Người Pháp sợ các phong trào của Phật Giáo càng ngày càng mạnh mẽ làm mất thế đứng của họ tại Việt Nam và Đông Dương một cách mau chóng hơn, nên họ đã tìm đủ mọi cách để ngăn chặn mọi sự phát triển của Phật Giáo lúc đương thời.

Sau năm 1954, Hiệp Định Genève được ký kết, Miền Nam theo chính thể Tự Do, Miền Bắc theo chủ nghĩa Cộng Sản. Phật Giáo Việt Nam vẫn còn tồn tại trong hai miền. Ở Miền Nam Phật Giáo được phát triển một cách tự do hơn Miền Bắc, còn ở Miền Bắc sự phát triển của Phật Giáo hay nói đúng hơn là tất cả các tôn giáo khác đều bị kiểm soát chặt chẽ (ví dụ như ở ngoài Bắc mỗi chùa chỉ để lại một Thầy lớn tuổi trông coi chùa, tự túc sản xuất, còn nếu ai muốn đi tu phải được sự đồng ý của nhà cầm quyền địa phương; còn trong Nam thuở bấy giờ một chùa có bao nhiêu Tu sĩ, hoặc đi hành đạo chỗ nầy chỗ kia không bị cấm đoán nhiều như ngoài Bắc).

Phật Giáo Việt Nam sau những năm tháng dài, bị thực dân Pháp đô hộ, cố gắng vươn mình lên, củng cố Tăng đoàn và chấn hưng Phật học. Từ 1954-1963 Phật Giáo tương đối phát triển tốt đẹp. Nhưng vào thời điểm 1963, chính quyền độc tài Ngô Đình Diệm đã đàn áp Phật Giáo một cách trắng trợn, biết bao nhiêu Tăng Ni và Phật Tử đã hy sinh cho công cuộc đấu tranh nầy, cho đất nước Việt Nam thân yêu đau khổ nầy. Cuối cùng Phật Giáo đã thắng bạo quyền gia đình trị Ngô Đình Diệm và tiếng nói chân chính của Phật Giáo Việt Nam đã được nhân dân trong nước cũng như các phong trào, các đoàn thể và các Tôn Giáo tiến bộ khác trên thế giới đã hoàn toàn ủng hộ một cách chân thành và Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất được đản sanh. (Chữ Thống Nhất ở đây có nghĩa là thống nhất cả Tiểu Thừa lẫn Đại Thừa Phật Giáo cũng như các tông phái khác đã góp phần trong công cuộc tranh đấu chung vào thời kỳ vừa qua).

Từ năm 1963 đến 1975, Phật Giáo Việt Nam đã góp phần mình cho công cuộc đấu tranh chung của nhân dân, đòi có tự do dân chủ, có Quốc Hội Lập Hiến, có hòa hợp hòa giải dân tộc thực sự, kêu gọi hòa bình, ngưng chiến... để cho dân tộc Việt Nam khỏi phải chịu cảnh đao binh khói lửa nữa. Nhưng độc hại thay chính quyền tham nhũng Nguyễn Văn Thiệu đã không phục vụ đại đa số quần chúng nhân dân, trong đó có Phật Giáo và các Tôn Giáo khác, mà chỉ cốt củng cố quyền hành, tham quan, ô lại, nên vận nước đã giao trọn cho người Cộng Sản sau ngày 30.4.75.

Ở thời điểm nầy biết bao nhiêu dân tộc trên thế giới đã ca ngợi về sự chiến thắng của dân tộc Việt Nam đối với người Mỹ, cũng không khác nào năm 1954 mà các dân tộc trên thế giới đã ca ngợi Việt Nam chiến thắng người Pháp. Nhưng thế giới đã lầm, vì không sống với người Cộng Sản Việt Nam nên không biết sự lừa bịp của họ. Họ đã lừa bịp nhân dân trong nước cũng như nhân dân thế giới về những việc làm tội lỗi của họ. Họ bao giờ cũng huênh hoang tự đắc là chiến thắng 30.4.75 là chiến thắng vĩ đại nhất trong lịch sử Việt Nam và lịch sử thế giới. Sau khi họ chiếm trọn Miền Nam Việt Nam, họ rêu rao nào là có tự do tôn giáo, tự do tư tưởng, tự do đi lại, tự do hội họp v.v... Nhưng sau một thời gian làm việc chung với chính quyền Đảng Cộng Sản Việt Nam, tất cả mọi người dân cũng như các Tôn Giáo khác đã tỏ ra vô cùng chán ngán cho lối làm việc của người Cộng Sản Miền Bắc và phương cách đối xử với dân Nam. Giáo Hội Phật Giáo cũng như Công Giáo hay các Tôn Giáo khác có mặt tại Việt Nam đã ý thức rằng: Đất nước Việt Nam qua bao nhiêu năm chiến tranh đã tàn phá, bây giờ đã thanh bình, quyền độc lập dân tộc Việt Nam tạm có, nên Phật Giáo cũng như Công Giáo đã tỏ ra nhiều thiện chí trong công cuộc đóng góp, xây dựng chung cho xứ sở. Nhưng người Cộng Sản đâu có muốn thế, họ luôn luôn sợ các thế đối lập trong đó có Phật Giáo và họ luôn luôn tìm cách đàn áp cũng như họ muốn cái gì cũng chỉ có Đảng mới có quyền còn nhân dân chỉ là những hình nộm mà thôi.

Sau 3 năm người Cộng Sản cầm quyền tại Việt Nam kết quả là gì?

Về Tôn Giáo: Biết bao nhiêu chùa chiền, nhà thờ, thánh thất, tu viện, tượng Phật lộ thiên... bị đập phá một cách tàn nhẫn và dã man, biến những nơi trang nghiêm thanh tịnh thành nơi chứa thóc, chứa than, mặc dầu không có đủ thóc hoặc than để chứa. Biết bao nhiêu Tu sĩ trẻ đã bị trở về đời sống bình thường, hay bị đi vùng Kinh Tế Mới. Biết bao nhiêu cơ quan văn hóa, giáo dục, từ thiện, xã hội... đều bị quốc hữu hóa. Các cơ quan ngôn luận, xuất bản của các Giáo Hội cũng bị tịch thâu. Song song với việc đàn áp nầy, Chính quyền Đảng Cộng Sản Việt Nam lập ra một phái gọi là "Phật Giáo Yêu Nước" hòng làm công cụ tay sai cho chính quyền và bên ngoài cốt để khoe khoang với thế giới rằng Việt Nam cũng có tự do tôn giáo, nhưng đó chỉ là trò lừa bịp bợm của chính quyền đảng CS, không thể che giấu được lương tri tiến bộ của nhân dân trong cũng như ngoài nước được. Bên Công Giáo thì chính quyền đảng CSVN cũng lập ra Hội "Yêu Nước Kính Chúa" để nói láo giùm cho chính quyền. Trong khi đó những Thượng Tọa, những Linh Mục chân chính chống lại chính sách cai trị mù quáng có tính cách ngu dân của chính quyền đảng CSVN đều bị bắt cầm tù hoặc bị thủ tiêu mất tích... Tự do tôn giáo của CS là thế đó! ...

Về Nhân Dân: Nhân dân đã bất mãn cùng cực sau ba năm người CS lên cầm quyền tại Việt Nam, có kẻ đã quyên sinh vì sống không nổi với chế độ độc tài CS, có người liều mình vượt biển tìm tự do, hàng tháng có cả hơn 10.000 người đến được đất liền, còn số chết chóc trên biển cả bởi thiên tai thì chưa kể tới... Số phận của họ rất hẩm hiu, chỉ mong đánh đổi được hai chữ Tự Do, còn tất cả quê cha đất tổ, bạn bè thân thuộc đều bỏ lại sau lưng.

Về Kinh Tế: Kế hoạch kinh tế 5 năm của chính quyền đảng CS đã hoàn toàn thất bại, nạn đói kém càng ngày càng trầm trọng, nạn thiếu hụt thực phẩm mỗi lúc một lên cao từ xưa đến nay chưa từng thấy. Miền Nam Việt Nam là một vựa lúa của nhân dân, nhưng bây giờ những lãnh tụ đầu não của chính quyền đảng CSVN phải đi ăn xin thế giới. Điều nầy do ai gây nên? Thiên tai hạn hán cũng có, nhưng phần lớn là vì chính sách chỉ đạo sai lầm của chính quyền đảng CSVN đối với vấn đề nông nghiệp.

Về Giáo Dục: Giáo dục của chính quyền đảng CSVN là giáo dục một chiều, họ bắt buộc dân chúng phải học chủ thuyết Mác-Lénin. Ngoài ra dân chúng không được tham cứu những sách vở khác. Họ đầu độc con em bằng những chủ thuyết ngoại lai, mà trước đây Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất đã từng chống đối. Ngày xưa Giáo Hội chống đối sự tham nhũng của chính quyền Nguyễn Văn Thiệu cũng như sự can thiệp quân sự, kinh tế, lẫn chính trị vào nội bộ Việt Nam, không có nghĩa là đồng lõa với người Cộng Sản Việt Nam đi làm tay sai cho Nga hoặc làm bù nhìn cho các chế độ Xã Hội Chủ Nghĩa, hay bất cứ một thế lực ngoại nhập nào, mà thế lực đó không đi đúng với nguyện vọng của nhân dân Việt Nam. Dầu là ở bất cứ trên bình diện nào.

Trên đây là tiêu biểu những điều đã xảy ra tại Việt Nam đối với Phật Giáo - từ quá khứ cho đến hiện tại. Để kết thúc buổi nói chuyện hôm nay, tôi xin nhấn mạnh điểm nầy với quý vị: "Khi dân tộc Việt Nam thịnh thì Đạo Phật Việt Nam hưng; khi dân tộc Việt Nam suy vong thì Đạo Phật Việt Nam cũng chịu chung số phận như thế".

Và tôi hy vọng rằng trong buổi thảo luận hôm nay chúng ta sẽ đi sâu vào từng chi tiết một và sẽ giải quyết được nhiều điều thỏa đáng hơn.

 

( Đặc San Viên Giác Số 1 (Ngày 1.1.1979)

 

 

 

Nguyên nhân Đản Sanh của Thái Tử Tất Đạt Đa

 

Ai trong chúng ta cũng đều biết rằng: Thái Tử Tất Đạt Đa (Siddhattha) con Vua Tịnh Phạn (Suddhodana) và Hoàng Hậu Maya (Mahà Màyà) ở xứ Ca Tỳ La Vệ (Kapilavatthu) bên ranh giới nước Ấn Độ thuộc nước Népal ngày nay.

Thái Tử sinh ngày trăng tròn tháng tư (Vesak) tại vườn Lâm Tỳ Ni (Lumbini) dưới gốc cây Vô Ưu. Khi Thái Tử sinh ra có nhạc trời chúc tụng, hoa báu rưới khắp mọi nơi nhằm cúng dường một Đấng Đại Từ, Đại Bi, Đại Trí, Đại Giác vừa xuất hiện ở cõi đời nầy trong dòng họ Thích Ca (Sakya) để mang lại lợi lạc cho quần sanh.

Năm nay chúng ta kỷ niệm lễ Đản Sanh của Ngài năm thứ 2523 năm nhưng thật ra đó là chúng ta kể niên đại nhập Niết Bàn (nirvana) của Ngài. Đúng ra ta phải cộng với 80 năm của cuộc đời Ngài chúng ta mới có Ngày Đản Sanh của Ngài được. Vậy nói cách khác năm nay chúng ta đang cử hành lễ Đản Sanh của Thái Tử Tất Đạt Đa thành năm 2603 năm mới đúng. Sở dĩ Phật Giáo chọn năm Nhập Diệt của Ngài để cử hành lễ Đản Sanh là vì năm tháng ấy đánh dấu một sự thị hiện của Ngài tuy đã đi vào trong cảnh yên vui tịch mịch nhưng lời dạy của Ngài vẫn còn vang dội khắp mười phương pháp giới. Điều đó hẳn đúng vì chúng ta là những người Phật Tử thực hành theo giáo pháp của Ngài đã chỉ dạy trong suốt 49 năm hành đạo độ sanh. Ngài đã thuyết rất nhiều kinh điển nhưng cuối cùng Ngài nói với các đệ tử của Ngài rằng: "Suốt 49 năm hoằng pháp ta chưa nói một câu nào cả". Vì chúng sanh ở trong cõi đời này đều chấp vào sự Có và sự Không - đôi lúc còn nhầm lẫn chấp cả sự Không là Có mà sự Có chấp Không. Còn giáo lý của Phật Giáo là một chân giá trị tuyệt đối, một bản thể nhất như - không hai mà cũng chẳng ba, không đến cũng không đi, không tăng cũng không giảm, không có cũng không không. Nếu ai còn chấp vào sự không và sự có tức là còn vọng tưởng. Còn vọng tưởng tức là còn mê muội - mà còn mê muội là chúng sanh chứ không phải Phật Thánh. Bởi vậy Đức Phật có dạy rằng: "Chánh pháp còn phải bỏ thay, huống là phi pháp". Khi đã chứng đắc đạo quả vô thường giải thoát rồi thì chuyện có chuyện không cũng không còn bận tâm nữa, huống gì với sự chấp có chấp không. Cũng vì lý do ấy mà đệ tử của Phật sau nầy kỷ niệm năm Phật nhập Niết Bàn cũng là năm Đản Sanh của Ngài đều không khác vậy.

Như vậy Đức Phật ra đời để làm gì?

Câu hỏi tuy giản dị nhưng hàm chứa nhiều ý nghĩa. Trước tiên ta phải hiểu danh từ Phật là gì đã, sau đó ta sẽ đi sâu vào nguyên nhân Đản Sanh của Ngài.

PHật là một danh từ chung dùng để chỉ cho những bậc đã giác ngộ bản tâm và vạn hữu. Tiếng Phạn gọi là BOUDDHA, tiếng Trung Hoa dịch là "giác giả", dịch sang tiếng Việt Nam là "kẻ hay người giác ngộ", người giác ngộ là người hiểu biết một cách sáng suốt gọi là Phật. Phật không phải là một vị Thần hay một vị Chúa tể của muôn loài có quyền ban ân giáng họa, tạo phước đức cho chúng sanh mà Phật chỉ là một con người bình thường như bao nhiêu con người bình thường khác - đi từ địa vị phàm phu đến quả vị tuyệt đối kia sau nhiều năm, nhiều kiếp tu hành để được giác ngộ.

Trong kinh Pháp Hoa (Sutra) có dạy rằng: "Tất cả các Đức Phật ở trong ba đời: quá khứ, hiện tại và vị lai - thị hiện ở trong đời nầy không ngoài mục đích là mở bày cho tất cả mọi người thấy rõ và đi vào sự thấu hiểu tột cùng của bậc đã giác ngộ" - (Khai thị chúng sanh ngộ nhập Phật tri kiến). Như thế chúng ta đã thấy rằng các Đức Phật ra đời trong đời nầy là vì chúng ta chứ không vì ai khác nữa. Chúng ta là những con bệnh đang quằn quại trong cuộc đời khổ trược. Phật như một vị thầy thuốc giỏi muốn đem chân lý, sự sáng suốt chỉ dẫn cho con người ra khỏi chỗ bùn nhơ nước đọng ấy. Phật ra đời vì lòng thương chúng sanh như lòng mẹ thương con, như tình thương muốn dập tắt lửa hận thù.

Trong kinh Tăng Nhứt A Hàm ca ngợi Thái Tử Tất Đạt Đa lúc Đản Sanh như sau: "Một chúng sanh duy nhất, một con người phi thường, xuất hiện trong thế gian nầy, vì lợi ích cho phần đông, vì hạnh phúc của phần đông, vì lòng bi mẫn, vì sự tốt đẹp, vì lợi ích và hạnh phúc của chư Thiên và nhân loại". Đó cũng là ý nghĩa và nguyên nhân Đản Sanh của Thái Tử Tất Đạt Đa vậy.

Cũng vì chính lòng thương chúng sanh ấy mà Ngài đã thị hiện ở cõi Ta Bà (Samsara) nầy, cũng chính vì lòng thương ấy mà Ngài quyết đoạn tuyệt cuộc đời vương giả, vợ đẹp con ngoan, lầu vàng điện ngọc để đi vào chốn núi rừng cốt tìm cho được một chân lý thoát khỏi sinh tử để cứu độ cho sinh linh. Cũng chính vì không muốn thấy giữa con người đi bóc lột con người, giữa kẻ mạnh đi hà hiếp người yếu, giữa kẻ có quyền thế đi mua chuộc lợi danh, giữa những kẻ có oai quyền đi chinh Đông phạt Bắc. Tất cả chỉ vì lòng ham muốn nhỏ mọn của con người mà ra cả. Vì con người chỉ muốn mình là chúa tể của muôn loài, mình là trung tâm của vũ trụ. Đối với Đạo Phật hay Đức Phật, con người chỉ là một hạt cát trong bãi sa mạc mà thôi. Chúng ta sở dĩ có thân nầy vì do những nguyên nhân đã hợp mà thành, rồi theo ngày đêm năm tháng, những yếu tố được cấu thành thân thể của con người cũng mai một đi để trở về trạng thái cũ của nó. Con người bị lạc vào trong đường dữ nhưng không biết lối ra, bị ở trong nhà lửa nhưng không biết nóng. Lửa si mê, lửa thù hận đang đốt cháy ngập trời, thiêu rụi cả ba cõi nhưng con người vẫn còn say mê chưa tỉnh ngộ...

Cũng chính vì thế mà Đức Phật ra đời, mong muốn đưa con người từ bờ mê sang bến ngộ nhưng có ngộ được hay không con người phải ý thức ở chính mình và tự mình đi thẳng vào chỗ ngộ ấy mới mong ngộ được. Còn nếu con người còn ỷ lại nơi chính mình, còn nương vào những cái giả tạm để làm cứu cánh thì mãi cho đến bao giờ con người vẫn còn sự khổ cứ triền miên theo bám víu chúng ta. Đức Phật đã bao năm tháng mòn mỏi đợi chờ; nhưng đàn con dại chúng ta đang còn mãi lặn hụp trong biển đời ngao ngán. Bồ Tát đã hiểu rõ tâm trạng của chúng sanh nên có nhiều lần Ngài đã thệ nguyện rằng: "Bao giờ tất cả con người và mọi loài thành Phật thì Ngài mới thành Phật". Như thế chúng ta đã thấy rằng các Đức Phật đã vì chúng ta, vì mọi loài mà mong dẫn dắt con người ra khỏi chỗ mê mờ trở về sự hiểu biết sáng suốt, nhận chân được giá trị của cuộc đời, của con người đâu là chánh, đâu là tà ...

Tóm lại chúng sanh còn đau khổ là Phật còn thị hiện. Phật ở trong ta, trong người, ở trên, ở dưới, ở khắp cõi hư không và mười phương pháp giới. Khi nào tất cả chân tánh của mọi loài hoàn toàn hiển lộ thì Phật không còn ra đời nữa, vì hạnh nguyện của các Ngài đã hoàn toàn viên mãn.

Hôm nay chúng ta kỷ niệm Đản Sanh và nhắc lại ý nghĩa Đản Sanh của Ngài không ngoài mục đích là tự nhắc nhở chúng ta hãy luôn luôn đi theo chánh đạo và chối bỏ những hận thù tội lỗi... Ngày nào mà ánh sáng chân lý đều đến với tất cả muôn loài thì Đức Phật mới hoan hỷ trụ được nơi yên tịnh trong cõi Niết Bàn vậy.

 

( Đặc San Viên Giác Số 2  (ngày 5.5.1979)

 

Cách báo hiếu trong Đạo Phật

 

Xưa nay trong xã hội loài người đã xuất hiện biết bao nhiêu Tôn Giáo khác nhau như Bà La Môn, Phật Giáo, Hồi Giáo, Khổng Giáo, Lão Giáo, Thiên Chúa Giáo v.v... Mục đích của tất cả các Tôn Giáo trên là cốt dìu dắt con người đi từ chỗ sai lầm đến chỗ hiểu biết, từ bỏ sự mê mờ và quay đầu về bờ giác ngộ. Tránh tất cả các việc dữ, làm các việc lành, lợi mình và lợi người vậy...

Mục đích tuy giống nhau, nhưng phương tiện để đi đến mục đích đó mỗi Tôn Giáo lại chủ trương khác nhau. Ví dụ như Khổng Giáo chủ trương rằng: một người được sanh ra có bổn phận phải nối dõi tông đường, sinh con đẻ cái để nối truyền cái gia nghiệp của Tổ Tiên, nhưng Phật Giáo thì không quan niệm như vậy, vì còn sinh tử trong cõi luân hồi nầy là còn luân hồi nghiệp báo. Vậy muốn thoát khỏi cảnh sanh tử luân hồi trong cõi đời nầy, điều cốt yếu là đừng nên tạo nghiệp tiếp tục nữa, đó là con đường đi đến chân lý giải thoát tuyệt đối vậy.

Trong các kinh điển nói về đạo hiếu của con cái đối với cha mẹ hiện tiền cũng như cha mẹ trong những đời quá vãng rất nhiều và Đức Phật cũng đã nói thật rõ ràng về sự mang nặng đẻ đau của mẫu thân cũng như công ơn sanh thành dưỡng dục của song thân từ khi con mới biết sún cơm, bú mớm. Công ơn sanh thành dưỡng dục của cha mẹ như non cao bể rộng. Ngài có lần dạy cho bốn chúng đệ tử biết rằng: nếu khi cha mẹ già yếu không có cơm ăn, người con tự lấy dao rạch thịt da của chính mình để cung phụng nuôi dưỡng cha mẹ. Ấy cũng chưa đền được một trong muôn ngàn ơn sâu nghĩa trọng. Có người cõng cha mẹ trên hai vai đi suốt quanh hòn núi Tu Di trong nhiều kiếp cũng chưa đền được chữ hiếu của mẹ cha. Bởi vậy cho nên Đức Phật thường hay dạy rằng: "Phụ mẫu tại tiền như Phật tại thế", nghĩa là: "cha mẹ trong đời nầy cũng giống như Phật đang ở gần chúng ta. Biết kính thờ và hiếu thuận với cha mẹ tức là biết kính thờ Phật vậy".

Mẩu chuyện Ngài Đại Hiếu Mục Kiền Liên cứu mẹ đã cho ta một gương sáng nên soi theo đối với những người theo Phật Giáo. Mẩu chuyện được kể như sau:

"Sau khi Ngài Mục Kiền Liên đã đắc quả thần thông, liền vận dụng thần thông ấy đi tìm mẹ. Vì mẹ Ngài đã mất lâu nay nhưng Ngài chưa có cơ hội để quán xét. Cuối cùng Ngài gặp mẹ Ngài - Bà Mục Thanh Đề đang bị sanh vào kiếp ngạ quỷ (quỷ đói), trên đầu bà đội một chậu máu, dưới bà bị ngồi trên một bàn chông. Thân thể vô cùng đau đớn, cơm không có ăn, áo không có mặc, lạnh buốt tận xương tủy. Ngài Mục Kiền Liên thấy động lòng, nên liền mang cơm đến dâng cho mẹ để mong mẹ Ngài dùng cho đỡ đói, nhưng nào ngờ đâu cơm kia chưa đưa vào miệng thì đã hóa thành than lửa rồi mẹ Ngài không thể nào dùng được. Ngài Mục Kiền Liên càng đau khổ thêm, khóc lóc thảm thiết. Cuối cùng Ngài chẳng có cách nào hơn là về bạch lên với Phật và mong Ngài giúp đỡ.

Đức Phật chỉ cho Ngài Mục Kiền Liên thấy rằng: xưa nay bà Mục Thanh Đề lúc còn sống thì bán Phật, khinh Tăng, không còn tin kính phép luân hồi nhân quả, ưa nhạo báng Phật Pháp và tạo nhiều ác nghiệp do lòng tham lam của chính bà tự tạo lấy, nên sau khi thác bà phải chịu khổ sở trong chốn u đồ. Dầu Ngài Mục Kiền Liên có thần thông đệ nhất trong tất cả môn đồ của Đức Phật, dầu thần thông của Ngài Mục Kiền Liên đã được các hàng trời, Đế Thích, bốn vị Thiên Vương rất thán phục, nhưng nếu chỉ một mình thần lực của Ngài Mục Kiền Liên cũng không thể nào cứu mẹ ra khỏi chốn u minh kia được. Lúc bấy giờ Đức Phật mới dạy Ngài Mục Kiền Liên rằng: "Nếu ngươi muốn cứu đặng mạng của bà Mục Thanh Đề thì phải thành tâm và phải nhờ vào thần lực của chư Tăng chú nguyện trong ngày tự tứ, thì mới mong thoát khỏi. Vì ngày ấy là ngày hoan hỷ của chư Tăng, ngày mãn hạ và cũng là ngày đầy đủ các bậc cao Tăng hiền đức từ trong chốn núi rừng cho đến nơi thị tứ cũng đều vui vẻ tụ lại một nơi để cầu nguyện cho bảy đời cha mẹ được siêu thăng và cho phụ mẫu hiện tiền được nhiều hồng phước. Những người con hiếu thuận chính ngày ấy nên sắm các thức ăn, vật dụng, giường nằm, nệm lót, y phục dâng cúng chư Tăng và sau khi chư Tăng đã thọ thực nhờ đạo cao đức trọng sau 3 tháng an cư kiết hạ của các bậc cao Tăng hiền đức chú nguyện cho người còn được an lạc kẻ mất được siêu thăng, chứ một mình ông thì không thể làm được".

Ngài Mục Kiền Liên đã vâng lời Phật dạy và thực hành theo đúng như sự chỉ giáo của Đức Thế Tôn, nên cũng chính trong ngày tự tứ của chúng Tăng ấy bà Thanh Đề đã được hóa sanh về cõi Thiên cung. Sau đó Ngài Mục Kiền Liên thấy việc làm ấy có hiệu quả nên bạch với Phật và xin Ngài nên đặt để hiệu kinh để sau nầy các chúng đệ tử tại gia cũng như xuất gia nếu muốn báo hiếu cho cha mẹ thì nên làm theo như Ngài Mục Kiền Liên để cha mẹ quá vãng được hưởng nhiều lợi phước. Đức Phật nhận lời và đặt tên kinh là "Báo Hiếu Phụ Mẫu Ân Kinh" và mãi cho đến bây giờ cứ mỗi năm đến Rằm Tháng Bảy là ngày mà tất cả mọi người con Phật dầu bất cứ ở nơi đâu, dầu đang làm ăn sinh sống ở đâu cũng đều tụ hội về lo báo ân phụ mẫu nhân ngày tự tứ của chư Tăng.

Chữ hiếu trong đạo Phật là vậy. Không những lo cho cha mẹ mình, mà cũng còn có thể hộ niệm và cầu nguyện cho cha mẹ của người khác cũng được hóa sanh về những cảnh giới an nhàn, tự tại hơn.

Nhưng đất nước Việt Nam chúng ta đã trải qua biết bao cơn binh đao khói lửa, ngày thanh bình vẫn không đến, mặc dầu danh từ thống nhất, độc lập, tự do, dân chủ đã có, nhưng những người lãnh đạo Đảng Cộng Sản Việt Nam họ đã mang chủ nghĩa vô thần, vô gia đình, vô quốc gia vào ngự trị trên quê hương ta - một quê hương đã bao đời chịu ảnh hưởng của Phật Giáo và Nho Giáo, đặt nặng vấn đề chữ hiếu, nhưng ngày nay người Cộng Sản đã mang chủ nghĩa Mác-Lénin vào để thay thế cho phong tục, tập quán của người Việt Nam và mang hình ảnh Hồ Chí Minh để thay đổi vị trí của những bậc Giáo Chủ của những Tôn Giáo lớn. Họ không có gia đình, ông bà, cha mẹ thì còn đâu để báo hiếu. Họ là những người chỉ có xác mà không có hồn. Họ là những người bị nô lệ bởi chủ nghĩa duy vật cực đoan và thiển cận. Nhưng có lẽ một ngày nào đó khi mà nghiệp duyên đã mãn thì dầu cho bất cứ một chế độ nào, một chủ nghĩa nào mà không thực hành đúng nguyện vọng của nhân dân thì ắt có ngày sẽ sụp đổ.

Chúng ta là những người Phật Tử, coi trọng công ơn sanh thành dưỡng dục của cha mẹ và suốt đời một dạ báo hiếu cho song thân, hầu đền đáp những ơn thâm nghĩa trọng kia. Bởi thế người xưa thường nói: "Thiên kinh vạn quyển, hiếu vi đệ nhất". Nghĩa là dầu cho một ngàn quyển kinh, mười ngàn quyển sách chỉ có chữ hiếu là đứng đầu.

Mùa Vu Lan năm nay cũng sắp về nơi hải ngoại cũng như trong quốc nội. Chúng ta hãy chắp tay thắp nén hương lòng gởi về cố quốc, nhằm cầu nguyện cho những người con đang chịu nhục nhằn trong ngục tù cộng sản sớm được trao trả tự do và phục hồi nhân phẩm của họ. Cầu nguyện cho những người đang trốn chế độ cộng sản ra đi tìm tự do không may chết chìm trên biển cả được cao đăng Phật Quốc. Và cầu nguyện cho chính chúng ta có đủ can đảm để đấu tranh với người cộng sản cho đến giai đoạn thắng lợi cuối cùng cho công việc phục hưng Quốc Gia, Dân Tộc và Đạo Pháp. 

( Đặc San Viên Giác Số 3 )

 

 

Thiền học

 

Đại Lão Hòa Thượng Thiền Sư YOSIOKA TOICHI soạn - nguyên tác "ZEN"

Thích Như Điển dịch từ Nhật ngữ ra Việt ngữ.

 

Con người sống trong xã hội hiện tại hay mong muốn cái gì cũng giống như sự giáo dục của sự hợp lý chủ nghĩa, nghĩa là dầu cho nỗ lực ít nhưng phải có kết quả. Do đó ta có thể nghe hỏi rằng: Việc tọa thiền có công dụng như thế nào?

Sau thời kỳ hậu chiến (1945) các tôn giáo mới lại xuất hiện nhiều. Đứng về phương diện tôn giáo thì có nhiều kết quả lợi ích, ví dụ như lễ bái để được lành bệnh... có thể nói rằng đó là thuộc về quan niệm tôn giáo nguyên thủy.

Thế nhưng sự ngồi thiền ở đây tôi (tác giả) không cho là một loại thuốc hay.

DOGEN (Đạo Nguyên) Thiền Sư đã từ Trung Quốc về (Nhật) đến Kyoto mở chùa Hưng Thánh Tự. Tại Trung Quốc Ngài đã học về Phật Giáo hiện thời. Nhưng nếu có hỏi Ngài đã tu được gì thì Ngài trả lời rằng: "Được thấy mắt ngang, mũi thẳng và trở về quê bằng hai tay không". Dưới triều nhà Tống năm thứ 5, Ngài phát hiện ra chuyện mắt nằm ngang, mũi ngay thì đâu có khác gì chuyện ngày nay như người ta biết. Vậy thì Ngài chẳng tu học được cái gì, về nước bằng hai tay không sao?

Thiền không thể nói như một món hàng bán ngoài quán được. Nếu cứ hỏi chuyện lợi ích của Thiền hoặc giả vẽ ra mục đích chẳng hạn thì người đó không thể nào tiếp xúc được với bản chất của Thiền mà cứ đứng quanh quẩn ngoài ngõ Thiền.

Ngài Đạo Nguyên đã cho biết rằng: "Hãy bỏ danh lợi và lấy đạo tâm". Nếu muốn thành con người tiếng tăm hoặc đi tìm sự lợi ích cho chính mình thì Thiền là một giới luật nghiêm khắc không được vào cửa ngõ của Thiền vậy.

Nói vậy nhưng ngồi Thiền không phải là không có hiệu quả. Thế nhưng không phải vì cái hiệu quả ấy mới ngồi Thiền. Trong lúc ngồi Thiền cái tự tánh hiển hiện ra, nó khác với cái hiệu quả trên. Ngồi một chút là thành Phật một chút. Ngồi một thước là được dạy cho một thước thành Phật. Điều nầy được hiểu là: Nếu có ngồi thì Phật tánh mới hiển lộ.

Người tu Thiền chơn chính được gọi là ngồi Thiền "vô sở đắc" lại nữa đó cũng gọi là "Bổn chứng diệu tu" của sự tọa Thiền.

Ngoài ra, đó không phải là sự định ước mục đích cho sự tu Thiền mà trong đó phải biết được cái "bản lai diện hữu" là được đi vào Thiền vậy.

Ngồi Thiền thì phải ngồi cho đúng cách. Điều chỉnh hơi thở cho đều đặn. Thực hành đúng như vậy thì từ chỗ hoạt động không bình thường của mũi, ruột, khí quản... ở vị trí không an định trở thành điều hòa. Ở trong một thời gian nhất định, sau khi đã thực hành đúng nguyên tắc thì tất cả các cơ năng vận động hợp lý. Người ta thường nói con người không ăn 2 tháng không sao, nhưng nếu không thở chừng 5 phút thì sẽ bị chết. Khi nội tạng được nằm trong một vị trí điều chỉnh đứng đắn thì máu lưu thông đều đặn và các tế bào của cơ thể sinh hoạt bình thường. Điều đó có thể duy trì sức khỏe của con người có hiệu quả.

Nếu thân thể được tráng kiện, tinh thần an định thì tự nhiên sự phiền não tiêu tan. Ngoại cảnh không thể phá rối được và các lực bên trong tăng trưởng thuận chiều. Tham, sân bị mất. Từng ngày, từng khắc có thể sống một cách bình thường.

Thế nhưng, tọa Thiền không phải là một phương pháp làm cho thân thể khỏe mạnh mà cũng chẳng phải tọa Thiền để được sống lâu. Ngài Đạo Nguyên 54 tuổi đã quy tịch. Ngài Tổ của Thiền Lâm Tế (Bạch Ẩn 1685-1768) sống tới 83 tuổi.

Nhưng kẻ tọa Thiền cũng không thể nghĩ rằng việc sống lâu là sai sự thật. Sống lâu trăm tuổi thành hận với đời. Nếu trong một ngày không làm được việc gì thì sống trăm tuổi cũng chẳng lợi gì. Trăm tuổi đối với sự sống của tha nhân là trở thành tự do vậy. Đó không phải là vấn đề tính toán của toán học mà là vấn đề sống cho có phương pháp trong một ngày, một khắc.

Tôi (tác giả) đã gần 30 lần thăm viếng Việt Nam trong lúc chiến tranh. Phật Giáo Việt Nam và Phật Giáo Nhật Bản đã nỗ lực trong việc giao thiệp với nhau. Có một lúc nọ trước mặt tôi cả một việc nguy hiểm đã xảy đến, nhưng trong thân tâm tôi chưa bao giờ nghĩ chuyện nguy hiểm là gì.

Ngẫu nhiên vào năm Showa thứ 48 (1973) ngày mà Hiệp Định Ba Lê được ký kết 27.1.1973 về sự hòa bình của Việt Nam, tôi đã dùng máy bay Cathay Pacific bay đến Việt Nam và ở tại nhà của một vị Tỉnh Trưởng tại thành phố miền Trung Việt Nam, Phú Bông.

Khoảng 10 giờ trưa mọi người có liên quan trong tỉnh đường đều sẵn sàng ứng tiếp. Trong lúc mọi người gặp gỡ nhau thì đột nhiên ở phía sau dinh tỉnh trưởng khoảng 30 mét các tiếng đại bác nổ rầm trời. Tiếng súng nổ làm cho ghế cũng bay tung lên được.

Sau khi hỏi kỹ thì được biết rằng cách đó 5 cây số có một toán đặc công Việt Cộng xuất hiện khoảng 400 người và vì lý do đó nên lính mới nổ súng. Ở xa xa mỗi lúc lại nghe tiếng pháo nổ, mọi người gương mặt đều dợt dạt, trải dài một thời gian kinh dị. Thế nhưng đối với tôi lúc đó chả có gì xảy ra cả.

Tỉnh Trưởng nói: "Hòa Thượng người Nhật coi bộ không sợ hả?". Thế nhưng trong tôi không phải là không sợ nguy hiểm đó, mà tôi là người trở lại sự hô hấp bình thường trước mọi người, nên xem tôi có vẻ bình tĩnh như vậy.

 

Ngồi thiền là một phương pháp an lạc

"Tọa Thiền không phải là tập Thiền, tuy cái này trở thành một pháp môn an lạc". Điều này ở trong "Phổ khuyến tọa thiền nghi" đã thuyết như vậy. Ngồi Thiền không phải là sự vui thích mà cũng chẳng phải là vị trí thức. Ngồi Thiền được gọi là làm cho rời xa việc khổ não và trụ vào trong một thế giới an lạc, gọi là Thiền.

Sau đây tôi xin nhắc đến cảm tưởng của những người nhân viên tuổi 20, ngồi Thiền tại đạo tràng của tôi.

"Ngủ dậy lúc 5 giờ. Giờ này là giờ bao giờ cũng buồn ngủ. Sau đó rửa mặt đi lên Thiền đường. Đây là ngồi Thiền thứ 2 nên hôm nay ngồi Thiền với phương pháp vô ngôn (không lời nói) như hôm qua đã được học hỏi. Lưng ngồi thật ngay ngắn. Buổi sáng ở Thiền đường người ta có thể hít thở không khí tốt thật là sung sướng. Xa xa nghe tiếng chim kêu vọng lại...". (Lời của một thiếu nữ).

"Chính việc làm của mình không phải do người khác chỉ bảo mà chính mình phải cảm nhận cái không khí thoải mái tự nhiên ấy để thăng tiến". (Lời của một thanh niên).

"Tôi đã nói công việc ngồi Thiền cho cha mẹ của tôi nghe. Sau khi đi ngồi Thiền về, không biết có phải là tôi đã bị ám ảnh bởi những lời thuyết pháp không nữa nhưng tự nhiên thấy khó có thể giải thích rằng mọi công chuyện tôi đều làm xong một cách có thứ tự vui vẻ. Điều lợi ích này tôi mong muốn luôn được giữ mãi". (Lời của một thanh niên).

Điều này cho thấy rằng mỗi người ngồi Thiền có mỗi kết quả khác nhau. Ngồi Thiền không phải chỉ một phương diện mà Thiền sẽ thuận ứng tùy theo thể chất và nhiều phương diện của từng cá nhân một. Thế nhưng nói chung lại thì quả sự thể nghiệm của việc ngồi Thiền có thể nói rằng: "trở về với giác ngộ bản thân" vậy. Điều này có thể gọi là kết quả của một pháp môn an lạc.

Ngài Đạo Nguyên đã nói: "Người học Phật đạo là kẻ học tu chính mình. Học tu chính mình là điều hòa ở chính mình. Điều hòa ở chính mình là chứng đắc vạn pháp. Chứng đắc vạn pháp là chính tự thân tâm của ta và thân tâm của kẻ khác được giải thoát vậy". (Chánh pháp nhãn tạng, hiện thành công án).

Ngài Đạo Nguyên đã nói việc học Phật đạo là tọa Thiền. Nếu mà tọa Thiền thì chính mình và tha nhân, nhân loại được lìa khỏi sự chấp trước mà đạt được sự giác ngộ chân thật. Điều đó được gọi là một chân lý Đại tự nhiên vậy.

Dạo này khi đêm đến khí trời nóng nực nhiều người ngủ không được. Lúc muốn ngủ mà không có thể ngủ được chả phải là điều hạnh phúc. Nếu càng tinh tấn ngồi Thiền thì chuyện khó ngủ kia trở thành một pháp môn an lạc vậy.

Tại sao mà lại khó ngủ? Tại vì trong quá khứ đã có bao nhiêu chuyện dồn dập, cứ nghĩ đến chuyện này chuyện kia, thất bại, thành công... rồi sinh ra mất ngủ.

Một điều nữa là, như trước đã trình bày, từ cái lòng mong muốn không được đáp ứng cũng sinh ra khó ngủ. Khi mà còn lo nghĩ nhiều như vậy thì trung khu não bộ phải làm việc nhiều và sinh ra khó ngủ. "Đại Huê thơ" còn gọi là "Thiên tịch" đã thuật lại những chuyện như dưới đây.

Đại Huê (1089-1163) Thiền Tăng đời nhà Tống đã viết rằng: "Việc trong quá khứ không thể nghĩ lường được hoặc là xấu, hoặc là tốt" và nữa "cái việc của tương lai cũng không thể đo lường được". Không phải vì cái việc xấu trong quá khứ mà phải viết lại, cũng chả phải cái việc thiện mà không làm bổn phận, ngoài ra cũng đừng nên phân biệt tương lai là phải làm như thế này hoặc thế nọ.

Nếu mà như vậy thì phải theo thế nào mới tốt được? Đại Huê suy nghĩ như sau: "Dầu cho bất cứ trường hợp nào, công việc tốt hay xấu nếu mà quên nhất tâm niệm thì thời gian đi qua, nhân duyên lạc mất, như vậy cái lý của sự tự nhiên không thuần ứng được.

Đây là cảnh địa của "Thiền Định Tam Muội" vậy. Lúc muốn ngủ thì ngủ, muốn thức thì thức.

Takemura Yoshimigi Vệ Môn là người nổi danh về giàu có mà cũng là một hành giả của đạo Thiền. Ông ta trong lúc làm việc tại ngân hàng Yasuda đã xảy ra 226 vụ kiện. Giữa đường gặp lúc đa nan thấy chuyện trước mắt không thành, nhiều chuyện không tốt đã xảy ra liên tiếp nên ông muốn kiếm món ăn lót dạ, đã cầm quyển sách Thiền đi vào trong núi.

Ba dặm đầu tiên, trong đầu óc ông ta đã hiện ra nhiều thứ nhưng đến năm dặm rồi dần dần không còn sức lực nữa để suy nghĩ, thân tâm cũng mệt lả đi, lúc đi được 6, 7 dặm thì những bước chân đi không còn ý thức nữa. Quay trở lại nhà, đi tắm một chút rồi đi ngủ, sáng hôm sau thức dậy trở nên dễ chịu lạ thường. Để kết luận cho việc này người ta thuật lại là một phương pháp đúng nhất.

 

Lịch sử thiền

Thiền là một phương pháp tu hành được phát xuất từ Ấn Độ. Nếu nhìn văn hóa Tây phương thì không có một thí dụ nào để nói cả.

Thiền tiếng Pali gọi là Dhyana. Cũng vì chữ mẫu nên cuối cùng được tỉnh lược thành Jhan, nên chữ Hán viết là Thiền nhưng đọc là Ch'an. Lúc Đức Thích Ca thuyết pháp bằng tiếng bình dân của người Ấn Độ đúng lúc bấy giờ, ấy là tiếng Pali. Thế nhưng vào thời cổ đại của xứ Ấn Độ, vì sự phân chia của tôn giáo nên tiếng Sankrit (Phạn ngữ) được dùng đến nhiều nên Đức Thích Ca cũng đã thuyết bằng tiếng Sanskrit.

Thiền được gọi là Dhyana. Đây là hợp chung nội dung tư tưởng của tôn giáo vậy. Tiếng Trung Hoa dịch là "Tự tánh tu" hoặc là "Tĩnh Lự".

Chữ Thiền được có từ lâu đời trong văn hóa của Ấn Độ và đó thuộc về kỷ lục của văn hiến. Thế nhưng việc ngồi Thiền thực tiễn về tôn giáo, đó là Đức Thích Tôn vậy. Trong những chùa thuộc về Thiền Tông thường thờ 7 Đức Phật trong thời quá khứ trước Đức Thích Ca và mỗi buổi sáng thường đọc kinh, phụng trì báo ân. Điều này không phải là ý kiến của Thế Tôn. Mà sau khi Thế Tôn tịch diệt chuyện này mới xảy ra và văn hóa cổ đại của Ấn Độ bị ảnh hưởng việc trên như là một chuyện cổ tích.

Sau khi Thế Tôn tịch diệt, Phật Giáo Ấn Độ đã bao phen hưng thịnh, suy vong. Trong những người tu Thiền, có kẻ lìa đời sống bình thường đi vào trong núi lập chùa để tu, xa rời đời sống hiện thật tạo thành những nhóm đệ tử Thiền. Đây được gọi là phái Thiền tiêu cực và để phản đối khuynh hướng này: Thiền là vì tha nhân chứ không vì tư kỷ nên phái tích cực đại chúng hóa được đản sanh. Nhóm sau này về đời hậu lai cũng còn gọi là Đại Thừa Phật Giáo vậy.

Cũng từ sự lưu chuyển này mà Bồ Đề Đạt Ma (? - 528) đã mang Thiền truyền sang Trung Quốc. Trước Bồ Đề Đạt Ma là thời kỳ Hậu Hán (25-220) ở tại Trung Hoa Thiền cũng đã được truyền sang, nhưng làm hiển lộ chân lý Thiền, thực tu, thực chứng về Thiền thì phải kể bắt đầu từ Bồ Đề Đạt Ma. Kết quả là Thiền được phát sinh từ Ấn Độ được truyền bá rộng rãi sang Trung Hoa và Thiền được truyền sang Nhật Bản là Thiền của Trung Quốc chứ không còn phong vị Thiền của Ấn Độ nữa.

Thiền của Trung Quốc từ Bồ Đề Đạt Ma đến ngũ tổ Hoằng Nhẫn (601-674) thì Thiền được phân chia giáo đoàn. Những người tin theo tăng nhanh, trước đây những người tu hành trong núi non bây giờ cũng xuất hiện nơi thị tứ và đã trực tiếp giáo hóa nhân dân như một việc làm tích cực.

Đạt Ma đến Trung Hoa chừng khoảng 200 năm sau thì Huệ Năng (638-713) và Thần Tú (606-706) xuất hiện. Huệ Năng chủ trương đốn tu và ở phía Nam Trung Quốc. Thần Tú thì chủ trương tiệm ngộ và ở Bắc phương Trung Quốc. Từ đó lãnh vực truyền đạo rộng rãi. Thiền đầu tiên chia ra làm hai Tông Nam Bắc, giáo lý cũng phân hóa và người bình dân càng ngày càng theo và tin theo Thiền nhiều hơn.

Thuyết Bắc Tông của Thần Tú chừng mấy đời sau thì bị mất và Thiền của Huệ Năng càng ngày càng tăng trưởng nhưng nếu nói theo hệ thống thì Mã Tổ của Hồng Châu Tông, Thần Hội của Hà Trạch Tông. Dược Sơn và Thạch Đầu của Dược Sơn Tông là những sự bắt đầu. Cũng đã có chia ra làm nhiều phái nhỏ nhưng đối với địa phương rộng lớn như Trung Hoa thì không có gì đáng nói.

Trong lúc này vào thời mạt kỳ của nhà Đường thì Hoài Nhượng (677-744) là thuộc về Thiền Lâm Tế. Quy Ngưỡng của 2 Tông từ Thanh Nguyên (? - 740) Tào Động, Vân Môn, Pháp Nhãn ba Tông được đản sanh. Ngoài Lâm Tế Tông ra, Hoàng Long, Dương Kỳ hai phái được chia ra. Sau nhà Tống thì xưng Thiền theo hệ thống "ngũ gia thất tông" (năm nhà bảy nhánh). Thiền được truyền sang Nhật Bản là thuộc vào trong lịch sử đó.

 

Sự thăng tiến của Thiền Nhật Bản

Thiền Nhật Bản được truyền từ Trung Quốc qua truyện Tây Du Ký với danh tiếng của Đường Tam Tạng đã dạy cho Đạo Chiếu (629-700). Đạo Chiếu đã dựng chùa Nguyên Hưng và đã dựng nên Thiền đường tại đó.

Đạo Tuyến (702-760) là Tăng đời nhà Đường đã đến Nhật Bản năm Thiên Bình thứ 8 (736) Thiền Sư là người được truyền thừa Thiền phương Bắc của Thần Tú.

Vào sơ kỳ thời Heian, Tối Đăng sáng lập Thiên Thai Tông (767-822). Thiền Ngưu Đầu cũng được truyền sang từ Trung Hoa. Thiền được gọi là hiển giáo vì cả sự luận lý đều sáng tỏ để đối chiếu với thần chú là giáo lý của Mật Giáo, nhưng Thiên Thai Tông của Trung Quốc cũng ngồi Thiền. Trong lúc ngồi Thiền cũng đã quán pháp thật tướng.

Sau Tối Đăng là Viên Nhơn (794-864) và Viên Trân (814-891)... cũng sang học Thiền tại Trung Quốc đã mang Thiền tích và Thiền pháp về truyền cho Nhật Bản. Hiện tại Thiên Thai Tông cũng còn ngồi Thiền gọi là Mật Thiền. Nhưng cái này Thiền Tông Trung Quốc còn gọi là thời kỳ lạm thương vì Thiền ở triều Đường bị gián đoạn và Thiền được thạnh hành nhất là Thiền dưới đời Tống và Thiền này được truyền sang Nhật Bản.

 

Lâm Tế TÔng

Thiền Tông của Nhật Bản có Lâm Tế Tông đồng một hệ phái với Hoàng Bích Tông. Ẩn Nguyên (1562-1673) là Tổ khai sáng. Nói cho rõ ràng thì tại Trung Quốc không có gọi Hoàng Bích Tông là một Tông phái mà Ẩn Nguyên là xuất thân từ Lâm Tế Tông, đã đến Nhật và mang Thiền vào truyền tại đây.

Ẩn Nguyên đã chạy loạn vào cuối đời nhà Minh năm Thừa Ứng thứ 3 (1654) cùng với môn đệ khoảng 20 người đã đến Nagasaki và yết kiến tướng quân Gia Võng. Sau đó họ ở lại Nhật và lập chùa Vạn Phước Tự. Sự trang trí trong chánh điện, ngôn từ... tất cả đều ảnh hưởng nhà Minh bên Trung Quốc. Trong thời kỳ bế quan tỏa cảng Nhật Bản đã sanh ra một giáo phái mới về Thiền.

Những Tu sĩ của Lâm Tế, Tào Động đã giao thiệp với nhau và tạo nên một môn "Trà Đạo". Sau này văn hóa của Thiền được đề cập đến luôn.

 

Tào Động Tông

Vị khai sáng Tào Động Tông là Ngài Đạo Nguyên (1200-1252), đầu tiên lên núi Bỉ Duệ Sơn tu theo Thiên Thai Tông. Sau đó thì học Thiền của Minh Toàn, đệ tử của Ngài Dinh Tủy, ở chùa Lâm Tế Kiến Nhận Tự. Trịnh Ưng năm thứ 2 (1223) cùng với Minh Toàn đã đến Trung Hoa vào triều nhà Tống. Đến núi Thiên Động Sơn làm học trò của Như Tịnh, đến năm An Trinh thứ 3 (1228) thì trở về Nhật và sáng lập ra Tào Động Tông của Nhật Bản.

Ngài Đạo Nguyên đã đưa cao chí nguyện về Thiền của Ngài Như Tịnh, đã liên kết với các Tông phái khác. Đạo Nguyên đã liên kết với các nhà quyền thế của quốc gia lúc bấy giờ trong tư tưởng cực đoan và đã tuyển chọn đất bỏ hoang của dân lập nên chùa Vĩnh Bình (Eiheiji). Ngài đã cùng những bậc chân tu, hành đạo ở đó. Đứng về phương diện văn học Ngài Đạo Nguyên rất có tài, đã viết ý chính của Tông mình vào quyển thứ 95 "Chánh Pháp Nhẫn Tạng". Hoài Hải (720-814) của đời nhà Đường đã dùng Bách Trượng Thanh Quy và Ngài Đạo Nguyên cũng đã đưa theo thanh quy này chế ra "Vĩnh Bình Thanh Quy". Vì sự học đạo của kẻ khác nên Ngài cũng đã soạn ra "Học Đạo Dụng Tâm Tập" và quyển sách này cũng đã xác định được phương pháp căn bản của giáo đoàn Tào Động.

Ngài Đạo Nguyên mới 54 tuổi đã viên tịch. Sau đó giáo đoàn một thời đã hỗn loạn. Đời thứ tư là Bảo Sơn (1268-1325) mới thực hành nguyên lý chỉ đạo của Đạo Nguyên và truyền bá rộng rãi. Đã dưỡng dục bao nhiêu bậc anh tài và đã xác lập được giáo đoàn của Tông Tào Động. Sự phát triển giáo đoàn của Bảo Sơn làm cứ điểm ở Tông Trì Tự tại Năng Đặng. Nhưng vào khoảng cuối thời Minh Trị bị chiến loạn nên mới dời về Yokohama và đó là trụ sở chính cho đến bây giờ.

Trong các đệ tử của Bảo Sơn có Nga Sơn, Minh Phùng là những bậc anh tài xuất chúng. Đã có ảnh hưởng rất lớn trong việc truyền đạo cho toàn nước Nhật.

Tào Động Tông đã phát triển một cách tột bực vào thời kỳ Giang Hộ (Eido) là do công lao của Nguyệt Chu (1617-1696). Tào Động Thiền Tăng Ẩn Nguyên dưới triều nhà Minh đã mang một không khí Thiền mới vào Nhật và chính đây là sự không thay đổi của giáo đoàn Tào Động Tông.

 

PHỔ HÓA TÔNG

Trong các Tông Thiền tại Nhật Bản, ngoài ra còn có Tập Đoàn Hư Vô Tăng của Tông Phổ Hóa nữa. Phổ Hóa (? - 860) là Tổ của Thiền này, được khai Tông dưới đời nhà Đường. Không dùng kinh điển, mặc áo trắng, cầm và kiếm ngắn. Họ thổi sáo, tiếng sáo vang dội khắp nước. Khi thổi như vậy họ điều chỉnh hơi thở. Khi vào cảnh Thiền thì có Tông Chỉ của Thiền, nên năm Minh Trị thứ 4 (1871) vì đồ chúng tệ hại, nên Tông này đã bị phế chỉ.

Lâm tế tông và tào động tông

Lâm Tế và Tào Động là 2 Tông Thiền được truyền sang từ Trung Quốc. Cả hai phái Thiền đều có những sự khác nhau.

Lâm Tế Thiền còn gọi là Khán Thoại Thiền. Khi được giao cho một công án thì giải đáp và ngộ đạo từng nấc thang một (từng bước một) nên còn gọi là "Thiền bậc thang" hay là "Giai đoạn Thiền".

Tào Động Thiền còn gọi là Mặc Chiếu Thiền. Đặc biệt không có trao công án, ngồi Thiền và ngộ được Thiền nên gọi là "Thiền ngồi ngủ" hoặc là có nhiều người xấu miệng cũng gọi là "Đãi Ngộ Thiền".

Cả hai loại Thiền trên, trong lúc ngồi Thiền đều được người Sư Trưởng chỉ đạo và giảng nghĩa Thiền cho đại chúng nghe. Khi vị Sư Trưởng vào phòng thì từng người một được đi vào phòng và được hỏi đạo từng người.

Các Tông phái của Phật Giáo có nhiều loại kinh điển khác nhau, gọi là "Giáo tướng phán thích". Từ phái này có nhiều sự phê phán bình luận phái kia, nhưng 2 phái của Thiền trên đây ngay cả sự tranh luận giáo lý của giáo học hầu như không có. Thiền Tông không căn cứ vào kinh điển nhiều nên chuyện luận tranh về giáo lý không có.

Ngược lại Lâm Tế, Tào Động, Hoàng Bích khi va chạm với Phổ Hóa Tông thì có nhiều khuynh hướng dị biệt khác nhau. Các Tông phái càng ngày càng không liên kết chặt chẽ với nhau mà kể từ khi hậu kỳ của Minh Trị, vì sự xác nhận cơ cấu của từng Tông vụ một nên đã xảy ra chuyện trên cho đến bây giờ.

Nói một cách tổng quát Lâm Tế Tông là được truyền vào ở giai tầng cao trong xã hội và việc tu hành nghiêm ngặt. Còn Tào Động Tông là được truyền cho nhân dân nên việc tu hành có vẻ dễ chịu.

Nhưng trên thực tế nếu bước vào đạo tràng của từng Tông một thì cũng không đúng hẳn như điều trên đã thường hay nghe thấy. Ở Tào Động Thiền, Ngài Đạo Nguyên đã cho thấy rằng: "Tham Thiền là làm cho thân tâm nhẹ nhàng, phải điều chỉnh hơi thở cũng như cách ngồi". Gần nhất của việc tọa Thiền là đã được thuyết trong "Chánh Pháp Nhãn Tạng". Trong "Kim Khoa Ngọc Diệu" của Lâm Tế Tông có chỉ dẫn của "Bích Nham Lục" và gần nhất là giải thuyết các công án. Điều đương nhiên là không có sự chối bỏ các công án này. Mà ngược lại Thiền Lâm Tế vào thời đại Chiêu Hòa của Cự Tượng Kato Canh Sơn đã viết: "Việc xử dụng công án hay nghĩ đi sẽ nghĩ như thế nào? Công án là làm cho đầu óc phải suy nghĩ". Những cấp bậc dưới của Thiền Lâm Tế thì phục tùng công án, nhưng những bậc chỉ đạo thì có người phủ nhận công án.

Lâm Tế Thiền và Tào Động Thiền sai khác như thế nào? Giữa Khán Thoại Thiền và Mạc Chiếu. Thiền dầu luận thuyết cho đến đi chăng nữa cũng không hiểu được Thiền, mà trở lại chấp trước giữa các Tông phái với nhau, bằng chi hơn là hãy thực hành Thiền là điều quan trọng hơn cả.

 

 

THIỀN Và Văn hóa (1)

Gần đây người ta thường nghe tiếng ngoại quốc gọi DISCOUR JAPAN - Nhật Bản có lẽ phải tự thấy lại ở chính mình một lần nữa mới phải. Nếu tìm sâu ngọn nguồn văn hóa của Nhật Bản thì phải cảm nhận rằng có ảnh hưởng của Thiền ở trong đó. Những người ở gần Kyoto hoặc Kamakura đều được tiếp xúc với Thiền nhiều nên họ có đầy nhân tính về Thiền. Nếu không nói đến Thiền thì không thể nói đến sự giáo dục của Nhật Bản được. Nếu nói cho đúng thì quê hương cũ của tinh thần người Nhật là Đông Dương. Dầu cho có tiếp xúc, học hỏi, ảnh hưởng văn hóa Tây phương bao nhiêu đi chăng nữa Thiền vẫn được ngấm sâu vào tận đáy lòng của nhiều người Nhật. Thiền được truyền sang từ Trung Quốc, nhưng Thiền được hợp với văn hóa đại lục và được truyền sang Nhật Bản là một văn hóa nguyên lưu. Cách ngồi trầm lặng của người Nhật, cách chào hỏi cho đến phương cách ăn, uống đều đã được thành lễ nghi là do sự ảnh hưởng của Thiền được truyền vào Nhật vậy.

Những lễ nghi trong hiện tại còn sót lại là những lễ nghi đời Kamakura, mà những lễ nghi đó đã được thời Edo (Giang Hộ) chế định. Đối với việc này Ashiriki ở Tín Châu là học trò của Thanh Quật (Thiền Tăng người Phúc Châu năm 1326 đã đến Nhật) đã mời Thầy mình đến Tín Châu mở chùa Khai Thiện Tự và đã thọ lãnh sự chỉ giáo của Thầy mình về các lễ nghi. Cho đến lúc đó Nhật Bản chưa có tiêu chuẩn cho việc lễ pháp nào cả. Căn cứ theo uy nghi tác pháp Thiền của Bách Trượng Thanh Quy mà giai cấp vũ sĩ người Nhật Bản Tiểu Trúc Nguyên Lưu đã đặt ra thành lập trong thời kỳ Giang Hộ. Mặc dầu sau này có chia ra những chi nhánh nhỏ nhưng vẫn được xác nhận đặc biệt của lễ nghi tác pháp này.

Ảnh hưởng của Thiền được bắt đầu từ đời Giang Hộ trong việc tĩnh tọa hay lúc ngủ dậy, rửa mặt, đi ngủ, ăn cơm, lễ bái v.v... Hơn thế nữa sự sinh hoạt của người Nhật Bản được gắn liền với Thiền và cũng được thay đổi một ít.

Thiền được gọi là bất lập văn tự (không dùng đến chữ) hoặc giáo ngoại biệt truyền (không truyền từ bên ngoài). Trong cảnh sinh hoạt của "Thiền miệng" văn chương khó có thể biểu hiệu mà những động tác bằng hơi thở, bằng mũi hoặc sự điều hòa của lưỡi được biểu hiệu nhiều hơn.

Huệ Chiếu ngữ lục trong "Lâm Tế Lục" có viết như sau:

Tăng hỏi: Đại ý của Phật Pháp là gì?

Sư đáp: Hãy đưa lưng đây cho ta đánh.

Đệ tử hỏi đại ý của Phật Pháp mà Huệ Chiếu đòi lấy gậy để đánh đệ tử, như vậy Thiền không trả lời những câu hỏi trực tiếp mà những câu hỏi ấy chạy trốn thực tại. Đó chẳng phải là điều đùa giỡn mà là sự thanh khiết của Thiền vậy.

Trên phương diện lịch sử văn học thế giới, lối thơ ngắn (Haiku) làm bằng những bài ca của Nhật Bản có ảnh hưởng của Thiền rất nhiều.

Những Thiền Tăng Trung Quốc hay làm thơ chữ Hán bằng kiến thức của mình những Thiền Sư Nhật Bản cũng học những thi kệ này. Những vị Tăng của Thiền Tông lúc chết thường hay để một lá cờ trước mặt có viết những thi kệ. Đó là những tập tục còn sót lại cho đến ngày hôm nay.

Tứ ngôn và thất ngôn tuyệt cú của chữ Hán thật ngắn và được đổi lại bằng những bài đoản ca. Trước đó Nhật Bản thường có những bài ca trường thơ và định đầu ca, nhưng những hình thức này đã bị mất từ lúc nào không ai biết được mà chỉ thấy Haiku là một thể thơ ngắn xuất hiện sau đó trong văn học Nhật Bản mà thôi. Thiền là biểu hiện cho sự thanh cao và Đoản ca hay Haiku được chồng chất từng chữ từng chữ lên nhau giống như công phu của những kẻ tu Thiền vậy, càng ngày càng phải điêu luyện là điều tất yếu quan trọng.

Các Thiền Tăng Đại Điên và Phật Đảnh chùa Viên Giác đã có nhiều cuộc giao thiệp và có những câu thơ tuyệt hảo còn sót lại đến ngày hôm nay như sau:

"Ao xưa ếch nhảy tiếng nước reo"

và Phật Đảnh đã hỏi lại là:

"Phật Pháp lúc chưa có thì như thế nào?"

Thiền Tăng Tào Động Tông cũng vừa là thi nhân như Lương Khoan sau 22 tuổi xuất gia học đạo, chuyên cần tu thiền và tiếp tục du hành "Vân Thủy Hành Cước", mãi cho đến ngày nay cũng còn lưu lại nhiều thơ kệ, đoản ca và nhiều danh tác khác.

Con nhỏ dại cầm tay nhau trên vạn lý,

Chơi ngày Xuân dầu trời xấu cũng đi.

Đó là những câu thơ biểu hiện thi cảnh và lòng từ ái của thi nhân. Và đó cũng là tâm hồn của một Thiền Sư vậy.

 

Thiền và văn hóa (2)

Chữ "Thiền Tông Tự Viện"  (Zenshũ Jiin) thường dùng nó trùng với âm chữ Tuyền "Zen" là nước suối. Có nhiều người đã lầm và đã gọi là Tuyền Tông Tự. Từ thí dụ nhỏ này ta có thể thấy nước là một vấn đề quan trọng có liên hệ mật thiết với chùa chiền. Có suối nước chảy thì có ao hồ, có nước thì có cây cối mọc. Khi có cây cối thì vườn tược được thành hình. Đó là những điều kiện tất yếu. Do đó cho nên trong các chùa Thiền luôn luôn có những vườn cây cảnh. Đó không phải là tượng trưng cho sự yên lặng nhàn rỗi mà vì từ Thiền nên vườn tược mới biểu hiệu cho sự tu ấy vậy.

Ngũ Sơn và Thập Sát của Lâm Tế Tông là những tên để gọi 10 cảnh trong chùa như núi, sông, đá v.v... Đây là những cảnh Thiền có liên hệ với thiên nhiên.

Chùa chiền của Lâm Tế Tông có vẻ trang nhã và đẹp trong khi đó chùa của Tào Động Tông thì không thể so sánh bằng. Điều đó cũng dễ hiểu là Lâm Tế Tông một thời đã nhờ các tay quyền lực của triều đình Kamakura và Bakkufu, nên việc trang trí trở nên tráng lệ, còn Tào Động Tông thì ngược lại.

Nữ hoàng Elisabeth đã thăm viếng chùa Long An Tự ở Kyoto, lúc đến thưởng ngoạn vườn đá của chùa đã thán phục và khen tặng. Trong lúc Tây phương làm vườn thường hay tính theo số học, đó là nguyên tắc chánh. Cứ cách 15 hòn đá thì một cây được trồng, thử hỏi một cái vườn chật bày trí như thế nào mới đẹp mắt?

Những đá nhỏ chắn giữa đá lớn là cách bày trí của người Đông Phương, theo sự điệu hòa cảm của họ, ngoài ra không có cách gì hơn nữa nên Nữ Vương đã giật mình là phải.

Ở trong tập "Tác đình ký" có ghi như sau: "Đá được sắp theo đá gốc và những cục đá tiếp theo cứ dựng liên tục mà thành".

Cục đá là vật không tâm nhưng người tạo dựng nên nó là tượng trưng cho sự tồn tại của tánh Phật. Do đó cho nên người làm vườn cũng phải có Thiền tâm thì tạo vườn mới có màu sắc của Thiền.

Trong thư viện hay trước bàn Phật, sự bày trí họa là một nghệ thuật có từ thời Heian (Bình An) và đây được xác nhận là ảnh hưởng của Thiền.

Cách cắm hoa và dâng hoa được biểu hiệu qua sự truyền miệng từ người này qua người khác, nhưng đó là thiên nhiên tự tánh của Thiền và đó là sự khởi xuất tư tưởng của Thiền trong hành động vậy.

Đặc biệt trà đạo của Nhật Bản cũng được phát triển và đó cũng là một chuyển hướng của Thiền.

Ở tại Trung Quốc ngày xưa tục uống rượu đã trở thành tệ hại nên các Thiền Tăng mới bày ra cách uống trà và trà là công đức của mọi người. Trà được du nhập vào Nhật thời Thiền Dinh Tây truyền sang. Thuở bấy giờ cũng có sách viết chỉ dạy cách uống trà như "Khiết trà dưỡng sinh lý".

Khi khách đến chùa Thiền thì được mời trà, nhưng trà của các chùa Thiền ở Nhật được mời là một loại trà bột được cán ra, cho vào trong chén uống với nước đun sôi. Để thay thế lối uống trà của Trung Hoa được truyền sang từ đời Tống.

Ở Trung Quốc có Bách Trượng Thanh Quy, ở Nhật có Vĩnh Bình Thanh Quy, Bảo Sơn Thanh Quy. Trong các sách vở nói về quy luật của các chùa Thiền thường gọi là Tiêu Diệm Pháp và uống trà là một trong những lễ nghi được định sẵn. Trong Bích Nham Lục có kể một chuyện như sau:

"Thích Tôn đã dạy như thế nào?"

Trả lời:

"Hãy dùng trà đi"

Người được nhận trà, kẻ uống trà là một vị không có gì thay đổi. Đây là trà Thiền nhứt vị (chỉ một mùi).

Vị Tổ Sư của trà đạo là Châu Quang đã có viết rằng: "Sức nóng của trà là xuất phát từ Thiền Tông, trở thành vị Tăng chơn chánh".

Một ly trà là kết hợp với Thiền, trong gia đình, ngoài xã hội, mỗi sự động tĩnh đều nhờ ảnh hưởng của Thiền mang đến và đó là điều kiện căn bản của văn hóa Nhật Bản.

 

DANH TỪ THIỀN

Trong các chùa Thiền hay trong các Đạo Tràng thường hay nghe những danh từ lạ. Đó là những tiếng Trung Hoa đọc âm Nhật, mãi cho đến bây giờ vẫn còn dùng.

Cảnh Sách: Trong lúc tọa thiền không được ngủ gục, kẻ ngủ gục bị đánh bằng gậy và khi muốn được đánh để cảnh sách thì phải chắp hai tay lại để yêu cầu.

Hành Bát: Là việc ăn uống, là được ăn của cúng dường. Công việc làm nghiêm nhặt. Trong lúc ăn ồn ào hoặc còn để sót lại bị cấm tuyệt đối. Trước và sau khi ăn phải tụng niệm.

Công Án: Trong lúc ngồi, Thiền Sư trưởng sẽ cho những Thiền sinh một vấn đề để tự giải đáp. Lâm Tế Tông hay dùng hình thức này.

Tại Gia: Tại gia là những tín đồ Phật Giáo ở tại nhà chứ không ở chùa như Tu sĩ.

Tác Vụ: Trong Thiền Tông chịu ảnh hưởng của Bách Trượng "một ngày không làm một ngày không ăn", nên rất tôn trọng chuyên làm việc. Ngồi Thiền cũng là một công việc làm vậy.

Trực Đường: là nơi Tọa Thiền, tu hành của những người có nhiệm vụ trong việc cảnh sách.

Xọa Thủ: Khi tiến đến trước Phật hoặc khi gặp khách hai tay chắp lại gọi là Xọa Thủ.

Tiểu Tham: là những vấn đề nghi vấn của người tu hành đem hỏi vị Sư Trưởng nhưng thông thường được thực hành là sau buổi tụng kinh sáng. Đối nghĩa với Tiểu Tham có Đại Tham.

Chấn Lịnh: Lúc ngủ dậy hoặc lúc đi ngủ của kẻ tu hành phải được báo thức, khi nghe tiếng trống kiểng kêu lên gọi là Chấn Lịnh.

Độc Tham: Sự tham cầu Phật Pháp của từng cá nhân một đối với vị Sư Trưởng.

Ngư Cổ: Là cái bảng gỗ có hình cá. Cái mõ cũng có hình cá chạm nổi. Tục truyền rằng ban đêm cá không ngủ nên người tu không thể thua cá được mà phải tinh tấn tu hành, nên phải dùng đến tiếng mõ.

Pháp giới định ấn: Đó là cách ngồi Thiền hai tay đâu vào nhau như lúc Thế Tôn thành đạo.

Văn Thù Bồ Tát: Giữa Thiền đường thường hay để tượng Ngài. Ngài là một vị Thánh Tăng tượng trưng cho trí tuệ.

Dạ Tọa: Tọa Thiền lúc ban đêm. Sau khi tọa Thiền là giờ đi ngủ.

Lâm Hãn: Chỉ cho việc đi tắm. Nhà ăn, chỗ tiểu tiện, mỗi nhà tắm được gọi là "tam mặc đạo tràng".

 

THIỀN SINH

Thiền giống như một trái bom nổ yên lặng. Đã có nhiều người cầu cứu Thiền như là một trạng thái tinh thần. Có nhiều người đã tìm đến Đạo Tràng của nhiều nơi để ngồi Thiền.

Thiền không phải chỉ những người Nhật mới quan tâm mà một phần nữa xã hội Âu Châu cũng như Mỹ Châu đã tìm đến những Đạo Tràng của Nhật để ngồi Thiền. Họ thực hành việc ăn uống cực khổ, quét tước, cũng như chịu khổ trong lúc ngồi Thiền v.v...

Ở tại chùa Tổng Trì Yokohama, các đoàn thể du lịch của ngoại quốc cũng đến ngồi Thiền. Chùa với một diện tích rộng 15.000 mỲ, cây cối mát mẻ, những Thiền sinh trong pháp phục màu đen, bước đi trong dáng điệu trầm lặng đã làm cho nhiều người thán phục.

Chùa Tổng Trì cũng có khóa Thiền riêng cho Cư Sĩ tại gia. Tính tổng số trung bình cứ 4 tháng là có khoảng 3.000 người đến tham Thiền.

Thiền Đường là nơi để người ta ngồi Thiền và kềm chế bớt dục vọng. Không có phân biệt địa vị hay sang hèn mà ai nấy cũng phải chịu cực khổ về thể xác. Đây thuộc về sự sinh hoạt nguyện thệ của bản thân và muốn tìm cầu bản tâm an định thì đó là những sự thật hiển nhiên mà một Thiền sinh phải thực hành vậy. Dẫu giải thích thế nào đi chăng nữa chuyện trên cũng khó hiểu.

Có những đạo tràng sau khi Thiền sinh tham gia ngồi Thiền một hoặc hai buổi tối mặc dầu chân bị đau đớn, nhưng theo kết quả cho thấy thì gần 92% là muốn ngồi Thiền trở lại. Dẫu cho chân có bị đau đi chăng nữa, nhưng hãy gắng một lần thì sự đau đớn ấy lại mất đi. Đó là lý luận có tính chất mị lực của sự ngồi Thiền.

Những Thiền sinh đã đi đến trước cửa Thiền đường, thì có nhiều sự kỳ vọng ở cá nhân. Điều này theo sự giải thích của Thiền Tông thì không phải là một điểm sai.

Những sự giáo dục học đường của xã hội hiện tại, tạo cho con người một khái niệm trừu tượng, nhưng không làm sao giải đáp được chuyện khổ não của con người cả. Hơn thế nữa trong xã hội hiện đại được tổ chức theo cơ cấu tập đoàn, nên có nhiều phần tử cá nhân bị bỏ rơi ngoài tập thể. Do đó cho nên con người sinh ra nhiều sự khổ não.

Có nhiều trung tâm nghiên cứu cho biết rằng: "Trong xã hội hiện đại có nhiều chuyện bất an liên quan đến những việc làm của cá nhân". Đối với việc này, người Nhật Bản trong hiện tại dẫu cho cá nhân hay đoàn thể cảm thấy chuyện bất an càng ngày càng gia tăng. 76% cảm thấy tương lai bất an. Gần 60% sống không có mục tiêu. Đó là kết quả của sự điều tra. Đối với người có tinh thần vững mạnh thì cảm thấy đời sống an định và hàng ngày sống qua những giây phút thoải mái nhẹ nhàng.

Tại sao lại có những chuyện này? hoặc tự hỏi phải làm sao cho hợp lệ, cũng chính từ những chỗ thắc mắc này đã có nhiều người tự hỏi chính mình và đi tìm học Thiền để được cởi mở.

Mỗi người đều có cá tính khác nhau, nhưng không ai là không có sự khổ. Cũng có sự chứng đắc trong sự sống khổ não, nhưng sự khổ não đó nó không như mình nghĩ rằng nó thường có trong đời sống hàng ngày, mà sự nghĩ đó phát xuất từ sự ham muốn của chính mình. Cũng có lắm điều chính mình nghĩ và thực hành theo ý muốn được, nhưng cũng có lắm điều nghĩ mà trong thế giới đã có biết bao nhiêu chuyện không thành.

Cũng có nhiều người chạy trốn sự khổ não, nhưng nếu can đảm đứng hướng mặt về sự khổ thì cuối cùng sự khổ này cũng tan biến. Đó là cửa ngõ vào Đạo Thiền vậy. Thiền là một thang thuốc hay để chữa bệnh gầy, làm cho sự tin tưởng trở nên trong sáng.

Nhiều người bị mệt mỏi về sự khổ não, do đó cho nên tự chán chính mình. Lắm lúc đứng trước gương mà cũng không nhận ra mình là ai nữa. Khi còn mạnh khỏe tất cả mọi việc thuận chiều thì yên tâm, nhưng khi thân thể không ở trạng thái điều hòa, công việc không song suốt, tình yêu bị dở dang v.v... thì sinh ra thất vọng chán chường.

Thế nhưng cũng tùy theo lúc, tùy theo sự thất bại của tình yêu mà thấy lại ở chính mình cũng có.

Yêu đương là chính ở mình lại thiếu chuyện đó, nên mới đi tìm cầu ở kẻ khác, thông đồng với người yêu, nhưng đến một lúc nào đó khi người yêu không còn yêu mình nữa thì tấm lòng nhiệt tình của kẻ yêu đương cũng bị tuyệt vọng và sinh ra chuyện bất an, bất tín. Dẫu cho hạnh phúc có mang đến trước mắt cũng không dám nhận lãnh ánh sáng ấy nữa, vì thương tích yêu đương ngày xưa còn nặng quá và một lần nữa chính mình lại không muốn nhìn mặt mình.

Tùy theo người đối diện mà được lòng ta, nhưng nếu tùy theo lòng của kẻ khác thì không phải là cái chơn thật của ta vậy. Khi mà muốn cầu cứu thì đừng nên cầu bên ngoài mà hãy tìm cầu ở nơi ta, lúc đó Thiền là nơi phát xuất vậy.

 

Thiền là phải thấy chơn thật cái phật tánh của mình

Tâm hồn yên tĩnh

Người tham Thiền nên có trong tay quyển "Phổ Khuyến Tọa Thiền Nghi" của Ngài Đạo Nguyên. Trong đó có chỉ phương pháp tọa Thiền, chỉ cách thức điều chỉnh thân tâm và câu đầu của cuốn sách trên có viết như sau: "muốn ngồi Thiền phải ngồi nơi yên lặng". Khi ngồi Thiền nên cố gắng tìm nơi cho thật vắng vẻ.

Có một vài Đạo Tràng có dán bảng yết thị như sau: "Tâm Hồn Yên Lặng". Trong khung cảnh tịch tịnh có sự tiếp tục trường cửu vĩnh viễn của sức lực. Cái đó là tâm hồn yên tĩnh vậy.

Điều đó chính thân mình ngồi và chính mình thấy được mình và tâm hồn của con người là ở chỗ đó.

Tâm hồn yên lặng là dừng lại mọi động tác để được thanh tịnh. Hãy đếm hơi thở, ngồi ngay ngắn và yên lặng thử thì lúc đó, bấy giờ là lúc sống thực và ngày mai sống bằng các lực ấy. Đó chính là Thiền Định lực.

Những sự lo âu của thế giới ngày nay càng nhiều. Nào truyền hình, máy phát thanh, báo chí... đã cho biết rằng sự khổ não của con người còn tăng cao hơn nạn Đại Hồng Thủy. Hơn thế nữa, nếu càng ngày mà các điều nguy hại của thế giới bên ngoài không có quan tâm đến thì chả khác nào chúng ta đầu hàng trước trách nhiệm. Cũng từ những chỗ khủng hoảng đó mà con người tìm về với chính mình, với chính nội tâm của mình, và bắt đầu từ đó cái tâm thanh tịnh, trong sạch lại được đản sanh.

Sự khủng hoảng, sợ hãi càng ngày càng gia tăng thì con người càng ngày càng muốn tâm mình được giữ ở mức quân bình và phải được sống trong một thế giới an ổn. Ở trong sự động loạn người ta thường tìm đến sự thanh tịnh, không phải là việc ấy bây giờ mới có, mà trong quyển "Thái Can Thảo" nói về "Tịnh mà ở trong tịnh thì không gọi là chơn tịnh. Ở trong sự động loạn mà bản tánh tự thân được hiện bày, ấy mới gọi là tịnh. Cái sung sướng trong sự sung sướng không phải là niềm sung sướng, chơn thật, mà ở trong sự khổ chính ta và tâm ta biết được cái ấy, đó là sự vui chân chính".

Quyển sách trên là một quyển sách viết về Thiền của Trung Hoa vào đời nhà Minh do Hồng Tú Thành biên soạn. Đó cũng là một quyển sách trị bệnh về tâm lý của con người. Nhật Bản từ xưa cũng đã có những sách nói về chuyện này, như cách đây 400 năm có nhiều sự vui thích tìm hiểu về chuyện "tâm thanh tịnh" như trên. Nếu nói thời đại nhà Minh là một thời đại ít có về sự khổ, nên mới phát sinh ra những chuyện ở trên và cho đến ngày nay người ta vẫn lấy đó làm điểm cơ bản để bàn tính về sự khủng hoảng của thời đại.

Nếu ý nghĩ "Tịnh" có trong ta thì đương nhiên đối với cái này có ý nghĩa "Động" được phát sanh. Ngồi Thiền là sự thống nhất ý nghĩ về Tịnh cũng như về Động, phải tập trung tinh thần, tư tưởng. Bởi thế cho nên sự thống nhất và sự tập trung tư tưởng là những sự chướng ngại đối với việc ngăn ngừa ngoại giới mà chúng ta phải làm, để tìm đến điều kiện yên tịnh.

Đúng là khi ta ở nơi yên tịnh thì tâm ta lắng dịu xuống, thế nhưng mà sự mê vọng chưa phải là đã dứt hẳn đi, giả thử như có mất đi được trong một thời gian ngắn ngủi nào đó, khi trở lại với thế giới động loạn thì sự mê vọng kia ưu tiên trở lại trước với chúng ta. Đó không phải là sự thanh tịnh chơn chính vậy. Việc tịnh  kia được phát xuất từ việc ngồi Thiền nhưng đó không phải là điểm tối thắng vậy.

Cảnh giới thanh tịnh chơn thật là trong đời sống hữu hạn của chúng ta, chúng ta không thể chạy trốn nó, mà 3 cõi trong quá khứ, hiện tại và vị lai trong động đều có tịnh và Tịnh cũng như Động là một thể "nhất như" chứ không hai.

Tâm hồn thanh tịnh là tâm hồn không phải chỉ đơn độc được yên lặng đối với sự khủng hoảng của thế giới bên ngoài, mà cũng không phải là nguyên nhân khởi ra sự động loạn của đời sống. Nếu mà biết được sự động tịnh này chỉ là một, thì động cũng không bị mê mà tịnh cũng không bị lầm. Một thế giới mới vô hạn sẽ được xuất hiện.

Vào khoảng thế kỷ thứ 9, Ngài Nam Tuyền người Trung Hoa đã nói chuyện với Ngài Triệu Châu, còn ghi lại trong quyển "Vô Môn Quan" như sau:

Chính Triệu Châu là đệ tử của Nam Tuyền và có lúc Nan Tuyền đã nói với Triệu Châu: Nếu mà đạt được cái đạo chơn thật không còn chỗ nghi ngờ nữa, thì tròn đầy như mặt trời và không còn có chỗ không nữa". Lúc Nam Tuyền nói điều đó thì Triệu Châu ngộ được Đạo Thiền.

Cảnh địa của Thiền nó lại giống như một sự "KHÔNG" rộng lớn mà không có đáng là gì. Dùng lời nói hay bằng văn chương không thể nào diễn tả hết được. Thiền cũng chả phải như thế này mà cũng chả phải như thế kia. Dẫu là những sự thao thức ấy có lẩn quẩn trong đầu óc chúng ta nữa thì chưa có ai hiểu được Thiền cả.

Đối với kẻ học Thiền, Ngài Đạo Nguyên đã chỉ vẽ trong "Học Đạo Dụng Tâm Tập" điều thứ nhứt là: Phật Đạo là việc tất yếu để đi vào nơi thực hành. Dầu cho kẻ ngộ sớm hay người ngộ trễ, dầu cho sự sai biệt có khác nhau đi chăng nữa thì cũng chả có gì là thực tiễn hơn điều thứ nhứt mà Ngài Đạo Nguyên đã chỉ dạy.

 

Tại sao phải ngồi Thiền?

Trong đời sống hằng ngày con người ít có cơ hội thực tập Thiền định nên khi ngồi lại thấy khó chịu, áy náy khi bẻ chân lên hoặc bỏ chân xuống. Có nhiều người thấy khung cảnh của chùa rất thích, nhưng nếu bảo ngồi Thiền, nhiều người đã trả lời rằng không. Có người tò mò muốn hỏi thử nguyên nhân tại sao không thích, có phải là tại không biết ngồi không?

Thật ra khi người Âu Châu ngồi Thiền mới thấy khổ sở. Vì thường ngày họ hay ngồi trên ghế chứ không ngồi kiểu người Nhật, nên khó chịu mỗi lúc ngồi, nhưng Thiền cũng chẳng lệ thuộc vào cách ngồi, vì càng lệ thuộc thì không còn Thiền nữa.

Ngồi nơi yên lặng

Không có chướng ngại

Giữ giới trong sạch

Ăn uống điều hòa

Nơi ngồi thanh tịnh

Đời sống dễ dàng

Đây là một chương trong Pháp Cú kinh mà Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đã truyền dạy cho chúng ta đến ngày hôm nay. Điều này cho ta thấy rằng người Đông Phương đã quen cách ngồi từ cổ chí kim và cũng chính tùy theo từng cách ngồi mà nhiều người đã chứng được đạo quả. Thế nhưng ngồi Thiền phải ngồi nghiêm chỉnh, ngay ngắn và cách ngồi phải được qui định bởi một nguyên tắc nhất định bởi người hướng dẫn.

Trong kinh có dạy "Uy nghi tức Phật Pháp". Người hành đạo phải chú ý về oai nghi, đó là một hình thức pháp tướng bên ngoài, nếu mà tự mình lung lạc thì không có giới luật nào cho phép cả.

Có nhiều người hỏi rằng : Muốn ngộ được Thiền tại sao phải ngồi?

Trong lịch đợi Thiền Tông chư vị Tổ Sư khai sáng chưa có một vị nào đã giải thích tại sao phải ngồi cả. Nhưng mà cũng có thể nói rằng : Những người tham thiền luận đạo tùy theo cách ngồi của họ, vì họ đã làm theo những tín điều nên họ đã ngộ đạo. Nếu mà như vậy thì câu hỏi trên được đặt ra không phải là chuyện sai.

Cách đây 2500 năm về trước Đức Thích Ca đã chứng đạo trên bờ sông Ni Liên là một chi nhánh của sông Hằng. Ngài ngồi dưới gốc cây Bồ Đề, Thiền định và đã đạt được đạo ở đó.

Trong niềm tin Tôn Giáo, những bậc tu hành đã điềm nhiên Thiền tọa, ngồi ngay ngắn, đúng với sự thực hành của đấng Thích Tôn. Tùy theo từng sự ngồi, mà cũng chính từ đó Đức Thế Tôn đã chứng đạo và sự ngộ đạo của Đức Thế Tôn được gọi là "cảm ứng đạo giao". Chỉ có yên lặng mà ngồi là tốt hơn cả.

Thiền không phải là vấn đề tri thức, không y cứ vào văn tự (chữ), không thể phê phán mà lại càng không thể giải thích được. Vì chỗ sở cầu nên mới tùy thuận. Do đó nếu câu hỏi "tại sao phải ngồi Thiền" thì cũng bằng thừa.

Kể từ thời kỳ Minh Trị duy tân (Meiji ishin - 1868) sự giáo dục học đường của Nhật Bản đều hấp thụ sự giáo dục của Âu Châu. Sự học vấn hay nền giáo dục là niềm mong đợi mang lại hạnh phúc cho con người, thế nhưng hạnh phúc tất yếu của con người không thể y cứ vào vấn đề giáo dục được.

Giáo dục cơ bản của Nhật đã trở thành chủ nghĩa hợp lý, chủ nghĩa chủ trị. Nếu tôn trọng lý tánh, cảm tình hoặc bản năng hay kinh nghiệm thì bị phê phán thật nghiêm khắc. Sự nhận thức trên đây được nảy sinh từ kinh nghiệm của lý tánh và tiến đến một mục tiêu phản lại Tôn Giáo.

Khoa học càng ngày càng tiến bộ, văn minh cơ giới ngày càng phát triển, sự sinh hoạt hằng ngày càng bất an và đời sống tinh thần của con người càng ngày càng trở nên khô cằn sỏi đá. Nếu con người càng ngày càng dựa vào văn minh của khoa học thì hạnh phúc chơn thật của con người ngày càng cao bay xa chạy.

Nếu nhận xét một cách khách quan thì tình thương cũng không được nảy sanh, nếu chỉ dựa trên văn minh khoa học hiện đại, vì tình thương là một việc không thể giải đáp trọn nghĩa của nó được. Trong khi đó khoa học cái gì cũng có sự đo lường.

Có nhiều người cho rằng tình thương là một sự hy sinh, nhưng thực chất của tình thương không phải là sự hy sinh thế mà khi có tình thương cho kẻ khác thì hay bị phê phán là "hy sinh". Nếu nói một cách hợp lý thì trong tình thương đó có ít nhiều mong muốn hy sinh, nhưng tình thương là một sự hy sinh không bờ bến.

Đứng về phương diện lịch sử, nếu nhìn một cách khách quan về những người theo quan niệm "duy vật sử quan" thì: dầu cho lịch sử là một việc có thật đi chăng nữa, lịch sử cũng không thể trốn chạy sự thật được. Dầu cho có phê phán được đi chăng nữa thì trong vấn đề lịch sử ta cũng không thể lấy ý kiến riêng của một mình ta mà cái gì của cuộc đời có là nó có.

Cùng với vấn đề trên ta có thể so sánh với vấn đề của thiên nhiên vạn vật được. Dầu cho thiên nhiên là những vật được phân tích, hệ thống hóa được đi chăng nữa, sự tạo dựng lại thiên nhiên vẫn không thể được. Cũng có người cho đó là một việc phải thiên nhiên hóa, nên phải để ý.

Thiền là sự chống đối lại cách viết có tính cánh bao quát của chơn lý thuộc về tính cách khách quan, và xuyên qua việc tọa thiền chúng ta có thể chi phối được vũ trụ một cách dễ dàng, ấy là chơn lý.

 

Thiền không biên giới

Ở chương trước đã trình bày về quyển "Phổ Biến Tọa Thiền Nghi" rằng Thiền không phân biệt kẻ trí người ngu, kẻ khôn người dại.. mà ngồi Thiền là để hiểu biết (giác ngộ) ở chính mình. Thiền không chủ trương là kẻ trí mới ngộ mà người ngu không ngộ. Ngày xưa Ngài Thân Loan Thánh Nhơn (Shinran Schònin) Tổ Sư của Tịnh Độ Chơn Tông đã nói rằng: không những chỉ kẻ thi thiện mới được vãng sanh mà kẻ khác cũng được vãng sanh nữa. Trong lãnh vực tôn giáo không chấp trước giữa chuyện thiện và ác, kẻ có trí người mê muội - mà tất cả mọi người đều có thể hành trì như nhau cả. Đương nhiên cũng không có chuyện phân biệt cái này quá đẹp, cái kia quá xấu, con người, quốc tịch...

Cứng rắn quá hoặc dịu dàng quá, khôn quá hoặc dại quá đối với những trạng thái này người tu hành từ chối ngay.

Về đời Giang Hộ (Edò) có một vị Thiền Tăng xuất thân từ hàng thứ dân tên là Nhứt Hưu (1394-1481). Có một võ sĩ hỏi Ngài rằng: "Thế gian pháp nghĩa là thế nào?"

Ngài trả lời rằng: "Sống trong cuộc đời, ăn uống, ngủ nghỉ và sau đó là chết".

Cũng có nhiều người tọa thiền đã thay đổi phong cách và có nhiều người đã bảo kẻ tọa thiền kia thuộc về loại người "khác thường", nhưng không đó là những sự thay đổi của con người ở nơi đạo tràng của Thiền vậy.

Bởi thế cho nên chúng ta có thể nói rằng: Con người hay thay đổi liên tục, kẻ ấy không thể gọi là Thiền mà những người đang ở trong trạng thái bình thường chính là Thiền vậy. Trong đời sống hằng ngày thông thường những người ở trạng thái bất bình thường, thường hay thấy người bình thường trở thành bất bình thường. Điều ấy đã xảy ra trong những bệnh viện thần kinh, khi người bình thường hay người thân vào thăm họ, những người bất bình thường đều xem những người đi thăm họ là những kẻ "dị thường".

Ngày xưa Ngài Nhứt Hưu nuôi một con Hạc trong chùa và đặt tên cho nó. Một ngày nọ con Hạc không may chết đi, Thiền Sư làm lễ chôn cất nó như một con người và Thiền Sư viết những câu liễn điếu con Hạc, ngày nay vẫn còn đó. Ngày nay cũng có nhiều người thương chó, khi nó chết thường hay mời một vài vị Sư đến tụng kinh cầu vãng sanh và chôn cất tử tế giống như Thiền Sư Nhứt Hưu vừa nói trên. Cũng có nhiều người nghĩ Thiền Sư là người "dị thường", nhưng không, chính những kẻ mà nghĩ điều đó mới là những kẻ "dị thường" vậy.

Ngài Nhứt Hưu cũng chẳng phải là con người phi phàm, cũng chẳng phải là người thượng căn trí thức mà cũng chẳng phải là người học giả thông minh. Thiền không chấp nhận những người không bình thường, nhưng cũng không hẳn hoàn toàn là như vậy, vì Phật Giáo hay nói đúng hơn là Thiền không công nhận sự toàn trí toàn năng về sự tồn tại của nó. Trong khi đó ở lãnh vực Tôn Giáo tại Âu Châu thường hay chủ trương rằng thần thánh là bậc tuyệt đối và con người là kẻ không hoàn toàn, nên khi nghiên cứu đến Phật Giáo, một tôn giáo không công nhận có thần linh thì họ cho rằng đó không phải là tôn giáo mà đó chỉ là Đạo Đức học mà thôi.

Ở trong các chùa Thiền thường hay có những thời gian để nghiên cứu về việc tu hành của những vị Tu Sĩ gọi là "an cư". Ở Ấn Độ theo âm lịch vào đầu Tháng Tư là bắt đầu mưa và cũng vì trời mưa suốt ngày nên những vị Tu Sĩ không thể đi khất thực được, nên hay nhập cốc, tham thiền, luận đạo suốt trong 3 tháng trường. Trong lúc an cư kiết hạ những bậc tôn túc thường hay giảng những nghĩa lý về Thiền. Trong quyển "Bích Nham Lục" thường hay dùng những danh từ Thiền này.

Ngài Đạt Ma Tổ Sư (? - 528) lúc đi từ Ấn Độ sang Trung Quốc, bấy giờ gặp đời vua Lương Vũ Đế trị vì. Vua Vũ Đế đã hỏi Ngài Bồ Đề Đạt Ma như sau:

Thánh đế đệ nhứt nghĩa là gì?

Đạt ma đáp: Không có gì là Thánh cả.

Vua hỏi: Vậy đối trước Trẫm là ai đây?

Đạt Ma đáp: Không biết - cũng không Vua.

Rồi Đạt Ma qua sông, đến núi Thiếu Lâm ngồi xây mặt vào vách suốt 9 năm trường.

Ngài Đạt Ma đến Trung Hoa vào đời nhà Lương (Phổ Thông nguyên niên 520), lúc bấy giờ Vua Vũ Đế được xưng tụng như Vua Văn Đế đời nhà Tống là những bậc Quốc Vương hộ pháp đắc lực đối với Phật Pháp. Nên khi gặp Ngài Đạt Ma nhà vua liền hỏi:

Đối với Phật Giáo việc gì là quan trọng hơn cả?

Đạt Ma trả lời: Chả có việc gì là quan trọng cả.

Nhà vua lại hỏi tiếp: Vậy đối trước mặt Trẫm là ai?

Đạt Ma đáp: không biết.

Đối với công án (Koan) này là căn bản của Thiền Tông, nhưng cũng có nhiều cách giải thích. Thế nhưng, Đạt Ma không trả lời hẳn câu hỏi của nhà vua, vì nhà vua tự biết mình là người thông hiểu và đang bảo hộ Phật Pháp. Đạt Ma trả lời "không biết" là Đạt Ma muốn phá cái chấp của nhà vua.

Mặc dầu những người thường hay tu Thiền nhưng nếu không có tiến bộ trong Thiền thường hay đem chỗ hiểu biết riêng của mình mà giải thích, hoặc người nào có chuyện gì thất bại thường hay nói theo một lối lý luận suông. Đối với những người này thì mãi cho đến bao giờ cũng chẳng nếm được hương vị của Thiền.

Ngược lại đối với những kẻ chính tự mình làm sai một việc gì mà hiểu được điều đó là sự lầm lỗi của mình thì kẻ đó tu Thiền lại mau tiến bộ hơn cả.

 

Thiền - Thực tế của nó là gì?

Có người nói Thiền là một tôn giáo, là một tư tưởng, là một triết học v.v... Đó là những câu trả lời của những người ngoại quốc khi đến Nhật học Thiền. Nếu quý vị là người đã mở cửa của tâm hồn để đón nhận Thiền vào thì Thiền sẽ đi vào tâm thức của quý vị vậy. Vì trước cửa Thiền bây giờ chỉ có một mình quý vị. Vì Thiền không phải là vấn đề để giải thích và lý luận, Thiền là để đạt đến một cảnh giới giải thoát của tâm linh trong cuộc sống thực tiễn hằng ngày và làm tròn nhiệm vụ bởi chính mình.

Điều căn bản để học Thiền là phải có tâm cầu đạo, nghĩa là phải "phát Bồ Đề Tâm". Đó là việc thượng cầu Bồ Đề hạ hóa chúng sanh - trên thì cầu đạo vô thượng giải thoát, dưới thì hóa độ sinh linh. Đó là việc thể nguyện với chính bản thân của mình. Thiền tuyệt đối không phải là một việc khó.

 

Sơ tâm học đạo

Dầu tốn bao nhiêu công lao nghiên cứu cũng không thể hiểu được Thiền. Vì Thiền là tự tu tự chứng bởi chính mình, nên khó có thể giải thích được. Ai cũng có thể hành Thiền được cả. Thiền không phải chỉ để dành riêng cho những kẻ xuất gia học đạo mà là cho tất cả mọi người. Trong quyển "Phổ Khuyến Tọa Thiền Nghi" của Ngài Đạo Nguyên Thiền Sư có viết những bài kinh dành cho những người sơ tâm học đạo rất dễ hiểu. Từ xưa đến nay những người Phật tử tại gia đã tu Thiền và đã thành đạt được nhiều kết quả tốt.

Nếu quý vị là những người có ý muốn tọa Thiền thì đầu tiên nên đến những ngôi chùa Thiền gần đó để tu Thiền. Nếu ở đó có Thiền Đường thì đương nhiên có người hướng dẫn và nếu không thì tìm đến những người hướng dẫn ở những chùa gần đó. Có Thầy hay bạn giỏi chỉ Thiền cho mình càng tốt, nhưng tốt hơn nữa là phải theo người chỉ đạo chơn chánh, việc Thiền mới có kết quả.

 

Tham thiền hội

Ở đây có thể giải thích về tham thiền hội của chư thiện nam tín nữ như sau: Trong những lúc nghỉ hè, học sinh hay thanh niên thường lợi dụng những thời giờ rảnh ấy để ngồi thiền tập thể trong những Thiền đường rộng lớn. Đó gọi là hội. Đối với thanh niên lúc ngồi thiền nên mặc áo cho rộng hay hơn là mặc Âu phục. Còn nữ giới thì không nên mặc ríp ngắn hoặc đồ bó mình, vì những thứ này làm trở ngại trong việc ngồi thiền.

Muốn thực hành thiền, việc chính là phải ngồi thiền. Vấn đề phương thức tọa thiền sẽ giải thích ở chương sau, nhưng lúc ngồi thiền thì phải có người hướng dẫn mới tốt.

Dầu kẻ mới ngồi cũng không khác kẻ ngồi lâu là mấy, cũng tùy theo từng chùa thiền nguyên tắc làm việc khác nhau, nhưng tất cả những việc như ăn cơm, uống nước thì không có thay đổi gì cả - phải nhất mực hành trì.

 

Thấy được sự chết

Thiền Tông của Nhật Bản (Tào Động Tông) kinh điển được chia ra rõ ràng trong "Tu Chứng Nghi" (quyển 5) như sau :

Từ quyển 95 của "Chánh Pháp Nhãn Tạng" mà Ngài Tổ khai tông Đạo Nguyên đã chỉ giáo cho "Bạt Phấn" biên tập. Sau đó vào thời kỳ Minh Trị thì được sửa đổi thành tiếng thông dụng hơn để thích hợp với thời đại nên Thiền không trực nhận được một cách trực tiếp mà loại kinh điển của Thiền là dạy cho con người trở thành sống một cách thân thiện dễ dàng.

Ở trong chương thứ nhất phần tổng quát của lời nói đầu có dạy như sau: "Việc sanh tử là đại sự nhân duyên của nhà Phật".

Thiền là phương pháp để giác ngộ. Sự giác ngộ đó là "biết sự sống và hiểu rõ ràng sự chết".

Khi con người sống trong cuộc sống bình thường họ ít có khi nghĩ đến việc "sanh" hay việc "tử". Đó là một chuyện rất thông thường và dễ hiểu, nhưng nếu có một chuyện gì trắc trở trong đời sống hằng ngày thì chính họ là tự đặt những nghi vấn về điều đó.

Ở vào thời đại Kamakura có Ngài Tăng Minh Huệ thuộc tông Hoa Nghiêm (1173-1232) là một trong những người đầu tiên đã tuyên dương Thiền của Nhật Bản. Lúc lên 8 tuổi Ngài mất mẹ, sau đó phụ thân của Ngài cũng đã qua đời vì chiến trận "Nguyên Bình".

Ngài Đạo Nguyên, Tổ khai sơn của Tào Động Tông, lúc lên 3 tuổi cũng đã mất mẹ và lúc 8 tuổi lại mất cha. Lúc 13 tuổi thì xuất gia đầu Phật.

Lâm Tế Tông được truyền bởi Ngài Mộng Song (1275-1351) cũng là một người lúc 4 tuổi đã mất mẹ.

Đa số những vị được gọi là Cao Tăng Đại Đức, hay được xưng là danh Tăng đều là những người đã gặp những nghịch cảnh và đã tiếp nhận sự sống cũng như sự chết trong thuở quá khứ rất nhiều.

Lúc còn có nhân duyên ở gần bên cha mẹ thì sự liên hệ giữa con cái và cha mẹ được gắn liền một cách sâu sắc đậm đà và con cái được sự an tâm, nhưng khi người thân trong gia đình bị mất đi thì cây trụ của tâm linh coi như không còn nơi nương tựa, nên người còn trẻ trở nên bơ vơ trong cuộc đời. Đó là điều hiển nhiên mà thiên hạ xưa nay chưa có ai sống ra ngoài cương giới ấy cả. Tinh thần bị chôn vùi vào trong sự trống rỗng vì họ hoài nghi vì sự chết. Đó là ảnh hưởng của chư hành vô thường (tất cả những việc làm trong cuộc đời đều bị biến đổi).

Cho đến ngày hôm qua cha mẹ đã sống một cuộc đời tươi sáng, nhưng bây giờ thể xác đã lạnh tanh, dầu cho có kêu to, có la lớn hay có giao động bao nhiêu đi chăng nữa thể xác ấy vẫn ngoảnh mặt làm ngơ không đáp lại một lời nào. Sự sống đã mất và đang đối diện với sự chết.

Thiền là sự hợp lý với việc tiến bộ của khoa học, sự lý luận cũng được rõ ràng và tuy rằng không giải quyết được sự chết, nhưng nhờ Thiền mà giác ngộ được phần nào về sự chết đó.

Vậy thì sự chết nghĩa là như thế nào?

Thiền không trả lời trực tiếp câu hỏi trên. Nhưng đó là một sự trả lời đúng nghĩa nhất vậy.

Vậy thì sự sống nghĩa là gì?

Đối với Thiền, việc này cũng không trả lời gì cả. Dầu cố gắng giải thích như thế nào đi chăng nữa. Tất cả những câu trả lời đều sai. Đó cũng là một sự trả lời vậy.

Nếu nói có sự trả lời thì các Tu sĩ trong Thiền Tông thường hay chỉ xướng một chữ "yết" hay "lô" trong bài kinh cuối cùng của nghi lễ tống táng mà thôi.

Ngài Đạo Nguyên đã thuật lại trong "Chánh Pháp Nhãn Tạng" phần "thân tâm học đạo" rằng: Cả sự sanh đến sự tử đối với những kẻ phàm phu là điều không thể biết đến được.

Sanh là gì? Tử là gì? Đó là một câu hỏi trọng đại, nhưng ở Thiền không trả lời những câu hỏi ấy. Vậy thì vì lý do gì?

Nếu trả lời trong sự chấp trước thì có thể bảo như sau: Vì có sự sanh cho nên phải có sự chết. Vì thế sự sanh tử đối lập với nhau là quan niệm hai chiều. Vì vấn đề của sự sanh cũng như sự tử không thể lìa ra khỏi nhau được, nên sự tử không đồng với sự sanh và sự sanh cũng không đồng với sự tử được.

Trước đây có đề cập đến "Vô Môn Quan" của phép "Đạt Ma an tâm" như sau:

Lúc Ngài Đạt Ma chia tay với vua Lương Vũ Đế đi qua sông Giang Tử đến chùa Thiếu Lâm ngồi nhìn và tường suốt chín năm trường. Sau đó thì Huệ Khả (486-593) đã nghe được Thiền của Đạt Ma nên đã đến gõ cửa chùa Thiếu Lâm, nhưng Đạt Ma đã không chỉ một điều gì và cũng chẳng nói lời nào với Huệ Khả cả. Huệ Khả đứng trong tuyết trước hiên chùa Thiếu Lâm suốt cả một đêm đông giá lạnh. Huệ Khả đột nhiên thấy tâm mình dũng mãnh lạ thường, tự chặt đứt cánh tay trái của mình, máu chảy loang lỗ trên tay và chỉ cho Đạt Ma và yêu cầu "Ngài hãy an tâm cho đệ tử". Đạt Ma lớn tiếng bảo rằng "Hãy mang cái tâm lại đây cho ta", và Huệ Khả tự thấy rằng "Tâm đó không thể tìm mà thấy được". Đạt Ma bảo "Đó, ta đã an tâm cho ngươi rồi đó".

Sự trả lời kỳ lạ của Thiền như vậy gọi là một công án. Công án đó, là một tấm gương của chính tâm mình và đó chính là sự tu hành của Thiền vậy.

Chính Huệ Khả tự mình chặt tay như thế rất là đau đớn, kể như sự chết gần kề, nhưng Huệ Khả đã không để ý về việc đó - chuyện sanh và chuyện tử đã gần kề - mà đó là một sự lưu chuyển về sự sống và sự chết. Đứng về phương diện Phật Pháp mà nói: Khi nào không còn sanh không còn tử thì đó mới gọi là bất sanh bất diệt.

 

Thiền không ngộ ở khế lý

"Tham Đồng Khế" cũng là những bài học căn bản của Thiền, trong đó có viết "Thiền không ngộ ở khế lý". "Tham Đồng Khế" là do đệ tử của Thanh Nguyên là Thạch Đầu (? - 790) sáng tác ra. Đó là một loại kinh 5 chữ 14 dòng. Thạch Đầu được xưng là hiện thân của Phật sống. Một sự tình cờ nào đó mà tượng của Thạch Đầu được an trí trong bảo vật quán của chùa Tổng Trì.

Xã hội văn minh hiện đại người ta chỉ tôn trọng qua sự lý luận. Sự lý luận này được phù hợp với nhu cầu. Sự lý luận là một hình thức bảo thủ của ký ức. Sự thật được biểu tượng cho dấu O và dấu X.

Ví dụ như Napoléon mất ngày 5.5.1821 tại đảo Saint Hélène. Nếu giải đáp đúng ngày này thì O, ngoài ra là X. Thế nhưng không biết có phải thật ngày ấy không? cũng không biết là có lầm lẫn ngày tháng tại đảo lúc bấy giờ không? Hoặc là sự chết của Napoléon phải giải thích như thế nào v.v... nhưng nghi vấn và những sự giải đáp khác như trên đều không được tán thành.

Trong hiện tại, nếu sự giải đáp ngoài O và X thì không được chấp thuận.

Đó cũng là ảnh hưởng văn hóa của Thiên Chúa Giáo đối với người Tây phương. Hơn nữa, nếu có vị thần toàn trí, toàn năng O - thì ngoài vị thần đó ra là X. Đó là ảnh hưởng của nhất thần giáo vậy. Thế nhưng Phật Giáo là một tôn giáo được phát sinh từ Ấn Độ và lưu hành ở Á Châu, không công nhận một vị thần tuyệt đối. Bởi vì thế nên không có chuyện giải thích O hoặc X. Phật Giáo thừa nhận một thế giới O cũng chẳng phải O mà X cũng chẳng phải X. Không chấp trước vào một thế giới O và X. Đó gọi là Thiền.

Những Thiền gia từ thiện đương nhiên phải tụng kinh "Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh". Kinh này được rút ra từ kinh Đại Bát Nhã gồm 600 quyển, còn 262 chữ. Trong kinh này thuyết về thế giới "KHÔNG" - là một loại kinh trọng yếu của Thiền.

Kinh này được lược dịch là Bát Nhã Tâm Kinh - Ngũ Uẩn, Thập Nhị Xứ, Thập Nhị Nhân Duyên v.v... Là những giáo lý căn bản của Đạo Phật, nhưng phần trọng yếu nhất phải nói là "Sắc tức thị Không, Không tức thị Sắc".

Không là chữ riêng của thế giới Thiền, là trào lưu tư tưởng căn bản của Đông Phương.

Ông "Xuyên Đạm Khương Thành" người Nhật Bản, năm 1968 là người đầu tiên được lãnh giải thưởng Nobel Hòa Bình. Lúc ông ta giảng cho mọi người nghe về kỷ niệm nhân ngày nhận thưởng ấy trong quyển "Nước Nhật và Tôi" ông đã dùng một bài ca của Ngài Đạo Nguyên như sau:

Xuân có hoa

Hạ có nóng

Thu có trăng

Đông có tuyết, băng ...

Đó là ảnh hưởng của Thiền - là tâm hồn của Trà đạo - là nét họa của Đông Phương. Đó cũng là sự tiếp xúc với hoa Thung trong sự sinh hoạt hằng ngày của người Nhật mà trong tác phẩm của tôi (tác giả) đã nói lên được sự kết hợp đó.

Trong cuộc đời này chẳng có cái gì tuyệt đối cả. Có rồi không, không rồi có. Có của sự có là không và có là sự phủ định để được đồng nghĩa với sự không. Đó là hai lý luận đối nghịch với nhau, nhưng qua câu "không tức là có" nghĩa là trong cái không có cái có vậy. Điều đó chứng tỏ rằng trong cái gì được gọi là tồn tại cũng đều hàm chứa cái ý nghĩa không cả.

Mà không cũng chẳng phải là không - không tức là có. Đó là một sự lý luận cực kỳ vi diệu theo tinh thần Bát Nhã. Trong sự phát minh về số học, người ta gọi số không là không, nhưng trong phạm vi số học của Ấn Độ thì số không vẫn còn tính đếm được.

Trong cuộc đời này người ta thường gọi chỉ có những cái gì có là một sự tồn tại và cái gì không là cả thế giới này đều không, nhưng thời gian và không gian sẽ vượt lên trên tất cả thế giới này. Đó là trí tuệ của bậc Giác Ngộ.

Nếu cứ giải thích lẩn quẩn như thế này thì cũng chưa hiểu gì về Thiền cả. Vì sự giải thích chỉ là một sự giải thích chứ không phải Thiền. Thiền là thế giới "không cần đến chữ nghĩa", chữ nghĩa không thể diễn tả được Thiền, vì Thiền là "dĩ tâm truyền tâm". Tâm này có thể kết hợp với tâm kia, ngoài ra không thể giải thích được.

Công án của Thiền được thí dụ như Đức Phật cầm cành hoa sen đưa lên trong pháp hội tại Linh Thứu Sơn. Ngài cầm cành hoa trên tay và quay ra phía Đại Chúng. Tất cả những đệ tử của Ngài hiện diện trong Pháp Hội không ai hiểu ý Ngài muốn nói gì cả, chỉ có Ngài Ca Diếp (một trong 10) Đại Đệ Tử của Phật - và là Tổ thứ hai) mỉm cười. Đoạn Đức Thế Tôn thụ ký cho Ngài Ca Diếp bằng Chánh Pháp Nhãn Tạng, bằng Niết Bàn Diệu Tâm, bằng thật tướng vô tướng và vi diệu pháp môn của Ngài. Không cần đến chữ nghĩa, không truyền từ bên ngoài và chỉ truyền cho Ngài Ma Ha Ca Diếp.

Bởi vì sự Giác Ngộ của Thiền không có hình thức cho nên tìm sự lý luận để hiểu được Thiền là cả một điều khó khăn và hoài công vô ích. Nếu Thiền hiểu được bằng tri thức thì Thiền ấy chẳng phải là Thiền.

Từ Sơ Tổ Thiền Tông của Trung Quốc là Bồ Đề Đạt Ma cho đến Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn (601-674) có nhiều môn đệ giỏi về thi văn như Ngài Thần Tú (606-706) đã làm một bài thơ như sau:

Thân là gốc Bồ Đề

Tâm là đài gương sáng

Ngày đêm thường lau chùi

Bụi trần ai hết sạch.

Ai ai cũng có Phật tánh và nếu siêng năng gìn giữ và tu hành nhất mực thì Phật tánh hiển lộ. Vì lối lý luận hợp lý như vậy, nên mọi người đều cảm thán tài của Thần Tú

Nhưng đồng thời lúc đó có một người mới lên 3 tuổi đã mất cha, sống trong cảnh nghèo cùng, không được giáo dục, xin vào chùa làm công quả bửa củi, xay lúa, sàng gạo để phụng sự Chúng Tăng. Đó là Ngài Huệ Năng (638-713) đã sửa lại bài thơ trên như sau:

Bồ Đề vốn không gốc

Tâm không một tấm gương

Trước sau không một vật

Lấy gì để lau chùi.

Ngài Hoằng Nhẫn (Đệ Ngũ Tổ) thấy Thần Tú còn chấp ở lý, nên chỉ truyền tâm ấn cho Huệ Năng và Huệ Năng trở thành Lục Tổ của Thiền Tông Trung Quốc.

Vì Thần Tú còn chấp vào lý và sự để giải thích sự Giác Ngộ, nên còn đứng bên ngoài Thiền chứ chưa đạt được tâm Thiền.

 

Tọa Thiền

Toàn quốc Nhật Bản có tất cả khoảng 73.000 ngôi chùa Phật Giáo, trong đó Thiền Tông chiếm hơn ¼ tổng số chùa chiền tại xứ Nhật. Nếu đi thăm những chùa thuộc Thiền Tông, người ta cũng thấy được nhiều tông phái và tông phong tùy theo từng chi nhánh của Thiền. Cách ngồi Thiền cũng tùy theo từng tông phái mà có sự khác nhau, nhưng người cầu đạo không nên câu nệ vào hình thức sai biệt đó thì sự ngồi Thiền mới tinh thục được.

20.000 ngôi chùa Thiền Tông trong toàn nước Nhật cũng có chùa tọa Thiền nhưng cũng có chùa không quan tâm đến việc ấy. Thế nhưng, nếu tìm hiểu cho thật kỹ thì chùa nào thuộc về Thiền vẫn còn phong vị của Thiền. Nếu những hành giả nào có ý muốn ngồi Thiền thì trước tiên nên tìm hiểu những chùa có ngồi Thiền.

Có chùa có Thiền đường riêng dùng làm chỗ tọa thiền cho Thiền sinh, nhưng cũng có nhiều chùa dùng chánh điện để làm chỗ ngồi Thiền. Có nhiều nơi còn dùng đến đạo tràng để ngồi Thiền nữa.

Trong những chùa Thiền thường có những phong vị khác hơn những chùa thuộc Mật Tông như Thiên Thai, Chơn Ngôn, Tịnh Độ, hoặc Tịnh Độ Chơn Tông. Ngoài ra những chùa Thiền cũng khác với những chùa thuộc tông Pháp Hoa. Chùa Thiền thường có chánh điện to lớn, trang hoàng đơn giản nhưng thật trang nghiêm. Chùa nào cũng có vườn cây, mà cây khô lại nhiều. Những người hay bận rộn với việc thế gian hay bị cuộc đời làm cho khổ não, khi vào chùa tự nhiên thấy mình khỏe khoắn hẳn lên, tâm hồn được thanh thản như người vừa thoát tục. Vì lẽ dễ hiểu là chùa luôn luôn trang nghiêm thanh tịnh.

Sự ngồi Thiền xưa nay cũng có một vài sự biến đổi, nhưng một số nguyên tắc căn bản phải được lưu giữ. Ví dụ như không được mặc quần đùi hay váy cao vào chánh điện. Lúc đi phải để hai tay ngang ngực, hay lễ lạy 3 lạy v.v... những người trẻ sinh ra trong thế hệ này thường thực hành sai rất nhiều những qui tắc trên.

Thiền Lâm Tế và Thiền Tào Động cũng có rất nhiều sự sai biệt. Ví dụ như nhà vệ sinh Lâm Tế Tông gọi là "tuyết ấn", Tào Động gọi là "đông ty". Ngay cả cùng một Tông Lâm Tế nhưng phái Diệu Tâm và phái Kiến Trường tự cũng khác nhau, nhưng Thiền thuộc Tào Động Tông thì dầu ở đâu cũng ít có sự khác biệt, nhưng việc này cũng tùy thuộc nơi Sư Trưởng, người chỉ đạo v.v... giải thích khác nhau về bối cảnh lịch sử của chùa mình.

Thiền Lâm Tế - việc chính yếu trong lúc ngồi Thiền là nhận Công Án từ vị Thiền Sư. Ví dụ như Công Án "âm thanh của hai bàn tay". Hai tay hợp lại tạo thành âm thanh. Nhưng tay mặt tạo thành âm thanh hay tay trái tạo thành âm thanh? Đó là đề tài bắt buộc Thiền sinh phải giải đáp. Nếu qua được việc này thì được nhận tiếp những Công Án khác.

Trong Thiền Tào Động chỉ có một số Thiền Sư cho Công Án như Thiền Lâm Tế, ngoài ra hầu như không làm như thế.

Khi nào muốn ngồi Thiền một cách thực sự thì hãy đi đến chùa, tìm vào chánh điện hay Thiền đường, tập cách ngồi, hoặc giả tìm người hướng dẫn, chỉ cho việc chuẩn bị ngồi Thiền, như vậy tốt hơn. Khi đã vào trong Thiền đường để ngồi Thiền, nơi đây thường khác với những sinh hoạt thường ngày trong thế sự, nên dầu cho có mê hay ngộ đối với việc tọa thiền chơn chánh nó sẽ sinh ra nhiều ấn tượng tốt.

Thế nhưng sự chuẩn bị cho tri thức, cũng chỉ là một sự chuẩn bị. Đối với Thiền tri thức chỉ là một quan niệm tốt chứ không là một sự tu hành chơn chánh.

Lúc đi đến Đạo Tràng để ngồi Thiền tâm hồn của chính mình không yên tịnh cũng không sao, nhưng lúc ngồi Thiền phải giữ tâm hồn mình một cách vững chắc mới được. Trong lúc ngồi Thiền hãy cố gắng giữ những tín điều, hay những nguyên tắc để tâm hồn mình được yên tịnh. Ngài Đạo Nguyên đã dạy như sau : "Thân mệnh này là vô thường, nên đem thân ra hành đạo. Vì thế ngay bây giờ phải siêng năng tinh tấn".

Chỗ để ngồi Thiền phải là chỗ được xây riêng biệt ngoài chánh điện mới đúng. Ngay giữa Thiền đường nên thờ tượng Ngài Bồ Tát Văn Thù, tượng trưng cho trí tuệ. Cũng nên chia ra từng khu nhất định để được riêng biệt. Trường hợp những người mới sơ tâm cầu đạo không được phép vào Thiền đường một mình. Vị trí của người mới phát tâm cầu đạo còn nằm ở ngoài Thiền đường. Nếu tu hành đến một trình độ khả dĩ tiến bộ thì được phép đi vào Thiền đường. Nếu không sẽ bị cấm chỉ.

Người tu hành lúc ở trong chùa hay lúc đi lại trong Thiền đường phải để hai tay lên ngực bước đi một cách yên lặng. Nghĩa là tay trái để lên tay phải và đặt lên trên ngực. Nếu có người đi trước chỉ dẫn thì dễ nhớ hơn. Nếu ở trong hành lang của chùa, hay trong phòng gặp Tu sĩ hay người đi lễ bái phải dừng lại, chắp hai tay khẽ cúi đầu chào.

Lúc đi vào Thiền đường bắt buộc phải đi phía bên phải bằng chân phải trước. Lúc đi ra cùng cửa đi vào và đi bằng chân trái trước.

Lúc vào Thiền đường rồi phải đứng yên một chút, đoạn chắp tay cúi đầu, sau đó cung tay lại, tiếp tục yên lặng ngồi xuống chỗ ngồi thiền của mình. Đầu tiên phải xá lễ chỗ ngồi, rồi xoay lại bên trái chỗ ngồi lễ bái người ngồi thiền đối diện. Làm tất cả những nghi lễ này xong, đoạn quay lại phía bên trái một lần nữa, ngồi lên trên tọa cụ từ phía bên phải, hạ lưng xuống và điều chỉnh áo quần, xếp chân lại để ngồi thiền.

Viết bằng câu văn để diễn tả những việc trên trở nên khó khăn, nhưng thực tế, nếu làm thử thì không có khó như điều đã viết ở trên.

 

Phương pháp tọa thiền

Cách ngồi thiền có hai. Đó là kiết già phu tọa và bán già phu tọa. Người nào ngồi quen với lối kiết già thì tốt nhưng chân hay bị đau, hoặc giả những người tật nguyền không ngồi theo lối này được. Ngồi bán già cũng tốt, nhưng nếu nói ngồi cho đúng phương pháp phải nói là lối ngồi kiết già.

Kiết già phu tọa nghĩa là: chân phải để trên chân trái và chân trái để trên chân phải, hai chân phải tréo vào nhau. Bán già phu tọa nghĩa là: chỉ chân trái bỏ lên mặt là đủ. Nếu hai lòng bàn chân càng để sâu vào chừng nào thì lúc an định càng mạnh chừng ấy. Hai bắp vế phải tựa sát trên mặt chiếu. Lưng ngồi thật ngay thẳng. Như thế mới đúng cách ngồi thiền.

Phải chọn những tọa cụ nào thích hợp với thân thể để ngồi, phải luyện tập nhiều lần thật công phu, lưng ngồi mới thẳng được một cách tự nhiên. Đầu dừng lại ở thế hơi cúi xuống một chút. Lỗ mũi và lỗ rốn phải ngay một đường trực tuyến, như thế khi thở mới tạo được sự điều hòa. Đầu phải giữ cho thật thăng bằng thì mới tạo được sự hô hấp nhịp nhàng. Hai tay phải vòng lại theo lối Pháp giới định ấn. Ấn này là ấn lúc Đức Thích Ca thành đạo. Hai tay phải đan sát vào nhau chỉ có hai ngón tay trỏ là để hở thôi. Đặt lên trên hai bàn chân và ngay trước lỗ rốn.

Hai môi nên mím lại đừng cho hở thấy răng không cố gắng tạo thành một sức lực để cưỡng lại việc trên trong lúc ngồi.

Mắt không được nhắm nghiền lại, mà cũng không được mở to (nếu nhắm lại là chạy trốn thực tại, mở to ra lại bị loạn tâm) chỉ được nhìn cảnh trước mặt mình chừng một mét vào một điểm nhất định nào đó mà thôi.

Với tư thế như trên, hạ lưng xuống tọa cụ để ngồi, khi thấy thoải mái tự nhiên, giao động qua lại vài lần từ bên phải qua bên trái cho đến lúc thân thể trở lại vị trí bình thường. Dầu sao chăng nữa thân thể của những người mới luyện tập lần đầu cũng cứng cỏi, nhưng nếu xả bỏ tất cả những lực trong toàn thân thể ra thì tạng phủ trong người trở lại một cách bình thường.

Khi đã điều chỉnh thân thể rồi, bắt đầu hô hấp, thở ra hít vào một cách yên lặng. Điều này gọi là "khiến khí nhứt tức", nếu thở 2 hay 3 lần liên tục như vậy, thấy mình bình thường thoải mái. Điều chỉnh sự hô hấp của chính mình là vấn đề cần thiết quyết định việc ngồi thiền của mình.

Dáng ngồi của chính mình, tự mình không thể thấy được, tùy theo từng người có từng cố tật khác nhau. Có nhiều người cố gắng ngồi đúng cách đi chăng nữa, nhưng cũng có lắm trường hợp không thể ngồi đúng cách được, phải nhờ người chỉ đạo sửa giúp mình hay tự chính mình ngồi trước một cái kiếng để kiểm soát thế ngồi của mình.

Dần dần bắt đầu đi vào thiền định, nếu lúc ngồi mà đầu óc bứt rứt khó chịu nghĩa là tạp niệm đã xen vào. Trong đầu óc lúc nào cũng bị những vọng niệm đến xâm chiếm hết giây này đến phút khác, nếu tìm cách vứt bỏ cái này đi thì tạp niệm mới khác lại xâm chiếm trở lại, không có lúc nào dừng nghỉ. Trong khi đó tay chân trở nên đau nhức lạ thường.

Nếu xả bỏ tạp niệm này bằng sức lực thì tạp niệm khác lại nhẫn nại kéo đến, nếu tạp niệm sanh đừng cố gắng dập tắt tạp niệm ấy mà hãy giữ những tạp niệm nguyên như vậy, đến một lúc nào đó tự nhiên tạp niệm sẽ trở thành một khoảng trống không. Nếu lặp đi lặp lại nhiều lần như thế này, ấy là việc ngồi thiền cho chính mình vậy.

Chân sẽ bị đau theo thời gian ngồi lâu hay mau. Sự dứt bỏ tạp niệm đã là việc khó khăn khổ não, nhưng nó khác hơn sự đau nhức của thân thể. Trong lúc này người tọa thiền nên nghĩ rằng: "Không phải là ai cũng đang chịu đựng sự khổ như mình sao? và sự đau đớn của đôi chân không làm cho ta chết được v.v...". Đó là một phương pháp tập cho mình thật có đầy đủ sức kiên nhẫn trong lúc ngồi thiền vậy.

Khi tiếng chuông chỉ tịnh ngân lên, báo hiệu sự ngồi thiền chấm dứt, khi buông xả hai tay hai chân ra tức là buông xả tâm mình ra. Sự đau nhức của hai chân bao nhiêu thì lòng tự tín lại trở lại bấy nhiêu. Đây là lúc sức mạnh tinh thần của mình được xác định lại một lần nữa.

Dầu cố gắng thế nào đi chăng nữa, nhưng lúc ngồi thiền chân vẫn thấy đau, hai tay chắp lại để nhờ người đi cảnh sách đánh lên hai vai mình nhiều lần để cảnh tỉnh cái tâm giãi đãi của mình. Khi được đánh như vậy tâm trở nên yên tịnh lạ thường. Sự đau đớn của đôi chân cũng tiêu đi một cách nhẹ nhàng kỳ diệu (đây tuyệt đối không phải là một hình phạt trong Thiền đường, như bao nhiêu người xem truyền hình thường hay nghĩ vậy, mà chỉ là một phương pháp cảnh tỉnh chính nội tâm mình khi có vọng niệm xảy đến). Hoặc là yên lặng đổi thế ngồi của hai chân cho hợp lý cũng không có sao cả.

Cách ngồi thiền này được gọi là cách ngồi "phi tư lương" - là một yếu thuật vậy. Ngài Đạo Nguyên đã dạy trong "Phổ Khuyến Tọa Thiền Nghi" như vậy.

Phi tư lương nghĩa là như thế nào? Điều đó thật khó giải thích, mà cũng không thể giải thích được nữa. Nếu giải thích thì không phải là phi tư lương nữa. Phi tư lương chỉ nghĩa là phi tư lương (ở đây cũng gần đồng nghĩa với chữ: bất khả thuyết, bất khả tư nghì, bất khả vấn v.v...).

Sự chứng đắc được thiền không ngoài phương pháp ngồi thiền, những học giả, những vĩ nhân trong cõi trần này, cái gì cũng biết cả. Biết ai đã nói ra việc đó, ai đã giảng điều đó, nhưng khi hỏi họ là ai thì họ không hiểu họ là ai cả. Ngồi thiền không phải là để tìm hiểu tha nhân mà để tìm hiểu chính mình. Và cũng thế đó - trở về với Phật Giáo là trở về với bản thể chơn tâm của mình - không tìm cầu bên  ngoài, không vọng động, không chấp trước. Chỉ có chơn tâm là chơn lý bền vững nhất, ngoài ra những cái gì còn được đối đãi trong thế gian hữu hạn này đều còn bị chi phối bởi luật vô thường của tạo hóa. Bởi vậy cho nên ngồi thiền không phải là sự nhận xét và phán đoán của tri thức.

 

học tập ở chính mình

Càng ngồi thiền nhiều chừng nào thì những âm thanh của hoài nghi càng nhiều chừng ấy. Ví dụ như hành giả tự nghi vấn rằng: "Không biết ngồi thiền như thế này có tạo thành sức mạnh của nội tâm hay không?" hoặc tự hỏi "Không biết phương pháp ngày xưa như thế bây giờ có hợp với thời đại này không? ...".

Con người trong xã hội hiện tại hay lý luận bằng tri thức. Vì tri thức còn hoài nghi nên mới phát sanh như vậy. Nếu chúng ta muốn biết một điều gì thì tri thức lại thường hay đến trong đầu óc của chúng ta để phán định sự nghi ngờ đó. Vì bị huấn luyện theo tập quán như vậy, nên con người trong xã hội hiện tại dầu cho có ngồi thiền bao nhiêu đi chăng nữa cũng không thể đạt được thiền phần nào cả. Nó sẽ bị trả về với thế giới tri thức một lần nữa, nó sẽ hoài nghi về việc ngồi thiền. Đây là kết quả của đời sống văn minh vật chất ngày nay.

Trong những chương trước cũng đã có nói về lời dạy của Ngài Đạo Nguyên như sau:

"Học Phật Đạo tức là học ở chính mình, học ở chính mình là học ở bản ngã tự thân. Học được bản ngã tự thân là chứng được vạn pháp ở trong cuộc đời này.

Nếu chìm lặng trong bản ngã thì sự tu chứng vạn pháp là sai. Nếu giác ngộ được vạn pháp thì sự tu chứng của bản ngã là đúng".

Nếu sự nghi ngờ còn có, vậy việc ấy là gì? Điều này không phải vì ngồi thiền mà có sự nghi ngờ - ngồi thiền chỉ là một khái niệm, mà nghi ngờ là đối nghịch lại với khái niệm. Sự nghi ngờ này là một sự mê mờ vậy.

Tri thức có tính cách khách quan, phổ thông, đại chúng và thông dụng cho mọi người, nhưng điều đó sẽ bị sa vào hố thẳm. Tri thức không phải là một cố tánh mà lại càng không phải là quyển bách khoa tự điển, không phải là quyển sách. Vì tri thức không phát sinh ra trí tuệ được.

Ngài Đạo Nguyên nói con đường Phật Đạo là sự chơn thật của việc tọa thiền. Tọa thiền được gọi là tìm thấy tự chính mình. Từ sự tìm thấy ấy sẽ sinh ra trí tuệ. Trí tuệ không bị biến đổi từ tri thức mà là sự bắt đầu nhận thấy được chính mình vậy.

Ngồi thiền nhiều bao nhiêu thì sự nghi ngờ đến bấy nhiêu. Sự nghi ngờ càng đến thì càng sinh ra cái nghi ngờ khác, và sự ngờ vực đó không bao giờ có thể dập tắt được. Khi sự nghi ngờ càng gia tăng thì chính thể xác mình cũng bị quên đi. Nếu sông càng lớn thì sóng càng to chứ không bao giờ nhỏ lại được.

Nếu người bị tri thức làm chủ thì họ công nhận sự tồn tại về sự khái niệm trong việc ngồi thiền. Ngồi thiền là một sự suy nghĩ chơn chánh (chánh tư duy), yên lặng và tịch tĩnh. Ngồi thiền là tự tạo cho mình có một dòng suối mát là tu học ở chính mình, được thể nghiệm bởi chính mình, là nguyên nhân để tự chứng được vạn pháp vậy.

Nếu càng muốn giác ngộ thì càng bị lạc vào trong chốn mê mờ. Chỉ có vậy thôi.

Đệ tử của Ngài Đạo Nguyên là Hoài Trang đã viết "Chánh Pháp Nhãn Tạng Tùy Thinh Ký" còn sót lại cho đến ngày nay và trong ấy nói:

"Chứng đắc được là có thân thể đoan nghiêm, đứng đắn". Ngồi thiền trong đầu không phải là nghĩ như thế này hay thế kia mà là một sự thể nghiệm của toàn thể thân thể mình vậy. Toàn thân ở đây không phải là nhục thể mà cả thân lẫn tâm cộng chung là thân thể vậy. Ngồi thiền không thể nghĩ thân và tâm là hai sự cá biệt khác nhau mà cả tâm lẫn thân phải đem học đạo. Đó là con đường duy nhất vậy.

Trong những chùa của Thiền Tông thỉnh thoảng có thực tập nghiên cứu sự vấn đáp của chính mình. Cung kính chắp hai tay đứng trước người chỉ đạo và nói những điều nghi ngờ của chính mình. Ví dụ như câu: "Phật là như thế nào?" hoặc là "Phật có phải là xa lìa tâm thân không?" v.v... nếu những hành giả của Thiền hỏi được những câu hỏi như vậy thì hành giả đó được người chỉ đạo khen rằng tốt.

Một câu niệm, một câu nghi vấn và chính tự mình phải giải đáp lấy, đó là con đường có thể dẫn mình đến chân lý của Thiền vậy. Việc này cũng không thể giải thích bằng lối lý luận được để hiểu một câu có hoặc một câu không. Không có cũng không không. Vì thân và tâm chỉ là một. Thân và tâm không thể rời khỏi nhau mà lìa ra sự chấp trước của tri thức. Đó là sự cần thiết tự học hỏi ở chính mình vậy.

 

Sự hành trì hằng ngày

Người hay ngồi thiền không có nghĩa là suốt ngày chỉ biết có việc ngồi thiền, nghĩa là hằng ngày chỉ có việc lên Thiền đường để ngồi thiền mà thôi mà phải theo những qui luật năm, tháng, ngày, giờ và tùy theo từng chùa nữa. Đó là đời sống của Thiền môn vậy.

Tùy theo từng chùa của Thiền Tông, cũng tùy theo từng phái, từng khu vực khác nhau và từng mùa, nên cũng có những sự khác nhau đáng kể, nhưng đại để thì cách hành trì hàng ngày như sau :

 

4:00    giờ sángthức dậy

4:15  ngồi thiền

5:00  tụng kinh

7:00 ăn sáng

8:00làm việc

10:00giảng kinh

11:30thọ trai

14:30tụng kinh

16:30ăn chiều

17:00tắm rửa

20:00ngồi thiền

21:00ngủ.

Đây là nhật trình mùa Hạ, còn mùa Đông thì thức dậy lúc 4 giờ 30 phút sáng và có một vài thay đổi.

Ngoài ra còn có những công việc Phật sự hằng năm trong những chùa Thiền Tông như sau : Ví dụ như chùa Tổ đình

Tổng Trì tự (Sooji ji) ở Yokohama của Tào Động tông:

Ngày mồng Một, Hai, Ba tháng Giêng là ngày lễ kỳ nguyện đầu năm.

Ngày 26 tháng giêng là ngày hội Đản Sanh của Đức Cao Tổ.

Ngày mồng 3 tháng 2 là ngày hội tiết phân.

Ngày 15 tháng 2 kỷ niệm Đức Thích Tôn nhập Niết Bàn.

Từ 17 tháng 3 cho đến 23 tháng 3 là ngày lễ Bỉ Ngạn (Higan) (lễ Thanh Minh của người Trung Hoa và Việt Nam).

Ngày mồng 8 tháng 4 là lễ Phật Đản.

Từ 10 tháng 4 đến 16 tháng 4 là lễ báo ân thọ giới hội.

Từ 21 tháng 6 đến 26 tháng 6 là lễ truyền quang hội nhiếp tâm.

Từ mồng Một tháng 7 đến 15 tháng 7 là lễ Vu Lan bồn.

Từ 21 tháng 7 đến 25 tháng 7 là tham thiền hội về mùa Hạ.

Từ 21 tháng 9 đến 26 tháng 9 là lễ Thanh Minh mùa Thu.

Ngày mồng 5 tháng 10 là ngày kỵ của Tổ Bồ Đề Đạt Ma.

Từ 12 tháng 10 đến 15 tháng 10 là ngày kỵ Tổ khai sơn.

Ngày 21 tháng 11 là ngày kỵ giáng sinh của Tổ khai sơn.

Từ mồng 1 đến mồng 8 tháng 12 là lễ Lộ bát tiếp tân hội.

Ngoài những công việc này ra còn có lễ an cư kiết hạ và an cư kiết đông. Nghĩa là 90 ngày cấm túc tu hành, và ngày chủ nhật trong mùa an cư là ngày của những người Phật Tử tại gia đến tham thiền. Vào mùa an cư kiết đông thì những Tu sĩ đi khất thực trong sự giá rét. Đó là một phương pháp tu hành vậy.

Nếu đúng theo nghĩa tham thiền thì phải xa lìa tình vợ con, nghĩa phụ mẫu, xuất gia tìm Thầy học đạo thì mới đúng, nhưng những người còn vợ, còn con, còn bận bịu với cuộc sống hằng ngày trong kế sinh nhai, còn công ăn việc làm, học hành chưa dứt thì những kẻ ấy không thể gọi là người xuất gia được.

Mặc dầu không xuất gia nhưng vẫn có thể tọa thiền và cũng có thể chứng đắc được nếu sống đúng nghĩa với cách sống của một con người thực tập thiền định.

Những người tại gia ngồi thiền gọi là Cư sĩ. Ở Ấn Độ có ông Trưởng giả Duy Ma Cật là người Cư sĩ mà tu cũng chứng được đạo như thường. Bởi vì khắp nơi ông đều có những bậc thiện tri thức bên cạnh, nên sau khi Duy Ma Cật chứng đắc được Đạo có tạo ra một loại kinh, gọi là kinh Duy Ma Cật. Duy Ma Cật là một người tượng trưng trong cõi thế, ở đời nhưng vẫn có thể tu thành Đạo để cho người đời kim cổ soi chung.

Có nhiều người không xuất gia, là Cư sĩ nhưng ngộ đạo cũng khá nhiều trong thời kỳ chánh pháp cũng như tượng pháp.

Những người đã giới thiệu Thiền cho các xã hội Âu Mỹ ngày nay đều là những Cư sĩ như Suzuki Daietsu và Oouchi Seilan của Tào Động Tông. Cũng có lắm người làm nghề nhà hàng ở Tokyo cũng là những Thiền sinh nổi tiếng. Ở tại Pháp có một người Nhật lúc 51 tuổi ông ta mới xuất gia học đạo, ông ta đã bỏ tất cả sự nghiệp của đời mình để chuyên môn lo việc Thiền định và ngày nay ông ta có rất nhiều đệ tử quy y theo để học Đạo.

Thiền không phải là công việc riêng của người Tu sĩ. Thiền mở cửa tất cả cho những kẻ muốn tìm cầu. Trong quyển Vô Môn Quan phần mở đầu có viết như sau:

Đại Đạo vô môn - (con đường lớn không có cửa vào).

Thiên sai biệt - (có nhiều sự khác nhau).

Môn tú đắc - (Nếu vào được cửa này).

Càn khôn độc bộ - (Đi thong thả một mình trong vũ trụ).

Đối với con người, chỗ nào có cửa ngõ vào bảo rằng khó, nhưng chỗ không có ngõ mà lại vào được mới là chuyện khó hơn. Nhưng vô môn ở đây không phải là chuyện có cửa hay không có cửa vào. Bởi thế cho nên Thiền không phân biệt là Cư sĩ hay Tu sĩ mà mỗi sinh hoạt trong đời sống hằng ngày phải làm như thế nào để hợp với Thiền, đó là một điều rất cần thiết.

Tâm hồn giống như bầu trời rộng

Đối với những người bận rộn thì không bao giờ thấy mình được rảnh rỗi cả. Lúc nào thấy không có công việc gì nhiều nên đi ra ngoài đồng trống, nhìn lên bầu trời xanh, hít thở không khí trong lành của thiên nhiên trong sạch ấy thì mới hay rằng mình đang được sống trong một thế giới có ý nghĩa. Ở đây thiên nhiên hợp với tâm thiền. Trong kinh Bát Nhã có đoạn "tâm vô quái ngại" nghĩa là tâm và cảnh không có sự ràng buộc vậy.

Trong "Tín Tâm Lục" có viết như sau: "Trên dưới không biết là sự không mong muốn. Đây chính là một sự không vậy".

Nếu ngộ được Thiền tức là ngộ được cái không. Ấy là nhập và trụ được vào tâm an định. Có nhiều người nghĩ không là không, và có nhiều người nghĩ không là có một cái gì đặc biệt của một thế giới khác v.v... Những sự nhận xét đó, tất cả đều là những sự thấy sai. Có hoặc không, không là điều liên hệ đáng nói mà sự thật của có và không, không là gì cả.

Không đã là một sự khó hiểu, mà "cái không lớn" có người lại nghĩ có cái gì đây, nhưng thực tế "không lớn" ở đây là không có gì cả. Nếu đi tìm cái rỗng không thì bao giờ cũng rỗng không cả, chứ không có cái cuối cùng của sự rỗng không.

Trong Trí Tâm Lục có viết: "Không là giống nhau và hợp thành của vũ trụ. Không vọng tưởng trong sâm la vạn tưởng, không mê hoặc. Ấy là tự mình lấy kiếng soi được tâm mình vậy".

Trong quyển tiểu thuyết của Daibutsu Jiro có viết rằng: Gặp thời gặp lúc thì hoa nở rộ. Hoa nở như không đợi chờ ai. Vì đã đến giờ và đến lúc. Không phải vì sự lưu tâm xem hoa của kẻ khác, hay vì sự tán thưởng của mọi người mà hoa kia mới nở. Nhưng hoa nở là vì sự vô tâm, dù cho khi nở cũng như khi rơi.

Thiền là chống lại sự tạo tác, chê bai việc sửa sang và chủ trương không lập thành văn tự, mà phải sống cho đúng trạng thái của một con người trong cuộc sống hằng ngày, không để tóc dài, không trang điểm lòe loẹt. Vì những thứ đó là tự tạo đối với chính mình. Y phục nên mặc đơn sơ, màu trắng hoặc màu đen thôi. Vì mang nhiều màu sắc dễ làm cho con người bị mê hoặc. Ăn cũng không nên cho sót một hạt cơm, giọt nước cũng là công khó của kẻ khác. Dầu hạt cơm hay giọt nước cũng do công ơn của người khác tạo nên vậy.

Có một nhà báo nọ muốn tường thuật về việc ngồi thiền nên đã đến chùa Vĩnh Bình để ngồi thiền và viết như sau:

"Một ngày ba bữa cơm chay đạm bạc, một hạt cơm, một thỏi khoai cũng không được để sót lại. Hằng ngày trong cuộc sống bình thường của người thế gian ai hiểu biết và ai đã thực hành được điều đó".

Con người của xã hội Âu Mỹ trong hiện tại đang theo đà tiến triển của văn minh vật chất, nhưng có lần ông Thị Trưởng của thị xã New York đã nói như sau: "Địch của chúng ta là chúng ta vậy". Vì những thừa thãi trong đời sống sung túc hằng ngày của họ lại được chế biến lại để họ dùng tiếp tục. Nên chính họ đã thức tỉnh được điều đó và đã đưa ra những sự cảnh tỉnh như vậy. Điều đó không phải vì chế độ hay vì chính sách mà chính vì mình không tự học ở chính mình, không tự học ở chính mình để làm nên ý thức ấy.

Thiền sư Sogen Omori của Lâm Tế Tông cũng là một nhà kiếm đạo và một nhà thơ đạo, Thiền sư đã viết: "Tọa thiền là sự tu hành để thân tâm thành một. Ngồi thiền mà cầm kiếm là kiếm đạo. Ngồi thiền mà cầm bút là thơ đạo vậy".

Nếu mà như vậy thì quả là đã nhất tâm bất loạn là nông nghiệp thiền chứ chẳng phải là công nghiệp thiền. Chúng ta cũng có thể nói: khi hướng đến bàn học là học sinh thiền, và đó cũng là một trong những việc tọa thiền vậy. Tâm hồn mình tự nhiên vắng lặng như hư không, sống một cách tự nhiên thanh thản trong cuộc sống hằng ngày.

Trong bài ca của Ngài Đạo Nguyên có viết như sau: "Trong thế gian này nếu con người không sống thật với cái chơn tâm của mình thì không thể nào thấy được cái thanh thản của tâm hồn".

Người sống thật với chơn tâm tìm cầu trong việc tọa thiền là người đang tìm một tâm hồn yên tĩnh vậy. Vượt lên trên cả không gian và thời gian, để trở thành một với sự tự nhiên của vũ trụ đất trời. Tạo thành một thế giới mới cho sự giác ngộ giải thoát cho muôn loài.

Trong năm qua chúng tôi đã cố gắng phiên dịch quyển Thiền Học của Đại Lão Hòa Thượng Thiền Sư Yoshioka Toichi, đến kỳ này tạm chất dứt. Hẹn gặp lại độc giả trong những lần phiên dịch kỳ tới về Phật Giáo cũng như Thiền của Nhật Bản.

Để đúng với tinh thần học Phật của chư Tổ sư đã dạy "Thiền Tịnh Song Tu", nên sang năm 1982 mục Thiền Học sẽ được thay thế bằng Pháp Môn Tịnh Độ hay "Lá Thư Tịnh Độ" của Ấn Quang Đại Sư để quý Phật Tử xem theo đó mà học hành tu trì.

 

Thiền và Trà đạo

Trà của Nhật Bản được truyền sang từ Trung Quốc vào thời đại Nara. Lúc đương thời nhà vua đã mời 100 vị cao tăng vào cung điện để tụng và giảng kinh Đại Bát Nhã cho nhà vua cũng như triều thần bá quan văn võ. Những vị Sư này đã dùng trà tại đó và câu chuyện lịch sử này vẫn còn tồn tại cho đến ngày nay.

Lúc bấy giờ trà được gói thành từng gói tròn và bỏ vào trong nước sôi - cho trà ra rồi uống. Trà này giống như một loại thuốc tốt.

Vào thời kỳ đầu của thời đại Kamakura vị Thiền Sư Dinh Tây (Eisei) là người đầu tiên đã dạy cho người Nhật phương pháp dùng trà và sau đó ông Thôn Điền (Murata) mới chính là Tổ sư của việc dạy người Nhật uống trà với nước sôi.

Ông Murata là đệ tử của Ngài Nhựt Hưu chùa Đại Đức. Với tài năng nghệ thuật và với tâm hành Thiền của ông ta cùng hợp lại, ông ta đã tạo được một phương thức thực hành trà đạo cho đến ngày nay.

Trà mà chúng ta thường dùng hằng ngày là một nghệ thuật làm thăng hoa cho cuộc sống của người thế gian cũng như những người xuất thế gian, trà làm cho lục căn trở nên thanh tịnh. Vì tinh thần của trà đạo là "hòa kỉnh thanh tịnh". Điều này cũng thật đúng với tinh thần của Thiền.

Theo Ngài Lợi Hưu thì "sự thực tiễn của trà đạo tức là con đường thâm cứu về chư Phật và chư Tổ sư trong quá khứ".

Theo chủ trương của Ngài Lợi Hưu thì đó là một tâm hồn thoát tục, một ý niệm có tính cách quý trọng sự cao đẹp trong cuộc sống căn bản hằng ngày.

Từ thời đại Kamakura cho đến giữa thời ấy, có cả hơn 100 Tăng sĩ giữa hai nước Nhật Bản và triều Tống của Trung Hoa qua lại với nhau. Sau khi Phật Giáo được truyền vào Nhật chừng một thế kỷ thì dân chúng của Nhật Bản tin theo Thiền Học càng ngày càng đông và từ đó khắp nơi trên đất Nhật, nơi nào những chùa Thiền cũng được dựng lên và bắt đầu hình thành một nét đặc thù về văn hóa của Nhật Bản. Dưới triều đại Mạc Phủ (Bakkufu) người ta thường hay nói đến văn hóa Chí Đinh và văn hóa Đông Sơn, nhưng phải thành thật mà nói trọng tâm của những văn hóa này vẫn là tinh thần của Thiền Học. Vì Thiền Tông không phải là một tông phái chỉ biết lễ bái những tượng Phật, mà mục đích của Thiền là phải tự ngộ lấy ở chính mình, do đó, việc kiến trúc chùa chiền cho đẹp đẽ, hay tô tượng cho tráng lệ đều không phải thuộc về Thiền. Thiền được thấy như là một phương pháp thực tiễn mà trong đó có tính cách tự do rất nhiều. Đây cũng là tính cách rất đặc biệt về văn hóa của Thiền. 

Thơ đạo

Người bình dân thường gọi chữ viết là "bút tích", nhưng chữ viết của Thiền Tăng gọi là "mặc tích". Những mặc tích này vẫn còn lưu lại cho đến ngày nay như: Ẩn khả trạng, Dịch Cô kệ, Di kệ ... nói về sự liên hệ giữa Thầy trò môn đệ và Thanh Quy của chế độ Thiền Viện, liên hệ đến việc hành trì và những bài thơ kệ ngâm vịnh trong chùa đều là những mặc tích.

Sự đặc thù của mặc tích được suy nghĩ như là "văn tự của những Thiền Tăng là những con người thật". Lại nữa, mặc tích biểu hiện được cá tính tự do thô lỗ và phóng đại trên nét chữ của Thiền Tăng. Đó cũng là truyền thống cách họa chữ được phát hiện.

Với cuộc sống tu hành nghiêm nhặt và dạt dào của một Thiền Tăng được biểu hiện trên nét chữ của họ, nếu người sơ tâm học đạo khó có thể hiểu được sự nhiệm mầu này.

Mặc tích nổi tiếng tại Nhật là của Ngài Nhứt Sơn viết về "lục tổ kệ" trên giấy cảo, của Ngài Đại Tăng Quốc Sư bài "Kệ Đảnh" và của Ngài Bạch Ơn bài "Tử Tự" là những mặc tích nổi danh còn sót lại cho đến ngày nay.

 

( Đặc San Viên Giác số 5 -  Bộ mới số 6 

(Tháng 8. 1980 - tháng 12.1981 )

 

Vai trò của Phật Giáo đối với văn hóa

 

Hôm nay chúng tôi xin hân hạnh được trình bày với quý vị một đề tài, mà có lẽ ai trong chúng ta cũng hằng lưu tâm đến. Đó là "Vai Trò của Phật Giáo đối với Văn Hóa" trong sự phát triển cũng như sự tồn tại của Phật Giáo suốt gần 26 thế kỷ qua trong lịch sử Phật Giáo Việt Nam nói riêng và lịch sử thế giới nói chung.

Trước hết và trên hết chúng ta nên hiểu rõ ý nghĩa của những danh từ trên đây với những chức năng của nó cũng như sự liên hệ của Phật Giáo đối với văn hóa của một dân tộc như thế nào, để từ đó chúng ta có thể đi đến kết luận dễ dàng và cụ thể hơn.

Phật Giáo ở đây được hiểu như là: Những điều dạy dỗ của một bậc giác ngộ hoàn toàn chơn lý ở trong và ngoài thế gian này về vấn đề luân lý, đạo đức, giáo dục, triết lý, khoa học, giới luật, kinh điển. Một giáo lý của một bậc đã hoàn toàn giác ngộ, hiểu thấu trong quá khứ, hiện tại và vị lai, đem dạy bảo lại cho chúng sanh trong nhiều đời, nhiều kiếp, được gọi là Phật Giáo. 

Văn hóa được định nghĩa là: Những gì thuộc về văn minh, văn hiến, ngôn ngữ, tập tục, thói quen, nghệ thuật, kịch nghệ v.v... bị biến đổi lâu đời, được nhiều người lặp đi lặp lại nhiều lần, được gọi là văn hóa. Văn ở đây được hiểu như là văn minh của con người. Trong văn minh đó có văn minh vật chất và văn minh tinh thần. Văn minh vật chất thuộc về những sự phát minh của con người về kỹ thuật để phụng sự cho đời sống con người, và văn minh tinh thần là những gì vượt lên trên cá thể của một đời sống vật chất, như những giá trị đạo đức, luân lý, khoa học v.v... Như vậy văn hóa được hiểu như là nền văn minh và văn hiến của con người được trải qua nhiều đời và lặp đi lặp lại nhiều lần có tính cách như một thói quen, được gọi là văn hóa.

Như trên chúng ta đã thấy giữa Phật Giáo và Văn Hóa có những điểm giống nhau và cũng có nhiều điểm khác nhau như sau:

A/ Sự khác nhau

Văn hóa chỉ do loài người sáng tạo và bị biến đổi qua nhiều giai đoạn trong đời sống hằng ngày của con người, được nhiều người thực hành theo.

Trong khi đó Phật Giáo được sáng lập và được phát sinh ra từ những bậc đã giác ngộ, những người hoàn toàn hiểu biết về cuộc đời này bằng sự thực tu và thực chứng của mình, rồi đem những kinh nghiệm của bản thân ra dạy bảo cho con người và muôn loài.

B/ Sự giống nhau

Văn hóa bao gồm những giá trị của văn hiến và văn minh thuộc về cả hai lãnh vực tinh thần cũng như vật chất.

Và Phật Giáo cũng bao gồm những sự dạy bảo cho con người một giá trị tinh thần siêu thoát, giác ngộ và hãy tự giải thoát bởi chính mình.

Mặc dầu Phật Giáo và Văn Hóa có những điểm khác nhau và những điểm giống nhau như đã nêu trên, nhưng không vì thế mà giữa Phật Giáo và Văn Hóa có một sự nghịch lý nào cả, mà đó là một sự thật cần phải có để làm sáng tỏ giữa Đạo Giáo và cuộc đời.

Suốt trong dòng sinh mệnh của Phật Giáo đã gần 26 thế kỷ trôi qua trong lòng người, qua những công cuộc truyền đạo và hành đạo của những nhà giáo dục Tu sĩ cũng như Cư sĩ đến từ Á Châu sang Âu Châu, rồi sang Mỹ Châu, Phi Châu và Úc Châu, Phật Giáo đã đóng góp một cách tích cực cụ thể cho những nền văn hóa của những dân tộc tại xứ đó.

Ví dụ như tại Ấn Độ: Mặc dầu ngày nay Phật Giáo không còn là quốc giáo như những thời đại vàng son lúc Đức Thích Ca Mâu Ni còn tại thế, trong vai trò của mình đối với văn hóa và học thuật nữa, nhưng không vì thế mà vai trò của Phật Giáo bị lu mờ. Vì lẽ dễ hiểu là Phật Giáo được phát sinh ra và trưởng thành tại đó. Ngày nay khắp năm châu, bốn bể được hiểu giáo lý của Đức Phật là nhờ nước Ấn Độ, nhờ Thái Tử Tất Đạt Đa đã hy sinh đời sống vị kỷ, tư lợi của mình quyết xuất gia, tìm đường giải thoát cứu khổ cho nhân loại, nên được nhiều người nhắc nhở đến, cung kính như một vị cha lành của nhân loại. Do đó cho nên nhiều tín đồ Phật Giáo đã luôn ngưỡng vọng về Ấn Độ như những tín đồ Thiên Chúa Giáo luôn tìm đến Thánh địa tại Do Thái nơi Đức Chúa đã giáng sinh cách đây 1981 năm về trước. 

Đạo Phật hay nói đúng hơn là giáo lý của Đức Phật đã cảm hóa biết bao nhiêu bậc hôn quân bạo chúa của xứ Ấn Độ lúc bấy giờ như vua Asoka (A Dục Vương - trước Thiên Chúa giáng sinh 263-274) đã trở thành một Phật Tử thuần thành đối với Đạo Phật nhờ những giới luật của Đức Phật đã chế ra và sau đó Hoàng Đế A Dục đã lấy giới luật căn bản này viết vào Hiến Pháp trị dân. Ở Nhật Bản có Thánh Đức Thái Tử (Shotoku Taishi - thế kỷ thứ 7-8 sau TC) cũng đã cai trị dân Nhật Bản bằng tinh thần Tôn Giáo và Văn Hóa của Đạo Phật, và ngày nay trong Hiến Pháp của Nhật cũng còn dựa theo tinh thần Tam quy ngũ giới, thời Thánh Đức Thái Tử trị vì, đã có những Đạo Luật đó. Điều đó đủ chứng tỏ rằng Phật Giáo đã có một sức dung hóa hết sức nhiệm mầu, trên từ những bậc vua chúa, dưới đến nhân dân trăm họ.

Khi Phật Giáo được truyền sang Trung Hoa vào đầu thế kỷ thứ nhất sau Thiên Chúa giáng sinh, Phật Giáo đã tích cực đóng góp vai trò của mình trong công cuộc phổ biến văn hóa Thiền của Bồ Đề Đạt Ma (thế kỷ thứ 6) một cách uyển chuyển và dung hòa được với nền văn hóa của Khổng Mạnh vốn đã ăn sâu vào tiềm thức của nhân dân Trung Hoa hơn 10 thế kỷ trước đó. Vì Phật Giáo đi đến đâu chỉ mang một sứ mạng duy nhất. Đó là tình thương và trí tuệ. Về tình thương Phật Giáo chủ trương không hận thù. Vì Đức Phật vẫn luôn dạy cho các đệ tử của Ngài rằng: "Lấy oán báo oán, oán oán chất chồng. Lấy ân báo oán, oán liền tiêu diệt". Vì lẽ giản dị đó nên Phật Giáo được nhiều người ưa chuộng. Về trí tuệ Phật Giáo luôn chủ trương rằng: cuộc đời này là bể khổ, con người mãi lặn hụp trong sự khổ đau không bao giờ thoát khổ này, nên Đức Phật đã chỉ cho họ một con đường để đạt đến trí tuệ viên mãn. Đó là Bát Chánh Đạo, Tứ Diệu Đế, v.v...

Phật Giáo biết được bổn phận và nhiệm vụ của mình, nên từ các bậc vua chúa đến triều thần và dân chúng đã tin theo và thực hành một cách triệt để song song với văn hóa của Khổng Mạnh. Từ những bộ kinh điển có giá trị được các vị Tu sĩ người Ấn Độ mang sang Trung Hoa, rồi chính tay những vị này dịch sang chữ Trung Hoa và ngày nay Phật Giáo Trung Hoa có được Tam Tạng kinh điển bằng tiếng địa phương của họ là nhờ vào những vị Tu sĩ này đã đóng góp không ít vào văn hóa của dân tộc Trung Hoa.

Lúc bấy giờ Trung Hoa là một nước hùng cường nhất Á Châu, nên văn hóa và tôn giáo của Trung Hoa cũng dễ ảnh hưởng đến các nước lân cận như Việt Nam, Đại Hàn, Mông Cổ, Nhật Bản.

Chính vào thời kỳ này Phật Giáo được truyền sang Việt Nam bằng những nhà sư người Ấn Độ và người Trung Hoa qua hai ngõ đường bộ và đường thủy. Đường bộ từ kinh đô Lạc Dương cũ của Trung Hoa và đường thủy từ biển Nam Ấn Độ đến. Có thuyết cho rằng trước khi Phật Giáo được du nhập vào Trung Hoa phải vào Việt Nam trước, vì ngày xưa những thương nhân Ấn Độ buôn bán với Trung Hoa chỉ dùng tàu bè để đi đường biển, và trên tàu buôn của họ có mang theo nhiều Tu Sĩ Phật Giáo để chỉ làm nhiệm vụ cầu đảo trời đất, mưa thuận gió hòa cho thuyền buôn đi đến nơi về đến chốn, và trên đường đi ấy, trước khi vào kinh đô Lạc Dương trên đất liền của Trung Hoa, những thuyền buôn và những nhà sư Ấn Độ này đã phải ghé sang Việt Nam để chờ mùa gió nồm, và đây là cơ hội để những nhà Sư này truyền bá Đạo Phật tại nơi đây.

Xét ra hai thuyết trên, thuyết nào cũng có lý cả, nhưng cho đến nay lịch sử Phật Giáo Việt Nam vẫn chưa khẳng định được điều đó, vì trải qua biết bao nhiêu cuộc chiến loạn hãi hùng của dân tộc Việt Nam, đã mất đi những tài liệu lịch sử rất nhiều, nên không thể quyết định được việc nào là đúng và việc nào là sai.

Đa số dân Việt Nam đều thờ cúng ông bà, theo Đạo Khổng Mạnh giống như người Trung Hoa, nên Đạo Phật được truyền vào đây một cách dễ dàng không khó khăn mấy, và cũng chính nhờ những Thái Thú coi đất Giao Châu như Sĩ Nhiếp sùng bái Đạo Phật nên giáo lý của Đức Phật càng ngày càng phổ cập trong nhân gian Việt Nam nhiều hơn. Ban đầu chỉ là những nghi lễ có tính cách cúng dường Đức Phật, như tán tụng, dâng hoa, quả, xây chùa cho có chỗ cho những vị truyền giáo ở, đúc chuông, tạc tượng để cho có nơi để Phật Tử chiêm bái, lui tới thiền môn, và chính những vị Tu sĩ này đã phiên dịch những kinh điển bằng tiếng Phạn ra tiếng Hán tiếp tục để truyền bá cho người Việt Nam. Thuở bấy giờ người Việt Nam bị Bắc thuộc lần thứ nhất ( - 111 đến thế kỷ thứ 6) nên văn hóa của Việt Nam cũng bị ảnh hưởng bởi Hán văn của Trung Hoa, nên đã không cần dịch ra chữ Việt Nam (lúc bấy giờ chỉ có tiếng mà chưa có chữ theo mẫu tự A, B, C...). Người Việt Nam học hỏi giáo lý của Đức Phật và thực hành theo những giáo lý ấy để dần dà biến thành một tôn giáo của dân tộc từ triều Lý đến triều Trần trong những thế kỷ 11, 12, 13 và 14 của Việt Nam. 

Và ngày nay trong tất cả tôn giáo, Phật Giáo cũng bị chung số phận là không được truyền bá rộng rãi trong dân gian, quần chúng Phật Tử nữa, mà chỉ thu hẹp lại trong phạm vi thật giới hạn, chỉ có tính cách tín ngưỡng hơn là một tôn giáo lớn đem văn hóa của mình ra đóng góp cho quốc gia như trong những thế kỷ trước, nhưng không vì thế mà người dân Việt Nam mất đi niềm tin yêu với Phật Giáo. Vì lịch sử đã chứng minh rằng: Đạo đức bao giờ cũng tồn tại với thời gian trên cõi thế này và chính thể hay chính quyền chỉ có tính cách giai đoạn mà thôi. Và đó cũng là nguyên nhân chính để phải bao nhiêu người Việt Nam bỏ nước ra đi, mang đến khắp nơi trên hoàn cầu một nỗi đau thương của con người thiếu Tự Do và Tín Ngưỡng.

Đạo Phật cũng đã hiện diện với dân tộc của Quý vị (Đức) cũng đã hơn một thế kỷ nay, qua các nhà truyền giáo của người Nhật, người Tây Tạng, người Tích Lan và Việt Nam chỉ mới trong thập niên 50 trở lại sau này. Chúng tôi thấy rằng mặc dầu đất nước của Quý vị đã có sẵn một tôn giáo lớn. Đó là Thiên Chúa Giáo và Tin Lành Giáo, nhưng Quý vị đã đón nhận và giúp đỡ chúng tôi thật tận tình và không phân biệt màu da hay tôn giáo, mà còn khuyên giúp người Việt Nam nên bảo tồn những sản phẩm tinh thần đó song song với việc hội nhập vào đời sống hằng ngày đối với dân tộc Đức. Chúng tôi đoan chắc rằng: với tinh thần này Phật Giáo Việt Nam cũng sẽ cố gắng đóng góp với Văn Hóa của Quý vị cho xứng đáng là những người con Phật học hỏi và thực hành giáo lý trí tuệ và tình thương của Đức Phật.

Chúng tôi, những người Việt Nam và những người Phật Tử Việt Nam hiện cư ngụ tại Cộng Hòa Liên Bang Tây Đức luôn luôn nhớ ơn chính quyền và nhân dân Tây Đức đã giúp đỡ cho vấn đề bảo tồn và phát huy văn hóa Phật Giáo tại đây ngày càng phát triển vững mạnh và đảm bảo được giá trị tinh thần của những người theo Phật một cách sáng suốt, chân thật.

Qua sự khảo sát và nhận xét trên về Phật Giáo đối với một nền văn hóa dân tộc, ta có thể kết luận như sau:

"Khi một dân tộc, một quốc gia phú cường, thịnh vượng, là vì dân tộc đó chuộng những giá trị tinh thần như đạo đức, luân lý, văn hóa ngoài những sự phát minh về khoa học có tính cách vật chất. Ngược lại một dân tộc bị suy vi, một nền văn hóa thiếu đạo đức và thiếu sự đóng góp tinh hoa của nhiều tôn giáo khác nhau thì dân tộc ấy sẽ sa vào hố độc tôn và sẽ bị biến đổi theo đà thoái hóa của luật tự nhiên".

( Bộ mới số 5 (Tháng 10.1981)

 

Ý nghĩa việc An Cư Kiết Hạ

Đã có nhiều vị hiểu rõ ý nghĩa của việc An Cư Kiết Hạ; nhưng cũng có lắm người Phật Tử chưa rõ; nên hôm nay chúng tôi xin viết và nói sơ lược về ý nghĩa "AN CƯ KIẾT HẠ".

Khi Đức Phật Thích Ca Mâu Ni còn tại thế mỗi năm Ngài và đệ tử của Ngài đi du phương hóa độ chỉ 9 tháng - 3 tháng còn lại, Đức Phật và Tăng chúng ở một nơi yên ổn, không di chuyển đi nơi khác, để tu hành và chuyên tâm vào việc hành trì giới luật cũng như thực tập Thiền định. Ba tháng này bắt đầu từ Rằm Tháng Tư đến Rằm Tháng Bảy âm lịch. Ba tháng ấy là mùa mưa của xứ Ấn, côn trùng hay sinh sản nhiều. Đức Phật không muốn giẵm chân mình lên bao vạn sinh linh, nên Ngài chế ra phép An Cư Kiết Hạ là vì lý do trên.

Rồi từ đó Đạo Phật dần dà được truyền sang các nước khác ở phương Bắc và phương Nam Ấn Độ; chư Tăng vẫn một mực hành trì. Đối với những vị đã thọ giới Tỳ Kheo, nếu mỗi năm có an cư thì mới kể một tuổi đạo. Đối với các Tăng sĩ mới xuất gia hay thọ Sa Di, việc an cư cũng trở nên cần thiết, vì đó là cơ hội để học hỏi và tu trì. Các vị Cư sĩ tại gia Bồ Tát hay ngũ giới cũng có thể theo hộ đạo và học hỏi để tiến tu đạo nghiệp.

Thông thường những Phật Học Viện, các Tổ Đình hoặc các chùa lớn tại Việt Nam mỗi năm đều tổ chức An Cư Kiết Hạ như vậy. Các vị Tăng sĩ ở những chùa nhỏ, hay những nơi không tổ chức được an cư cũng tụ hội về một nơi nào đó để nhập chúng an cư.

Theo đúng luật Pháp chế, cứ 4 vị đã thọ giới Tỳ Kheo trở lên có làm phép Yết Ma bạch Phật nhập hạ thì mới đúng phép an cư. Nếu không được 4 vị - 3 vị hay 2 vị hoặc 1 vị trở xuống cũng có thể làm phép Kiết Giới An Cư; nhưng đó chỉ gọi là Tâm Niệm An Cư hoặc Đối Chúng An Cư mà thôi.

Thường sau lễ Phật Đản - vào sáng sớm ngày 16 tháng 4, Tăng chúng vân tập nơi hậu tổ của chùa để nghe Thầy Tri Sự cáo bạch cùng các bậc tôn túc để làm phép Yết Ma cho việc An Cư Kiết Hạ. Chư Tăng lễ Tổ và vân tập lên chánh điện.

Sau khi lễ Phật và làm lễ hòa hợp Tăng, vị Trụ Trì hay một vị Thượng Tọa lớn tuổi đạo nhất đi làm phép kiết giới chung quanh vườn chùa (đất Già Lam) và những nơi quan trọng trong chùa, như giếng, nhà trù, Đông Tây Nam Bắc, 4 hướng chung quanh chùa. Phép này cho biết là ranh giới của chư Tăng được ở và ngoài ranh giới này thì phải làm phép Yết Ma. Sau đó vị Tri Sự sẽ thông báo chương trình tu học trong 3 tháng để chư Tăng lãnh hội và lần lượt lễ Phật, lễ Tổ lui về hậu đường.

Theo đúng phép An Cư Kiết Hạ - vị Tăng sĩ an cư dầu là bậc Hòa Thượng, Thượng Tọa, Đại Đức Tăng, Đại Đức Ni, Thức Xoa Ma Ni, Sa Di, Sa Di Ni đi chăng nữa phải ở trọn 90 ngày đêm trong đại giới đã làm phép Yết Ma kiết giới - không đi ra khỏi vườn chùa mới hợp lệ. Nhưng nếu vì duyên sự Phật Pháp cần phải đi xa khỏi chùa một ngày một đêm nhẫn đến 40 ngày đêm cũng được phép nhưng với điều kiện sau :

Vị nào đi khỏi nơi kiết giới một ngày một đêm thì có thể xin phép một vị Thượng Tọa lớn tuổi nhất để đi, không có lỗi. Nếu từ 2 đêm đến 7 ngày 7 đêm phải có 4 vị Thượng Tọa đồng ý. Nếu từ 7 ngày đêm đến 40 ngày đêm phải được tất cả Chúng Tăng đồng ý. Nếu trong Chúng có một người không đồng ý, việc ra đi không thành. Nếu đi quá 40 ngày đêm khỏi chỗ kiết giới xem như việc an cư không thành và không có tuổi đạo.

Chương trình tu học hằng ngày rất nghiêm nhặt : Từ sáng sớm khoảng 4 giờ 30 phút thức dậy - tham thiền. 5 giờ công phu khuya, trì tụng Thần Chú Thủ Lăng Nghiêm. Đến 7 giờ chấp tác, làm những công việc ngoài vườn và trong chùa. 8 giờ sáng dùng cháo. 9 giờ đến 11 giờ 30 phút và 15 đến 17 giờ là giờ học tập kinh điển, giáo lý của chúng Sa Di, Sa Di Ni hoặc Thức Xa Ma Ni hoặc Cư Sĩ. Nếu những vị đã thọ Tỳ Kheo và các bậc Tôn Túc Thượng Tọa khác dành thì giờ này để dịch kinh, dịch sách hoặc dạy Tăng Chúng.

12 giờ trưa là giờ cúng quá đường, dùng cơm và đi kinh hành. Sau đó xuống nghỉ trưa khoảng 1 tiếng đồng hồ để tiếp tục khóa học buổi chiều.

17 giờ 00 phút là giờ công phu chiều hay còn gọi là Thí Thực Cô Hồn.

Khoảng 18 giờ 30 phút là giờ dùng cháo.

Đến 20 giờ có khóa lễ Tịnh Độ.

Từ 21 giờ đến 23 giờ là giờ học bài và ôn bài.

Trước khi đi ngủ tất cả Tăng Chúng ngồi Thiền độ 30 phút.

Ngoài ra tối ngày 14, ngày 30 (hoặc ngày 29 tháng thiếu) âm lịch đều có lễ Hồng Danh Sám Hối. Sáng ngày rằm và mồng một có lễ Chúc Tán, Thù Ân và Tụng Giới.

Vào các ngày thứ bảy và chủ nhật thường hay tổ chức Thọ Bát Quan Trai cho các Phật Tử tại gia - một ngày một đêm 24 tiếng đồng hồ, học hạnh của người xuất gia để tạo nhân lành giải thoát.

Gần đến Rằm Tháng Bảy có một lễ khá quan trọng gọi là lễ Tự Tứ, nghĩa là lễ thọ nhận tuổi hạ và sám hối đối với bậc Tôn Túc bên trên hoặc ngang hàng. Lễ này nhằm kiểm điểm thành quả tu tập của vị Tăng sĩ trong 3 tháng An Cư Kiết Hạ có như thế mới thấy được những điểm hay và những điều nên tránh trong cuộc đời hành đạo của người Tăng sĩ.

Phật chế giới cho Tăng sĩ cũng như Cư sĩ không ngoài mục đích là giữ gìn mối đạo cho có quy củ. Vì Đức Phật có dạy rằng: "Giới Luật là Thầy của tất cả - Giới Luật còn, Phật Pháp còn. Giới Luật mất, Phật Pháp mất". Một vị Tăng sĩ không có giới đức, sống xa giới luật chẳng khác nào con hổ, loài chúa tể sơn lâm đã xa lìa khỏi núi. Vì thế mới có câu rằng: "Tăng ly chúng Tăng tàng, Hổ ly sơn hổ bại".

Thế nhưng ai đã thọ giới và phạm giới, chính người ấy chịu, chứ không có ai chịu thế được cho ai cả. Và cũng vì thế nên người nào thọ ở giới nào chỉ hành trì trong phạm vi của người ấy, những giới cao hơn không được quyền biết đến, nếu chưa thọ giới. Ví dụ như vị Cư sĩ không được quyền nghe giới của Sa Di. Vị Sa Di không được quyền nghe giới của Tỳ Kheo. Sợ rằng những người không ý thức được giá trị của giới luật sinh tâm kiêu mạng, khi thấy người khác không hành trì, hoặc hành trì sai - chính người không thọ giới đó dễ đọa vào nơi khổ nạn (và chính người không hành trì cũng thế) nên chư Phật và chư Tổ chế ra điều đó rất nghiêm nhặt, nhằm ngăn chận những người tâm không đoan chánh.

Cũng chính vì tâm niệm việc an cư và giữ giới quan trọng như thế nên năm nay (1984) sau Đại Lễ Phật Đản 2528 ngày 25, 26, 27/5/1984 chư Tăng chùa Viên Giác tại Tây Đức quyết định An Cư Kiết Hạ để kiểm thúc thân tâm, tu hành công đức, nhiên hậu mới có thể phục vụ đồng bào một cách đắc lực hơn.

Cũng chính vì thế - nên chúng tôi xin được yên tĩnh tu hành trong 3 tháng hạ, bòn một công đức trong vô lượng công đức khác của người tu, xin được phép không nghe điện thoại - dầu là chuyện tối cần - trong suốt 3 tháng An Cư Kiết Hạ - có thể chỉ trả lời thơ; nhưng rất giới hạn. Tuy nhiên quý vị cứ liên lạc về chùa. Vì ở đây sẽ có những vị Cư sĩ hộ đạo, trả lời cho quý vị. Nếu chẳng may trong lúc chư Tăng an cư kiết hạ mà gặp người qua đời, chúng tôi cũng xin được phép không đi đưa đám. Nếu tang chủ muốn cầu siêu độ hoặc làm tuần thất cho chư hương linh có thể về thẳng chùa để chư Tăng làm lễ chú nguyện.

Thứ bảy và chủ nhật hằng tuần tại chùa Viên Giác đều tổ chức lễ Thọ Bát Quan Trai, quý vị Phật Tử Cư Sĩ tại gia cố gắng dàn xếp việc nhà để về chùa tu tập, công đức ấy thật vô lượng vô biên.

Nếu trong 3 tháng An Cư Kiết Hạ ấy, có vị Cư sĩ tại gia nào gia duyên không bị ràng buộc, có thể về chùa ở luôn trong 3, 2 hoặc 1 tháng tu tập và hộ đạo, giữ giới, trì trai v.v... chúng tôi cũng xin nhiệt liệt tán dương công đức.

Sau bao nhiêu năm làm việc cho đồng bào, hay tu niệm cho chính mình thì đúng hơn - chúng tôi cần di dưỡng tinh thần trong thời gian tối thiểu 3 tháng như thế. Kính mong các bậc Tôn Túc từ bi mẫn nạp và đại xá cho những điều lầm lỗi. Kính đến quý vị Đạo Hữu và quý Phật Tử gần xa một mối Đạo tình thâm hậu và dám mong rằng quý vị không phiền, không trách chư Tăng bị khiếm diện trong các buổi lễ cưới hay ma chay hoặc sự tham dự với các đoàn thể bạn trong những cuộc lễ lộc, thuyết trình ... Và để chư Tăng có đầy đủ điều kiện trong việc tu hành. Kính mong quý vị đàn na thí chủ tiếp tục hộ đạo từ vật chất đến tinh thần như trước đây để mùa An Cư năm nay được thành công viên mãn.

Kính nguyện Đức Bổn Sư từ bi gia hộ cho đại nguyện của chúng con sớm đạt thành và nguyện cầu cho thế giới được hòa bình nhân sinh an lạc, vạn sự kiết tường như ý.

 

Kính Nguyện 

( Bộ mới số 20  (Tháng 4.1984)

 

Cách xưng hô trong chùa

Có nhiều người Phật Tử đi chùa lâu năm; nhưng cách xưng hô vẫn chưa hiểu rõ. Hôm nay chúng tôi sẽ viết về vấn đề này một cách rõ ràng, để quý vị lãm tường và cố gắng thực hiện cho thêm phần công đức lợi lạc trong cuộc sống đạo của mình.

Thông thường ở ngoài đời mình kính trọng ai hay có những cử chỉ kính, nể, sợ và khi mình khinh khi ai có những cử chỉ trái ngược lại. Trong hai chữ trọng khinh cũng đã hàm chứa rõ ý nghĩa của nó rồi. Trọng nghĩa là nặng chồng chất lên. Khinh có nghĩa là nhẹ hoặc là riêng rẻ. Và hai chữ xưng cũng như cũng đã hình dung cho chúng ta biết được rằng có người trên kẻ dưới và người dưới đối với kẻ trên. Ở ngoài xã hội đã thế, trong chùa cũng có lối xưng hô tương đối khá đặc biệt hơn. Chúng tôi sẽ lần lượt trình bày như sau:

 

A/ Giới xuất gia đối với người xuất gia

Người xuất gia là người đã rời bỏ gia đình, bà con thân thuộc, vào chùa để sống một cuộc sống đạo hạnh. Xem công danh, địa vị nhẹ tợ hồng mao. Nhưng không có nghĩa là không có trên dưới phân minh. Vì trong luật cảnh sách có dạy rằng: "Bất kính thượng trung hạ tọa, như Bà La Môn tụ hội vấn thù". Nghĩa là kẻ nào không biết kính trên, nhường dưới và kẻ giữa mình, cũng giống như những người Bà La Môn ngồi nói chuyện phiếm. Vì thế, việc xưng hô ở đây không còn là giai cấp nữa, mà là một tôn ti trật tự trong cuộc sống hằng ngày.

a) Người lớn tuổi đạo với kẻ nhỏ tuổi đạo

Tuổi đạo ở đây được căn cứ theo công đức tu hành trong các phẩm vị Hòa Thượng, Thượng Tọa, Đại Đức, Sa Di và Chú Tiểu.

Người lớn tuổi đạo được ngồi trước và ngồi trên hay gọi người dưới mình bằng tên hoặc bằng cấp bậc. Đôi khi vị Hòa Thượng gọi một Thượng Tọa bằng Thầy hoặc pháp danh của vị ấy và vị Thượng Tọa gọi vị Đại Đức, vị Đại Đức gọi Sa Di cũng vậy. Người lớn tuổi đời; nhưng nhỏ tuổi đạo, vẫn phải xếp theo thứ lớp trong chùa chứ không như ngoài thế tục được.

Một vị Hòa Thượng khi nói chuyện với người dưới thường hay xưng tôi hoặc chúng tôi. Có nhiều người thắc mắc tại sao chỉ có một người mà hay thấy quý Thầy xưng là "chúng tôi". Vì lẽ rằng Đạo Phật là Đạo diệt ngã. Ở Đời người ta bị khổ đau vì cái "ta" nhiều quá. Nên xưng "chúng tôi" cũng có nghĩa là có ý san bằng cái ngã tự kỷ của mình với ý niệm diệt ngã trong Đạo Phật. Hoặc xưng "chúng tôi" cũng có nghĩa là nhún nhường. Có nhiều vị Thượng Tọa xưng là bần Tăng đối với người dưới hoặc ngay đối với kẻ trên, để chỉ cái nhỏ bé của mình đối với kẻ khác.

b) Người nhỏ tuổi đạo đối với những vị lớn tuổi đạo

Chú Tiểu thường xưng với vị Sa Di là con. Vị Sa Di mỗi khi trình lên với vị Đại Đức một việc gì cũng thường hay "bạch Thầy" và "xưng con". Cũng có nhiều vị Đại Đức đối với các vị Thượng Tọa cũng bạch Thầy, xưng con vậy. Lắm khi nhiều vị Thượng Tọa được Phật Tử nể kính tôn sùng; nhưng khi về lại chùa xưa gặp vị Hòa Thượng Bổn Sư của mình, ngoài việc bạch Thầy, xưng con ra còn phải đảnh lễ nhiều lần như thế nữa, để tỏ tình Sư Đệ. Điều này cho chúng ta thấy rằng dầu người đệ tử của mình có trở thành một vị Thầy như thế nào đi chăng nữa, đối với Thầy Tổ của mình vẫn cung kính như xưa; không vì phẩm vị mà quên đi đạo nghĩa của ân sư.

Có nhiều người mới thọ giới hôm trước, ngày sau đã đắp y đội mũ xưng mình là một bậc Tỳ Kheo trong thiên hạ, không hổ thẹn lắm ru !! Hoặc hiêu hiêu tực đắc cống cao ngã mạng xem người trên kẻ dưới chẳng ai bằng. Vì thế Đức Phật thường hay chế giới ra là để răn cấm những người phá giới.

 

B/ người xuất gia đối với các vị tại gia cư sĩ

Được gọi là một cận sự nam hay một cận sự nữ khi nào người Phật Tử đó đã quy y Tam Bảo và thọ trì ngũ giới hoặc Bồ Tát giới tại gia. Khi quy y, mỗi người Phật Tử có một vị Thầy truyền giới cho mình. Vị ấy gọi là Thầy Bổn Sư. Tức là vị Thầy chính của mình. Trong gia đình, con cái đối với cha mẹ như thế nào; ở cửa Đạo, người Phật Tử tại gia cũng kính trọng Thầy Bổn Sư của mình như thế ấy. Vị Thầy của mình quy y cũng giống như là một vị hướng dẫn tinh thần của mình trong cửa đạo vậy. Vì lẽ ấy nên giữa tình nghĩa Thầy đối với đệ tử cũng như đệ tử đối với Thầy được phân định như sau :

 

a) Các vị xuất gia xưng với các đệ tử

Đệ tử ở đây có thể kể cả hai giới xuất gia lẫn tại gia. Ít có Thầy nào tự xưng mình là Hòa Thượng, Thượng Tọa hoặc Đại Đức, mà những phẩm này do người dưới vì sự kính cẩn nên mới xưng tụng. Nếu có chăng đi nữa ở chỗ tâm tình, vị Thầy thường hay xưng với đệ tử của mình là "Thầy" hoặc "tôi" v.v... và vị Thầy đó gọi các vị Cư sĩ tại gia bằng tên, pháp danh, Đạo Hữu hoặc Phật Tử v.v... Ví dụ một vị Thầy muốn gọi đệ tử của mình thường hay nói như thế này:

"Nầy Hạnh Tâm! lại đây Thầy nhờ cái này một chút".

Hoặc "Như Nguyện! Thầy muốn nhờ con đi mua dùm cái nầy cho Thầy một chút v.v... Nếu vị đệ tử ấy lớn tuổi đời hơn mình, vì lối xã giao thông thường hằng ngày nên gọi là anh, chị hay Bác v.v... để phù hợp với các xưng hô của thế trần. Nhưng nếu gọi đúng phải gọi là Đạo Hữu, Phật Tử hoặc Pháp danh là hay hơn cả.

b) Các vị tại gia Cư sĩ xưng hô với quý vị xuất gia

Trường hợp này có nhiều vấn để để viết nơi đây. Có nhiều vị Cư sĩ khi gặp một vị Thầy, vị Thầy này có thể lớn hoặc nhỏ tuổi, đạo hạnh hay bình thường, hay xưng bằng "tôi", "con", "cháu" v.v... Có nhiều trường hợp xưng bằng "em" nghe cũng ngộ nghĩnh và người nghe cảm thấy hơi nực cười.

Tại vì sao người Phật Tử xưng "tôi" đối với một vị Thầy?

- Có thể vì họ chưa hiểu đạo. Hoặc vì họ nghĩ rằng họ lớn hoặc bằng tuổi với vị Tu sĩ kia. Nhưng nghĩ như thế là lầm. Vì mình tuổi đời lớn, chứ tuổi đạo có lớn đâu. Người nhỏ tuổi nhưng kiếp này đã tu trước mình, có nghĩa là kiếp trước họ đã tu và kiếp này họ đang tiếp tục. Còn mình mặc dầu đương lớn tuổi; nhưng chưa có duyên với Phật Pháp, nên vẫn là kẻ đi sau. Tuy lớn nhưng mà nhỏ.

Trong kinh Pháp Hoa có nói rằng: "Có người trăm tuổi chỉ là một gã thanh niên bảo đây là cha ta và người thanh niên kia chỉ người trăm tuổi bảo đây quả thật là con ta. Cha trẻ mà con già". Đây là ý nghĩa đã trình bày như trên vậy.

- Hoặc cũng có thể người Phật Tử tự cảm thấy rằng mình có địa vị hơn, giàu có hơn, học thức hơn, nên xưng tôi cũng không có gì khó coi lắm.

Địa vị, giàu có và học thức là chuyện của thế gian. Còn người tu tất cả phải xem đời là vô thường mộng ảo, đối với họ đâu có gì quý báu ngoài giá trị của chơn tâm !

Tại sao người Phật Tử thường hay xưng con với một vị Tăng Sĩ?

- Có thể đây là những người đi chùa lâu năm và hiểu đạo. Có nhiều cụ già 70 tuổi; nhưng gặp một vị Đại Đức trẻ vẫn bạch Thầy, xưng con ngọt xớt, đôi khi làm cho vị tân Đại Đức ấy cũng ngại ngùng. Thế nhưng ở đây có 2 điều lợi:

- Điều thứ nhất - người tự xưng có thể dẹp bỏ tự ái, cống cao ngã mạng của mình.

- Điều thứ hai - người được xưng tụng phải xấu hổ mà cố gắng tu hành. Nếu không lo tu, các công đức đều bị mất dần hết.

Có nhiều vị Phật Tử còn lạy các vị Tăng nữa. Ở đây cũng có hai vấn đề được đặt ra :

- Vấn đề thứ nhất - vì cung kính đức hạnh của vị Tăng mà lạy. Khi lạy, người Phật Tử dẹp được các tự ái ngã mạng của mình.

- Vấn đề thứ hai được đặt ra là: Vị Tăng ấy có xứng đáng cho mình lạy không? - Có lẽ những người Phật Tử vì quan niệm rằng vị Tăng ấy xứng đáng nên mình mới lạy. Nhưng xứng đáng hay không - phần người lạy được thêm phước; kẻ bị lạy, mất đức rất nhiều; nếu đức của vị Tăng ấy có. Nếu vị Tăng đó không có đức thì đức đó bị giảm dần và đôi khi còn bị trừ đi nữa là khác. Do đó dầu ở bất cứ trường hợp nào, người lạy vẫn có phước mà kẻ bị lạy bị hao tổn phước đức rất nhiều. Vì thế cần phải tu hành tinh tấn nhiều hơn nữa. Trong luật cũng có dạy rằng một vị Sư Bà khi gặp một vị tân Đại Đức cũng phải cung kính như bậc Thầy của mình. Do đó, một Cư sĩ tại gia đối với một người xuất gia xưng bằng "con" là một điều đúng hơn cả. Con ở đây là con tinh thần của các vị Tăng Sĩ vậy.

Tại sao có nhiều vị Cư Sĩ gặp quý Thầy, quý Sư Cô xưng bằng cháu hoặc em?

- Vì họ nghĩ rằng mình đáng vai cháu hoặc em của các vị Thầy này. Nghĩ như thế là nghĩ theo thế gian pháp. Phật pháp không như thế gian pháp được.

Nếu xưng em mà một vị Cư sĩ nam đối với một vị Tăng sĩ nghe còn tạm được, mặc dầu hơi chướng tai. Nhưng nếu là một nữ thí chủ mà xưng "em" với một vị Thầy thì nên coi chừng sẽ bị tai tiếng hoặc sự dòm ngó bên ngoài.

Có nhiều bà xưng với Sư Cô hoặc Sư Bà bằng em - điều này có thể tạm được. Nhưng nếu các vị Cư sĩ nam không lẽ xưng với Sư Cô bằng anh hay Bác sao? Do đó xưng "con" vẫn là hay hơn cả.

Có nhiều người Phật Tử trước mặt thì bạch Thầy xưng con; nhưng lúc không có mặt vị Thầy đó thường hay gọi là ông Hạnh Tâm, ông Hạnh Đức v.v... làm như thế là tự mình dối lòng mình rồi. Có mặt Thầy cũng như sau lưng Thầy nên gọi bằng Thầy. Có nhiều người kính trọng Thầy, ít gọi tên Thầy mà hay gọi tên của chùa Thầy ấy trụ trì. Ví dụ như Thầy Vạn Đức hay Ôn Chúc Thánh v.v... Có nhiều người còn gọi ông Thầy Tâm Đức, ông Thầy Vạn Phước v.v... Đây là cung cách gọi của những người chưa hiểu đạo. Nếu gọi bằng "ông Thầy", có lẽ phải có thêm "Bà Thầy" mới đúng. "Bà Thầy" ở Việt Nam chưa có, nhưng ở Nhựt thì đã có từ lâu. Vô hình chung các Phật Tử Việt Nam đã đồng hóa Thầy của mình mà không biết. Hoặc có nhiều người lúc cung kính thì bạch Thầy xưng con ngọt xớt; nhưng khi có chuyện gì thì xắn quần quá gối đứng trước cửa chùa chửi vô "cái thằng cha Thầy chùa đó thế này thế nọ" hoặc "Sư gì như Sư hổ mang" hoặc "Tế Điên Hòa Thượng" v.v... Điều đó chứng tỏ được khả năng hiểu đạo của họ khá nhiều rồi. Viết đến đây sực nhớ một câu chuyện ngày xưa khi Đức Phật còn tại thế như sau:

"Có một người Bà La Môn vì ganh ghét với Đức Phật, nên ngày nào cũng đến nơi Đức Phật ở để chửi rủa Ngài rất thậm tệ, đến khi sức mỏi lực hao Đức Phật vẫn không có một thái độ nào cả. Người Bà La Môn kia mới hỏi Đức Phật rằng:

- Bộ ông là gỗ đá sao mà tôi chửi ông không biết hổ thẹn?

- Đức Phật hỏi lại rằng: "Nếu nhà ngươi có đám giỗ, làm cỗ thật nhiều, sau khi giỗ xong, mang cỗ ấy đến biếu người hàng xóm. Nếu người hàng xóm ấy từ chối. Vậy mâm cỗ ấy về ai?

- Người Bà La Môn kia trả lời rằng: "Thì về người cho mâm cỗ chứ về ai nữa".

- Đức Phật mới dạy rằng: "Ở đây cũng thế đó. Lâu nay ngươi đến đây chửi ta; nhưng ta không nhận. Vậy xin trả lại cho ngươi đó".

Người Bà La Môn ấy xấu hổ ra về".

Việc học đạo và tu theo đạo Phật là vậy đó. Mình đi chửi người hoặc xem thường người, chính tâm ta và miệng ta dơ bẩn trước; trong khi người khác vẫn còn trong sạch. Nên để ý lắm thay !

Có một vị Thiền sư Nhật Bản thế kỷ thứ 13 có dạy đệ tử của Ngài rằng: "Ngươi học đạo phải nên thận trọng, Thái độ của mình lúc tiếp khách như thế nào thì khi ở trong phòng riêng của mình cũng như thế ấy". Câu nói tuy đơn giản nhưng ý nghĩa biết dường nào, chúng ta nên xem kỹ lại. Vì thế cho nên lúc có Thầy cũng như khi không có Thầy, lúc nào cũng xem giống nhau, không nên thiên lệch mà tổn phước cho chính thân mình.

c) Các vị Phật Tử tại gia đối với các vị Phật Tử tại gia

Ở đời thường hay gọi Cụ, Ông, Bà, Chú, Bác, Cô, Dì, Anh, Chị, Em v.v... nhưng khi vào chùa nên gọi bằng pháp danh với nhau có lẽ dễ nghe hơn. Cũng có thể gọi nhau bằng anh, bằng chị - nhưng là anh Nguyên Giác, chị Diệu Mỹ v.v... nghe nó có vẻ Thiền vị nhiều hơn là ông này bà kia.

Có nhiều chùa còn nghe ông bà Đại Tá, ông bà Đại Sứ, ông Kỹ Sư v.v... nhưng khoe khoang như thế để làm gì. Đó chẳng qua là nhãn hiệu của phù trần, đâu có cần thiết gì trong cửa đạo. Vì chuyện của thế gian là chuyện của khổ đau tục lụy. Chuyện của Thiền môn là chuyện của giải thoát nhiệm mầu. Khi vào chùa chúng ta nên cởi bỏ những nhãn hiệu ấy đi và nên để ngoài cổng chùa cho Thiền môn được yên tĩnh.

Trong chùa hai danh từ thường hay được gọi là Đạo Hữu hoặc Phật Tử. Đạo Hữu là những người bạn cùng trong một Đạo với nhau. Phật Tử là những người con của Đức Phật. Dùng danh từ nào cũng đúng nghĩa cả. Nhưng thông thường danh từ Đạo Hữu có vẻ "già" và "đạo mạo" hơn nên để dành cho những vị lớn tuổi. Danh từ Phật Tử có vẻ trẻ trung nên để gọi nhau với những người trẻ.

Trên đây là một số danh từ thông thường trong cách xưng hô ở chùa. Chúng tôi viết lên đây chỉ nhằm mục đích xây dựng đạo, không có ý chỉ trích ai, hoặc khuyên bảo điều gì. Nếu quý vị Phật Tử tại gia thấy cần thiết thì nên chấp nhận. Nếu thấy không hợp thời, không hợp cơ cũng chẳng có sao. Vì Đạo Phật là Đạo Tự Giác. Không có quyền năng gì để đi ép buộc người khác phải theo mình. Nếu có chăng, trong tinh thần tự độ và độ tha mà thôi.

Chúng tôi quan niệm rằng: "Sự thật bao giờ cũng là sự thật"; nên không ngại viết ra những dòng này để xây dựng một vài khuyết điểm nếu đã, đương và sẽ có trong cửa Thiền. Cũng sẽ có nhiều vị chống đối chúng tôi. Vì chúng tôi đã viết lên sự thật. Nhưng người viết bài này không còn cách nào hơn là phải chấp nhận sự thật vậy. Dù cho sự thật ấy có phũ phàng cay đắng. Biết mà không nói không phải là người có tâm, vì tha nhân mà nói mà không biết quả là người chưa biết bơi mà đã tự đi cứu người. Do đó, nếu bài này có đến mắt quý độc giả, Phật Tử cũng như không Phật Tử; người Đạo Phật cũng như kẻ Đạo khác xem đây như là một đóng góp chung nho nhỏ trong sứ mạng truyền giáo và hộ giáo của Tăng cũng như của Tục trong cuộc sống tha hương nơi hải ngoại ngày nay.

 

MONTRÉAL - Đầu Đông năm Giáp Tý 1984 

( Bộ mới số 24  (Tháng 12.198

 

Vấn đề tu học của người Phật Tử

 

Đã từ lâu vấn đề này được nhắc đi nhắc lại nhiều lần và hôm nay chúng tôi đặt lại vấn đề này cho việc tu và học của người Phật Tử cũng không ngoài mục đích là làm cho sự hiểu đạo cũng như sự hành đạo càng ngày càng được thấm nhuần và hữu ích nhiều hơn.

Có nhiều người Phật Tử đi chùa thật lâu năm biết lễ Phật, biết tụng kinh, biết cúng dường chư Tăng, biết giúp đỡ kẻ khác v.v... nhưng ít ai hiểu trọn vẹn của ý nghĩa trên một cách rốt ráo; đúng theo chơn tinh thần của Đạo Phật, mà hay hiểu theo sở học hoặc quan niệm chủ quan của mình về một vấn đề hoặc về một việc làm gì.

Cũng có người bảo "vì chẳng ai dạy ai cả, xưa làm sao nay làm vậy; nên họ làm". Điều đó cũng không sai. Vì lâu nay có nhiều người  làm theo thói quen, tập quán hoặc tục lệ; chỉ chú trọng phần thực hành mà quên đi ý nghĩa của nó. Vả lại Đạo Phật không những chỉ lễ bái nguyện cầu không chưa đủ mà cần phải hiểu rõ mục đích của sự lễ bái và sự lợi ích của vấn đề tu và học Phật Pháp mới là điều quan trọng của người học Phật. Vì Đức Phật dạy rằng: "Tu mà không học là tu mù. Học mà không tu là đãy sách". Kẻ chỉ biết thực hành, không biết phương pháp tu ví như người mù sờ voi. Người chỉ biết thao thao bất tuyệt, không thực hành giáo lý cũng không hơn gì một cái túi đựng sách. Vấn đề tu và học ở đây không những cho người Phật Tử tại gia mà cả cho người xuất gia nữa. Nếu người Phật Tử tại gia không hiểu mà người xuất gia không chỉ vẽ thì quả là điều thiết sót rất tai hại cho Phật Pháp. Hoặc cũng có lắm khi người tại gia hiểu Phật Pháp quá rành sanh tâm cống cao ngã mạn xem chư Tăng chẳng ra gì; nên mới có câu "quy y Phật, quy y Pháp và chẳng quy y Tăng". Hoặc giả "kinh điển không cần tụng đọc, vì làm như thế hao sức tổn thần". Những người nói như vậy có thể là những kẻ đã quá liễu ngộ Phật Pháp, không cần đến phương tiện nữa; nhưng cũng có thể là những người đi sai đường đạo. Vì bao giờ cũng phải cần cái giả mới tìm đến cái chơn. Nếu không có thân này, lấy gì để giác ngộ?

Những hiện tượng hiểu đạo một cách lờ mờ hoặc chủ quan tự đắc đều gây nên một số tai hại cho Đạo. Đạo Phật không chủ trương bành trướng mạnh trong khi nội dung tu học chẳng có gì. Cũng vì vậy cho nên chư Tăng cứ mỗi năm 9 tháng tha phương hành đạo, 3 tháng phải đóng cửa tu hành, trì giới, giữ luật nghiêm minh để phần nội tâm mình được phong phú; có như thế việc hành đạo mới có hiệu quả. Nếu không, kết quả chẳng khả quan chút nào mà còn khổ nhọc đến cả thân lẫn tâm nữa. Vấn đề này đã được Đức Phật và chư Tổ Sư vẫn thường hay huấn dạy từ đời này qua đời khác. Cho đến ngày nay vẫn còn có giá trị.

Ngày nay một số kinh sách đã được in lại rất nhiều ở ngoại quốc; nhưng có rất ít người chịu nghiên cứu. Có nhiều người đến chùa thỉnh kinh về nhà, mang lên bàn Phật thờ cho có phước; chẳng chịu tụng đọc hoặc nghiên cứu hành trì. Đọc và tụng một bài kinh bao giờ cũng khó hơn xem một quyển tiểu thuyết hoặc một chuyện chưởng. Vì kinh kệ quá khô khan không có gì hấp dẫn bằng những loại trên. Nhưng thử hỏi, nếu vật thực hằng ngày chúng ta chỉ dùng toàn loại mềm, hoặc cứng, hoặc chua, hoặc ngọt thì cũng không đủ cho các cơ quan tiêu hóa và tuần hoàn làm việc mà phải cần có đủ mọi thứ cho sự phát triển của con người. Thì món ăn tinh thần cũng phải vậy, có thứ khó, thứ dễ mới dung hòa được đời sống tâm linh của mình. Có nhiều người bảo "đọc kinh chẳng hiểu và chùa thì xa phải làm thế nào?" - Thật sự ra câu trả lời có trăm phương ngàn lối; nhưng tựu chung nếu người có tâm thì vạn sự tất thành; chẳng luận việc đời hay việc đạo.

Ngày nay vì hoàn cảnh ly hương, mỗi người một nẻo. Việc tu học cũng không đơn thuần như khi còn ở quê nhà. Ngay cả việc chư Tăng một năm đóng cửa 3 tháng tu hành, an cư kiết hạ cũng không phải là chuyện dễ dàng. Vì ngày nay mỗi Thầy hầu như lo mỗi chùa và công việc Phật sự đều tập trung vào chùa đó; nếu chùa đó không có những người hộ đạo trực tiếp lo việc hương đăng, tiếp khách thập phương thì vị trụ trì đó khó có thể tạo cho mình một khoảng thời gian tự do trong 3 tháng để lo việc tu hành và xây dựng đạo hạnh; mà phải phương tiện. Nghĩa là vẫn an cư kiết hạ nhưng vẫn tiếp khách thập phương và du phương hóa độ.

Cũng vì ý thức được việc khó khăn của Phật Tử và vấn đề giới luật rất quan trọng đối với người tu hành nên năm vừa qua chúng tôi đã tổ chức An Cư Kiết Hạ trong vòng 3 tháng từ Rằm Tháng Tư cho đến Rằm Tháng Bảy thấy có nhiều kết quả rất khả quan. Đã đào tạo được một Ban Nghi Lễ vững vàng cho các Phật Tử tại gia và việc học hỏi giáo lý cũng như Thọ Bát Quan Trai hàng tuần trong 3 tháng hạ đã mang lại một sinh khí tốt đẹp trong việc tu hành. Chỉ có việc chúng tôi không nghe và không gọi điện thoại, mặc dầu từ đâu gọi đến đã làm cho nhiều người phật ý; nhưng xin quý vị cũng thông cảm cho chúng tôi về hoàn cảnh đặc biệt đó.

Nói đóng cửa không có nghĩa là chùa không tiếp ai hết, mà có nghĩa là giới hạn trong mọi công việc như 9 tháng khác trong năm, chỉ chuyên chú tu trì và hành đạo mà thôi. Cũng nhờ như vậy nên trong mùa An Cư Kiết Hạ vừa qua chúng tôi đã hoàn thành được 2 quyển sách trong một lúc. Từ kết quả đó, nên năm nay chùa Viên Giác cũng quyết định an cư như năm trước. Ngày nhập hạ đúng ra là Rằm Tháng Tư tức 3.6.1985; nhưng lúc ấy chúng tôi vẫn còn ở Úc. Sẽ làm lễ tại đó và sau khi về Đức trong suốt cả tháng 6.1985 dương lịch phải đi tham dự các Lễ Phật Đản ở các nơi trong những ngày cuối tuần để trợ lực cho quý Thầy khác tại Âu Châu.

Tuy nhiên công việc tu hành hàng ngày tại chùa vẫn tiến hành như thời khóa đã định. Nghĩa là 5 giờ thức dậy. Ngồi thiền từ 5 giờ 30 đến 6 giờ. Sau đó tụng kinh và kinh hành nhiễu Phật đến 7 giờ. Từ 7 giờ đến 8 giờ đọc sách hoặc chấp tác. 8 giờ dùng sáng. Từ 9 giờ đến 12 giờ học tập giáo lý hoặc phiên dịch kinh sách. Lễ quá đường kinh hành nhiễu Phật bắt đầu lúc 12 giờ đến 1 giờ. Từ 1 giờ đến 2 giờ là giờ chỉ tịnh. Từ 3 giờ đến 6 giờ chiều được thực hành như buổi sáng. 7 giờ tối dùng cháo. Đến 8 giờ khóa lễ Tịnh Độ. 10 giờ ngồi Thiền đến 10 giờ rưỡi là chỉ tịnh.

Trong tháng 6/85 không có Thọ Bát Quan Trai vào cuối tuần. Bắt đầu từ 1.7.85 tức 14 tháng 5 âm lịch đến 16 tháng 7 âm lịch từ 31.8.85 chúng tôi sẽ áp dụng chương trình tu học như năm trước. Cứ mỗi cuối tuần đều có Thọ Bát Quan Trai, học tập giáo lý và những ngày trong tuần tổ chức những khóa giáo lý đặc biệt cho các Phật Tử ở gần chùa. Từ 22 đến 28 tháng 7 năm 1985 suốt cả tuần lễ này sẽ tổ chức một khóa giáo lý cấp tốc cho những vị Phật Tử ở xa không có cơ hội về chùa thường, sẽ học và ở lại chùa tu tập trong thời gian một tuần lễ. Sau đó sẽ có thi tốt nghiệp và sẽ có một căn bản vững vàng về giáo lý không luận là ai và ở đâu. Nếu quý vị nào muốn đều có thể ghi danh về chùa tham dự khóa tu học Phật Pháp này. Quý vị Phật Tử tại gia suốt trong một tuần lễ này sẽ sống như một người xuất gia thanh thoát tự tại. Nếu quý vị nào có ý nguyện trên xin dàn xếp công việc nhà ngay từ bây giờ để có thể tham gia được khóa học này.

Đức Phật vẫn dạy rằng: "Cuộc đời là vô thường nhưng sự chết là chắc chắn". Sự chết sẽ không đợi chờ người trẻ hay kẻ già. Vậy có được cơ hội nào chúng ta nên lợi dụng cơ hội ấy để tu học và tìm đường giải thoát cho chính mình cũng như cho thân nhân và bằng hữu.

Mặc dầu đời sống ở ngoại quốc không biết bao nhiêu là thứ trói buộc; nhưng nếu chúng ta biết cởi bỏ sự ràng buộc đó cũng chẳng phải là khó. Nếu chúng ta quyết tâm thực hiện. Với biển Phật Pháp rộng bao la vô tận so với một tuần lễ chẳng thấm vào đâu; nhưng vẫn còn hơn là không thực hành gì cả với một cuộc đời sáu hay bảy mươi năm cũng sẽ trôi qua một cách vô ích nếu chúng ta không biết quay về với Đạo.

Đây cũng là cơ hội cho người xuất gia cũng như tại gia hành trì trong 3 tháng hạ. Vậy kính mong chư Tăng, chư thiện tín và quý vị Đàn Na Thí Chủ xa gần hưởng ứng và hỗ trợ cho để công việc Phật sự trên được thành công viên mãn.

Mong rằng với đạo tâm sẵn có của quý Phật Tử xa gần, quý vị sẽ lưu ý và phát tâm học, hành đạo cũng như trợ duyên cho vấn đề này để công việc tu học của chính mình có kết quả tốt đẹp.

Nguyện cầu Tam Bảo gia hộ cho tất cả chúng ta có đủ thắng duyên để thực hiện việc tu và học Phật Pháp trong mùa An Cư Kiết Hạ năm 2529 này. 

Nam Mô Thường Tinh Tấn Bồ Tát Ma Ha Tát

( Bộ Mới số 26  (Tháng 4.1985)

 

Sự tích cây nêu ngày Tết 

Không biết bắt nguồn từ thuở nào mà tục lệ dựng nêu vào ngày Tết đã được người dân Việt chúng ta truyền đạt từ đời này qua đời khác và cũng không biết từ bao giờ tục lệ này đã được chấm dứt tại Việt Nam, mà ngày nay các thế hệ trẻ lớn lên được biết câu chuyện này như là một chuyện thần thoại.

Ngày xửa ngày xưa khi loài người còn độ sơ khai, loài quỷ thường tác yêu tác quái trong thế gian này. Loài người phải ở tận ngoài biển đông và phải đi làm thuê làm mướn cho loài quỷ trong đất liền để sinh sống qua ngày.

Loài quỷ làm chủ ruộng đất, còn loài người chỉ biết làm thuê. Do đó loài quỷ có đặt ra yêu sách nào thì loài người cũng phải cắn răng chịu đựng thi hành, để có được một ít lợi tức về nuôi gia đình và bản thân mình.

Một năm nọ loài người trồng lúa rất được mùa. Loài quỷ ra một điều lệ "năm nay ăn ngọn bỏ gốc". Thế là mùa gặt năm đó quỷ no mà loài người chỉ gặt về nhà mình là gốc rạ, nên đói khổ, rên la thảm thiết. Tiếng than khóc và sự kêu cầu của loài người của loài người đã động đến lòng thương của Đức Phật ở cõi Tây Phương. Nên năm ấy Ngài dặn loài người rằng: "Năm nay các ngươi hãy trồng khoai lang thì loài quỷ sẽ đói". Nghe lời dạy ấy, loài người trồng khoai lang.

Loài quỷ vì bản tánh gian tham và vô trí, những tưởng rằng năm nay cũng thành công như năm trước nên ra luật là cũng "ăn ngọn bỏ gốc". Nào ngờ năm ấy loài quỷ chỉ đem về nhà toàn là lá khoai, còn loài người thì cơm no áo ấm. Gia đình loài quỷ năm ấy đói khát, kêu trời cũng chẳng thấu nên tức giận vô cùng và nghĩ rằng năm sau loài người không trồng lúa cũng trồng khoai nên ra một luật mới là "loài quỷ sẽ ăn cả ngọn lẫn gốc".

Qua kinh nghiệm những lần trước loài người chưa biết tính sao thì Đức Phật hiện ra để chỉ dạy cho loài người. "Năm nay các ngươi nên trồng loại bắp". Bắp năm ấy rất được mùa. Thế là gia tộc loài quỷ lại một phen bị đói nữa. Vì chủ mưu ăn cả ngọn lẫn gốc, nên loài quỷ chỉ gặt toàn là bông bắp và rễ bắp. Còn loài người mang về nhà mình toàn là những trái bắp to tướng. Nhà nhà vui vẻ hoan ca với thắng lợi của chính con người được làm chủ lấy.

Loài quỷ biết rằng chính Đức Phật ở phương Tây đã giúp cho loài người thành công như vậy nên tức giận, cả dòng họ nhà quỷ hiện về Tây Phương để kiện với Phật. Loài quỷ đòi nghênh chiến với loài người - điều ấy Đức Phật không muốn; nhưng loài quỷ vẫn một mực yêu cầu. Đầu tiên loài quỷ hỏi Đức Phật là loài người sợ cái gì nhất. Đức Phật phương tiện trả lời rằng: "loài người sợ rau cỏ và chuối cũng như những loài thảo mộc nhất" và nhân cơ hội này Đức Phật cũng hỏi loài quỷ sợ cái gì nhất. Chúng trả lời rằng: chúng sợ vôi bột, mũi tên và tiếng động của âm thanh nhất. 

Sau khi nghe Đức Phật trả lời như thế bà con dòng họ nhà quỷ mang chuối, rau qua tấn công loài người. Nào ngờ đâu đây là những món thực dụng, nên loài người thâu tóm hết, còn loài quỷ bị loài người dùng cung tên có tẩm vôi bột và cột vào đó các loại kim khí tạo nên âm thanh để bắn vào loài quỷ, chúng chạy tứ tán ra đến biển đông. Dòng họ nhà quỷ phen này đại bại.

Lúc bấy giờ dòng họ nhà quỷ cũng chẳng chịu thua và lên Tây Phương kiện với Đức Phật, báo hiệu rằng chúng sẽ lấy lại hết đất của loài người và không cho loài người làm mướn nữa. Đức Phật động mối từ tâm. Nếu phen này mà loài người không có đất để làm mướn thì làm sao có thể sống được. Do đó Đức Phật mới đề nghị rằng: "các ngươi nên cho loài người thuê đất để ở, chỉ bằng trong mảnh pháp y của ta thôi". Ban đầu loài quỷ không chịu, vì còn tức giận loài người. Nhưng sau loài quỷ nghĩ lại và bảo rằng: "tưởng to lớn, chứ đất bằng một chiếc y của Đức Phật thì loài quỷ đồng ý cho mướn".

Sau khi chiêu dụ được diệu kế ấy rồi, Đức Phật dạy loài người nên trồng một cây tre thật cao và trên ngọn tre ấy có cột chiếc pháp y của Ngài. Chiếc y thông thường chỉ rộng độ 2 thước thôi; nhưng sau khi dựng nêu lên, nhờ thần lực biến hóa của Đức Phật nên bóng chiếc y của Đức Phật tỏa rộng ra khắp sơn hà đại địa, năm châu bốn bể, dần dần trùm khắp cõi Ta Bà này. Loài quỷ không còn chỗ ở nữa, nên phải lánh ra ngoài biển đông. Nhưng vì lỡ hứa với Đức Phật là dưới bóng y của Đức Phật là giang sơn của loài người; nên loài quỷ đã chịu thua diệu kế ấy. Nhưng cuối cùng loài quỷ cũng yêu cầu Đức Phật như sau: 

"Vì mồ mả của dòng họ nhà quỷ đã chôn trong đất liền, nên mỗi năm vào những ngày Tết xin phép Đức Phật được vào đất liền để thăm mồ mả ông bà của chúng. Đức Phật không nỡ làm ngơ mà không chấp thuận lời đề nghị hữu lý ấy. Nên đã chấp thuận. Nhưng sợ loài người vì lơ đễnh vui say trong những ngày Tết, mới dạy cho loài người trước mỗi cửa nhà nên dựng một cây nêu; trên cây nêu ấy treo những linh khí tạo thành âm thanh để xua đuổi dòng họ nhà quỷ. Đồng thời chung quanh nhà ở của loài người phải rắc vôi bột để cho quỷ khỏi xâm nhập vào địa phận của loài người. Ngoài ra còn vẽ một mũi tên hướng về hướng Đông, trên mũi tên ấy có rải chất vôi để xua đuổi loài quỷ.

Kể từ đó tục lệ dựng nêu trước ngõ vào dịp ngày Tết đã được thực hiện, trong đó có người Việt Nam chúng ta. Nhưng ngày nay tục lệ này người mình không còn thực hiện nữa, có lẽ vì thế, nên quỷ lại hiện hành trên quê hương yêu dấu của chúng ta chăng?

Nhân ngày Xuân nơi đất khách để nhắc lại một vài phong tục đẹp cũng như những chuyện xưa tích cũ của Việt Nam chúng ta, chúng tôi xin ghi vội vài dòng để cống hiến bà con độc giả xa gần vậy. 

( Bộ Mới số 31  (Tháng 2.1986)

 

Vu Lan trong lòng Dân Tộc

Đạo Phật đã du nhập vào Việt Nam gần 18 thế kỷ qua; nên đã góp mặt rất nhiều trong mọi sinh hoạt của quần chúng cũng như của Phật Tử. Từ các phong tục, tập quán, văn học, nghệ thuật, triết lý v.v... đâu đâu cũng có ảnh hưởng tinh thần của Phật Giáo. Do đó chúng ta có thể nhận định rằng: Tuy Phật Giáo cũng đã được truyền vào Việt Nam qua ngả Trung Hoa và Ấn Độ; nhưng đã được quần chúng Việt Nam chấp nhận tôn thờ. Nên Đạo Phật được gọi là Đạo của Dân Tộc.

Dân Tộc ta có ảnh hưởng của Khổng Mạnh rất lớn, họ chủ trương tôn thờ Quân, Sư, Phụ và Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín. Phật Giáo là đạo vừa nhập thế vừa xuất thế, nên đã dung hòa được cả bên trong lẫn bên ngoài, không chống đối những quy luật trên của Khổng Mạnh mà còn thăng hoa ở nhiều phương diện khác nữa. Do đó việc tạo dựng một thế đứng cho tôn giáo của mình trong lòng Dân Tộc không khó mấy.

Lịch sử đã chứng minh có những vị Vua cũng vừa là những vị Thiền Sư nổi tiếng. Ngược lại cũng có những vị Thiền Sư đã giúp cho Vua cho nước được an bình thịnh trị suốt cả gần mấy trăm năm. Có nhiều vị Thiền Sư khi đất nước có loạn, tình nguyện ra đi chống kẻ ngoại xâm. Lúc thanh bình trở về chùa cứ lo tu niệm. Điều đó đã nói lên sự gắn bó của Đạo Phật với Dân Tộc rất nhiều.

Phong tục và tập quán cũng thế, không có một lễ nào của Phật Giáo mà dân chúng lại thờ ơ - như Lễ Phật Đản, Vu Lan, Tết Nguyên Đán v.v... ngược lại người Phật Tử luôn luôn sẵn sàng đóng góp mọi phương diện để cho tôn giáo của mình được phát triển

Noi gương Ngài Đại Hiếu Mục Kiền Liên, như trong kinh Báo Ân Phụ Mẫu và Vu Lan bồn, Đức Phật đã dạy cho hàng tứ chúng - xuất gia cũng như tại gia - phàm làm con phải có bổn phận báo đền công ơn sanh thành dưỡng dục của cha mẹ - nên ngày Vu Lan trở thành một truyền thống tại quốc nội cũng như hải ngoại.

Ngày Vu Lan - dầu cho dân tộc ở trong lúc thịnh hay ngay cả lúc suy - khi nào cũng mang một ý nghĩa cao cả, thiêng liêng, không ai là không nhớ nghĩ đến công ơn sanh thành dưỡng dục của cha mẹ - đi chùa lễ Phật, cúng dường trai Tăng để cầu nguyện cho người còn được an lạc, kẻ thác siêu thăng về nơi nhàn cảnh. Nếu có phương tiện thì tổ chức Đại Lễ long trọng hơn. Nếu phương tiện hẹp hòi, hạn chế, thì chỉ làm trong phạm vi có thể của mình cũng được. Đạo Phật cao xa là ở chỗ ấy. To hơn núi Tu Di, hay nhỏ hơn một vi trần cũng có thể chứa đựng cả ba ngàn thế giới. Nên câu "tùy duyên nhi bất biến và bất biến nhi tùy duyên" có thể ứng dụng vào trong mọi hoàn cảnh nào của cuộc đời người Phật Tử cũng được.

Kể từ ngày Cộng Sản chiếm miền Nam Việt Nam mọi sự tự do đều bị ngăn cấm, trong đó có tự do tôn giáo là quyền tối thượng của con người cũng bị hủy bỏ nốt. Khi mới cướp được chính quyền người Cộng Sản hứa hẹn đủ điều; nhưng rốt cuộc rồi cũng chẳng có điều nào họ thực thi cả ngoài chuyện đàn áp, bắt bớ, tra tấn, tù đày v.v... Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất đã lâm vào đại nạn của Dân Tộc; chịu vinh nhục với nỗi thịnh suy của đất nước đã có không biết bao nhiêu Chư tôn Giáo phẩm và Phật Tử bị tù đày tra tấn dã man cho đến chết - như trường hợp của Cố Hòa Thượng Thích Thiện Minh, Cố Hòa Thượng Thích Trí Thủ v.v... rồi bị đày ải, an trí như trường hợp của Thượng Tọa Thích Quảng Độ, Thích Huyền Quang v.v... Mới một năm trước đây các Học giả Tu sĩ Phật Giáo như Thầy Tuệ Sỹ, Thầy Lê Mạnh Thát, Sư Cô Trí hải v.v... đã bị bắt cầm tù... rồi bị tra tấn dã man. Một nguồn tin cần cần phải được kiểm chứng của cơ quan Ân Xá Quốc Tế tại Luân Đôn mới đây đã gởi đi khắp nơi thông báo cho biết là nghe đâu Cộng Sản đã hạ lệnh án tử hình cho Đại Đức Thích Tuệ Sỹ vào cuối tháng 12 năm 1985 vừa qua. Quả thật là những hành động điên rồ của những người đang còn say men chiến thắng của 11 năm về trước - bây giờ ảo ảnh đó đâu còn nữa mà mơ! - nhưng họ tưởng là thật; nên cứ cưỡng chế và áp bức lên tôn giáo cũng như nhân dân Việt Nam. Không biết bao nhiêu vụ đập phá chùa chiền, trưng dụng các chỗ tôn nghiêm làm kho chứa thóc gạo - tượng Phật, tượng Chúa bị đập phá tan tành bất kể sự chống đối ngấm ngầm của dân chúng. Họ nghĩ rằng họ đang có sức mạnh và súng ống trong tay. Nhưng họ quên đi rằng Dân Tộc ta đã chiến thắng vẻ vang nhiều trận đánh của lịch sử không phải bằng gươm to giáo lớn mà bằng ý chí quật khởi của toàn dân. Theo quan niệm nhân quả của nhà Phật thì Cộng Sản Việt Nam sẽ không có trường hợp ngoại lệ - là gây nhân nào phải gặt quả đó. Hay gieo gió ắt phải gặt bão vậy.. Vì có những loại nhân gây ra bây giờ nhưng chưa gặt quả trong hiện tại đấy thôi - chứ trước sau gì cũng sẽ lãnh quả - ác lai, ác báo mà. Xưa nay sách vở Thánh Hiền, gương nhân quả chưa sai tí nào cả.

Trong khi đất mẹ và quê hương Việt Nam bị dằn vật đọa đày thế ấy thì ở đây cũng có những người mang danh là Phật Tử nhưng đi làm tay sai nối giáo cho giặc để đàn áp nhân dân. Chẳng khác nào ngày xưa Nguyễn Thân ở Quảng Ngãi đã theo bợ đỡ thực dân Pháp mà đào mả nhà cách mạng Phan Đình Phùng - anh hùng của Dân Tộc - lên đốt thành tro và trộn chung với thuốc súng để bắn cho tan tành thân xác của người anh hùng vì dân vì nước ấy. Cuối cùng rồi cũng bị lịch sử phỉ nhổ và nhân dân nguyền rủa những người theo giặc đó. Đời nào cũng có trung thần lo cho dân cho nước mà cũng không phải là thiếu những nịnh thần hay bợ đỡ để vinh thân phì gia. Điều đó lịch sử đã cho chúng ta thấy rõ. Ở đây có nhiều người Phật Tử, sống ở xứ tự do này cứ huênh hoang tuyên bố là ở Việt Nam đâu có bị đàn áp tôn giáo, chùa chiền đâu có bị đập phá, quý Thầy vẫn được tự do hành đạo v.v... mà họ đâu có biết rằng đó chỉ là chiêu bài lừa đảo những người nhẹ dạ không đi sâu vào sự sinh hoạt của quần chúng. Nếu tốt đẹp như thế chắc không có bỏ nước ra đi hơn cả triệu người kể từ năm 1975 cho đến nay.

Vừa đây những người nhân danh Phật Tử, nối giáo cho giặc ấy còn bày đặt kiện chùa Viên Giác và báo Viên Giác về việc nói họ là Cộng Sản, cũng như tại sao nhục mạ họ thế này, thế nọ - nhưng họ đâu có biết rằng: Đó chính là sức mạnh của nhân dân bộc phát. Không có một uy quyền nào có thể thống trị được sức mạnh của nhân dân cả. Ngày xưa Nguyễn Trãi đã khuyên vua Lê Lợi rằng: "Dân cũng giống như nước, người lãnh đạo cũng giống như chiếc thuyền. Chính nước ấy sẽ chở được thuyền đến nơi đến chốn, mà chính nước ấy cũng sẽ lật thuyền chìm". Những người đang thống trị mang sự bạo tàn để cai trị nhân dân và những kẻ nối giáo cho giặc, làm tên nịnh thần hãy nên nghe lời khuyên ấy của Nguyễn Trãi.

Họ tốn tiền đưa ra tòa kiện tờ báo Viên Giác rồi cũng chính họ bãi nại không kiện nữa. Vì bài báo đã quá thời hạn và vì một vài lý do sâu kín bên trong, họ thấy không thắng nổi những người quốc gia chống Cộng, nên lại thôi. Đó là việc làm có kế hoạch và đường lối, dọa nạt, uy hiếp rồi đến khủng bố. Đó cũng là chủ trương của Cộng Sản xưa nay mà. Họ sẽ có nhiều chiêu bài nữa; nhưng có lẽ vải thưa sẽ không che được mắt Thánh. Những ai là người trong cuộc hãy để ý đề phòng, đừng nên khinh thường những kẻ dua nịnh ấy !

Với lòng từ bi của Đức Phật có lẽ Ngài chỉ mỉm cười thôi, khi thấy trò đời thay đen đổi trắng - có lẽ Ngài cũng không cứu được ai - ngoại trừ những người đó hãy tự cứu vớt chính mình.

Gần đây các hội đoàn Đức như Christian Solidarity International ở Bonn - Organisation für bedrohte Völker ở Göttingen, Pax Christi đã gởi thơ kêu gọi các tổ chức Phật Giáo và Thiên Chúa Giáo Việt Nam hiện có mặt tại nước Đức cũng như Ủy Ban Tranh Đấu Đòi Nhân Quyền của người Việt tại hải ngoại hãy ngồi lại với nhau tổ chức một cuộc biểu tình và đọc cáo trạng lên án chính quyền Cộng Sản Việt Nam đã bắt giam các vị lãnh đạo tinh thần của tôn giáo như Thượng Tọa Thích Quảng Độ, Thượng Tọa Thích Huyền Quang, Đại Đức Tuệ Sỹ, Đại Đức Lê Mạnh Thát, Sư Cô Trí Hải v.v... cũng như Đức Cha Nguyễn Văn Thuận và một số các vị Linh Mục, Tu Sĩ của Thiên Chúa Giáo. Việc biểu tình sẽ thực hiện vào lúc 14 giờ chiều ngày thứ sáu - nhằm ngày 5.9.1986 ở trước Sứ Quán Cộng Sản Việt Nam tại Bonn. Vậy chúng tôi mong rằng các Phật Tử xa gần hãy về Bonn tham dự cuộc biểu tình ấy, dầu bận rộn đến đâu đi nữa. Người Đức mà còn quan tâm đến đời sống tôn giáo tại Việt Nam của chúng ta như thế. Tại sao chúng ta là những người Phật Tử hay con chiên của Chúa mà làm ngơ trước cảnh khổ của Quốc Gia, Dân Tộc và Đạo Pháp?

Đây cũng là một bằng chứng để cho ai đó mang danh là Phật Tử, hiện ở Tây Đức hay bất cứ nơi đâu tại hải ngoại ngày nay, đang làm tay sai cho giặc hãy thức tỉnh kịp thời và ngưng ngay những trò đời thay đen đổi trắng ấy. Chúng ta quyết sẽ tranh đấu cho đến cùng để phần thắng sẽ trở về với người bị áp bức trong đó có Phật Giáo của chúng ta.

Mùa Vu Lan - Mùa Báo Hiếu - thiết nghĩ rằng chỉ bấy nhiêu việc làm đó cũng đủ nói lên việc hiếu đạo của con cái đối với cha mẹ, đệ tử đối với Thầy Tổ và con dân đối với Đất Nước, Quê Hương, Dân Tộc và Đạo Pháp.

Vu Lan năm nay tại quê mẹ càng lầm than đổ nát bao nhiêu, thì tại hải ngoại này chúng ta hãy sát cánh bên nhau, tay trong tay, lòng bên lòng, để đứng vững trong lòng của Dân Tộc mà truyền thống hào hùng, bất khuất trước bạo lực, cao cả trước mọi hiểm nguy đó sẽ làm cho chúng ta đủ tự hào và hãnh diện là một người Phật Tử có trách nhiệm trước cơn pháp nạn đã tàn phá quê hương, dân tộc và Đạo Pháp của mình.

Xin chắp tay nguyện cầu cho quê hương Việt Nam chóng thanh bình, nhân dân được an lạc, tôn giáo không còn bị đàn áp nữa và tình người lại được thể hiện nơi nơi để hương giác ngộ nhân mùa Vu Lan báo hiếu được nở khắp trong vườn hoa của nhân thế.

 

Nam Mô Đại Hiếu Mục Kiền Liên Bồ Tát 

( Bộ mới số 34  (Tháng 8.1986) 

  

700 năm trận Bạch Đằng Giang

  

Bài nói chuyện của Thượng Tọa Thích Như Điển trong lễ khai mạc khóa hội thảo và văn nghệ Trần Hưng Đạo, kỷ niệm 700 năm trận Bạch Đằng Giang ngày 19 tháng 11 năm 1988 tại Bremen. 

Nam Mô A Di Đà Phật

Kính thưa quý vị lãnh đạo tinh thần của các Tôn Giáo bạn,

Kính thưa quý Tổ Chức, quý Hội Đoàn và quý Đồng Hương

Tổ chức sinh hoạt của người Việt tỵ nạn tại Cộng Hòa Liên Bang Đức trong thời gian qua có văn thư gửi đến chúng tôi, mời tham dự trại Hội Thảo và văn nghệ Trần Hưng Đạo, kỷ niệm 700 năm Bạch Đằng Giang. Mặc dầu chúng tôi cũng khá bận rộn với nhiều công việc Phật sự khác; nhưng nghĩ đến công ơn của tiền nhân đã dày công dựng nước và giữ nước cũng như để khích lệ và ủng hộ công cuộc tranh đấu chung chống lại sự cai trị tàn bạo của Cộng Sản Việt Nam; nên hôm nay chúng tôi hiện diện nơi đây và xin có đôi lời với quý vị.

 

Kính thưa quý vị,

Cách đây đúng 700 năm Dân Tộc Việt Nam chúng ta đã chiến thắng oai hùng quân Mông Cổ qua sự điều khiển tài ba của một vị tướng tài còn lưu danh nơi hậu thế. Đó là Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn qua trận đại thắng Bạch Đằng Giang.

Để tìm hiểu thêm những chiến công hiển hách của tiền nhân, chúng ta thử lướt qua tiến trình lịch sử của thời buổi ấy.

Vào năm 1282 nhà Nguyên muốn mượn đường xuyên qua nước ta để đi đánh Chiêm Thành, hầu như các tướng trong triều đình nhà Trần đều đồng ý. Duy chỉ có Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn là chống lại việc nầy.

Vì không mở đường cho quân Nguyên sang đánh Chiêm Thành cho nên quân nhà Nguyên đã kéo hết quân sĩ đánh vào quân ta; Hưng Đạo Vương thất bại và kéo quân chạy về ải Chi Lăng, sau đó phục binh tại Vạn Kiếp.

Vua Trần Nhân Tôn thấy thế giặc quá mạnh, sợ nhân dân bị chết chóc, xã tắc bị loạn ly nên khuyên Hưng Đạo Vương hãy hàng để tránh cảnh máu đổ đầu rơi của nhân dân trăm họ. Hưng Đạo Vương khẳng khái tâu rằng: "Hãy chém đầu hạ thần trước rồi hãy hàng sau". Vua nghe lời tâu khẳng khái đó nên rất yên dạ.

Sau đó Trần Nhật Duật thắng quân Nguyên tại trận Hàm Tử, khi quân nhà Nguyên đi đánh Chiêm Thành về (1285) đã làm cho tinh thần quân sĩ của ta lên cao và tiếp theo đó Trần Quang Khải đã lấy lại thành Thăng Long và thắng trận Chương Dương Độ. Sau khi Toa Đô bị chết ở trận Tây Kết và Ô Mã Nhi phải chạy vào Thanh Hóa. Đến trận Vạn Kiếp, Thoát Hoan thua phải chạy về Tàu. Suốt trong 6 tháng trường (từ tháng 12 năm 1284 đến tháng 6 năm 1285) quân ta đã đuổi hơn 50 vạn quân Mông Cổ về Tàu.

Quân nhà Nguyên thua, chạy về nước khiến Nguyên Chúa nổi giận và bảo Thoát Hoan phải báo thù. Đến năm 1287 Thoát Hoan đem đại binh sang đánh ta lần thứ 2. Lần này Thoát Hoan giả đưa Trần Ích Tắc về làm An Nam Quốc Vương; nhưng trên mặt thực tế là đi rửa hận lần trước.

Lần nầy Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn sai tướng Nguyễn Khoái cho quân đẽo gỗ bịt sắt nhọn ở đầu (theo kinh nghiệm của người xưa, thời Ngô Quyền đã chiến thắng Bạch Đằng Giang lần thứ nhất) rồi cho đóng vào lòng sông phía thượng lưu, chờ cho nước lên đem quân ra khiêu chiến, nhử cho thuyền giặc đến chỗ đóng cọc, và chờ cho nước thủy triều xuống thì đánh mạnh vào quân giặc, khiến giặc bị mắc cạn. Nguyễn Khoái khiêu chiến với Ô Mã Nhi trên lòng sông và Hưng Đạo Vương tiếp viện đánh úp lên; nên các tướng Ô Mã Nhi, Phàn Tiếp, Tích Lệ và Cơ Ngọc đều bị bắt.

Trận Bạch Đằng Giang kết thúc vào tháng 3 năm 1288 và Thoát Hoan bỏ chạy về Tàu; nhưng đã bị Phạm Ngũ Lão vây đánh và Thoát Hoan thua. Bấy giờ Hưng Đạo Vương rước xa giá Thượng Hoàng (tức Trần Thánh Tôn) và Trần Nhân Tôn về kinh. Vua định công phạt tội và phong tước Hầu. Hưng Đạo Vương là người có công nhất trong việc đánh Nguyên và vua đã ban cho tước hiệu là: Thái Sư Thượng Phụ Thượng Quốc Công Bình Bắc Đại Nguyên Soái Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn.

Đó là sơ lược lịch sử trong việc quân Nguyên sang đánh nước ta. Trong thời gian nầy có 3 việc xảy ra tương đối quan trọng, chúng tôi xin trình bày cùng quý vị.

- Việc thứ nhất - Khi Trần Bình Trọng bị giặc Nguyên bắt, quyết vẫn không hàng. Tướng Nguyên dụ dỗ mọi điều; nhưng Người vẫn khẳng khái bảo rằng: "Ta thà làm quỷ nước Nam còn hơn làm vương đất Bắc". Ô hay cái uy dũng của người xưa, cái anh hùng thao lược của kẻ sĩ. Làm tướng sẽ chẳng hàng khi mình chưa đền xong nợ nước, làm quân sẽ không chịu thua giặc, khi sơn hà xã tắc còn máu đổ đầu rơi.

- Việc thứ hai - Nguyên là Trần Thái Tôn và Trần Thánh Tôn là những vị vua rất nhân từ khoán hậu. Trần Thái Tôn đã bỏ cung vua hai lần vào núi Yên Tử để tu và Trần Thánh Tôn cũng là người rất ham chuộng Đạo Phật, cho nên Thánh Tôn mới sinh ra được một vua Nhân Tôn hiền đức, để sau nầy cũng giã từ vương vị, sau khi đã đại thắng quân Nguyên vào núi Yên Tử để tu hành và lập nên phái Thiền thứ 4 của Phật Giáo Việt Nam lấy tên là Trúc Lâm Yên Tử. Cho hay danh mà chi, lợi mà chi; cuối cùng cũng không qua cái luân hồi sinh tử. Vì thế, vua đã đoạn thế trần, khoác lên mình một tấm Hoàng y để làm thân Đạo Sĩ mà lo cho bá tánh.

- Việc thứ ba - Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn cũng là người mộ Đạo Phật hơn ai hết, sinh ra con cái là những tướng tài và có một người anh là Hưng Ninh Vương Trần Quốc Tung, sau khi đại phá quân Nguyên đã khoác áo nhà tu lấy hiệu là Tuệ Trung Thượng Sĩ. Tuệ Trung Thượng Sĩ là một vị Tướng, là một Thiền Sư đã làm vang danh cho Dân Tộc và Đạo Pháp.

Tiến đến một bước là Thượng tướng của triều đình, lùi lại một bước chân là Thiền Lâm Giáo Chủ. Đó là Hưng Ninh Vương Trần Quốc Tung, là Tuệ Trung Thượng Sĩ của triều Trần. Ngài chí khi cao siêu, dung thần thanh nhã, lúc nhỏ đến thăm Tiêu Giáo Thiền Sư nghe giảng thuyết mà tỉnh ngộ, Ngài liền tuyệt ý công danh, chuyên tâm học đạo, từ chức lui về Phong Ấp là Vạn Niên Hương. Khi ngộ đạo, Ngài thường lập đàn giảng pháp.

Ngài tuy chức trọng quyền cao, mà đối đãi với dân chúng rất giản dị, nên mỗi khi đăng đàn thì môn đồ thiện tín đến dự thính rất đông. Vua Thánh Tôn rất kính trọng Ngài và ký thác vua Nhân Tôn cho Ngài (Vua Nhân Tôn là em rể của Ngài. Vì Khâm Từ Hoàng Hậu (em gái của Ngài) là vợ vua Trần Nhân Tôn). Ngài hết lòng dạy bảo cho vua Trần Nhân Tôn về phần đạo lý. Khi trong nước có giặc Ngài lại lấy võ công mà giúp vua Trần Nhân Tôn.

So ra trong lịch sử Việt Nam chẳng có triều nào nhân hậu hơn triều Lý và triều Trần, cũng chẳng có triều nào có nhiều tướng tài và các vị Cao Tăng xuất hiện như trong hai triều ấy. Đó chẳng qua là ảnh hưởng của các vua chúa đối với quần chúng nhân dân trăm họ rất đậm đà, sâu sắc. Vua thương dân như con đẻ của chính mình. Mà sở dĩ vua chúa được như vậy, không đâu qua tinh thần từ bi lợi tha của Đạo Phật đã ảnh hưởng đến các vị minh quân ấy. Hành động lấy long bào của vua Trần Nhân Tôn đem đắp lên trên thủ cấp của Toa Đô và bảo quan quân đem tẩn liệm, đã nói lên được tính khoan từ của ơn cao lượng cả rất nhiều.

Triều Lý và triều Trần là những triều cực thịnh của dân tộc. Tuy các vua chúa các triều nầy không xây được những kim tự tháp như Ai Cập; hoặc Angkor Wat của Cao Miên, nhưng đã xây đắp cho tình tự của Dân Tộc và lòng tự chủ của con dân nước Việt trong suốt mấy ngàn năm lịch sử để ngày nay chúng ta mới còn có mặt với đời.

Thật ra trong buổi lễ khai mạc hôm nay chúng tôi cũng không muốn làm mất nhiều thì giờ của quý vị. Nhưng mong rằng đây là những chất liệu keo sơn để nối liền quá khứ với hiện tại và hiện tại với tương lai để xứng danh lần kỷ niệm 700 năm trận Bạch Đằng Giang mà Tổ Tiên ta đã dày công giữ nước và dựng nước. 

Xin kính chào quý vị và chúc buổi hội thảo thành công. 

( Số 48  (Tháng 12.1988) 

 

 

Tưởng niệm Thầy

Viết bài nầy để kính dâng lên

Giác Linh Thượng Tọa Thích Như Vạn

Trụ trì Tổ Đình Phước Lâm - Hội An - Quảng Nam.

Mới đó mà đã 25 mùa Xuân trôi qua rồi, tôi chưa có lần nào viết về ngôi Tổ Đình Phước Lâm nơi xứ Quảng. Nơi đó có một vị Thầy suốt đời tận tụy nuôi dưỡng chúng Tăng và cũng chính trong tình thương bao la của vị Thầy ấy, tôi đã được trưởng dưỡng ngay từ lúc ban đầu.

Con người, càng ở xa quê hương bao nhiêu lại càng nhớ đến quê hương bấy nhiêu. Nhiều khi trong giấc ngủ hay trong hồi tưởng, người ta ít nhớ đến những gì đang xảy ra trong hiện tại mà hay liên tưởng đến những gì trong quá khứ, xa thật là xa. Thời gian ấy có thể là 30 năm hay 50 năm và ít lắm cũng là 5, 10 năm trở lại.

Tôi xa xứ Quảng đến nay đúng 20 năm; nhưng thỉnh thoảng những hình ảnh ngôi chùa xưa, Thầy cũ, bạn bè, lũy tre, bờ ruộng, hình ảnh trẻ mục đồng v.v... vẫn luôn luôn hiện về trong trí óc tôi. Trong những hình ảnh mơ về đó có ngôi Tổ Đình Phước Lâm và vị Thầy trụ trì tại đó, tôi sắp kể cho quý vị nghe đây.

 

Tổ Đình được định nghĩa là những chùa lâu đời do các vị Tổ sáng lập và chính nơi đó có thờ các vị Tổ Sư hữu công với đạo và hằng năm có một ngày kỵ giỗ chung, có nhiều Tăng chúng và tín đồ về tham dự ngày kỵ Tổ nầy; mà Phước Lâm là 1 trong 3 Tổ Đình lớn nhất tại Thị xã Hội An thuộc tỉnh Quảng Nam.

Quảng Nam là một tỉnh khá lớn, sau thời Đệ Nhị Cộng Hòa chia ra làm 2, để lập thêm tỉnh Quảng Tín. Cơ quan hành chánh tỉnh Quảng Nam đặt tại Hội An, cách xa Đà Nẵng về phía Nam chừng 30 cây số. Hội An là một phố thị của người Tàu đến lập nghiệp và sinh sống lâu đời tại đây. Đường sá chật chội, cũ kỹ. Phố nằm sát bờ sông Hội An và bên kia sông là cù lao xã Cẩm Nam. Hội An cũng có tên là Faifo. Tin đồn rằng ngày xưa người Tây đến đây, nói tiếng Việt không rành. Họ muốn hỏi đây có "phải phố" không? nhưng không nói đúng giọng. Vì thế chữ Faifo có từ đó. Hội An có một cái cầu bắc qua một nhánh sông nhỏ gần Tòa Án tỉnh gọi là Chùa Cầu Nhựt Bổn. Trên cầu nầy có xây một mái chùa để che chở nắng mưa. Nên gọi là Chùa Cầu. Hai đầu cầu có dựng tượng 2 con khỉ và chó. Theo sự truyền miệng người ta bảo rằng Chùa Cầu nầy được xây dựng từ năm Thân cho đến năm Tuất thì xong. Vì vậy người Nhật đã xây các tượng nầy để kỷ niệm, cầu dài độ chừng 20 thước, rộng độ 8 thước, hai bên có lối đi bằng gỗ cho người đi bộ và ở giữa cũng lót ván, dùng để cho xe chạy. Cầu không có gì đặc biệt; nhưng vì đã được xây lâu đời. Nghe đâu từ thế kỷ thứ 16, khi người Nhựt bắt đầu có mặt tại xứ ta; nên đã được nhiều người nhắc đến rất nhiều.

 

Chùa Phước Lâm, hay ngôi Tổ Đình Phước Lâm nằm xa cách Thị xã Hội An chừng 10 cây số về hướng Bắc. Tổ Đình tọa lạc trên một diện tích khá rộng, trên 5 mẫu tây đất, chung quanh là bãi tha ma và ruộng lúa. Bên trong vườn có trồng nhiều cây bàng, cây xoài và nhiều loại hoa phượng, hoa giấy v.v... Trong vườn chùa có nhiều cây to, tỏa ra những tàn thật rộng. Do đó khách hành hương vào chùa buổi trưa, gặp bên ngoài trời nóng gắt, bước chân vào khỏi cổng tam quan, núp được dưới những tàn cây nầy, quả thiệt không có gì lý tưởng bằng. Nghỉ một hồi đỡ mệt, tìm lên điện Phật để lễ Phật, sau đó xuống nhà trù dùng cơm chay đạm bạc với muối tương, còn gì tuyệt hơn nữa.

Tôi đến đây khoảng năm 1962, khi còn là một đoàn sinh trong Gia Đình Phật Tử Hà Linh thuộc quận Duy Xuyên. Thấy cảnh chùa vắng lặng, thanh cao. Nhìn những chú tiểu dễ thương tự nhiên lòng tôi đâm ra mến cảnh nhà Thiền. Lúc bấy giờ tôi chưa có ý định xuất gia; nhưng dẫu sao với cảnh vật của ngôi Tổ Đình nầy đã làm cho tâm hồn tôi cảm thấy thanh thoát lạ thường.

Năm 1963 là năm Phật Giáo tranh đấu, tôi đã có nhiều lần về Hội An; nhưng không có dịp về Tổ Đình nữa. Đến năm 1964 là năm xuất gia và Thầy tôi đã gởi tôi về Tổ Đình Phước Lâm để tu học. Thuở ấy ngôi Tổ Đình đã cũ, mái ngói đã rêu phong, nhiều chỗ bị dột nát. Vì thế Thầy Trụ Trì có chương trình kiến tạo lại ngôi Đại Hùng Bửu Điện. Tôi đến đây độ chừng 3 tháng sau thì chùa cũng đã bắt đầu dỡ ngói, đập tường cũ và xây lại. Chùa cũ xây theo lối xưa nên vào bên trong tối mờ mịt. Vì chùa nằm cách xa Thị xã nên không bắt đèn điện, chỉ dùng toàn đèn cầy, mà người miền Trung gọi là đèn sáp hay đèn bạch lạp. Lại thêm ông Thiện và ông Ác thờ bên trong chánh điện, nên mỗi lần lên chùa thỉnh chuông tối hoặc chuông khuya tôi có cảm giác rợn người.

Ngày ấy trong chùa nầy có Thầy trụ trì và khoảng 10 Tăng chúng cùng một số người làm công quả cho chùa. Thầy người huyện Đại Lộc, dáng người nhỏ thó; nhưng ý chí thì rất kiên cường. Thầy học cùng khóa với Thượng Tọa Thích Như Huệ, hiện trụ trì chùa Pháp Hoa tại Úc và Thượng Tọa Thích Chơn Phát hiện làm Giám đốc Phật Học Viện Long Tuyền tại Hội An. Quý Thầy đã có thời lưu học tại chùa Ấn Quang trong thập niên 50. Sau đó về Trung để chăm lo các Tổ Đình vì quý Hòa Thượng lớn đã từ từ viên tịch.

Trong chúng bấy giờ có chú Hạnh Thu và chú Hạnh Đức, chú Như Lệ và chú Hạnh Chơn là lớn hơn cả. Những vị nầy đã thọ Sa Di. Chú Hạnh Thu người rất cần cù trong sự tu cũng như sự học, bao giờ cũng miệt mài với kinh sử; nhưng thi hoài chẳng đậu. Hình dáng cao gầy, tính tình điềm đạm; nhưng ai cũng ngán chú là "kỷ luật rất nghiêm minh" nhất là trong thời chú làm chúng trưởng. Sau nầy tôi được tin chú đã chết, khi tôi còn ở bên Nhựt. Lúc ấy chỉ biết đốt nén hương lòng để tưởng niệm về một bậc đàn anh đã ra đi vĩnh viễn.

Chú Hạnh Đức, người rất thông minh, học đâu nhớ đó, thích về cả hai chương trình thế học và Phật học. Học ít nhưng nhớ nhiều. Thi đâu đậu đó; nhưng sau nầy khi lên đến cấp bậc Đại Học đã lao đao không biết bao nhiêu lần, sau năm 75 có thời hoàn tục; nhưng nhận thấy thế sự vô thường nên đã trở lại đường tu và Thầy Hạnh Đức hiện ở miền Nam Việt Nam với Thầy Hạnh Thiện. Thầy Hạnh Đức thì bạc đầu trước tuổi và có nhiều tư tưởng khác thường. Đôi khi người ta giỏi, cũng có nhiều tư tưởng hơi kỳ lạ.

Chú Như Lệ, người mảnh khảnh và rất hào hiệp; nhưng bây giờ chú cũng không còn ở lại với đời. Mới đó đã ra người thiên cổ.

Chú Hạnh Chơn, lúc nào cũng đeo kiếng cận, có vẻ trầm ngân, học hành bình thường, không biết bây giờ đã ra sao, đã gần 20 năm rồi tôi chẳng có tin tức gì cả.

Đến phiên tôi vào xuất gia nơi chùa nầy thì chỉ chừng ấy vị;  nhưng sau tôi chừng 1 năm có thêm khoảng 20 người nữa. Bây giờ thì hình như chỉ còn một vài vị hiện tu, trong đó có chú Thị Vinh. Hiện là Thầy Hạnh Quang đang kế vị trụ trì Tổ Đình Phước Lâm.

Trong 3 tháng đầu tôi cố gắng học chú Lăng Nghiêm và mỗi tối dộng chuông trước thời kinh Tịnh Độ. Công việc chỉ có thế và sau 3 tháng, tôi đã làm Thị giả cho Thầy Trụ Trì. Đây là thời gian mà tôi gần gũi Thầy nhất, cũng là thời gian mà tôi đã học hỏi được rất nhiều ở nơi Thầy.

Ban ngày các chú, kể cả tôi, đạp xe đạp từ chùa vào phố để đi học, trưa về lại chùa ăn cơm, buổi chiều là leo lên nóc chùa dỡ ngói, hoặc khiêng gạch phụ những người thợ làm chùa. Sau cơm tối chúng tôi, Tăng chúng, và Phật Tử đẩy xe bò lên tận những lò gạch ở Thanh Hà để chở gạch về xây ngôi chùa mới. Đường từ chùa đến Thanh Hà xa độ chừng 20 cây số. Một chuyến đi và một chuyến về đã tốn khoảng 3 tiếng đồng hồ rồi. Trong khi chở gạch, những câu hò xe trước, đối đáp với xe sau, hoặc ngược lại làm cho mệt cũng vui hơn lên và cũng từ đó những mối tình của các Phật Tử làm công quả đã chớm nở trong chốn Thiền môn ấy. Cứ hết đêm trăng nầy, qua đêm trăng nọ, chúng tôi đều đẩy xe bò chở gạch, chở cát, trộn hồ, thế mà thấm thoát đã một năm qua, chánh điện ngôi Tổ Đình Phước Lâm đã làm xong và đã đến thời kỳ lợp ngói.

Trong thời gian nầy Thầy Như Vạn đã khổ công nhọc sức rất nhiều cho công việc xây cất ấy. Bình thường Thầy nặng độ 45 kg. Trong thời gian xây cất Thầy còn độ 39 kg. Ai trông Thầy cũng lo cho sức khỏe của Thầy; nhưng lúc nào Thầy cũng mỉm nụ cười hiền từ và trông có vẻ tự tại giải thoát lắm.

Mỗi tối trời không trăng, chúng tôi không đi đẩy xe gạch, là những tối dành để học bài, học kinh và họp chúng. Cứ mỗi tháng chúng họp 2 lần. Nếu có gì khẩn cấp thì họp thêm một lần nữa. Mỗi lần họp vị Chúng trưởng kiểm điểm tổng quát mọi sinh hoạt của chùa, sau đó đi vào từng Ban và cuối cùng là từng cá nhân. Ví dụ như vị Tri Chúng phải báo cáo ưu khuyết điểm trong chúng của mình. Vị Hương Đăng báo cáo về nhang đèn, hoa quả trên điện Phật. Vị Tri Viên báo cáo về vườn tược, nước non. Vị Tri Khách báo cáo về sự lễ bái của khách thập phương. Vị Tri Khố báo cáo về nhà kho của chùa còn nhiều hay ít v.v... Phần kiểm điểm cá nhân thì có 2 phần. Đầu tiên là tự mình nói lỗi mình ra cho Đại Chúng biết, sau đó là nhờ Đại Chúng chỉ lỗi của mình. Ai chưa quen phương pháp nầy thấy hơi khó chịu. Nhưng khi đã quen rồi, quả thật đây là một cách sửa đổi lỗi lầm rất có hiệu quả. Thông thường thì mình thấy lỗi người khác dễ hơn lỗi mình và mình phê bình người khác cũng dễ hơn là tự nhận lỗi mình. Nhưng nếu ai hiểu được nguyên tắc nầy; quả thật sự phê bình ấy giúp cho việc tu hành của mỗi người nhiều lắm.

Trong thời gian tôi làm Thị giả cho Thầy, được cái hân hạnh là bưng cơm, hầu nước cho Thầy. Quét nhà, giặt đồ, lau dọn phòng ốc mỗi ngày cho Thầy. Nhiều khi cũng đấm lưng hầu Thầy trong khi Thầy làm lụng ban ngày mỏi mệt. Với tuổi thiếu niên của tôi lúc bấy giờ, nếu ở ngoài đời trong giờ giấc ấy vẫn còn mơ màng trong giấc điệp; nhưng ở trong chùa thì phải thức khuya dậy sớm để học hành, tu niệm, hầu Thầy. Nếu không có ý chí cũng dễ nản lắm chứ. Nhưng nhờ đi tu, chính tự mình phát nguyện, nên dầu cho bao nhiên gian khổ cũng có thể vượt qua một cách dễ dàng.

Có nhiều đêm hầu Thầy, Thầy đã ngủ say nhưng cũng không dám rời khỏi nơi Thầy ngủ vì sợ động giấc ngủ của Thầy, chờ cho đến bao giờ Thầy bảo đi ngủ mới dám đi, không một tiếng oán than, không một lời trách móc, mặc dầu ngày mai còn bài vở ở trường rất nhiều.

Người Thị giả là người hầu cận Thầy, phải đi theo Thầy khi nào có Phật sự ở xa, phải hầu cơm Thầy, khi Thầy dùng cơm mỗi bữa trong ngày. Người Thị giả nhờ đó mà học được cái hạnh của Thầy trong khi tiếp khách phải làm sao. Ăn cơm phải như thế nào. Tụng kinh, ngồi Thiền, họp Chúng v.v... tất cả đều phải thực hành và ít dùng đến lời nói. Thầy thường hay dạy đệ tử của mình trong nhà Thiền bằng những hành động cụ thể ấy. Nhiều khi rất khe khắt mà nhiều lúc cũng rất dễ dãi. Khe khắt hay dễ dãi tùy theo từng trường hợp và tùy theo từng người đệ tử theo học hạnh của Thầy.

Đồ ăn của Tăng Chúng là gạo, là khoai; thỉnh thoảng một tuần có 1 lần đậu hủ là vui vẻ cả chùa. Còn lại bao nhiêu là nước tương muối chấm rau luộc. Nước tương làm bằng đậu nành có cả cái lẫn nước. Mỗi lần dùng đến, chỉ múc nước bên trên, gạn cái lại. Sau đó nấu nước muối đổ vào và mỗi lần như thế Tăng Chúng chỉ dùng nước muối mà thôi. Quanh năm suốt tháng chỉ có thế; nhưng da dẻ của ai cũng hồng hào. Học hành có nhiều kết quả tốt, chẳng biết tại sao? Có lẽ vì ai cũng có một niềm tin vững chắc, nên khó khăn nào rồi cũng có thể vượt qua chăng?

Mặc - chỉ là nâu sòng áo vải. Đời sống người Tăng Sĩ chỉ đạm bạc có thế thôi. Cái gì cũng đơn sơ, những cái mà người đời cho là quan trọng như nhà cửa, tiền tài, ăn ngon, mặc đẹp v.v... đối với người Tăng Sĩ hầu như có thể vượt qua một cách dễ dàng. Ngay cả giấc ngủ cũng thế, không được ngủ nhiều - có như thế mới dễ phát sinh trí tuệ và không bị hôn trầm.

Thời gian cứ như thế lặng lẽ trôi qua. Hết sáng lại chiều, hết chiều lại tối v.v... chúng tôi sống trong Chúng, cư xử theo phép "lục hòa" nên chẳng có gì xích mích cãi cọ xảy ra. Thỉnh thoảng cũng có một vài dị biệt nhưng rồi vị Chúng Trưởng cũng giải quyết rất là êm đẹp. Chuyện nào khó xử nữa thì có Thầy Trụ Trì lo. Trong chùa cao nhất là Thầy Trụ Trì, có mọi quyền hành để dạy dỗ cũng như khuyến tấn Tăng chúng. Sống được hơn một năm tại Tổ Đình Phước Lâm thì tôi về chùa Viên Giác để ở. Lý do để xin đi là vì đi học mỗi ngày hơi xa. Do đó tôi về chùa Viên Giác của Thầy tôi trong phố để đi học cho gần. Thầy Trụ Trì cho phép tôi đi nhưng có lẽ trong lòng Thầy không vui mấy.

Kể từ dạo đó tôi ở xa Tổ Đình Phước Lâm và mỗi năm chỉ về đó thăm lại một hai lần rồi lại thôi. Năm 68 tôi vào Sàigòn để năm 72 đi Nhật cho đến nay hầu như chưa bao giờ tôi đặt chân lại đó một lần nữa. Mặc dầu xa Thầy, xa quê hương nhưng ngôi Tổ Đình Phước Lâm vẫn luôn luôn ẩn hiện trong lòng tôi trong bao giấc ngủ chập chờn của những đêm khuya canh vắng tại xứ người.

Năm 1981 tôi có chuyến Phật sự tại Canada, trong khi thăm viếng chùa Tam Bảo tại Montréal (lúc bấy giờ còn là Niệm Phật Đường Tam Bảo) sau khi lễ Phật và chào hỏi Thượng Tọa Thích Thiện Nghị xong, tôi vào lễ Tổ. Nhìn lên bàn thờ thấy một bài vị bằng chữ Hán, viết như sau: "Từ Lâm Tế Chánh Tôn đệ... thế, Phước Lâm Tự trụ trì Thích Như Vạn". Tôi như điếng hồn, sụp đầu cúi xuống lạy và trong lòng lại suy nghĩ mông lung. Sau khi lễ Tổ xong, tôi ra phòng khách hỏi Thượng Tọa Trụ Trì nguyên do về sự ra đi của Thầy Như Vạn, tôi được biết có ông bà Hồ Ngọc Tuấn, trước đây là Quận Trưởng quận Duy Xuyên là đệ tử của Thầy, người hiểu chuyện về Thầy Như Vạn và thờ Thầy ở đó. Thế là Thượng Tọa Thích Thiện Nghị giới thiệu ông bà Hồ Ngọc Tuấn với tôi và nhờ đó tôi được biết sự ra đi của Thầy.

Quả đất vẫn còn tròn, nên tôi còn cơ duyên để biết và gặp lại Thầy, không là trong nước mà tại hải ngoại, không là hình hài thật của 20 năm về trước mà chỉ đơn giản có một bài vị được tôn thờ. Ôi nhân sinh là thế đó. Có rồi không, còn rồi mất. Chẳng có gì vĩnh cửu cả ngoại trừ chân lý. Cái chân lý mà Thầy đã dạy cho tôi cách đây 25 năm về trước, tôi đã mang vào đời, đi hoằng pháp khắp nơi. Làm hành trang trong cuộc đời tu niệm của mình. Nó không phải cao lương mỹ vị của kẻ công hầu khanh tướng, không cao sang quyền quý như các bậc đế vương, không nghèo hèn đốn mạt như các giai cấp hạ tiện trong cuộc đời, mà nó, chính nó đã mang đến cho tôi một sự giải thoát nhiệm mầu trong Đạo.

Thời gian có trôi đi, không gian có thay đổi, bao nhiêu thế sự thăng trầm, bao nhiêu sự tuần hoàn của tạo hóa; nhưng hình ảnh ngôi chùa xưa, lời dạy của vị Thầy khả kính đã làm cho tôi tỉnh thức vô cùng. Chỉ tiếc rằng ngày Thầy ra đi, tôi không có được cái vinh dự cận kề bên linh cữu của Thầy để đưa Thầy về trong hư vô của trời đất, hay ở gần đó để đốt lên mộ một nén nhang, giã biệt người quá cố. Tôi cũng không có được cái duyên nghe được sự ra đi của Người để làm lễ chung thất hoặc bách nhật trai tuần. Mặc dầu Thầy không là vị Bổn Sư của tôi; nhưng Thầy đã chăm sóc tôi ngay từ thuở ban đầu, và cũng chính nhờ cái ban sơ ấy mà tôi sẽ và đã trưởng thành như ngày hôm nay nơi hải ngoại. Công đức ấy xin hồi hướng lên Giác Linh của Thầy và nguyện cầu cho Thầy cao đăng Phật quốc, sớm hội nhập Ta Bà để cứu độ chúng sanh.

Khi còn ở Nhật, mỗi khi hoa Anh Đào nở, tôi cũng đã nhiều lần có dịp nhớ về quê hương, Thầy Tổ, bạn bè. Sang đến Âu Châu, mỗi lần Xuân đến cũng là cơ hội để tôi nhớ đến lần đầu tiên đã từ giã gia đình để vào chùa sống cuộc đời của người tu niệm. Bây giờ nhân  ngày kỷ niệm 25 năm xuất gia học đạo, tôi chọn bài nầy để viết về Thầy, như một sự nhớ ơn và có lẽ sẽ không bao giờ phai nhạt trong tâm khảm của một người tu dầu ở cách xa quê hương trong muôn vạn dặm.

Đốt nén hương lòng để cầu nguyện cho quê hương sớm thanh bình. Hồi chuông triêu mộ của ngôi Tổ Đình còn vang vọng đến muôn phương và nguyện cầu Giác linh  Người luôn luôn hiện hữu đâu đây để soi đường chỉ lối cho những người còn ở lại.

Viên Giác Tự, một ngày đầu Xuân Kỷ Tỵ 

( Số 50  (Tháng 4.1989)

Mười năm làm báo Viên giác

Báo Viên Giác đã có mặt tại Tây Đức từ năm 1979, đến nay (1989) đã đúng 10 năm. Ban Biên Tập Báo Viên Giác đầu năm Kỷ Tỵ đã họp tại chùa và quyết định chọn số báo 51 làm chủ đề Kỷ Niệm 10 Năm Báo Viên Giác. Vì thế hôm nay có bài viết nầy gởi đến quý độc giả xa gần.

Đây là một bài viết có tính cách hồi ký mà cũng có tính cách tường thuật lại những sự việc đã qua trong 10 năm làm báo về mọi phương diện, để độc giả có cái nhìn tổng quát về tờ báo của chúng ta.

Trong những năm 72, 73, 74, khi còn ở Nhật, tôi đã bắt đầu tập viết báo cho các tờ Việt ngữ cũng như Nhật ngữ; nhưng mãi cho đến năm 75 sau khi Chi Bộ Phật Giáo Việt Nam tại Nhật quyết định ra tờ báo Khuông Việt hằng tam cá nguyệt thì tôi được giữ trọng trách chủ biên của tờ báo bằng 2 thứ tiếng Nhật ngữ và Việt ngữ. Kể từ đó đã làm quen với ngành báo chí; nhưng không chuyên nghiệp và cũng không có kinh nghiệm của một người tu. Năm 77 tôi rời Nhật, giao lại tờ báo nầy cho Chi Bộ và Thượng Tọa Thích Chơn Thành lo đảm trách việc ấy. Sau nầy Thượng Tọa Thích Chơn Thành đi Hoa Kỳ thì Thượng Tọa Thích Minh Tuyền lại đảm nhận công việc trên. Cho đến nay gần 15 năm, tờ Khuông Việt mới chỉ ra được gần 40 số báo.

Khi đến Đức tôi chưa có ý định ở lại xứ nầy, nên chưa có ý nghĩ gì về việc ra báo. Đến tháng 4 năm 1978 khi Niệm Phật Đường Viên Giác được thành lập, sau một thời gian hoạt động, tôi nhận thấy rằng một tổ chức mà không có một cơ quan ngôn luận thì khó có thể đi vào quần chúng được. Vì thế đầu năm 1979 tôi đã đơn phương thực hiện ý nguyện nầy. Tờ báo Viên Giác bộ cũ số 1 ra ngày 1.1.1979, khổ A5 bìa in màu vàng và phát hành lần đầu tiên 300 số. Những bài viết chỉ chuyên về Đạo và lúc bấy giờ không có một người nào chuyên nghiệp cả, chỉ toàn là những người viết vì bị bắt buộc mà thôi. Những số báo đầu có sự đóng góp bài vở của tôi, anh Tuấn, chị Cúc, Thị Minh và phần kỹ thuật do Thị Chơn trình bày. Tờ báo rất khiêm nhường, nội dung rất khô khan và việc trình bày cũng không có gì sáng sủa lắm. Năm 1979 ra được 3 số tiếng Việt và 1 số tiếng Đức. Năm 1980 cũng ra được 3 số tiếng Việt và 1 số tiếng Đức. Số lượng báo tăng từ 300 số của năm 1979 đến 500 số của cuối năm 1980. Tờ báo Viên Giác số 6 bộ cũ hình thức in sáng sủa hơn những số trước. Vì chùa vừa mới nhận được máy in mới của Bộ Nội Vụ Cộng Hòa Liên Bang Tây Đức giúp đỡ. Tiện đây cũng xin trình bày về diễn tiến của nhà máy in để quý vị tường.

Bắt đầu từ năm 1980 chùa Viên Giác đã nhận được sự giúp đỡ tài chính của Bộ Nội Vụ Cộng Hòa Liên Bang Tây Đức; trong đó đặc biệt về vấn đề văn hóa. Vì thế chúng tôi có đề nghị với Bộ là xin một số máy móc cũ để in báo Viên Giác. Thầy trò chúng tôi lo đi xin giá cả của những máy in cũ để gởi lên Bộ. Sau khi nhận được thư của chùa, Bộ Nội Vụ trả lời rằng: Hãy mua tất cả máy mới, chứ đừng mua máy cũ vì dễ bị hư; nhưng mỗi một loại máy phải có 3 giá biểu của 3 hãng khác nhau; sau đó gởi lên Bộ và Bộ sẽ chọn máy nào rẻ nhất, sẽ cho chúng ta mua.

Thầy trò chúng tôi lại một phen nữa giở sổ điện thoại ra để tìm nhà máy in đến đó dò hỏi về máy móc và để hoàn thành một tạp chí như Viên Giác phải cần những máy nào v.v... Sau khi biết được rằng muốn in một quyển báo điều đầu tiên phải cần là một máy in offset, một máy làm bản kẽm, một máy làm hình, một máy đóng gáy, một máy photocopy, một máy cắt. Đó là những máy cần thiết nhất mà chúng tôi phải đi lấy giá cả; không phải chỉ một hãng mà 3 hãng khác nhau bán cùng một loại máy như trên. Đây là vấn đề khá vất vả và chẳng đơn giản chút nào đối với chúng tôi vào thuở ban đầu; nhưng cuối cùng rồi cũng xong. Chúng tôi đã gởi lên Bộ duyệt xét và trong một thời gian ngắn chúng tôi đã nhận được thư trả lời là Bộ sẵn sàng tài trợ cho những máy móc của chúng tôi đề nghị và họ đã chọn một hãng rẻ nhất trong 3 hãng đã gởi lên. Việc máy in đã tạm xong.

Bây giờ là kỹ thuật in, cũng chẳng phải là việc đơn giản chút nào đối với một người Tăng sĩ như tôi. Lúc bấy giờ Thị Chơn đã đi làm, rất bận rộn, không giúp được tôi gì nhiều, ngoài việc trang trí cho tờ báo; Thị Minh, anh Tuấn, chị Cúc thì ở xa và bà con Phật tử ở Hannover thuở bấy giờ cũng chưa có mấy người; nên tôi lại phải bắt đầu học nghề in của một ông thợ già có nhiều năm kinh nghiệm tại hãng nọ. Sau một thời gian đứng máy đã tự tin, tôi đã chỉ lại cho Thị Chánh và Linh giúp tôi trong vấn đề ấn loát.

 

Cuối năm 1980 anh Mai Vi Phúc có viết cho báo Viên Giác bộ cũ số 6 bài "Ngọn bấc xoay chiều" đã làm cho nhiều độc giả ưa thích và sau đó anh có ý định về Hannover để giúp tôi trong công việc điều hành tại đây; nhưng sau vì có việc làm tại Bonn nên anh đã không cộng tác trực tiếp cho Viên Giác nữa. Anh cũng đã đề nghị là nên đổi lại hình thức của tờ báo Viên Giác, thay vì A5 như trước, kể từ năm 1981 trở đi nên đổi lại thành A4 và hình thức ấy đã giữ từ số 1 bộ mới cho đến số 51 ngày hôm nay.

Bìa của những số Viên Giác bộ mới chúng tôi đã dùng tranh của họa sĩ Võ Đình và nội dung cũng có một vài thay đổi nhờ có sự cộng tác của những người làm báo chuyên môn như Đạo Hữu Hồ Trường An, ĐH Nguyễn Hồng Kỳ, Bà Huyền Châu, chị Trần Thị Cẩm Thi v.v...

Về kỹ thuật thì cũng đã cải cách ít nhiều; nhưng vì in số lượng ít (500 - 700 số); nên phải in bằng giấy Folie, thay vì bản kẽm giá hơi đắt so với số lượng kia.

Năm 81, 82, 83 tờ báo ra đều đặn mỗi năm 6 số và số độc giả bấy giờ đã tăng lên đến 1.500 người. Ngày xưa khi mới bắt đầu làm báo, số lượng ít, chỉ cần in, xếp, đóng, dán tem, bỏ bì thư gởi đi, chỉ cần một cái cuối tuần là xong; nhưng trong những năm nầy phải chuẩn bị lâu hơn nữa và nhân sự không phải là 2 hay 3 người mà 7 đến 8 người để lo cho việc nầy.

Đến cuối năm 83 chúng tôi nhận thấy báo Viên Giác cần phải thay đổi thêm về nội dung cũng như hình thức. Vì thế có đề nghị thêm phần tin tức thời sự thế giới và những mục sáng tác văn nghệ. Cuối năm 84 đã được sự cộng tác của anh Vũ Ngọc Long, Nguyễn Hòa (Tùy Anh, Phù Vân), Phong-Hưng Lưu Nhơn-Nghĩa. Mục thời sự thế giới và những bài sáng tác của những Đạo Hữu nầy đã làm say mê độc giả không ít. Từ đó sự ủng hộ càng ngày càng tăng và vì thế độc giả cũng không ngừng tăng theo cấp số nhân, chứ không phải là cấp số cộng.

Chúng tôi xin ghi lại đây những diễn tiến về việc làm một tờ báo như sau: Đầu tiên nhận và đọc những bài vở của các Tác giả gởi đến. Không phải bài nào nhận là cũng đăng được đâu. Sau đó người Chủ Nhiệm và Chủ Bút phải phân tích nội dung của bài báo, giá trị của văn chương, cách hành văn v.v...

Sau đó phải sắp xếp theo thời gian của nó. Ví dụ như một bài viết ca tụng về mùa Thu thì không thể nào đăng trong số báo mùa Xuân hay mùa Hạ được. Ngược lại những bài viết cho Vu Lan thì không thể nào đăng trong Phật Đản được. Bài phải được phân chia ra làm 2 loại thuộc về Đạo và Đời. Trong phần Đạo lại phải chọn ra nhiều loại khác nhau như Thiền, Tịnh Độ, Đại Thừa, Nam Tông, Mật Tông, Phật Giáo và Khoa Học, Phật Học và Triết Học v.v... Phần Đời thì chia ra Văn nghệ, Sáng tác, Sưu khảo, Ký sự, Văn thơ, Nhạc v.v... Có nhiều người viết rất hay nhưng thuộc về văn chương ru ngủ, hoặc giả phản tuyên truyền thì người đọc phải có nhiệm vụ để riêng ra, không cho vào xấp bài được tuyển chọn. Khi người gởi bài, thấy bài mình không được đăng, dĩ nhiên ai cũng buồn và không muốn viết tiếp nữa. Nhưng nếu người Chủ Nhiệm hoặc Chủ bút, vị nể tình riêng người đó cho đăng thì sẽ có nhiều vấn đề rắc rối sẽ xảy ra. Độc giả không hài lòng, sẽ gởi thư về chùa than trách. Trách nhiệm thuộc về vị Chủ Nhiệm và Chủ Bút. Vì thế cho nên việc chọn bài phải thận trọng rất nhiều.

Sau khi chọn bài xong, giao qua cho người đánh máy. Trong những số đầu có Thị Nhân phụ tôi đánh máy và bỏ dấu, sau đó có Sư Cô Diệu Ân cũng đã giúp cho việc nầy trong một thời gian. Từ 5, 6 năm nay có Chị Nga phụ trách việc đánh máy thường trực cho tờ Viên Giác thì tôi lại không phải lo nhiệm vụ nầy nữa. Sau khi bài đánh xong thì Thị Chánh và gia đình Đạo Hữu Trần Văn Quang ở Hannover bỏ dấu dùm. Việc bỏ dấu cũng không phải đơn giản chút nào, nhất là dấu hỏi, ngã, chấm, phết v.v... Độc giả hoặc chính tác giả khi đọc bài của mình, thấy sai lỗi chính tả nhiều quá cũng cảm thấy bực mình. Vì thế việc nầy cũng phải cần thận trọng. Sau khi bỏ dấu xong, tôi phải đọc lại một lần nữa để thêm dấu vào chỗ thiếu, hoặc bỏ đi những chỗ thừa. Tiếp theo là giao cho Thị Chơn về nhà trang trí. Sau khi trang trí xong, tôi kiểm soát lại lần cuối và bắt đầu cho máy chạy để làm bản kẽm rồi quay.

Từ năm 84, 85 trở về sau nầy có nhờ Bác Thị Tâm, Thị Đạo, Thị Pháp, Thiện Thịnh và Thiện Tấn chuyên lo cho vấn đề kỹ thuật nầy nên tôi có nhiều thì giờ hơn để lo cho những chuyện khác. Tuy nhiên lúc nào thiếu người tôi cũng phải thay vào làm thợ in để cho kịp rút báo, xếp thành tập. Thời gian nầy cần có nhiều người phụ hơn nữa. Vì thế những vị ở gần chùa đã được động viên để phụ giúp phần công quả nầy. Sau khi sắp thành từng quyển xong, phải có một ban kiểm lại giấy trắng trong tờ báo. Dầu cố công kiểm soát đi bao nhiêu chăng nữa nhưng nhiều lúc lơ đễnh không để ý vào tờ báo, nên vẫn còn sót lại giấy trắng như thường. Vì thế có nhiều độc giả sau khi nhận được báo, đang đọc say sưa, bỗng nhiên phát giác ra một tờ giấy trắng và viết thư về chùa khiếu nại bổ túc. Thật ra chỉ vài trang, chứ không có nghĩa là mọi tờ báo trang ấy đều bị giấy trắng. Đây là lỗi của việc in và của người lựa báo. Khi lựa xong phải giao qua cho khâu đóng báo. Đầu tiên đóng bằng kim và cắt báo bằng tay nên quá cực nhọc. Sau nầy đóng báo bằng keo và cắt bằng máy điện nên đỡ vất vả rất nhiều.

Một tờ báo được gọi là xong, khi nào đã cho vào bao thư dán tem và mang ra bưu điện. Trên đường trở về chùa, người làm báo có thể thở phào nhẹ nhõm là đã làm xong một số báo rồi. Làm báo cực khổ như thế nhiều lúc đến nhà ai thấy tờ báo bị lót dưới nồi cơm là người làm báo cảm thấy xốn xang vô cùng. Không phải vì tiếc cho thân phận tờ báo, mà tiếc cho ai đó không và chưa hiểu được công lao của người làm báo.

Kể từ năm 1985 trở đi có sự đóng góp bài vở của Đạo Hữu Thiện Nghĩa, Đạo Hữu Lê Thị Bạch Nga, Đạo Hữu Trần Phong Lưu và một số quý vị viết không thường xuyên cho báo Viên Giác. Đạo Hữu Thiện Nghĩa và Đạo Hữu Trần Phong Lưu có nhiều bài viết rất hay và Đạo Hữu Lê Thị Bạch Nga đã mang Đạo vào Đời và hướng Đời vào Đạo trong thể văn nhẹ nhàng, dễ hiểu và làm say mê các độc giả năm châu bốn bể lâu nay. Cũng trong năm nầy chúng tôi đã thành lập được Ban Biên Tập Báo Viên Giác mỗi người có trách nhiệm lo cho phần mình phụ trách. Đạo Hữu Thiện-Căn Phạm Hồng-Sáu, Đạo Hữu Nguyễn Thị Hồng Nhiên cũng đã đóng góp thường trực các bài ký sự cũng như cho trang Thiếu Nhi của Viên Giác. Nhiều nhà thơ Hoài Khê, Đồ Cao, Bảo Vân Hà Phong, Huyền Thanh Lữ, Hà Phước Thảo, Tuệ Nga, Quang Kính, An Lai Thôn Nữ, Đặng Trinh, Tùy Anh v.v... đã làm say mê các độc giả Viên Giác đó đây qua những vần thơ đạo thanh cao hay những điệu thơ du dương trầm bổng của Đời.

Năm 86, 87 báo Viên Giác càng ngày càng cải tiến nhiều hơn, Ban Biên Tập hùng hậu hơn, kỹ thuật cũng như nội dung thay đổi luôn để đáp ứng nhu cầu của độc giả. Ví dụ như bìa Viên Giác đã in tối thiểu là 2 màu và chọn những hình bìa thích hợp với nội dung của tờ báo của các họa sĩ Phạm Thăng, Đặng Văn Nhâm v.v... để làm nổi bật bộ mặt cho tờ báo. Ban Biên Tập mỗi năm họp tại chùa một lần để rút ra những ưu khuyết điểm và từ đó sửa soạn cho những số báo tiếp tục cho năm tới.

Nhà báo lão thành Nguyễn Ang Ca, nhà văn trẻ Vũ Nam cũng đã đóng góp nhiều bài báo giá trị cho Viên Giác lâu nay. Trên báo Viên Giác đã có nhiều bài hồi ký như "Đường Không Biên Giới"; "Tôi Đi Học Tập Cải Tạo" của Tích Cốc làm cho độc giả đã hâm mộ lại càng hâm mộ nhiều hơn nữa. Mục trang Thiếu Nhi mà người lớn vẫn đọc như thường, do Vũ Nam phụ trách, sau nầy Thiện Hạnh và Tâm Bạch phụ trách đã làm cho các bậc phụ huynh lẫn các em ưa thích. Mặc dầu phần đất của các em rất nhỏ nhưng các anh chị đã lo lắng cho các em đủ các nhu cầu. Phần Vườn Thơ Viên Giác đã được nhà thơ Hoài Khê chăm bón từ mấy năm nay đã mang chất liệu văn chương vào tâm hồn độc giả rất nhiều. Phần Văn  Nghệ sáng tác do Đạo Hữu Phù Vân phụ trách đã đưa độc giả từ hình ảnh nầy qua cảm giác khác trong mọi thế tình. Gần đây báo Viên Giác có thêm phần xã hội do Đạo Hữu Nguyễn Văn Thinh, Thị Chơn và Thiện Đức lo đã được nhiều độc giả hoan nghinh. Phần thời sự, tin tức và biên khảo về chính trị do Đạo Hữu Vũ Ngọc Long phụ trách đã làm cho độc giả rất ưa thích và nâng cao giá trị của tờ báo Đạo, hiện hữu trong cuộc đời. Về phần tiếng Đức, Thị Chơn và chú Thiện Tín lo. Về phần đạo do chính tôi đảm trách và trích một số bài vở trong kinh điển Phật Giáo đã được xuất bản trước đây. Phần Chủ bút Thị Chơn vẫn lo và phần Chủ nhiệm tôi vẫn đảm trách. Nhưng bây giờ Thị Chơn lo tổng quát cho tờ báo. Vì tôi công việc Phật sự quá đa đoan, không thể chăm sóc trực tiếp được. Tôi chỉ xem lại lần cuối trước khi báo lên khuôn.

Cách đây gần một năm báo Viên Giác không cần phải bỏ dấu tay như trước kia nữa, vì Thị Đạo đã tìm ra dấu tiếng Việt trong máy Computer. Rồi đây Viên Giác sẽ có Laser Druck và dĩ nhiên kỹ thuật in lại cải tiến hơn nữa để khỏi phụ lòng độc giả đó đây. Ngày xưa báo Viên Giác chỉ cần một người đánh máy trong vòng 1 tháng là xong; nhưng bây giờ có thêm Đạo Hữu Như Thân phụ vào việc đánh máy; tuy cả hai người làm việc mà hơn một tháng mới xong. Điều đó chứng tỏ rằng có nhiều bài đã được đăng và nội dung của tờ báo chứa đựng cả phẩm lẫn lượng nhiều hơn là những số trước.

Có nhiều độc giả than rằng chữ báo Viên Giác quá nhỏ đọc không nổi. Thiệt tội cho những vị lớn tuổi nhưng chúng tôi vẫn chưa có cách gì hơn vì những lý do sau đây:

- Thông thường, tâm lý ai cũng vậy, bài đã gởi đến thì muốn được đăng ngay; nếu không, lần sau sẽ không siêng năng viết tiếp nữa. Vả lại Viên Giác gần đây có rất nhiều mục, vì thế có nhiều bài, mà muốn đăng được nhiều bài thì phải rút chữ nhỏ lại.

- Mặt khác nếu tăng số trang lên 96 hoặc hơn nữa thì tiền tem không còn ở mức 250 gram cho một tờ báo trị giá 80 Pf loại Büchersendung trong nước Đức nữa, mà có giá trị cho 500 gram, với giá là 1 DM 20 Pf. Có thể nói giá tem lên rất cao chùa không thể chịu nổi và không thể gánh vác được lâu dài.

Độc giả báo Viên Giác cho đến giữa năm 89 nầy là 2.800 người. Nếu tăng chừng 2 trang báo nữa thì tiền tem có thể tăng lên mỗi lần hơn cả ngàn Đức Mã. Vì thế có lẽ Viên Giác giới hạn ở số trang 94 cho mỗi số báo vậy.

Chưa có báo nào ở Đức nầy sống không nhờ vào sự trợ giúp của các cơ quan từ thiện cộng với sự ủng hộ của quần chúng cả. Ở đây Viên Giác cũng không phải là thương mại, cũng chẳng phải là tờ báo chuyên nghiệp như những tờ báo khác; nên chỉ trông mong vào sợ hỗ trợ của Phật Tử và dĩ nhiên có sự ủng hộ một phần nào của Bộ Nội Vụ Tây Đức. Chúng ta có thể tính một con số khiêm nhường như sau: Mỗi năm báo Viên Giác phát hành 6 lần. Mỗi lần 2.800 số, trị giá cho mỗi năm là gần 42.000 Đức Mã. Trung bình mỗi tờ báo kể cả tiền tem gởi đi hơn 2 Đức Mã. Mặc dầu báo Viên Giác đã được các độc giả xa gần nhiệt liệt hỗ trợ; nhưng trung bình mỗi năm được 10.000 đến 15.000 Đức Mã là cùng. Số tiền còn lại nếu không có chính phủ giúp thì sẽ không thực hiện được. Đó chỉ kể tiền giấy mực, tem thư và không kể một đồng tiền công nào cả. Vì tất cả các Phật Tử đều làm công quả. Nếu tính tiền công theo người Đức thì báo Viên Giác phải tính theo cấp lũy thừa, không còn là cấp nhân nữa. Vì thế cho nên hầu như người làm báo nào cũng mong mỏi ở mọi độc giả một việc đơn giản là sau khi nhận được một tờ báo, chỉ cho lại tiền tem thôi là tờ báo có thể sống rồi. Trên thực tế thì khác, không bao giờ giống như điều mong ước, nên đã có nhiều tờ báo đành bỏ dở giữa đường, mặc dù họ còn thừa kinh nghiệm và khả năng để điều động một tờ báo, chỉ thiếu một điều kiện duy nhất là nguồn tài chánh mà thôi. Làm báo có lẽ ai cũng vui khi thấy độc giả vui và có lẽ ai cũng buồn khi thấy một tờ báo sắp đình bản. Nhiều khi tôi cầm một tờ báo số đình bản trên tay, lòng cảm thấy nao nao khi suy nghĩ về cuộc đời, nhân tình và thế thái.

Ở đây chúng ta có thể đặt câu hỏi rằng: Tại sao những tờ báo thương mại lại sống được? - Câu trả lời rất đơn giản và dễ hiểu - Vì tờ báo đó đáp ứng được nhu cầu và thị hiếu của độc giả, chỉ đơn giản có thế thôi -nhưng ở đây nhu cầu và thị hiếu phải được chia ra làm 2 loại. Loại hướng thượng và loại bình dân. Loại hướng thượng thì rất ít người đạt tới. Loại bình dân thuộc về đại chúng -những chuyện tò mò, to nhỏ, dỡ dỡ ương ương v.v... chuyện nầy rất nhiều người thích đọc, đơn giản và dễ hiểu. Đó là một tờ báo thương mại; còn tờ báo Đạo hoặc những tờ báo đứng đắn khác làm sao có thể hạ bút viết những bài, những chữ, những câu chỉ có mục đích giải quyết được những chuyện hạ đẳng của con người. Quả thật là một tờ báo đứng đắn và một tờ báo Đạo không ai có thể can đảm làm được việc đó cả. Cũng có nhiều tờ báo sống chỉ nhờ vào quảng cáo. Vì thế nội dung của tờ báo thì chẳng có gì đáng để đọc được. Tóm lại chỉ chờ vào sự cảm thông và ủng hộ của độc giả mà thôi. Nhiều tờ báo Đạo bên Mỹ, Canada, Úc xuất bản không biết bao nhiêu lần, cũng đành phải đình bản. Vì thiếu hụt tài chánh. Riêng Viên Giác đã 10 năm có mặt với làng báo Việt Nam, đời cũng như đạo kể từ năm 1979 đến nay qua 6 số bộ cũ, 2 số tiếng Đức và 51 số bộ mới; tổng cộng là 59 số. Điều đó chứng tỏ rằng Viên Giác vẫn còn tồn tại là nhờ Bộ Nội Vụ Tây Đức đã yểm trợ tài chánh một phần, cũng như lo cho nhà máy in và sự gia tâm hỗ trợ của quý Phật Tử khắp nơi. Nhưng nhà máy in sau 10 năm hoạt động, có một số máy đã cũ, nay cần phải được thay thế. Dĩ nhiên chúng ta phải chịu phần đóng góp chính trong nầy. Vì Bộ chỉ cho cơ sở lúc ban đầu để chúng ta phải tự tồn tại và phát triển, không ai có thể lo cho ta suốt cả cuộc đời mà ta không phải tự mình lo cho mình cả. Cha mẹ nuôi con cũng thế, khi còn nhỏ lo cho mọi điều; nhưng khi đã lớn khôn rồi thì tự người con đó phải lo cho chính mình. Vì không còn là đứa trẻ thơ ngây như ngày xưa nữa. Vì thế những độc giả của Viên Giác, nếu có ủng hộ cho báo, chúng tôi cũng sẽ dành dụm cho việc trang trải cho tờ báo; nếu có thừa, ngoài sự giúp đỡ của Bộ, chúng tôi sẽ cho vào phần trang bị máy móc cho nhà in.

Người ta thường bảo:

"Đường dài mới biết ngựa hay

Ở lâu mới biết lòng ai chánh tà"

Nên chúng ta có thể nói rằng: sở dĩ Viên Giác còn tồn tại được cho đến ngày nay là do lòng thương mến của các độc giả và công lao đại hộ pháp của Bộ Nội Vụ Cộng Hòa Liên Bang Đức. Ơn ấy xin hồi hướng lên Tam Bảo chứng tri và nguyện cầu cho mọi người, mọi loài được an lạc giải thoát.

Có lần tôi đã viết trong "Đường Không Biên Giới" hay đâu đó rằng: Khi mới vào chùa tu, tôi không nghĩ rằng phải đi học. Vì tôi quan niệm rằng tu chỉ là tụng kinh gõ mõ mà thôi; nhưng trên thực tế thì không phải thế và ngay từ khi ở Nhựt cũng như ở Tây Đức, tôi cũng đã không nghĩ rằng phải làm Chủ Nhiệm những tờ báo Đạo như thế kia, hay thỉnh thoảng phải viết cho một vài tờ báo khác khi có sự yêu cầu. Âu đó chỉ là một nhân duyên mà nhân duyên ấy tôi cũng đã chẳng chờ đợi và mong ước. Chẳng qua đó là một bổn phận một trách nhiệm phải làm mà thôi.

Trên đây tôi đã tường thuật lại những gì trong 10 năm qua về mọi vấn đề; nhưng tin rằng vẫn còn thiếu sót. Mong quý vị cộng tác cho Viên Giác niệm tình hỷ thứ cho những sơ sót ấy của tôi. Vì trong trí nhớ con người chỉ có giới hạn trong một phạm vi có thể nào đó mà thôi.

Viết bài nầy tôi có ý trình bày lại mọi diễn tiến trong 10 năm để quý độc giả tường và mong rằng những cảm tình mà lâu nay quý vị đã đối đãi với Viên Giác vẫn còn hiện hữu như xưa nay và mong rằng có nhiều người mới khác cộng tác cũng như hỗ trợ cho mọi vấn đề. Có như thế Viên Giác mới có thể tiếp tục trong sứ mạng của mình là mang Đạo vào Đời và mong đời được tỏa ngát hương Từ Bi, giải thoát do sự thấm nhuần đạo lý ấy.

Tôi hy vọng rằng 15 năm sau nữa sẽ còn viết cho Viên Giác để kỷ niệm lần thứ 25 năm Viên Giác tồn tại nơi đây và sẽ cải thiện mỗi ngày để Viên Giác xứng đáng là một tờ báo của mọi người.

Chắp tay nguyện cầu cho mọi người thấm nhuần giáo lý của Đức Phật và cư xử với nhau trong tình thương của đồng loại để không còn chiến tranh và thù hận xảy ra trên quả đất nầy.

A Di Đà Phật.

( Số 51 (Tháng 6.1989)

 

 

Người hành khất

Chùa Viên Giác thường hay đón khách thập phương đủ mọi thành phần nam, phụ, lão, ấu, như: người Nhựt, người Mỹ, người Âu Châu, Phi Châu v.v... đủ mọi sắc dân và đủ mọi ngôn ngữ. Nhưng chưa có một vị khách nào có một đặc điểm đáng lưu ý như một người hành khất đã đến thăm chùa trong tháng 3 năm 89 vừa qua, mà tôi sắp kể cho quý vị nghe đây.

Thật ra trong chữ Bikkhu tiếng Phạn dùng để chỉ cho các vị Tỳ Kheo thọ đủ 250 giới, trong đó bao gồm 3 nghĩa là: Khất sĩ, Bố ma và Phá ác. Khất sĩ là người đi xin vật dụng của đàn na thí chủ về nuôi mạng sống của mình; trên cầu đạo giác ngộ, dưới cứu độ quần sanh. Nguyên ngữ của nó, người đi tu chính là người đi thực hiện hạnh nguyện vì người và quên mình và tự hạ mình xuống để sự cống cao ngã mạn không còn tồn tại trong người tu nữa; nên Đức Phật mới chế ra cho các Thầy Tỳ Kheo như vậy.

Bản thân tôi cũng chỉ thế thôi, như bao nhiêu vị Tăng sĩ khác trên quả địa cầu nầy; nhưng điều tôi muốn trình bày ở đây với quý vị là một người Cư sĩ tại gia, mà đi thực hiện hạnh nguyện của một người hành khất.

Vào một chiều đầu Xuân có người khách lạ Âu Châu vào chùa tìm tôi và muốn nói chuyện với tôi. Tôi đã tiếp chuyện với người khách lạ nầy giống như bao nhiêu người khách khác đã đến chùa và đây là những câu đối thoại:

- Xin cô cho biết, cô muốn gặp tôi có điều gì?

- Tôi, một người không nhà, không cửa, không cha, không mẹ, không bạn bè, đã sống đời hành khất suốt 2 năm nay; nhưng bây giờ tôi muốn dừng chân tại đây. Mong Thầy tế độ.

Cô ta chậm rãi trả lời bằng tiếng Đức như thế. Tôi vừa muốn trả lời, tự nhiên có một vài suy nghĩ chợt đến. Lẽ nào tại xứ Âu Châu nầy lại có những người như thế ư? Đầu tiên tôi tưởng cô ta là người mồ côi; nhưng không phải, có lẽ cô ta còn cha mẹ và họ hàng; nhưng họ hàng không nhìn cô ta, hoặc chính cô ta đã không nhìn họ hàng của mình. Vì cô muốn tự chọn cho cô một lối đi. Tôi ngồi trầm ngâm một chút rồi hỏi tiếp:

- Cô quốc tịch gì và tại sao cô chọn cuộc sống ấy?

- Tôi không có quốc tịch, tôi cũng không có tên tuổi, và giấy tờ tôi cũng đã mất hết tại Hồng Kông và sở dĩ tôi chọn cuộc sống khất thực vì tôi muốn mình có một sự tự do nào đó không bị lệ thuộc vào ai cả.

Nói chuyện với cô ta một hồi tôi thấy cô ta biết nhiều về Phật Giáo, hiểu rất nhiều về cách sinh hoạt của các chùa, viện ở Á Châu. Cô ta đã quy y với Phật Giáo Tây Tạng và pháp danh cô ta đã có, nhưng cô không còn nhớ nữa, ngay cả chính tên của cô ta. Tôi tin rằng tự cô muốn thế. Vì cũng có nhiều người trên đời nầy muốn quên tất cả và cô ta đã thực hiện được điều đó. Tôi nghe cô nói về chữ vô quốc tịch, tự nhiên lại nghĩ đến thân phận mình cũng như của bao nhiêu người tỵ nạn Việt Nam khác đang sống cuộc đời trôi nổi trên khắp năm châu bốn bề nầy. Nghĩ người mà ngẫm đến ta, tự nhiên tôi thấy có cái gì lắng sâu vào tận đáy lòng, xót thương thân phận của người khách ngồi đối diện, có lẽ cũng chính là xót thương thân phận cho chính mình vậy. Tôi hỏi cô tiếp:

- Vậy ăn, uống và ngủ, nghỉ của cô ra sao?

Cô ta trả lời rằng:

- Việc ăn uống ở Đức hay ở bất cứ nơi đâu cũng không khó khăn gì lắm, vào bất cứ nhà hàng nào, nhất là những nhà hàng Á Châu, xin canh cặn, cơm thừa để ăn qua ngày, đối với tôi chuyện ấy không khó. Còn ngủ thì tôi đã có tấm nhựa nylon và mền, tôi thường hay ngủ trên các chòi canh của người săn thú ngoài rừng và đôi khi tôi vào trong những nhà hoang vắng trong vườn trồng cây để ở lại. Sáng hôm sau lại tiếp tục đi nữa.

Tôi tự nhiên suy nghĩ thật nhiều. Ở đây vào đông trời quá lạnh, làm sao chịu đựng được nổi, mà có người đã chịu đựng được. Tôi tin rằng cô ta đã nói thực điều đó. Có những người đã có chăn êm nệm ấm rồi còn đòi có nhiều tiện nghi khác. Có nhiều người đã và đương sống trên giàu sang phú quý với trân hào hải vị trong các bữa ăn; nhưng vẫn chưa vừa lòng không biết ai đó có bao giờ nghĩ đến những người hành khất sống, ăn, ở như thế chăng? Một người đàn bà, nhất là một người đàn bà Âu Châu lại có thể làm được việc đó.

Trông cô ta không phải là người bất bình thường, chẳng phải là người không có học thức. Vì qua cách đối đáp cũng như phong diện của cô ta, người ta có thể hiểu được điều đó, chỉ thỉnh thoảng cô ta có chêm thêm vài câu trả lời không đâu vào đâu cả, biểu tượng cho tánh xả kỷ của cô thì phải. Tôi trở lại lời yêu cầu đầu tiên của cô ta để tiếp tục câu chuyện.

- Ở đây chùa Tăng, vì thế chúng tôi không thâu nhận giới Ưu Bà Di trẻ ở lại chùa. Nếu được, mỗi tháng vài lần cô có thể đến đây để nghe kinh và dùng cơm chay, chứ chúng tôi không thể giúp được lời yêu cầu của cô.

Cô ta có vẻ nghĩ ngợi sau câu trả lời của tôi, một cái buồn nhẹ tênh bao phủ chung quanh người hành khất ấy. Lòng tôi cũng chùng xuống; nhưng đâu có phương tiện nào khác hơn để có thể giúp cô ta. Tô quay sang cô ta để hỏi:

- Cô có cần ăn gì không và ngay cả tiền nữa?

- Tôi không cần ăn nhiều. Thức ăn của tôi chỉ cần nước canh và bánh mì, đôi khi thêm một ly sữa. Như thế đủ lắm rồi. Nhưng giờ nầy tôi không đói. Xin cảm ơn Thầy. Còn tiền, tôi không cần đâu. Tôi đang còn 3 DM trong túi. Như thế quá đủ đối với tôi.

Đây có lẽ là một câu trả lời mà trong đời tôi chưa bao giờ được nghe ai nói như thế cả, mà câu trả lời ấy lại thốt ra từ miệng của một người Âu Châu, tôi kinh ngạc làm sao. Trong một xã hội mà người ta đang đua đòi về mọi mặt; trong khi đó có những người đang sống giữa xã hội nầy mà không cần đến một phương tiện tài chánh nào. Quả thật là điều khó làm, mà cô ta đã làm được. Điều đó cũng đã nhắc nhở cho chính tự thân của tôi là không hờn trách, không oán than, không bất mãn bất cứ một chuyện gì đã đương và sẽ xảy đến cho mình dưới bất cứ một hình thức nào cả. Tôi cảm thấy đã đầy đủ tất cả tự hồi nào. Tôi cũng là một người khất sĩ, đầy đủ trọn vẹn ý nghĩa của nó. Bởi vậy cho nên chư Tổ Sư mới dạy: 

"Có thời có tự mảy may

Không thời cả thế gian nầy cũng không

Cho hay bóng nguyệt dòng sông

Nào ai hay biết có không là gì"

Danh mà chi, lợi mà chi, bằng cấp, địa vị, tiền tài, của cải... có đó rồi mất đó. Nếu ai trong chúng ta cũng đều ý thức được sự vô thường của cuộc đời thì sẽ không đau khổ nữa.

Có nhiều người sẽ tự hỏi chính mình tại sao phải theo đuổi một mục đích lớn như thế? Và theo đuổi để làm gì? Dĩ nhiên câu hỏi nào đặt ra thì phải có câu trả lời tiếp đó, dầu hay hoặc dở. Nhưng điều ở đây có cái gì đặc biệt của một người Âu với một người Á như chúng ta. So ra chúng ta vẫn có đầy đủ phúc duyên hơn nhiều người khác. Vậy cũng không nên đi tìm cái biết đủ đâu xa mà hãy tự tìm lại cái chân ngã của mình. Tôi hỏi tiếp:

- Với chừng ấy tiền làm sao cô có thể đi xe Bus hoặc xe lửa?

Cô ta trả lời rằng:

- Nếu lỡ bị phạt, họ sẽ ghi giấy tờ cho tôi; nhưng tôi đã nói, tôi không có nhà, do đó làm gì có địa chỉ để họ gởi tới và họ cũng có thể khám xét tôi, tôi cũng chẳng có thêm một đồng nào. Cuối cùng rồi cũng thôi. Tôi sẽ bảo với họ "Tôi là người hành khất". Nếu đi lên xe lửa, điều đầu tiên là tôi nói sự thật với người soát vé là tôi không có tiền, nếu họ cho đi thì tôi đi tiếp tục. Nếu không, ít nhất tôi cũng đi trên xe được một đoạn đường.

Không biết có ai trong chúng ta đã làm việc ấy chăng? Nếu có làm, có lẽ mục đích không giống như cô ta, vì cô ta không còn gì tất cả. Ngay cả tên của chính cô ta còn muốn quên đi, huống gì nhớ đến tiền bạc hay những loại vặt vãnh tùy thân khác.

Sau khi nói chuyện xong, cô ta từ giã mọi người ra đi trong thầm lặng và chẳng biết đi về đâu. Lòng tôi lại chùng xuống khi nghĩ về "người hành khất" ấy. Tối hôm đó, trong bữa cơm, tôi đã đem câu chuyện nầy nói lại choTăng chúng trong chùa nghe và tôi được biết thêm một vài chi tiết khác nữa.

Một chú tiểu trình bày:

"Trong khi Thầy vắng chùa cách đây mấy tháng, cô ta cũng đã đến đây một lần và cô ta cũng đã thuật lại câu chuyện ở tù của cô ta tại Irak, chỉ vì lý do không có giấy tờ, và trong thời gian ở tù đó, cô chỉ được cho uống nước lạnh và ăn bánh mì khô. Do đó bây giờ cô không quen ăn những loại cứng, khó tiêu, mà tốt nhất là canh hoặc soup. Cô ta cũng đã kể rằng cô muốn đi khắp nơi trên thế giới chỉ một tấm lòng thanh thản, không muốn làm phiền ai bận tâm đến mình".

Một vị lớn tuổi thêm vào:

"Trông cô ta ăn cơm với canh không, mà ăn được tới 4, 5 chén cơm và mồ hôi ra nhễ nhại, thấy mà cảm động vô cùng".

Nghe những người trong chùa thuật lại, tôi cũng được biết là cô ta đã tìm đến chùa nầy lúc 2 giờ sáng, cô sợ quấy rầy giấc ngủ của những người trong chùa; nên đã đi ra ngoài vườn bông để nghỉ ở đó cho đến sáng hôm sau mới trở lại chùa. Ở chùa ai cũng thắc mắc, nhưng ít bình phẩm. Vì có nhiều người cũng giống cô ta hay lui tới chùa; nên ít có người để ý.

Riêng tôi, mỗi lần tiếp xúc với một người khách, tôi sẽ giúp họ giải quyết những điều họ cần đến và ngược lại từ trong sự giúp đỡ đó tôi cũng đã tìm hiểu được đối tượng rất nhiều. Ở đây tôi muốn nói, cách cho một lời nói hay một món đồ rất đáng quý trọng hơn là cái của đem cho mà không mang một ý nghĩa thực tâm nào cả. Nếu những bậc lãnh đạo tinh thần có được nhiều thì giờ cũng nên cố gắng nghe những tiếng nói nhỏ nhất, thấp nhất, mà vang vọng vô cùng. Tôi nghĩ rằng dầu kẻ đi xin, hay những người ăn cướp đi chăng nữa vẫn còn một chút gì quý báu của lương tâm. Vì thế nên chúng ta đừng ỷ giàu khinh nghèo, ỷ mạnh hiếp yếu, cậy mình đẹp, chê kẻ kia xấu v.v... giàu nghèo, mạnh yếu, đẹp xấu nó chỉ có giá trị thực sự khi con người tự biết cái chơn ngã của nó mà thôi.

Tôi cũng đã gặp rất nhiều người hành khất trên vỉa hè Paris, Frankfurt, New Dehli, New York v.v... nhưng tôi chưa thấy được một người hành khất nào có được một đời sống giải thoát như người hành khất tôi vừa kể bên trên. Tiền bạc, cơm nước chẳng cần. Ngay cả tên gọi cũng không buồn phải nhớ nữa, quả là một người đi xin mà chẳng xin cái gì của thế gian cả và người cho cũng chẳng có cái gì để mà cho cả. Cả người nhận lẫn người cho không biết ai là kẻ nghèo hơn ai?

Tôi viết bài nầy điều căn bản là để tự nhắc nhở mình, chính mình cũng là người trong cuộc đời khất sĩ, cũng giúp đỡ tha nhân và cũng nhận được của tha nhân. Nhưng tôi mong rằng sự nhận và sự cho đó không còn biên giới nữa để đừng bị trói buộc vào cái chấp có, chấp không thường tình của nhân thế và điều kế tiếp là để gởi đến tất cả mọi người một sự suy nghĩ nho nhỏ khi gặp những người hành khất như tôi đã có lần gặp trong thời gian vừa qua.

Tôi chợt nghĩ biết đâu hình ảnh cô gái hành khất đó chẳng phải là hóa thân của một vị Bồ Tát hay một vị Phật nào đó đã hiện ra để theo dõi lòng người, thử thách tấm lòng bác ái của tha nhân, như những mẩu chuyện cổ tích của Phật Giáo vẫn thường hay kể như thế.

Hôm nay trời trong quá, tôi ghi lại mấy dòng nầy trên bàn giấy trong phòng đọc sách. Để kết thúc bài nầy, tôi nhìn lên từ dung của Đức Bổn Sư đang đặt ngay trước mặt. Tôi mỉm cười và tự nói với mình là "biết đâu... biết đâu đó là một trợ duyên cho nhiều kẻ tu hành". 

Viên Giác Tự, mùa Xuân năm Kỷ Tỵ

( Số 52  (Tháng 8.1989)

Tương lai thanh thiếu niên Việt Nam hải ngoại 

Viên Giác số 54 kỳ nầy với chủ đề là "Tương Lai Thanh Thiếu Niên Việt Nam"; nhưng đề tài nầy khá bao quát, cả trong nước lẫn ngoại quốc. Do đó chúng tôi chỉ xin trình bày về hải ngoại mà thôi. Nói đến thanh thiếu niên là nói đến sự phát triển, sự vươn lên, sự xây dựng v.v... Vì thế trong bất cứ một quốc gia nào, một cộng đồng nào, thanh thiếu niên cũng đóng góp một vai trò quan trọng, nhất là đối với thanh thiếu niên Việt Nam hiện ở tại ngoại quốc ngày nay.

Đức Phật có dạy rằng: "Muốn có tương lai tốt thì hiện tại phải tốt". Vì thế muốn có một thế hệ thanh niên tốt đẹp ở ngày mai, ngay trong hiện tại chúng ta phải gây dựng cho thế hệ nầy có một niềm tin vững chắc vào tương lai, một sức học uyên bác qua giáo dục của học đường, một đạo đức đúng đắn dựa vào niềm tin của Tôn Giáo.

Chắc chắn một điều, ai trong chúng ta cũng không thể không qua sự giáo dục mà trưởng thành được cả. Khi còn nhỏ, con cái phải qua sự giáo dục của gia đình, khi khôn lớn, thanh thiếu niên phải qua sự giáo dục của học đường và khi đi vào đời phải có một niềm tin vào một Tôn Giáo. Nếu thiếu các điều kiện trên, chắc chắn thanh niên sẽ không có lối thoát.

Chúng ta vẫn thường hay nghe danh từ "giáo dục", "sư phạm", "dưỡng nhi" v.v... nhưng cũng có nhiều người ít khi lưu tâm về ý nghĩa của nó. Vậy giáo dục là gì?

Câu hỏi tuy đơn giản; nhưng sự trả lời có nhiều phương diện khác nhau. Chữ giáo có nghĩa là dạy bảo, hướng dẫn, khuyên răn, nhắc nhở. Chữ dục có nghĩa là dưỡng thành, chăm sóc, huấn luyện. Nếu gộp chung ý nghĩa của hai chữ lại, chúng ta có thể nói rằng: giáo dục là sự huấn luyện cho con người trở nên đứng đắn. Sự huấn luyện nầy có thể đến từ cha mẹ hay học đường, trong nhà hoặc ngoài xã hội.

Còn "sư phạm" có nghĩa là gì?

có nghĩa là thầy, phạm có nghĩa là mô phạm, quy tắc của một nhà giáo. Học Sư Phạm tức là học nguyên tắc của việc làm Thầy, hướng dẫn như thế nào để thanh thiếu niên đi đúng với đường lối giáo dục.

Ở nhiều nước xã hội tân tiến có các cơ quan "Dưỡng Nhi, Ấu Trĩ Viên" v.v... để huấn dục các trẻ nhỏ từ 1 đến 5 hoặc 6 tuổi. Đây cũng là những cơ quan giáo dục rất quan trọng đối với tuổi thiếu niên.

Trở về vấn đề thanh thiếu niên Việt Nam Hải Ngoại của chúng ta trong hiện tại, chúng ta đã làm được gì trong 3 điều khoản vừa nêu trên? 

A. Đối với gia đình

Gia đình là nền tảng của xã hội. Gia đình là đơn vị nhỏ nhất trong xã hội; nhưng rất quan trọng. Vì chính gia đình là những mô thức căn bản giáo dục con người đi vào xã hội. Nếu căn bản đạo đức của gia đình không vững chắc, thì chắc chắn rằng các thanh thiếu niên sống trong gia đình đó, khi lớn lên, ra ngoài xã hội sẽ bị sự tiến hóa của xã hội đào thải và mọi người bên cạnh chê bai là những thanh thiếu niên đó không được sự huấn dục của cha mẹ.

Có nhiều bậc cha mẹ khi ra ngoại quốc mải lo bon chen với đời sống vật chất, quên đi sự chăm sóc cho con cái mình bằng Đạo học Đông Phương, đến một ngày nào đó giữa con cái và cha mẹ dường như có một bức tường chia cách, vì tuổi tác, vì quan niệm sống, vì hoàn cảnh bên ngoài chi phối những thanh thiếu niên kia.

Người Nhựt họ tiến bộ thật nhiều về kỹ thuật; nhưng đồng thời những truyền thống văn hóa, đạo đức cổ truyền họ không quên, do đó việc duy tân, hội nhập của họ không bị mất gốc. Trong khi đó, nếu chúng ta không tạo được cho thanh thiếu niên có được đạo đức của Đông Phương, như: đi thưa, về trình, lễ phép với các bậc trưởng thượng v.v... thì chắc chắn cái hội nhập của văn hóa Tây Phương sẽ dễ làm cho con em của chúng ta bị đồng hóa một cách mau chóng và quên đi những cội nguồn của một Dân Tộc. Đây là một hiện tượng mất gốc.

Những bậc cha mẹ có cái gốc từ Việt Nam sinh ra và lớn lên tại đó bằng 30 hay 40 năm trời, chắc chắn rằng cái gốc vẫn còn. Trong khi đó các Thanh Thiếu Niên Việt Nam sinh ra tại hải ngoại, hoặc giả ở Việt Nam chỉ được 5 hay 10 năm và thời gian trưởng thành ở ngoại quốc hàng 10 hay 20 năm. Chắc chắn rằng cái ngọn sẽ nhiều hơn cái gốc. Vì thế hiện tượng bị mất gốc không phải là chuyện khó xảy ra, nếu gia đình đó, cha mẹ kia không truyền thừa được hạt giống tinh thần, đạo đức của cha ông từ trong nước ra hải ngoại. Vì vậy bổn phận của cha mẹ đối với con cái trong gia đình rất quan trọng.

Cái quyền của cha mẹ ở Việt Nam đối với con cái rất nhiều như việc lo cho con ăn học, lo cho đời sống kinh tế, dựng vợ gả chồng v.v... nhưng khi ra ngoại quốc, một số quyền nầy cha mẹ đã bị hạn chế; nên sinh buồn nản và bực dọc con cái mình. Ngược lại, con cái cũng nhân cơ hội đó mà đòi ly khai gia đình và chấp nhận cuộc sống tự do ở nơi đây. Như vậy nền tảng của gia đình sẽ bị tan vỡ. Hay hơn hết cha mẹ nên chấp nhận những cái hay của xứ người, xứ mình, loại trừ những hủ tục của xứ ta và tật xấu của nơi mình đang sinh sống, nhằm trung hòa thế đứng giữa hai thế hệ trẻ và già, cũ và mới. Có như thế cha mẹ vẫn còn giữ được thế đứng của mình và con cái mới vui vẻ chấp nhận một cuộc sống mới.

 

B. Đối với học đường

Học đường là lò đúc nhân tài. Điều đó đúng. Vì xưa nay những người làm nên lịch sử không ai là không xuất thân từ học đường  cả. Thỉnh thoảng cũng có vài người ngoại lệ, không được đào tạo trong học đường; nhưng họ cũng đã thành danh ngoài xã hội. Ở nhà có ông bà cha mẹ, đến trường có thầy cô, bè bạn. Thanh thiếu niên sẽ học được những gì nơi những vị ấy?

Ở Á Đông chúng ta thường thường người học trò chỉ học từ lời dạy của ông Thầy, hoặc từ sách vở. Vì thế mới có cảnh phải học thuộc lòng từng chữ, từng  câu. Với truyền thống đó, mãi cho đến bây giờ vẫn còn ảnh hưởng mạnh đến một số thanh thiếu niên Việt Nam tại Hải Ngoại. Có lẽ ngày xưa Việt Nam chúng ta bị ảnh hưởng bởi nền giáo dục của Trung Quốc. Khi học chữ Hán, nếu không thuộc mặt chữ, chắc chắn một điều sẽ không đọc thông câu văn đó. Trong khi đó, chữ quốc ngữ hoặc chữ theo mẫu tự La Tinh của Âu Châu, mặc dầu chúng ta không biết nghĩa, chúng ta vẫn có thể đọc được chữ đó như thường. Vì thế cái học của Âu Châu không cần phải học thuộc lòng và nhồi vào óc như cái học của Á Đông chúng ta.

Vả lại Âu Châu ông Thầy chỉ là một vị hướng dẫn mà thôi. Vị Thầy không có quyền tuyệt đối trong việc hướng dẫn tư tưởng cho thanh thiếu niên học sinh, mà Thầy hay Cô giáo chỉ là những người bạn đến trường trao đổi kinh nghiệm học hỏi của mình cho thế hệ đi sau. Châm ngôn Á Châu chúng ta có câu là "Trọng Thầy mới được làm Thầy". Trong khi đó ở Âu Mỹ Châu người học trò xem Thầy không hơn không kém một người bạn. Điều nầy giữa Âu và Á có cả những điểm hay và những điểm dở của nó. Người Á Châu chúng ta khi dạy trẻ thường hay dùng roi vọt và lời nạt nộ để thị uy làm cho đứa trẻ lo sợ mà học bài. Nhưng chắc chắn một điều là đứa trẻ sợ cái roi và lời nạt nộ hơn là sợ tư cách mô phạm của một ông Thầy. Trong khi đó sự giáo dục của Âu Mỹ là trao đổi kinh nghiệm. Những đứa trẻ có quyền đưa ý kiến của mình trên mọi bình diện, mọi vấn đề. Vì thế khi ra đời, một thanh niên, sinh viên Âu Mỹ chắc chắn dạn dĩ hơn những thanh thiếu niên được giáo dục bằng đường lối Á Châu, chỉ học từ sự hiểu biết của ông Thầy. Dĩ nhiên lối giáo dục nào cũng có cái hay cái dở của nó; nhưng điều quan trọng là chúng ta phải biết chấp nhận cái nào và loại bỏ cái nào.

Có nhiều bậc cha mẹ sợ con cái mình không theo kịp người địa phương, nên cho phép con cái nói toàn tiếng Đức, tiếng Anh, tiếng Nhật mà không hề cho nói tiếng mẹ đẻ. Cho nên sau nầy cha mẹ cũng rất khổ tâm, vì không biết con cái muốn nói cái gì với mình mà cha mẹ cũng không hiểu; vì khả năng ngoại ngữ của cha mẹ có giới hạn. Cho nên một người được gọi là biết giữ gìn truyền thống văn hóa của Dân Tộc, chắc chắn rằng chúng ta sẽ không quên việc cho con cái mình học tiếng Việt và nói tiếng Việt. Việc đọc, nói và viết được một ngoại ngữ là quý, hơn nữa đây là tiếng mẹ đẻ của các thanh thiếu niên nam nữ ngày nay tại hải ngoại lại càng cần thiết rất nhiều.

Chúng ta là người Việt Nam, nếu chúng ta nói tiếng Việt dở thì người Việt mới cười, chứ chẳng ai khen chúng ta nói tiếng ngoại quốc giỏi, trong khi đó lại quên tiếng của mẹ mình sinh ra. Chúng tôi có gặp một người đàn bà Việt Nam có chồng Thụy Sĩ lâu năm, con cái bà ta nói được nhiều thứ tiếng, đặc biệt nói tiếng Việt rất rành, tôi có hỏi là sao các cháu nói tiếng Việt rành thế? Người mẹ Việt nam trả lời rằng: Bạch Thầy "các cháu phải nói tiếng mẹ đẻ của cháu chứ". Nghe câu trả lời rất đơn giản; nhưng ý nghĩa quá sâu sắc. Vì thế các bà mẹ Việt Nam, dầu cho chồng mình là người gì đi chăng nữa, cũng nên cố gắng tập cho con mình nói tiếng Việt thì tương lai con cái mình mới có khả năng hiểu biết về văn hóa của Việt Nam. Trong khi đó cũng có nhiều gia đình cha mẹ là người Việt Nam mà con cái lại nói toàn tiếng ngoại quốc. Vả chăng đây là một hiện tượng không còn gốc rễ nữa?! Nếu gia đình đã vậy thì học đường chỉ là kế thừa những sản phẩm của gia đình mà thôi. Vì thế sự giáo dục của cha mẹ đối với con cái phải cần thẩm định lại.

 

C. Đối với tôn giáo

Tôn giáo là đời sống tinh thần của con người. Nếu con người không có tôn giáo tức người đó như gỗ đá, không biết thiện ác, xấu tốt mà chỉ sống theo thị hiếu mà thôi. Tôn giáo tượng trưng cho phần tâm linh hướng thượng của con người. Nếu đời sống vật chất tăng mà đời sống tinh thần giảm, con người sẽ bị khủng hoảng. Ngược lại đời sống tinh thần tăng mà đời sống vật chất không phát triển thì trở nên nghèo nàn, lạc hậu. Vì thế chúng ta cần phải có một đời sống quân bình. Nghĩa là vật chất và tinh thần phải phát triển đều đặn, ngang hàng cùng nhau.

Ở Âu Mỹ ngày nay có nhiều bậc lãnh đạo tinh thần kêu gọi giáo dân, thanh niên, thiếu nữ, nên trở về nội tâm, trở về sống với thiên nhiên. Vì vật chất đã quá nhiều và vật chất đã làm chủ mọi phương diện. Tuy tiếng hô to ấy còn vang vọng đâu đây; nhưng con người tại Âu Mỹ đã bị cuốn hút vào nguồn máy kỹ nghệ, hưởng thụ, cho nên lời ngăn ngừa của tôn giáo vẫn còn xa thăm thẳm.

Trong khi đó tại Á Châu chúng ta hay ngay những thanh thiếu niên Việt Nam tỵ nạn ngày nay tại hải ngoại có được cái may mắn là thừa hưởng một giá trị tinh thần rất nhiều của các tôn giáo Á Châu. Trong đó Phật Giáo đóng góp một vai trò không nhỏ trong việc quân bình đời sống của con người giữa xã hội vật chất như ngày nay tại hải ngoại.

Có nhiều bạn trẻ bảo rằng: Tôi không cần Tôn Giáo. Có lẽ đúng một phần. Vì khi hỏi một người đang mạnh khỏe có cần nhà thương không? Chắc chắn là anh ta trả lời rằng: Không. Nhưng mấy ai trong chúng ta lại được trẻ mãi không già. Mà khi già rồi thì bịnh đau, chết chóc sẽ đến một cách bất thường. Do đó họ phải cần đến Tôn Giáo. Tôn giáo là một chiếc phao, là một cây gậy để cho người chết đuối, hoặc kẻ già nua nương vào đó để sống. Nói như vậy không có nghĩa là Tôn Giáo chỉ cần cho người già mà người trẻ lại chẳng cần. Đức Phật đã dạy rằng: "Cuộc đời là vô thường; nhưng sự chết chóc là chắc chắn". Ai sinh ra rồi cũng phải chết cả. Mà sự chết đó không chờ ở tuổi tác, hay sự khủng hoảng tinh thần không lựa người để khủng bố, hủy hoại, mà chúng đến cùng lúc và cuộn trôi tất cả vào một guồng máy khổng lồ để nghiền nát đi giá trị tinh thần. Đó là sự phá hủy đi đời sống tâm linh của con người.

Trong khi các thanh thiếu niên Âu Mỹ ngày nay sống không tương lai và đời sống tinh thần bị áp đảo ở nhiều mặt, họ tìm đến Tôn Giáo, nhất là các Tôn Giáo Đông Phương, trong đó có Phật Giáo, thì các thanh thiếu niên Việt Nam tại hải ngoại chúng ta lại vùi mình vào những hưởng thụ vật chất của Tây Phương, mà chắc chắn một điều những sự hưởng lạc tinh thần có tính cách ngắn ngủi nầy chỉ mang con người vào cõi chết như con thiêu thân trước bóng đèn mà thôi.

Vì vậy Tôn Giáo vẫn là một chất liệu dưỡng sinh cho bao nhiêu tâm hồn lạc lõng muốn tìm về cõi sống tâm linh của chính mình, mà, điều nầy chủ nghĩa nào cũng không thể mang lại cho con người được, ngoại trừ Tôn Giáo.

Bên trên chúng tôi đã dựa vào 3 căn bản của Gia Đình, Học Đường và Tôn Giáo để gởi đến các bậc phụ huynh có con em là những thanh thiếu niên tại hải ngoại ngày nay. Nhằm giúp khai thông một vài chỗ uẩn khúc nếu có và đối với thế hệ trẻ, chúng tôi muốn họ nhìn về một tương lai, một chân trời mở rộng, mà chắc chắn giá trị tâm linh phải được quân bình với đời sống vật  chất tại xứ người.

Không có một sự giáo dục nào mà không lấy con người làm căn bản cả. Vì vậy dù cho là người gì đi chăng nữa, dầu ở trong nước hay ở ngoại quốc, chắc chắn một điều là con người không thể thiếu một sự giáo dục nhân bản được.

Đứng trước sự trưởng thành của các thế hệ thanh thiếu niên Việt Nam hải ngoại ngày nay và sự lui về quá khứ của những bậc cha mẹ, chúng tôi tin rằng chúng ta sẽ có một lối thoát, biết chia xẻ cái hay, cái đẹp cho nhau, biết giữ gìn văn hóa, ngôn ngữ và Tôn Giáo cũng như phải biết yêu thương nhau những người đồng loại thì một tương lai Việt Nam huy hoàng bởi những sự đóng góp bằng con tim khối óc của các thanh thiếu niên nam nữ ngày nay tại hải ngoại không phải là chuyện ngoài tầm tay.

Nguyện cầu cho mọi người, mọi loài có được những ý niệm đẹp và cố gắng thực hiện những giá trị nhân bản của con người.

 

Chùa Viên Giác một ngày vào Đông 89

 

( Số 54  (Tháng 12.1989)

Đề tài thuyết trình tại Caritas Frankfurt ngày 15.1.1993

 

Phật Giáo trong sự liên hệ với con người

Kính thưa quý vị,

Hôm nay, qua lời mời của Bà Bùi, đại diện cho Caritas Frankfurt, chúng tôi có cơ duyên đến đây để trình bày với quý vị về một đề tài lấy tên là: "Phật Giáo trong sự liên hệ với con người". Xin thành thật cảm ơn về sự lưu tâm của quý vị.

Đầu tiên có lẽ chúng tôi sẽ định nghĩa thế nào là con người dưới cái nhìn của Phật Giáo và từ đó chúng ta sẽ phân tích sự liên hệ của con người đối với Đạo Phật như thế nào?

Con người, theo định nghĩa của Đạo Phật là kết quả của nghiệp lực mà chính mình đã tạo ra từ đời nầy sang đời khác và chính tâm thức sẽ dẫn dắt chúng ta đi đầu thai thành con người tốt hay con người xấu v.v... Cũng giống như nước vậy, từ ngoài hồ, ao, sông, biển, nước sẽ bốc hơi thành mây, mây gặp lạnh thành mưa, mưa thành nước, nước chảy ra lại ao hồ... Nước cứ luân lưu mãi như thế từ vô thỉ đến vô chung, nghĩa là không có cái bắt đầu và cũng chẳng có cái chấm dứt.

Nước cũng có thể tồn tại trong nhiều dạng thức khác nhau. Ví dụ ở thể loãng, thể đặc và thể rắn. Sở dĩ có được những thể nầy, vì hoàn cảnh chung tạo nên; những đặc tính của nước ở trong trạng thái bình thường cũng sẽ là nước.

Con người cũng thế, nhưng con người khác hơn ở sự vật một điểm là có tâm thức và chính tâm thức nầy sẽ dẫn dắt con người đầu thai vào thế giới cao hơn hoặc thấp hơn, tùy theo nghiệp lực mình đã tạo và nương theo ngoại cảnh chi phối ở bên ngoài.

Tâm của con người cũng giống như một dòng điện, thân con người giống như một bóng điện. Một bóng điện dầu tốt đến đâu, chắc chắn một ngày nào đó, bóng điện ấy sẽ hư; thân thể chúng ta cũng thế.

Ai sinh ra trong cuộc đời rồi trước sau gì cũng phải chết cả; nhưng chắc chắn sau sự chết ấy còn những sự sống khác nữa. Cũng như thế, khi một bóng điện bị hư, chúng ta tin rằng dòng điện vẫn còn và chắc chắn một điều khi thân thể bị mất đi, tâm thức không thể nào mất hẳn được. Nếu ta thay thế vào một bóng điện khác, dòng điện lại tiếp tục luân lưu và có thể sáng hơn hoặc mờ hơn, tùy theo bóng điện kia nhiều công suất hay ít công suất hơn. Tâm thức của con người cũng vậy, khi đi đầu thai vào một thế giới khác, có thể cao hơn hoặc thấp hơn là tùy theo hành nghiệp của mình đã làm trong quá khứ và nghiệp lực ấy sẽ dẫn dắt chúng ta đi đầu thai qua sự trợ duyên bên ngoài, như hình thức của nước vừa đề cập bên trên.

Đức Phật dạy rằng: "Mọi loài đều có thể thành Phật". Điều ấy chứng tỏ rằng không những con người, mà 6 loài chúng sanh trong vũ trụ nầy đều có khả năng ấy cả. Nó chỉ khác nhau là nhiều hay ít mà thôi. Cũng giống như bóng điện sáng hay mờ tùy theo công suất của nó vậy.

Con người, theo quan điểm của Đức Phật là một sinh vật trung gian giữa thánh thiện và tội lỗi. Vì thế con người cũng có thể đi lên cao hơn, chứng nhập vào địa vị thánh nhơn, mà cũng có thể đi xuống thấp hơn như súc sanh, địa ngục và ngạ quỉ chẳng hạn.

Thân thể của con người được trải qua 4 giai đoạn là: thành, trụ, hoại, diệt và ngay cả thế giới nầy cũng thế nữa. Vì cái gì có hình tướng, tất có ngày phải hoại diệt, mà diệt ở đây không có nghĩa là mất, mà chỉ là một sự biến dạng thôi. Ví dụ như ánh sáng tới thì bóng tối phải tan đi, bóng tối đến thì ánh sáng phải nhường chỗ lại. Một tế bào nầy sinh thì tế bào kia diệt, cái chết nầy chỉ là sự gián đoạn cùa một cái sống khác. Một tinh tú nầy băng hoại sẽ cấu tạo thành một tinh tú khác. Chỉ có vấn đề thay đổi vị trí, chứ không thay đổi tính biến dịch.

Con người được cấu tạo bởi phàm tâm xen lẫn thánh tâm; nên trong con người luôn luôn có cả vấn đề thiện lẫn ác đi kèm nhau. Khi nào cái thiện trong con người tăng, tức tâm thánh nhân đã hình thành, thiện và ác, lành và dữ là do chính tâm mình tạo và cũng chính tâm ấy phải sám hối thì tội kia mới vơi đi và nương theo chiều hướng thiện thì mới mong có ngày được giác ngộ giải thoát, bằng ngược lại, vẫn còn trầm luân trong biển sanh tử luân hồi.

Người Phật Tử luôn biết rằng sự chết không phải là hết, nên người theo Đạo Phật cũng dễ dàng chấp nhận một sự chết mà không sợ chết như những người khác. Vì sau sự chết, còn một sự sống khác.

Ngày xưa lúc Đức Phật còn tại thế, cách đây 2536 năm về trước, khi nghe Đức Phật giảng về vô thường, bất tịnh, vô ngã của thân người, lẫn với khổ đau và dục vọng, nên có một số các đệ tử của Ngài đã tự hủy mình, vì thấy sống như vậy cũng không có ích gì cả; nhưng sau đó Đức Phật đã trấn an họ. Tuy thân thể phàm phu nầy có nhiều điều như thế; nhưng nếu không có thân nầy làm sao có phương tiện để tu hành đắc đạo được. Sau đó Đức Phật chế ra giới "không được tự giết hại mình".

Khi con người sinh ra thì đất trời đã có và khi Tôn Giáo phát sinh thì con người cũng đã hiện hữu trên quả đất nầy hằng bao nhiêu triệu năm rồi. Vì vậy chúng ta có thể nói rằng: sở dĩ có Tôn Giáo, vì có con người và Tôn giáo phục vụ con người, nhằm nâng cao đời sống tâm linh, nhằm đưa con người vào địa vị cao cả hơn. Và không những ở vũ trụ nầy, mà ngay ở những hành tinh khác cũng đang có nhiều chúng sanh đang sống tại đó, cũng như những vị Bồ Tát đang giáo hóa tại đó. Ví dụ như cõi Cực Lạc của Đức Phật A Di Đà ở phương Tây hay cõi phương Đông của Đức Phật Dược Sư chẳng hạn. Chúng ta bằng con mắt bình thường không thể thấy xa hiểu rộng được, nhưng Đức Phật bằng con mắt trí tuệ, Ngài có thể thấy suốt cả 3000 cõi lớn nhỏ trong thế gian nầy. Thấy được quá khứ và vị lai nữa. Ngài đã kết luận rằng: trong một hạt cát có thể chứa vô số thế giới và trong số thế giới có thể thu gọn lại trong một hạt cát. Tất cả chỉ đều do tâm của mình biến hiện mà thôi.

Vậy con người, theo Đạo Phật, là một sinh vật có tâm linh, nếu biết tu hành có thể giác ngộ thành Phật, nếu không, chính con người sẽ tự dẫn mình vào chốn trần lao phiền não.

Sau đây định nghĩa về Đạo Phật. Có nhiều người nói Phật Giáo không phải là một tôn giáo mà là một Triết học hay một Nghệ thuật để sống mà thôi. Điều đó không sai; nhưng chưa hoàn toàn đúng. Vì sao vậy? Vì những người nầy khi mới nhìn vào một cái bánh của xe hơi đã vội cho không phải là xe hơi rồi. Nhưng xe hơi là gì? Chỉ là một tổng hợp của mọi thứ như: sườn, máy, bánh, bình xăng v.v... Nếu đem phân tích ra từng loại, chẳng có gì được gọi là xe hơi cả.

Đạo Phật xuất hiện tại xứ Ấn Độ cách đây 2536 năm về trước; nhưng ngày nay đã phát triển một cách điều hòa khắp nơi trên thế giới. Phật Giáo chủ trương tôn trọng đời sống với một tình thương yêu bao la đại đồng. Phật Giáo không có một giáo quyền tối cao, mà mỗi người tự định lấy việc thiện hay ác của mình. Vì vậy nên nhiều người đã cho rằng Đạo Phật là một đạo cởi mở. Một người Phật Tử có thể suốt đời chỉ đi chùa một lần cũng không sao. Vì Phật tại tâm mà. Nếu đi chùa hoài mà tâm không có Phật, thì ở nhà vẫn tốt hơn.

Ở xã hội Ấn Độ lúc bấy giờ có 4 giai cấp khác nhau do người Bà La Môn sắp đặt và ấn định ngôi thứ; nhưng Đức Phật đã chối từ điều đó. Vì Ngài cho rằng: không ai sinh ra trong đời nầy mà tự thành Bà La Môn hay giai cấp hạ tiện cả. Nếu người Bà La Môn luôn luôn làm việc ác, chắc chắn sẽ không còn là một Bà La Môn nữa. Nhưng nếu một người trong giai cấp hạ tiện, biết hướng thiện, họ cũng có thể giác ngộ, giải thoát như thường. Đây là một tư tưởng lúc đương thời đã bị nhiều người phản đối; nhưng về lâu về dài tư tưởng ấy đã được nhân loại chấp nhận một cách dễ dàng.

Như vậy sự liên hệ của Đạo Phật đối với con người phải được hiểu như thế nào đây?

Như trên đã trình bày về Con Người và về Đạo Phật. Chúng ta có thể ví rằng Đạo Phật là một món thuốc bổ, một ông Thầy giỏi, còn con người cũng giống như là một bịnh nhân. Nếu bệnh nhân muốn sớm lành bịnh thì phải cần uống thuốc. Nếu bịnh nhân sợ thuốc đắng, chối từ uống thuốc, lỗi ấy không phải tại thuốc, mà tại bịnh nhân. Ta cũng có thể hiểu rằng giáo lý của Đức Phật giống như một vị Thầy giỏi, biết hướng dẫn con người đến chân thiện mỹ. Nhưng con người có theo không, lỗi ấy không do nơi ông Thầy mà do nơi chúng ta vậy. Dĩ nhiên ông Thầy cũng không có quyền hăm dọa là nếu các ngươi không theo ta, ta sẽ trừng phạt các ngươi, mà ông Thầy chỉ có bổn phận chỉ cho con người thấy đâu là con đường nên đi, đâu là thánh thiện và đâu là tham, sân, si, dục vọng, ngông, cuồng. Còn theo hay không, tùy theo khả năng và sở thích của người ấy.

Sự liên hệ giữa Đạo Phật với Con Người là một sự liên hệ nhân quả dây chuyền, Nếu nhân tốt thì quả sẽ tốt. Nếu nhân xấu thì quả sẽ ngược lại. Dĩ nhiên đôi lúc cũng tùy thuộc vào ngoại duyên nữa; nhưng căn bản vẫn là con người, còn hoàn cảnh đôi khi chúng ta có thể chuyển đổi được.

Hôm nay chúng tôi đến đây để trình bày với quý vị về đề tài trên và mong rằng trong phần thảo luận chúng ta sẽ trao đổi nhiều ý kiến thiết thực hơn và đây cũng là cơ hội để tư tưởng của 2 Tôn Giáo lớn chúng ta đi đến gần nhau hơn nữa.

Thật ra không có người Á Châu nào khi nghe đến Đạo Thiên Chúa và Tin Lành là không biết, có thể biết nhiều hoặc ít; nhưng ở Âu Châu và Mỹ Châu nầy, Phật Giáo còn rất mới lạ đối với mọi người. Nên chúng tôi hy vọng rằng đây là cơ hội để chúng ta có thể trao đổi với nhau trong lãnh vực tinh thần nầy. 

Xin thành thật cảm ơn quý vị. 

( Số 73  (Tháng 2.1993)

 

Lễ hoàn nguyện 

Nhiều Phật Tử khi đọc chương trình lễ Phật trong năm 93, ở Viên Giác số 72 tháng 2 vừa qua thấy có ghi là Lễ Hoàn Nguyện ngôi Chùa Viên Giác sẽ được tổ chức nhân lễ Vu Lan, từ 3 đến 5 tháng 9 năm 1993; nhưng không hiểu rõ thế nào là hoàn nguyện? có phải là lễ Khánh Thành nữa không? hay là lễ gì đây có tính cách đặc biệt?

Đây là câu trả lời:

Hoàn có nghĩa là hoàn thành, xong xuôi một công việc.

Nguyện là ước nguyện, một sự mong cầu.

Nói tóm lại Lễ Hoàn Nguyện là đã thực hiện xong lời nguyện ước xây Chùa Viên Giác tại xứ Đức nầy. Nếu nói theo thuật ngữ của nhà Thiền cũng có thể gọi đây là lễ "đăng sơn". Lễ đăng sơn theo nghĩa đen là "lên núi". Vì sao phải lên núi? Vì ngày xưa các chùa thường hay xây dựng trên núi đồi và ngày hoàn mãn ngôi chùa có làm lễ đăng sơn, cũng gọi là lễ nhậm chức trụ trì ngôi chùa đó. Cũng vì chư Tăng ngày xưa ở núi nhiều hơn ở thị thành nên chúng ta thường hay nghe nói đến chữ Sơn Tăng. Sơn Tăng là vị Tăng ở trên núi, sống đời sống đơn giản ít bận bịu với thế trần. Đây là khuynh hướng xuất thế của Đạo Phật. Trái lại, khuynh hướng nhập thế ngày nay mạnh hơn; nghĩa là người Tăng sĩ phải đi vào đời thực sự, chia xẻ khổ đau với cuộc đời, theo tinh thần Bồ Tát Đạo; nên chúng ta thấy chùa chiền ở thị thành mọc lên nhiều hơn xưa. Riêng mỗi một việc hòa nhập cuộc sống tu hành vào cuộc sống thế tục cũng chẳng phải là chuyện đơn giản. Vì nhiều nỗi nhiêu khê, triền phược. Nếu nói thuận theo đời thì ngược với đạo và thuận với đạo thì đời cho là ngược. Do đó người Tăng sĩ mang hạnh Bồ Tát đi vào đời không phải là chuyện đơn giản. Nếu vị Tu sĩ ấy có khả năng, có thể chuyển hóa cuộc đời khổ đau nầy thành an lạc. Bằng ngược lại, nếu tâm người Tăng sĩ ấy yếu ớt sẽ bị Đời chuyển lại và khiến cho vị nầy bị lặn hụp trở lại trong cuộc đời. Ở vị trí nhập thế nầy chỉ có 2 con đường là chuyển Đời hay Đời chuyển mà thôi. Vì vậy cho nên các vị Tổ Sư thường hay nói người đi tu là kẻ lội ngược dòng đời vậy.

Lẽ ra việc chi tiết tôi sẽ viết vào một quyển sách nhan đề là "Chùa Viên Giác" bằng 2 thứ tiếng vào mùa hạ năm 1994 sắp đến. Trong quyển này tôi sẽ trình bày hết mọi thuận duyên và nghịch cảnh khi mang tâm Đạo đi làm việc Đời; nhưng trong bài Lễ Hoàn Nguyện nầy tôi cũng sẽ chỉ nêu lên một vài ý nghĩa chính để quý vị Phật Tử xa gần hiểu rõ hơn.

Nhiều người Việt Nam vẫn quan niệm rằng người đi tu là kẻ chán đời hay bị đời bạc đãi nên mới gởi thân nơi cửa thiền. Hoặc tình duyên trắc trở nên muốn chôn chặt mối tình xa xưa cũ như chuyện tình Lan và Điệp mà qua các bản vọng cổ và tân nhạc chúng ta vẫn thường hay nghe. Hằng ngày chúng ta vẫn bị đời quyến rũ như vậy, nên ai nhìn người tu cũng như thế cả. Ngược lại, dưới mắt một người tu họ phải hiểu rằng: người tu phải là người thương đời thực sự, chứ không phải kẻ bị đời chán rồi mới đi tu. Vì có thương đời mới dám hy sinh hạnh phúc cá nhân của mình để đi giúp đỡ tha nhân, có thương đời mới lăn xả vào khổ đau và chuyển hóa khổ đau thành hạnh phúc an lạc. Nếu một người chán đời, chắc chắn không có khả năng để làm được việc ấy.

Khi tôi đến xứ Đức nầy có một tâm nguyện là làm sao cho có được nhiều người hiểu về Phật Giáo và làm sao khi người ngoại quốc nhìn vào, biết ngay là biểu tượng của Đạo Phật; nên tôi mới cố gắng tạo dựng một ngôi chùa. Ở đây khi quý vị đọc đến chữ "tôi" để làm cái nhân tố phương tiện lúc ban đầu khi đem chuông đi đánh xứ người vậy. Dĩ nhiên một đầu máy có tốt bao nhiêu mà kéo theo sau một toa cũ mục thì cũng chẳng chuyên chở được gì. Ngược lại, chúng ta có một toa xe thật tốt mà không có một đầu máy tốt cũng không thể chạy đến đích được. Cả hai phải hỗ tương lẫn nhau và giúp đỡ lẫn nhau.

Năm 1977 tôi có mặt tại xứ Đức nầy và mãi đến năm 1984 mới bắt đầu kêu gọi mua đất xây chùa. Chùa bắt đầu xây dựng chính thức vào mùa Phật Đản năm 1989. Năm tôi đúng 40 tuổi đời và 26 năm tu học mới bắt đầu hạ móng xây chùa. Vì sao vậy? Vì tuổi đời còn nhỏ, Đạo còn kém, khó lòng mà lèo lái một con thuyền to lớn được. 30 đã là tuổi "nhi lập" rồi. Đến 40 tuổi lại là tuổi vững chắc hơn. Thế mà cũng có lắm người bảo: Ông Thầy Như Điển còn trẻ người non dạ, làm sao mà dám làm một chuyện đội đá vá trời như vậy? Trong tay không có một đồng nào, mà dám làm ngôi chùa 5, 7 triệu Đức Mã. Lúc ấy tôi chỉ có "Luận Bảo Vương Tam Muội" là một ngọn đuốc soi đường mà thôi và tôi cũng tự nghĩ rằng: Ở Đời hay Đạo gì cũng vậy, người ta thành công dễ nhất là tuổi từ 40 đến 60. Chứ trước và sau đó thì rất khó, vì quá già hay quá trẻ cũng khó lòng mà thực hiện nổi một công việc to lớn. Nên tôi đã chọn bắt đầu công việc trọng đại ấy vào tuổi 40. Nếu không có Phật lực và chư Long Thần Hộ pháp, cả người sống, lẫn người chết gia hộ, hỗ trợ cho tôi, chắc chắn ngôi chùa Viên Giác đã không thành hình.

Ngày nay nhiều Phật Tử đến chùa, thấy công trình xong 95% rồi thì thấy vậy, chứ bên trong ấy có biết bao nhiêu thử thách chông gai, quý vị có thể đón xem quyển sách tôi viết trong năm 1994 sắp tới thì sẽ hiểu nhiều hơn, còn 5% nữa sẽ tiếp tục làm trong mùa hè nầy. Hy vọng đến cuối tháng 8/93 mọi công trình sẽ hoàn tất, để làm lễ hoàn nguyện vào đầu tháng 9 năm nay. Trong lễ hoàn nguyện nầy sẽ có những lễ chính sau đây:

1. Lễ Tạ Ơn Tam Bảo đã gia hộ cho công việc xây chùa được hoàn tất

Phàm làm bất cứ một vấn đề gì, chủ động vẫn người đứng mũi chịu sào; nhưng nếu không nhờ tha lực, tức ngoại duyên bên ngoài, chắc chắn chúng ta không thể nào thành công trọn vẹn được. Ví dụ một hạt giống dẫu tốt đến đâu đem gieo nhằm nơi đất cằn cỗi, chắc chắn rằng hạt ấy chẳng nảy mầm. Việc nầy quan trọng bậc nhất trong mọi việc to lớn khác trong cuộc đời và Lễ Tạ Ơn nầy cũng là lễ chính thức nhậm chức trụ trì cũng như một chương trình làm việc trong những năm tháng tới.

2. Lễ cung nghinh Xá Lợi nhập bảo tháp và lễ nhập tháp 1.000 pho tượng của Phật Tử cúng dường

Như chúng ta được biết, mặc dầu Đức Phật đã nhập diệt cách đây hơn 2.500 năm về trước; nhưng Xá Lợi của Ngài vẫn còn đến nay. Chùa Viên Giác may mắn có được 9 viên Xá Lợi của Ngài. Nhân Lễ Hoàn Nguyện sẽ làm lễ cung nghinh Xá Lợi nhập bảo tháp cùng với 7 tượng Phật trong quá khứ và 1.000 tượng Phật (đợt 1) vào nơi trang nghiêm nầy.

3. Lễ báo hiếu cho cha mẹ nhiều đời

Như chúng ta đều biết ngôi chùa Viên Giác thành tựu được là do sự hỗ trợ của người mất ở nhiều phương diện; nên chùa sẽ làm lễ tạ ơn phụ mẫu quá cố vào dịp trọng đại nầy.

4. Lễ báo ân, báo hiếu cha mẹ hiện tiền

Con cái sống ở xã hội Âu Mỹ lâu năm; nhiều lúc lo công ăn việc làm, quên đi bổn phận hiếu dưỡng với mẹ cha, đến khi cha mẹ qua đời rồi thì mới sực nhớ là chưa giúp được gì cho cha mẹ, lúc ấy đã muộn rồi. Vì vậy trong lễ nầy chúng tôi xin đề nghị những điểm sau đây:

a) Những vị nào từ 80 tuổi trở lên sẽ mặc áo dài khăn đóng màu đỏ.

b) Nhưng vị nào từ 70 tuổi trở lên sẽ mặc áo dài khăn đóng màu vàng.

c) Những vị nào từ 60 tuổi trở lên sẽ mặc áo dài khăn đóng màu xanh.

Vì sao phải có 3 loại màu khác nhau vậy?

Màu xanh của tuổi 60 tượng trưng cho tuổi thọ.

Màu vàng của tuổi 70 tượng trưng cho tuổi trung thọ.

Màu đỏ của tuổi 80 trở đi tượng trưng cho tuổi thượng thọ.

Nếu quý vị nào không muốn theo xưa, dĩ nhiên ăn mặc âu phục cũng không ai cấm cản; nhưng để cho con cháu nhớ lại gốc gác cội nguồn của mình nên có chiếc áo dài thì vẫn quý hơn. Vậy khi đọc xong bài nầy xin quý vị chuẩn bị cho là vừa.

Xin thưa, đây không phải là chuyện bày ra việc tốn kém, mà chính là bày ra việc báo hiếu cho thế hệ đời sau. Nhân ngày chúc thọ, cha mẹ sẽ mừng vui là con cái của mình còn nhớ nghĩ đến công ơn sinh thành dưỡng dục của cha mẹ và con cái sẽ không hối hận về sau là mình đã không làm tròn bổn phận lúc cha mẹ còn hiện tiền.

Ngày ấy con cái sẽ tặng hoa cho cha mẹ, hay các cháu sẽ tặng quà cho ông bà. Chắc chắn cha mẹ, ông bà sẽ vui mà sống thêm nhiều tuổi nữa. Một người con trong bao nhiêu người khác sẽ đại diện đọc lời chúc thọ đến song đường và lễ lạy cha mẹ khi còn hiện tiền để cha mẹ chứng kiến lòng hiếu thảo của các con cháu. Đây là một đề nghị. Còn việc thực hiện hay không là tùy nơi quý vị, điều bắt buộc chắc chắn không có; nhưng việc động viên những vấn đề hay ho là bổn phận phải nên làm của chúng tôi vậy.

Đó là 4 việc chính trong Đại Lễ Hoàn Nguyện năm nay. Ngoài những việc ấy ra còn có một đêm văn nghệ đặc sắc sẽ được tổ chức vào tối ngày 4.9.93 do các ca sĩ thượng thặng từ Hoa Kỳ đến trình diễn cùng với sự hợp tác của Ban Văn Nghệ Hội Phật Tử Việt Nam Tỵ Nạn tại Đức Quốc. Lễ nầy nói về tầm vóc có thể xem như lễ Phật Đản hoặc lễ Khánh Thành chùa vào năm 1991 vừa qua. Mong quý vị bỏ ít nhiều thì giờ để về tham dự những ngày lễ trọng đại trên đây.

Chùa sẽ xong, sau lễ hoàn nguyện. Vậy việc gì cần phải đề cập thêm nữa? Đây là những vấn đề cần lưu ý đến :

1. Vấn đề nhân sự

Như tất cả chúng ta ai cũng biết, ngôi chùa Viên Giác nếu chỉ có thành phần Tăng sĩ, không có thành phần Cư sĩ hộ đạo nhiệt tình, chắc chắn sẽ không bao giờ thành công, hoặc ngược lại cũng thế.

 

Về thành phần Cư sĩ. Sau 16 năm qua, kể từ khi chúng tôi và quý Thầy Cô trong Chi Bộ có mặt tại nơi đây đã đóng góp phần vụ của mình trong công việc hướng dẫn tinh thần, mang giáo lý từ bi lợi tha của Đức Phật đến với mọi người và tạo sự liên kết chặt chẽ giữa các tôn giáo với nhau và chúng ta có thể hãnh diện rằng một cộng đồng Phật Tử 40.000 người tại xứ Đức, với một Hội Phật Tử, gồm 14 Chi Hội và 8 Gia Đình Phật Tử là một nhân tố đa dạng và nhiều hiệu năng cho việc hộ đạo, hộ đời ở tại Đức cũng như quốc nội sau nầy. Sự hiểu đạo được tăng dần, do đó sự đóng góp về mọi mặt so với Âu Châu và thế giới, Phật Tử Cư Sĩ Việt Nam chúng ta tại Đức đã dẫn vị trí hàng đầu. Số người đã quy y thọ giới càng ngày càng tăng. Riêng những Phật Tử quy y với chúng tôi từ năm 1978 đến nay có khoảng trên 3.000 người. Ngoài ra một số lớn độ 10.000 người đã quy y từ Việt Nam là những Phật Tử rường cột tại xứ Đức nầy.

 

Về Tu sĩ. Ngoài 12 vị Tăng Ni hiện có mặt trong Chi Bộ, là thành phần đã tu học và xuất gia từ Việt Nam, sau đó qua Đức để hoạt động Phật sự, từ 1978 đến nay cá nhân chúng tôi có được 15 đệ tử xuất gia; nhưng 3 vị đã ra đời, 1 vị không nằm trong vòng cương tỏa và 11 vị vẫn còn tại tu. Đó là những vị theo thứ tự thời gian:

1. Thiện Phước (đã hoàn tục)

2. Thiện Thành (đã hoàn tục)

3. Hạnh Nguyện, hiện đang tu học ở Dharamsala, Ấn Độ.

4. Hạnh Tấn, hiện ở chùa Viên Giác, sắp xong Cao Học về Tôn Giáo học ở Đại Học Đức, sau đó sẽ đi du học tại Ấn Độ một thời gian dài để làm luận án Tiến Sĩ Phật Học và Triết Học.

5. Thị Nguyện tức Cô Thanh Hải là đệ tử tại gia và đã xuất gia ở Ấn Độ, sau đó qua Đài Loan và bây giờ có một phái riêng, nửa đời, nửa đạo (ngoài vòng cương tỏa).

6. Thiện Nam, một người Đức (đã hoàn tục)

7. Cô Hạnh Niệm    (những vị nầy trên 60 tuổi đã xuất gia với

tôi, hiện ở chùa Viên Giác và y chỉ với Ni Sư Thích Nữ Diệu Tâm tại Hamburg).

8. Cô Hạnh Tịnh      (                                   -như trên-

9. Cô Hạnh Châu                                         -như trên-

10. Cô Hạnh Ân      (                                   -như trên-

11. Cô Hạnh Ngọc  (                                   -như trên-

12. Chú Hạnh Bảo xuất gia thọ giới Sa Di được 3 năm.

13. Chú Hạnh Mãn xuất gia được 1 năm, hiện ở chùa Viên Giác.

14. Cô Hạnh Như, và

15. Cô Hạnh Quang (Hai vị nầy xuất gia với tôi, hiện tu học tại chùa Phổ Đà ở Marseille, Pháp Quốc).

Như vậy suốt 16 năm trường ở Đức tôi đã cho xuất gia 15 vị, và hiện còn 11 vị như đã nêu trên. Như thế con đường tu chẳng phải là một chuyện đơn giản.

Nhiều người hỏi tôi rằng: "Sau nầy ngôi chùa nầy Thầy sẽ giao lại cho ai?" Dĩ nhiên câu trả lời có nhiều cách.

Trên phương diện pháp lý, tôi và quý Thầy Cô trong Chi Bộ đã đồng ý hiến dâng cơ sở nầy cho Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Âu Châu, nên sau nầy nếu tôi không còn ở vị thế trụ trì nữa thì Giáo Hội Âu Châu toàn quyền quyết định về việc chọn vị trụ trì tương lai. Riêng tôi thì luôn chủ trương rằng: truyền hiền chứ không truyền tử. Nghĩa là giao lại cho người có tài đức và không giao lại cho đệ tử ruột của mình. Dĩ nhiên nếu đệ tử ruột của mình giỏi, có căn bản tu hành và đạo đức thì ngày sau Giáo Hội Âu Châu cũng đâu không cho dự phần mà sợ. Nhiều người bảo rằng chùa đẹp, to lớn chưa hẳn đã có Sư giỏi, đạo đức. Điều ấy cũng có thể; nhưng không nhất thiết. Vì cũng có nhiều người hay nói rằng: người giàu khó thương. Câu nói ấy chỉ có tính cách ganh tị mà thôi. Nếu người giàu mà có đạo đức thì ta càng phải kính trọng hơn nữa mới phải chứ! Và ngược lại người nghèo mà không có tư cách thì sao? đáng thương hay đáng trách? Nếu chùa to, tượng lớn mà có Sư đạo đức thì đáng tôn kính. Ngược lại nếu chùa nhỏ không có Phật vàng, mà chỉ toàn là những người không hiểu Phật Pháp thì sao?

Theo tôi, chùa nầy phải có ít nhất là 3 vị Tăng đạo đức đều tay, học rộng, hiểu nhiều, có nhân cách. Một vị chuyên lo cho Đức. Vì ngày nay người Đức học Phật nhiều lắm. Một vị chuyên lo giảng dạy kinh pháp cho chư Tăng và Phật Tử Việt Nam và một vị chuyên lo lễ nghi. Dĩ nhiên dưới 3 vị nầy còn những Nhóm, Tổ khác nữa; nhưng phải 3 vị như thế mới đủ thì giờ và điều kiện để thi hành Phật sự.

2. Về tài chánh

Như quý vị biết ngôi chùa Viên Giác xây dựng cho đến nay đã gần 7.000.000 Đức Mã. Đó là chưa nói đến vấn đề công quả; nếu tính thêm vào, trên dưới 1 triệu Đức Mã nữa. Tương đương với 5 triệu US đô-la. Đây là một ngôi chùa to lớn nhất ở hải ngoại ngày nay và có diện tích xử dụng đến 3.000 thước vuông cho mọi sinh hoạt. Nhưng có lẽ cũng là chùa được Phật Tử hỗ trợ nhiều nhất và cũng là chùa nợ nhiều nhất. Trong 7 triệu ấy, chùa còn mắc nợ của nhà thầu, các chùa khác và Phật Tử khắp nơi cũng như ngân hàng chừng hơn 2 triệu. Trong hơn 2 triệu nầy chúng tôi cố gắng thanh toán trong 10 năm và cho đến năm 2004 là năm chùa sẽ hết nợ và đến lúc ấy tôi cũng sẽ chính thức đóng cửa tịnh tu để lo phần tâm linh của mình cũng như dịch kinh, dịch sách, học hỏi thêm. Phần điều khiển ngôi chùa sẽ chính thức giao lại cho Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Âu Châu, hoặc lúc ấy đất nước Việt Nam đã thanh bình, Giáo Hội mẹ tại quê hương sẽ cử người đến trông nom cũng không chừng. Việc vô thường chẳng biết đâu mà lường trước, nhưng việc dự định trước chắc cũng không thừa.

Vì vậy chùa xong chưa phải là hết nợ, do đó sự đóng góp định kỳ hằng tháng hoặc bất thường của quý vị vẫn là việc tối ư quan trọng. Việc xây chùa đã khó; nhưng chúng ta đã vượt qua. Việc giữ chùa còn khó hơn thế nữa. Bao nhiêu chi thu đều dựa vào sự cúng dường cả. Do đó xin quý vị đừng quên việc hỗ trợ liên tục cho chùa.

Cho đến hôm nay sau hơn 13 năm, chính quyền Đức vẫn còn hỗ trợ cho chùa về việc in ấn sách vở và báo Viên Giác cũng như tiền điện, Gas, nước của chùa hằng năm; nhưng trước mắt chúng ta đã thấy, thất nghiệp gia tăng, thuế má quá nặng v.v... chắc chắn nước Đức cũng không thể hỗ trợ cho chúng ta lâu dài hơn nữa. Cũng vì chúng ta đã sống nơi nầy trên 10 năm cả rồi, ai cũng có chút đỉnh vốn liếng, nên việc của chúng ta phải do chính chúng ta giải quyết cũng là điều phải nên nghĩ tới.

Có nhiều vị bảo, nếu nước nhà hết nạn Cộng Sản nay mai, Phật Tử về hết, chắc một mình Thầy ở lại, lúc ấy Thầy sẽ tính sao?

Đây là một việc cả vui lẫn lo cho nhiều người và nhiều Thầy Cô ở ngoại quốc ngày nay. Nhưng riêng chùa Viên Giác thì chúng tôi đã có một số dự định như sau:

Dĩ nhiên khi nước nhà không còn Cộng Sản nữa, ai cũng muốn về, nhất là những người lớn tuổi, nhưng chắc chắn thế hệ trẻ nếu có về cũng chỉ về thăm thôi, chứ công ăn việc làm, đời sống, kinh tế, chưa hẳn Việt Nam có thể lo cho 2 triệu người ở hải ngoại về cùng một lúc. Nên đó cũng không phải là điều đáng lo cho chùa chiền ở hải ngoại lắm.

Vừa rồi nhân triển lãm Computer tại Hannover từ 24 đến 31.3.1993, Thủ Tướng Kohl đã đồng ý rằng Liên Bang Đức sẽ hỗ trợ 40% Đức Mã. Tiểu Bang Niedersachsen 30%. Thành phố Hannover 10% và 20% còn lại là tư nhân đầu tư vào Hội Chợ Triển Lãm Thế Giới tại Hannover từ ngày 1 tháng 6 đến 31 tháng 10 năm 2000. Dự trù xây cất cho công trình nầy là 10 tỷ Đức Mã và có khoảng 25 tiệu người đến tham dự hội chợ nầy. Đây là một biến cố quan trọng cho thành phố Hannover nói riêng và niềm hãnh diện chung cho cả nước Đức và vì thế chùa Viên Giác cũng đã dự phần vào cuộc sống tâm linh của 25 triệu người đến tham dự Hội Chợ với đề tài là: Con Người, Thiên Nhiên và Kỹ Thuật. Trong ấy tôn giáo có những đóng góp không nhỏ. Bắt đầu từ đây chùa Viên Giác tại Hannover là vị trí trung tâm về lãnh vực tinh thần, do đó còn cần nhiều đóng góp, bàn bạc và dĩ nhiên chính phủ cũng sẽ không quên vị trí của chùa và sẽ hỗ trợ ở nhiều mặt khác nhau.

Ngoài ra, như trên đã trình bày người Đức ngày nay học Phật nhiều lắm. Và người Tây Phương bao giờ cũng sòng phẳng trong mọi vấn đề. Do đó sự đóng góp của họ cũng không nhỏ cho những năm tháng tới đây.

Một người cha trong gia đình phải có bổn phận lo cho bầy con đông đảo. Một ông chủ hãng phải lo việc thịnh suy của hãng, một chính trị gia sẽ thảo luận liên tục đường lối của mình, một người chủ nhà phải lo bảo vệ và xây dựng tài sản ấy v.v... Chúng ta không thể nói là những vị ấy là những người tham lam, lợi dụng... mà họ chỉ là những người có trách nhiệm cũng như bổn phận đối với việc riêng và việc chung của gia đình cũng như tổ chức. Ở đời có nhiều người tham danh, tham lợi, tham tình, tham tiền cho chính mình thì nhiều; nhưng nói đến tham tu hành và tham bố thí giúp đỡ kẻ nghèo khó thì ít. Nói thì dễ nhưng rất khó làm. Có nhiều người thấy chúng tôi làm nhiều việc và cứ lo tổ chức kêu gọi v.v... cũng buông tiếng là Thầy tham lam quá. Điều ấy tôi không chối cãi; nhưng ở đây tôi tham tu và tham làm phước cho nhiều người. Tôi tham xây ngôi chùa cho xong để có nơi nương tựa tinh thần của hàng ngàn người cô đơn lạc lõng. Tôi tham có ngôi chùa như ngôi chùa Viên Giác, không phải để ở, mà để chứng minh cho mọi người thấy rằng: "phép Phật nhiệm mầu", để cho người Đức thấy rằng Dân Tộc Việt Nam là vậy đó! Người Phật Tử Việt Nam là vậy đó! sống hiền hòa và xả thân đóng góp cho đại sự, để còn lại kỷ niệm cho ngày hôm nay và mai hậu một ngôi chùa sừng sững giữa trời Âu.. Ở đời có nhiều cái tham lam, vị kỷ không ích cho việc chung nhưng nhiều kẻ vẫn làm, còn tham lam lo chuyện chung thì rất ít người nghĩ đến. Mong rằng những người tham lam lo đại sự cho Quốc Gia Dân Tộc và Đạo Pháp càng ngày càng nhiều để cho người người được nhờ.

Tôi vẫn quan niệm rằng người trèo núi thì cần có nhiều sức lực để chống chọi với gian nan thử thách, còn người xuống núi thì đâu có cần cố gắng làm gì, cũng có thể xuống núi một cách dễ dàng. Nếu ta để ý một hàng cây nào đó, có một vài cây cao, khi gió đến, lay động cây cao trước và nhiều hơn là những cây nhỏ chung quanh, nên người lãnh đạo phải chấp nhận việc ấy hơn là chạy trốn thực tại.

Ở Đời hay Đạo cũng thế, ở đâu cũng có thị phi, nhơn ngã, được thua, hơn kém, lợi danh. Chúng ta hãy xem đó là loại rác rưới dơ bẩn mà người ta đang tìm cách vứt bỏ đi, thì chính mình cũng không nên thầu những loại rác rưới ấy vào mình làm gì cho bận tâm nhọc trí. Mình phải tự lo dọn rác của mình để cho sạch sẽ, nhằm tiếp nhận trí tuệ sáng trong của chư Phật thì đẹp đẽ hơn nhiều. Đây là phương pháp lọc tâm quan trọng hơn cả. Tu là vậy đó, phải chịu đựng và sáng suốt. Tu không phải để người khác thương hại, mà để chứng minh cho Đời thấy rằng tu là con đường sửa đổi để đi đến Chân, Thiện, Mỹ. Ai khéo tu thì nổi, vụng tu thì chìm chỉ có thế thôi. Nhưng cầu đoạn trường nầy ai có qua rồi mới hay, chứ chưa qua thì chẳng có thể nghiệm nào cả. Có nhiều người hỏi tôi rằng: "Thầy làm ngôi chùa như vậy có khổ tâm không? Có gặp khó khăn không? Có yên tĩnh để tu hành không? v.v... và v.v... Như trên tôi đã trình bày. Không có gì đơn giản cả. Sự thành công nào cũng đòi hỏi thử thách và ý chí của con người. Tôi vẫn thường hay nói rằng: Con người không hơn nhau về địa vị, danh vọng, tiền bạc hay trí thức mà chỉ hơn nhau ở ý chí mà thôi. Tôi quan niệm con đường tu hành nhập thế có 4 việc mà hành giả cần phải quan tâm đến. Ví dụ trên chặng đường đi đến giải thoát ấy, gặp khó khăn thì có 4 cách giải quyết như sau:

a) Người can đảm, không cần để ý đến thị phi, gác ngoài tai tất cả mọi việc, chỉ mong sao đạt đến điểm cuối cùng mà thôi, dĩ nhiên là cần nhiều phương tiện; nhưng hãy tránh những phương tiện xấu di hại đến lòng tin của mọi người. Đó là người có ý chí kiên cường.

b) Loại người nầy ý chí kém hơn; nhưng khá thận trọng. Người nầy sẽ tìm đủ mọi cách để mở trói những khó khăn chắn lối ấy rồi từ từ bước đi tiếp tục. Đây cũng là loại người có ý chí.

c) Loại người thứ ba nầy ít nghị lực hơn nhưng quyết không lùi bước. Đứng nguyên tại chỗ, chờ bao giờ khó khăn không còn nữa, mới thong thả bước đi.

d) Loại người thứ tư là loại người chùn bước trước khó khăn, sẽ quay đầu lại ngay lập tức và không màng đến mục đích đã đặt ra lúc ban đầu là gì nữa.

Có nhiều người bảo tôi rằng: Có lẽ họ sẽ không chọn một trong 4 giai đoạn ấy mà họ mong sao đừng có khó khăn trở ngại, hoặc giả hoàn toàn không có 4 điều ấy. Nếu vậy đời đâu có gì có ý nghĩa và đường Đạo làm sao có giá trị cao thượng được?

Tôi cũng là con người như bao nhiêu con người khác, cũng có vui buồn, giận hờn, thương ghét v.v... nhưng có lẽ điểm khác nhau là nhiều hay ít mà thôi. Người không tu thì tham sân si đầy dẫy; nhưng người đã biết tu rồi có giới luật làm Thầy, nên họ sẽ từ từ gạn lọc tâm họ để sáng sủa như phép sửa tâm ở bên trên. Tâm ta giống như một ao nước đục thì làm sao mặt trăng trí tuệ có thể rọi soi vào đó được. Mặt trăng lúc nào cũng có; nhưng chỉ vì tâm ta còn ô nhiễm bởi trần cấu nhiều nên chưa sáng suốt đấy thôi; nhưng chắc chắn một ngày nào đó trí tuệ sẽ mở khai. Đức Phật cũng chỉ là một con người; nhưng là một con người hoàn toàn giác ngộ và giải thoát, không có chất cặn bã của cuộc đời. Nếu chúng ta muốn được như Đức Phật, chúng ta phải sửa tâm mà thôi.

Khó khăn thì lúc nào và ở đâu cũng có cả; nhưng điều căn bản là ta có chinh phục được nó hay không mà thôi. Chứ còn chạy trốn thì nói làm gì. Tôi xin cảm ơn tất cả mọi ý kiến xây dựng và đóng góp, đồng thời tôi cũng mong sửa đổi lỗi của mình để trở thành hoàn hảo hơn. Có ai đâu là Thánh nhân, mà không có lỗi? Tôi mong rằng lúc tôi qua đời không nên đọc điếu văn chỉ toàn là chuyện tốt, mà quên kể chuyện xấu của tôi cho thế nhân nghe. Vì tôi đã chứng kiến biết bao nhiêu bài điếu văn, có bài nào nói được sự thật đâu. Chỉ toàn là ca ngợi điều tốt, đối với người chết đâu có ích lợi gì? Tại sao lúc sống không nói những điều tốt ấy cho họ nghe, để chết rồi nói làm chi vô ích. Thường khi còn sống tôi chỉ nghe thị phi, ganh tị, đố kỵ nhau... và toàn là điều dở. Nếu người không có nghị lực sẽ bỏ cuộc ngay. Nhưng với tôi, có lẽ nhờ Phật độ, nên có sức chịu đựng được như vậy.

Tôi vốn sinh ra trong đời không có đầy đủ nhân duyên như nhiều người khác. Tôi đi từ chốn bùn nhơ nước đọng của quê hương xứ Quảng nghèo khổ, để có được ngày hôm nay là do ý chí cũng như nghị lực mà thành. Bào huynh tôi cũng thế, Thượng Tọa Thích Bảo Lạc hiện trụ trì chùa Pháp Bảo tại Úc cũng vậy. Thầy Bảo Lạc đã đi tu gần 40 năm và tôi thì đúng 30 năm và thử thách nào Thầy cũng vượt qua, chông gai nào rồi cũng không chùn chân trước bước đi của Thầy ấy.

Dĩ nhiên mỗi người sinh ra trong cuộc đời nầy vì nhân duyên và nghiệp lực cả; nhưng nếu biết chuyển hóa thì nghiệp xấu cũng thành tốt như thường. Mặc dầu bận rộn nhưng anh em tôi vẫn tu thiền, tụng kinh, bái sám, dịch kinh, dịch sách, xây chùa, hướng dẫn Phật Tử v.v... Tôi vẫn thường hay nói với đệ tử của tôi mỗi năm nhân ngày sinh nhật của mình rằng: "Sinh tôi ra là cha mẹ, nuôi tôi ăn học thành tài là nhờ ơn của Đàn Na Tín Thí. Cho tôi biết chọn con đường đúng là do Thầy Tổ dạy và ngày nay học hành xong, ra phục vụ cho Đạo, cho Đời, đó chỉ là bổn phận mà thôi. Ngoài ra không có một mục đích gì nữa cả".

Tôi vẫn quan niệm rằng, một đứa con có hiếu là một đứa con biết chia xẻ khó khăn với gia đình, một người đệ tử trung thành là người học trò biết nghiêng vai vào gánh vác chuyện khó khăn nặng nhọc của Thầy Tổ. Không biết lời nói của tôi có dư thừa và quá nghiêm khắc không? Chỉ biết dạy cho người còn mình thì chẳng thực hiện, thì điều đó tôi không muốn, tôi chỉ mong rằng ai nương theo mình, họ phải gặt hái được một ích lợi nào đó nhất định.

Dĩ nhiên trong suốt 16 năm trường ở Đức, nếu không có quý Thầy quý Cô, quý Chú và quý Phật Tử cũng như Đệ Tử cận kề hỗ trợ, chia xẻ với tôi thì làm sao có được ngôi chùa Viên Giác như ngày hôm nay và nhiều người đã âm thầm hỗ trợ cho tôi từ năm nầy qua tháng nọ lại là những người không bao giờ phàn nàn, oán trách. Còn ngược lại những người phê bình chỉ trích quá nhiều, lại chẳng có một công đức nào với chùa cả. Dĩ nhiên việc phê bình là tốt; nhưng phê bình để xây dựng thì người khác còn tiến thân được. Nếu phê bình cho bõ ghét và cố ý dìm tha nhân xuống, thì sự phê bình chỉ trích ấy chẳng có lợi lạc gì nhiều.

Nhiều người đã hỏi tôi là làm cách nào để chia xẻ gánh nặng với Thầy? Như quý vị biết đó, chùa xong sau 10 năm xây cất; nhưng phải trả nợ trong 10 năm nữa; nên có nhiều cách đóng góp, mà cách đóng góp có thuận lợi cho cả nhiều mặt là đóng tiền bảo hiểm sinh mạng của mình. Qua bảo hiểm, chùa sẽ có một số tiền định kỳ để chi phí cho chùa mà  mà quý vị không phải thiệt thòi gì cả. Ví dụ mỗi tháng quý vị đóng 100 Đức Mã, thời gian kéo dài ít nhất là 12 năm và nhiều nhất thì không giới hạn. Nếu trong vòng 25 năm số tiền phải đóng cho hãng bảo hiểm là 34.405 DM; nhưng sau 25 năm quý vị lấy cả vốn lẫn lời là 70.840 DM. Và số tiền bảo hiểm đóng định kỳ mỗi tháng không tăng theo tuổi tác. Nếu tăng thêm là do sự yêu cầu của quý vị và dĩ nhiên tiền lời sẽ tăng theo. Nếu trường hợp bất trắc xảy ra, thân nhân sẽ nhận được số tiền 34.405 DM mà không kể thời gian đóng là bao nhiêu; nên gọi là bảo hiểm sinh mạng. Trong số tiền đóng của quý vị đó, hằng năm hãng sẽ trích ra 15% để cúng chùa. Một ví dụ khác: Nếu quý vị đóng mỗi tháng 200 DM trong thời gian 22 năm. Số tiền phải đóng tổng cộng là 56.247 DM. Sau 22 năm quý vị sẽ nhận ra cả vốn lẫn lời là 107.331 DM và tất cả điều kiện đều giống như trường hợp trên. Dĩ nhiên trường hợp đóng nhiều hay ít là tùy theo quý vị, không có gì trói buộc cả. Nếu quý vị muốn ủng hộ chùa, cũng có thể tham gia cách nầy là hữu hiệu nhất. Dĩ nhiên có nhiều hãng bảo hiểm lãi suất cao hơn; nhưng vì hãng Victoria đã giúp chùa ở nhiều phương diện, nên chùa chỉ có liên hệ với Victoria mà thôi.

Những ngày lễ lớn như Phật Đản và Vu Lan sẽ có nhân viên của hãng đến làm việc tại chùa. Lúc ấy quý vị cần hỏi thêm chi tiết thì cứ liên lạc tại văn phòng. Quý vị nào muốn có mẫu đơn để điền trước thì xin liên lạc về chùa, chùa sẽ gởi đến quý vị. Chỗ nào không hiểu thì lễ Phật Đản hay Vu Lan quý vị về chùa hỏi thẳng hãng bảo hiểm, hoặc qua số điện thoại của chùa cũng được. Nếu được nhiều người hỗ trợ vấn đề nầy thì nợ chùa trong 10 năm cũng sẽ giảm đi rất nhiều. Kính mong quý vị cộng tác cho. Đó là một hành động không cần bằng lời nói; nhưng kết quả thật nhiều vậy.

Từ lúc khởi công xây chùa như kế hoạch 1 mỲ đất, một viên gạch, một viên ngói v.v... là do sự đóng góp ý kiến của nhiều người mới thành tựu được. Do đó, tất cả mọi ý kiến hay nhằm xây dựng và duy trì chùa đều được nhiệt liệt hoan nghinh.

Tôi nghĩ rằng tôi có thể còn viết nhiều hơn nữa, nhưng trang báo có hạn, mong rằng quyển sách năm sau sẽ giải bày hết tất cả những khó khăn và những thuận duyên cho quý vị tường.

Vậy điều cốt yếu của Lễ Hoàn Nguyện năm nay là những lễ lạc đã được nêu bên trên và những phương pháp hỗ trợ duy trì phía dưới bài viết nầy, mong rằng quý vị sẽ cộng tác hỗ trợ cho. Một con én không làm nổi một mùa xuân; nhưng nếu có nhiều con én thì mùa xuân càng có nhiều ý nghĩa hơn.

Sau Lễ Hoàn Nguyện, thời gian 10 năm còn ở lại nơi nầy để chăm lo chùa chiền và hướng dẫn tinh thần cho quý Phật Tử cũng chẳng phải là một thời gian dài và chúng ta nên tận lực để thực hiện bổn phận của Tăng Sĩ cũng như Cư Sĩ để ánh sáng Đạo Pháp càng ngày càng rộng tỏa nhiều hơn.

Có nhiều người vội bảo sao Thầy giã từ sớm thế? Theo tôi thì chẳng sớm đâu. Từ đây chuẩn bị là vừa rồi đấy. Một chính phủ luôn cần cải tổ nội các thì chính phủ ấy mới không độc tài, một đất nước luôn đổi mới là một đất nước giàu mạnh. Một bông hoa dầu trổ đẹp bao nhiêu đi chăng nữa, có lúc nó cũng phải tàn. Người hiểu việc là người hãy trao cho người khác chăm sóc để bông hoa nở càng ngày càng đẹp hơn trước. Đó là bổn phận của người trồng ra cây hoa ấy phải biết lo như vậy. Nếu có còn ở lại thì hãy chỉ là cố vấn, làm sao cho người đi sau biết bón phân tưới nước là đủ rồi. Không nên ở một vị trí quá lâu, chẳng được lợi ích gì.

Bài nầy viết về Lễ Hoàn Nguyện và có lẽ đây cũng là những ý chính mà chúng tôi muốn trình bày với các Phật Tử xa gần. Nếu có điều gì không vừa ý cũng mong quý vị thông cảm mà bỏ qua cho.

Nguyện cầu cho quê hương sớm thanh bình an lạc để người người được tự do thực hiện quyền tự do tín ngưỡng của mình và một mai đây có trở về quê hương đất tổ, Mẹ Việt Nam sẽ dang tay đón gọi những đứa con xa xứ trở về; nhưng đặc biệt là không bị lai căng và phản bội lại mẹ. Vì Tôn Giáo là một chất liệu dưỡng sinh của tất cả mọi tâm hồn. 

Viết vào một sáng Lập Xuân tại thư phòng chùa Viên Giác 

( Số 74  (Tháng 4.1993)

 

 

Lễ tạ ơn Tam Bảo

(Đọc trong Lễ Hoàn Nguyện ngày 4.9.1993)

Đức Thế Tôn ra đời mục đích chuyển bánh xe Pháp, cứu độ quần sanh. Chư Tổ Sư tiếp nối tâm truyền ấy, đời đời bền vững qua các nơi Ấn Độ, Trung Hoa, Việt Nam rồi dần dà lan tỏa ra khắp nơi trên thế giới.

Người người được gội nhuần ơn pháp vũ ấy là do bổn nguyện của chư Phật và lòng từ bi độ sanh của chư Tổ. Nếu không có Phật thị hiện, chư Tổ cũng không thể nối dòng tâm ấy để truyền. Nếu không có chư Tổ thì chúng ta ngày nay sẽ không thấy được ánh sáng chơn lý đó.

Nương theo ý Phật, thực hành theo hạnh nguyện của chư Tổ, chúng con đã xả bỏ tất cả những gì tạm bợ của thế gian để xuất gia đầu Phật. Mục đích không phải để cầu lợi dưỡng cho riêng mình mà để đền đáp 4 ơn nặng nghĩa sâu trong cuộc đời. Đó là ơn Quốc Gia, Cha Mẹ, Thầy Tổ và Đàn Na Tín Thí. Dưới để cứu độ những chúng sanh trong các cảnh địa ngục, ngạ quỉ và súc sanh.

Lời phát nguyện lúc sơ tâm xuất gia thì to lớn; nhưng bản nguyện cũng khó đạt thành. Nay vì nước nhà trong cơn quốc biến, nên mới có cơ hội nương thân nơi xứ người để tuyên dương ý Tổ. Nhưng chẳng phải việc nào cũng hoàn thành, vì lẽ chúng sanh đời mạt pháp, phước mỏng, nghiệp dày, khó tu, khó độ. Nhưng chẳng quản tài non, đức kém, đứng ra kiến lập đạo tràng tân Viên Giác tự nơi Đức Quốc nầy để thất chúng đồng tu, có cơ sở để phụng trì Tam Bảo. Hôm nay nhân duyên đã đầy đủ, nhờ oai lực của Tam Bảo gia hộ, nên lời nguyện đã được vuông tròn. Công đức ấy xin hồi hướng lên Tam Bảo và mười phương pháp giới chúng sanh để được bồ đề quả mãn.

Hôm nay nhân đã thuận, duyên đã đủ chúng con xin làm lễ tạ ơn Tam Bảo và chính thức nhận lãnh trách nhiệm trụ trì trong vòng 10 năm để xiển dương Phật Pháp và chỉnh đốn tông phong. Ngưỡng vọng chư Phật, chư Bồ Tát, chư Long Thần Hộ Pháp gia hộ và chứng minh cho lời nguyện nầy và thời gian sau đó; như đã có trình thưa, ngôi chùa nầy sẽ do Giáo Hội và môn phong tiếp tục điều khiển, còn riêng chúng con sẽ trở về vị trí yên tĩnh tu hành, tiếp tục cuộc hành trình đi vào cõi nội tâm thâm diệu.

Mười năm còn lại xin nguyện sẽ làm tròn bổn phận của một người Trưởng Tử Như Lai và là một thành viên của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất tại hải ngoại cũng như quốc nội.

Lời cuối, kính mong chư vị hiện tiền Tăng chứng minh cho lời đại nguyện nầy và mong rằng chư tôn sẽ hỗ trợ cho ngôi chùa chung nầy càng ngày càng phát triển về mọi mặt.

Nam Mô Chứng Minh Sư Bồ Tát Ma Ha Tát

( Số 77  (Tháng 10.1993)

 

Cây trái vườn chùa

Đã từ lâu tôi muốn viết về đề tài nầy, ít ra cũng từ năm 1991, khi mà chùa mới tại đường Karlsruher Str. đã có một khoảng đất lớn bao bọc chung quanh chùa dành để trồng cây ăn trái. Thế nhưng tôi bận bịu suốt năm nầy qua tháng nọ, chẳng có thì giờ để viết về đề tài nầy. Thứ nhất để giới thiệu cho độc giả báo Viên Giác khắp nơi biết sơ qua về những cây ăn trái mà chùa có được. Thứ hai phải viết bài nầy cảm ơn Bác Sáu trai, người đã âm thầm năm nầy qua năm khác, tháng nọ qua tháng kia trong các mùa nắng ấm, đã mang đến cho chùa và cho mọi người biết bao nhiêu nỗi hoan hỷ tràn trề, mà trong quyển Chùa Viên Giác xuất bản vào năm 1994 tôi đã quên bẵng đi, không có đả động đến vườn chùa Viên Giác gì cả.

 Bây giờ nếu có ai hỏi tôi rằng: Thầy có thiếu gì không?

 Tôi sẽ trả lời rằng :

- Có chứ; nhưng vật nầy khó tìm ra lắm.

 Có người hỏi tiếp:

- Thầy thiếu cái gì vậy?

- Thiếu thì giờ. Tôi đáp lại thế.

 Quả thật thời giờ của tôi quý báu vô cùng. Hồi còn đi học có nhiều thì giờ quá mà đã không tận dụng hết mình; trong khi đó phương tiện học hành lại thiếu thốn. Còn bây giờ phương tiện, sách vở, báo chí chất ngợp đầu, ngập phòng nhưng nào tôi có đọc hết được đâu. Phải chi, phải chi tôi đổi được thế cờ!!!

 Nói để mà nói vậy thôi, chứ thời gian trôi qua rồi đâu có bao giờ trở lại nữa. Cũng như thế đó. Tuổi trẻ đến rồi đi, chẳng mấy chốc thấy đầu mình đã bạc. Thôi thì vui với hiện tại là đủ rồi.

 Không biết trong quý vị có mê cây cảnh ngoài vườn không, chứ còn tôi thì khỏi nói. Vì bản chất là con nhà nông mà! Cứ mỗi sáng mai hay chiều đến, ngày hai bận, vào mùa nắng ấm từ tháng 5 đến tháng 9 mỗi năm hầu như không có ngày nào là không có mặt ngoài vườn chùa để thăm cây bí nầy, giàn bầu nọ, hay chào hỏi Bác Sáu mấy câu khi Bác tưới nước hay gieo ngò, cải tần ô, hay bón phân cho giàn khổ qua mới bắt rễ.

 Trong vườn chùa Viên Giác bao quanh theo hai dãy Đông và Tây Đường, Bác Sáu mỗi năm trồng mỗi loại khác nhau; nhưng tựu trung gồm những thứ sau đây : cải bẹ xanh, tần ô, ngò, rau dền, diếp cá, ớt, bí đao, bí rợ, bầu, khổ qua, mướp tây, đậu que, đậu tây, rau răm, rau húng v.v... Đại để là những loại vừa kể là những món ăn chính, chùa hay xử dụng đến.

 Cải bẹ xanh có năm Bác Sáu gieo đến 4 đợt, tần ô cũng thế. Có điều cũng hơi lạ là cải bẹ xanh không chịu lạnh được, trong khi đó cải tần ô có thể sống cho đến đầu tháng giêng mỗi năm. Chỉ khi nào tuyết phủ xuống mặt đất, rau tần ô mới chịu thua thời tiết mà thôi.

 Ngò thì yếu lắm. Tôi ít thấy Bác để giống ngò. Vì thời gian mùa hè quá ít, hột không đủ khô để dành cho năm khác, mà hình như mỗi năm đều có ngò giống từ Việt Nam hay Thái Lan gởi qua để Bác gieo. Rau dền có hai loại, một loại mọc hoang, tự nhiên trên đất. Loại nầy nấu canh cũng ngon lắm. Loại thứ hai do Bác Sáu gieo. Đó là rau dền đỏ hay rau dền trắng. Loại nầy cắt ngọn cao cao ở đợt đầu, để nguyên như vậy, rau dền sẽ cung cấp cho ta suốt từ mùa hè cho đến mùa đông. Nhưng ai bụng yếu phải coi chừng. Vì rau nầy thuộc loại làm cho tiêu hóa nhanh.

 Rau diếp cứ mùa Đông Bác Sáu đem vào nhà, mùa hè thì đem ra trồng ngoài vườn. Loại nầy có nhiều người ăn không được. Bảo tanh; nhưng rau diếp cá không thuộc trong các loại ngũ vị tân (hành, hẹ, nén, tỏi và hương cừ) nên nhà chùa vẫn hay dùng. Loại nầy ở Việt Nam mọc cùng bờ cùng bụi; nhưng ở đây thì nâng niu chìu chuộng như nuôi con một ở trong nhà; nhưng được cái dễ dãi là rau diếp cá không đòi hỏi phân hoặc nước nhiều như các loại khác.

 Còn ớt thôi đủ loại. Ớt chỉ thiên, ớt hiểm, ớt Nam Vang v.v... nhưng ớt nào cũng cay xé lưỡi. Nhiều khi chuẩn bị cảm tôi hay nói các chú trong chùa hái cho một trái dầm với nước tương để dùng cho ra chút mồ hôi; nhưng chưa bao giờ tôi dùng hết một trái cả. Bác Sáu trồng ớt trái nhiều lắm. Mỗi năm vào tháng 4 Bác mang ớt ra vườn. Đến tháng 10 Bác bứng vào chậu và mang vào nhà. Tuy trồng trong nhà nhưng ớt vẫn ra trái. Ớt vẫn cay. Tuy không xanh mượt như trồng ở ngoài trời; nhưng nhìn cây ớt nhiều người cũng đỡ nhớ quê khi giá lạnh đông về.

 Bí đao, bí rợ, bầu và khổ qua là những loại khó trồng nhứt ở xứ nầy. Ở Việt Nam hay các xứ Á Châu những loại nầy ăn không hết, bán cũng rẻ rề; nhưng ở Âu Châu là vàng là bạc đấy. Ai xa quê rồi mới thấy tình quê là lai láng. Và sự nhớ quê hương ấy thể hiện qua những cái gì chất phác đơn thuần nhất mà ở đây khó có được, chứ không phải là nhà cao cửa rộng hằng ngày.

 Việt Nam chúng ta có câu tục ngữ là : Bí rợ bò giàn, bí đao bò đất; nhưng ở đây bí nào cũng chịu đất hơn là bò lên cao. Có lẽ vì gió nhiều hơn ở quê hương ta chăng? nên các nụ bí non không chịu được các cơn gió lốc ấy?

 Bí rợ, bí đao, bầu và khổ qua mỗi năm Bác Sáu phải ương để trong nhà từ cuối tháng 3 trở đi, đến giữa tháng 4 hay đầu tháng 5 tùy theo khí hậu ấm áp mỗi năm Bác mới thận trọng đem ra xuống đất và che kỹ để cây có hơi ấm cũng như đỡ lạnh về đêm. Cái quan trọng của người làm vườn ở đây là phải biết coi thời tiết. Lúc nào mới có thể cho cây giống xuống và lúc nào thì chắc chắn cây sẽ vươn chồi nẩy lộc và cho xuống như thế nào thì cây không phát triển. Cái mẹo nầy chẳng ai chỉ được cho ai cả. Đó chẳng qua là kinh nghiệm của mỗi người. Cũng như thế ấy, là bột là đường là dầu là rau cải; nhưng người nầy nấu và gia vị sao ngon quá. Còn kẻ kia thì quá vụng về. Tất cả chỉ qua khéo tay và kinh nghiệm.

 Năm rồi 1994 Bác Sáu xuống những cây bầu đúng lúc nên cây đâm chồi nẩy lộc rất nhanh. Đơm hoa kết trái không sẩy một nụ nào. Năm đó đến mùa Vu Lan thâu hoạch độ 45 trái. Trái nào trái nấy dài hơn một thước. Còn năm nay cũng nơi chốn ấy, phân bón có phần tốt hơn, Bác Sáu cũng xuống những cây bầu; nhưng không ra được một trái nào cả. Toàn là bầu đèo. Trước đó hai tuần vào tháng 4 năm nay (1995) tôi thấy trời nắng quá, thấy có thể cho cây giống xuống được, Bác Sáu thì đi vắng không thể hỏi ý kiến được. Vả lại thấy bầu đã đâm tược nhiều rồi, nên tôi mới cố vấn cho các anh em làm công quả là đem bầu ra vườn trồng đi. Mới trồng độ 3 ngày trời lạnh lại. Bầu chưa bắt rễ, nên một tuần sau là cây bầu để tang luôn. Không phải một cây mà cả 4 cây đều như thế cả. Đây là những cây bầu tốt nhất đã đem trồng. Chỉ còn là 4 cây thật xấu; nhưng tôi không dám cho đem trồng nữa, để chờ Bác Sáu về, nếu đem trồng trong lúc ấy sẽ mất giống ngay. Những cây bầu èo ọp như thế; nhưng qua tay Bác, sau 2 tuần lễ bầu đâm chồi phát triển, bò vùn vụt lên giàn, làm cho Bác phải xắn nhiều lần để chờ cho có nụ để nhìn cho vui mắt; nhưng chẳng thấy nụ nào. Bầu bò kín giàn nhưng cũng chẳng có trái. Hỏi ra mới biết đây là bầu giống mới đem từ Việt Nam qua chưa quen với phong thổ ở xứ nầy. Còn bầu năm ngoái được mùa nhiều vì là bầu của Ý.

 Từ giống bầu hay giống cây như cây bồ đề chẳng hạn, ở Á Châu chúng ta chúng mọc quanh nơi khắp chốn rất dễ dàng, không cần ai chăm sóc cả. Còn ở đây thì ngược lại; nhưng cũng không trưởng dưỡng được mấy cây. Điều ấy cũng giống như tinh thần học Phật của người Phật Tử tại Âu Châu nầy vậy.

 Có người buột miệng nói với tôi rằng: "Thầy trồng cây không được. Có lẽ chỉ trồng người thôi". Biết đâu câu ấy lại đúng. Ví dụ ai đó cho tôi một cây thật tốt, bông lá thật đẹp rồi hướng dẫn tôi phải để cây ở chỗ nào, tưới nước ra sao v.v. và v.v... tôi làm đúng y lời dặn như vậy; nhưng chỉ một đến hai tuần sau thôi là cây chỉ còn có cành chứ hoa và lá rụng khỏi thân cây, đi chơi chỗ khác. Nói tôi không thương cây thì cũng không đúng; nhưng nói không có tay trồng cây có lẽ đúng hơn chăng? cũng như thế đó, có nhiều người trồng cây chỉ có lá chứ không có trái. Ngược lại những người như Bác Sáu thì trồng cây nào cũng sống và cũng sai trái vô cùng. Đố ai biết được bí mật của nhà nghề và giải thích giùm cho tôi việc nầy được chăng?

 Còn người, dầu là người nào đó có hư tánh mấy và hư đốn đến đâu đi chăng nữa qua bàn tay giáo dục của mình, tôi sẽ cố uốn nắn họ thành một người ít ra cũng hữu dụng cho đời, cho đạo. Nhưng tôi thì khó tính lắm; nên qua sự giáo dục cũng đã có nhiều người than phiền; nhưng biết sao hơn. Qua giáo dục, phải hướng con người đến chân thiện mỹ chứ không còn có cách gì khác hơn cả. Cũng như trồng cây bí, cây bầu phải mong làm sao cho có quả sai và quả ngọt là vậy. So ra như thế người làm vườn và kẻ đào tạo nhân tài cũng đâu có khác nhau bấy nhiêu đâu?

 Bí rợ mỗi năm Bác Sáu thu hoạch cho chùa độ 40 đến 50 trái, lớn có nhỏ có. Có loại ngọt lịm như đường. Có loại thì bở lắm. Loại bí sáp từ Việt Nam mang đến trái nhỏ, nhưng rất ngọt. Trồng bí rợ hay bầu có cái lợi là ngoài quả bí ra, chúng ta còn có thể cắt đọt bầu hay đọt bí để nấu canh hoặc luộc chấm xì dầu thì khỏi chê. Hầu như quý Thầy Việt Nam mình ai cũng thích rau luộc hay canh rau cải, cải xào trong những bữa ăn hơn là những món cầu kỳ như nem, chả v.v... Mỗi lần có khách tăng đến chùa, tôi nói quý cô, quý chú ra vườn chùa hái đọt bầu, đọt bí để đãi khách. Quý Thầy hoan hỷ lắm. Ngoài đọt ra, chúng ta có thể lấy lá  non của bí rợ, hoặc bông bí, sau khi đã lặt bỏ nhụy bí đem luộc chấm xì dầu cũng rất tuyệt vời, chỉ khi nào không lấy hết nhụy bông bí ra, khi ấy ăn thấy nhân nhẫn khó chịu.

 Đặc biệt giàn khổ qua năm nay (1995) của chùa sai trái lắm. Ít nhất cũng 40 trái thì phải? Người mình thường kêu trái ổ qua, miền Bắc kêu trái mướp đắng. Nhưng đúng ra phải nói khổ qua mới đúng. Khổ là đắng! Qua là cái móng. Có lẽ ngày xưa chim chóc đua nhau ăn trái khi chín và lấy móng chân tha hột đi khắp nơi, từ đấy giống khổ qua mới có; nên gọi là khổ qua chăng? hay trái khổ qua cũng có hình cong cong như móng chân; nên gọi là khổ qua?

 Viết đến đây tôi nhớ đến câu chuyện trái dưa hấu của An Tiêm trong chuyện cổ tích Việt Nam mà kết luận rằng: chữ qua ở đây là móng vuốt có lẽ đúng hơn. Trái dưa hấu tiếng Hán gọi là Tây qua. Có nghĩa là nhờ cái móng con chim mang đến từ phía Tây nên ngày nay chúng ta mới có mà ăn. Tiếng Nhựt gọi là Suika. Viết chữ Hán cũng là Tây qua; nhưng chữ Sui ở đây nhiều người lầm là "thủy" tức là "nước" nên nhiều người đã dịch sang tiếng Anh là Water Melon hay tiếng Đức Wassermelon là sai, không đúng với ý nghĩa lịch sử của nó. Có lẽ người phương Tây thấy loại dưa nầy có nước nhiều nên cho nó là dưa có nước; nhưng trên thực tế thì không phải vậy.

 Mướp tây Bác Sáu trồng năm nào cũng được mùa. Trái nào trái nấy to như bắp vế. Mỗi năm cho hằng trăm trái. Chùa nhiều lúc dùng không hết phải cho bớt quý Phật Tử đi hành hương; nhưng nếu nhà nào chừng ba người thì phải ăn ba đến năm ngày mới hết một trái. Cả chùa Viên Giác thường thường 15 đến 20 người dùng bữa; nhưng nếu bữa nào đó hái trái lớn để nấu canh, lẫn xào mà dùng vẫn không hết như thường.

 Đậu que năm nầy Bác trồng lần đầu nhưng trái sai lắm. Hái một ngày nghỉ một ngày mà ăn cũng không kịp. Chỉ tội cho người nào có phong, ăn loại đậu nầy vào là phải gãi suốt đêm đấy.

 Năm nay Bác Sáu cũng trồng một loại đậu Tây trông lạ lắm. Khi ra bông thì màu đỏ, dây bò quá đầu, trái ra giống đậu ngự, để lớn lấy hạt thấy màu tím. Lúc còn non xào ăn rất bùi. Đậu nầy ở Việt Nam mình không có nên tôi tạm gọi là đậu Tây cho nó thông vậy thôi; Chứ đúng ra nó phải có cái tên khác. Đậu nầy được cái là ra trái rất sớm và rất nhiều cũng là loại đậu mãn mùa sau cùng. Đến tháng 10 mà vẫn còn ra bông, kết trái.

 Rau răm là loại rau khó trồng nhất cũng giống như bí đao vậy. Không chịu nước mà cũng không chịu khô. Mùa Đông Bác Sáu phải đem vào nhà, đến hè mới mang ra. Rau răm khó trồng nên vườn chùa cũng hiếm thấy. Mỗi năm Bác Sáu trồng được mấy dây bí đao và gắng gượng lắm cũng cho được 3 đến 4 trái nho nhỏ. Giống như rau răm vậy thôi. Chẳng bù lại với rau húng là loại rau mạnh nhất và cũng không cần phải săn sóc nhiều nữa.

 Rau húng sống suốt mùa đông ngoài trời. Khi tuyết xuống thì húng nằm sâu dưới mặt đất, đến khi xuân sang, trong khi mọi rau cải chưa gieo hạt được thì húng đã đâm chồi rồi. Rau nầy cũng giống như một loại hoa nở vào mùa tuyết vậy. Ở Á Châu chúng ta có loại hoa đào hay hoa mai cũng biểu hiện được tính cương nghị ấy, cho nên ta mới đặt cho các loài thực vật nầy là : "Xuân lan, Thu cúc, Hạ trúc, Đông mai" là vậy đó.

 Mùa hạ năm nay nóng quá chừng, phải tưới nước liên tục, nhiều ngày phải tưới hai lần sáng và chiều làm cho đồng hồ nước của chùa quay liên tục. Có lẽ sang năm 1996 tôi sẽ cho đào một cái giếng lấy nước ngầm để tưới thì hay và đỡ tốn kém hơn.

 Dĩ nhiên Bác Sáu là vai chánh trong công việc vườn chùa rồi; nhưng một số các anh em công quả như Thiện Trí, Thiện Văn và các chú cũng phụ Bác Sáu tưới và săn sóc rau cải, cây trái suốt cả một mùa hè, chúng ta mới có được những bữa cơm ngon lành như thế.

 Vì lẽ ấy nên trong chùa trước khi ăn cơm ai ai cũng phải quán tưởng đến tam đề và ngũ quán như sau:

- Nguyện bỏ tất cả các việc ác

- Nguyện làm tất cả các việc lành

- Nguyện độ tất cả chúng sanh

 Một kể công nhiều ít

 so kia chỗ đem đến

 Hai xét đức hạnh mình

 đủ thiếu khi thọ dùng

 Ba đề phòng tâm tham

 vì tham là cội gốc

 Bốn là vị thuốc hay

 để chữa bệnh gầy

 Năm làm nên đạo nghiệp

 mới thọ cơm nầy.

 Tất cả những điều trên đây nhắc nhở cho người tu hành thấy rằng hạt gạo, bát cơm, cọng rau, giọt nước đều từ nơi khó nhọc của mọi người mà mình thừa hưởng được. Vậy khi dùng cơm không nên quên ơn đức cao cả ấy.

 Hôm nay tôi viết bài nầy như mục đích bên trên đã nói là không ngoài việc cảm ơn Bác Sáu trai đã săn sóc cực nhọc trong vườn chùa suốt mấy tháng hè trong cả mấy năm qua. Hy vọng với bài nầy sẽ là một sự cảm ơn nho nhỏ đến với Bác cũng như giới thiệu một vài hình ảnh quê hương ở nơi trời Âu xa lạ nầy, mà chắc chắn ai trong chúng ta cũng không bao giờ muốn quên nó. Dầu cho chúng ta có trở thành ông hay bà gì trong xã hội nầy đi chăng nữa, hình ảnh quê hương là hình ảnh của mẹ Việt Nam, chúng ta không được phép quên và không được phủ nhận giá trị tinh thần cao cả ấy.

 Lần đến nếu có dịp tôi sẽ đề cập đến cây cảnh vườn chùa, nhất là những loài hoa mang hương sắc đến tô điểm cho cuộc đời, để cống hiến quý vị khi nhàn lãm thì đọc cho vui bên chén trà khai vị.

Viết xong vào lúc 19 giờ ngày 16 tháng 10 năm 1995

trên chuyến bay BA.025 từ London hướng về Đài Bắc. 

( Số 90  (Tháng 12.1995)

 

Cây cảnh vườn chùa

Tục ngữ Việt Nam có câu:

 "Đêm tháng năm chưa nằm đà sáng

 Ngày tháng mười chưa cười đà tối" 

 Quả thật vậy. Ngày mùa hè rất dài và về đêm mùa đông cũng thế. Ở Việt Nam chúng ta ít có người để ý đến vấn đề nầy. Tuy rằng giữa mùa hè và mùa đông có sự sai biệt nhau: nhưng cũng không chênh lệch nhau nhiều. Duy chỉ có Âu Châu và Mỹ Châu là hai châu lục có thể cảm nhận được sự khác biệt đó rất rõ ràng.

 Ở Âu Châu mùa hè mới 2 giờ sáng đã có mặt trời và ngày kéo dài mãi cho đến 10 giờ đêm vẫn còn sáng tỏ. Đó là chưa kể xứ Na Uy, ở tận miền Bắc Âu, mỗi năm có một hay hai ngày vào tháng 6 không có ban đêm mà chỉ thấy toàn là ánh sáng. Ngược lại khi trời vào đông ở xứ Âu Châu nầy mới 3 giờ chiều đã tối và 10 giờ sáng vẫn chưa thấy mặt trời. Không biết ngày xưa khi các xứ Âu Châu chưa văn minh, không có đồng hồ, họ lấy cái gì để làm điểm tựa, để thức dậy hoặc đi ngủ? Ở Á Châu chúng ta ngày xưa và ngay cả bây giờ cũng vậy, ở đồng quê người ta căn cứ vào tiếng gáy của con gà buổi sáng, hoặc tiếng chuông chùa để thức giấc; đến trưa thấy bóng mình dừng lại ngay chân thì về nhà nghỉ và đến chiều mặt trời lặn, lại chăn dắt trâu bò về chuồng để nghỉ ngơi. Còn ở đây, nơi các xứ băng giá nầy có nhiều cái mà người Á Châu khó hình dung được.

 Ở Âu và Mỹ Châu có 4 mùa rõ rệt; nhưng Việt Nam ta, nhất là từ miền Trung và Nam, mỗi năm chỉ có 2 mùa - là mùa mưa và mùa nắng. Do vậy, thiên nhiên đối với người Nam Phần dường như không quan trọng lắm. Trong sách vở, đọc đâu đấy vẫn được thấy diễn tả là: mùa thu lá vàng bay và đông sang tuyết giá; nhưng tại miền Nam, quanh năm suốt tháng chẳng thấy được hình ảnh nầy.

 Qua đến Nhật, tôi cảm nhận thiên nhiên rõ ràng hơn khi mùa đông có hoa mai nở, mùa xuân có hoa anh đào, mùa hè có trúc biếc, mùa đông có những cây tùng, cây bách, cây trắc bá diệp vẫn thi gan cùng tuế nguyệt với tuyết với sương.

Khi sang xứ Đức nầy tôi cũng cảm nhận được điều đó. Ở đây cũng có mai vàng nhưng nở muộn lắm khi xuân sang; nhưng cảnh vật ở đây khó có thể làm cho người ta nguôi niềm nhớ cố hương khi tuổi đời càng ngày càng chồng chất. Bởi vậy ai cũng muốn tìm về nội tâm mình một hình ảnh thân thương của tuổi ấu niên, nhằm bồi đắp thêm một vài kỷ niệm trong đời mình. Tôi cũng không ra khỏi thông lệ ấy; nên khi chùa Viên Giác đã được xây dựng, chúng tôi cố tạo làm sao vườn chùa nầy có được nhiều cây cảnh càng quý và hôm nay chúng tôi xin mời quý vị đặt chân đến Vườn Chùa Viên Giác để thưởng ngoạn cây cảnh khi xuân sang.

Chung quanh chùa Viên Giác có 4 hàng rào cây Pappel, cây nầy thuộc một họ với cây bồ đề hay cây đa ở xứ Á Châu mình. Tuy cây không có rễ phụ lên thẳng, mới trông lá của cây Pappel rất giống lá bồ đề. Thật ra cây bồ đề cũng chỉ là một cây đa thôi; nhưng nhờ Đức Phật ngồi đó tham thiền và trở nên đấng giác ngộ nên cây ấy mới được gọi là cây bồ đề, có nghĩa là cây giác ngộ, hoặc cây hiểu biết. Nếu ngày xưa Đức Phật ngồi dưới một cây nào khác mà được giác ngộ, thì cây kia cũng sẽ được gọi là cây giác ngộ. Nhưng ở Ấn Độ ngoài cây đa nầy ra, có tàng lá sum suê, rất hợp với phong thổ tại xứ nóng, không có một loại cây nào thay thế chúng được.

 Khi mua đất làm chùa Viên Giác thì những hàng cây nầy đã được trồng sẵn rồi. Tính đến năm 1984 chúng đã được 18 tuổi. Vào thu, lá cây vàng rơi rụng khắp sân chùa, có khi quét dồn thành đống, ủ thành phân để trồng cây. Có năm nhiều quá phải bỏ thùng rác. Có lúc lá rơi nhiều quá, phải động viên cả chùa ra quét; nên có nhiều chú mới hát những câu ca dao như sau:

 "Con vua thì lại làm vua

 Con sãi ở chùa phải quét lá đa"

 Câu nầy mới đọc qua nghe cũng xuôi tai lắm; nhưng đối không chỉnh. Vì con vua thì làm vua đúng rồi. Nhưng sãi làm gì có con mà quét lá đa? Hay ngày xưa sãi Việt Nam vẫn được lập gia đình? Đó là một nghi vấn. Có nhiều cái vô lý mà cũng cảm thấy hay hay. Ví như có người ra câu đối:

 "Ni Cô chải tóc bên bờ suối"

 Nghe cũng nghịch đời thật. Ni Cô làm gì có tóc mà chải? hay ngày xưa Ni Cô vẫn để tóc? Nhưng có kẻ vẫn có thể đối lại như sau:

 "Góa phụ trông chồng dưới ánh trăng"

 Câu đối nầy thật là tuyệt. Đã gọi là góa phụ thì làm gì có chồng mà trông. Ở đây câu đối câu, chữ đối chữ, lời đối lời, ý đối ý. Thật tuyệt vời.

Suốt cả một mùa đông cây trơ trụi lá, đến xuân sang, độ cuối tháng 3 vào đầu tháng 4 dương lịch cây đâm chồi nảy lộc, các búp non thoát xác nên đã rơi rụng rất nhiều những bẹ lá đã bao bọc cho lá suốt mùa đông. Sân chùa một lần nữa đầy rác rến, các cô, các chú hoặc các anh em công quả lại một lần nữa làm công việc quét dọn để nhớ câu:

 "Cần tảo già lam địa

 Thời thời trí huệ sanh

 Tuy vô nhơn khách đáo

 Diệc nãi Thánh Nhơn hành"

 Câu nầy thì hay tuyệt. Nghĩa là

 "Khi quét đến đất chùa

 Trí tuệ lại phát sanh

Tuy không khách nào đến

Nhưng mãi Thánh Nhơn đi"

 Người tu là vậy đó, quét chùa là quét tâm mình đó. Tâm mình đầy phiền não ô trược, khi quét chùa, mình phải nghĩ quét đi màn vô minh bị che phủ bấy lâu nay thì trí tuệ mới phát sinh được. Chùa dầu nhớp dầu sạch cũng phải siêng năng quét dọn. Tuy khách không lai vãng; nhưng tâm phật của mình luôn hiện diện; nên lúc nào cũng phải lau chùi. Tu là vậy đó, tất cả mọi hành động, cử chỉ, ngôn ngữ đều có thể tu được hết, chẳng phải tụng kinh, ngồi thiền mới gọi là tu. Người hiểu Đạo là vậy; nhưng người không hiểu đạo lại than:

 "Thầy ơi học đạo làm chi

 Tương chao biết có hơn gì hay không?"

 Nếu thân hướng vào đường tu, mà tâm không tu cũng vậy. Vì thế, chữ tu tuy đơn giản; nhưng khó vô cùng. Tuy khó đấy; nhưng cũng không phải là không làm được. Vì đã có nhiều người giác ngộ trước mình rồi.

 Cách đây 5 năm, ông Steimann ở đối diện chùa có biếu cho tôi một cây Ginko. Cây nầy có xuất xứ từ Nhật Bản. Cây nầy có thể sống đến 10.000 năm, trái và lá có công dụng chữa các bịnh hiểm nghèo. Cũng vì ông biết tôi đã ở Nhựt nên biếu cây nầy. Ngoài ra Đạo Hữu Thiện Nghĩa và Đạo Hữu Diệu Huê ở Karlsruhe cũng biếu cho chùa 3 cây, nay vẫn còn đó.

 Cây nầy có trái lớn hơn hạt đậu phộng, bên ngoài bao bọc một lớp vỏ như trái sầu đông (Dương Chi). Khi trái rụng, thối lắm. Phải chờ cho trái rữa ra mới đem phơi khô, sau đó đem rang với muối, ăn giống như đậu phộng rang. Cây tại chùa Viên Giác chưa cho trái; nhưng khi còn ở Nhựt, trong vườn chùa Honrynji ở Hachioji mỗi năm tôi đều có dùng trái Ginko nầy. Lá của Ginko giống như lá mã đậu, khi thu sang cũng vàng úa; nhưng nghe đâu lá của cây Ginko có thể chữa được cho những người mắt bị yếu sau khi đã bào chế qua dược phẩm.

 Khi ông Steimann biếu cho tôi cây nầy. Ông ta có nói rằng: Tôi sống chẳng được bao lâu nữa; nhưng cây nầy thì sống đến 10.000 năm. Vậy xin biếu Thầy cây nầy để khi tôi chết thì Thầy nhớ đến tôi? Tôi cảm ơn ông; nhưng có lẽ ông ta nghĩ rằng tôi không bị chết sao? Sau trước gì rồi cũng phải ra đi. Vì vậy người xưa mới nói:

 "Sơn trung tự hữu thiên niên thọ

 Thế thượng nan lưu bá tuế nhơn"

 Có nghĩa là: Trong núi kia có cây sống hằng ngàn năm, nhưng đời người mấy ai sống được trăm tuổi. Đúng vậy. Khi sống chúng ta lo tranh danh đoạt lợi cho nhiều; nhưng đâu có ai nghĩ rằng một ngày nào đó chúng ta cũng lại phải ra đi để vùi thân sâu dưới lòng đất, làm mồi cho cỏ cây đời nầy qua đời khác, để cống hiến cho đời.

 Bác sĩ Bùi Hữu Tường ở gần Dortmund có cúng cho chùa 4 bụi trúc và một bụi sen cách đây 3 năm về trước. Trúc thì vẫn xinh đẹp cho đến ngày nay; nhưng sen thì như quý vị đã đọc trong số báo Viên Giác nào đó, đã bị các em bé bẻ gãy cánh sen từ lâu rồi.

 Trúc trong vườn chùa có 4 loại. Đó là: Bạch trúc (trúc trắng), Thanh trúc (trúc xanh), Hoàng trúc (trúc vàng) và Tử trúc (trúc tím). Những loại trúc nầy rất hiếm và rất quý. Tôi theo dõi sự sống của chúng cũng như sự tồn tại của loại cây nầy qua bốn mùa xuân, hạ, thu, đông. Thật là cao thượng!

 Trúc không có hoa, chỉ có lá, không có gì đặc biệt; nhưng tư cách của trúc phải cần nhắc nhở đến. Trúc mọc thẳng, không cong vẹo như tre hay các loài cây khác. Tư cách nầy là tư cách của người quân tử, không luồn cúi dưới bất cứ hình thức hay hoàn cảnh nào. Vì vậy khi đi đám thăng quan tiến chức hoặc về nhà mới, người ta thường hay tặng nhau cây trúc thật hoặc qua hình ảnh, để từ đó người làm quan, phải cố gắng noi theo tánh cách thanh bạch ngay thẳng của cây mà làm người. Khi xuân đến, trúc khoe sắc màu xanh thẳm; khi đông sang, trúc vẫn một lòng nhẫn nại chịu đựng với giá buốt mưa sa; trúc rất ít rụng lá, mặc dầu đông đến và vẫn đứng thẳng để chờ cho qua khỏi đông; nhưng không bị chi phối bởi hoàn cảnh bên ngoài. Tư cách nầy của cây trúc loài người đáng học hỏi. Tôi quý trúc cũng như quý các cây cảnh khác của vườn chùa; nhưng ai tới chùa nầy tôi cũng thường hay giới thiệu chúng với khách thập phương; không phải chỉ có tính cách hiếm quý của nó, mà tư cách của cây trúc đáng để cho chúng ta học hỏi rất nhiều.

 Thiện Bình Frank là một người Đức đang tập sự tại chùa thì thích trồng cây tùng, cây bách diệp cũng như những loài hoa quý khác, tôi cũng rất hài lòng. Vì cây tùng cũng như cây bách diệp sống suốt mùa đông, chịu đựng với tuyết sương, có khi bên ngoài trời trừ đến 40 độ C; nhưng lá vẫn xanh và cành vẫn tươi; gió vẫn vi vu thổi khi tuyết giá đêm đông, thì cành cây thông vẫn đong đưa với cảnh vật. Những cây tùng tại đây chừng 10 năm nữa mới cao lớn, còn bây giờ vẫn còn trong thời kỳ dưỡng nuôi, bồi đắp.

 Những loài hoa mang hương sắc đến cho đời và cho người đi lễ chùa thì có hoa anh đào, hoa vạn thọ, hoa thược dược, hoa lan, hoa hồng, hoa cúc, hoa thiên lý, hoa phù dung, hoa súng, hoa thung, hoa đào v.v... Khi xuân đến trong vườn chùa Viên Giác đủ các loài hoa ấy thi nhau khoe sắc thắm. Và cũng từ đó bướm ong lại có dịp để viếng cảnh vườn chùa.

 Trong kinh có câu:

 "Nhứt nhơn tác phước thiên nhơn hưởng

 Độc thọ khai hoa vạn thọ hương"

 

Nghĩa là:

 Một người làm phước ngàn người hưởng.

 Một cây trổ hoa ngàn cây lại thơm lây.

 

 Đây cũng là đặc tính siêu việt của loài hoa. Hoa sẽ mang lại cho đời nhiều vui tươi và rạng rỡ. Ở đây chúng ta nên dành một ít thì giờ để điểm qua từng loài hoa một:

 Hoa Sen, như tất cả chúng ta đều biết, cao quý lắm; nhưng rất khó trồng ở xứ nầy. Sau khi Bác sĩ Tường cúng chùa một loài sen quý, màu trắng trinh nguyên, tôi cố cho người săn sóc trong hồ Quan Âm; đến khi sen lên búp, nhân lễ Vu Lan năm nọ quá đông người, các trẻ em nghịch bẻ mất một cành sen duy nhất trong ao sen của chùa và kể từ đó đến nay giống sen nầy mất luôn, không xuất hiện nữa. Sau đó Đạo Hữu Bửu Đạt Nguyễn Thanh Tâm ở Merzig có gởi từ Việt Nam sang đây mấy bụi sen, đã trồng vào đây; nhưng sen vẫn không thể đâm chồi nảy lộc. Có lẽ sen phải qua một vài thế hệ chuyển đổi với thời tiết tại đây, mới có thể tồn tại ở xứ nầy. Theo tôi nghĩ, nếu có ai đó học về thực vật học ở xứ nầy có thể ứng dụng được chăng?

 Hoa Súng là hoa thiên tử. Nếu gọi hoa sen là hoa quân tử. Hoa súng có mặt tại chùa Viên Giác nầy mấy năm nay, mỗi khi hè đến. Súng nở trong hồ Quan Âm đủ màu từ hè sang thu, đến đông thì rụi lá và suốt mùa đông, súng vẫn sống ngoài trời, đến khi xuân sang, súng bắt đầu đâm chồi, nảy nụ.

 Trước cổng chùa Viên Giác có 2 cây hoa Anh Đào. Khi mua cây giống những người bán cây bảo: đây là Anh Đào của Nhựt; nhưng khi đem về trồng loại anh đào nầy đã lai giống rồi. Hoa anh đào của Nhựt thường nở từ mồng 8 tháng 4 đến 15 tháng 4 dương lịch. Mỗi năm chỉ nở một lần và mỗi lần chỉ nở một tuần. Hoa anh đào Nhựt khi nở, hoa không bao giờ có chen một cái lá. Còn hoa anh đào của Đức trong khi ra hoa, lá vẫn chen vào.

 Bên Úc, chùa Pháp Bảo, Thượng Tọa Bảo Lạc, bào huynh của tôi, có trồng hơn 100 cội anh đào. Vào xuân thi nhau đua sắc thắm; nhưng xuân bên Úc là thu bên nầy đó. Thế mà con người vẫn có thể uốn nắn cây cối nở theo thời tiết tại mỗi châu. Kể ra cũng hay thật.

 Khi còn ở Nhật tôi ít thích hoa anh đào. Vì cho rằng loài hoa gì mà chỉ có sắc chứ không có hương; nhưng bây giờ khi xa Nhật gần 20 mùa xuân rồi, tự nhiên thấy cái gì đó ẩn hiện nơi loài hoa nầy vậy.

 Hoa Vạn Thọ là một loài hoa tương đối dễ trồng. Mỗi năm Bác Sáu gieo đầy vườn hoa phía sau chùa, khi cây con đã lớn, chờ cho ngày dịu nắng, Bác đem cấy vào các bìa vườn và nhất là gần nơi Tháp; chỉ cần phân và nước đầy đủ là cây có thể đâm chồi nảy lộc rồi. Hoa thường trổ vào mùa thu, ít khi thấy mùa hè trong vườn chùa Viên Giác mà có hoa vạn thọ nở. Tôi không biết chữ Vạn Thọ bằng Hán văn viết           (lưu ý! những chỗ trống này để viết chữ Hán)        hay là           . Chữ đầu có nghĩa là sống lâu 10.000 tuổi. Vì vậy khi chúc nhau những người lớn tuổi người ta hay biếu cho hoa nầy. Nếu là chữ sau. Có nghĩa là cây 10.000 năm. Hai chữ Thọ cùng một âm; nhưng khác nghĩa. Thực sự ra chữ sau đọc là Thụ mới đúng; nhưng đọc là Thọ cũng không sai. Ví dụ như chữ Tịnh Độ. Đúng ra phải đọc là Tịnh Thổ; nhưng đọc là Độ vẫn không sai.

 Người mình thường hay dựa theo âm thanh của loài cây cỏ để làm một cái gì đó cho có ý nghĩa. Ví dụ người miền Nam, ở bất cứ gia đình nào, khi Tết đến, trên bàn thờ Phật và ông bà bắt buộc phải sắm những thứ trái cây như: mãn cầu, dừa, đu đủ và xoài thì mới được. Nếu thiếu một trong 4 loại nầy, xem như năm ấy không vẹn toàn. Người miền Nam có thể đọc những loại trái cây ấy thành "cầu, dừa, đủ, xài". Có nghĩa là làm sao cho năm ấy có đủ để mà tiêu xài; nên những loại trái cây nầy mang một màu sắc tiêu biểu khi Tết đến xuân về.

 Hoa Thược Dược là một loại hoa vừa ra bông vừa có củ. Củ thược dược không thể để ngoài trời khi đông sang, mà phải mang vào nhà. Khi xuân đến mới đem xuống đất. Thược dược phát triển rất dễ dàng. Cây lên thẳng, có nhiều cành và ra nhiều màu khác nhau rất đẹp. Có loại hoa gần giống như cánh sen và có nhiều hoa lớn như hoa hướng dương. Quý Bác Nhựt Đạo và Bác Quảng Hiền tại Hamburg đã gởi giống nầy về chùa Viên Giác và giống nầy cho đến nay vẫn còn tồn tại.

 Hoa Lan là một loại hoa rất quý và nở rất lâu tàn. Vì vậy những người lớn tuổi lại thích lan hơn các loài hoa khác chăng? Thầy Bảo Lạc ở Úc bây giờ là một người rất sành điệu về lan. Khi khách đến viếng chùa, nếu Thầy ấy có thì giờ, Thầy sẽ hướng dẫn và giải thích cho các Phật Tử nghe tỉ mỉ từ cách trồng lan, cho đến chăm sóc chúng. Ở Đức, lan khó sống ngoài trời; nhưng trong chùa Viên Giác, nơi phòng làm việc của tôi, hay trước thư phòng tôi thường hay chưng hoa lan nầy. Hầu như lan nở quanh năm suốt tháng, hết loại nầy đến loại khác. Khi con người càng lớn tuổi, càng chọn cho mình một lối đi rõ rệt, cũng giống như những loài hoa. Dĩ nhiên hoa nào cũng đẹp, mang đến cho đời những hương sắc ngạt ngào; nhưng hoa lan đối với tôi, bền bỉ hơn, màu sắc trang nghiêm, không lòe đời và mỗi lần ra hoa, có khi 3 tháng mới tàn. Đặc tính bền lâu nầy đa số người có tuổi rất thích.

 Hoa Hồng là một loại hoa rất nhiều người thích; nhưng lại chóng tàn. Có lẽ vì: "Every rose has many thorn" chăng? Có nghĩa là: "hoa hồng nào mà chẳng có gai". Đã biết hoa hồng có gai; nhưng tại sao nhiều người vẫn thích? Tuy tôi không thích hoa hồng, vì tính cách chóng tàn phai của nó; nhưng để cho nhiều người ngắm nghía vườn chùa khi ngoạn cảnh, nên nhiều loại hoa hồng vẫn được trồng nơi đây. Phật Tử Nguyễn Văn Trực tại Hildesheim có hứa sẽ cúng cho chùa 100 gốc hồng; nhưng tôi thấy choán chỗ nhiều quá; nên chưa thực hiện được.

 

 Hoa Cúc là một loại hoa chỉ nở vào mùa thu. Đó là loại cúc kiểng? Còn loại nở vào mùa xuân là loại cải tần ô. Cải nầy chữ Hán gọi là xuân cúc . Hoa nầy nở vào mùa thu có nhiều màu khác nhau và tôi thường hay cúng Phật hoa nầy, vì độ bền của hoa, giữ lâu ngày trong bình; nhưng không bị héo tàn như những loại hoa khác, ít nhất có thể 2 tuần lễ. Nếu khi chưng bông bỏ thêm một ít thuốc Aspirin vào thì hoa được giữ lâu hơn.

 Hoa Thiên Lý là loại hoa bò giàn, có đủ màu xanh, đỏ, tím, giống như hoa rau muống của Việt Nam mình, khi Hạnh Tấn còn ở chùa nầy, chưa du học Ấn Độ, thích loại hoa nầy lắm. Hoa nầy trông rất đẹp; nhưng mong manh quá, cũng giống như kiếp người vậy thôi. Nhưng mỗi người có một sở thích khác nhau. Hạnh Tấn cũng rất thích hoa Phù Dung. Hoa nầy là loại hoa sớm nở, tối tàn. Màu sắc rất rực rỡ; ở Á Châu có cây phù dung gần giống như hoa dâm bụt; nhưng ở đây cũng có loại phù dung mọc sát dưới đất, như cỏ dại vậy.

 Hoa Thung là một loài hoa rất quý ở xứ nầy. Chữ Hán viết là       . Tiếng Nhật đọc là (Tsubaki). Hoa nầy tượng trưng cho người cha. Còn hoa Huyên là hoa ra sao tôi chưa thấy; nhưng hoa ấy tượng trưng cho người mẹ. Hoa Thung mọc rải rác ở Việt Nam tại vùng đồi núi Đà Lạt. Có các màu đỏ, trắng và hồng. Hoa nầy ở Nhật rất nhiều. Ở Đức rất quý. Họ chỉ trồng trong nhà. Tại chùa Viên Giác cũng chỉ mua những cây hoa nầy vào những dịp lễ lớn và để trên bàn thờ cúng Phật. Hoa gần giống như hoa hồng có nhiều cánh xếp chồng lên nhau, rất lâu tàn; nhưng rất khó dưỡng.

 Hoa Đào ở đây là hoa đào miền Bắc và hoa đào của Đức, không phải loại Anh Đào của Nhật. Hữu có cúng chùa 2 gốc đào. Một trồng phía trước chùa, thuộc loại đào của Đức nở hoa về mùa xuân, màu trắng. Một gốc khác từ Việt Nam mang sang trồng phía sau vườn chùa. Đào nầy màu đỏ. Tôi rất trân quý và gốc cây đào nầy vẫn còn sống qua khỏi mùa đông giá buốt 96 vừa qua. Không biết cây đào nầy sẽ phát triển nhanh chóng hay không, để chờ thời gian mới biết được.

 Đó là những loài hoa chính mà chùa Viên Giác có trồng và hiện có nơi vườn chùa. Còn nhiều loài hoa dại khác chỉ có tên Đức, không có tên Việt, vả lại ở Việt Nam cũng không có những loại nầy nên chẳng biết gọi chúng là loại hoa gì; nhưng khi nhìn vào chúng, thấy như một tấm thảm muôn màu, được dệt nên bởi gấm hoa của thiên nhiên, tạo vật. Tôi không phải là một nhà thực vật học; nên không biết tên để gọi hết các loài hoa. Mong quý vị thông cảm và nếu những nhận xét của tôi về hoa có gì không phải, mong rằng quý vị sẽ bổ túc cho.

 Theo tôi nghĩ, trong cuộc sống hằng ngày, chúng ta rất bận rộn với công việc nhà, việc sở. Cuối tuần tất bật với công việc sắp tới. Vì thế để dành một ít thì giờ để đi đến công viên, hay thăm chùa lễ Phật, xem hoa, ngoạn cảnh cũng là việc nên làm. Vì hoa, cây cỏ v.v... tuy chúng là loài vô tình. Vì không đi đầu thai trong sáu nẻo luân hồi; nhưng chúng cũng có sự sống và mang đến cho đời biết bao niềm vui vô tận. Dầu cho ai đó có khó tính bao nhiêu đi chăng nữa, cũng không nỡ khước từ sắc đẹp của loài hoa; nhất là những loài hoa mang hương và sắc tạo nên những nét đẹp riêng trong cuộc sống hằng ngày.

 Đó là kể bên ngoài chùa Viên Giác, còn bên trong chùa các cô các chú cũng trồng rất nhiều hoa; nhất là cô Hạnh Như, đang học tại Đài Loan; nhưng mỗi khi về thăm chùa Viên Giác là cô săn sóc hết cây nầy đến cây khác từ Chánh điện đến văn phòng và nhà Tổ v.v... Trong nhà Tổ có trồng mấy cây hoa dâm bụt. Ở Á Châu mình hoa nầy mọc ngoài hàng rào; nhưng ở đây phải mang vào nhà trồng; nhưng cũng khó sống lắm. Ngoài hoa dâm bụt ra trong nhà Tổ cũng có hoa lồng đèn ngộ ngộ xinh xinh. Hoa nầy màu tím, hồng hoặc đỏ, khi ra hoa giống như hoa cà ở Việt Nam mình. Ngoài ra Hạnh Tấn và Frank cũng trồng trong nhà Tổ rất nhiều cây Bonsai. Chữ Bonsai có nghĩa là cây trồng trong chậu. Chỉ đơn giản vậy thôi mà Nhựt nổi tiếng khắp thế giới như Trà Đạo hoặc cách cắm hoa của họ. Riêng ông Helmut Hanefeld người Phật Tử Đức đang ở chùa, phụ giảng cho người Đức với tôi, thì bảo rằng làm như thế là không được. Cây đang độ lớn phải tưới nước cho phân để chóng lớn, tại sao lại bắt buộc nó thu mình trong một cái chậu nhỏ như vậy? Phần đúng về ai, xin quý vị cứ tự trả lời.

 Bên nhà vong có mấy cây sống đời. Cây nầy không cần phân, chỉ cần nước là cây có thể sống và phát triển mãi mãi với thời gian, tôi chẳng bao giờ thấy cây nầy ra hoa, mà chỉ có một màu xanh biêng biếc của lá.

 Trong phòng hội họp có trồng mấy cây Mồng Gà, cây Cẩm Chướng và mấy chậu Hoa Quỳnh. Mồng gà và cẩm chướng là loại thường; nhưng hoa quỳnh thì quý lắm. Ở Việt Nam hoa quỳnh chỉ nở ban đêm; nhưng ở Đức nầy hoa quỳnh nở vào chiều hoặc tối, đến khuya thì quỳnh tàn. Có nhiều năm Thầy trò chúng tôi ngồi xem quỳnh nở, uống trà và kể chuyện đời, chuyện đạo cũng vui. Quỳnh cưu mang rất lâu, từ khi đâm nụ cho đến khi nở hoa, có lẽ cũng 2 tháng; nhưng khi nở chỉ một đêm lại tàn. Ô hay! Ở đời có nhiều loài hoa khác lạ quá, chẳng biết đâu mà nói cho cùng, diễn tả cho hết.

Trên Chánh điện chùa Viên Giác rất ít có chậu hoa nào, mà nơi ấy chỉ trồng những cây cảnh thì nhiều. Vì khói hương nghi ngút vào những ngày lễ lớn; nên cây hoa chịu không nổi. Nếu ai đó có đem đến chùa để chưng cúng Phật, nhiều lắm cũng chỉ được một tuần là cùng. Ở Chánh điện đã có nhiều loài hoa khác, do Phật Tử mang đến dâng lên Phật và chư vị Bồ Tát, nên nơi đây lúc nào cũng được trang điểm bởi những đóa hoa tươi.

 Trên đây là những đúc kết đơn thuần có được khi chúng ta dạo quanh một lần từ trong Chánh điện chùa Viên Giác ra đến vườn chùa. Mong rằng cảnh quang nầy sẽ làm cho nhiều người mến mộ và mỗi lần khi đến chùa vào dịp xuân sang, hè đến khách thập phương có thì giờ để nhàn lãm, tạo cho mình có một cảm giác nhẹ nhàng khi rời khỏi chốn thiền môn nầy.

 Mỗi lần báo Viên Giác ra như thế tôi cố gắng sẽ viết một bài về mọi thể tài để gởi đến quý độc giả khắp nơi. Vì có nhiều người muốn biết cảnh trí của chùa cũng như sự sinh hoạt tại chùa ra sao. Và lần sau, tôi cũng sẽ cố gắng viết một đề tài khác; nhưng đố quý vị tôi sẽ viết về gì? Sau khi đã viết về cây trái và cây cảnh vườn chùa? hay quý vị nên cho tôi một chủ đề để tôi sẽ viết? điều ấy xin quý vị cứ việc tự ý biên thư về chùa Viên Giác.

 Xuân đã đến rồi, sẽ mang đến cho mọi người một sắc thái mới trong cuộc sống hằng ngày và mong rằng những loài hoa dại kia sẽ góp phần làm tươi thắm thêm cho cuộc đời nổi trôi của chúng ta như vận nước của mình. 

Viết xong tại thư phòng chùa Viên Giác vào một sáng lập xuân ngày 20.3.96 

( Số 92  (Tháng 4.1996)

 

 Xem tiếp phần 2

 

---o0o---

 

Cập nhật ngày: 01-07-2006


Webmaster:quangduc@quangduc.com

Trở về Thư Mục PG & Xã Hội

Đầu trang

 

Biên tập nội dung: Tỳ Kheo Thích Nguyên Tạng
Xin gởi bài mới và ý kiến đóng góp đến ban biên tập qua địa chỉ: quangduc@tpg.com.au

Ghi rõ nguồn "Trang nhà Quảng Đức" khi bạn phát hành lại thông tin từ website này.