Nhà Xuất Bản Văn Hóa - Thông Tin
Hà Nội - 1997
CHÙA HÀ NỘI
Nguyễn Thế Long
Phạm Mai Hùng
PHẦN II
^
Giới
thiệu các ngôi chùa ở Hà Nội đã được xếp hạng di tích lịch sử văn hóa từ
năm 1962 đến 1994
1. CHÙA AM CÂY ĐỀ (THANH
NINH TỰ)
Chùa Am
Cây Đề ở số nhà 2 phố Lê Trực, phường Điện Biên, quận Ba Đình, Hà Nội.
Thanh Ninh là tên làng được dùng để đọi tên chùa. Tên chùa Am Cây Đề xuất
hiện năm Cảnh Hưng 7 đời vua Lê Hiến Tông (1746) khi một viên quan họ
Trịnh cho xây một am nhỏ dưới gốc cây bồ đề trước cửa chùa.
Chùa thờ
Phật, ngoài ra còn có đền Ngọc Thanh là nơi thờ Đức thánh Trần Hưng Đạo
cùng các thân quyến. Tương truyền chùa được xây từ đời vua Lý Thái Tông
niên hiệu Thiên Thành (1031) và là một trong 95 ngôi chùa nổi tiếng ở nước
ta thời bấy giờ. Dấu tích khởi dựng không còn nữa, năm Cảnh Hưng nguyên
niên (1739), chùa được dựng lại đơn sơ nên có tên gọi là “Chùa Cỏ”. Từ
thời Lê về trước, khu vực quanh chùa là nghĩa trang của kinh thành vì thế
nên viên quan họ Trịnh mới xây am nhỏ để thờ các cô hồn. Theo dân gian,
vào đầu xuân Kỷ Dậu, một số thi hài của nghĩa quân Tây Sơn hi sinh khi
giải phóng thành Thăng Long đã được an táng quanh chùa.
Chùa
được xây trên một khu đất cao, trước đây là một khuôn viên rộng rãi, có
nhiều cây cổ thụ. Hiện nay, chùa gồm cổng, sân, đền Ngọc Thanh và tòa tam
bảo. Cổng chùa được xây kiểu tam quan có 3 cổng nhỏ, trên có 4 mái nhỏ.
Đền Ngọc Thanh nằm theo hướng bắc, trông thẳng ra cổng. Đền có kiến trúc
hình chuôi vồ gồm bái đường 5 gian, hậu cung 3 gian. Đền lợp ngói ta, hai
đầu xây kiểu bít đốc, các vì làm kiểu kèo cầu quá giang, tường gạch quây
quanh.
Tòa tam
bảo của chùa cũng hình chuôi vồ gồm tiền đường 5 gian, hậu cung 3 gian.
Chùa dựng trên nền cao, quay hướng đông - nam, xây kiểu tướng hồi bịt đốc.
Các vì làm nhiều dạng khác nhau (có thể do đã sửa chữa nhiều lần). Ở tiền
đường, vì kèo làm kiểu “thượng chồng giường giá chiêng, hạ kẻ”. Các vì kèo
có chạm hoa lá, vân mây xoắn, tứ linh, tứ quý.
Chùa
hiện còn giữ được 35 pho tượng tròn. 12 pho ở đền Ngọc Thanh, 3 đôi lọ lộc
bình sứ, 1 đôi chóe sứ men trắng vẽ lam, 4 long ngai, 2 cửa võng, 5 hoành
phi, 1 ống bút, 1 chuông đồng đúc niên hiệu Cảnh Thịnh 6 (1797) có tên là
“Thanh Ninh tự hồng chung”.
Năm Gia
Long 7 (1808) sư cụ Tịch Quang trụ trì tại chùa đã cho trùng tu, tô tượng
và đúc chuông. Tấm bia “Thanh Ninh thiền tự bi kí” do tiến sĩ Phạm Quý
Thích soạn năm 1779 có ghi: “Bên ngoài cửa tây thành Thăng Long nước ngọt
mà đất thì hoang vu, chùa Thanh Ninh ở đó”. Đến năm Khải Định 8 (1923)
chùa lại được trùng tu. Trong những ngày đầu kháng chiến chống Pháp, chùa
đã bị giặc đốt phá. Năm 1949 sư cụ Đàm Thìn đã cho xây lại chùa và đền
Ngọc Thanh vì vậy dấu tích cũ không còn nữa.
Chùa đã
được Bộ văn hóa và thông tin xếp hạng di tích kiến trúc nghệ thuật ngày
22.7.1981.
2. CHÙA ANH LINH
* (ANH
LINH TỰ)
Chùa Anh Linh thuộc xã Cổ Nhuế huyện Từ Liêm, ngoại thành
Hà Nội, cách trung tâm thành phố vào khoảng 7 km về phía bắc. Đi theo
đường Hoàng Hoa Thám đến chợ Bưởi, qua Nghĩa Đô, rẽ tay phải khoảng 3 km
là đến di tích.
Tương truyền chùa Anh Linh được lập từ thời Trần, do công
chúa Trần Khắc Hãn vâng lệnh vua cha là Trần Nhân Tông, chiêu mộ những
người bị phiêu tán đến phía bắc kinh thành Thăng Long để khai hoang và lập
ra xã Cổ Nhuế. Khi lập làng cũng đồng thời lập chùa để thờ Phật.
Chùa có mặt bằng hình chữ “đinh”, tiền đường gồm 3 gian
xây kiểu “tường hồi bít đốc”. Hai bộ vì gian giữa làm kiểu “giá chiêng,
con nhị”, phần cốn nách làm kiêu kể chuyền. Thượng điện gồm 5 gian. Một
bên là nhà tổ, một bên là nhà Mẫu. Chùa đã bị phá hủy trong kháng chiến
chống Pháp, đã qua nhiều lần sửa chữa. Tượng Phật trong chùa đầy đủ, có
phong cách nghệ thuật cuối thời Nguyễn. Chùa còn lưu trữ được tấm bia Cảnh
Trị đời Lê (1664) và bia năm Tự Đức 12 (1864).
Chùa Anh Linh (cùng với đền Bà Chúa) đã được Bộ Văn hóa và
thông tin xếp hạng di tích lịch sử nghệ thuật ngày 21.1.1993.
3. CHÙA BÀ ĐÁ
Chùa Bà Đá có tên chữ là Linh Quang tự (linh quang nghĩa
là ánh sáng thiêng liêng), ở số 3 phố Nhà Thờ, cạnh bờ Hồ Hoàn Kiếm.
Chùa được xây từ đời Lê Thánh Tông (1460 - 1497) ở làng
Báo Thiên.
Chuyện kể có một người dân làng Báo Thiên đã đào được một
pho tượng bằng đá hình dáng một phụ nữ. Người ta cho rằng đây là tượng của
Phật Đức Bà nên đã lập đền thờ bức tượng và gọi là đền Bà Đá. Sau đó dân
làng xây thành ngôi chùa, đón sư về thờ cúng đức Phật. Chùa hiện nay đã
được sửa chữa nhiều lần. Chùa không có tam quan như các chùa khác, lối vào
là một ngõ hẹp sâu khoảng 9 m. Tiền đường xây kiểu chữ nhất (-), Trung
đường xây kiểu chữ đinh (J), được nối liền với nhau, tạo nên một khối kiến
trúc vuông vắn. Các bộ vì kèo được kết cấu theo lối chồng giường. Mặt chùa
hướng về phía bắc. Pho tượng bằng đá đã bị mất trong một vụ chùa bị hỏa
hoạn thời Pháp thuộc. Trong chùa có nhiều tượng gỗ sơn son thếp vàng. Trên
cao có tượng Tam Thế, dưới là tượng Di Đà Tam Tôn. Sau đó là tượng Thích
Ca Liên Hoan, có tượng Văn Thù và Phổ Hiền ở hai bên. Hàng dưới là tượng
Thích Ca sơ sinh. Các tượng đều có kích thước lớn so với chùa. Nhà bái
đường không có tượng hộ pháp như thường thấy. Chùa có nhiều đồ thờ, cũng
không rõ năm chế tạo, chỉ có hai quả chuông được đúc vào năm 1823 và 1881,
cùng một cái khánh đúc năm 1842.
Chùa Bà Đá nguyên là “chốn tổ” của thiền phái Lâm Tế, một
trong hai phái lớn của Phật giáo ở miền bắc Việt Nam. Chùa Bà Đá hiện nay
là trụ sở của thành hội Phật giáo Hà Nội.
4. CHÙA BẢO
THÁP (THƯỢNG PHÚC TỰ)
Chùa Bảo Tháp còn được gọi là chùa Bồ Đề, hay chùa Bồ Tát,
hoặc gọi theo địa danh của làng là chùa Thượng Phúc. Chùa Bảo Tháp thuộc
địa phận thôn Thượng Phúc, xã Tả Thanh Oai, huyện Thanh Trì, Hà Nội.
Theo truyền thuyết, chùa Bảo Tháp được xây dựng từ thời
Trần bởi một vị cao tăng họ Hồ là dòng dõi hoàng thân đã tự bỏ quan tước
về dây tu luyện. Vào đời vua Trần Hiến Tông, do gặp cơn binh biến bất ngờ,
kinh đô rối loạn Minh Từ Hoàng thái hậu phải bỏ kinh thành về đây lánh nạn
sau đó quy y niệm Phật và trở thành người trụ trì ở nạn sau đó quy y niệm
Phật và trở thành người trụ trì ở đây. Dấu vết của giai đoạn này không còn
gì ngoài một tấm bia đá mang niên hiệu Quang Thái thứ 3 (1390).
Chùa Bảo Tháp hiện nay có quy mô khá lớn, được trải dài
trên khu đất thoáng mát bên sông Nhuệ. Chùa quay mặt nhìn ra sông, phía
ngoài cùng là tam quan, ba gian đơn giản. Qua tam quan là một lối đi lát
gạch dẫn thẳng vào sân rộng tới tiền đường. Tiền đường gồm 7 gian. Bộ vì
mái làm theo kiểu “chồng giường kẻ chuyền” với 4 hàng chân cột. Trên các
xà nách, kẻ nách chạm khắc hoa lá và hoa văn. Chỗ nối với thượng điện trên
hai lá gió chạm khắc một hoạt cảnh được phỏng đoán là Đường Tam Tạng cùng
3 đồ đệ đi thỉnh kinh ở Tây Trúc, mảng chạm này khá đẹp và lạ. Sau tiền
đường là thượng điện năm gian, bộ vì chủ yếu được bào trơn kẻ soi, không
có chạm khắc gì đặc biệt. Sau thượng điện là một khoảng sân rộng với hai
dãy hành lang. Giữa sân dựng phương đình làm kiểu nhà vuông. Bộ vì làm
kiểu chồng giường giá chiêng. Các kết cấu gỗ đều được chạm nổi hoa lá,
rồng lá, rồng mây, phượng khá tỉ mỉ và chau chuốt. Chùa còn có một số công
trình khác như hậu cung, trên bộ vi mái, chạm hổ phù; cốn nách chạm trùng
mai hóa long. Điện thờ Mẫu, nhà tổ, nhà trai, v.v… không có gì đặc biệt.
Chùa Bảo Tháp có nhiều di vật quí, ngoài tấm bia đã nói ở
trên chùa còn có 1 khánh đồng (1,1 m x 1,36 m) làm năm 1843, chuông đồng
(cao 1,15 m) làm năm 1813, bia gỗ (0,48 m x 1,63 m) khắc bài kí nói về
việc tu sửa chùa làm năm Bảo Thái 7 (1726). Hệ thống tượng pháp có 75 pho
gồm các bộ Tam Thế, Quan Âm Nam Hải, Di Đà Tam Tôn, Thập Điện Diêm Vương,
tượng Đức Thánh Tổ… Các pho tượng này đều có niên đại thế kỷ 19, là những
tác phẩm nghệ thuật đẹp.
Chùa Bảo Tháp là một công trình kiến trúc cổ nhưng đã bị
mai một khá nhiều. Tuy nhiên với những di vật và những mảng chạm khắc còn
lại, chùa Bảo Tháp vẫn là nơi ghi dấu nét nghệ thuật kiến trúc tài hoa của
nhân dân.
Chùa đã được Bộ Văn hóa thông tin xếp hạng di tích kiến
trúc nghệ thuật ngày 28.9.1990.
5. CHÙA BÁT
THÁP (BÁT THÁP TỰ)
^
Chùa Bát Tháp (Bát Tháp tự) còn gọi là chùa Vạn Bảo ở phố
Đội Cấn, phường Đội Cấn, quận Ba Đình, Hà Nội.
Chùa Bát Tháp xây dựng trên đoạn ngọn núi Vạn Bảo, một
ngọn núi thấp ở kinh thành Thăng Long vào thời Lý Trần. Sau chùa đã khai
quật được nhiều di vật thời Lý, Trần. Đến năm Gia Long thứ 2 (1803), dân
làng Vạn Phúc hợp cả chùa trên núi Voi và chùa Vạn Bảo thành chùa Bát
Tháp. Về tên gọi Bát Tháp, Biệt Lam Trân Huy Bá giải thích vì chùa có
“ngọn tháp đế hình bát”. Chùa quay về hướng nam, có tam quan, tòa tam bảo,
nhà tổ và khu vườn phía sau. Tòa tam bảo nằm trên vị trí cao nhất của ngọn
Vạn Bảo Sơn, có mặt bằng hình chuôi vồ, gồm tiền đường 7 gian, 2 dĩ và hậu
cung 3 gian.
Trong chùa còn giữ được nhiều pho tượng, di vật, chạm khắc
mang phong cách thế kỷ 19, trong đó có quả chuông đúc năm Gia Long 2
(1803).
Chùa đã được Bộ Văn hóa và thông tin xếp hạng di tích kiến
trúc, nghệ thuật ngày 5.9.1989.
6. Chùa Bắc Biên
(Phúc Xá tự)^
Chùa Bắc Biên còn gọi là chùa An Xá, tên chữ là: Phúc Xá
tự, thuộc xã Ngọc Thụy, huyện Gia Lâm, Hà Nội.
Chùa Bắc Biên có nguồn gốc từ chùa An Xá, một danh làm cổ
tích ở thành Đại La có từ trước triều Lý Thái Tổ. Năm 1010, dân làng
chuyển chùa ra bãi giữa sông để nhường đất cho triều Lý xây dựng cung
điện. Đến năm 1893, dân làng lại chuyển ngôi chùa từ hữu ngạn sang tả
ngạn, sau lại lùi về phía chân đê vì bờ sông lở dần. Năm 1920 dân làng lại
chuyển ngôi chùa đến vị trí hiện nay.
Chùa xây dựng trên một khu đất rộng 2880 m2,
trước chùa có ao thả sen. Chùa có tam bảo bố cục hình chuôi vồ, tiền đường
5 gian, hậu cung 3 gian.
Chùa thờ Phật, trong chùa còn giữ được quả chuông ghi về
Lý Thường Kiệt, một nhà quân sự, chính trị, ngoại giao tài giỏi trong lịch
sử dân tộc thời nhà Lý. Minh chuông ghi rõ Lý Thường Kiệt sinh ở làng An
Xá, ông có công đầu với dân làng nên được dân làng suy tôn là thổ địa (vị
tổ có công đem lại ruộng đất cho dân làng).
Chùa đã được Bộ Văn hóa và thông tin xếp hạng di tích kiến
trúc, nghệ thuật ngày 21.1.1989.
7. CHÙA BỒ ĐỀ
^
Chùa Bồ Đề thuộc xã Nhân Chính, huyện Từ Liêm, ngoại thành
Hà Nội, cách trung tâm thành phố vào khoảng 7 km về phía Tây.
Chùa Bồ Đề là một ngôi chùa có quy mô kiến trúc vừa phải,
đã qua nhiều lần sửa chữa. Chùa có tam quan đẹp, tòa tam bảo và nhà tiền
đường, thượng điện được xây theo kiểu bít đốc, Chùa có đầy đủ hệ thống
tượng Phật. Chùa có 1 quả chuông cũ và 1 chuông đúc năm 1814.
Tương truyền khi nghĩa quân Lam Sơn bao vây thành Đông
Quan (Hà Nội) có đóng bản doanh tại chùa và đình Cự Chính.
Chùa Bồ Đề (cùng đình Cự Chính và gò Đống Thây) đã được Bộ
Văn hóa và thông din xếp hạng di tích lịch sử kiến trúc nghệ thuật
28.9.1990.
8. CHÙA BỘC (SÙNG
PHÚC TỰ)^
Chùa Sùng Phúc nằm ven đường Chùa Bộc, thuộc quận Đống Đa,
Hà Nội. Theo tấm bia cổ nhất ở chùa có niên hiệu Vĩnh Thịnh năm Bính Thìn
(1676) thì chùa được xây dựng từ thời Hậu Lê. Chùa đã bị đốt cháy trong
cơn binh8 lửa của trận đại phá quân Thanh ở gò Đống Đa (1789). Ba năm sau,
sư trụ trì chùa là Lê Dình Lượng đã quyên cúng và trùng tu lại. Từ đó đến
nay, chùa đã qua nhiều lần tu sửa.
Kiến trúc chùa gồm cổng, tam bảo, nhà tổ, vường tháp, có
khuôn viên rộng. Xung quanh chùa có hồ tắm voi, gò kéo cờ, gò đánh cồng là
những dấu tích liên quan đến cuộc chiến đấu của vau Quang Trung ở vùng này
vào ngày mồn 5 tết âm lịch năm Kỷ Dậu (1789). Chùa còn bảo tồn được nhiều
di vật quý gồm các pho tượng Phật, 3 bia cổ (bia Vĩnh Trị nguyên niên thời
Lê Hy Tông (1676), bia Chính Hòa, Bính Dần (1686) và bia Nhâm Tí niên hiệu
Quang Trung (1792)), một quả chuông có niên hiệu Cảnh Thịnh. Đặc biệt
trong chùa có pho tượng Đức Ông mà nhiều nhà sử học cho rằng đó chính là
tượng vua Quang Trung. Ngày 22.4.1962 nhà sử học Trần Huy Bá khảo sát pho
tượng “Đức Ông” lạ và thấy phía sau bệ gỗ có dòng chữ khắc: “Bình Ngọ tạo
Quang Trung tượng” (1846). Phía trên tượng treo bức hoành phi khắc 4 chữ:
“Uy Phong Lẫm Liệt”. Đôi câu đối treo 3 bên tượng Đức Ông viết:
“Động lý vô trân, đại địa sơn hà đống vũ.
Quang Trung hóa Phật, tiểu thiên thế giới chuyển phong
vân.”
Có thể dịch nghĩa câu đối như sau:
“Trong động không bụi nhỏ, đất nước rộng lớn để lại một
tòa lâu đài rưởng cột làm dấu vết.
Giữa ánh sáng thành Phật, thế giới cõi tiểu thiên, gió mây
đều cảm động mà chuyển vần.”
Nghĩa ẩn ý:
Sau trận phá thánh, quét sạch quân xâm lược trên núi sông
rộng lớn còn lưu lại tòa nhà cao rộng.
Vua Quang Trung đã tung ra ức vạn tinh binh làm xoay
chuyển cả tình thế.
Cùng với 13 gò chôn xác quân Thanh xung quanh như gò Đống
Đa, gò Đống Thiêng, gò Trung Liệt, núi Cây Cờ, gò Đầu Lâu, nghĩa địa Khâm
Tử và chùa Đồng Quang và những dấu tích quanh hồ, chùa Bộc là một di tích
lịch sử của cuộc chiến đấu giải phóng đất nước cuối thế kỷ 18.
Chùa đã được Bộ Văn hóa xếp hạng di tích kiến trúc, nghệ
thuật ngày 13.1.1964.
9. CHÙA CẦU
ĐÔNG (ĐÔNG MÔN
TỰ)
^
Chùa ở số nhà 38B phố Hàng Đường, phường Hàng Đào, quận
Hoàn Kiếm, Hà Nội.
Chùa có tên chữ là Đông Môn tự, cũng gọi là Chùa Cửa Đông.
Theo bia “Đông Mon tự ki” dựng năm Vĩnh Tộ 6 (1024) thì chùa do một người
tên là Đạo Án và vợ, hiệu là Diệu Bi đem khu đất cúng và xây dựng chùa.
Khi mọi việc làm xong, vợ chồng Đạo Án được chúa Trịnh Tráng ban khen.
Chùa đã được tu sửa và mở rộng nhiều lần vào những năm
1624, 1639, 1712 và 1817, vì vậy kiến trúc của chùa mang phong cách đầu
thời Nguyễn, còn giữ vài dấu vết thời Lê. Các mảng chạm bong, kênh vênh,
chạm nổi được thể hiện tập trung trên vì kèo ván mê và hai cốn, cửa gian
tiếp giáp giữa tiền đường và hậu cung với những mặt hổ phù, rồng vờn mây,
hoa lá…
Trong
chùa có tới 60 pho tượng. Ba pho tượng Tam Thế có giá trị nghệ thuật cao,
có bộ mặt nữ, có vòng đeo cổ, được tạc vào thế kỷ 18. Tượng Tuyết Sơn có
áo buông trên vai, lộ tấm thân gầy, nét mặt thanh tao, thoát tục, có dáng
gần với tượng Tuyết Sơn ở chùa Nành (Gia Lâm) và chùa Tây Phương (Hà Tây).
Tượng Di Lặc to gần bằng người thực, bụng phệ, khuôn mặt có nụ cười rạng
rỡ, viên mãn. Các pho tượng khác như Quan Âm Thiên Thủ Thiên Nhãn, Thích
Ca Sơ Sinh… cũng có giá trị nghệ thuật. Đặc biệt ở chùa Cầu Đông còn có
một bàn thờ có tượng Trần Thủ Độ và vợ là Trần Thị Dung là những người có
công mở mang cơ nghiệp nhà Trần.
Chùa Cầu
Đông còn lưu giữ tấm bia cổ, dựng vào những năm Vĩnh Tộ 6 (1624), Dương
Hòa 5 (1699), Vĩnh Thĩnh 8 (1712). Chùa có quả chuông niên hiệu Cảnh Thịnh
(1800).
Hiện nay
do việc mở mang phố xá, chùa bị thu hẹp lại nhiều Trong việc giữ gìn khu
phố cổ, việc giữ gìn bảo vệ chùa chùa Cầu Đông cần được quan tâm đặc biệt,
chùa cần có “một không gian sinh tồn” và cảnh quan phù hợp.
Chùa đã
được Bộ Văn hóa và thông tin xếp hạng di tích kiến trúc, nghệ thuật ngày
5.9.1989.
10. CHÙA CHÂN TÊN (CHÂN TIÊN
TỰ) ^
Chùa
Chân Tiên (Chân Tiên tự) ở số nhà 151 phố Bà Triệu, phường Lê Đại Hành,
quận Hai Bà Trưng, Hà Nội.
Chùa thờ
Phật.
Theo
truyền thuyết, chùa Chân Tiên dựngv ào đời vua Lý Thánh Tông (thế kỷ 12),
hồi đó chùa có tên là chùa Báo Thiên ở thôn Tiên Thị (khu vực Nhà Thờ
Lớn). Đến thế kỷ 18, chúa Trịnh Sâm đi chùa Báo Thiên nhằm giữ lại địa
danh gốc của chùa ở thôn Tiên Thị, giáp thôn Chân Cầm. Khi thực dân Pháp
xây trại giam Hỏa Lò đã chuyển chùa Chân Tiên về chỗ hiện nay. Chùa đã sửa
chữa một số lần. Chùa quay hướng tây, cổng và tam quan sát phố Bà Triệu.
Bên trong có tam bảo, điện Mẫu, nhà tổ, trai phòng, vường tháp. Tòa tam
bảo hình chuông vồ, gồm tiền đường 5 gian, làm kiểu đầu hồi bít đốc,
thượng điện 4 gian. Trong chùa còn giữ được một số mảng chạm khắc trên
kiến trúc, tượng, di vật, đồ tự khí mang phong cách nghệ thuật thế kỷ 18,
19.
Chùa đã
được Bộ Văn hóa và thông tin xếp hạng di tích kiến trúc, nghệ thuật ngày
2.3.1990.
11. CHÙA CHÂU LONG
^
Chùa
hiện ở số 44 phố Châu Long, phương Trúc Bạch, quận Ba Đình, Hà Nội. Vào
thế kỷ 19 chùa thuộc thôn Châu Long, tổng An Thành, huyện Vĩnh Thuận, phủ
Hoài Đức.
Chùa thờ
Phật. Theo sử liệu thư tịch cổ, chùa có từ lâu. Thời Trần đã có một công
chúa đến tu là Khiết Cô. Chùa đã trừng tu nhiều lần, lớn nhất là các năm
Mậu Thìn (1808) đời vua Gia Long, năm Tần Sửu đời Thanh Thái (1901) và năm
Nhâm Thân (1932) đời Bảo Đại.
Chùa
hiện còn tiền đưuờng 5 gian, chuôi vồ 3 gian. Kiến trúc có 8 cửa võng chạm
trổ lộng lẫy, sơn son thép vàng, các hình chạm trổ rất tinh xảo. Bộ tượng
thờ, khám thờ, bia đá, hoành phi câu đối, chuông đồng đều là những hiện
vật Mỹ thuật có giá trị cao.
Chùa đã
được Bộ Văn hóa và thông tin xếp hạng di tích kiến trúc, nghệ thuật ngày
5.2.1994.
12. CHÙA CHÈM (HÀM
LONG TỰ)^
Chùa
thuộc xã Thụy Phương, Từ Liêm, Hà Nội.
Chùa
Chèm tên chữ là Hàm Long tự. Một tấm bia hưng công có niên đại Vĩnh Trị
thứ 12 (1688) ghi rằng: cụ sinh đồ Nguyễn Đinh Ban, tên chữ là Pháp Trung
cùng vợ là Nguyễn Thị Gái, hiệu là Từ Minh, người xã Thụy Phương đã hưng
công làm các công trình ở chùa Hàm Long là tiên đường, thượng điện, nhà
thiêu hương nội và ngoại, hậu phòng, gác chuông, hành lang bên tả, bên
hữu, hai tòa tam quan nội, ngoại, 13 pho tượng và một quả chuông đồng… Vì
thấy chùa chưa được đẹp, ông bà đã bỏ tiền nhà ra mua sắm gỗ lim, chọn tìm
thợ giỏi xây dựng các công trình… như vậy chùa Hàm Long được xây dựng từ
trước đó (trước năm 1688).
Chùa tọa
lạc trên một khu đất cao ráo thoáng mát. Tòa tiền đường được bố cục hơi
khác biệt so với các ngôi chùa trong vùng, gồm 2 dãy nhà song song. Nếp
ngoài 5 gian mặt bằng, 6 hàng chân cột, các cột đều tạo bằng cột vuông xây
bằng gạch, đỡ các vì kèo chồng giường, nếp nhà này làm kiểu chồng diêm hai
tầng 8 mái. Mái thượng lợp ngói mũi hài, các cốn nách đều được chạm khắc.
Hậu
cung, nhà giải vũ, tam quan (gác chuông) nhà Mẫu đều có kết cấu thanh
thoát hài hòa.
Tượng
Phật gồm 30 pho được làm bằng gỗ và đất sét, vào những thời kì khác nhau.
Tượng Di Đà Tam Tôn. Thế Tôn, Quan ÂM Chuẩn Đề, Ca Diếp được làm vào thời
Lê trung hưng. Một số pho tượng làm vào thế kỷ 18, 19 và 20.
Chùa
Chèm hiện nay là một ngôi chùa còn khá nguyên vẹn theo bố cục và cấu trúc
thời xưa. Các công trình kiến trúc của chùa được bố trí hài hòa trong một
khuôn viên khép kín, ấn hiện dưới những cây cổ thụ. Những pho tượng trong
chùa là một bộ sưu tập tượng tròn có giá trị cao. Nhiều pho tượng thực sự
là những tác phẩm Mỹ thuật hoàn hảo. Trong chùa còn lưu giữ nhiều đồ thờ
có giá trị.
Chùa đã
được Bộ Văn hóa và thông tin xếp hạng di tích kiến trúc, nghệ thuật ngày
29.1.1993.
13. CHÙA CỔ LINH (CỔ LINH TỰ)
^
Chùa Cổ
Linh thuộc xã Lĩnh Nam, huyện Thanh Trì, ngoại thành Hà Nội, cách trung
tâm Hà Nội vào khoảng 15km về phía Nam đi theo bờ sông Hồng. Chùa Cổ Linh
làm gần với đình Trung Lập tạo thành một cụm kiến trúc mang tính chất lịch
sử và tôn giáo.
Chùa có
quy mô kiến trúc lớn, nhiều tòa kế tiếp nhau gồm tiền đường, thượng điện,
nhà thờ tổ và nhà thờ Mẫu. Tiền đường bao gồm 5 gian xây bít đốc tay ngai,
trên bờ nóc có dắp mặt trời, phía trước 2 trụ xây vuông rên đỉnh trụ đắp
phượng chụm đuôi thành hình quả giành. Tiền đường có cửa trước kiểu bức
bàn bằng lim, vì kéo kiểu chồng giường giá chiêng, hạ kẻ chuyền với 6
đường cột. Trên kiến trúc chạm khắc đề tài tứ linh tứ quý với phong cách
nghệ thuật cận đại. Thượng điện chùa gồm 3 gian nối với tiền đường, vì kéo
theo kiểu chồng giường giá chiêng, xà nách. Trên thượng điện và tiền đường
gồm đủ các pho tượng thờ theo kiểu bài trí thường gặp là các pho Tam Thế,
Di Đà Tam Tôn v.v. Tượng của chùa đều được tạo tác công phu nghệ thuật,
tuy về cỡ không lớn lắm. Bên cạnh những tượng pháp trong chùa còn có hệ
thống cửa võng được chạm trổ sơn son thếp vàng tăng phần trang nghiêm lộng
lẫy.
Chùa đã
được Bộ Văn hóa và thông tin xếp hạng di tích kiến trúc, nghệ thuật ngày
13.3.1994.
14. CHÙA CỔ LOA (BẢO SƠN TỰ)
^
Chùa cổ
Loa thuộc xã Cổ Loa, huyện Đông Anh, Hà Nội.
Chùa Cổ
Loa có tên chữ là Bảo Sơn tự. Từ trung tâm Hà Nội đi qua cầu Chương Dương,
thị trấn Gia Lâm, qua cầu Đuống theo quốc lộ số 3 đến cây số 17 rẽ tay
phải 3 km đến chọ Sa, rẽ trái 300m đến ngã tư rẽ phải 100m là đến di tích.
Chùa thờ
Phật, kiến trúc theo kiểu “nội công ngoại quốc” ở giữa chữ công, trước là
nhà tiền tế, hai bên là hành lang. Chùa còn giữ được những bức cốn tứ linh
thế kỷ 19, và nhóm di vật có giá trị gồm 134 pho tượng xếp đặt ở hậu cung,
thiêu hương, tiền tế, hành lang và nhà Mẫu. Các pho Tam Thế, Di Đà, Quam
Âm Chuẩn Đề, Quan Âm Tống Tử, Quan Âm Nam Hải, Ngọc Hoàng, Nam Tào, Bắc
Đẩu, tòa Cửu Long, Hộ Pháp, Kim Cương, Thập bát La Hán, Liễu Hạnh, Trần
Hưng Đạo, Thái Thượng Lão Quân… Chùa có 5 bia từ thế kỷ 17 - 19, hai
chuông đồng Gia Long 2 (1803), một khánh đồng, bình hương đồng, đồ gốm sứ
và đồ thờ cúng khá đẹp.
Chùa đã
được Bộ Văn hóa và thông tin xếp hạng di tích kiến trúc, nghệ thuật ngày
21.6.1993.
15. CHÙA DIÊN PHÚC (DIÊN
PHÚC TỰ)^
Chùa
Diên Phúc thuộc thôn Mai Lâm, xã Mai Lâm, huyện Đông Anh, ngoại thành Hà
Nội, cách trung tâm thành phố khoảng 10 km về phía bắc, cạnh đường đi đến
thị trấn Đông Anh.
Tương
truyền chùa Diên Phúc được xây dựng từ lâu đời. Chùa nằm cạnh đình làng
Thái Bình, quay về hướng nam. Chùa gồm tiền đường, thượng điện, nhà Mẫu và
nhà tổ. Tiền đường gồm 3 gian, 2 chái. Thượng điện có 3 gian, nhà Mẫu có 3
gian: chái, nhà tổ có 3 gian. Chùa cồn giữ được nhiều mảng chạm gỗ và các
di vật mang phong cách thế kỷ 18 và 19. Hệ thống tượng Phật trong chùa đầy
đủ, cũng như các chùa khác, không có gì đặc sắc.
Chùa (và
đình) đã được Bộ Văn hóa và thông tin xếp hạng di tích lịch sử, kiến trúc,
nghệ thuật ngày 31.1.1992.
16. CHÙA DIÊN PHỨC (DIÊN
PHỨC TỰ)^
Chùa
Diên Phức ở thôn Gia Lâm, xã Lệ Chi, huyện Gia Lâm, ngoại thành Hà Nội. Di
tích cách trung tâm Hà Nội khoảng 15 km. Từ Hà Nội qua cầu Chương Dương
đến cầu Chui, rẽ theo đường 5, rẽ trái, đi khoảng 10km là đến di tích.
Chùa thờ
Phật, quay hương nam, mặt bằng hình chuôi vồ. Tiền đường 3 gian 2 dĩ, hậu
cung 2 gian, vì kiểu chống giường, trang trí văn hình học cách điệu.
Trong
chùa có nhiều hiện vật quý như: các pho tượng gỗ, nhang án, bia đá, chuông
đồng.
Các ngày
lễ hội:
10 tháng
1: Lễ khai tạ, mổ lợn tế.
11 tháng
2: Sinh nhật Đức Thánh, mở hội 3 ngày, rước kiệu.
10 tháng
3: Đại hội mừng công, mở hội 10 ngày, làm bánh dầy, mía. Ăn mặc theo lối
xưa, 22 người phù giá. 19 tháng 3: Rước lên chùa Xuân Quan (chợ Giàn - Hà
Bắc), lễ đại thỉnh pháp, thỉnh Phật, hát cửa đình.
10 tháng
8: Ngày hóa nhật, tế lễ, gói bánh chưng đường mật.
2 tháng
chạp: Tế lễ 3 ngày do 2 quan đám đảm nhiệm.
Chùa (và
đình) đã được Bộ Văn hóa và thông tin xếp hạng di tích kiến trúc, nghệ
thuật ngày 28.4.1994.
17. CHÙA DUỆ (QUẢNG KHAI TỰ)
^
Chùa Duệ
thuộc thôn Tiền, xã Dịch Vọng, huyện Từ Liêm, ngoại thành Hà Nội, cách
trung tâm thành phố vào khoảng 6km về phía tây - bắc. Chùa nguyên là của
giáp Khánh Duệ nên được gọi là chùa Duệ.
Tương
truyền chùa được xây từ đời Lý Nhân Tông (1172 - 1128) là nơi tu hành của
nhà sư Lê Đại Điện, tên là Lê Nghĩa. Theo bản ngọc phả ghi năm 1579 và bản
sao 1737 thì Lê Nghĩa, sau khi cha mẹ chết, liền biến nhà mình thành chùa
để thờ Phật và cha mẹ. Đại Điên cùng học kinh Phật và pháp thuật với Từ
Vinh người làng Yên Lãng. Từ Vinh dùng pháp thuật chống lại Diên Thành
Hầu nên đã bị Diên Thành Hầu nhờ Đại Điên giết chết, vứt xác xuống sông
Tô Lịch. Sau đó con Từ Vinh là Từ Lộ đã đi tu và học pháp thuật giết chết
Đại Điên để trả thù cho cha.
Chùa đã
được tu sửa nhiều lần, nguyên dạng còn lại là của lần tu sửa năm 1936,
1985 và 1994.
Kiến
trúc chùa gồm tam quan, tam bảo, điện Mẫu và nhà phụ. Tam quan chùa chia
làm 3 gian, bộ vì mái làm kiểu quá giang, gian giữa là nơi treo quả chuông
đúc năm Gia Long 14 (1815). Từ tam quan vào tòa tam bảo quan một sân gạch.
Tòa tam bảo hình chuôi vồ, tiền đường gồm 5 gian, hậu cung 1 gian xây kiểu
tường hồi bít đốc. Trên bờ nóc trang trí hình lưỡng long chầu nguyệt. Các
vì kèo làm kiểu kèo cầu quá giang, bốn bức cốn chạm hình long phượng, sơn
son thếp vàng.
Trong
chùa còn giữ được một số pho tượng Phật mang phong cách nghệ thuật thế kỷ
18 - 19. Bên cạnh các tượng Phật lại có tượng Đại Điên to bằng người thật,
ngồi trong khám. Bên cạnh có bia đá dựng năm Bảo Đại 16 (1941) chép 3 đạo
sắc phong cho Đại Điện vào năm Gia Long 9 (1810), Duy Tân 9 (1915) và của
Khải Định, nhân tứ tuần đại khánh.
Điện Mẫu
ở bên trái tòa tam bảo, gồm 3 gian, các vì kèo kiểu cầu, bào trơn đóng bén
đơn giản, ở đây có một quả chuông nhỏ đúc năm 1920.
Cùng với
các chùa xung quanh vùng, chùa có lễ hội hàng năm cùng với chùa Láng vào
mùa xuân.
Chùa đã
được Bộ Văn hóa và thông tin xếp hạng di tích kiến trúc, nghệ thuật ngày
5.9.1989.
18. CHÙA ĐẠI ÁNG (THIÊN PHÚC
TỰ) ^
Chùa Đại
Áng thuộc xã Đại Áng, huyện Thanh Trì, ngoại thành Hà Nội. Từ Hà Nội đi
theo đường số 1 đến thị trấn Văn Điển rẽ theo đường 70 rồi theo bờ sông,
khoảng 7km nữa là đến di tích.
Chùa Đại
Áng có 3 phần: Tiền đường, thiêu hương, thượng điện. Chùa còn giữ được hệ
thống tượng pháp tương đối phong phú: Tuyết Sơn, Di Lặc, Quan Âm Chuẩn Đề,
Cửu Lonh; tiêu biểu nhất là tượng Cửu Long và tượng Quan Âm Nghìn Mắt
Nghìn Tay. Ở tòa Cửu Long, ngoài 9 con rồng phun nước và tắm cho đức Phật
ta còn thấy cả một thế giới thần tiên: Ở chính giữa là hình đức Phật sơ
sinh, xung quanh là một lớp tượng to nhỏ khác nhau tìm đến với Phật với ý
nguyện từ bi hỉ xả cho mọi người được ấm no hạnh phúc. Tượng Quan Âm Nghìn
Mắt Nghìn Tay cao 4m, tuy sao chép lại mẫu tượng Quan Âm ở chùa Bút Tháp
vào cuối thế kỷ 19 nhưng khá đẹp và ít thấy ở Hà Nội. 60 pho tượng ở chùa
được tạo tác rất tỉ mỉ có giá trị thẩm Mỹ cao, có thể coi phật điện của
chùa như phòng trưng bày về nghệ thuật điêu khắc Phật giáo.
Chùa Đại
Áng là một công trình kiến trúc gắn với đời sống văn hóa và tinh thần của
cư dân nông nghiệp ngoại thành Hà Nội.
Chùa (và
đình) đã được Bộ Văn hóa và thông tin xếp hạng di tích kiến trúc, nghệ
thuật ngày 2.10.1991.
19. CHÙA ĐẠI CÁT (SÙNG KHANG
TỰ)^
Chùa Đại
Cát thuộc thôn Đại Cát, xã Liên Mạc huyện Từ Liêm, ngoại thành Hà Nội,
cách trung tâm thành phố vào khoảng 17 km về phía tây - bắc, có thể đi
theo bờ hữu ngạn đê sông Hồng.
Chùa
được dựng cạnh đình trên một khu đất cao rộng cạnh làng. Chùa gồm có tam
quan xây gạch, tòa tam bảo hình chuôi vồ. Tiền đường gồm một gian 2 chái,
hậu cung 1 gian. Chùa còn có gác chuông có quả chuông đồng đúc năm Mậu Ngọ
(?). Chùa cũng còn lưu giữ được nhiều di vật đồ gỗ chạm khắc có giá trị và
một bia đá dựng năm Ất Hợi niên hiệu Cảnh Hưng (1789). Hệ thống tượng Phật
của chùa khá đầy đủ.
Chùa (và
đình) đã được Bộ Văn hóa và thông tin xếp hạng di tích kiến trúc, nghệ
thuật ngày 31.1.1992.
20. CHÙA ĐẠI LAN (ĐẠI LAN TỰ)^
Chùa Đại
Lan thuộc thôn Đại Lan, xã Duyên Hà, huyện Thanh Trì, ngoại thành Hà Nội,
cách trung tâm thành phố vào khoảng 17 km về phía nam ven bờ sông Hồng.
Chùa Đại
Lan trước ở bờ sông nên đã bị lở, dân làng chuyển các đồ thờ cúng và tượng
Phật vào nghè vì vậy nghè của làng đã trở thành chùa. Chùa mới gồm 2 nếp
nhà, nếp trước là nhà tiền tế dùng làm nơi hội họp và tế lễ, nếp sau dùng
làm tam bảo. Tiền thế xây 5 gian xây kiểu “tường hồi bít đốc”. Tòa tam bảo
hình chuôi vồ, gồm tiền đường 3 gian và thượng điện có 2 gian. Chùa còn
đầy dủ hệ thống tượng Phật. Trong chùa có nhiều mảng chạm khăc trang trí,
di vật có niên đại thế kỷ 19 - 20. Tượng Phật cũng có niên đại tương tự.
Chùa (và
đình) đã được Bộ Văn hóa và thông tin xếp hạng di tích kiến trúc, nghệ
thuật ngày 21.1.1989.
21. CHÙA ĐÀO XUYÊN (THÁNH ÂN
TỰ)
Chùa Đào
Xuyên tên chữ là “Thánh Ân tự”, ở thôn Đào Xuyên, xã Đa Tốn, huyện Gia
Lâm, Hà Nội.
Chùa
được xây dựng từ khá lâu, theo bia ở chùa cho biết thì năm 1635 chùa đã
được tu tạo và được sửa chữa nhiều lần. Lần sau cùng vào năm Duy Tần 10
(1910) chùa đã được làm lại hoàn toàn.Chùa được kiến trúc theo kiểu “nội
công ngoại quốc”, có quy mô khá lớn. Chùa gồm nhà thiêu hương, thượng
điện, tòa tam bảo, nhà tổ và các công trình phụ. Tòa tam bảo quay hướng
đông nam, có kiến trúc kiểu chuôi vồ. Tiền đường có 7 gian 2 dĩ. Nhiều Bộ
phận được chạm khắc tinh tế.
Chùa còn
giữa được pho tượng Quan Âm Thiên Thủ Thiên Nhân có niên đại thế kỷ 16.
Tượng bằng gỗ mít, cao 1,35m (không kể bệ) ngồi trên bệ sen hình lục giác
(nếu kể cả bệ thì cao 2,31m). Tượng có 42 tay lớn và 610 tay nhỏ. 42 tay
lớn chìa ra phía trước và xung quanh với nhiều động tác, hình dáng khác
nhau, tay thì cầm vật báu, tay thì bắt quyết, không tay nào giống tay nào.
Còn 610 tay nhỏ thì xếp thành nhiều lớp hai bên sườn và phía sau, xếp vào
nhau như những nan quạt, tạo nên một quầng tròn phía sau tượng, như một
vòng hào quang tỏa sáng quanh người. Đầu tượng đội mũ pháp sư, được trang
trí những hạt tròn, sơn son thếp vàng óng ánh góp phần làm tăng thêm uy
linh và đức độ của Phật Bà Quan Âm. Mặt tượng đầy đặn, đôn hậu, mắt lim
dim nhìn xuống như đang tập trung tinh thần vào điều gì đó. Mũi tượng
thẳng, má bầu, miệng nhỏ, tai dài đeo hoa, tóc chảy dài ra phía sau. Dáng
mặt của tượng là một phụ nữ Việt Nam. Tấm áo cà sa khoác trên người chảy
dài xuống hai bên lẫn trong các nếp áo. Tượng trong tư thế ngồi yên tĩnh,
thế “tham thiền nhập định” nhưng vẫn toát lên vẻ động của một tâm hồn sôi
nổi. Những cánh tay sinh động với nhiều dáng, những nếp áo mềm mại chạy
dài, phủ trên một tấm thân cân xứng, nở nang… đã thể hiện sức sống của mỗi
con người, có những nét gần gũi với bóng dáng hiền dịu của các cô gái nông
thôn khỏe mạnh. Tượng được tạc ngồi trên một tòa sen do con rồng đội, nổi
lên trên mặt biển sóng nhấp nhô. Tòa sen cao 0,50m gồm 13 cánh sen chính,
13 cánh sen phụ và 20 cánh cách điệu, bố trí xen kẽ thành 2 lớp trên,
dưới. Rồng được thể hiện với bộ mặt dữ tợn, những cánh tay gân guốc với
những chiếc móng sắc nhọn, mắt lồi nhìn thao láo ra phía trước, mồm rộng,
mũi to căng phồng (Rồng ở dây tượng trưng cho loài ác quỷ ma vương, thế
lực đen tối). Việc đội tòa sen của rồng biểu hiện sự quy phục Phật pháp.
Về mặt thẩm mỹ, điều đó tạo nên sự tương phản giữa cái ác và cái thiện,
góp phần làm tăng thêm vẻ nhân hậu, dịu dàng, thiện tâm và sự huyền diệu
của Quan Âm. Bệ tượng cao 0,5m có mặt lục giác, được chia làm 3 phần, phần
giữa thu hẹp. Trang trí trên bệ tượng là các hình mây lửa, sóng nước,…
chính nhờ các trang trí này mà có thể đoán định tượng được tạo tác vào
cuối thế kỷ 16.
Chùa
cũng còn nhiều tượng tạo tác vào thế kỷ 18 - 19.
Chùa đã
được Bộ Văn hóa và thông tin xếp hạng di tích kiến trúc, nghệ thuật ngày
9.1.1990.
22. CHÙA ĐÔNG BA* (SÙNG ÂN TỰ)
^
Chùa
Đông Ba thuộc xã Thượng Cát, huyện Từ Liêm ngoại thành Hà Nội, cách trung
tâm Hà Nội vào khoảng 20km về phía tây bắc.
Chùa nằm
gần sát đê sông Hồng.
Chùa
Sùng Ân còn gọi là chùa Đông Ba. Ở đây còn sót lại một số viên gạch thế kỷ
16 cho phép khẳng định chùa đã có lịch sử lâu đời. Theo tấm bia “Hậu Phật
bi kí” ở chùa cho biết vào năm Bảo Thái 10 (1729), chùa Sùng Ân được mở
rộng tam bảo, năm sau sửa chữa thêm gác chuông, tô tượng cũ và làm thêm
tượng mới những dấu ấn của những lần trùng tu này không còn bao nhiêu.
Chùa Sùng Ân được xây dựng sát đình. Chùa có mặt bằng chữ công gồm tiền
đường, thiêu hương và thượng điện. Nhìn chung kiến trúc không có gì đặc
biệt ngoài những mảng chạm hỏ phù trên các cốn mê của nhà thiêu hương. Hệ
thống tượng pháp với bộ Tam thế, Di Đà Tam Tôn, Quan Âm Tống Tử, Thiện,
Ác, Thập Điện Diêm Vương, Đức Ông, Thánh Tăng, tượng Mẫu, gồm 33 pho và
một bức phù điêu đá tạc người có công đóng góp sửa chùa ở thế kỷ 17, là
những tác phẩm nghệ thuật đẹp. Chùa còn 2 quả chuông đồng thời Lê và 14
tấm bia đá, 2 tấm có niên hiệu Bảo Thái và Vĩnh Khánh (1729 và 1773).
Chùa
Đông Ba ngoài giá trị lịch sử còn có sưu tập nghệ thuật quý cần được bảo
vệ.
Chùa đã
được Bộ Văn hóa và thông tin xếp hạng di tích kiến trúc, nghệ thuật ngày
22.4.1992.
23. CHÙA ĐÔNG PHỦ (MINH LONG
TỰ) ^
Chùa
Đông Phủ ở xã Đông Mỹ, huyện Thanh Trì, Hà Nội. Chùa còn có tên là Hưng
Long tự, tục gọi là chùa Nhót, hoặc theo sự tích chùa gắn với nhị vị vương
bà nên còn gọi là chùa Đền.
Theo lời
kể của dân làng, chùa có từ đời nhà Lý. Hai con gái vua Lý là Từ Thục
(chị) và Từ Huy (em) đã rời bỏ kinh thành về tu ở chùa Đông Phù năm 1072.
Hai bà được vua cha ban cho 3000 mẫu ruộng. Toàn bộ số ruộng này hai bà
đem chia cho dân cả vùng gồm 9 làng thuộc tổng Nam Phù xưa và 10,5 mẫu cho
Ninh Xá. Hai bà đã cho dựng điền trang, dạy dân khai khẩn ruộng đồng, đem
giống mới về trồng cấy, dạy dân làm nghề thủ công.
Do công
lao của hai bà đối với nhân dân phía đông nam Thăng Long, nhà vua đã phong
sắc cho hai bà là “Đại Thánh bao phong đại bồ tát hồng liên toa hạ” và hai
nàng hầu là Quỳnh Hoa và Quế Hoa được phong “Địa tăng trang vị dực bảo
trung hưng thượng đẳng thần”.
Hiện nay
chùa còn giữ được 2 đạo sắc phong cho Lý Liễu đoan trang công chúa năm
Cảnh Hưng 44 (1785) và Chiêu Thống 1 (1787).
Chùa
hiện còn tam quan, tiền đường, hành lang, thiêu hương, điện Mẫu, nhà tổ.
Trong chùa có 42 pho tượng lớn nhỏ, tượng nhị vị vương bà và tượng nhị vị
tiên cô. Ngoài ra trong chùa còn có hoành phí, kiệu bát công, kiệu rước,
khám thờ và quả chuông Hưng Long thiên tự hồng chung bi kí, tấm bia đá
khắc năm thứ 2 niên hiệu Vĩnh Tộ (1620).
Chùa đã
được Bộ Văn hóa và thông tin xếp hạng di tích kiến trúc, nghệ thuật ngày
9.1.1990.
24. CHÙA ĐỒNG QUANG (ĐỒNG
QUANG TỰ)^
Chùa
Đồng Quang tên chữ Hán là “Đồng Quang tự” thuộc phường Quang Trung, quận
Đống Đa, Hà Nội.
Theo tấm
bia dựng năm thứ 8 niên hiệu Tự Đức (1856) khoảng niêm hiệu Thiệu Trị
(1840 - 1847) quan tổng đốc Hà Nội là Đặng Hầu (Đặng Văn Hòa) sai thu táng
những thi hài chết trong trận Đống Đa (1789) ở đầu đường, cuối ngòi thành
12 gò, lấy nhân công, tiền của 2 trại Thịnh Quang và Nam Đồng để làm mộ
điện. Đến năm Tự Đức 4 (1851) quan kinh lược Nguyễn Đăng Giai khi Mở
đường, mở chợ mới ở vùng này lại thấy nhiều xương khô nên sai đắp thêm một
gò mộ nữa. Nguyễn Đăng Giai kêu gọi các nhà hảo tâm dựng thêm ở tự đàn 4
gian nhà nữa tức là chùa Đồng Quang. Tháng 2 hưng công, tháng 6 xong. Năm
Bính Tuất niên hiệu Đồng Khánh. (1886) tri huyện Thọ Xương cải tạo lại
chùa Đồng Quang, làm hai tòa tả hữu. Tới năm 1915 nhà sư trụ trì đã sửa
chữa chùa, làm nhà hữu tu, xây cổng. Hiện nay kiến trúc của chùa chia làm
hai phần, chùa thờ Phật và tự đàn. Chùa quay về hướng nam, phía ngoài có
cổng, chùa hình chữ công (I) gồm tiền đường 5 gian, thượng điện 3 gian. Tự
đàn hình chữ nhị (=) thờ người chết trong trận Đống Đa. Trong khuôn viên
chùa còn có nhà tổ, tả vu, vườn tháp và các công trình phụ.
Chùa
chính có kiến trúc hình chữ đinh gồm tiền đường và thượng điện.
Tiền
đường có 5 gian, bờ nóc đắp hổ phù đội tòa sen, hai dầu hồi đắp rồng hướng
vào giữa. Kiến trúc chùa theo kiểu chồng giường giá chiêng, hạ kẻ, phần
trên của 2 vì hồi theo kiểu kẻ chuyền. Nền nhà lát gạch vuông.
Thượng
điện gồm 3 gian dọc, vì kèo làm theo kiểu “chồng giường giá chiêng”. Ở 2
vì ngoài 2 vì giữa” thượng chồng giường giá chiêng, hạ kẻ”. Giữa 2 hàng
cột của thượng điện xây bệ cao dần để đặt tượng.
Nghệ
thuật trang trí chùa Đồng Quang được tập trung ở bộ khung nhà và các đồ
gỗ, chủ yếu là ở mặt các cốn giường, kẻ và câu đầu. Đề tài trang trí là
các hình hổ phù, rồng lá, mây lá, vân mây, được chạm nổi bong kênh. Diềm
mái được chạm các hoa giấy, hổ phù. Các đầu kẻ, bẩy chạm hình rồng mai
lão, trúc lão. Cốn hiên chạm hoa cúc, tùng lộc. Hai cốn nách trên vì giữa
trang trí rồng mây chạm nổi, rồng có đầu nổi cao, thân ẩn hiện trong mây.
Đây là đặc điểm chạm trổ của khoảng đầu thế kỷ này. Trong chùa còn có các
cửa võng được chạm thủng với các hoa lá và xen kẽ những hình người đầu
rồng, và các loài thủy tộc cua cá…
Chùa
hiện có 37 pho tượng, trong đó có 19 pho trên tam bảo, 14 pho tượng Mẫu và
4 pho tượng ở đền thờ Quang Trung, ngoài ra còn 7 cửa võng sơn son thếp
vàng, 5 khám thờ v.v…, 14 bia đá và 2 quả chuông.
Nhìn
chung, chùa Đồng Quang được xây có niên đại muộn song nó găn với lịch sử
trận chiến thắng Đống Đa nên được coi như là một chứng tích - đánh dấu một
vùng đất mà xưa kia đã làm trường thi, chọn những người có sức khỏe và sau
là chiến trường năm 1789.
Chùa đã
được Bộ Văn hóa và thông tin xếp hạng di tích kiến trúc, nghệ thuật ngày
27.12.1990.
25. CHÙA ĐỨC HẬU* (LINH SƠN
TỰ) ^
Chùa Đức
Hậu thuộc thôn Đức Hậu, xã Đức Hòa, huyện Sóc Sơn, ngoại thành Hà Nội. Di
tích cách trung tâm Hà Nội khoảng 40km. Đường đi đến thị xã Sóc Sơn, rẽ
tay phải qua núi đôi đến ngã tư Thó đi tiếp 1km nữa là đến di tích.
Chùa Đức
Hậu cũng không ghi dựng năm nào. Mặt bằng chùa dựng hình chữ đinh, gồm
tiền đường xây bít đốc tay ngai trụ trước và phần thượng điện; phía trước
sân gạch và xây cổng một cửa.
Tiền
đường gồm 7 gian 2 dĩ, gồm 16 cột gỗ - các cột ở gian giữa vuông, còn 4
cột sát tường tròn. Các cột hiên xây gạch. Phía trước 5 gian làm cửa bức
bàn, gian đầu hổi có cửa sổ chữ nhật trổ hình chữ. Các vì kèo theo kiểu
thượng chồng giường ở trên, chồng xà ở dưới ở hai vì đốc. Các vì giữa kiểu
thượng giá chiêng, trụ kẻ đầu, xà con nhị đè quá giang gối cột, trung cốn
ván đè xà nách gối tường cả trước sau.
Thượng
điện nối liền tiền đường, bằng nóc với tiền đường, gồm 5 gian 4 vì kèo 8
cột gỗ vuông, đốc không có vì kèo mà gối tường. Các vì là kiểu quá giang,
một trụ đỡ kèo suốt. Chỉ có vì giáp tiền đường làm kiểu gái chiêng gánh
thượng lương, dưới là cốn ván trên xà gối tường. Hai bên thượng điện có
hành lang rộng, dọc hành lang có trụ đỡ mãi.
Phần
trang trí nghệ thuật của chùa Đức Hậu chủ yếu ở tiền đường vào 2 vì giữa.
Ở phần chính giữa nối với thượng điện có bức cửa võng được chạm trổ cầu
kì, phía trên cửa võng có trạm hổ phù và triện cúc dây, hai cốn nách trạm
hình tam li hóa hí cầu rất sinh động. Các vì khác có các họa tiết chạm nổi
các đề tài hóa long v.v…
Chùa còn
có nhà tổ, điện mẫu gồm 5 gian, xây bít đốc tay ngai trụ biểu nhỏ, kiến
trúc đơn giản kiểu truyền thống chống cốn kẻ chuyền, tiện kẻ, hậu bẩy.
Chùa đã
được Bộ Văn hóa và thông tin xếp hạng di tích kiến trúc, nghệ thuật ngày
10.3.1994.
26. CHÙA GIÁP NHẤT (PHÚC LÂM
TỰ) ^
Chùa
giáp Nhất ở thôn Giáp Nhất, xã Nhân Chính, huyện Từ Liêm, ngoại thành Hà
Nội, cách trung tâm thành phố vào khoảng 7km về phía Tây.
Chùa gồm
nhà tiền đường và thượng điện, nhà tổ, khuôn viên rộng rãi, có cây xanh.
Tương truyền chùa được xây dựng từ khá sớm, đã bị hủy hoại bởi nhiều cuộc
binh lửa. Hiện nay chùa còn hệ thống tượng Phật mới được tạo lại vào năm
1941. Chùa còn giữ tấm bia khắc năm 1892 ghi việc trùng tu chùa. Năm 1973
chùa đã sửa lại tòa tam bảo và dựng nhà tổ.
Chùa đã
được Bộ Văn hóa và thông tin xếp hạng di tích kiến trúc, nghệ thuật ngày
31.1.1992.
27. CHÙA HÀ (THÁNH ĐỨC TỰ)
^
Chùa Hà
trước đây thuộc xã Dịch Vọng huyện Từ Liêm, nay thuộc thị trấn Nghĩa Tân,
huyện Từ Liêm Hà Nội; nằm cạnh đường 32 đi Sơn Tây.
Tương
truyền chùa được làm từ lâu, đến đời vua Lê Hy Tông có 2 người làng Thổ
Hà sang ngụ để bán các hàng gốm. Hai người này làm ăn phát đạt đã cúng
tiền để xây dựng chùa bằng gạch ngói vào năm Chính Hòa nguyên niên (1680).
Từ đó 2 làng Thổ Hà và Dịch Vọng Trung kết nghĩa, đặt tên xóm và chùa là
Bối Hà nên cũng từ đó có tên là chùa Hà.
Chùa
quay hướng tây, có kiến trúc chữ Đinh, tòa tam bảo có 5 gian, hậu cung có
3 gian. Phía sau là nhà tổ, hai bên là nhà hậu, mỗi nhà 3 gian. Bên cạnh
là điện Mẫu, bên phải là đình Hà. Phía sau nhà tổ có một tháp thờ sư tổ.
Chùa đã
bị giặc Pháp đốt phá vào năm 1947 nên các tượng Phật bị thiêu hủy không
còn, phần lớn là mới được tạo tạc từ sau năm 1950, có thể chỉ có tượng Đức
Ông và Phật Bà Quan Âm là cũ xưa. Chùa có một quả chuông đúc năm Cảnh
Thịnh thứ 7 đời Tây Sơn, chuông cao 1,30m có khắc chữ Thánh Đức tự chung”.
Chuông có bài văn chuông do Nguyễn Khuê viết nói về những người cúng tiền
đúc chuông. Đến thời Nguyễn Gia Long có lệnh xóa các dấu vết thời Tây Sơn,
dân Bối Hà đem chuông giấu xuống ao làng, sau đó khi xây lại tam quan mới
vớt lên nên niên hiệu chuông không bị đục như nhiều chuông khác.
Chùa Hà
còn là di tích cách mạng, từ năm 1944 đây là nơi gặp gỡ liên hệ công tác
của thành ủy Hà Nội. Ngày 15.8.1945 đồng chí Nguyễn Quyết, bí thư thành ủy
Hà Nội đã triệu tập cán bộ và đội viên tự vệ và thanh niên tuyên truyền
xung phong để chuẩn bị tổng khởi nghĩa cướp chính quyền. Năm 1982 Sở Văn
hóa và thông tin Hà Nội đã gắn biển di tích cách mạng.
Trong
những năm gần đây chùa đã được xây dựng lại tam bảo, điện mẫu, tạc thêm
tượng Phật, tu sửa xung quanh làm cho khuôn cảnh trí thêm đẹp đón tiếp
nhiều người đến lễ bái.
28. CHÙA HIỂN QUANG*
(HIỂN QUANG TỰ)
^
Chùa
Hiển Quang thuộc xã Dương Hà huyện Gia Lâm ngoại thành Hà Nội cách trung
tâm thành phố vào khoảng 15km về phía đông bắc. Đi qua cầu Chương Dương,
cầu Chui cầu Đuống đến thị trấn Yên Viên rẽ tay phải độ 1 km là đến di
tích.
Theo văn
bia còn lưu giữ chùa Hiển Quang xưa kia có quy mô lớn trong thời kì kháng
chiến chống Pháp đã bị bom đạn phá hủy, chùa mới được làm lại. Chùa có
kiến trúc mặt bằng hình chữ “đinh”. Tiền đường gồm 3 gian xây kiểu “tường
hồi bít đốc” các vì kèo đơn giản bao trơn đóng bén. Các mảng chạm được thể
hiện ở phần kẻ, bẩy hiên với đề tài tùng cúc. Thượng điện là 2 gian đọc,
có vì kèo gióng lên tiền đường. Bên trong thượng điện xây bệ theo cấp cao
dần từ ngoài vào trong để đặt tượng.
Hệ thống
tượng của chùa còn lưu giữ được những pho có phong cách điêu khắc thế kỷ
19. Các đồ tế khí cũng có niên đại như vậy. Chùa còn giữ được một bia đá
niên hiệu Chính Hòa đời Lê Hi Tông (1671 - 1675)
Chùa (và
đình) đã được Bộ Văn hóa và thông tin xếp hạng di tích kiến trúc, nghệ
thuật ngày 11.5.1993.
29. CHÙA HÒA MÃ (THIÊN QUANG TỰ)
^
Chùa Hòa
Mã ở số 3 phố Phùng Khắc Khoăn, phương Ngô Thì Nhậm quận Hai Bà Trưng, Hà
Nội.
Tương
truyền chùa được xây dựng từ khi thành lập làng, chùa được xây cạnh đền,
quay về hướng đông. Chùa gồm có tiền đường và tòa tam bảo, kiến trúc thành
hình chuôi vồ. Tiền đường có 5 gian, hậu cung có 4 gian. Quy mô kiến trúc
vừa phải. Chùa đã được sửa chữa nhiều lần. Hệ thống tượng Phật trong chùa
đầy đủ, không có gì đặc biệt. Hiện nay chùa bị lấn chiếm nghiêm trọng, xâm
phạm đến kiến trúc và cảnh quan của chùa ở tất cả các mặt.
Chùa mở
hội hằng năm vào ngày mồng 8 tháng 4 âm lịch (ngày Phật đản), mang sắc
thái của một làng quê nông nghiệp.
Chùa (và
đền) đã được Bộ Văn hóa và thông tin xếp hạng di tích kiến trúc, nghệ
thuật ngày 17.12.1986.
30. CHÙA HÒE NHAI (HỒNG PHÚC TỰ)
^
Chùa Hòe
Nhai có tên chữ là Hồng Phúc tự, vì vậy cũng được gọi là chùa Hồng Phúc.
Chùa thuộc địa phận phường Hòe Nhai, tổng Thượng, huyện Vĩnh thuận, kinh
thành Thăng Long; này ở số 19 phố Hàng Than, phường Nguyễn Trung Trực,
quận Ba Đình, Hà Nội.
Tương
truyền chùa được xây dựng từ đời nhà Lý. Chùa đã sửa chữa và xây lại nhiều
lần vào các năm 1699, 1703, 1812, 1894, 1920, 1946. Căn cứ vào tấm bia
dựng năm Chính Hòa 24 (1703) do tiến sĩ Hà Tông Mục soạn có ghi rõ, chùa
được dựng lại bến Đông Bộ Đầu, nên giới sử học nhờ đó xác định được trận
đánh quân Nguyên ngày 29.1.1258 là ở gần chùa Hòe Nhai hiện nay.
Chùa gồm
2 bái đường trong và ngoài, chạy song song, mỗi tòa 5 gian; chính điện gồm
3 gian; nhà tổ gồm 7 gian ở phía sau, nằm song song với tiền đường, tạo
nên bố cục kiểu chữ công (I). Bên phải nhà tổ là kinh viện (nhà để kinh),
bên trái là nhà kho và nhà bếp. Tiền đường trong được làm thêm vào năm
Thành Thái 11 (1899), được sửa chữa vào năm 1920. Tiền đường ngoài được
làm thêm vào năm 1946. Trong thượng điện còn giữ được nhiều bức cốn chạn
hình tứ linh và các cửa võng sơn son thếp vàng. Nhìn chung kiến trúc nhà
chùa mang phong cách kiến trúc thế kỷ 19.
Chùa có
nhiều tượng Phật, được bầy thành 6 lớp:
- Lớp 1:
Bên phải tiền đường là nhóm tượng Đức Ông và 2 Hộ Pháp. Bên trái là tượng
Thánh Hiền, hai bên là 2 vị Đại Si và Diệu Nhiên.
- Lớp 2:
Tượng Cửu Long đứng trên tòa sen, hai bên là Đế Thiên, Đế Thích. Phía
ngoài là Bồ Tát Phổ Hiền cưỡi voi 9 ngà và Văn Thù cưỡi thanh sư.
- Lớp 3:
Giữa là tượng Phật “Dược Sư”, hai bên là Nhật Quang và Nguyệt Quang.
- Lớp 4:
Giữa là tượng Thích Ca, tóc trên đầu xoắn hình ốc, tay bắt quyết. Hai bên
là Bồ Tát Đại Ca Diếp và Át Nan Tôn Giả.
- Lớp 5:
Giữa là tượng Phật A Di Đà ngồi trên tòa sen, chân xếp vòng tròn, hai tay
để trước lòng bàn chân. Ngực khắc hình chữ Vạn. Hai bên là tượng Quan Thế
Âm và Bồ Tát Đại Thế Chí.
- Lớp 6:
Chính giữa thượng điện là 3 pho tượng Tam Thế: Vị Lai, Hiện Tại và Quá
Khứ.
Ở hai
bên tả, hữu thượng điện có pho tượng đặc biệt không chùa nào có là tượng
Phật ngồi trên một ông vùa đang phủ phục, tượng Quan Âm Thị Kính, Hộ Pháp
và 2 hàng Thập Điện Diêm Vương, mỗi bên 5 vị.
Ở nhà tổ
và nhà Mẫu còn có tượng Mẫu trong khám thờ và tượng các sư tổ. Tổng số
tượng ở chùa là 68 pho, được làm bằng nhiều chất liệu khác nhau như đồng
hun, gỗ quý, đất nện. Hầu hết được sơn son thếp vàng, mang phong cách nghệ
thuật thế kỷ 18.
Chùa có
một quả chuông mang niên hiệu Tự Đức 17 (1864), một khánh đồng cao 1m,
rộng 1,5m, đúc năm Giáp Dần niên hiệu Long Đức 3 (1734) đời Lề Thần Tông.
Sân chùa
có 2 ngọn tháp cao 3 tầng. Chùa mới dựng một tháp vào năm 1963 tên là Ấn
Quang để kỷ niệm hòa thượng Thích Quảng Đức đã tự thiêu để phản đối Ngô
Đình Diệm đàn áp Phật giáo. Trong chùa có 28 chiếc bia. Qua những tấm bia
này, chúng ta biết được chùa là trụ sở của một phái Phật giáo lớn ở miền
Bắc là phái Tào Động. Phái Tào Động có sư tổ thứ nhất là hòa thượng Thủy
Nguyệt, tổ thứ hai là thiền sư Chân Dung; tính đến năm Nhâm Thân (1932)
thiền sư Tam Nghĩa Thích Nhân Từ, phái Tào Động đã trụ trì ở đây được 47
đời. Nhiều thiền sư đã được các vua phong sắc. Hiện nay chùa còn giữ một
đạo sắc phong do vua Lê Hiển Tông phong cho thiền sư Trần Văn Chức năm
Cảnh Hưng 11 (1750).
Trước
đây chùa nằm trên một diện tích rộng, đến thời Pháp thuộc đã bị thu hẹp
một phần để làm đường. Ngày nay khuôn viên của chùa vẫn còn bảo tồn được
dáng dấp cổ kính. Tuy nhỏ nhưng “chùa Hồng Phúc ở Hà Thành, núi Nùng như
vạt áo, sông nhị như giải lưng, Hồ Trúc Bạch chắn ngang, dòng Tô Lịch vòng
lại, đây thật là chốn tùng lâm lâu đời của đất Thăng Long” (Văn bia 1703).
Chùa đã
được Bộ Văn hóa và thông tin xếp hạng di tích kiến trúc, nghệ thuật ngày
21.1.1989.
31. CHÙA HÒE THỊ* (HƯƠNG ĐỖ TỰ)
^
Chùa Hòe
Thị thuộc thôn Hòe Thị (tên nôm là Canh Chợ) xã Xuân Phương, huyện Từ
Liêm, ngoại thành Hà Nội. Từ trung tâm thành phố đi qua Cầu Giấy, Cầu
Diễn, qua làng Thị Cấm, gần tới Ngã tư Canh sẽ nhìn thấy đình và chùa làng
Hòe Thị, tọa lạc trên một khu đất rộng có nhiều cây cổ thụ.
Tương
truyền chùa Hòe Thị được xây dựng vào khoảng thế kỷ 17. Chùa đổ nát và đến
năm 1928 đã được xây dựng lại. Chùa quay hướng tây nam. Chùa có tam quan
ngoại bên lề đường 70. Tam quan nội được xây 2 tầng, có một quả chuông đúc
năm 1932. Chùa xây trên một khu đất cao, tiền đường gồm 5 gian rộng, nhà
hậu cung 3 gian. Chùa có đầy đủ các tượng Phật, có pho tượng Quan Âm Chuẩn
Để có 24 tay. Phía trái chàu là nhà Tổ, điện Mẫu và nhà Tổ xây theo hình
chữ môn. Ở đây có một quả chuông nhỏ đúc năm Thành Thái thứ 8 (1896).
Chùa (đã
đình) đã được Bộ Văn hóa và thông tin xếp hạng di tích kiến trúc, nghệ
thuật ngày 9.1.1990.
32. CHÙA HỘ
QUỐC (AN KHÁNH TỰ)
Chùa Hộ
Quốc còn có tên An Khánh
tự và chùa Thành Lương,
ở phường
Thanh Lương, quận
Hai Bà Trưng, Hà Nội.
Nguyên ban đầu gọi
là chùa An Khánh. Đến
đời Lê do chùa
đã có công lớn
trong việc giúp vua trị
vì đất nước,
vì vậy
để nhớ
ơn sâu,
đời Lê Trung hưng
đổi ra thành “Hộ
Quốc tự”
còn Thanh Lương là gọi
theo địa danh phường
hiện nay.
Chùa tọa
lạc trên một
khu đất khá cao so với
xung quanh, diện tích
khoảng 3 sào Bắc
Bộ.
Theo bài minh
trên chuông chùa Hộ Quốc
thì chùa này do đức Linh
Lang đại vương
đời Lý Thánh Tông (1054
- 1058) xây nên cho dân có nơi
thờ cúng, tụng
niệm, diệt
trừ thói xấu,
gây dựng cái thiện
cho đời.
Đến thế
kỷ 16, nhà Mạc
cướp ngôi nhà Lê, vua Lê
phải lánh ra
ở chùa, vua Lê
đi rồi,
quân Mạc
đến
đốt phá cả
chùa. Sau khi nhà Lê Trung hưng,
nghĩ
đến
ơn trước,
cho lập lại
chùa tráng lệ hơn,
ban tên là Hộ Quốc,
cấp cho nhiều
ruộng ngoài bãi sông làm
ruộng hương
đăng cúng Phật.
Sau này chùa được trùng
tu sửa chữa
nhiều lần,
đáng kể
vào năm thứ
4 niên hiệu Khải
Định (1919) tu tạo
lại toàn bộ
khu chùa. Mặt bằng
chùa hình chuôi vồ gồm
tiền
đường 5 gian, thiên hương
và chuôi vồ 3 gian.
Trong chùa còn nhiều hiện
vật, tượng
Phật có giá trị
mang phong cách nghệ thuật
Hậu Lê.
Chùa
đã
được Bộ
Văn hóa và thông tin xếp
hạng di tích kiến
trúc, nghệ thuật
ngày 9.1.1990,
33. CHÙA HUY VĂN
ĐIỆN
DỤC KHÁNH
^
Chùa Huy Văn
còn gọi là chùa Dục
Khánh được xây dựng
trên đất thôn Huy Văn,
huyện Thọ
Xương, Thăng
Long (này là ngõ Huy Văn,
quận
Đống
Đa, Hà Nội).
Tương truyền
xưa
đây là một
gò đất,
đêm thường
phát ra ánh sáng lạ, có
người Bắc
quốc tên là Hoa Văn
Cao tới ngụ
cư, thấy
vậy bèn
đào lên và
được một
khối vàng. Người
này đem bán
đi lấy
tiền xây một
ngôi chùa và đặt tên là
chùa Hoa Văn (đọc
chệch là Huy Văn).
Theo các văn bia còn
trong chùa, thì chùa được
lập từ
đời vua Lê Thái Tông
(1434 - 1442). Hồi
ấy một
phi tần của
Thái Tông là Ngô Thị Ngọc
Giao bị hoàng hậu
ghen ghét nên phải lánh
ra ở chùa này. Ngọc
Dao nằm mộng
thấy thượng
đế cho tiên
đồng xuống
đầu thai, rồi
sinh được một
con trai đặt tên là Tư
Thành. Tư Thành
ở ngoài cung cấm,
là một cậu
bé thông minh, đi học
từ nhỏ,
lên sáu, bẩy tuổi
đã làm
được thơ
văn. Tới
khi Lê Thái Tông mất,
con cả Nhân Tông lên
ngôi, sau đó lại
bị Nghi Dân giết
chết và cướp
ngôi. Các quan đại thần
là Lê Xí và Lê Niệm
đem quân vào thành bắt
giết Nghi Dân và
đón Lê Tư
Thành vào triều lập
lên làm vua, tức là vua
Lê Thánh Tông. Sau khi lên làm vua, Lê Thánh Tông tôn mẹ
làm Quang Phục Hoàng
thái hậu và cho sửa
lại chùa Huy Văn
để kỷ
niệm nơi
sinh của mình và dựng
ngay trước chùa một
ngôi điện
để Hoàng thái hậu
ở, gọi
là điện
Dục Khánh (ngụ
ý trong đó chung
đúc nhiều
sự tốt
lành). Thái hậu
ở
được 30 năm
thì mất. Lê Thánh Tông
đúc tượng
và chuông để thờ
ngay tại
điện.
Tượng và chuông
đã bị
kẻ trộm
lấy mất.
Đến năm
Vĩnh Trị
3 và 4 (1678 - 1679), sư
chùa Huy Văn
đã
đứng lên khuyến
hóa các nơi,
đúc lại
tượng và chuông khác.
Trong chùa ngoài tượng
Phật, tượng
thái hậu còn có tượng
Lê Thánh Tông. Tượng này
nguyên trước
đặt trên chùa Khán Sơn
(trong vườn Bách Thảo
ngày nay) đến hồi
cuối Lê, khi quân Tây Sơn
kéo ra Bắc, một
toán quân thừa cơ
phá chùa đó, dân chúng
kinh thành bèn rước tượng
Thánh Tông về thờ
ở chùa Huy Văn.
Chúa bị
đổ nát nhiều,
đã có những
sửa chữa
lớn vào các năm
1822, 1823 và 1861, 1864. Bên ngoài
điện
thờ thánh, kiểu
nhà kép mái chống,
đều 3 gian, bên trong thờ
Phật, có dãy hành lang
theo kiểu chữ
công, đều 5 gian. Chùa
còn lưu giữ
được 9 bia
đá.
Chùa và
điện
hiện nay có hình dáng kiến
trúc giống với
lần sửa
chữa thế
kỷ XIX. Khuôn viên của
chùa đã bị
thu hẹp rất
nhiều do bị
xung quanh lấn chiếm.
Chùa,
điện
và đền Huy Văn
đã
được Bộ
Văn hóa và thông tin xếp
hạng di tích lịch
sử ngày 28.6.1996.
34. CHÙA HUỲNH
CUNG (SÙNG PHÚC TỰ)^
Chùa Huỳnh
Cung thuộc làng Huỳnh
Cung, xã Tam Hiệp, huyện
Thanh Trì, Hà Nội. Từ
trung tâm thành phố
đi theo quốc
lộ sô I về
phía Nam, khoảng 10 km
là đến làng và chùa.
Tương
truyền chùa dựng
từ lâu
đời, trải
qua nhiều lần
trùng tu. Trong chùa còn ghi dấu
vết kiến
trúc đời Nguyễn.
Một số
pho tượng có phong cách
nghệ thuật
thế kỷ
18. Hệ thống
tượng Phật
có tòa Tam Thế, Di
Đà Tam Tôn, Thích Ca…
Trong chiến tranh chống
pháp, tượng Phật
bị phá hủy
nhiều.
Chùa quay hướng
đông nam, có kiến
trúc kiểu “nội
công, ngoại quốc”.
Tiền
đường có 5 gian, nhà cầu
3 gian, thượng
điện
5 gian và hai bên hành lang. Ở
tiền
đường có một
số chân tảng
đá xanh kích thước
lớn 57 cm x 57 cm, viền
xung quanh 15 cánh sen mập
tròn có thể là mang
phong cách nghệ thuật
Lê (thế kỷ
15).
Chùa
đã
được Bộ
Văn hóa và thông tin xếp
hạng di tích kiến
trúc, nghệ thuật
ngày 5.9.1989.
35. CHÙA HƯNG
KÝ (HƯNG VÕ THIỀN
AM)^
Chùa Hưng
Ký ở số
nhà 38 B phố Minh Khai,
phường Minh Khai quận
Hai Bà Trưng, Hà Nội.
Tên Hưng Ký là do nhân
dân quen gọi
để chỉ
ngôi chùa do ông Hưng Ký
người Sài Gòn, lấy
vợ người
làng Hoàng Mai, đứng ra
xây dựng.
Chùa
được xây vào năm
1931, tam quan xây năm
1932. Phía sau chùa có đền
Mai, khi chùa xây xong đền
cũng
được mở
mang to hơn. Chùa
đã
được tu sửa
nhỏ vào những
năm 1974, 1990.
Chùa
được xây trên một
khu đất rộng
khoảng 300m2 gồm
tam quan, tòa tam bảo,
nhà bia, nhà tổ, nhà
trai giới. Tòa tam bảo
hình chuôi vồ. Tiền
đường 7 gian, dài 12, 5
m, rộng 6m, cao 4,5m,
xây theo kiểu “tường
hồi bít
đốc”. Mái lợp
ngói ống, phần
diềm mái hiên là một
loạt lá
đề nhỏ
bằng sứ
màu có trang trí bên trong. Bờ
nóc mái được
đắp vừa
nổi cao có trang trí nhiều
tượng sứ
màu với các cảnh
như: bát tiên quá hải,
thầy trò
Đường Tăng
đi lấy
kinh… Nhà thiêu hương là
một bục
gạch có bàn thờ
để tăng
ni phật tử
cầu kinh niệm
Phật. Thượng
điện
có hình chuôi vồ, dài
7m, rộng 4m, mái cũng
lợp ngói
ống, diềm
mái có hình lá đề bằng
sứ màu.
Ở hai
đầu tiền
đường là
động Thập
Điện
Diêm Vương. Bên tay trái
có bàn thờ
Đức Ông, tượng
Đức Ông
ở giữa,
đầu
đội mũ
cánh chuồn, bên phải
là bàn thờ
Đức Thánh Hiền.
Tượng
Đức Thánh Hiền
ngồi giữa,
có khuôn mặt
đầy
đặn, hiền
từ,
đôi mắt
lá răm dài, miệng
nhỏ,
đầu
đội mũ
có khắc hình
ảnh Quan Thế
Âm Bồ Tát ngồi
trên tòa sen. Tượng Hộ
Pháp là hai ông Thiện và
ông Ác.
Trong nhà thượng
điện,
cách bài trí tượng Phật
của chùa khác với
nhiều chùa khác.
Ở chính giữa
có tượng A Di
Đà, làm bằng
gỗ, cao 3,2, chu vi
5,6m. Tượng ngồi
trên tòa sen, khuôn mặt
với nhiều
nét hiền hậu
đôi mắt
dài và nhỏ, mũi
dọc dừa
thon, má bầu bĩnh,
đôi môi nhỏ
mím lại,
đoi tai to và dài, chảy.
Thân tượng lớn
có nhiều nếp
áo trải từ
vai xuống, có nhiều
đường lượn
tạo cảm
giác có nhiều tấm
áo mềm mại.
Tượng ngồi
theo lối tọa
thiền, hai chân khoanh
tròn, lồng vào nhau hai
bàn tay lồng vào nhau
để ngửa.
Ở bốn
góc thượng
điện
có 4 tượng:
Đại Thế
Chi, Quan Thế Âm, Quan
Âm Chuẩn
Đề, Quan Âm Tống
Tử.
Hai tượng
Quan Thế Âm và
Đại Thế
Chí, cao 2,4m tạc
đứng trên tòa sen,
đầu
đội mũ
tám cánh. Khuôn mặt hiền
hậu, vầng
trán cao, đôi mắt
lá dăm chạy
dài, mũi dọc
dừa nhỏ,
sống mũi
ở giữa
hơi trũng
xuống
để môi nhỏ
mịn chặt,
tai to chảy. Thân tượng
nhỏ thanh với
nhiều nếp
áo trải dài từ
vai xuống chân. Hai tay
tượng chắp
lại giữa
ngực trên trán tượng
Quan Thế Âm có khắc
hình A Di Đà trên tòa
sen.
Ở hai góc trong cùng của
thượng
điện
là tượng Quan Âm Chuẩn
Đề và Quan Âm Tổng
Tử. Quan Âm Chuẩn
Đề có tư
thế ngồi
trên tòa sen. Tượng có
nhiều
đôi tay, mỗi
bàn tay trên các đôi tay
đều có thể
khác nhau, các ngón tay bấm
vào nhau như
đang bắt
quyết. Một
đôi tay chắp
trước ngực,
một
đôi tay trong tư
thế thiền,
hai bàn tay để ngửa,
lồng vào nhau phía trước
bụng, trong lòng bàn tay
có một viên ngọc
lớn.
Đây là chi tiết
để phân biệt
với Quan Âm Thiên Thủ
Thiên Nhân.
Quan Âm Tống
Tử
được tạc
ngồi dựa
vào tảng
đá một
chân bắt chéo ngả
vào tảng
đá, một
chân co vuông góc đặt
chân trẻ ngồi
trên. Trên vai trái có tượng
một con vẹt.
Chùa Hưng
Ký là một ngôi chùa theo
Tịnh
Độ Tông. Chùa
đã
được Bộ
Văn hóa và thông tin xếp
hạng di tích kiến
trúc, nghệ thụat
ngày 22.4.1994.
36. CHÙA ÍCH VỊNH*
(PHÚC LONG TỰ)^
Chùa Ích Vịnh
còn gọi lìa chùa
Đống vì
được xây dựng
trên gò Đống thuộc
thôn Ích Vịnh, xã Vĩnh
Quỳnh, huyện
Thanh Trì, Hà Nội. Chùa
cách trung tâm thành phố
vào khoảng 17km,
đi theo
đường số
I về phía Nam
đến thị
trần Văn
iển rồi
rẽ tay phải.
Tương
truyền chùa Ích Vịnh
được xây dựng
vào thời Tây Sơn.
Chùa quay về hương
nam, gồm tam quan, tòa
tam bảo. Tòa tam bảo
có hình chuông vồ gồm
tiền
đường 5 gian, xây kiểu
“tường hồi
bít đốc”, hậu
cung có 5 gian. Bên phải
chùa có điện
Mẫu và nhà Tổ.
Chùa có hệ
thống tượng
Phật có phong cách
đời Nguyễn.
Chùa Ích Vịnh
đã
được Bộ
Văn hóa và thông tin xếp
hạng di tích kiến
trúc, nghệ thuật
ngày 9.1.1990.
37. CHÙA KEO (TRÙNG NGHIÊM TỰ)^
Chùa Keo thuộc
xã Kim Sơn, huyện
Gia Lâm, Hà Nội, cách
trung tâm thành phố khoảng
20km. Làng Keo, có tên cổ
là Cổ Giao thuộc
huyện Long Biên quận
Giao Chỉ. Làng Keo xưa
có nghề truyền
thống nấu
keo da trâu và nghề làm
sơn gỗ,
đặc biệt
là sơn son thếp
vàng.
Chùa Keo thờ
bà Keo - Pháp Vân. Truyền
thuyết kể
rằng xưa
kia ở
đất Luy Lâu
đã tạc
xong 4 pho tượng Phật;
Pháp Vân; Pháp Vũ, Pháp
Lôi, Pháp Điện
nhưng còn việc
to tượng chưa
xong. Nhiều thợ
ở các nơi
đến nhưng
không làm được vì sơn
cứ chảy
tuột
đi khi quét lên.
Đến lượt
hiệp thợ
Keo vào làm và công việc
đã hoàn thành tốt
đẹp. Việc
xong, hiệp thợ
Keo thấy một
khúc gốc thừa
khi tạc 4 pho tượng.
Hiệp thợ
Keo xin về, 4 tráng
đinh Luy Lâu xin khiêng
không nổi, nhưng
chỉ 2 người
thợ làng Keo khiêng rất
nhẹ nhàng và
đi thẳng
về làng. Thấy
chuyện lạ,
làng quyết
định tạc
tượng và pho tượng
Pháp Vân đã ra
đời giống
hệt pho chùa Dâu, nhưng
kích thước nhỏ
hơn.
Hiện
nay di tích chỉ còn lại
một số
kiến trúc: Tam quan
được xây bằng
gạch theo kiểu
nghi môn thời Nguyễn.
Tòa thượng
điện
là kiểu nhà 4 mái, các
góc đao nay chỉ
còn trang trí đao
đơn, hình cách
điệu.
Kiến trúc mở
cửa
đầu hồi
(ít gặp). Bộ
vì tòa thượng
điện
làm kiều chồng
giường,
đầu các con giường
điểm
xuyết chút hoa có phong
cách nghệ thuật
của thế
kỷ 17. Tòa hậu
cung và tháp tam phẩm
liên hoa xây trên đó, là
sản phẩm
của thời
Nguyễn. Ngoài ra còn
điện
Mẫu và nhà Tổ
cũng là sản
phẩm của
thời Nguyễn.
Đánh lưu
ý là tượng Quan Âm Thiên
Thủ Thiên Nhân, là sản
phẩm của
thế kỷ
17. Chùa còn lưu giữ
được tấm
bia thời Hoàng
Định (1616).
Chùa
đã
được Bộ
Văn hóa và thông tin xếp
hạng di tích kiến
trúc, nghệ thuật
ngày 21.6.1993.
38. CHÙA KHƯƠNG
HẠ* (PHÙNG LỘC
TỰ)^
Chùa Khương
Hạ thuộc
thôn Khương Hạ,
xã Khương
Đình, huyện
Thanh Trì, ngoại thành
Hà Nội, cách trung tâm
thành phố vào khoảng
trên 10km về phía Nam.
Theo truyền
miệng, chùa
được xây dựng
từ thế
kỷ 17,
đến nay
đã qua nhiều
lần sửa
chữa lớn.
Chùa có tam quan, tam bảo,
điện
Mẫu, nhà tổ
cùng các công trình phụ.
Tòa tam bảo gồm
5 gian được làm theo kiểu
“chồng giường”.
Tiền
đường có nhiều
mảng chạm
khắc mang phong cách
đầu Nguyễn.
Các tượng Phật
trong chùa mang phong cách sáng tác Hậu
Lê, đầu Nguyễn.
Chùa
đã
được Bộ
Văn hóa và thông tin xếp
hạng di tích kiến
trúc, nghệ thuật
ngày 18.1.1993.
39. CHÙA KHƯƠNG
TRUNG*^
Chùa Khương
Trung thuộc thôn Khương
Trung, phường Nguyễn
Trãi, quận
Đống
Đa, Hà Nội.
Khương Trung là một
làng cổ
ở ngoại
thành Thăng Long trước
đây.
Chùa Khương
Trung nằm sát bên trái
đình. Trên các bờ
mái của chùa
đều có
đắp trang trí hình vân
triện, hóa rồng.
Ngồi chùa chính hình
chuôi vồ. Chùa gồm
3 gian, 2 chái, 3 gian hậu
cung. Kết cấu
vì kèo kiểu chồng
giường, cốn
làm kiểu kẻ.
Ở
đây trang trí không nhiều,
song để làm tăng
hiệu quả
của kiến
trúc người xưa
đã chọn
những hình hoa sen, hoa
dây, vân xoắn; phần
cốn mê của
hậu cung
được chạm
2 hình rồng cùng mây cuộn
dày đặc.
Các hiện
vật còn lại
trong chùa là những pho
tượng Phật,
nhìn chung cũng
đầy
đủ so với
những ngôi chùa khác,
song các tượng
được tạo
tác khá muộn, khoảng
thế kỷ
19.
Đình, chùa Khương
Trung nằm sát nhau trong
một tổng
thế hoàn chỉnh.
Tuy được trùng tu khá muộn
nhưng di tích xứng
đáng
được xếp
hạng vì
ở Hà Nội
bâygiờ hiếm
còn thấy kiểu
kết cấu
gỗ như
vậy.
Chùa (và
đình)
đã
được Bộ
Văn hóa và thông tin xếp
hạng di tích kiến
trúc, nghệ thuật
ngày 16.12.1993.
40. CHÙA KIẾN
SƠ*^
Chùa Kiến
Sơ thuộc
xã Phù Đổng, huyện
Gia Lâm, nằm trong khu
di tích Phù Đổng, cách
trung tâm thành phố vào
khoảng 15km về
phía đông bắc.
Từ Hà Nội
đi qua cầu
Chương Dương,
cầu Chui, cầu
Đuống,
rẽ tay phải,
men theo bờ tả
ngạn sông
Đuống
chừng 5km là
đến
đi tích.
Chùa Kiến
Sơ
được xây dựng
từ rất
sớm sau khi
đạo Phật
được truyền
vào nước ta
ở trung tâm Luy Lâu
(làng Dâu - Bắc Ninh).
Sách sử ghi năm
820 nhà sư Vô Ngôn Thông
từ Trung Hoa sang Việt
Nam đã trụ
trì ở chùa này và sáng lập
ra thiền phái Vô Ngôn
Thông.
Lý Công Uẩn
thuở còn nhỏ
đã
đến tu và học
kinh Phật
ở chùa này. Tương
truyền
được Thánh Gióng báo mộng
sẽ lên làm vua qua việc
truyền tụng
bài thơ:
“Nhất
bát công đức thủy,
Tùy duyên hóa
thế gian,
Quang Quang
trùng ảnh chiếu
Một
ảnh nhận
đăng sơn.”
Bốn
câu thơ chữa
Hán báo mộng có nghĩa
là: triều Lý sẽ
lên làm vua được 8
đời,
đem lại
hòa bình và thịnh vượng
cho đất nước.
Nhà Lý sẽ chấm
dứt khi nào một
ông vua có tên gồm chữ
Sơn (núi) trên có Nhật
(mặt trời).
Vì vậy
sau khi Lý Công Uẩn lên
ngôi vua đã cho tu sửa
mở mang chùa Kiến
Sơ và
đền Gióng. Chùa có nhiều
tượng có giá trị
nghệ thuật
trong đó có các pho tượng
truyền là tượng
Vô Ngôn Thông và Lý Công Uẩn,
cả tượng
Khổng Tử
và Lão Tử. Dọc
hành lang có tượng 18 vị
La Hán. Sau chùa có đắp
hang động.
Chùa Kiến
Sơ cùng với
cụm di tích Phù
Đổng
đã
được Bộ
Văn hóa xếp
hạng di tích lịch
sử, kiến
trúc, nghệ thuật
ngày 21.2.1975.
41. CHÙA KIM GIANG (DIÊN PHÚC
TỰ)^
Chùa Kim
Giang có tên chữ là Diêm
Phúc tự, thuộc
xã Đại Kim, huyện
Thanh Trì, Hà Nội.
Chùa nằm
trên khu đất rộng
thoáng, quay hướng
đông, trước
mặt là sông Tô Lịch.
Di tích gồm: tam quan,
tam bảo, nhà Tổ,
điện
Mẫu, vườn
Tháp.
Tam quan chùa
được xây dựng
bằng gạch,
có niên đại muộn,
khoảng
đầu thế
kỷ 20. Bên cạnh
tam quan hiện còn cây
đa cổ
thụ.
Tam bảo
bố trí mặt
bằng kiểu
chuôi vồ, gồm
tiền
đường vài hậu
điện.
Nền tam bảo
cao hơn mặt
sân khoảng 90cm, hai bên
lan can tam cấp chạm
một
đôi rồng
đã có niên
đại
đầu
đời Nguyễn
khá đẹp, tôn thêm vẻ
uy nghi của tam bảo.
Nhà tiền
đường gồm
5 gian và hậu
điện
gồm hai gian.
Chùa xây kiểu
đầu hồi
bịt
đốc, vì làm kiểu
chồng giường,
giá chiêng. Kiến trúc
được trang trí tứ
linh, rồng chầu
mặt nguyệt,
hoa văn sóng nước,
đao mác, chim hoa.
Trong chùa
còn bảo tồn
được 53 pho tượng
tròn có giá trị như
như: Tòa Tam Thế,
Thích Ca Cửu Long,
Địa Tạng
Bồ Tát, Thái Thượng
Lão Quân…
Chùa còn một
quả chuông
đồng cổ,
đúc niên hiệu
Dương
Đức thứ
5 (1674).
Nhà tổ
của chùa
ở vị
trí bên trái tòa tam bảo.
Nhà Tổ quy mô tương
đối nhỏ,
gồm 7 gian, 2 chái. Vì
làm theo kiểu chồng
giường,
đấu kê; hoa văn
trang trí chủ yếu
là văn, mây xoắn,
sông nước và hoa dây
mang nét nghệ thuật
cuối thế
kỷ 18
đầu thế
kỷ 19.
Sau khi tam bảo
là khu9 nhà thờ Mẫu
và trai phòng, chỗ nghĩ
của các nhà sư.
Trong nhà thờ
Mãu có tượng Tam Phủ,
Đức Thánh Trần.
(Đình,
đền), chùa
đã
được Bộ
Văn hóa và thông tin xếp
hạng di tích kiến
trúc, nghệ thuật
ngày 21.1.1989.
42. CHÙA KIM LIÊN (HOÀNG ÂN TỰ)^
Chùa
được xây dựng
trên một mảnh
đất ven Hồ
Tây, thuộc
địa phận
làng Nghi Tàm, xã Quảng
An, quận Tây Hồ,
Hà Nội. Tương
truyền nơi
dựng chùa là nền
cũ một
cung điện
của công chúa Từ
Hoa, con vua Lý Thần
Tông (1127 - 1138), đem
cung nữ tới
khu vực này, trồng
dâu chăn tằm,
mở ra trại
Tầm Tang.
Đến
đời Trần,
đất này
được gọi
là phường Tích Ma. Theo
bia “Đại Bí tự
bi kí” dựng năm
Thái Hòa nguyên niên (1443) cho biết
chùa được xây dựng
vào thời Lê Nhân Tông và
có tên là Đại Bi. Chùa
đã
được sửa
chữa và làm lại
nhiều lần
vào những năm
1531, 1839, 1736, 1771, 1792. Năm
1771, chúa Trịnh Sâm
đã sai Phan Huy
Đĩnh và Nguyễn
Khắc Tuân dỡ
bỏ ngôi chùa Bảo
Lâm ở phía tây thành về
làm thêm vào chùa này. Việc
mở rộng
ngôi chùa dưới thời
Tây Sơn
được ghi rõ trong hàng
chữ khắc
trên thượng lương
chùa Hạ và chùa Thượng
cùng tấm bia
đặt
ở bên trái tiền
đường mang niên hiệu
Quang Trung ngũ niên:
“Tháng trọng thu năm
Nhâm Tí, dân cả phường
chữa lại
ngôi chùa và làm thêm nhà tiền
đường”. Như
vậy diện
mạo của
chùa Kim Liên còn lại như
ngày nay là di sản của
kiến trúc chủ
yếu thời
Tây Sơn.
Chùa Kim Liên
có kiến trúc
độc
đáo. Tam quan chùa là một
hàng cột gỗ
tròn, bên trên có hệ con
sơn
đua ra
ở tầng
dưới, thu hẹp
dần
ở tầng
trên, đỡ bộ
vì mái với những
tàu đao vút cong thành
thoát. Đôi cột
cái ở giữa
to cao, nâng giải mái giữa
vươn lên tạo
thành cổng lớn
cao rộng hơn
hai bên. Nhìn từ xa, tam
quan chùa Kim Liên như một
cánh diều no gió
đang vượt
khỏi lũy
tre làng bay lên trời
cao. Trong tam quan chùa còn có những
bức chạm
trổ mặt
gỗ hình rồng,
hoa lá hết sức
tinh xảo, uyển
chuyển, huyền
ảo. Tam quan chùa là một
dạng kiến
trúc độc
đáo
đượm dáng vẻ
cung đình. Tước
đây các
đòn bẩy
đủ sức
đỡ các tàu mái không cần
trụ
đỡ,
đến
đời sau, người
ta mới xây thêm các trụ
gạch
để
đỡ mái tam quan.
Chùa gồm
3 dây nhà được bố
trí theo hình chữ tam
().
Cả
3 dãy nhà đều
được xây theo kiểu
chồng diêm, mỗi
dãy nhà có 2 tầng mái, mỗi
tầng gồm
4 mái. Kiểu nhà chồng
diêm thường chỉ
được dùng
để xây các gác chuông với
diện tích nhỏ
không có chùa nào đ, chỉ
thấy
ở chùa Kim Liên. Các mái
đều tận
cùng ở góc bằng
các đầu
đao hình uốn
cong. Ba dãy nhà là chùa Hạ,
chùa Trung và chùa Thượng
được xây trên một
mặt bằng
gọn ghẽ
theo một lối
trục
đối xứng
từ tam quan
đến nhà Tổ.
Chùa Hà, chùa Trung quay về
hướng tây, riêng chùa Thượng
quay về hướng
đông. Chân các cột
đều
được kê trên các tảng
đá chạm
hình hoa sen cách điệu.
Ba dãy nhà được liên kết
với nhau bằng
tường xây gạch
để trần
kết hợp
với việc
trổ các cửa
sổ tròn hình “sắc
sắc, không không” của
nhà Phật. Giữa
các nếp chùa có một
khoảgn trống
để ánh sáng tự
nhiên chiếu rọi
vào, tạo nên một
không gian mờ
ảo, thực
hư làm cho cảnh
chùa thêm tôn kính huyền
ảo.
Trang trí
trong chùa thường dùng
đề tài loại
“lá thầu dầu”
là loại lá có 3 chẽ
có gân nổi.
Đôi chỗ
như xà
đỡ thượng
lương,
đệm con sơn…
được chạm
khắc những
bông sen nở,
ở hai
đầu xà câu
đầu
được chạm
hình rồng với
cái đầu gắn
những nét
điêu khắc
nổi rõ, uyển
chuyển.
Trong chùa có
nhiều tượng
Phật
đẹp, nổi
tiếng nhất
là tượng Quan Âm Thiên
Thủ Thiên Nhãn (đã
chuyển sang chùa Quán Sứ)
ngang hàng với những
pho tượng có giá trị
nghệ thuật
cao nhất
ở nước
ta. Tượng Văn
Thù ở thế
đứng, hai
ống tay ép sát ngực,
hai bàn tay chắp lại,
nét mựat trầm
ngâm. Tượng Xá Lợi
cao 1,59m, có nét mặt
đăm chiêu, khuôn mặt
khổ, hàng xương
sườn hai bên phơi
lộ ra, có dáng dấp
như tượng
Tuyết Sơn
ở chùa Tây Phương.
Trong chùa còn có một
pho tượng Tôn Ngộ
Không, nhìn từ phía nào
cũng thấy
hình như không
đứng im. Chùa còn cọm
pho tượng hình dáng một
trung niên, râu 3 chòm, mình mặc
áo cà sa, tay cầm hốt,
đầu
đội mũ
miện. Theo văn
bia ở chùa thì
đây có thể
là một vị
hòa thượng giám tự,
nguyên là một thị
của chúa Trịnh
ngày xưa,
đã tu
ở chùa và vì có công với
chùa nên được tạc
tượng
để thờ.
Gian giữa
có bức hoành phi “Hoằng
uẩn” (đạo
lý sâu sắc và rộng
rãi) được làm từ
năm 1870; còn bức
hoành phi “Liên Hoan hải
hội” (cảnh
sum vầy vui
đẹp
ở nước
Phật) thì mới
được làm năm
1930.
Chùa còn giữ
được nhiều
bia cổ, trong
đó có tấm
bia dựng năm
Thái Hòa nguyên niên đời
Lê Nhân Tông (1443) là tấm
bia cổ nhất
trên đất Hà Nội.
Trang trí trên bia rất gần
với những
bia cùng thời
đó như
bia Vĩnh Lăng.
Chùa Kim Liên
đã bị
hư hỏng
nặng, từ
sau khi xép hạng di tích
lịch sử,
kiến trúc, nghệ
thuật
đã
được Sở
Văn hóa thông tin Hà Nội
trùng tu trong vòng gần
10 năm.
Đến nay nó
đã có bộ
mặt kiến
trúc cũ của
thời Tây Sơn
và là một trong những
ngôi chùa đẹp nhất
của Hà Nội,
có kiến trúc
độc
đáo trong các ngôi chùa
cổ Việt
Nam.
Chùa
đã
được Bộ
Văn hóa và thông tin xếp
hạng di tích kiến
trúc, nghệ thuật
ngày 26.4.1962.
43. CHÙA KIM QUAN* (ẤN
QUANG TỰ)^
Chùa Kim Quan
thuộc xã Việt
Hưng, huyện
Gia Lâm ngoại thành Hà Nội,
cách trung tâm thành phố
vào khoảng 8km về
phía bắc.
Đi qua cầu
Chương Dương,
cầu Chui khoảng
2km về phía cầu
Đuống
là đến di tích.
Trước
đây chùa khá rộng
lớn nhưng
nay đã bị
thu hẹp nhiều.
Chùa kiến trúc cũng
bằng gỗ
lim nhưng ít hoa văn
chạm khắc,
nặng về
bào trơn
đóng hoa. Cửa
trong chùa là cửa gió,
chấn song con tiện,
có điểm
chút hoa là hình cúc, tùng, mai, cuốn
thư cùng một
số quả
như
đào, phật
thủ.
Hai bộ
vì kèo có chạm rồng
mây lá cách điệu.
Ở
đầu con giường
nổi bật
hình hổ phù và các hình
rồng, mây cách
điệu
biểu tượng
sự cầu
mong nguồn nước
dồi dào cho cư
dân nông nghiệp.
Giá trị
của chùa là hệ
thống tượng
có từ thời
Lê - Nguyễn gồm
13 pho, cùng các cổ vật,
đồ tế
khi của thế
kỷ 17, 18, 19.
Với
giá trị lịch
sử - văn
hóa nêu trên, lại nằm
ở vùng có tiềm
năng du lịch,
nhân dân có ý thức uống
nước nhớ
nguồn, cũng
tham gia với nhà nước
bảo vệ
di sản văn
hóa tổ tiên
để lại,
chàu sẽ thu hút
được nhiều
khách tham quan.
Chùa
đã
được Bộ
Văn hóa và thông tin xếp
hạng di tích kiến
trúc, nghệ thuật
ngày 16.6.1992.
44. CHÙA KIM SƠN^
Chùa Kim Sơn
còn có các tên gọi Am Vạn
Linh, chùa Tàu Mã, chùa Kim Mã. Chùa
ở số
223 đường Sơn
Tây, quận Ba
Đình, Hà Nội.
Chùa thờ
Phật.
Thời
Lý, vùng Kim Mã là pháp trường,
nơi này trở
thành nghĩa
địa, người
trong thôn Kim Mã lập ra
một am nhỏ
để thờ
cúng. Sau này thi hài các chiến
sĩ tử
trận
Đống
Đa (1789) trong kháng
chiến chống
giặc Thanh
được
đưa vào tử
táng tại nghĩa
địa Kim Mã. Am
được gọi
là am Vạn Linh. Năm
1831 người làng Kim Mã sửa
lại am, bên trong dựng
tượng Phật,
linh vị thờ
Vạn Linh
đặt ra hai bên, gọi
là chùa Tàu Mã. Năm 1897
đổi tên là chùa Kim Sơn.
Năm 1932 xây dựng
lại chùa, dựng
tòa tam bảo,
đền thờ
Mẫu và
đàn Vạn
Linh. Năm 1952 nghĩa
địa Kim Mã chuyển
lên Bất Bạt,
1953 xây tam quan ngũ
môn. Năm 1952 chùa Linh
Sơn
ở phố
Nguyễn Trường
Tộ bị
bom Mỹ tàn phá, toàn bộ
tượng Phật
của chùa Linh Sơn
được chuyển
về chùa Kim Sơn
và đặt trong gian thờ
Vạn Linh của
chùa Kim Sơn. Hiện
nay ở chùa Kim Mã có một
pho tượng Phật
bằng
đồng, cao 76,8 cm nặng
khoảng 30kg. Tượng
được thể
hiện trong tư
thế
đứng thẳng
với tay
ấn “vô
ủy” trên một
bệ dạng
hình hộp gần
vuông đúc tiền
khối với
tượng. Mặt
trước chân bệ
có khắc chìm một
dòng chữ Lào.
Tượng
có mái tóc xoắn
ốc,
đỉnh
đầu gồ
cao như búi tóc, khuôn mặt
hình trái xoan, đôn hậu.
Mắt dài, khép hờ,
hơi xếch,
cặp lông mày thanh mảnh
uống cong xuống
đuôi mắt.
Sống mũi
thẳng cao, cảnh
mũi nở
miệng mỉm
cười, môi mỏng,
tai to và dài. Tượng có
dáng thon thả, lưng
eo, vai rộng, ngực
và mông nở. Hai chân
đứng thẳng
song song, bàn chân mập.
Tượng mặc
áo cà sa bó sát thân, làm lộ
rõ những hình khối
nở nang. Có một
dải vải
dài từ thân trước
vắt qua vai sau. Một
áo choàng dài phủ kín
phía sau.
Đây có thể
là pho tượng Phật
của Lào
đã du nhập
các chùa ở Việt
Nam trong sự giao lưu
văn hóa Phật
giáo.
Trước
đây vào ngày 5.1. âm lịchngày
giỗ trận
Đống
Đa chùa lập
đàn chay tưởng
niệm các chiến
sĩ
đã hi sinh vì nước.
Chùa
đã
được Bộ
Văn hóa và thông tin xếp
hạng di tích kiến
trúc, nghệ thuật
ngày 1.4.1985.
45. CHÙA KỲ
VŨ* (KỲ
VŨ TỰ)^
Chùa Kỳ
Vũ thuộc
thôn Thượng Cát, xã Thượng
Thanh, huyện Từ
Liêm, ngoại thành Hà Nội,
cách trung tâm thành phố
vào khoảng 20 km về
phía tây đi theo
đường 32A.
Chùa Kỳ
Vũ có quy mô kiến
trúc lớn với
nhiều lớp
nhà ngang dọc, chùa
chính nằm phía trước,
gác chuông và nhà Tổ
phía sau. Khép kín không gian của
chùa là 2 dãy hành lang nằm
song song để nối
tiền
đường với
nhà Tổ. Chùa chính có kết
cấu hình chữ
“công”, gồm có tiền
đường, thiêu hương,
thượng
điện.
Tiền
đường có quy mô lớn
và làm theo dạng nhà 4
mái với các
đao cong nhẹ
nhàng, các bộ vì
đỡ mái làm theo 2 dạng
khác nhau, hai vì hồi có
kết cấu
“thượng chồng
giường hạ
kẻ”, các vì trong làm kiểu
“giá chiêng, trụ trốn,
hạ kẻ”,
phần mái hồi
làm kiểu “chồng
giường hạ
bẩy”. Mỗi
vì nhà dựng trên 6 hàng
chân, mái phân thượng tứ
hạ ngũ.
Tiền
đường gồm
7 gian 2 dĩ, phía trước
có cửa bức
bàn, phía sau và hai hồi
có tường bao. Nối
giữa tiền
đường và thượng
diện là tòa thiêu hương
gồm 2 gian nhà dọc,
các bộ vì kèo
đều làm kiểu
“chồng giường
giá chiêng hạ bẩy”.
Thượng
điện
là kiến trúc cổ
nhất, gồm
1 gian 2 chái. Góc mái với
các đao cong,
đầu của
mỗi
đao
đắp nổi
đầu rồng
đang nhìn về
nóc mái. Bộ khung nhà
làm theo kiểu “chồng
giường giá chiêng hạ
kẻ”, các con giường
chồng khít lên nhau. Kẻ
ăn mộng
qua cột cái và cột
quân, bên trên có ván gỗ
dầy
để giữ
hoành. Do nhà thượng
điện
có nền cao 60 cm so với
thiêu hương nên khoảng
cách giữa các rui mái với
mặt nền
chi cao 1m 70. Mặt nền
để trơn
không lát để cho âm dương
giao hòa theo quan niệm
cổ xưa.
Bao quanh 3 mặt của
nhà thượng là hệ
thống tường
gạch
để trần,
gạch xây loại
cổ giống
gạch chùa Bút Tháp và
Tây Phương.
Dọc
theo nhà thiêu hương có
2 dãy giải vũ,
mỗi dãy gồm
7 gian đơn giản
vì kèo kiểu quá giang.
Gian cuối cùng của
mỗi dãy nhà làm kiểm
phương
đình, hai tầng
8 mái, các góc đao cong
ngược lên có trang trí
đầu rồng,
đầu nghê.
Sau thượng
điện
là nếp nhà ngang, xây
theo kiểu tường
hồi bít
đốc tay ngai. Sát phía
sau gác chuông là nhà Mẫu
gồm 7 gian và cũng
xây kiểu tường
hồi bít dốc
tay ngai.
Hệ
thống tượng
tròn có 51 pho tượng có
giá trị thẩm
Mỹ cao, các pho tượng
được gia công tỉ
mỉ, công phu. Nổi
bật là các pho tượng
mang phong cách thế kỷ
17, 18, như tam Thế,
A Di Đà, Di Lặc,
Tứ Bồ
Tát, Quan Âm Nam Hải,
Công chúa họ Lê. Hơn
50 pho tượng còn lưu
giữ
đã biến
ngôi chùa thành phòng trưng
bày có giá trị về
nghệ thuật
điêu khắc
Việt Nam
ở hai thời
kỳ Lê - Nguyễn.
Chùa Thượng
Cát còn bảo lưu
được bộ
di vật văn
hóa đồ sộ
nhiều chất
liệu, chủng
loại khác nhau với
niên đại trải
dài từ thế
kỷ 17
đến thế
kỷ 20 như
các y môn, bát hương,
hoành phi câu đối.
Chùa
đã
được Bộ
Văn hóa và thông tin xếp
hạng di tích kiến
trúc, nghệ thuật
ngày 22.4.1992.
46. CHÙA LẠC
THỊ* (LINH QUANG TỰ)^
Chùa Lạc
Thị thuộc
thôn Lạc Thị,
xã Ngọc Hồi,
huyện Thanh Trì, ngoại
thành Hà Nội, cách trung
tâm thành phố khoảng
20 km về phía Nam,
đi theo quốc
lộ số
I.
Chùa Lạc
Thị
được xây dựng
đã từ
lâu và được sửa
chữa lớn
vào những năm
1753, 1825, 1935, 1954 và 1973. Chùa
được xây trên một
gò đất cao nhất
trong làng. Chùa xây liền
kề với
đình làng, gồm
có tam quan và tòa tam bảo.Tam
bảo hình chuôi vồ,
gồm có tiền
đường 3 gian, xây kiểu
“tường hồi
bít đốc”, hậu
cung 2 gian.
Chùa còn giữ
được nhiều
hiện vật
cổ như
tấm bia dựng
năm 1716. Các tượng
Phật trong chùa có phong
cách điêu khắc
vào thế kỷ
19.
Chùa
đã
được Bộ
Văn hóa và thông tin xếp
hạng di tích kiến
trúc, nghệ thuật
ngày 9.1.1990.
47. CHÙA LẠI
ĐÀ* (CẢNH
PHÚC TỰ)^
Chùa Lại
Đà
ở thôn Lại
Đà, xã
Đông Hội,
huyện
Đông Anh, ngoại
thành Hà Nội, cách trung
tâm thành phố khoảng
20km về phía bắc.
Đường
đến di tích qua cầu
Chương Dương,
cầu Chui, cầu
Đuống
rẽ theo
đường
đến thị
trấn
Đông Anh.
Chùa
đã
được xây dựng
thì lâu đời trên một
khoảng
đất rộng.
Chùa đã qua nhiều
lần sửa
chữa lớn,
dáng vẻ hiện
nay là của lần
sửa chữa
vào đầu thế
kỷ 20. Chùa có tam quan
xây tách rời, nhà tảo
mạc và nhà Tổ.
Chùa có nhiều tượng
Phật,
đáng chú ý là 3 pho tượng
Tam Thế: Quá Khứ,
Hiện Tại
và Vị Lai có phong cách
nghệ thuật
điêu khắc
thế kỷ
18.
Chùa
đã
được Bộ
Văn hóa và thông tin xếp
hạng di tích kiến
trúc, nghệ thuật
ngày 5.9.1989.
48. Chùa Láng (Chiêu Thiền
tự)^
Chùa
được xây dựng
ở làng Yên Lãng (tên nôm
là Láng), trước
đây thuộc
huyện Từ
Liêm, phủ Hoài
Đức, nay thuộc
phường Láng, quận
Đống
ĐA, Hà Nội.
Chùa thường
được gọi
tên là chùa Láng.
Chùa
được xây vào thời
Lý Thần Tông (1128 -
1138) trên một khu
đất rộng
khoảng 6 mẫu
Bắc Bộ.
Tương truyền
chùa được xây dựng
để thờ
Phật và ghi nhớ
công ơn của
thiền sư
Từ
Đạo Hạnh
đã giúp phép cho vua Lý
Nhân Tông sinh thái tử.
Về
Từ
Đạo Hạnh,
sách “Lĩnh Nam chính
quái” của Vũ
Quỳnh ghi:
“Ông họ
Từ tên là Lộ,
tự là
Đạo Hạnh,
ở chùa Thiền
Phúc núi Phật Tích. Cha
tên là Vinh, làm chức tăng
quan đô sát
ở triều
Lý, thường qua chơi
Yên Lãng, lấy con gái họ
Tăng tên là Loan. Lộ
là con bà họ Tăng,
thuở niên thiếu
thích ngao du hào hiệp,
phóng khoáng, có chí lớn,
ngôn ngữ không ai có thể
lường
được. Thường
cùng đạo sĩ
Lê Toàn Nghĩa và người
con hát là Phạm
ất kết
bạn,
đêm thì mải
miết
đọc sách, ngày thì thổi
sáo đánh cầu,
vui sự chơi
bời, cha mẹ
thường trách là trễ
nải. Nhưng
một
đêm ghé qua khe cửa
vào trong phòng thấy ngọn
đèn gần
tàn, sách vở chồng
chất, Lộ
gục xuống
án mà ngủ, tay vẫn
không rời sách, từ
đó cha mẹ
không còn phải lo nghĩ
gì nữa. Sau này Lộ
dự thi Tăng
hương thí,
đỗ khoa Bạch
Liên (?). Không bao lâu cha Lộ
làm phật ý Diên Thành Hầu,
Diên Thành Hầu sai
Đại
Điên dùng phép thuật
đánh chết
và vứt xác xuống
sông Tô Lịch.
Lộ
nghĩ việc
báo thù cho cha, muốn
sang chùa ấn Quốc
cầu phép lạ
để
đánh lại
Đại
Điên.
Đường
đi qua
đất rợ
Kim Xi (răng vàng) thấy
hiểm trở,
bèn quay về
ẩn cư
ở núi Phật
Tích, thường ngày
đọc kinh
Đại Bi
Đà La,
đọc trọn
mười vạn
tám nghìn lần. Sau một
thời gian dài tu luyện,
Từ
Đạo Hành trở
về làng, tới
cầu Vu Quyết,
cầm gậy
ném xuống sông Tô Lịch,
gậy trôi ngược
dòng như rồng
lội
đến cầu
Tây Dương thì dừng
lại.
Đạo Hạnh
đến nhà
Đại
Điện
dùng gậy
để
đánh.
Đại
Điện
phát bệnh chết.
Thù cha đã trả
xong, Đạo Hạnh
đi thăm
các chốn tùng lâm học
thêm pháp thuật, kể
cả việc
chữa bệnh
bằng ma thuật.
Nơi trụ
trì của thiền
sư là chùa Thiên Phúc
ở núi Phật
Tích”. “Bấy giờ
vua Lý Nhân Tông không có con trai, xuống
chiếu tìm cháu nối
ngôi. Em vua là Sùng Hiền
hầu gặp
Từ
Đạo Hạnh
xin cầu tự.
Đạo Hành hứa
giúp, hẹn khi nào phu
nhân trở dạ
thì báo cho biết.
Đến ngày Sùng phu nhân sắp
sinh hầu báo tin cho
Đạo Hạnh.
Đạo Hạnh
tắm rửa,
thay áo rồi vào núi hóa
thân. Sùng phu nhân sinh con trai
đặt tên là Dương
Hoán. Dương Hoán lên hai
tuổi
được lập
làm hoàng thái tử, sau
lên làm vua, hiệu Lý Thần
Tông. Do đó người
sau cho rằng Lý Thần
Tông là kiếp sau của
Tử
Đào Hạnh”.
Vì vậy
trong chùa, ngoài tượng
Phật, còn có tượng
Từ
Đạo Hạnh
mặc áo cà sa và tượng
Lý Thần Tông ngồi
trên ngai vàng, lại có một
cái tráp đựng sách
đồng khắc
chữ Phạn
màu đỏ, tương
truyền là di vật
của Từ
Đạo Hạnh,
sách này đã bị
mất
đêm 19.12.1946.
Có tài liệu
nói là chùa được xây dựng
dưới thời
Lý Anh Tông (1138 - 1175). Anh Tông là con Thần
Tông cho dựng chùa
ở Yên Lãng
để thờ
vua cha là Thần Tông và
kiếp trước
của cha là Từ
Đào Hạnh.
Tám thế kỷ
trôi qua, chùa đã
được trùng tu nhiều
lần. Thời
Lê trung hưng, chùa
được tu sửa
lớn vào năm
1656, có văn bia do Diên
Thọ bá Nguyễn
Văn Trạc
soạn và Tham tụng,
Bạt quận
công Thượng trụ
quốc Dương
Trí Trạch hiệu
duyệt. Diện
mạo như
ta thấy hiện
nay là từ lần
sau dưới thời
Tự
Đức, giữa
thế kỷ
19. Trước
đây chùa bao gồm
đúng 100 gian.
Được xây theo kiểu
“nội công ngoại
quốc”. Tam quan 3 gian,
lầu bát giác 4 gian, tiền
tế 1 gian, tà vu 9 gian,
hữu vu 9 gian, tiền
đường 9 gian, hành lang
hai bên 18 gian, hậu
cung và trung cung 7 gian, nhà tổ
5 gian, hậu
điện
9 gian, nhà hậu 10 gian,
nhà khách 7 gian (không kể
nhà bếp).
Đáng chú ý là các ngôi
nhà chính đều có 9 gian
tạo nên ngôi chùa to rộng
bề thế.
Khuôn viên
chùa rộng rãi, cõi tục
và cõi thiền
được phân chia bởi
lớp tường
gạch bao quanh vừa
quá tầm mắt.
Bố cục
mặt bằng
đỗi xứng
theo một
đường trục
đọc từ
cửa tam quan
đến nhà Tổ
phía sau. Kiến trúc tầng
tầng lớp
lớp với
chức năng
khác nhau, hòa hợp với
sân vườn và cây xanh tạo
nên một không gian hài
hòa, sâu thẳm, tĩnh
mịch, cổ
kính của cảnh
chùa Việt Nam. Dẫn
vào cõi Phật là cửa
Tam Triều, hình khối
đường bệ
thanh thoát, có vẻ
độc
đáo, giữa
là 4 trụ hoa biểu
bằng gạch,
trên là 3 ô cổng
được liên kết
bằng 3 dải
mái cong mềm mại.
Mái giữa cao rộng
hơn,
được
đỡ bằng
hai trụ vuông to và cao.
Qua cổng trải
ra một vạt
sân được lát gạch
Bát Tràng, giữa sân có sập
đá vuông là nơi
chồng
đòn rước
kiệu ngày hội.
Tam quan là ngôi nhà 3 gian, hai hàng cột
giữa bằng
gạch
để trống
thông thoáng, bên trên có 4 mái, hai lớp
song hàng theo kiểu mái
chồng. Tiếp
đến giữa
là một thảm
cỏ có hai hàng muỗm
to cao tỏa bóng xuống
lòng đường. Qua một
lớp nữa
dẫn vào sân chính. Giữa
sân trước tòa nhà tiền
đường, tả
vu, hữu vu là ngôi nhà Bảo
Cái, mặt bằng
bát giác, nơi
đặt kiệu
Thánh vào đêm trước
ngày hội. Nhà Bảo
Cái đặt
ở vị
trí trung tâm của chùa,
là công trình có giá trị
kiến trúc nghệ
thuật nổi
bật. Cột
hiên bao quanh và tường
bên trong đều bằng
gạch nung già
để trần.
Mái lợp kiểu
mái chồng, hai tầng,
gồm 16 mái mềm
mại thanh nhã.
Hai bên bậc
thềm dẫn
lên nhà tiền
đường có
đôi rồng
đá cuốn
khúc uyển chuyển
đẹp
đẽ. Tấm
bia tạo lệ
dựng năm
Thịnh
Đức 4 (1656) cao 1,4m, rộng
0,8m, có hoa văn rồng
chầu mặt
nguyệt, hai bên riềm
có phượng chầu
hoa sen và hai tiên nữ với
đôi cánh dướn
bay lên trời xanh. Chùa
có 15 bia, bên trái tiền
đường có một
tấm bia Phúc
Điện
ghi việc thái úy Tây Quốc
công Trịnh Tạc
(1657 - 1682) cùng vợ là
công chúa Lê Thị Ngọc
cúng hậu một
mẫu ruộng
vào chùa, gần
đó có bức
tượng công chúa thường
được gọi
là tượng “Bà Hậu”.
Tòa tiền
đường và trung
đường song song, cách
nhau chỉ hơn
một mét,
để tạo
nên ánh sáng mờ
ảo,
được nối
với nhau bằng
một nhà cầu
ở giữa.
Hậu cung gắn
với trung
đường dạng
chữ công. Khối
kiến trúc
được nối
với nhà tổ
phía sau bằng hai dây
hành lang. Tại
đây có lầu
chuông và lầu khánh,
chùa có hai quả chuông
và một khánh lớn.
Chuông được
đúc năm
1740 và khánh đúc năm
1738. Dưới mái hành lang
có hai dãy động Thập
Điện
Diêm Vương,
đắp khá
đẹp, miêu tả
nhưng hình phạt
với kẻ
tàn ác ở dưới
âm ti. Ở hậu
cung, tượng vua bằng
gỗ, tượng
thánh bằng mây
đan ngoài phết
sơn. Chùa có 198 pho tượng
lớn nhỏ
và 15 tấm bia
đá. Chùa có 30 bức
hoành phi và 31 câu đối.
Chùa còn lưu giữ
được 12
đạo sắc
phong của các vua Lê,
Tây Sơn và triều
Nguyễn, Sớm
nhất là của
vua Lê Cảnh Hưng
(1790) và của Quang
Trung, sắc cuối
là của Khải
Định. Trong hộp
sắc còn có cuốn
sách Luận tích của
tri phủ Quốc
Oai viết năm
Vĩnh Hựu
3 (1737) phán xét việc
khiếu nại
của dân trại
Yên Lãng rước hội
qua các làng Thượng Yên
Quyết, Dịch
Vọng Tiền
lên chùa Bà Lăng thăm
mẹ của
Từ
Đạo Hạnh.
Ngoài ra còn hai cuốn
sách bằng chữ
Nôm diễn ca “Sự
tích thánh đế họ
Từ” và “Phụ
lục sự
tích”, dài 464 câu.
Hội
Láng hàng năm vào ngày 7
tháng 3 là ngày hóa thân của
Từ
Đạo Hạnh,
dân làng mở hội
chùa. Ca dao cũ còn ghi:
Nhớ
ngày mồng 7 tháng 3,
Trở
về hội
Láng, trở ra chùa Thầy.
Vào sáng ngày
mồng 7, dân làng trước
hết làm lễ
tắm tượng,
rồi rước
kiệu lên chùa Bà Lăng
(Hoa Lang) ở Dịch
Vọng Tiền
để thăm
mẹ. Kiệu
phải lội
qua sông Tô Lịch
ở chỗ
Cống Cót rồi
theo bờ sông bên
đó mà lên làng trên. Cờ
quạt rợp
đường, trống
chiêng vang rộn. Có cả
con đĩ
đánh bồng
do nam giới
đóng giả)
vừa
đi vừa
đánh bồng
(trống cơm)
vùa múa tay. Khi đám rước
đến trước
đền Thánh Tổ
(thờ
Đại
Điên) thì dừng
lại
đốt pháo thăng
thiên bắn vào chùa và
múa gậy (diễn
lại trò Từ
Đào Hạnh
đánh
Đại
Điên). Sau
đó
đám rước
đi tiếp
đến
đền Ba Lăng.
Hội Láng còn có các trò
vui khác như
đánh
đu,
đánh vật…
thực ra là cuộc
diễn xướng
tổng hợp
văn nghệ
thể thao của
một vùng quên ven sông
Tô.
Chùa Láng còn
là di tích cách mạng,
ở
đây
đã có các cuộc
họp của
Thanh niên phàn để năm
1940 - 1941, của Thanh
niên cứu quốc
những năm
1943 - 1945. Sauu cách mạng
Tháng 8 năm 1945, hồi
9 giờ sáng ngày mồng
4 tết Bính Tuất
(5.2.1946) Chủ tịch
Hồ Chí Minh
đã về
chùa Láng khai mạc chợ
phiên của nhân dân ngoại
thành Hà Nội
ủng hộ
đồng bào Nam Bộ
kháng chiến chống
Pháp xâm lược.
Chùa Láng cạnh
kinh thành Thăng Long
xua, “Thật là danh lam bậc
nhất thế
gian chùa nào sánh kịp,
khí tốt Phượng
Thành bên hữu tỏa
khắp, dòng sông Tô Lịch
bên tả lượn
vòng. Nhị hà nghìn dặm
quanh kinh đo uốn
khúc như rồng
xanh lớp lớp
chầu về.
Tản Viên dãy núi
đầy thế
đẹp hướng
vào, như hổ
trắng
đàn
đàn
đến họp”
như văn
bia 1656 đã ghi, còn
đứng giữa
chùa.
Chùa
đã
được Bộ
Văn hóa và thông tin xếp
hạng di tích kiến
trúc, nghệ thuật
ngày 28.4.1962.
49. CHÙA LIÊN PHÁI (LIÊN TÔN TỰ)^
Chùa
ở trong ngõ Liên Phái,
phố Bạch
Mai, quận Hai Bà Trưng,
Hà Nội. Lúc mới
xây dựng, tên là Liên
Hoa, năm 1733
đổi tên là chùa Liên
Tông. Đến năm
1840 vì phải kiêng húy
vua Thiệu Trị
nên đổi tên, gọi
là chùa Liên Phái. Chùa do Lân Giác Thượng
Sĩ, tên thật
là Trịnh Thập
là con của Tấn
Quang Vương Trịnh
Bính, em ruột chúa Trịnh
Cường, vợ
là công chúa thứ 4 của
vua Lê Hi Tông (1676 - 1733),
được lập phủ
đệ riêng
ở phường
Hồng mai (sau
đổi là Bạch
Mai) tạo dựng.
Một hôm Trịnh
Thập sai quân lýnh
đào
đất
ở phía sau nhà thì thấy
một ngó sen rất
lớn, ông cho
đó là
điềm
áo phải xuất
gia, bèn cho sửa phủ
đệ thành chùa,
đặt tên chùa là Liên
Hoa, để tham thiền
và đọc kinh Phật.
Sau khi xuất gia ông
đến chùa Long
Động
ở núi Yên Tử
học
đạo với
hòa thượng Tuệ
Đăng. Lân Giác Thượng
Sĩ mất
năm 37 tuổi
(1733), được các
đệ tử
hỏa táng, dựng
tháp xá lị
để tôn thờ
làm tổ thứ
nhất của
dòng Liên Tông (dòng hoa sen). Từ
đó chùa có tên là chùa
Liên Tông.
Chùa
đã
được tu sửa
nhiều lần,
đợt sửa
chữa lớn
nhất vào năm
Ất Mão (1855) sửa
nhà Tổ, nhà tầng,
hành lang tả hữu,
tô tượng Phật…
hết một
ngàn quan tiền công
đức. Công việc
làm trong 6 năm trời
mới hoàn thành.
Đến năm
Kỷ Tị
(1869) lại làm thêm gác
chuông, xây tường bao
quanh quy mô rộng lớn.
Hai bên cổng
chùa là hai hồ rộng.
Trước chùa là ngôi tháp
Diệu Quang hình lục
lăng cao 10 tầng,
có kíen trúc thanh nhã cổ
kính. Nhà bia có 34 tấm
bia ghi sự tích chùa và
các lần tu sửa,
cùng ghi tên những người
góp công đức. Qua sân rộng
đến nhà bái
đường và tam bảo
là nơi thờ
Phật. Từ
tam bảo
đi qua một
sân nhỏ là
đến nhà tổ.
Sau chùa là khu vường
tháp, trên một gò
đất cao có 9 ngôi tháp
xây thành 3 hàng: Hàng thứ
nhất 2 ngôi, hàng thứ
hai ở giữa
có 5 ngôi, hàng sau có 2 ngôi, hàng giữa
gồm những
ngôi tháp cao, có ngôi tháp Cửu
Sinh xây bằng
đá, tương
truyền
đây là nơi
táng hài cốt vị
sư tổ
thứ nhất
Lân Giác Thượng Sĩ.
Ngoài ra, chùa còn có một
ngọn tháp cao 9 tầng
kiến trúc rất
đẹp,
được xây vào khoảng
1890.
Trong chùa,
ngoài tượng Phật,
còn có tượng Thượng
Sĩ Lân Giác, một
quả chuông có chữ
“Liên Tông tục diện”
(Liên Tông kế tục
sáng ngời), nét chữ
thời Lê Trung hưng.
Theo bia dựng năm
Tự
Đức 7 thì các
đời sau của
Phái Liên Tông có: Tổ thứ
hai là sư tổ
Khai Sơn, sư
tổ thứ
3 là sư tổ
Bảo Sơn,
đời thứ
tư là sư
tổ Từ
Phong…
Chùa Liên
Phái và tháp Cửu Sinh
đã trên 250 tuổi.
Đây là ngôi tháp cổ
nhất trong khu vực
nội thành Hà Nội.
Quy mô hiện nay của
chùa không khác gì mấy
so với lần
sửa chữa
giữa thế
kỷ 19.
Chùa
đã
được Bộ
Văn hóa và thông tin xếp
hạng di tích kiến
trúc, nghệ thuật
ngày 28.4.1962.
50. CHÙA LINH QUANG* (LINH
QUANG TỰ)^
Chùa Linh
Quang thuộc thôn Công
Đình, xã
Đình Xuyên, huyện
Gia Lâm, ngoại thành Hà
Nội. Qua cầu
Chương Dương,
cầu
Đuống
đến thị
trấn Yên Viên rẽ
vào cách trung tâm thành phố
khoảng gần
20 km.
Chùa Linh
Quang gồm chùa chính,
nhà Tổ,
điện
thờ Mẫu.
Tiền
đường 3 gian giữa
cửa bức
bàn, hai gian bên xây tường
bao trổ cửa
sổ, kết
cấu theo kiểu
“thượng giường
hạ kẻ”
và “thượng giường
hạ bẩy”.
Các đầu bẩy
con giường và xà trang
trí đề tài vân xoắn
lớn, hoa lá là các yếu
tố tự
nhiên biểu hiện
nguồn nước.
Điện
Phật bố
trí như các loại
chùa phổ biến
khác nhưng
đáng quan tâm hơn
cả là bộ
tượng Tam Thế
với vẻ
đẹp tự
nhiên, đầu tóc kiểu
bụt
ốc, nhục
khối nổi
cao, biểu hiện
quý tướng thông minh
sáng láng, phảng phất
khuôn mặt nữ
tính, áo cà sa mềm mại
vắt qua vai, yếm
chảy thành hình vòng
cung trước ngực,
tòa sen 3 lớp cánh. Pho
A Di Đà má bầu
và xị hơn,
tai tượng lớn
dày biểu hiện
sự sang trọng
phú quý. Đẹp nhất
là pho tượng Quan Âm
Thiên Thủ Thiên Nhãn có
12 đôi tay biểu
hiện pháp lực
vô biên của
đức Quan Âm, gần
gũi phong cách thế
kỷ 17, áo cà sa nhiều
vạt chảy
qua vai, cánh tay rơi
buông xuống lòng
đùi. Chùa có 40 tượng
Phật, 1 chuông
đồng
đúc thời
Minh Mệnh ngũ
niên (1824), bia hậu
niên đại Cảnh
Hưng 7 (1746).
Chùa xây dựng
ở vùng cảnh
quan thoáng đãng, cạnh
một con sông, lưu
nhiều di vật
quí giá. Kiến trúc quy
mô tuy không lớn, mang dấu
ấn thời
Nguyễn nhưng
có nhiều mảng
chạm
đẹp.
Chùa
đã
được Bộ
Văn hóa và thông tin xếp
hạng di tích kiến
trúc, nghệ thuật
ngày 22.4.1992.
51. CHÙA LINH
QUANG PHÒNG* (LINH QUANG PHÒNG TỰ)^
Chùa Linh
Quang Phòng thuộc thôn Tế
Xuyên, xã Đình Xuyên,
huyện Gia Lâm, ngoại
thành Hà Nội, cách trung
tâm thành phố vào khoảng
15 km về phía
đông - bắc.
Đi qua cầu
Chương Dương,
cầu Chui, cầu
Đuống
đến thị
trấn Yên Viên rẽ
tay phải chừng
3km là tới làng. Chùa
được xây dựng
trên một khu
đất cao, sau miếu
Tế Xuyên. Căn
cứ vào cột
hương thì chùa
được dựng
năm Thái Bảo
9 (1728) và đúc chuông năm
1800. Kiến trúc của
chùa có hình hcữ “đinh”.
Chùa chính gồm 5 gian tiền
đường, xây kiểm
“bít đóc tay ngai” trên
bờ nóc có 3 chữ
Linh Quang Tự. Chùa nhỏ
được làm kiểu
“giá chiêng kẻ chuyền”
có 4 hàng chân, vật liệu
gỗ
đều bào trơn
đóng bén. Thượng
diện gồm
4 gian nối với
tiền
đường, kết
cấu kiểu
“thượng giường
hạ kẻ”.
Các cốn mê
được trang trí rồng
phượng, rồng,
mây chạm nổi.
Chùa Linh
Quang còn giữ
được các pho tượng
Tam Thế, tượng
Văn Thù và Phổ
Hiền
được tạo
từ cuối
Lê (thế kỷ
17, và 18), số tượng
còn lại
được tạo
vào thời Nguyễn
(thế kỷ
19). Chùa có cây hương
đá và bia
được dựng
vào khoảgn cuối
đời Lê - Tây Sơn.
Trong thời
kì kháng chiến chống
Pháp, chùa là cơ sở
của du kích và các cán bộ
hoạt
động trong nội
thành.
Chùa (và
đình miếu)
đã
được Bộ
Văn hóa và thông tin xếp
hạng di tích kiến
trúc, nghệ thuật
ngày 23.6.1992.
52. CHÙA LINH QUANG (LINH
QUANG TỰ)^
Chùa Linh
Quang thuộc phường
Thanh Liệt, quận
Đống
Đa, Hà Nội.
Tương truyền
chùa được xây dựng
từ khá lâu. Bia xây dựng
chùa ở chính giữa
có chữ “BÁT NHÃN THIÊN”
có niên đại 1725, phía dưới
bia là phù điêu một
quan hcức ngồi
khoanh chân. Chùa có kiến
trúc hình chữ “đinh”.
Tiền
đường gồm
6 gian “bít đốc”, có 2
trụ biểu
phía trước. Thượng
điện
có 3 gian dọc nối
với tiền
đường.
Trong chùa có
25 pho tượng Phật.
Nhà tổ có 3 pho,
đều có niên
đại tạo
lập
đầu thế
kỷ 20.
Trong những
năm trước
cách mạng Tháng Tám
1945, chùa là nơi liên lạc
hội họp
của Thanh niên cứu
quốc
để chuẩn
bị tổng
khởi nghĩa.
Trong kháng chiến chống
Pháp, chùa là nơi liên lạc
của biệt
động quan thành phố,
được sư
cụ
Đàm Thanh che giấu.
Sư cụ
Đàm Thanh
đã
được Chính phủ
tặng thưởng
Huân chương kháng chiến.
Chùa (và
đình miếu)
đã
được Bộ
Văn hóa và thông tin xếp
hạng di tích kiến
trúc, nghệ thuật
ngày 18.1.1993.
53. CHÙA LINH
ỨNG (LINH
ỨNG TỰ)^
Chùa Linh
Ứng có tên chữ
là “Linh Ứng tự”,
nằm sát mặt
đường Khâm Thiên, mang
biển số
nhà 290, thuộc phường
Thổ Quan, quận
Đống
Đa, Hà Nội.
Chùa thờ
Phật và Trần
Hưng
Đạo.
Chùa xây dựng
vào thế kỷ
19 và tiếp tục
được tôn tạo
vào những năm
đầu thế
kỷ 20,
được trùng tu lớn
vào năm 1951, xây thêm
tam bảo với
kiểu mái chồng
diềm như
hiện nay. Sau lần
bị bom B52 ngày
26.1.1972 chùa bị thiệt
hại nặng.
Cuối năm
1973 chùa lại có một
lần tôn tạo
lớn, gần
đây, năm
1990, các hội chủ
lại
đem tâm sức
tu bổ ngôi chùa sửa
sang Phật
điện,
lát nền nhà Mẫu,
nhà Tổ.
Chùa có các bức
cửa võng sơn
son thếp vàng khá
đẹp. Trong chùa còn bảo
tồn
được 2 tượng
tròn có niên đại thế
kỷ 19 - 20 và nhiều
tượng có giá trị
như: A Di
Đà, Di
Đà Tâm Tôn, Cửu
Long. Tượng Trần
Hưng
Đại ngồi
trên long ngai dầu
đội mũ
bình thiên, mặc áo long
bào, ngai cửa chạm
đầu rồng
sơn son thếp
vàng, chạm bong rất
kỹ lưỡng
theo phong cách nghệ thuật
thế kỷ
19. Trong nhà thờ Mẫu,
nhà tổ có tượng
Tam Tòa Thánh Mẫu, Hoàng
Bốy, Hoàng Mười,
cô, cậu.
Chùa
đã
được Bộ
Văn hóa và thông tin xếp
hạng di tích kiến
trúc, nghệ thuật
ngày 21.6.1993.
54. CHÙA LINH
ỨNG* (LINH
ỨNG TỰ)^
Chùa Linh
Ứng thuộc
thôn Siêu Quần, xã Tả
Thanh Oai, huyện Thanh
Trì, ngoại thành Hà Nội,
cách trung tâm thành phố
vào khoảng 17 km về
phía tây nam. Đi theo quốc
lộ số
I, đến thị
trấn Văn
Điển,
rẽ phải
đến Cầu
Bươu, men theo bờ
sông Nhuệ, theo con
đường
đất là vào
đến di tích.
Chùa Linh
Ứng
được xây dựng
cạnh
đền Siêu Quần.
Chùa có tam quan, thượng
điện
và tiền
đường. Tiền
đường gồm
5 gian, thượng
điện
gồm 3 gian. Hệ
thống tượng
Phật trong chùa
đầy
đủ và
được tạo
tác khá Mỹ thuật.
Chùa (và
đình)
đã
được Bộ
Văn hóa và thông tin xếp
hạng di tích kiến
trúc, nghệ thuật
ngày 5.2.1994.
55. CHÙA LINH
ỨNG (LINH
ỨNG TỰ)^
Chùa Linh
Ứng (Linh
Ứng tự)
thuộc thôn Thị
Cấm, xã Xuân Phương,
huyện Từ
Liêm, Hà Nội. Chùa
được xây dựng
trên khu đất rộng
bên bờ tây sông Nhuệ.
Truyền
thuyết dân gian trong
vùng cho biết chà Linh
Ứng
được xây dựng
dưới
đời Trần.
Đến cuối
thế kỷ
17, vợ chồng
bà Nguyễn Thị
Hảo
ở bản
thôn đã
đem của
nhà tu sửa cung
điện,
gác chuông, khánh. Đến năm
niên hiệu Cảnh
Thịnh 2 (1795) lại
đúc quả
chuông “Linh Ứng chung”.
Sang đời Nguyễn,
chùa được sửa
chữa lớn
vào năm
Đinh Tỵ,
niên hiệu Tự
Đức (1857),
đến năm
Quý Mão niên hiệu Thành
Thái (1903) dân làng lại
đúc quả
chuông “Linh Ứng tự”
mới. Năm
niên hiệu Bảo
Đại 12 (1937) chùa
được tu sửa
lớn, xây 5 gian
điện
vũ, 1936 xây tòa Thánh Mẫu,
tô tượng và sắm
đồ thờ,
1937 xây hậu
đường, tăng
phòng 9 gian.
Hiện
chùa nằm bên bờ
sông Nhuệ gồm
có tam quan, nhà khách, nhà Mẫu
và tam bảo, tòa tam bảo
mặt bằng
hình chữ công (I), có tiền
đường 3 gian 2 dĩ,
thiêu hương 2 gian, thượng
điện
3 gian. Trên kiến trúc
chùa còn giữ
được nhiều
mảnh chạm
khắc cổ
mang phong cách nghệ thuật
thế kỷ
19. Hiện vật,
tượng pháp trong chùa
mang phong cách nghệ thuật
thế kỷ
18 - 19, có giá trị lịch
sử nghệ
thuật.
Chùa
đã
được Bộ
Văn hóa và thông tin xếp
hạng di tích kiến
trúc, nghệ thuật
ngày 2.3.1990.
56. CHÙA LONG QUANG* (LONG
QUANG TỰ)^
Chùa Long
Quang thuộc xã Tứ
Hiệp, huyện
Thanh Trì, ngoại thành
Hà Nội. Cách trung tâm
thành phố khoảng
20 km về phía nam
đi theo quốc
lộ số
I.
Chùa Long
Quang tọa lạc
trên một khu
đất cao ráo,
được xây dựng
theo kiểu “tiền
thần hậu
Phật”. Ngôi chùa có quy
mô kiến trúc lớn
với nhiều
nếp nhà bao quanh thượng
diện. Từ
ngoài vào gồm có tam
quan, khu chùa chính, hai dãy hành lang chạy
song song, sau cùng là nhà thờ
Mẫu.
Tam quan xây
kiểu 2 tầng
3 chái. Hai bên là 2 cột
trụ biều
cao to, đỉnh là hình 4
con chim phượng, chụm
đuôi vào nhau, tầng
trên các góc mái uốn
cong đắp hình rồng,
là cách điệu,
ở chính giữa
là hình mặt trời.
Khu chùa
chính kết cấu
hình chữ
đinh bao gồm
tiền
đường và thượng
diện. Tiền
đường gồm
5 gian làm theo kiểu “đầu
hồi bít
đốc tay ngai”. Kết
cấu bộ
khung nhà làm theo kiểu
“chồng giường
cột trốn”.
Các mảng chạm
khắc thanh thoát với
các đề tài tứ
linh, rồng mây, hoa lá,
v.v… mang đậm nét phong
cách nghệ thuật
thời Nguyên (thế
kỷ 19).
Thượng
điện
là ngôi nhà 5 gian, bộ
khung làm theo kiểu “chống
giường giá chiêng”, xà
nach đăng
đối. Hệ
thống cửa
võng, y môn sơn son thếp
vàng tạo vẻ
trang nghiêm lộng lẫy
của ngôi chùa.
Trong chùa
còn có lưu giữ
52 pho tượng tròn, trong
đó có các pho tượng
Tạm Thế,
bộ Di
Đà Tam Tôn, Phật
thuyết pháp và Quan Âm
Chuẩn
Đề, ra
đời cuối
thế kỷ
18, còn lại các pho tượng
khác mang phong cách nghệ
thuật thế
kỷ 19.
Chùa
đã
được Bộ
Văn hóa và thông tin xếp
hạng di tích kiến
trúc, nghệ thuật
ngày 25.1.1994.
57. CHÙA LÝ QUỐC
SƯ^
Chùa Lý Quốc
Sư (xưa
gọi là
đền)
ở số
nhà 50 phố Lý Quốc
Sư, quận
Hoàn Kiếm, Hà Nội.
Nơi
đây trước
kia thuộc thôn Tiên Nhị,
tổng Tiên Túc, huyện
Thọ Xương,
kinh thành Thăng Long.
Theo sử
sách thì chùa được lập
từ năm
1131 theo lệnh của
vua Lý để làm nơi
tu hành cho các nhà sư
ỏ cạnh
chùa Báo Thiên và gọi là
Lý Quốc Sư
tự.
Chùa
đã qua nhiều
lần tu sửa
lớn,
đã bị
thực dân phá hủy
hồi
đầu kháng chiến
chống Pháp 1946. Quy mô
của chùa như
hiện nay là do lần
sửa chữa
vào năm 1954.
Chùa thờ
Phật và Thiên sư
Minh Không. Ông tên là Nguyễn
Chí Thành quê ở
Điền
Xá, huyện Gia Viễn,
tỉnh Ninh Bình. Năm
1138 ông đã chữa
khỏi bệnh
mọc lông, gầm
thét, hóa hổ cho vua Lý
Thần Tông nên
được triều
đình phong là Quốc
Sư và cấp
ấp
ở làng Tiên Thị.
Ông mất năm
1141, thọ 76 tuổi.
Chùa thờ
Phật, có nhiều
tượng Phật
được tạo
tác có phong cách nghệ
thuật
đời Lê.
Đáng chú ý là nhóm tượng
Long Nữ Thiện
Tài, được tạc
bằng
đá trên cột
cao 3 m có các trang trí hoa sen, hoa cúc dây hoa thị,
lá đề… vòng quanh cột.
Nhóm tượng có cấu
trúc khác lạ, tượng
tròn cân đối, mang dấu
ấn phong cách nghệ
thuật thế
kỷ 18.
Bên cạnh
các tượng Phật
là tượng nhân thần,
có tượng Thièn sư
Minh Không, Giác Hải, Từ
Đạo Hạnh.
Cũng có cả
tượng cha mẹ
Từ
Đạo Hạnh,
những tượng
này có phong cách nghệ
thuật thế
kỷ 18, 19. Do vừa
thờ Phật
vừa thờ
nhân thần nên chùa Lý Quốc
Sư
đã thể
hiện khá rõ tín ngưỡng
của người
dân kinh thành Thăng
Long.
Chùa
đã
được Bộ
Văn hóa và thông tin xếp
hạng di tích kiến
trúc, nghệ thuật
ngày….
58. CHÙA MAI PHÚC (MINH TÔNG TỰ)^
Chùa Mai Phúc
ở thôn Mai Phúc, xã Gia
Thụy, huyện
Gia Lâm, ngoại thành Hà
Nội, cách trung tâm
thành phố khoảng
7 km về phía
đông bắc.
Chùa gồm có các kiến
trúc tòa tam bảo, nhà hậu,
nhà tổ,
điện
Mẫu và nhà tăng.
Chùa đã
được tu sửa
nhiều lần,
những lần
tu sửa lớn
vào các năm Tự
Đức 32 (1879) và năm
1910. Tòa tam bảo có
hình chuôi vồ, quay hướng
tay - nam. Tiền
đường gồm
5 gian và 2 trái làm kiểu
“bít đốc tay ngai”. Thượng
điện
gồm 4 gian, 2 trái.
Trong chùa có đầy
đủ các tượng
Phật
được tạo
tác xen kẽ thế
kỷ 19 và
đầu 20. Chùa còn lưu
giữ nhiều
hiện vật
cổ trong
đó có quyền
thần tích bằng
đồng. Sách gồm
12 lá đồ khổ
18.34cm được
đóng lại
bằng dây
đồng nặng
khoảng 1 kg. Trên lá
đồng khắc
chữ Hán, chữ
chìm, bia lập từ
đời Vĩnh
Trị (1676).
Chùa
đã
được Bộ
Văn hóa và thông tin xếp
hạng di tích kiến
trúc, nghệ thuật
ngày 21.1992.
59. CHÙA MẶT
DỤNG (MẶT
DỤNG TỰ)^
Chùa Mặt
Dụng thuộc
thông Đổng, phường
Bưởi, quận
Tây Hồ, Hà Nội.
Tương
truyền chùa dựng
từ trước
đời Lê Sơ.
Cùa dựng trên một
khu đất cao gồm
tam quan, sân, tòa tam bảo,
hai dãy giải vũ,
nhà tổ và vườn.
Tòa tam bảo bố
trí trên mặt bằng
hình chữ công, gồm
nhà tiền
đường, thiệu
hương 2 gian nối
tiền
đường và thượng
điện.
Thượng
điện
3 gian 2 chái.
Chùa thời
Phật. Trong chùa có nhiều
tượng Phật
có giá trị. Chùa có quả
chuông “Mật Dụng
hồng chung”
đúc năm
Cảnh Thịnh
2 (1794). Tấm bia
đá hậu
Phật ghi việc
sửa chữa
chùa Mật Dụng
dựng năm
Minh Mệnh 4 (1824) cho
biết ngày trước
nhân vì binh hỏa lâu
ngày nên chùa hoang phế,
năm Tân Mùi (1811) dân
trong làng mới bàn nhau
tu sửa. Nhà sư
họ Trần
tên là Chiếu Liệm
đã cùng với
thiện nam tín nữ
tu sửa.
Đến năm
Canh Thìn (1820) Chiếu
Liệm lại
xin tạo thêm một
gác chuông, hành lang, tô vẽ
tượng Phật,
lập bia và truyền
thần một
bức tượng
để truyền
đến mai sau. Chùa có 2
bia đá, nhiều
câu đối cổ.
Chùa
đã
được Bộ
Văn hóa và thông tin xếp
hạng di tích kiến
trúc, nghệ thuật
ngày 21.1.1989.
60. CHÙA MỄ
TRÌ THƯỢNG (THIÊN TRÚC TỰ)^
Chùa còn có
tên là Chùa Thiên Trúc, tên Mễ
Trì Thượng là gọi
theo tên làng, thuộc xã
Mễ Trì, huyện
Từ Liêm, Hà Nội.
Chùa Mễ
Trì Thượng
được xây từ
lâu đời. Tương
truyền khoảng
thế kỷ
18 - 19, có một vị
sư pháp danh là Quang Lộ
Thích Đường, nhân
đi qua
đây thấy
thế
đất
đẹp, bèn xin với
dân làng lập chùa
để mở
mang đạo Phật.
Được dân
ủng hộ,
nhà sư
đã tổ
chức xây dựng
và đặt tên là Thiên Trúc
tự, Quang Lộ
Thích Đường nhận
về trụ
trì ở
đây. Chùa thuộc
phái Tào Động (có liên
quan đến chùa Hòe Nhai).
Toàn bộ kiến
trúc của chùa gồm
có gác chuông (tam quan), tiền
đường, tòa thượng
điện
và hành lang chạy dọc
hai bên thượng
điện.
Gác chuông
xây kiểu 2 tầng
mái, vì kèo kiểu “chồng
giường giá chiêng”, có
sàn gác, trên treo một
quả chuông.
Tiền
đường gồm
5 gian kiểu bít
đốc, phía trước
có 2 lớp mái
để ánh sáng lọt
vào, khoảng giữa
2 mái có 1 khoảng bịt
để
đề chữ
tên chùa. Bộ vì kèo theo
kiểu chồng
giường, trốn
cột, quá giang.
Tòa thượng
điện
nối với
gian giữa tiền
đường tạo
thành hình chuôi vồ. Thượng
điện
có 4 gian, bộ khung theo
kiểu chồng
giường thưa,
trốn cột.
Trong kiến
trúc của tiền
đường và thượng
điện
chủ yếu
là bào trơn, chỉ
phần xếp
giáp 2 tòa là có 2 bức cốn
chạm tứ
linh.
Hành lang 7
gian, kiểu “đầu
hồi bít
đốc”, vì kèo quả
giang. Chùa còn có nhà Tổ
và nhà Mẫu,
ở phía sau cách 1 khoảng
sân, ngoài ra còn có một
số công trình phụ
và tháp mộ.
Chùa có 33
pho tượng Phật,
5 pho tượng Mẫu
và 8 tượng Tổ.
Tượng chủ
yếu có phong cách nghệ
thuật thế
kỷ 19, có 1 số
lượng
được tạo
từ thời
cuối Lê. Chùa có một
quả chuông thời
Nguyễn Sơ
(1835), một khánh
đồng (1855) và một
đỉnh hương,
có 2 bia đá thời
Duy Tân và 1 số
đồ gỗ
như nhang an, 4 cửa
võng, 8 hoành phi, 12 câu đói.
Chùa tuy
không đồ sộ
nhưng tổng
thể kiến
trúc hài hòa với thiên
nhiên. Các tượng Phật
được tạo
tác với dáng vẻ
và đường nét thanh
thoát, đáng chú ý là ba
pho tượng Tam Thế
và bộ Di
Đà Tam Tôn.
Chùa
đã
được Bộ
Văn hóa và thông tin xếp
hạng di tích kiến
trúc, nghệ thuật
ngày 22.4.1992.
61. CHÙA MỘT
CỘT^
Tên thường
gọi là chùa Một
Cột, nằm
trong quần thể
chùa Diên Hựu (kéo dài
tuổi thọ).
Chùa nằm trên
đất thôn Thanh Bảo,
huyện Quảng
Đức, phía tây hoàng
thành Thăng Long thời
Lý, nay thuộc phổ
Chùa Một Cột,
quận Ba
Đình, Hà Nội,
ở bên phải
lãng Chủ tịch
Hồ Chí Minh.
Theo
Đại Việt
sử kí toàn thư,
chùa được xây dựng
vào năm Kỷ
Sửu, niên hiệu
Sùng Hưng
Đại Bảo
1 (1409) đời Lý Thái
Tông. Vua Lý Thái Tông (1028 - 1054) chiêm bao thấy
Phật Quan Âm trên tòa
sen đưa tay dắt
vua lên tòa. Khi tỉnh dậy,
vua kể lại
cho các quan nghe, có người
cho là điềm
không lành. Sư Thiên Tuế
khuyên nhà vua làm chùa, dựng
cột
đá
ở giữa
hồ, làm tòa sen của
Phật Quan Âm như
đã thấy
trong mộng. Chùa xây
xong, đài sen nghìn cánh
đỡ tòa Phật
sắc hồng,
trong đặt tượng
Phật vàng lấp
lánh. Các nhà sư
đến làm lễ,
đi vòng quanh chùa niệm
Phật cầu
chúc cho vua sống lâu,
vì thế
đặt tên là chùa Diêm Hựu.
Theo văn
bia dựng năm
Cảnh Trị
3 do hòa thượng Lê Tất
Đạt ghi, chùa
được dựng
từ thời
thuộc
Đường: “Năm
đầu niên hiệu
Hàm Thông thời
Đường…, dựng
một cột
đá
ở giữa
hồ, trên cột
xây một tòa lầu
ngọc trong
đó
đặt tượng
Phật Quan Âm
để thờ
cúng. Khí đất chung
đúc anh linh, cầu
gì được nấy.
Đến khi triều
Lý xây dựng kinh
đô
ở
đây, cũng
noi theo dấu cũ,
nên càng linh thiêng. Khi Lý Thánh Tông chưa
có hoàng tử, thường
đến
đó cầu
nguyện. Một
đêm nằm
mộng thấy
Phật Quan âm mời
lên trên lầu, ôm một
đứa bé
đặt vào lòng vua. Tháng
đó hoàng hậu
có mang hoàng tử. Vua
bèn sửa thêm ngôi chùa
Diên Hựu
ở bên phải
chùa Một Cột
để mở
rộng việc
thờ cúng…”.
Đời Lý Nhân Tông, năm
Anh Vũ Chiêu Thánh 5
(1080) vua cho đúc
chuông lớn
để treo
ở chùa gọi
là “Giác Thế chung”
(chuông thức tỉnh
người
đời) và một
tòa phương
đình bằng
đá xanh cao 8 trượng,
nhưng vì chuông quá nặng
không sao treo lên được,
phải
để dưới
đất nên
đánh không kêu. Chỗ
ruộng
để chuông thấp,
có nhiều rùa
đến
ở,
được gọi
là ruộng Quy
Điền
và quả chuông cũng
được gọi
là chuông Quy Điền.
Khi quân Minh bị bao vây
ở
Đông Quan, hết
quân khí, Vương Thông
đã cho phá quả
chuông này để
đúc súng
đạn.
Quy mô chùa Một
Cột vào thế
kỷ 12 to lớn
lộng lẫy
hơn như
hiện nay rất
nhiều. Văn
bia tháp Sùng Thiện Diên
Linh chùa Long Đọi (Nam
Hà), dựng năm
1121, mười sáu năm
sau khi chùa mới hoàn
thành, cung cấp cho ta
hình ảnh chân thực
nhất về
ngôi chùa Một Cột
thời Lý: “Lòng sùng kính
đức Phật,
dốc lòng mộ
đạo nhân quả,
hướng về
vườn Tây Cấm
nổi danh, xây ngôi chùa
Diên Hựu. Theo dấu
vết chùa cũ
cùng với ý mới
của nhà vua (Lý Nhân
Tông). Sáng “Đào hồ
thơm Linh Chiểu,
giữa hồ
vọt lên một
cột
đá,
đỉnh cột
nở
đóa sen nghìn cánh, trên
bong sen đứng vững
tòa điện
màu xanh, trong điện
đặt pho tượng
vàng nhân đức, vòng
quanh hồ là hai dãy hành
lang; lại
đào ao Bích Trĩ
mỗi bên
đều bắc
cầu vồng
để
đi qua. Phía sân cầu
đằng trước
hai bên tả hữu,
xây bảo tháp Lưu
Li.
“Hằng
tháng vào sớm ngày mồng
một (ngày sóc), hằng
năm vào dịp
du xuân, nhà vua ngồi xe
ngọc,
đến chùa mở
tiệc chay, làm lễ
dâng hương hoa, cầu
cho ngôi báu lâu dài, bày chậu
thau làm lễ tắm
tượng Phật.
Trang sức pho tượng
tinh tế, biểu
lộ tướng
mạo của
năm loại
chúng sinh…”.
Qua văn
bia miêu tả, rõ ràng
Liên Hoa Đài thời
Lý to hơn chùa ngày này
nhiều. Chùa thời
Trần cũng
không phải là ngôi chùa
thời Lý nữa.
Như sách Toàn thư
đã ghi lại,
năm 1249 “mùa xuân,
tháng giêng, sửa lại
chùa Diên Hựu, xuống
chiếu vẫn
làm ở nền
cũ”. Chùa
đã qua nhiều
đợt tu sửa.
Đợt sửa
chữa lớn
vào năm Thiên
Ứng Chính Bình 18 (1249)
gần như
phải làm lại
toàn bộ. Thời
Lê, triều
đình nhiều
lần cho tu sửa,
thu nhỏ kích thước
đài sen và cột
đá. Năm
1838, tổng
đốc Hà Ninh
Đặng Văn
Hòa tổ chức
quyên góp thập phương
sửa chữa
điện
đường, hành lang tả
hữu, gác chuông và cửa
tam quan. Năm 1852, bố
chính Tôn Thất Giao xin
đúc chuông mới.
Năm 1864, tổng
đốc Tôn Thâtá Hàm hưng
công trùng tu, làm sàn gỗ
hình bát giác để
đỡ tòa sen, chạm
trổ thêm công phu tráng
lệ. Năm
1954, trước khi rút khỏi
Hà Nội, quân Pháp
đã
đặt mìn phá
đổ chùa. Sau ngày tiếp
quản thủ
đô, Bộ
Văn hóa
đã cho tu sửa
chùa Một Cột
theo đúng kiểu
mẫu cũ
để lại
từ thời
Nguyên.
Tòa
đài sen (Liên Hoa
Đài), ta quen gọi
là chùa Một Cột
có hình vuông mỗi chiều
3 m, mái cong dựng trên
cột
đá hình trụ
cao 4m (chưa kể
phần chìm dưới
đất) có
đường kính là 1,2m. Trụ
đá gồm
2 khối, gắn
rất khéo, thoạt
nhìn như một
khối
đá liền.
Sự
độc
đáo của
kiến trúc chùa Một
Cột là toàn bộ
ngoi chùa được
đặt trên một
cột
đá.
Ở
đây có sự
kết hợp
táo bạo của
trí tượng lãng mạn
đầy thi vị
qua hình tượng bông sen
và những giải
pháp hoàn hảo về
kết cấu
kiến trúc gỗ
bằng hệ
thống móng giằng;
đặc biệt
là sử dụng
các cột chống
chéo lớn từ
cột
đến sàn, vừa
tạo thế
vững chắc,
vừa mang lại
hiệu quả
thẩm Mỹ,
như
đường lượn
của cánh sen, thiết
lập sự
hài hòa giữa mái và sàn
bởi một
đối xứng
ảo. Cùng với
ao hình vuông phía dưới
có thể là biểu
tượng cho
đất (trời
tròn, đất vuông), ngôi
chùa như vươn
lên cái ý niệm cao cả:
Lòng nhân ái soi tỏ thế
gian. Khối kiến
trúc gỗ
đá
được phù trợ
bởi cảnh
quan, có ao, có cây cối
đã tạo
nên sự gần
gũi, tinh khiết
mà vẫn thanh lịch.
Cảm giác thanh cao của
kiến trúc như
chia xẻ, hòa
đồng với
trời nước,
và màu xanh của cây lá
khiến con người
rũ sạch
ưu phiền,
đạt tới
sự trong sáng của
tâm hồn như
nhà sư Huyền
Quang (1254 - 1334) dưới
thời Trần
đã viết:
Vạn
duyên bất nhiễu
thành giã tục
Bán
điểm
vô ưu nhãn phóng khoan.
Tạm
dịch:
Mối
duyên chẳng bợn,
ngăn lòng tục,
Phiền
nhiễu khuấy
lâng, rộng nhãn quang.
Chùa Một
Cột
đã
được Bộ
Văn hóa và thông tin xếp
hạng di tích kiến
trúc, nghệ thuật
ngày 28.4.1962.
62. CHÙA MỸ
QUANG (LINH QUANG TỰ)^
Chùa Mỹ
Quang có tên chữ là Linh
Quang tự còn gọi
là chùa Am, thuộc ngõ Chợ
Khâm Thiên, phường Trung
Phụng, quận
Đống
Đa, Hà Nội.
Căn
cứ vào tấm
bia “Bi kí lưu truyền”
khắc năm
thứ 28, niên hiệu
Cảnh Hưng
(1767), chùa được mở
mang vào thế kỷ
18. Từ
đó
đến nay chùa
được trùng tu, sửa
chữa nhiều
lần:
Ở hạ
điện
thượng lương
đề ngày 20.10.1936,
ở trung
điện
thượng lương
ghi tháng 2 năm 1936.
Chùa gồm
có tam quan, tòa tam bảo,
nhà tổ, nhà ngang, sân gạch,
vườn, hồ
nước. Chùa quay về
hướng
đông nam. Tòa tam bảo
hình chuôi vồ, tiền
đường 3 gian làm kiểu
“đầu hồi
bít đốc”, hậu
cung 2 gian.
Trải
qua cuộc chiến
năm Kỷ
Dậu (1789) tại
khu vực gò
Đống
Đa, trận
ném bom B52 hủy diệt
của Mỹ
năm 1972, chùa
đã bị
phá hủy nhiều.
Nhân dân địa phương,
tín đồ
đã thu nhặt
các hiện vật
và sửa sang lại.
Trong chùa hiện nay vẫn
còn một số
tượng, bia,
đồ tự
khí niên đại thế
kỷ 18.
Chùa
đã
được Bộ
Văn hóa và thông tin xếp
hạng di tích kiến
trúc, nghệ thuật
ngày 9.1.1990.
63. CHÙA NAM DƯ
HẠ (THIÊN PHÚC TỰ)^
Chùa Nam Dự
thuộc xã Trần
Phú, huyện Thanh Trì,
ngoại thành Hà Nội,
cách trung tâm thành phố
khoảng gần
20 km về phía nam,
đi theo quốc
lộ số
I.
Chùa có quy
mô kiến trúc khá lớn,
gờm tam quan, chùa
chính, 2 dãy hành lang, điện
thờ Mẫu,
nhà Tổ.
Tam quan xây
bằng gạch,
cửa chính dùng làm gác
chuông. Hai cột trụ
chính đắp cao bằng
đỉnh gác chuông,
đỉnh cột
trụ
đắp hình búp sen. Mái
gác chuông xây 2 tầng 8
mái, các đầu
đao cong vút, mỗi
đầu
đao là 1 con rồng.
Trên bờ nóc
đắp nổi
hình đôi nghê chầu
mặt quyệt.
Hai bên gác chuông là 2 cổng
nhỏ; nay mắt
một cổng,
cũng xây 2 tầng
8 mái nhưng
đơn giản.
Phật
điện
hình chữ
đinh (J) xây kiểu
“tường hồi
bít đốc”, mái lợp
ngói mùi hài. Phật
điện
gồm 3 gian tiền
tế, 2 gian hậu
cung, kiến trúc kiểu
vì kèo gỗ “thượng
giường hạ
kẻ”, bào trơn
đóng bén. Các
đầu
đốc có kèo cổ
ngỗng cong với
xà nách, vì này chỉ có
đôi nghê
đội quá giang, không có
đầu
đốc. Bảy
thiên với 6 hàng cột
đều chạm
tứ quý. Hai
đầu hiên có 2 tượng
Hộ Pháp. Ba gian tiền
tế
được dựng
bằng các cột
gỗ hình vuông, cao 5m.
Phía sau Phật
điện
là tòa nhà thờ Mẫu,
nhà Tổ, kiến
trúc tương tự
Phật
điện
nhưng mái nhà thấp
hơn.
Hai bên
chùalà hai dãy hành lang mỗi
bên 7 gian, dùng làm nơi
tiếp khách, chỗ
ở. Sau chùa một
vườn thấp
gồm 8 ngọn
ẩn hiện
giữa lùm cây làm tăng
sự tĩnh
mịch của
ngôi chùa làng cổ kính.
Hiện
nay chùa còn lưu giữ
được gần
52 pho tượng Phật
có niên đại khác nhau của
thế kỷ
18 - 19. Ngoài ra còn 4 tượng
Tổ, 3 tượng
Mẫu, 4 tượng
thị giả;
chùa có 13 bức hoành, 6
đôi câu
đối, 6 bia
đá, nhiều
lọ bình, gốm,
sứ.
Chùa Nam Dự
Hạ mang những
vẻ
đẹp cổ
truyền, có phong cách
nghệ thuật
giống những
ngôi chùa nổi tiếng:
Kim Liên, Trăm Gian,
Nghi Tàm. Nghệ thuật
tạo tác những
hiện vật,
đồ thờ
cúng mang giá trị
đặc biệt,
có sức thuyết
phục cao. Sự
tồn tại
của di tích
đánh dấu
sự tồn
tại của
một làng cổ
quanh kinh thành Thăng
Long xưa.
Chùa (và
đình)
đã
được Bộ
Văn hóa và thông tin xếp
hạng di tích kiến
trúc, nghệ thuật
ngày 2.10.1990.
64. CHÙA HAM DƯ
THƯỢNG (NGHIÊM THẮNG
TỰ)^
Chùa Ham Dư
Thượng
ở thôn Nam Dư
Thượng, xã Lĩnh
Nam, huyện Thanh Trì,
ngoại thành Hà Nội,
cách trung tâm thành phố
vào khoảng 20 km về
phía Nam bên bờ phải
sông Hồng.
Chùa thờ
Phật và hai người
phụ nữ
có công lao là: Lê gia hoàng thái hậu
Trương Thị
Niếu, nguyên soái thống
quốc chính Thanh
Đô Vương
Trịnh Tráng vương
phi chánh cung Nguyễn Thị
Ngọc Tú. Hoàng thái hậu
là người trung thành với
nhà Lê, bị quân Mạc
đuổi
theo lật thuyền
giết chết.
Chánh cung Nguyễn Thị
Ngọc Tú có công bỏ
tiền của
ra thuê nhân công quai đê
lấn bãi sông Hồng
có trên 200 mẫu ruộng
cho dân cày cấy. Bà cũng
là người bỏ
tiền của
xây dựng ngôi chùa này năm
1622.
Chùa hiện
nay quay về hướng
tây nam, gồm tam quan,
sân, chùa chính, nhà Mẫu,
ống muống,
hậu cung, nhà tổ,
tăng phòng, bếp.
Chùa còn giữ 2 bản
sắc phong và 3 vị
hợp phong, hơn
40 pho tượng các loại,
4 long ngai, bài vị, 1
kiệu võng, 16 hoàng phi,
10 đôi câu
đối, 1 khánh
đá không chữ,
1 bia đá niên hiệu
Vĩnh Tộ
10 (1628), 1 chuông đồng.
Chùa
đã
được Bộ
Văn hóa và thông tin xếp
hạng di tích kiến
trúc, nghệ thuật
ngày 31.1.1992.
65. CHÙA NAM
ĐỒNG (CÀN AN TỰ)^
Chùa Nam
Đồng con có tên là chùa
Càn An, thuộc phường
Nam Đồng, quận
Đống
Đa, Hà Nội.
Theo tấm
bia niên hiệu Vĩnh
Tộ (1621) thì chùa
được xây lại
năm 1612. Tấm
bia Chính Hòa 18 cũng
ghi nội dung sửa
sang thượng
điện,
tiền
đường v.v…
Tam quan chùa
xây kiểu nghi môn, cửa
giữa có 2 tầng
với lớp
mái giả bằng
vôi vữa. Hai bức
tường nối
vói tả hữu
nghi môn cũng có mái giả
bằng vôi vữa,
cửa bịt
kín.
Tiền
đường có 7 gian, xây kiểu
tường hồi
bít đốc, vì kèo kiểu
giá chiêng. Mặt ngoài tiền
đường có mái hiên rộng
đè lên kẻ
cong cổ ngỗng
ăn qua mộng
cột quân. Phần
trang trí tập trung
ở hệ
thống kẻ
chạm với
hình lão cúc hóa long độ
cuốn thư.
Cửa vòng chạm
tứ linh trổ
thủng trên nền
hoa sen và mây cuốn rồng
chầu mặt
trời.
Ở Phật
điện,
đáng lưu
ý nhất là các pho tượng
Tam Thế, nhục
khối nổi
cao, mặt phúc hậu.
Đài sen chạm
khắc tỉ
mỉ hoa cúc, sen và vân
soắn, thân bệ
tượng chạm
vân soắn cách
điệu
và long mã đang phi trên
dòng đại thủy.
Pho Quan Âm và Đại Thế
Chí tạc trong thế
đang
đứng,
đầu
đội mũ
tì lư, trên nền
cúc mãn khai, tượng dáng
tự nhiên, thuần
hậu. Ngoài ra chùa còn
có 5 bộ cửa
võng rất trau chuốt
và một cỗ
kiệu,
đều sơn
son thếp vàng, mang
phong cách cuối thế
kỷ 18.
Chùa
đã
được Bộ
Văn hóa và thông tin xếp
hạng di tích kiến
trúc, nghệ thuật
ngày 22.4.1992.
66. CHÙA NÀNH (PHÁP VÂN TỰ)^
Chùa Nành còn
có tên chữ là Pháp Vân tự
thuộc xã Ninh Hiệp,
huyện Gia Lâm, Hà Nội.
Chùa cách
trung tâm thành phố vào
khoảng 17km về
phía đông bắc.
Đường
đi qua cầu
Chương Dương
càu Chui, cầu
Đuống,
đến thị
trấn Yên Viên, rẽ
tay phải khoảng
2 km là đến làng và
chùa.
Tương
truyền chùa
được xây dựng
từ
đời nhà Lý. Hiện
nay chùa còn quay mô khá lớn:
Gồm thủy
đình, tam quan, tiền
đường, nhà cầu,
tam bảo, tả
vu, hữu vu, nhà tổ,
điện
Mẫu, khu phụ.
Trải qua nhiều
lần trùng tu, kiến
trúc trong chùa chủ yếu
mang phong cách thời
Nguyễn.
Đáng chú ý trong chùa
còn nhiều di vật
quý: Bộ tượng
pháp của chùa rất
phong phú có gần như
đầy
đủ các tượng
Phật
ở các ngôi chùa khác
trên đất nước
ta. Trong đó bộ
Tam Thế vừa
có giá trị nghệ
thuật cao vừa
có niên đại sớm
(thế kỷ
16). Chùa còn giữ
được nhiều
bia đá, niên
đại sớm
(từ thế
kỷ 16
đến thế
kỷ 20). Chuông
đồng
đức năm
1653, khánh đồng
đúc năm
1733. Bên cạnh hệ
thống tượng
Phật, chùa Nành còn có tượng
bà Nành, dấu tích của
sự du nhập
Phật giáo vào nước
ta.
Chùa
đã
được Bộ
Văn hóa và thông tin xếp
hạng di tích kiến
trúc, nghệ thuật
ngày 21.1.1989.
67. CHÙA NỀN
(ĐẢN CƠ
TỰ)^
Chùa cách Ngã
Tư Sở
500m, ở phường
Láng Thượng, quận
Đống
Đa, Hà Nội.
Chùa Nền
còn có tên chữ là
Đản Cơ
tự và Cổ
Sơn tự.
Nguyên trước là
đền thờ
song thân của nhà sư
Từ
Đại Hạnh.
Tương truyền
vị trí của
đền làm trên nền
nhà của Từ
Đạo Hành, khi Từ
Đạo Hành trở
thành nhà sư nổi
tiếng thì
đền trở
thành chùa.
Chùa Nền
gồm có tiền
đường và thượng
điện
theo hình chữ
đinh (J). Phía sau có
nhà Tổ, nhà Mẫu,
nhà vọng và tịnh
xá. Kiến trúc chùa
đơn giản,
trên các bức cốn
của chùa chính và nhà tổ
được chạm
khắc hổ
phù, hoa lá cách điệu.
Chùa còn giữ
được khám thờ
chạm thủng
đề tài tứ
linh của thế
kỷ 17. Ngoài các pho tượng
Phật, chùa Nền
còn có tượng Từ
Đạo Hạnh
và song thân.
Chùa Nền
cùng với chùa Láng và
đình
Ứng Thiên gắn
bó với việc
thành lập kinh
đô Thăng
Long từ thời
Lý.
Chùa
đã
được Bộ
Văn hóa và thông tin xếp
hạng di tích kiến
trúc, nghệ thuật
ngày 22.4.1992.
68. CHÙA NGA MY^
Chùa Nga My
thuộc phường
Hoàng Văn Thụ
quận Hai Bà Trưng,
Hà Nội. Tương
truyền chùa Nga My thời
xưa
được xây dựng
to lớn. Căn
cứ vào bia
đá còn lưu
giữ tại
chùa thì chùa đã
được trùng tu lớn
vào năm Hồng
Đức 28 (1479), gồm
có tiền
đường, nhà thiêu hương
và thượng
điện.
Chùa đã qua tu sửa
nhiều lần
và bị phá hủy
(trong chiến tranh). Hiện
nay chùa đã
được xây dựng
lại nhỏ
hơn trước.
Chùa có gác chuông 8 mái, khá
đẹp, có phong cách kiến
trúc thời Nguyễn.
Hệ
thống tượng
Phật khá
đầy
đủ
được tạo
thành thế kỷ
19 (Hậu Lê và
đầu Nguyễn),
có pho tượng A Di
Đà với
phong cách nghệ thuật
thế kỷ
17 - 18, pho tượng Tam
Thế thuộc
thế kỷ
19. Các tượng và
đồ thờ
tự
đều có giá trị.
Chùa Nga My
(và đình Hoàng Mai)
đã
được Bộ
Văn hóa và thông tin xếp
hạng di tích kiến
trúc, nghệ thuật
ngày 5.2.1994.
69. CHÙA NGỌC
HỒ (NGỌC
HỒ TỰ)^
Chùa Ngọc
Hồ thuộc
phường Văn
Miếu, quận
Đống
Đa, Hà Nội.
Chùa Ngọc
Hồ có tên chữ
là Ngọc Hồ
tự hoặc
gọi là chùa Bà Ngô, là
người
đã có công
đức tu bổ
chùa.
Chùa thờ
Phật, Lê Thánh Tông (người
có nhiều công lớn
trong lịch sử
dân tộc) và bồ
Ngô.
Chùa gồm
có tam quan, gác chuông, sân, tòa tam bảo
gồm tiền
đường và hậu
cung. Trên kiến trúc trạm
lộng, bong kênh. Nhà tổ
có 8 gian, điện
Mẫu và
đền. Di tích
được xây dựng
từ rất
sớm,
đã qua nhiều
lần trùng tu. Trong di
tích còn nhiều hiện
vật có giá trị
như 35 pho tượng
trên chùa chính là: Tam Thế,
Đi
Đà Tam Tôn, Quan Âm
Thiên Thủ Thiên Nhân,
Tuyết Sơn,
Di Lặc, Ngọc
Hoàng, Nam Tào, Bắc
Đẩu, tòa Cửu
Long, Thập
Điện…
Chùa còn có tượng bà
Ngô, tượng Lê Thánh
Tông, tượng Mẫu,
tượng
Đức thánh Trần,
Yừt Kiêu, Dã Tượng.
Chùa còn giữ
được cửa
võng, y môn, khám thờ,
ngựa thờ,
chuông đồng, bia
đá, hoành phi câu
đối.
Chùa
đã
được Bộ
Văn hóa và thông tin xếp
hạng di tích kiến
trúc, nghệ thuật
ngày 18.1.1993.
70. CHÙA NGỌC
HỒ (NGỌC
HỒI TỰ)^
Chùa Ngọc
Hồ
ở làng Ngọc
Hồi, xã Ngọc
Hồi, huyện
Thanh Trì, Hà Nội, cách
trung tâm thành phố khoảng
17 km về phía nam,
đi theo quốc
lộ số
I.
Tương
truyền
đời Trần
ở Ngọc
Hồi có Bảo
Công và 2 nàng công chúa cùng nhân dân hưởng
vương triều,
tham gia cuộc kháng chiến
chống xâm lược
Nguyên Mông, sau được
tôn làm thành hoàng làng. Chùa Ngọc
Hồi có lẽ
được xây dựng
vào thời gian
đó. Sau chiến
dịch Ngọc
Hồi -
Đống
Đa (1789) bị
chiến tranh tàn phá,
chùa được phục
hồi tôn tạo
vào đời Nguyễn.
Chùa hiện
nay được dựng
trên một khoảng
đất rộng
ven sông Tô Lịch gần
đường quốc
lộ I. Tam quan chùa
đã bị
bom Mỹ phá hoại,
hiện còn tòa tam bảo
nằm theo hướng
tây nam. Tòa tam bảo
hình chuôi vồ gồm
tiền
đường, thiêu hương
và thượng
điện.
Trong chùa hiện
có 42 pho tượng, 2 phù
điêu, phần
lớn là tượng
thế kỷ
18 - 19, 1 quả chuông
“Ngọc Hồi
tự chung”, 6 tấm
bia đá, 2 bia chữ
Hán, 4 bia chữ quốc
ngữ, 3
đôi câu
đối, 4 bước
hoành phi và nhiều
đồ tự
khí. Trong thời kì cách
mạng và kháng chiến
chống Pháp chùa còn là nơi
hoạt
động của
chi bộ
đảng, nơi
che giấu,
ẩn nấp
của các
đồng chí
đảng viên, cán bộ
Việt Minh.
Chùa
đã
được Bộ
Văn hóa và thông tin xếp
hạng di tích kiến
trúc, nghệ thuật
ngày 9.1.1990.
71. CHÙA NGỌC
QUAN^
Chùa Ngọc
Quan còn gọi là chùa Cột,
thuộc thôn Hạ
Yên Quyết, xã Yên Hòa,
huyện Từ
Liêm, Hà Nội.
Chùa thờ
Phật.
Chùa dựng
vào khoảng thời
Lê Trung hưng,
đến
đời Tây Sơn
có trùng tu sửa chữa,
đúc chuông
đồng. Sang thời
Nguyễn lại
sửa hành lang, tam bảo,
dựng lại
gác chuông và tòa hậu
điện,
hay dãy hành lang, nhà Tổ,
nhà Mẫu.
Hiện
nay chùa gồm có tam
quan, tòa tam bảo
được xây dựng
kiểu chữ
đinh gồm
tiền
đường và hậu
cung.
Trang trí
trên các cốn nách
đề tài tứ
linh, tứ quý;
đầu dư
chạm rồng.
Chùa có các pho tượng Phật
Đế Thích, Thích Ca Cửu
Long, Thế Tôn, Quan Âm
Nam Hải, Quan Âm Thế
Chí, Át Nan, Ca Diếp,
Tam Thế, Hộ
Pháp, Đức Ông, Quan Âm
Thị Kính, Thổ
Thần.
Chùa còn giữ
được quả
chuông đời Cảnh
Thịnh 8 (1800) bia
đá
đời Dương
Hòa 8 (1642), hoành phi, câu đối,
bộ tam sự,
bát hương,
đồ gốm
sứ, bát nhang, lộc
binh, chóe…
Chùa
đã
được Bộ
Văn hóa và thông tin xếp
hạng di tích kiến
trúc, nghệ thuật
ngày 10.3.1994.
72. CHÙA NGỌC
TRỤC (ĐẠI
PHÚC TỰ)^
Chùa Ngọc
Trục có tên chữ
là Đại Phúc tự,
ở thông Ngọc
Trục, xã
Đại Mỗ,
huyện Từ
Liêm, Hà Nội.
Theo các tài
liệu, hiện
vật
ở chùa, cho thấy
chùa Đại Phúc
được xây dựng
từ khá lâu.
Đến thế
kỷ 18, chùa
được tu bổ
sửa lại.
Chùa nằm trên một
khu đất cao ráo giữa
thôn. Kiến trúc gồm
có cổng tam quan, phương
đình, tòa tam bảo,
có mặt bằng
hình chuôi vồ gồm
tiền
đường và hậu
cung. Tiền
đường 5 gian 2 dĩ,
hậu cung 2 gian. Hai bên
tam bảo là hai dãy hành
lang. Sau hậu cung là
nhà Mẫu, nhà thời
Tổ.
Trong chùa
còn lưu giữ
được nhiều
mảnh chạm
khắc và 50 pho tượng
có giá trị về
kiến trúc và nghệ
thuật.
Chùa
đã
được Bộ
Văn hóa và thông tin xếp
hạng di tích kiến
trúc, nghệ thuật
ngày 31.1.1992.
73. CHÙA NGŨ
XÃ* (THẦN QUANG TỰ)^
Chùa Ngũ
Xã ở số
nhà 44 phố Ngũ
Xã phường Trúc Bạch,
quận Ba
Đình Hà Nội.
Chùa Ngũ
Xã do những người
thợ thủ
công thuộc 5 xã huyện
Siêu Loại tỉnh
Bắc Ninh cũ
(nay là Hà Bắc) cùng
nhau kéo ra kinh đô Thăng
Long mở lò
đúc
đồng, xây dựng
đình thờ
ông tổ nghề
đúc
đồng và dựng
chùa phục vụ
cho tín ngưỡng. Chùa
đã
được xây dựng
sau đình. Sau
đó chùa
đã bị
hỏa hoạn,
năm 1949 dân lại
và đến năm
1651 mới hoàn thành… Kiến
trúc của chùa có tam
quan, chùa chính gồm 5
gian và điện
thờ. Giữa
điện
chính có pho tượng A Di
Đà cao 3,95m. Tượng
được
đúc vào khoảng
năm 1950 - 1952. Tượng
có tư thế
ngồi bằng
với những
hình khối
đơn giản
mà hài hòa. Riêng phần tượng
ngồi cao 3,95 hai
đầu gối
cách nhau 3,60m chu vi tượng
11,60m. Pho tượng nặng
10 tấn. Bệ
của pho tượng
ngồi là một
tòa sen có 96 cánh, đúc
hết 1600 kg
đồng.
Đây là một
pho tượng có giá trị
Mỹ thuật
cao của nghề
thủ công
đúc
đồng Ngũ
Xá.
Chùa còn lưu
giữ
được 16 bia
đá dựng
từ 1919
đến 1947.
Chùa
đã
được Bộ
Văn hóa và thông tin xếp
hạng di tích kiến
trúc, nghệ thuật
ngày 11.5.1993.
74. CHÙA NGUYÊN XÁ* (THANH
LÂM TỰ)^
Chùa Nguyên
Xá, thuộc xã Phú Minh,
huyện Từ
Liêm, ngoại thành Hà Nội,
cách trung tâm thành phố
vào khoảng 20km về
phía tây bắc.
Chùa Nguyên
Xá, theo truyền thuyết,
được xây dựng
rất lâu
đời. Thời
Lê, Trịnh bị
cướp phá,
đến
đời Tây Sơn
được tu tạo,
đúc chuông, tạc
tượng, sửa
sang thờ cúng. Quả
chuông đúc niên hiệu
Cảnh Thịnh
7 hiện vẫn
còn ở chùa. Chùa quay hướng
đông, có cổng,
sân vườn, nhà ngang,
điện
Mẫu, vườn
tháp, tam bảo. Tam bảo
hình chuôi vồ gồm
tiền
đường 5 gian, thượng
điện
3 gian.Chùa thờ Phật,
trong chùa và miếu còn
nhiều di vật
quí. Miếu
Đồng Cổ
Nguyên Xá qui mô rộng
rãi bề thế
hơn nhiều
so với miếu
Đồng Cổ
Hà Nội. Miếu
thời thần
Đồng Cổ,
theo dã sử
ở thời
vua Hùng, thần
đã giúp
đánh giặc,
đến
đời Lý lại
giúp nhà Lý giẹp giặc.
Quốc sử
cho biết thần
Đồng Cổ
là nơi chứng
giám cho tấm lòng của
tôi tủng, con hiếu
thảo qua nghi lễ
minh thệ
ở
đền
Đồng Cổ
vào 4 tháng 4 âm lịch
hàng năm. Thần
được ghi danh:
Đường cảnh
thành hoàng giám thệ
đại vương
Đồng Cổ
sơn thần.
Chùa
đã
được Bộ
Văn hóa và thông tin xếp
hạng di tích kiến
trúc, nghệ thuật
ngày 21.1.1989.
75. CHÙA NHÂN HÒA* (PHÚC LÂM TỰ)^
Chùa Nhân Hòa
thuộc thôn Nhân Hòa, xã
Tả Thanh Oai, huyện
Thanh Trì, ngoại thành
Hà Nội. Từ
trung tâm thành phố
đi theo
đường số
I đến thị
trấn Văn
Điển
rẽ phải
độ 5km là
đến di tích, hoặc
đi vào
đường Hà
Đông rẽ
qua Đại Kim cũng
đến di tích
được.
Chùa Nhân Hòa
có tên là Phúc Lâm tự,
được dựng
trên khoảnh
đất thoáng
đãng, trước
sau có cây cổ thụ,
có tam quan cao đẹp.
Chùa gồm có tam quan, hậu
cung, nhà Mẫu, nhà thờ
Tổ, nhà tăng
và vương tháp.
Kiến
trúc chùa theo kiểu “nội
công ngoại quốc”.
Chùa gồm 7 gian, với
cột lim cao. Hậu
cung nối với
tiền
đường. Cả
tiền
đường và hậu
cung đều làm theo kiểu
chồng giường,
có bức cốn
chạm rồng.
Chùa còn giữ
được
đầy
đủ các tượng
Phật,
được tạo
tác từ thời
Lê và sau này, tổng cộ
41 pho, trong đó có nhiều
pho lớn và
đẹp.
Chùa còn giữ
được nhiều
đồ thờ
tự có giá trị
nghệ thuật
bằng gỗ,
sứ và
đồng,
ở chùa còn có bia
đá, cây hương
đá và 1 chuông,
đó là những
đồ vật
có giá trị nghệ
thuật và lịch
sử.
Chùa (và
đình)
đã
được Bộ
Văn hóa và thông tin xếp
hạng di tích kiến
trúc, nghệ thuật
ngày 22.4.1992.
76. CHÙA NHỔN
(CÀN PHÚC TỰ)^
Chùa Nhổn
(nằm ngay cạnh
chợ Nhổn)
thuộc xã Xuân Phương,
huyện Từ
Liêm, Hà Nội.
Chùa Nhổn
có tên chữ là Càn Phúc tự.
Kiến trúc của
chùa bao gồm tiền
đường, thượng
điện,
nhà tổ, nhà hậu.
Tiền
đường gồm
5 gian, thượng
điện
2 gian nối với
gian giữa của
tiền
đường. Bộ
vì mái kiểu “thượng
chồng giường
hạ kẻ
bẩy”. Các kết
cấu gỗ
chủ yếu
bào trơn
đóng bén hoặc
chạm khắc
hoa lá đơn giản.
Hệ thống
tượng pháp của
chùa khá phong phú và độc
đáo.
Đáng chú ý trong số
tượng của
chùa là bộ Di
Đà Tam Tôn và Hoa Nghiêm
Tam Thánh. Các pho tượng
được tạc
trong tư thế
ngồi bán kiết
già trên tòa sen, áo với
nhiều nếp
mềm mại.
Trên ngực, bụng,
vai và mũ
được chạm
nổi các bông cúc mãn
khai lớn hết
sức cầu
kì. Vẻ mặt
các pho tượng từ
bi tạo nên cảm
giác ẩn chứa
những sức
mạnh siêu hình.
Chùa Nhổn
ngoài hệ thống
tượng pháp còn lưu
giữ
được nhiều
hiện vật
quý như ngựa
gỗ, chuông
đồng…
Chùa
đã
được Bộ
Văn hóa và thông tin xếp
hạng di tích kiến
trúc, nghệ thuật
ngày 22.4.1992.
77. CHÙA PHỔ
GIÁC (PHỔ GIÁC TỰ)^
Chùa Phổ
Giác nằm
ở cuối
phố Ngô Sĩ
Liên, và chỉ cách
đầu
đường Quốc
Tử Giám khoảng
30m, thuộc phường
Văn Miếu,
quận
Đống
Đa, Hà Nội.
Có người giải
thích tên chùa Phổ Giác
có nghĩa là phổ
cập và giác ngộ
Phật giáp cho các phật
tử. Chùa còn có tên nữa
là chùa Tỗu, vì nơi
đây trước
vẫn là Tầu
Voi, nơi huấn
luyện các voi chiến
của triều
đình.
Chính vì vậy,
ngoài thờ Phật,
thờ Mẫu
như chùa khác, chùa này
còn thờ cả
Phan Cảnh
Điệp,
một người
luyện voi giỏi
thời vua Lê, chúa Trịnh.
Tương truyền
Phan Cảnh
Điệp
là người xứ
Nghệ, cháu 17
đời
đạo sĩ
Vinh quận công nhà Tiền
Lê. Đời Lê Hiển
Tông có 1 con voi xổng
chuồng, chạy
tới Trường
Thi phá phách lung tung, làm dân sợ
hãi. Chúa Trịnh bèn ra lệnh
ai có tài bắt
được voi quay về
chuồng sẽ
trọng thưởng.
Lúc ấy Cảnh
Điệp
liền tới
ngay, nhẩy lên lưng
voi, dùng búa sắt
đánh vào
đầu, tỏ
rõ uy lực, buộc
voi phải quay về
trước
điện
Kinh Thiên. Chúa Trịnh
thấy thế
mừng lắm,
trọng thưởng,
thăng làm
đội trưởng,
phong hàm lục phẩm.
Sau này, ông còn cưỡi
voi xông vào phá giặc
nhiều trận
nên được phong quận
công. Ông nhận tước
nhưng không làm quan mà
lại vào chùa thụ
giới và niệm
Phật. Tấm
bia ở chùa dựng
năm Cảnh
Hưng 3 (1770) có
đoạn
nói rất rõ về
vai trò của voi trong
chiến trận
và vai trò của quận
công trong việc luyện
voi giỏi ra sao…
Ngoài tượng
Phật, chùa còn lưu
giữ
được một
số hoành phi, câu
đối rất
phong phú cả về
nội dung và hình thức
(tới gần
20 bức).
Đặc biệt
ở bên trong hậu
cung lại là một
pho tượng chân dung của
quận công Phan Cảnh
Điệp.
Các di vật
trong chùa cũng rất
phong phú, như chuông,
bia đá, ngựa
đá, bài vị,
khám thờ, mang án. Tổng
số tượng
tròn ở chùa chính, nhà Mẫu,
nhà tổ là 37 pho, 13 bia
đá, 3 chuông
đồng cùng nhiều
đồ quý giá khác.
Chùa
đã
được Bộ
Văn hóa và thông tin xếp
hạng di tích kiến
trúc, nghệ thuật
ngày 2.10.1991.
78. CHÙA PHÚ THỊ
(ĐẠI DƯƠNG
- SÙNG PHÚC TỰ)^
Chùa Phú Thị
ở thôn Phú Thị
(còn gọi là làng Sủi)
xã Phú Thị, huyện
Gia Lâm, ngoại thành Hà
Nội, cách trung tâm
thành phố vào khoảng
15km về phía
đông.
Đường
đi qua cầu
Chương Dương,
cầu Chui rẽ
tay phải theo quốc
lộ số
5, qua Trâu Quỳ khoảng
3km là đến di tích. Theo
truyền thuyết,
chùa Phú Thị
được xây dựng
từ rất
sớm, vì năm
1066, nguyên phi Ỷ Lan
đã về
cầu tự
tại chùa này. Khi mới
xây chùa đã nổi
tiếng là
đẹp và
đến sau khi nguyên phi
Ỷ Lan về
cầu tự
lại cho tu sửa,
tô điểm
đẹp
đẽ hơn.
Chùa
đã
được trùng tu nhiều
lần, vào các năm
1633, 1636, 1701, 1821. Chùa
được xây dựng
cùng với
đền và
đình trên một
khu đất cao rộng
thành một cụm
kiến trúc, thông với
nhau bằng các cửa
ngách nhỏ bên trong,
chùa được xây sau
đình, gồm
2 tòa nhà song song với
hậu cung
đình. Tòa tam bảo
hình chuôi vồ, gồm
5 gian tiền
đường và 3 gian hậu
cung.
Chùa có
đầy
đủ các tượng
Phật,
được tạo
tác gần
đây do chiến
tranh đã tàn phá và làm
hư hỏng.
Chùa (và
đình,
đền)
đã
được Bộ
Văn hóa và thông tin xếp
hạng di tích kiến
trúc, nghệ thuật
ngày 21.1.1989.
79. CHÙA PHÚ XÁ (PHÚC LÂM TỰ)^
Chùa Phú Xá
thuộc thôn Phú Xá
Đoài, xã Phú Minh, huyện
Sóc Sơn, ngoại
thành Hà Nội, cách trung
tâm thành phố vào khoảng
35 km về phía bắc.
Đường
đến di tích: qua cầu
Chương Dương,
cầu chui, cầu
Đuống,
đến thị
trấn
Đông Anh, Phủ
Lỗ,
đến thị
trấn
Đa Phúc thì rẽ
vào khoảng 3km.
Chùa có tam
quan, tòa tam bảo. Kiến
trúc chùa theo hình chữ
“công” (I). Chùa còn giữ
được những
mảng chạm
khắc trên gỗ
hoa dây thực vật,
tứ linh và tứ
quý. Hệ thống
tượng Phật
của chùa còn
đầy
đủ. Các pho tượng
như Kim Cương,
Đức Ông, Thánh Tăng,
Khuyến Thiện,
Trừng Ác, Cửu
Long, Phạm Thiên,
Đế Thích
đều có phong cách Mỹ
thuật thế
kỷ 19.
Chùa (và
đình)
đã
được Bộ
Văn hóa và thông tin xếp
hạng di tích kiến
trúc, nghệ thuật
ngày 16.11.1991.
80. CHÙA PHÚC HẬU
(PHÚC THẮNG TỰ)^
Chùa Phúc Hậu
thuộc thôn Phúc Hậu,
xã Dục Tú, huyện
Đông Anh, ngoại
thành Hà Nội, cách trung
tâm thành phố vào khoảng
30 km về phía tây bắc.
Chùa Phúc Hậu
được dựng
bên phải
đình Phúc Hậu,
chùa được xây trên nền
cao hơn nền
đình nhưng
quy mô kiến trúc nhỏ,
có tường bao quanh. Chùa
kiếm trúc theo kiểu
chữ “đinh”.
Tiền
đường và thượng
điện
cùng có 3 gian 2 chái, 4 góc mái có
đao cong
đẹp. Các vì kèo theo kiểu
quá giang, cột vuông bằng
gạch, kiến
trúc đơn giản.
Sau tiền
đường là một
khoảng sân hẹp
đến thượng
điện
được xây kiểu
“bít đốc tay ngai”, tường
hậu xây kín, phía trước
có kẻ hiên gác trụ
xây, bên trong có vì kèo quá giang
đỡ trụ
và kèo suốt. Chùa có một
số mạng
gỗ có giá trị
Mỹ thuật.
Tượng
Phật trong chùa còn
đầy
đủ. Các pho tượng
đều có niên
đại tạo
tác thế kỷ
19.
Chùa (và
đình)
đã
được Bộ
Văn hóa và thông tin xếp
hạng di tích kiến
trúc, nghệ thuật
ngày 5.2.1994.
81. CHÙA PHÚC LÝ (LIÊN PHÚC TỰ)^
Chùa Phúc Lý
thuộc xã Minh Khai, huyện
Từ Liêm, ngoại
thành Hà Nội, cách trung
tâm thành phố vào khoảng
17 km về phía tây - bắc.
Đi
đến di tích theo quốc
lộ số
32 qua Cầu Giấy
đến Cầu
Diễn thì rẽ
vào.
Chùa Phúc Lý
trước
đây có quy mô to lớn
nhưng trong kháng chiến
chống Pháp
đã bị
thực dân phá hủy.
Chùa hiện nay gồm
thượng
điện
và nhà Mẫu. Kiến
trúc chùa do làm lại sau
này nên không có gì đặc
sắc. Chùa còn lưu
giữ
được 15 pho tượng
cổ có phong cách nghệ
thuật thế
kỷ 18 - 19, có 3 bức
cửa võng chạm
trổ hoa cúc, rồng
và một chuông
đồng hồ.
Chùa (và
đình)
đã
được Bộ
Văn hóa và thông tin xếp
hạng di tích kiến
trúc, nghệ thuật
ngày 21.6.1993.
82. CHÙA PHÙNG KHOANG
(THANH XUÂN TỰ)^
Chùa còn tên
chữ là Thanh Xuân tự,
hoặc gọi
theo tên hành chính là chùa Phùng Khoang trên mảnh
đất số
351 diện tích 5880m2. Di
tích này thuộc xã Trung
VĂn, huyện
Từ Liêm, Hà Nội.
Thời Lê gọi
Phùng Quang thuộc xã
Nhân Mục Môn, huyện
Thanh Trì, trấn Sơn
Nam Thượng. Năm
1723 cho lệ vào huyện
Từ Liêm phủ
Quốc Oai, trấn
Sơn Tây. Thời
Nguyễn
đổi là xã Ngọc
Trục, tổng
Đại Mỗ
phủ Hoài
Đức tỉnh
Hà Đông. Năm
1964 nhập vào huyện
Từ Liêm, Hà Nội.
Theo 2 tấm
bia khắc năm
Đồng Khánh 2 (1887) và Bảo
Đại 19 (1944) thì bà
Nguyễn Ngọc
Nha công chúa đã tạo
dựng ngôi chùa
ở ven
đường
để thờ
Phật. Bà cũng
có công xin cho Phùng Khoang có 1 phiên chợ
riêng vào ngày 28 tết
hàng năm, do vậy
chợ
đó cũng
có tên là chợ Chùa.
Tấm
bia đá cổ
nhất còn dựng
ở chùa khắc
năm Chính Hòa 13 (1692)
đã nói: “Thường
xem đất Phật
ở trời
Nam xứ nào cũng
có. Duy chỉ có chùa
Thanh Xuân, thôn Phùng Khoan, xã Nhân Mục
là danh lam thắng cảnh
lâu đời”.
Đến
đời Tự
Đức năm
Đinh Sửu
(1853) ông trưởng mục
Nguyễn Huy Trâm cùng dân
thôn đời chùa về
phía nam thôn, tu tạo 5
gian chính đường, 5 gian
bái đường, 3 gian tam
quan, tất cả
đều lợp
ngói, xung quanh có tường
lũy. Nay chùa còn
đủ tam quan, gác chuông,
tòa tam bảo, nhà Tổ,
nhà khách, nhà Mẫu, nhà
hậu và nhiều
hiện vật,
hoành phi câu đối thời
Nguyễn, 24 pho tượng
Phật, Tổ,
Mẫu và tượng
bà chúa là những tượng
nghệ thuật
khá tiêu biểu của
thế kỷ
19. Chùa có 6 tấm bia
đá, 7 hoanh phi, 3
chuông đồng lớn
nên hiệu Gia Long 12
(1813), Tự
Đức 31 (1879), Tự
Đức 34 (1881).
Chùa
đã
được Bộ
Văn hóa và thông tin xếp
hạng di tích kiến
trúc, nghệ thuật
ngày 2.10.1991.
83. CHÙA PHỤNG
THÁNH^
Chùa Phụng
Thánh hiện
ở ngõ Cống
Trắng, phố
Khâm Thiên, phường Trung
Phụng, quận
Đống
Đa, Hà Nội.
Chùa Phụng
Thánh cũng như
làng Phụng Thánh
được lý giải
bằng truyền
thuyết rất
xưa liên quan
đến vương
triều Lý (1010 - 1225).
Theo truyền
thuyết vào thế
kỷ 12, dưới
triều Lý, có một
công chúa rất xinh
đẹp, nàng quan tâm
đến
đời sống
của nhân dân và phong cảnh
đất nước.
Một hôm nàng xin phép
vua cha cho đi du ngoạn
trên một chiếc
thuyền. Khi con thuyền
đưa nàng công chúa
đến một
chiếc hồ
lớn thì gặp
một cơn
giông, làm thuyền bị
đắm chết.
Nhà vua bèn sai quân lýnh vớt
xác, nhưng công chúa
đã làm nhiều
điều
thiện giúp dân nên
được hóa Phật.
Để tưởng
nhớ công lao của
nàng, dân quanh vùng đã
chọn mảnh
đất quanh hồ
để xây miếu
thờ. Sau
đó dân làng lại
đóng góp công sức
xây dựng nên ba gian nhà
gỗ
ở phía sau miếu
để thờ
Phật.
Đó là tiền
thân của di tích chùa Phụng
Thánh.
Sau một
thời gian tồn
tại lâu dài,
đến thời
Tây Sơn, di tích nằm
trong khu vực chiến
trường
Đống
Đa, nên chùa bị
hủy hoại.
Sau cơn bin hòa,
đến thời
Nguyễn, chùa
được phục
hồi vào năm
Ất Mão (1855) và năm
Ất Sửu
(1865). Đến
đêm 26-12-1972 chùa bị
bom B52 Mỹ phá sập
khu chùa chính. Năm 1973
nhà sư
Đàm Ánh trụ
trì tại chùa
đã tiến
hành xây dựng lại
di tích như hiện
nay.
Di tích
được dựng
trên một khu
đất bằng
phẳng và có một
khuôn viên rộng lớn
bao quanh. Chùa quay mặt
về hướng
nam, trông ra hồ nước
rộng. Trước
đây,
đi tích bao gồm
tam quan, chùa chính, nhà tổ,
nhà ngang, sân sạch và
khu vườn rộng
bao quanh. Do sự phát
triển dân cư,
tam quan chùa không còn, nên lối
vào chùa hiện nay là một
lối nhỏ,
cửa gỗ
dẫn vào hành lang nhà tổ
và nhà Mẫu.
Các bộ
phận kiến
trúc chùa Phụng Thánh
được xếp
đặt trên trục
bắc - nam. Sau chùa
chính là sân gạch vuông
dẫn tới
nhà Tổ, hai dãy dải
vì nằm song song với
hậu cung chùa và và sân
gạch tới
hiên trước nhà Tổ.
Chùa chính thờ
Phật, trong chùa lưu
giữ 29 pho tượng
tròn, trong số
đó có 21 tượng
hệ Phật
điện,
8 pho tượng Mẫu,
2 quả chuông
đồng,
đồ gốm
sứ,
đồ gỗ,
các bức
đại tự,
câu đối sơn
son thếp vàng, bia
đá.
Chùa vẫn
bảo lưu
được nhiều
nét đẹp của
kiến trúc truyền
thống,
đó là sự
hài hòa giữa kiến
trúc và cảnh quan, giữa
các bộ phận
kiến trúc với
nhau. Các pho tượng cổ
có giá trị là những
tác phẩm nghệ
thuật
điển
hình của thời
Nguyễn.
Chùa
đã
được Bộ
Văn hóa và thông tin xếp
hạng di tích kiến
trúc, nghệ thuật
ngày 16.11.1988.
84. CHÙA QUÁN LA* (KHAI
NGUYÊN TỰ)^
Chùa Quán La
thuộc thôn Quán La, xã
Xuân La, quận Tây Hồ,
Hà Nội.
Chùa cũng
có tên là chùa Hang, vì ở
đây có một
hang cổ. Theo sách “Việt
Điện
u linh tập” của
Lý Tế Xuyên thì chùa và
quán được xây dựng
từ niên hiệu
Khai Nguyên đời
Đường (715).
Đến năm
Thiên Long đời Trần
(1258) thiền sư
Văn Thao dựng
lại thành chùa thờ
Phật, các tăng
ni và phật tử
các nơi
đến lễ
Phật và ngoạn
cảnh rất
đông.
Chùa có tam bảo,
nhà Mẫu và nhà bia. Tòa
tam bảo hình chuôi vồ
có tiền
đường và thượng
điện.
Tiền
đường gồm
5 gian xây kiểu “tường
hồi bít
đốc”. Thượng
điện
gồm 3 gian. Chùa còn lưu
giữ
được những
mảnh chạm
khắc cổ
thế kỷ
19. Hệ thống
tượng Phật
đầy
đủ, mới
xen cũ.
Chùa (và
đình)
đã
được Bộ
Văn hóa và thông tin xếp
hạng di tích kiến
trúc, nghệ thuật
ngày 31.1.1992.
85. CHÙA QUÁN SỨ^
Chùa Quán Sứ
ở thông An Tập,
huyện Thọ
Xương, nay là số
nhà 73 phố Quán Sứ,
Quận Hoàn Kiếm,
Hà Nội.
Vào khoảng
thời Trần
Dụ Tông (1341 - 1369),
ở cạnh
khu vực này có nhà công
quán của triều
đình dùng
để
đón tiếp
sứ giả
của các nước
ngoài như Chiêm Thành, Vạn
Tượng, Nam Chưởng
(Lào và bắc Lào hiện
nay). Các sứ thần
đều theo
đạo Phật
nên ở cạnh
công quán có lập một
ngôi chùa để các sứ
thần
đến lễ
Phật, vì thế
nên chùa có tên là chùa Quán Sứ.
Về sau nhà công quán bị
hủy bỏ
nhưng ngôi chùa vẫn
còn được giữ
lại.
Trong chùa
ở tiền
đường thờ
Phật, hậu
đường thờ
quốc sư
triều Lý và thiền
sư Không Lộ…
Chùa có 12 bia đá, theo
bia “Quán Sứ tự
công đức bi ký” dựng
năm
Ất Mão (1855) do tiến
sĩ khoa Mậu
Tuất (1838),
đốc học
Thanh Hóa Lê Hy Vĩnh soạn
thì: Vào đầu triều
Gia Long, quân lýnh đóng
ở
đồn Hậu
Quân ở cạnh
chùa, nhờ có phó tướng
Vĩnh Tài lưu
tâm đến
đạo Phật
nên chùa không bị phá hủy.
Đến năm
1822 chùa được sửa
sang làm chỗ lễ
bái cầu
đạo cho quân nhân. Sau
lýnh rút đi, khu
đất trống
được trả
lại cho dân làng sở
tại. Nhà sư
Thanh Hương
đến trụ
trì, làm hành lang, đúc
tượng,
đúc chuông. Học
trò là Văn Nghiêm kế
nghiệp, khuyến
hóa mười phương,
tu bổ những
chỗ hư
hỏng, tô tượng
và đắp thêm 27 pho nữa.
Đến năm
1934, hội Phật
giáo Bắc Kỳ
lấy chùa làm hội
quán. Năm 1942, chùa
được xây lại
theo quy mô kiến trúc và
trang trí nội thất
như ta thấy
ngày nay. Năm 1958, hội
Phật giáo thống
nhất Việt
Nam được thành lập,
đã lấy
chúa Quán Sứ làm trụ
sở.
86. CHÙA QUANG MINH (QUANG
MINH TỰ)^
Chùa Quang
Minh hiện nay thuộc
số nhà 13, phố
224, phường Văn
Miếu, quận
Đống
Đa, Hà Nội.
Theo tư
liệu hiện
còn như 3 tấm
bia “Tao tự bi kí”, “Kỷ
niệm bi kí” và “Hậu
Phật bi kí”, thì chùa trước
kia (thời Thành Thái
1893) ở thôn Văn
Tân (phố Sinh Từ,
nay là phố Nguyễn
Khuyến),
đến năm
1908 (Duy Tần 2), nhận
thấy chùa cũ
ở
đất chật
khó có thể làm nơi
mới quy mô “khai quang
nhật nguyệt”
nên nhà sư trụ
trì ở
đây
đã chuyển
đến chỗ
hiện nay. Cũng
như những
ngôi chùa khác, chùa Quang Minh thờ
các chư vị
Phật, song cạnh
đó còn có
điện
thờ Mẫu.
Chùa Quang
Minh gồm một
số lớp
kiến trúc: Ngoài cùng là
tam quan xây bằng gạch,
tiếp
đến là tiền
đường nối
với tam bảo
thành hình chữ
đinh, cạnh
đó có
điện
Mẫu và nhà Tổ.
Kiến
trúc tòa tiền
đường bộ
có vì nóc làm kiểu giá
chiêng, tiếp
đến phần
cốn nách kiểu
chồng giường
nằm giữa
cột cái và cột
quân và giữa cột
quân với cột
hiên được liên kết
bằng chiếc
kẻ. Phần
chuôi vồ kết
cấu giản
đơn theo kiểu
giá chiêng. Ở tòa này
không có trang trí gì, cấu
kiện
được bào trơn
đóng bén. Nếp
nhà Tổ và
điện
Mẫu có mặt
bằng chữ
đinh, kiến
trúc đơn giản
bào trơn
đóng bén, không chạm
khắc gì. Chùa có nhiều
tượng Phật.
Đáng chú ý là bộ
Di Đà Tam Tôn mang dấu
ấn nghệ
thuật thời
Lê Trung hưng. Ngoài ra
các tượng khác
đều
được tạo
tác dưới thời
Nguyễn. Chùa còn có vài
bộ cửa
võng, khám thờ, y môn,
hoành phi và 13 tấm bia.
Chùa
đã
được Bộ
Văn hóa và thông tin xếp
hạng di tích kiến
trúc, nghệ thuật
ngày 21.6.1993.
87. CHÙA QUẢNG
BÁ (HOÀNG ÂN TỰ)^
Chùa Quảng
Bá thuộc xã Quảng
An, quận Tây Hồ,
Hà Nội.
Chùa Quảng
Bá là một ngôi chùa
được xây dựng
từ lầu
đời. Văn
bia ghi tên cũ của
chùa là Long Ân, do công chúa tiền
triều tên húy Ngọc
Tú dựng nên, vào năm
Mậu Thìn
đời vua Lê Vĩnh
Tộ (1628).
Đời vua Minh Mạng
năm thứ
hai, Thánh tổ
đổi tên là Sùng Ân,
đời Thiệu
Trị 2
đổi tên là Hoàng Ân và
hiện nay mang tên “Hoàng
Ân tự”.
Hiện
nay ở chùa chưa
tìm được dấu
vết khởi
dựng từ
xa xưa. Căn
cữ vào tấm
bia có niên hiệu Vĩnh
Trị 2 nói rằng
chùa xây dựng năm
1628. Cùng với kiểu
dáng kiến trúc, nghệ
thuật tạc
tượng, hoa văn
trang trí, ta có thể biết
chùa được xây dựng
vào thế kỷ
17. Chùa được tu sửa
lớn vào những
năm 1844, 1923.
Chùa Quảng
Bá do các thiền sư
thuộc thiền
phái Tào Động trụ
trì.
Chùa Quảng
Bá gồm có: Vườn,
chùa chính, nhà Mẫu,
hành lang, tăng phòng,
nhà tổ, gác, khu phụ,
vườn tháp.
Chùa chính
(tiền
đường và hậu
cung) gồm 5 gian, lợp
ngói ta, bờ nóc và bờ
dải chạy
thẳng, chính giữa
đắp hổ
phù đội mặt
trời. Trước
hiên là hai cột trụ
biểu, trên nóc
đắp hình búp sen. Kiến
trúc chùa chủ yếu
làm theo lối bào trơn
đóng bên với
hình thức chồng
giường con nhị
kèo ngồi xa nách. Gian
giữa có hệ
thống cửa
bức bàn. Các mảng
chạm kỹ
lưỡng với
với những
mảnh chạm
điển
hình của Huế.
Nền chùa và hậu
cung lát gạch Bát Tràng.
Hậu cung 3 gian xây liền
vào tiền
đường, tạo
cho mặt chùa chính có dạng
chuôi vồ. Nhà Mẫu,
nhà khách, nhà tổ kết
cấu
đơn giản,
vùa phải, không rườm
rà.
Chùa Quảng
Bá còn lưu giữ
được nhiều
hiện vật
quý. Gồm có chuông
đồng, ( Quả
chuông lớn cao 1,50 mét,
đường kính 0,80 m
đúc thời
vua Lê Hiển Tông (1743).
Vai chuông khắc 4 chữ
nổi “Long Ân tự
chung”. Thân chuông chia làm 4 múi, mỗi
múi có 3 tượng nổi,
cộng có 12 tượng
tiêu biểu cho 12 tháng
trong một năm.
Chuông được treo
ở góc phải
nhà đại bái); 33 tấm
bia từ thế
kỷ thứ
19 đến thế
kỷ 20; 30 pho tượng
có niên đại từ
thế kỷ
17 đến thế
kỷ 20. Hệ
thống tượng
tròn của chùa khá
đầy
đủ với
những pho tượng
có giá trị nghệ
thuật cao, như:
Quan Âm Nam Hải tạc
vào thế kỷ
17 - 18, các pho tượng
Tam Thế, A Di
Đà
được làm vào thế
17 - 18. Tượng Di Lặc
là một trong những
tượng
đẹp nhất
của chùa, tượng
ngồi tự
nhiên, nét mặt tươi
cười hoan hỉ,
v.v…
Vường
tháp của chùa là nơi
an táng các vị hòa thượng.
Đặc biệt
có tháp của hòa thượng
Phạm Ngọc
Đạt, hiệu
Bình Lượng Giác Minh,
viên tịch 3 - 1968 tại
Hà Nội, là ân nhân của
Hồ Chủ
tịch khi người
còn hoạt
động bí mật
ở Thái Lan. Trong thời
kỷ kháng chiến
chống Pháp, chùa là cơ
sở cách mạng,
nhà tổ còn dấu
vết của
hầm bí mật,
gác cao của nhà chùa là
địa
điểm
quan sát rất thuận
lợi trong những
lần cán bộ
hội họp,
các nhà sư hết
lòng giúp đỡ cán bộ.
Chùa
đã
được Bộ
Văn hóa và thông tin xếp
hạng di tích kiến
trúc, nghệ thuật
ngày 2.10.1991.
88. CHÙA QUỲNH
ĐÔ* (BẠCH
MINH TỰ)^
Chùa Quỳnh
Đô thuộc
thôn Quỳnh
Đô, xã Vĩnh
Quỳnh, huyện
Thanh Trì, ngoại thành
Hà Nội, cách trung tâm
thành phố khoảng
12km về phía tây nam.
Đường
đi theo Quốc
lộ số
I, đến thị
trấn Văn
Điển,
rẽ tay phải
chừng 2 km là
đến di tích.
Chùa Quỳnh
Đô
được xây dựng
khá lâu đời, trên một
khu đất cao nhìn ra hướng
đông nam. Chùa có tam
quan, tòa tam bảo, nhà
khách và nhà Tổ. Tòa tam
bảo có một
nhà mặt bằng
hình chuôi vồ. Tiền
đường gồm
5 gian, thượng
điện
gồm 3 gian. Chùa Quỳnh
Đô còn giữ
được nhiều
mảng chạm
khắc và một
số di vật
mang phong cách nghệ thuật
thế kỷ
18 - 19. Hệ thống
tượng Phật
đầy
đủ, một
số
được tạc
vào thế kỷ
19.
Chùa (và
đình)
đã
được Bộ
Văn hóa và thông tin xếp
hạng di tích kiến
trúc, nghệ thuật
ngày 5.9.1989.
89. CHÙA SEN HỒ*
(VẠN XUÂN TỪ)^
Chùa Sen Hồ
ở làng Sen Hồ,
xã Lệ Chi, huyện
Gia Lâm, ngoại thành Hà
Nội, cách trung tâm
thành phố vào khoảng
20 km về phía
đông bắc.
Đi qua cầu
Chương Dương,
đến cầu
Chui, rẽ tay phải
theo đường số
5, đến Phú Thị,
rẽ trái
độ 5km là
đến cụm
di tích.
Chùa Vạn
Xuân tọa lạc
ngay sát cạnh bên phải
của ngôi nghè. Chùa có
quy mô nhỏ, xinh xắn,
kiến trúc kiểu
chữ
đinh. Trước
tiền
đường là một
sân gạch nhỏ,
sát phía ngoài của sân
là cây hương
đá thời
Lê Trung hưng (thế
kỷ 18).
Nhà Tiền
đường xây theo kiểu
“tường hồi
bít đốc tay ngai”. Phía
trước của
đầu tường
hồi xây 2 trụ
biểu cao gần
ngang với nóc mái. Trụ
biểu cũng
như các kiến
trúc cổ khác, hình
vuông, trên đỉnh có
đắp 4 chim phượng
chụm
đuôi vào nhau thành một
trái dành. Chùa lợp ngói
ta. Bờ nóc
đắp dạng
bờ
đinh, chính giữa
là một mảng
tường nhỏ
ghi tên chùa là “Vạn
Xuân tự”.
Kiến
trúc chùa đơn giản
hơn
đình và nghè, phần
lớn là bào trơn,
bào xoi, không có chạm
khắc cầu
kì. Giá trị chủ
yếu của
chùa tập trung vào hệ
thống tượng
tròn, có khá nhiều tượng
đẹp, kích thước
lớn bằng
người thật
và đặt trên bệ
cao dần từ
ngoài vào trong. Các pho tượng
Tam Thế, A Di
Đà, Thế
Tôn, Quan Âm Nam Hải, Tứ
Bồ Tát, Kim
Đồng, Ngọc
Nữ
được tạo
tác từ thời
Lê Trung hưng, số
còn lại làm vào thời
Nguyễn. Tất
cả 39 pho tượng
là một sưu
tập quý giá nhất
của chùa.
Ngoài ra,
chùa còn có một quả
chuông đồng mang tên “Vạn
Xuân tự chung”, cao
1,13m, đường kính 0,48m,
đúc năm
1845, tiếng kêu
ấm và vang xa.
Chùa (và
đình, nghè)
đã
được Bộ
Văn hóa và thông tin xếp
hạng di tích kiến
trúc, nghệ thuật
ngày 22.4.1992.
90. CHÙA SỞ
(PHÚC KHÁNH TỰ)^
Chùa có tên
chữ Phúc Khánh tự.
Chùa hiện
ở số
nhà H171, tổ 1, phường
Thịnh Quang, quận
Đống
Đa, Hà Nội.
Theo truyền
thuyết của
dân làng thì chùa Sở
được xây dựng
từ cuối
đời Trần
do việc mở
mang vùng ngoại vi thành
Thăng Long, vào thời
Lê sơ là nơi
dạy dỗ,
đào tạo
các phật tử
để tu thành chính quả.
Về sau chùa Quán Sứ
được dựng
lên thì chùa Sở mất
đi vị
trí đào tạo
tăng ni, phật
tử.
Theo bài minh
trên quả chuông
đúc tại
chùa đề năm
1796 thì chùa Sở, trại
Thịnh Quang bỗng
nhiên gặp cơn
binh hỏa, phật
đài, tịnh
xá, nền móng
đổ nát. Có vị
tăng
đồ chùa Trấn
Quốc
đi qua,
được dân thôn ái mộ
mời
ở lại
để trụ
trì. Dân đã bỏ
sức, cúng tiền,
khuyến cáo thập
phương hợp
sức xây lại
chùa. Năm Bính Thìn,
đô
đốc Trần
Văn Lễ
cúng thí của,
đúc chuông to và pho tượng
Cửu Long
để làm sự
tích truyền mãi
đời
đời.
Tam quan chùa
Sở làm kiểu
hai tầng, cửa
giữa lớn,
cửa bên nhỏ
hơn, phía bên trên làm
kiểu gác chuông. Hai bên
tam quan xây hai trụ biểu,
phía bên trên mỗi biểu
đắp hình con sấu
chầu vào nhau. Thân trụ
trang trí ô hộc,
đắp chữ
Hán.
Quan tam quan
đến sân chùa lát gạch
và tam bảo. Tam bảo
gồm có nhà tiền
đường và hậu
cung, kết cấu
mặt bằng
kiểu chuôi vồ.
Tiền
đường 5 gian làm theo kiểu
“đầu hồi
bít đốc”. Chính giữa
bờ nóc
đắp nổi
một hình cuốn
thư, bên kiếm,
bên bút lông. Mặt bằng
tiền
đường theo kiểu
4 hàng chân, vì kết cấu
kẻ chuyền
giá chiêng. Các bức cốn
nách trang trí chạm khắc
tứ quý; hiện
có 6 cột
đá vuông, xung quanh chạm
đề tài tứ
quý.
Hậu
cung 3 gian, vì làm kiểu
chồng giường.
Nhà tổ
4 gian, vì làm kiểu kè
chuyền.
Đáng chú ý trong chùa
còn giữ
được hiện
vật rất
quý là quả chuông
đúc từ
thời Tây Sơn,
do đô
đốc Trần
Văn Lễ
hiến. Hai mươi
pho tượng trong chùa, có
nhiều pho
được làm từ
thời Tây Sơn
có giá trị cao trong kho
tàng nghệ thuật
Việt Nam. Bên cạnh
các pho tượng chùa, còn
giữ
được những
hiện vât nghệ
thuật giá trị
như cửa
võng, bia đá…
Chùa
đã
được Bộ
Văn hóa và thông tin xếp
hạng di tích kiến
trúc, nghệ thuật
ngày 16.11.1988.
91. CHÙA SÙNG PHÚC* (SÙNG
KHÁNH TỰ)^
Chùa Sùng
Phúc thuộc xã Long Biên,
huyện Gia Lâm, ngoại
thành Hà Nội. Qua cầu
Chương Dương
đi theo bờ
đê sông Hồng
về phía dưới
khoảng 5 km là
đến di tích.
Chùa Sùng
Phúc được xây dựng
trên một khu
đất cao,
đẹp, các bộ
phận kiến
trúc theo quy hoạch tạo
thành quần thể
hoàn chỉnh, hợp
lý, thanh u, tĩnh mịch
của cửa
thiền.
Chùa chính có
kết cấu
kiểu chữ
đinh, bao gồm
tiền
đường, thiêu hương
và thượng
điện.
Giống như
các ngôi chùa được quy
hoạch lại
vào thời Nguyễn,
tòa thiêu hương và thượng
điện
của nhà chùa
được nhập
lại thành một
nếp nhà dọc
gắn với
tiền
đường. Các nếp
nhà đó
được xây dựng
bao quanh để tạo
ra không gian khép kín cho chùa.
Nhà tiền
đường gồm
5 gian xây gạch, kiểu
tường hồi
bít đốc, tay ngai, mái lợp
ngói ta.Chính giữa bờ
nóc, có xây mảng tường
ghi tên chùa “Sùng Phúc tự”
bằng chữ
Hán. Nền nhà trên cao hơn
mặt sân 30 cm, gian giưũa
để trống
thông với thượng
điện.
Các gian bên xây bệ thờ
các nhân vật. Trên các
xà đại trước
bệ tượng
được treo các hoành phi,
y môn, cửa võng sơn
son thếp vàng lộng
lẫy.
Thượng
điện
gồm 4 gian, cấu
trúc đơn giản,
bào trơn, bào soi. Chỉ
một số
con giường,
đầu kẻ
có chạm nổi
bong kênh văn mây, rồng
lá. Giá trị chủ
yếu về
nghệ thuật
điêu khắc
ở chùa tập
trung ở hệ
thống tượng
tròn được tạo
tác từ thế
kỷ 18 - 19. Tổng
số có 26 pho, trong
đó có các pho A Di
Đà, Quan Âm Thế
Chí, Quan Âm Chuẩn
Đề, Thế
Tôn, Văn Thù, Phổ
Hiền có niên
đại cuối
thế kỷ
18, số còn lại
là cuối thế
kỷ 19. Tượng
Thích Ca ở trên cửa
võng là một tác phẩm
điêu khắc
có giá trị cao. Tượng
A Di Đà ngồi
trên tòa sen cũng là một
tác phẩm
đẹp của
thế kỷ
17 - 18, được nhiều
người ca ngợi.
Chùa
đã
được Bộ
Văn hóa và thông tin xếp
hạng di tích kiến
trúc, nghệ thuật
ngày 2.10.1991.
92. CHÙA SÙNG QUANG (SÙNG
QUANG TỰ)^
Chùa Sùng
Quang thuộc xã Cổ
Nhuế, huyện
Từ Liêm, Hà Nội.
Chùa Sùng
Quang tương truyền
do công chúa Minh Hiền,
con vua Lý Thái Tổ, cúng
tiền xây dựng,
nhưng
đến nay không còn dấu
vết gì. Trong tâm bia
ghi niên đại Cảnh
Hưng thứ
6 (1745) ở chùa thì người
đứng ra xây dựng
chùa lại là bà Ngô Thị
Hậu, vợ
một người
họ Chu làm chánh tổng.
Trải qua thời
gian chùa đã
được sửa
chữa nhiều
lần.
Chùa Sùng
Quang được xây dựng
tại xã Cổ
Nhuế. Chùa quay hướng
tây. Ngoài cùng là tam quan tạo
dựng kiểu
nhà vuông hai tầng tám
mái. Trang trí điêu khắc
tập trung
đậm
đặc
ở 16 cốn
nách với
đề tài tứ
linh, tứ quý. Chùa chính
gồm tiền
đường 5 gian, hậu
cung 3 gian và sau hết
là nhà hậu quay hướng
đông, nhà Tổ
và điện
thờ Mẫu.
Hệ
thống tượng
Phật của
chùa gồm 30 pho, tiêu biểu
là bộ Tam Thế,
Quan Âm Chuẩn
Đề và Bát Bộ
Kim Cương. Tượng
đều có niên
đại thế
kỷ 19. Bia
đá có 11 tấm,
sớm nhất
có niên đại Cảnh
Hưng thứ
6 (1745). Đồ gỗ
có rất nhiều,
như: 10 câu
đối, 15 bức
hoành phi, một khám thờ
và 2 kiệu
đồ
đồng, có 2 quả
chuông niên đại Thành
Thái và Duy Tân.
Với
những mảng
trang trí điêu khắc
tiêu biểu
ở tam quan và rất
nhiều cổ
vật quý, chùa Sùng Quang
đã
được Bộ
Văn hóa và thông tin xếp
hạng di tích kiến
trúc, nghệ thuật
ngày 21.6.1993.
93. CHÙA TÀM XÁ* (LINH
ỨNG TỰ)^
Chùa Tàm Xá
thuộc thôn Tàm Xá, xã
Tàm Xá, huyện
Đông Anh, ngoại
thành Hà Nội. Chùa cách
trung tâm thành phố 30km
về phía tây bác.
Qua tấm
bia mới tìm thấy
thì chùa đã
được xây dựng
từ thế
kỷ 17 và là nơi
cảnh
đẹp trong vùng. Chùa
chính có mặt bằng
xây dựng hình chữ
đinh trên nền
cao 40cm so với sân,
xung quanh có tường vây
kín. Tiền
đường gồm
3 gian, các vì kèo kiểu
quá giang, gian giữa
chùa nối liền
với thượng
điện.
Ngoài ra còn nhà Tổ và
nhà khách. Trong thượng
điện
được xây bệ
cao, ở giữa
để
đặt tượng
Phật. Dọc
hai tường bên có bệ
hẹp và lối
đi trong khi hành lễ
và chạy
đàn. Về
kiến trúc, chùa Linh
Ứng rất
đơn giản.
Chùa có 40 pho tượng
(trong đó có 10 pho tượng
được làm từ
thời Lê). Hầu
hết tượng
được tạo
tác khá công phu, với
nhiều nét dân gian và
truyền thống
điêu khắc
Việt Nam. Chùa còn có bức
võng chạm tứ
linh (thế kỷ
XIX), long ngai va một
chuông đồng “Linh
Ứng tự
chung” cao 118 cm, đúc
thời Tự
Đức. Chùa có một
bia đã cao 1,60 m, rộng
82 cm, được tạo
dựng từ
cuối Lê, có nét nghệ
thuật trang trí thời
Lê.
Chùa
đã
được Bộ
Văn hóa và thông tin xếp
hạng di tích kiến
trúc, nghệ thuật
ngày 11.3.1992.
94. CHÙA TÀO SÁCH^
Chùa Tào Sách
thuộc xã Nhật
Tân, quận Tây Hồ,
Hà Nội. Chùa Tào Sách có
tên nôm là chùa thôn Nam theo cách gọi
phân chía địa lý của
xã Nhật Tân gồm
4 thôn: Nhật Tân Bắc,
Nhật Tân
Đông, Nhật
Tân Tây và Nhật Tân Nam.
Cũng
như nhiều
ngôi chùa khác, chùa Tào Sách là kiến
trúc tôn giáo thờ Phật
nằm trên một
vùng mang nhiều dấu
án lịch sử
xa xưa. Niên
đại khởi
dựng ngôi chùa hiện
nay chưa tìm thấy
cứ liệu
chínhh xác, nhưng theo
dòng chữ khắc
trên câu đối
ở
đài kỷ
niệm thì chùa có thể
làm vào thời Tiền
Lê:
“Đài
kỷ niệm
thành năm Quý Tỵ,
(1943)
Chùa Tào Sách
sáng và của Tiền
Lê”.
Và hàng chữ
nữa
được tạc
trên bia thời Bảo
Đại: “Hà
Đông tỉnh,
Hoàng Long huỵen, thượng
tổng Nhật
Tân xã, Tào Sách tự - tự
Tiền Lê chi sử
kiến lập”.
Đáng lưu
ý là chùa Tào Sách - sơn
môn của thiền
phái Tào Động, mà chốn
tổ khai sơn
là chùa Hồng Phúc (Hòe
Nhai), cùng các sơn môn
khác như chùa Quảng
Bá, chùa Châu Long, chùa Phổ
Giác, chùa Ngũ Xá (ở
Gia Lâm), chùa Bồ
Đề, chùa Mọc
(chùa Quan Nhân), chùa Trung Kính, chùa Mễ
Trì Thượng, chùa Quán La
(Từ Liêm).
Chùa Tào Sách
ngự trên dải
đất cao, liền
kề nước
Hồ Tây. Chùa gồm
một số
công trình kiến trúc:
Tòa tiền
đường và tam bảo
có mặt bằng
hình chữ
đinh,
đài kỷ
niệm, nhà Mẫu,
nhà tổ…
Tòa tiền
đường là kiến
trúc có 6 hàng chân cột,
xây kiểu tường
hồi bít
đốc. Bộ
vì nóc kết cấu
kiểu “giá chiêng kẻ
ngồi”, phần
cốn cũng
là kẻ ngồi.
Liên kết cột
hiên và cột quân bằng
chiếc kẻ
chuyền tạo
đáng cổ
ngỗng. Phần
chuôi vồ bộ
vì kéo có kết cấu
tương tự.
Tòa nhà này ít được
trang trí, ngoại trừ
một vài mô típ hoa lá
cách điệu
ở chiếc
kẻ hiên và
đầu bẩy,
phong cách xây dựng thời
Nguyễn.
Đài kỷ
niệm là kiến
trúc nhỏ xây kề
tam bảo làm kiểu
phương
đình với
2 tầng 8 mái lối
chồng diêm. Vật
liệu cốt
bằng gạch
với mái giả
ngói ống. Bộ
vì này làm vào thời Bảo
Đại (1927).
Nhà Mẫu
và nhà tổ làm kiểu
“tường hồi
bít đốc”. Kết
cấu vì kèo
đơn giản,
chủ yếu
là bào trơn,
đóng bén, không có trang
trí các cấu kiện.
Hiện
vật còn lại
của di tích khá phong
phú với 29 tấm
bia, sớm nhất
mang niên hiệu Cảnh
Hưng, số
còn lại thời
Nguyễn. Chùa còn giữ
được một
số tượng
Phật, tượng
Mẫu. Nhìn chung các pho
tượng phần
lớn có phong cách nghệ
thuật thế
kỷ 19 - 20. Trong số
đó 3 pho Tam Thế
được làm nửa
cuối thế
kỷ 18 là sớm
hơn cả.
Chùa
đã
được Bộ
Văn hóa và thông tin xếp
hạng di tích kiến
trúc, nghệ thuật
ngày 23.7.1993.
95. CHÙA THÁI CAM* (TÂN
KHAI LINH TỰ)^
Chùa Thái Cam
ở số
nhà 44 phố Hàng Vải,
phường Hàng Bồ,
quận Hoàn Kiếm,
Hà Nội. Chùa cũng
có tên là Thái Can.
Theo bia “Bản
tự chân chuyện
bi ký” dựng năm
1845 thì chùa Thái Cam được
xây dựng cùng với
đình Thái Cam vào năm
1822, là năm thành lập
thôn Tân Khai trên khu đất
hoang ven đường phía
đông thành cũ
đời Lê. Chùa
đã
được tu sửa
nhiều lần.
Chùa gồm
tiền
đường và hậu
cung, có quy mô kiến
trúc vừa phải
cho một làng. Chùa có
đầy
đủ tượng
Phật, ngoài ra có tượng
Đức Thánh Trần
Hưng
Đạo
để cùng thờ
cúng.
Chùa (và
đình)
đã
được Bộ
Văn hóa và thông tin xếp
hạng di tích kiến
trúc, nghệ thuật
ngày 9.1.1990.
96. CHÙA THANH AM* (ĐÔNG
LINH TỰ)^
Chùa Thanh Am
ở thôn Thanh Am, xã Thượng
Thanh, huyện Gia Lâm,
ngoại thành Hà Nội.
Chùa cách trung tâm thành phố
vào khoảng 8km về
phía tây bắc.
Đường
đi qua cầu
Chương Dương,
cầu Chui.
Chùa Thanh Am
được xây dựng
từ khá lâu
đời cùng với
đình Thanh Am. Làng
Thanh Am do Nguyễn Bỉnh
Khiêm, khi làm quan ở
kinh đô dưới
triều Mạc,
đã
đưa con cháu và dân làng
tới
định cư
ở
đây và xây dựng
thành. Lúc mới thành lập
làng có tên là Hoàng Am.
Chùa Thanh Am
có tiền
đường và hậu
cung, nhà Tổ,
đều
đã
được sửa
chữa mới
trong những năm
gần
đây. Chùa có
đủ tượng
Phật mang phong cách
điêu khắc
thế kỷ
19 và một quả
chuông đúc năm
Cảnh Thịnh
nguyên niên (1793).
Chùa (và
đình)
đã
được Bộ
Văn hóa và thông tin xếp
hạng di tích kiến
trúc, nghệ thuật
ngày 9.1.1990.
97. CHÙA THANH NHÀN^
Chùa Thanh
Nhàn có tên chữ là
“Thanh Nhàn tự”
ở phố
Đê La Thành, phường
Ô Chợ Dừa,
quận
Đống
Đa, Hà Nội.
Theo tấm
bia “Nghĩa Phê tạo
điình bi ký” (Bài kí về
việc dựng
đình Nghĩa
Phê) dựng năm
Nhâm Thân, niên hiệu
Chính Hòa 13 (1692), nay là trụ
sở công an phường
Ô Chợ Dừa,
cho biết: “đình
Nghĩa Phê nằm
ở ngang
Đàn Xã Tắc”.
Trên tấm bai trụ
4 mặt “Cao sơn
Hưng miếu”
(miếu Cao Sơn
và Tây Hưng) dựng
ngày 5 - 5 âm lịch
đời vua Chính Hòa (1680
- 1705) có đoạn:
“Đình
Đông Các bên hữu
về phía Bạch
Hổ, dãy núi bao bọc,
đình cao ngang xấp
xỉ chùa Thanh Nhàn”. Như
vậy vào khoảng
thế kỷ
17 đã có chùa Thanh
Nhàn. Sang thế kỷ
18 chùa bị hư
hại, tướng
quân họ
Đô làm thái bảo
triều Lê
đã
đứng ra sửa
chữa chùa, hiện
còn bia và tượng quan
thái bảo
ở chùa.
Đầu thế
kỷ 19, năm
1810, tu sửa chùa,
đúc chuông, năm
1895 chữa tòa tam bảo,
1901 chữa tòa hậu
đường, năm
1946 sửa từ
vũ. Chùa hiện
nay còn tòa tam bảo hình
chuôi vồ, tiền
đường 3 gian 2 chái, tượng
Phật có giá trị.
Trong chùa còn có 2 phù điêu
chân dung 2 vị tướng
dòng hộ
Đỗ có công tu sửa.
Chùa
đã
được Bộ
Văn hóa và thông tin xếp
hạng di tích kiến
trúc, nghệ thuật
ngày 21.1.1989.
98. CHÙA THÁNH CHÚA^
Chùa gọi
là Thánh Chúa hoặc Thánh
Chủ
ở thôn Hậu,
xã Dịch vọng,
huyện Từ
Liêm, Hà Nội. Chùa cách
trung tâm thành phố vào
khoảng 7km về
phía tây, trên đường từ
Hà Nội
đi Sơn
Tây. Chùa nằm giữa
khuân viên trường
Đại học
Sư phạm
I (Đại học
Quốc gia).
Chùa
được xây dựng
từ lâu. Sách Đại
Việt sử
kí toàn thư, kỷ
nhà Lý - Lý Thánh Tông, có chép rằng:
“Vào năm Quý Mão (1064),
vua Lý Thánh Tông bấy giờ
xuân thì đã nhiều,
tuổi 40, mà chưa
có con trai nối dõi, vua
sai chi hậu nội
nhân Nguyễn Bông làm lễ
cầu tự
ở chùa Thánh Chúa, sau
đó
Ỷ Lan phu nhân có mang,
sinh hoàng tử Càn
Đức, tức
Lý Nhân Tông. Tương truyền
rằng, vua cúng khấn,
cầu tự
khắp các chùa quán. Xa
giá đến
đâu, con trai, con gái
đổ
đến xem. Duy có người
con gái đứng tựa
trong bụi cỏ
lau, vua trông thấy, gọi
đưa vào cung,được
vua yêu phong làm Ỷ Lan
phu nhân. Lúc dó sư
Đại
Điên tu
ở chùa Thánh Chúa, người
có tài pháp thuật
đã xui tên quân hầu
Nguyễn Bông dùng pháp
thuật
đầu thai hóa. Bông nghe
theo, nhưng việc
bị phát giác, Nguyễn
Bông bị
điệu
ra cánh đồng trước
chùa chém đầu”.
Ngày nay chùa
cón cảnh quan khang
trang, thanh tịnh. Tam
quan gạch xây hai tầng,
tầng trên có 3 cửa
tò vò treo chuông, khánh.
Chùa xây hình
chữ
đinh, tiền
đường 7 gian,
đầu hồi
bít đốc, bộ
vì nóc kiểu “chồng
giường giá chiêng”. Trên
kiến trúc trang trí các
hình rồng, phượng,
hổ phù.
Chùa thờ
Phật với
hệ thống
tượng khá phong phú (77
pho) gồm cả
tượng gỗ
và tượng
đất nung, trong
đó có nhiều
pho tượng phong cách thế
kỷ 17. Các hiện
vật gỗ
sơn son thếp
vàng, chạm trổ
tinh tế.
Điện
Mẫu còn một
số pho tượng
mang phong cách nghệ thuật
thế kỷ
19 có giá trị cao. Trong
chùa còn có các đồ thờ
tự như
hoành phi, câu đối, bia
đá, chuông
đồng phản
ánh phong cách nghệ thuật
của các thế
kỷ 17 - 20.
Chùa Thánh
Chúa còn nhiều viên gạch
vồ lớn
giống như
gạch vồ
xây dựng Văn
Miếu, rất
có giá trị về
mặt nghiên cứu.
Chùa
đã
được Bộ
Văn hóa và thông tin xếp
hạng di tích kiến
trúc, nghệ thuật
ngày 21.1.1989.
99. CHÙA THIÊN NIÊN (TRÍCH SÀI)^
Chùa Thiên
Niên thuộc thôn Trích
Sài, phường Bưởi,
quận Tây Hồ,
Hà Nội.
Theo truyền
thuyết chùa
được xây dựng
từ thời
Lý Nam Đế (544 -548) cho
hai công chúa phụng lễ
trụ trì. Dưới
triều Lý, hai mùa xuân
thu, chùa và miếu
đều có lệ
quốc tế,
giao cho dân địa phương
trông coi phụng thờ.
Đến
đời Lê Thánh Tông chia một
nửa ruộng
đất thôn Trích Sài cho
các cung phi làm thái địa,
hưởng hoa lợi,
đặt tên là Thiên Niên
trang, lập miếu
và điện
cho các cung phi ở
đó phụng
thờ. Nhân trước
miếu có chùa 8 tháp bèn
đời
đến chỗ
đất cao hơn
ở phía trên Hồ
Tây và dựng lại
chùa. Vì trang này gọi
là Thiên Niên trang, nên chùa cũng
gọi là Thiên NIên tự
để thờ
Phật và tu hành. Cuối
đời Lê có quan thái bảo
Đà Quốc
Công sửa lại
chùa và cúng ruộng, nay
còn bia. Đến niên hiệu
Thành Thái 5 (1893) trở
về sau, dân làng mời
nhà sư
đến mở
rộng phòng
ở, sửa
mới lại
chùa, tô thêm tượng Phật,
đúc lại
chuông đồng.
Kiến
trúc chùa gồm tam quan,
sân, vườn, tam bảo,
nhà Mẫu, nhà tổ,
tăng phòng, bếp
và vườn tháp. Tam quan vẫn
giữ dáng vẻ
xưa, cửa
giữa chiếu
thẳng vào tiền
đường. Tiền
đường là một
nếp nhà 5 gian “đầu
hồi bít
đốc”. Các vì làm kiểu
“chồng giường
giá chiêng”, vì nóc trang trí hổ
phù, rồng, hoa lá bằng
thủ pháp chạm
khắc. Thượng
điện
gồm 4 gian. Nhà Tổ
trước
đây 3 gian nay chỉ
còn nền móng. Nhà Mẫu
cũng mới
làm, gồm 5 gian.
Chùa còn nhiều
di vật có giá trị:
34 pho tượng tròn có
niên đại từ
thế kỷ
18 đến 20, 6 hoành phi,
10 câu đối, 2 cửa
võng, 2 nhang án, 1 khám gỗ,
5 ngai thờ, 1 chuông
đồng, 1 lư
hương
đồng, 7 bia
đá, bia
đá có niên hiệu
sớm nhất
là Vĩnh Thịnh
5 (1709).
Chùa (và
đình)
đã
được Bộ
Văn hóa và thông tin xếp
hạng di tích kiến
trúc, nghệ thuật
ngày 31.1.1992.
100. CHÙA THIÊN PHÚC (THIÊN
PHÚC TỰ)^
Chùa Thiên
Phúc có tên là chùa An Trung, là tên gọi
theo thôn An Trung, còn có tên là chùa Tây Cú. Sở
dĩ dân gian gọi
là chùa Tây Cú vì vào khoảng
những năm
20 của thế
kỷ này có bà Nguyễn
Thị Bốn,
vợ một
người Pháp
đứng ra sửa
chữa chùa,
đền và
đình An Trung. Chùa hiện
ở số
nhà 94 phố Hai Bà Trưng,
phường Cửa
Nam, quận Hoàn Kiếm,
Hà Nội.
Tài lêịu
thư tịch
cũ không còn nên không
xác định
được niên
đại cụ
thể cửa
lần xây dựng
đầu tiên. Truyền
thuyết
ở
địa phương
kể rằng
chùa và đền Lý Quốc
Sư
đã
được
đặt móng xây dựng
cùng ngày. Những tư
liệu
đó gợi
ý rằng chùa Thiên Phúc
được xây dựng
từ rất
sớm. Bằng
và kiến trúc hiện
còn có thể
được xây dựng
vào thế kỷ
19.
Chùa Thiên
Phúc quay hướng nam với
tam quan sát hè đường
Hai Bà Trưng, tiếp
đến là một
sân nhỏ chạy
tới chùa chính, hai bên
là hai dãy nhà và điện
thờ Mẫu.
Tam quan chùa
được xây bằng
gạch với
6 hàng cột trụ
có khoảng cách không
đều xung quanh, các cửa
vào được xây gạch
cuốn nối
hai cột với
nhau. Phần trên cùng cửa
chính đắp nổi
hình lưỡng long chầu
nguyệt, bên dưới
trang trí cuốn thư
với 3 chữ
Hán “Thiên Phúc tự”. Qua
tam quan là sân chùa lát gạch
Bát Tràng, rộng 60 mét
vuông, trên sân xây bồn
hoa đắp giả
sơn, chếch
về phía trái là 3 am nhỏ
để thờ
thần. Hai bên là hai dãy
nhà ngang song song với
nhau.
Điện
Thiên Phúc nằm theo hướng
đông trông ra sân chùa,
điện
xây gạch, hai
đầu bít
đốc.
Đền lợp
ngói ta, bờ nóc
đắp vữa
kiểu bờ
đinh, chính nóc mái bằng
hình chữ
đinh với
3 gian tiền tế,
và 2 gian hậu cung. Các
bộ vì làm kiểu
“thượng giường
hạ kẻ”
bẩy hiên, sáu hàng cột.
Chùa chính gồm
5 gian tiền
đường và hậu
cung tạo thành hình chữ
đinh. Chùa
được xây bằng
gạch, mái lợp
ngói tan, các vì làm kiểu
“thượng chồng
giường giá chiêng hạ
kẻ”. Hai bộ
vì gian giữa làm theo kiểu
trốn hai cột
cái, tạo không gian
thoáng rộng chỗ
tiền
đường.
Trong tòa tam
bảo còn có một
hệ thống
tượng Phật
và chư vị.
Trong điện
Mẫu
đặt tượng
Mẫu cùng cô, cậu.
Các tượng
được chế
tác tinh xảo, sơn
son thếp vàng lộng
lẫy.
Chùa
đã
được Bộ
Văn hóa và thông tin xếp
hạng di tích kiến
trúc, nghệ thuật
ngày 31.1.1992.
101. CHÙA THIÊN PHÚC^
Chùa
ở thôn
Đình Công Thượng,
xã Đình Công, huyện
Thanh Trì, Hà Nội. Chùa
cách trung tâm thành phố
khoảng 13 km về
phía Nam. Chùa thờ Phật
và các môn đồ. Theo truyền
thuyết và văn
bia 1832 thì chùa có từ
đời thượng
cổ.
Chùa gồm
tam bảo, nhà Tổ,
nhà Mẫu, nhà khách, nhà
trai, vườn tháp. Tam bảo
hình chuôi vồ, tiền
đường 5 gian, vì kiểu
thượng giường.
Kiến trúc: Chạm
khắc tứ
quý, tứ linh. Cửa
võng chạm hình hoa lá, lưỡng
long chầu nguyệt.
Chùa còn nhiều di vật
đẹp như
câu đối, hoành phi, tượng
A Di Đà phát quang, Tam
Thế, Văn
Thù, Quan Âm, Cao Diếp,
Quan Âm Chuẩn
Đề, Thánh Hiền,
Đức Ông, Thích Ca Sơ
Sinh, Thập
Điện,
Ông Thiện, Ông Ác, phù
điêu
đá thế
kỷ 18, chuông
đồng, bộ
tam sự… chùa còn tấm
bia đá niên hiệu
Cảnh Hưng
24 (1763).
Chùa
đã
được Bộ
Văn hóa và thông tin xếp
hạng di tích kiến
trúc, nghệ thuật
ngày 20.7.1994.
102. CHÙA THIỀN QUANG,
CHÙA QUANG HOA, CHÙA THÁP HOA (THIỀN
QUANG TỰ, QUANG HOA TỰ,
PHÁP HOA TỰ)^
Cụm
di tích hồ Thiền
quang, chùa Thiền Quang,
chùa Quang Hoa, chùa Pháp Hoa thuộc
phường Nguyễn
Du, quận Ha Bà Trưng,
Hà Nội.
Theo tấm
bia “Quang Hoa tự thập
phương bi” hiện
dựng
ở chùa Quang Hoa thì
chùa xưa vốn
ở thôn Quang Hoa, phía
tây thôn Thiền quang
(hai thôn này nằm trong
công viên Lênin hiện
nay). Tấm bia khắc
năm thứ
12 niên hiệu Tự
Đức (1860) ghi việc
dân làng Pháp Hoa góp tiền
của dựng
chùa vào năm 1860. Khoảng
1933 - 1934 thực dân
Pháp đã dời
3 làng Quang Hoa, Thiền
Quang đi nơi
khác để mở
đường và quy
định cho dân các làng
đời chuyển
về vi trí hiện
nay.
Chùa Quang
Hoa quay về hướng
nam, có tam quan, tam bảo
hình chuỗi vồ,
gồm tiền
đường 7 gian, hậu
cung 5 gian, nhà tổ 10
gian, hai dãy nhà ngang, mỗi
dãy 10 gian, vườn tháp.
Chùa Thiền
Quang nằm bên trái chùa
Quang Hoa, ở phía sau là
chùa Pháp Hoa. Tòa tam bảo
5 gian, hậu cung 3 gian,
bên phải là nhà khác,
bên trái có bếp, sau
cùng là nhà Mẫu, nhà nghỉ
và khu vườn tháp có 2
tháp nhỏ.
Chùa Pháp Hoa
ở phía sau chùa Thiền
Quang có tiền
đường 3 gian, thượng
điện
3 gian, mặt bằng
hình chuỗi vồ,
chùa nhỏ, chật
hẹp.
Các chùa bảo
tồn
được nhiều
di vật, tượng
có mang phong cách nghệ
thuật thế
kỷ 19 có giá trị.
Các ngôi chùa kề nhau
trên bờ hồ
Thiền quang từ
lâu đã là nơi
vãn cảnh nghỉ
mát của người
Hà Nội.
Cụm
di tích đã
được Bộ
Văn hóa và thông tin xếp
hạng di tích kiến
trúc, nghệ thuật
ngày 6.11.1989.
103. CHÙA THÔN NHA* (CỔ
LINH TỰ)^
Chùa Thôn Nha
thuộc thôn Nha, xã Long
Biên, huyện Gia Lâm ngoại
thành Hà Nội. Qua cầu
Chương Hương
đi theo bờ
đê sông Hồng
về phía dưới
độ 5 km sẽ
đến di tích.
Chùa thôn Nha
còn có tên gọi là chùa Cổ
Linh. Chùa được xây dựng
trên một khu
đất cao, quay mặt
về hướng
bắc. Kiến
trúc chùa theo kiểu chữ
đinh (J) gồm
tiền
đường, thiêu hương,
thượng
điện.
Thiêu hương và thượng
điện
được nối
liền thành một
nếp nhà dọc
gắn với
tiền
đường. Bao quanh các nếp
nhà có tường gạch.
Nhà tiền
đường gồm
5 gian 2 dĩ. Tiền
tế là một
nhà gạch 7 gian,
đều
được xây kiểu
“tường hồi
bít đốc tay ngai”. Kết
cấu các vì kèo chính “thượng
chồng giường
giá chuyền hạ
kẻ”, các vì bên có dạng
“chồng giường
bẩy hiên”, những
vì hồi làm kiểu
kèo cầu quá giang. Trên
các bộ khung nhà
được trang trí các loại
hoa văn rồng
lá, cây cối, vân mây,
đài sen
được chạm
nổi, chạm
bong kênh trên các câu đầu,
giường, kẻ,
bẩy hiên.
Chùa có 25
pho tượng Phật,
trong số này có 11 pho tạc
từ thời
Lê (thế kỷ
18) và 14 pho thời Nguyễn
(thế kỷ
XIX). Các pho tượng thời
Lê Trung hưng có khuôn mặt
dẹt, ngực
nở, eo thắt,
tư thế
thoải mái,
đài sen nở
rộng theo ghế
ngồi, cánh sen dầy
mập. Các pho tượng
thời Nguyễn
có khuôn mặt dầy
mập, to, mũi
cao, tư thế
gò bó, các mô típ trang trí trên mũi,
áo, quần rất
phổ biến
trong nghệ thuật
điêu khắc
thế kỷ
19. Tuy các pho tượng có
niên đại tạo
tácsớm muộn
khác nhau song các pho tượng
Phật của
thôn Nha đều mang những
nét chung của
điêu khắc
dân gian.
Chùa thôn Nha
cũng lưu
giữ
được nhiều
di vật quý bằng
đồng, gỗ,
men sứ…
Chùa (và
đình)
đã
được Bộ
Văn hóa và thông tin xếp
hạng di tích kiến
trúc, nghệ thuật
ngày 28.9.1990.
104. CHÙA THÚY LĨNH*
(DIÊN KHÁNH TỰ)^
Chùa Thúy Lĩnh
thuộc thôn Thúy Lĩnh,
xã Lĩnh Nam, huyện
Thanh trì, ngoại thành
Hà Nội. Thúy Lĩnh
là một làng cổ
đất bãi ven sông Hồng,
trước
đây có tên là Thúy Ái
sau mới
đổi là Thúy Lĩnh.
Chùa cách trung tâm thành phố
khoảng 15km về
phía nam.
Chùa Thúy Lĩnh
có tên là “Diêm Khánh tự”.
Chùa được cấu
trúc với nhiều
lớp nhà có tường
bao quanh thành một công
trình khép kín. Chùa chính được
cấu trúc theo hình chữ
đinh (J). Tiền
đường gồm
5 gian, xây tường hồi
bít đốc, tay ngai, mái lớp
ngói mũi hài. Kiến
trúc vì kèo theo kiểu
“chồng giường
giá chiêng kẻ chuyền”.
Trong chùa được chạm
khắc trang trí
đề tài tứ
linh, tứ quý. Thượng
điện
5 gian nối liền
với tiền
đường
ở giữa,
kiến trúc kiểu
chồng giường
giá chiêng, xà nách. Trang trí trong chùa là hệ
thống cửa
võng sơn son thếp
vàng tạo nên vẻ
trang nghiêm lộng lẫy
của chùa. Trong khu vực
chùa còn có nhà Tổ,
điện
Mẫu và hai dãy hành lang
chạy hai bên. Chùa Thúy
Lĩnh còn giữ
được nhiều
tượng Phật
(32 pho) mang phong cách tạo
tác của thế
kỷ 19. Ngoài tượng
Phật, chùa còn 2 chuông
đồng và các hoành phi
câu đối, bát hương
và các đồ gốm
sứ
để thờ.
Chùa Thúy Lĩnh
tuy quy mô không to lớn
nhưng những
công trình kiến trúc còn
hoàn chỉnh, mang phong
cách kiến trúc dân tộc
truyền thống,
được nhân dân
địa phương
quan tâm bảo quản
những hiện
vật có giá trị
nghệ thuật.
Chùa
đã
được Bộ
Văn hóa và thông tin xếp
hạng di tích kiến
trúc, nghệ thuật
ngày 28.1.1993.
105. CHÙA THƯỢNG
ĐỒNG* (HIỀN
ỨNG TỰ)^
Chùa
ở thông Thượng
Đồng, xã Hội
Xá, huyện Gia Lâm, ngoại
thành Hà Nội. Chùa cách
trung tâm thành phố khoảng
15 km về phía
đông bắc.
Chùa thờ
Phật. Chùa gồm
gác chuông 2 tầng 8 mái,
sân gạch, tiền
đường 7 gian, kiến
trúc đơn giản;
thượng
điện
5 gian, thiêu hương.
Chùa ít có trang trí, chủ
yếu là kỹ
thuật bào trơn.
Di tích còn lưu giữ
được một
số di vật
giá trị như:
cân đối, chuông
đồng, 3 bia
đá thời
Lê. Chùa còn có các tượng
Đức Ông, Thánh Tăng,
Cửu Long, Ngọc
Hoàng, Nam Tào, Bắc
Đẩu, A Di
Đà, Văn
Phù, Phổ Hiền,
Quan Âm Tống Tử.
Chùa
đã
được Bộ
Văn hóa và thông tin xếp
hạng di tích kiến
trúc, nghệ thuật
ngày 18.1.1993.
106. CHÙA TIÊN LINH (CHUNG
LINH TỰ)^
Chùa Tiên
Linh nằm
ở phía nam Hà Nội,
thuộc xã Vạn
Phúc, huyện Thanh Trì,
Hà Nội.
Đây là ngôi chùa có từ
lâu đời nhưng
đã bị
thực dân Pháp phá hủy
trong chiến tranh. Sau
hòa bình nhân dân xã Vạn
Phúc đã góp công sức
tiền của
xây dựng lại
trên nền chùa cổ.
Di tích cách trung tâm thành phố
khoảng 17 km về
phía nam.
Chính tại
mảnh
đất lịch
sử này, ngay cạnh
chùa có một cái
đầm tên gọi
là Vạn Xoan.
Đó là dấu
tích địa danh kinh
đô Vạn
Xuân thời Lý Nam
Đế. Tại
đây
đã tìm
được một
số di vật
khảo cổ
thế kỷ
6, phù hợp với
thời dại
nước Vạn
Xuân độc lập.
Truyền
thuyết
ở
đây còn nói tới
việc Lý Thái Tổ
vào thế kỷ
11, cho đắp
đe Cơ
Xá lớn nhất
thời
đó.
Để lưu
niệm sự
kiện này, vua cho xây dựng
chùa Thiên Linh ở dưới
đê Vạn
Phúc. Từ
đó về
sau, các vua Lý thường về
chùa cầu cúng.
Cũng
tại
đây vào năm
1426, nghĩa quân Lê Lợi
đã
đóng quân
để bao vây thành
Đô Quan do quân Minh chiếm,
sau đó tiến
vào giải phóng. Con
đê Vạn
Xuân được
đắp thời
ấy là một
chiến lũy
quan trọng trong chiến
dịch giải
phóng thành Đông Quan.
Mảnh
đất
ấy cũng
còn chứng kiến
hai lần Nguyễn
Huệ tiến
quân ra Bắc Hà: năm
1786, diệt nhà Trịnh
phò vua Lê và năm 1789
diệt Mãn Thanh giải
phóng Thăng Long. Truyền
thuyết kể
rằng chính tại
chùa Tiên Ling, Quang Trung đã
đích thân kiểm
tra việc chuẩn
bị tấn
công đồn Ngọc
Hồi.
Sau cách mạng
tháng tám, cạnh chùa
Tiên Linh là nơi diễn
ra cuộc mít tinh chào mừng
chính phủ lâm thời.
Trong kháng chiến,
đây trở
thành bàn đạp của
các chiến sĩ
biệt
động khi tiến
công vào nội thành và là
chỉ huy sở
và địa
điểm
liên lạc với
trung ương.
Ngoài ý nghĩa
lịch sử,
chùa còn giữ
được nhiều
di vật cổ
có giá trị nghệ
thuật cao, như:
khám thờ sơn
son thếp vàng (thế
kỷ 18), bát hương
đồng, chuông cùng hàng
chục pho tượng
tròn. Có pho tượng rất
đẹp như
A Di Đà, Quan Âm Tống
Tử, Quan Âm Nghìn Mắt
Nghìn Tay, Tòa Cửu Long…
được tạo
tác từ thế
kỷ 18, 19 và
đầu thế
kỷ 20.
Chùa lại
nằm trên một
địa thế
đẹp, tọa
lạc trên gò cao với
nhiều cây cổ
thụ bao quanh, có vườn
cây ăn quả,
có hồ nước,
phía sâu có dòng sông uốn
khúc nên là một nơi
có khả năng
thu hút khách du lịch.
Chùa
đã
được Bộ
Văn hóa và thông tin xếp
hạng di tích kiến
trúc, nghệ thuật
ngày 22.4.1992.
107. CHÙA THIÊN PHÚC (TIÊN
PHÚC TỰ)^
Chùa Thiên
Phúc (Tiên Phúc tự) còn
gọi là chùa Bà Nành
ở số
nhà 27 phố Văn
Miếu, quận
Đống
Đa, Hà Nội.
Theo truyền
thuyết thì chùa dựng
để thờ
một bà bán hàng. Bà cụ
trước kia thường
bán nước, chè
đậu nành cho các học
trò Quốc Tử
Giám. Lại có truyền
thuyết cho rằng
chùa dựng
đầu triều
Lê (thế kỷ
15) trên nền quán hàng nước
của bà già. Có lần
vua Lê Thánh Tông (1460 - 1497)
đến thăm Quốc
Tử Giám ghé lại
chùa. Chùa được tu sửa
lớn vào năm
Đinh Hợi
đời vua
Đồng Khánh (1887). Chùa
phía ngoài có tam quan bên trong hình chuỗi
vồ chia làm nơi
tiếp khách và nơi
bày tượng Phật.
Chùa thờ
Phật và thờ
bà Nành, trong chùa còn một
phiến
đá hình chữ
nhật, tương
truyền là nơi
bà cụ bày hàng
để bán. Chùa bà Nành
ngoài giá trị lịch
sử văn
hóa tự thân, còn
được coi là một
di tích nằm trong quần
thể di tích Văn
Miếu - Quốc
Tử Giám.
Chùa
đã
được Bộ
Văn hóa và thông tin xếp
hạng di tích kiến
trúc, nghệ thuật
ngày 12.12.1988.
108. CHÙA TÌNH QUANG*
(TÌNH QUANG TỰ)^
Chùa Tình
Quang thuộc thôn Tình
Quang, xã Giang Biên, huyện
Gia Lâm, ngoại thành Hà
Nội, cách trung tâm
thành phố vào khoảng
12 km về phía
đông - bắc.
Đường
đi qua cầu
Chương Dương,
cầu Chui
đến cầu
Đuống
thì rẽ phải
theo bờ hữu
ngạn sông
Đuống
chừng 3km.
Theo truyền
thuyết chùa
được xây dựng
từ khá sớm,
đã
được trùng tu lớn
vào đầu thế
kỷ 19. Chùa quay hướng
đông nam, có kiến
trúc kiểu chữ
nhị (=). Tiền
đường và thượng
điện
gồm 3 gian song song.
Chùa có nhiều mảng
chạm khắc
gỗ vào khoảng
thế kỷ
17, 18. Hệ thống
tượng Phật
của chùa khá
đầy
đủ. Chùa có một
quả chuông “Tình Quang
chung” được
đúc năm
Tự
Đức thứ
2 (1849).
Chùa (và
đình)
đã
được Bộ
Văn hóa và thông tin xếp
hạng di tích kiến
trúc, nghệ thuật
ngày 11.5.1993.
109. CHÙA TRẤN
QUỐC^
Chùa Trấn
Quốc thuộc
phường Yên Phụ,
quận Tây Hồ,
Hà Nội.
Đây là ngôi chùa cổ
nhất Hà Nội
và ở nước
ta vì chùa được xây dựng
từ thời
Lý Nam Đế (541 - 547),
có tên là Khai Quốc.
Chùa được dựng
tại thôn Yên Hoa (sau
được
đổi là Yên Phụ)
trên một bãi cạnh
sông Hồng.
Đến
đời Lê Thái Tông (1440 -
1442) được gọi
là chùa An Quốc.
Đến thời
Lê Kinh Tông (1600 - 1618) do bãi sông bị
lở, chùa
được dời
vào một hòn
đảo nhỏ
trong Hồ Tây gọi
là Kim Ngư (đảo
cả Vàng) là
địa
điểm
ngày nay. Nơi này
đã
được các vua nhà Lý dựng
cung Thúy Hoa và đời Trần
dựng
điện
Hàn Nguyên dùng làm nơi
hóng mát, xem đua thuyền
đánh cá.
Đời Lê Hy Tông (1680 -
1705), chùa được
đổi tên gọi
là Trấn Quốc.
Năm 1842 vua Thiệu
Trị tới
thăm và
đổi tên là Trần
Bắc nhưng
dân vẫn quen gọi
là Trấn Quốc.
Vào khoảng
đời Lê Thần
Tông (1619 - 1643), dân hai làng Yên Phụ
và Yên Quang đắp dập
Cổ Ngư
(ngày nay là đường Thanh
Niên) chắn ngang Hồ
Tây (năn thành hồ
nhỏ gọi
là Trúc Bạch hiện
nay) nhân đó mới
đắp luôn con
đường từ
đập Cổ
Ngư
đi vào chùa. Chùa
đã
được tu sửa
vào những năm
1624, 1628. Đến năm
1639 được dựng
thêm hậu
đường, cổng
lầu, hành lang tả
hữu, quy mô to rộng,
chạm trổ
tinh khéo. Trạng nguyên
khoa Đinh Sửu
(1637) Nguyễn Xuân Chính
đã soạn
bia ghi: “Nay đắp cao nền
chùa cũ, mở
rộng quy mô, trước
tiên dựng các tòa thượng
điện,
đài
đốt hương,
tiền
đường và cửu
hậu… Trước
hết dựng
hầu
đường, cổng
có gác, tiếp theo dựng
luôn tả hữu
hành lang, định ra từng
ãy, chia ra từng tòa…
huy hoàng tượng Phật,
sáng ngời nơi
rường chạm
cột sơn,
rực rỡ
hoa hồng, ánh chiếu
khắp tòa sen, cửa
biếc…”.
Đến năm
Gia Long 14 (1815) chùa được
trùng tu, đúc chuông,
đắp tượng,
quy mô tráng lệ. Phạm
Quý Thích, đậu tiến
sĩ khoa 1779, soạn
văn bia ghi: “Trước
hết làm nhà thờ
Phật, nhà thắp
hương, tiền
đường, cả
thảy 3 tòa. Sau
đó làm 2 hành lang, gác
chuông, hậu
đường, cả
thảy 4 nếp,
tất cả
đều cao lớn
hơn trước,
đồng thời
đúc tượng
Phật và
đúc chuông lớn”.
Năm 1821 vua Minh Mạng
ra Bắc Thành
đến thăm
chùa, ban 20 lạng bạc
để tu sửa.
Năm 1842 vua Thiệu
Trị cũng
đến thăm
chùa, ban một
đồng tiền
vàng lớn và 299 quan tiền
để tu sửa.
Chùa hiện
còn giữ
được lối
kiến trúc
độc
đáo khác với
nhiều chùa: phía trước
là nhà bái đường, rồi
đến nhà tam bả,
phía sau mới là 2 dãy
hành lang Thập
Điện
và gác chuông. Trong chùa có một
số tượng
đẹp như
bộ Tam Thế,
Phật Thích Ca nhập
Niết Bàn, bằng
gỗ sơn
son thếp vàng. Trong
chùa có 14 bia. Chùa có một
vườn tháp có nhiều
tháp.
Chùa
ở vào một
nơi phong cảnh
đẹp nên các
đời chúa Trịnh
đã biến
nơi
đây thành hành cung (nơi
ở của
vua chúa khi chúng đi chơi).
Khi chúa Trịnh bị
diệt, vua Lê Chiêu Thống
hạ lệnh
đốt hết
những nơi
chúa Trịnh
đã
ở. Nhờ
sự bảo
vệ của
dân trong phường nên
lýnh của vua Lê chỉ
đốt những
phòng dựng trên bè nổi
quanh chùa do chúa Trịnh
làm cho bọn hoạn
quan và cung nữ, còn
chùa vẫn giữ
được nguyên vẹn.
Chùa Khai Quốc
vào thời Lý là trung tâm
Phật giáo của
kinh thành Thăng Long,
là nơi thụ
lý giáo huấn của
nhiều thiền
sư thuộc
dòng thiền Vô Ngôn
Thông. Thái hậu
Ỷ Lan cũng
mở tiệc
chay đãi các thiền
sư kê cứu
kinh Phật
ở nơi
đây. Từ
thời Ngô Quyền,
thiền sư
Văn Phong thuộc
thế hệ
thứ 4 dòng thiền
Vô Ngô Thông đã trụ
trì ở chùa Khai Quốc.
Học trò của
thiền sư
Văn Phong là thiền
sư Khuông Việt,
thụ nghiệp
ở chùa Khai Quốc,
đã nổi
tiếng trong cả
nước,
được vua
Đinh Tiên Hoàng và Lê
Đại Hành mời
về Hoa Lư
làm cố vấn
tối cao của
triều
đình.
Chùa Trấn
Quốc là cảnh
đẹp của
Hồ Tây. “Lên cao ngắm
cảnh, mây nước
mênh mang, nước hồ
óng ánh trong suốt khiến
lòng người không hư,
tiếng chuông chùa gọi
tỉnh mộng
trần tục…
tấm bia rêu phong còn
đó, lối
xưa cỏ
nay đâu? Ngày tháng là
bao bỗng trở
thành dấu cũ,
khiến cho con người
chạnh lòng cảm
khái với cảnh
vật xưa
nay”. (Văn bia 1815).
Chùa Trấn
Quốc là một
danh lam thắng cảnh,
một di tích văn
hóa của thủ
đô và cả
nước. Chùa
đã
được Bộ
Văn hóa xếp
hạng di tích lịch
sử, văn
hóa ngày 28.4.1962.
110. CHÙA TRIỀU
KHÚC* (Hương Vân tự)^
Chùa Triều
Khúc thuộc xã Tân Triều,
huyện Thanh Trì, ngoại
thành Hà Nội, cách trung
tâm thành phố vào khoảng
13 km về phía tây, trên
đường
đi Hà
Đông, rẽ
trái ở cây số
10 (cạnh Nhà máy ô tô
Hòa Bình).
Chùa Triều
Khúc còn có tên chữ là
“Hương Vân tự”.
Chùa có quy
mô lớn bao gồm
các công trình từ ngoài
vào là tam quan, tam bảo,
tiền
đường, thượng
điện,
hai bên thượng
điện
là 2 dãy hành lang, sau cùng là nhà Tổ.
Xung quanh chùa có những
cây cổ thụ
xum xê. Tam quan xây theo kiểu
hai tầng mái cở
cửa chính và hai cửa
phụ, có 4 cột
xây. Qua tam quan đến một
khoảng sân trong
đó là vườn
cây cảnh. Phần
chùa chính là cấu trúc
hình chữ
đinh là tiền
đường và thượng
điện.
Tiền
đường gồm
5 gian xây tường bít
đốc tay ngai với
trụ phía trước,
bờ nóc
đắp cuốn
thư. Trong chùa có bộ
vì kèo kiểu chồng
giường, trốn
cột.
Ở tiền
đường có chạm
trổ nhưng
đơn giản
với
đề tài tứ
linh và văn mây, hoa lá,
trúc mai, hóa rồng.
Phần
thượng
điện
có 5 gian dọc nối
với tiền
đường, tạo
hình chuôi vồ (chữ
đinh). Cấu
trúc vì kèo “chồng giường
giá chiêng”, xà nách, chủ
yếu
đóng bén, bào trơn.
Chùa có các cửa võng chạm,
sơn son thếp
vàng gắn với
cột làm cho phần
kiến trúc thêm mềm
mại hơn
và tăng vẻ
tôn nghiêm của chùa.
Ngoài chùa chính còn có nhà Tổ
ở phía sau chùa và hai
ngôi nhà bên cạnh bao lấy
sân nhà Tổ.
Chùa còn có
hai ngôi nhà thờ Tam
Thanh và thờ ông tổ
nghề kim hoàn, hai nhà
này nằm bên phải
và bên trái tam bảo.
Trong chùa có
52 pho tượng Phật,
có pho được tạo
tác từ thế
kỷ 18 và những
pho được tạo
từ thời
Nguyễn. Nhìn chung có
nhiều tượng
đường nét chạm
rất thanh thoát và dáng
dấp rất
thoải mái.
Chùa
đã
được Bộ
Văn hóa và thông tin xếp
hạng di tích kiến
trúc, nghệ thuật
ngày 29.1.1993.
111. CHÙA TRIỆU
KHÁNH (TRIỆU KHÁNH TỰ)^
Chùa Triệu
Khánh nằm
ở xã Thanh Trì, huyện
Thanh Trì, ngoại thành
Hà Nội, cách trung tâm
thành phố vào khoảng
13km, cạnh thị
trấn Văn
Điển,
đi theo quốc
lộ số
I về phía nam.
Chùa Triệu
Khánh được xây dựng
trên một khu
đất cao ráo, chùa quay hướng
tây. Tam quan của chùa
đã bị
phá hủy từ
lâu. Kiến trúc chính của
chùa chỉ còn mặt
bằng hình chữ
đinh, gồm
tiền
đường và thượng
điện.
Tiền
đường gồm
7 gian, 2 dĩ. Hầu
hết các bộ
vì làm bằng kiểu
chồng giường,
riêng bộ bên trái làm kiểu
giá chiêng. Chùa còn có một
tấm bia
đá niên hiệu
Cảnh Hưng
11 (1750) ghi lại việc
sửa chùa và làm tượng
A Di Đà. Căn
cứ vào nghệ
thuật chạm
khắc có thể
đoán
định chùa có thể
được xây dựng
vào cuối thế
kỷ 17. Toàn bộ
các đầu dư,
giường cụt,
bẩy, câu
đầu của
tiền
đường
đều
được chạm
khắc tứ
linh với các
đao mác dài, nhiều
nếp sóng.
Đặc biệt
có một hoạt
cảnh 2 người
ôm nhau. Đây là một
đề tài hầu
như không thấy
ở các chùa.
Hệ
thống tượng
của chùa khá phong phú với
bộ Tam Thế,
Di Đà Tam Tôn, Hoa
Nghiêm Tam Thánh, Quan Âm Thiên Thủ
Thiên Nhãn, Thập
Điện
Diêm Vương. Riêng tượng
A Di Đà
được làm
ở niên
đại 1750 còn các tượng
khác đều là sản
phẩm của
đầu thế
kỷ 19. Chùa còn có cây hương
đá niên hiệu
Bảo Thái 4 (1723), một
quả chuông
đồng niên hiệu
Cảnh Thịnh
2 (1794), khánh đồng
niên hiệu Thiệu
Trị 2 (1840).
Chùa Triệu
Khánh là một công trình
kiến trúc hiếm
lại tồn
tại ngay sát nội
thành Hà Nội. Chùa
đã
được Bộ
Văn hóa và thông tin xếp
hạng di tích kiến
trúc, nghệ thuật
ngày 22.4.1992.
112. CHÙA TRUNG TỰ*
(PHÚC LONG TỰ)^
Chùa Trung Tự
thuộc phường
Phương Liệt,
quận
Đống
Đa, Hà Nội.
Chùa ở gần
đình, có thể
được cùng xây dựng
vào thế kỷ
17, đầu thế
kỷ 18.
Chùa Trung Tự
(Phúc Long tự) do con
gái chúa Trịnh lập
ra và giao cho dân làng Trung Tự
trông coi. Tấm bia gỗ
còn giữ
được
ở chùa hiện
nay khắc vào năm
Tân Dậu, Cảnh
Hưng 2 (1741) ghi rõ việc
xây dựng chùa và nói
đến nội
thị cung tần
Trịnh Thị
Thuần.
Chùa Trung Tự
tuy có từ lâu, nhưng
đã qua nhiều
lần tu sửa,
nên kiến trúc hiện
nay chỉ còn mang phong
cách nghệ thuật
thời Nguyễn.
Chùa có ngoài
là tam quan, trong là tiền
đường và Phật
điên, kết
cấu theo kiểu
chữ
đinh. Tiền
đường là ngôi nhà 3 gian
được xây dựng
gần
đây, kiến
trúc mang phong cách của
đầu thế
kỷ 20 thời
Nguyễn. Các chạm
trổ trong chùa có
đề tài hoa, cây và các
đường triện.
Nghệ thuật
chùa chủ yếu
là nghệ thuật
điêu khắc
và các tượng Phật.
Trong 17 tượng còn lại
có bộ tượng
Tam Thế, tượng
Quan Âm Chuẩn
Đề, tượng
A Di Đà và tòa Cửu
Long là những tác phẩm
nghệ thuật
có giá trị. Chùa có 1
bia hình vuông thời Lê,
1 chuông đồng và một
số bia hậu.
Nhìn chung, chùa Trung Tự
không nổi bật
nhưng cũng
đáng
được lưu
ý về vị
trí, lịch sử
xây dựng và những
phần nghệ
thuật còn lại
hiện nay.
Chùa
đã
được Bộ
Văn hóa và thông tin xếp
hạng di tích kiến
trúc, nghệ thuật
ngày 23.6.1992.
113. CHÙA TRÙNG QUANG*
(TRÙNG QUANG TỰ)^
Chùa Trùng
Quang thuộc xã
Đại Mỗ,
huyện Từ
Liêm, ngoại thành Hà Nội,
cách trung tâm thành phố
khoảng 17km.
Chùa Trùng
Quang được xây dựng
từ khá sớm,
đến năm
1700 đã
được tham tụng
Nguyễn Quý
Đức trùng tư
lớn, có quy mô bề
thế, nhưng
từ
đó
đến nay
đã qua nhiều
lần sửa
chữa nên không còn diện
mạo như
xưa. Chùa có tam quan,
tòa tam bảo gồm
nhà tiền
đường và thượng
điện.
Kiến trúc chùa theo lối
cổ truyền,
còn lưu
được những
mảng chạm
khắc có giá trị.
Chùa còn 42
pho tượng với
các bộ Tam Thế
và Di Đà Tam Tôn
được chạm
khắc khá công phu, có
niên đại vào thế
kỷ 18 - 19. Chùa có 2 quả
chuông đồng và 1 khánh
đá niên hiệu
Vĩnh Thịnh
7 (1765), 4 tấm bia dá,
tấm cổ
nhất có niên hiệu
Cảnh Hưng.
Chùa (và
đình
Đại Mỗ)
đã
được Bộ
Văn hóa và thông tin xếp
hạng di tích kiến
trúc, nghệ thuật
ngày 21.6.1993.
114. CHÙA TRƯỜNG
LÂM*^
Chùa Trường
Lâm thuộc thôn Trường
Lâm, xã Việt Hưng,
huyện Gia Lâm, ngoại
thành Hà Nội, cách trung
tâm thành phố khoảng
7km về phía
đông bắc.
Đường
đi qua cầu
Chương Dương,
cầu Chui khoảng
2 km là đền di tích.
Tương
truyền chùa
được xây dựng
từ
đời Lý và
đã qua nhiều
lần sửa
chữa. Chùa hiện
nay có quy mô vừa phải,
gồm tiền
đường và thượng
điện,
có phong cách kiến trúc
thế kỷ
19.
Chùa có
đầy
đủ tượng
Phật
được tạo
tác vào đầu thế
kỷ 20.
Chùa (và
đình)
đã
được Bộ
Văn hóa và thông tin xếp
hạng di tích kiến
trúc, nghệ thuật
ngày 21.1.1992.
115. CHÙA TỰ
KHÁNH (TỰ KHÁNH TỰ)^
Chùa còn có
tên nôm là chùa Vẽ, chùa
Cả và gọi
theo địa danh là chùa
Đông Ngạc.
Chùa thuộc xã
Đông Ngạc,
huyện Từ
Liêm, Hà Nội. Chùa cách
trung tâm thành phố vào
khoảng 10km về
phía đông bắc.
có thể
đi theo bờ
đê hữu
ngạn sông Hồng
qua Yên Phụ, Nhật
Tân là đến nơi.
Chùa Tự
Khánh có thể
được xây dựng
từ thời
Hậu Lê. Theo bia Thịnh
Đức (1655 - 1661)
đời Lê Thần
Tông ghi rõ công đức của
ông Nguyễn Phúc Ninh và
bà Trần Thị
Ngọc Luân
đã có công tu bổ
chùa rất lớn
và dân làng bầu là hậu
Phật của
chùa.
Chùa Tự
Khánh là ngôi chùa duy nhất
của thành phố
Hà Nội
được phong tặng
“Toàn gia kháng chiến”
trong cuộc kháng chiến
chống Pháp. Thượng
tọa Thích Thanh Lộc
ở chùa từng
làm chủ tịch
lâm thời xã Cổ
Nhuế. Chùa là trạm
giao thông, là trụ sở
của
Ủy ban Liên Minh huyện,
là nơi nuôi giấu
cán bộ hoạt
động cách mạng
bí mật. Thượng
tọa Thích Thanh Lộc
đã bị
Pháp bắt giam 2 lần
ở Hỏa
Lò và Liễu Giai, mặc
dù bị tra tấn
dã man vẫn không khai
báo. Thượng tọa
còn giác ngộ 2 sư
bác trong chùa tam gia kháng chiến.
Chùa Tự
Khánh được xây dựng
trên một khuđất
rộng, thoáng mát, rìa
thôn Đông Ngạc.
Quần thể
kiến trúc gồm
có cổng, tam quan, gác
chuông, nhà vuông, tiền
đường, hậu
cung, nhà Tổ.
Chùa chính có
kết cấu
hình chữ
đinh. Tiền
đường gồm
3 gian, 2 chái, xây kiểu
“tưởng hồi
bít đốc”. Mái lợp
ngói mũi hài, bờ
nóc đắp kiểu
bờ
đinh, hai bờ
đốc xây trụ
vuông nhỏ, bốn
đầu
đao uốn
cong, không trang trí, 6 hàng cột
gỗ
được
đặt trên tảng
đá mặt
tròn, hai vì giữa kết
cấu kiểu
“thượng chồng
giường hạ
kẻ chuyền”,
hai vì hồi làm kiểu
vỉ ruồi.
Trang trí kiến trúc
đơn giản,
chủ yếu
là bào trơn,
đóng bén, kẻ
soi.
Tòa hậu
cung có mái làm theo kiểu
chồng diêm, 2 tầng
nhưng có 7 mái, trốn
một mái nói với
tiền
đường. Mái lợp
ngói mũi hài, bờ
nóc đắp kiểu
bờ
đinh, bốn
đầu
đao
đắp hình rồng,
miệng ngậm
bờ dải.
Phía dưới vỉ
ruồi sau
đắp 2 hình nghê, hướng
vào nhau.
Hai dãy dải
vũ xây kiểu
tường hồi
bít đốc, vì kèo kết
cấu kết
kèo cầu quá giang và chồng
giường.
Chùa có 5 pho
tượng
được tạo
tác công phu mang phong cách nghệ
thuật thế
kỷ 18 - 19. Những
pho tượng Di Lặc,
Quan Âm Chuẩn
Đề, Bồ
Tát, Thích Ca Liên Hoa v.v… có giá trị
thẩm Mỹ
cao. Chùa còn lưu giữ
được nhiều
đồ thờ
tự quý bằng
gỗ,
đồng, sứ.
Chùa
đã
được Bộ
Văn hóa và thông tin xếp
hạng di tích kiến
trúc, nghệ thuật
ngày 16.12.1993.
116. CHÙA TỰ
KHOÁT (HƯƠNG PHÚC TỰ)^
Chùa Tự
Khoát có tên chữ là “Hương
Phúc tự”
ở
đầu thôn Tự
Khoát, xã Ngũ Hiệp,
huyện Thanh Trì, Hà Nội.
Chùa cách trung tâm thành phố
vào khoảng 13km về
phía nam theo quốc lộ
số I, cạnh
thị trấn
Văn
Điển.
Truyền
thuyết kể
lại, vào thời
Lý có hai bà công chúa chuyên đi
các nơi xây dựng
chùa chiền, khi về
đến Tự
Khoát, thấy
địa thế
ở
đây cao
đẹp, hai bà bèn bỏ
tiền của
ra xây dựng chùa Hưng
Phúc. Sau đó hai bà
ở lại
tu tại chùa. Trong thời
gian tu tại chùa Tự
Khoát, hễ thấy
ai bán ruộng, hai bà liền
bỏ tiền
ra mua, sau đó giao lại
cho dân làng từ 18 tuổi
trở lên cày cấy
thu lợi lấy
tiền tu sửa
chùa. Tương truyền
hai bà công chúa nhà Lý mất
tại chùa ngày 15 - 3 âm
lịch.
Trong chiến
dịch Quang Trung
đại phá quân Thanh 1789,
các vị sư
trụ trì chùa lúc bấy
giờ
đã góp nhiều
công sức giúp
đỡ nghĩa
quân Tây Sơn
ẩn náu trong chùa, góp
phần làm nên chiến
thắng Ngọc
Hồi -
Đống
Đa. Tương
truyền Mả
Ngô gần chùa chiính là nơi
chôn xác quân xâm lược
Thanh.
Chùa tọa
lạc trên gò
đất cao ráo và quay về
hướng nam. Phía tây nam
chùa là quốc lộ
số I, phía bắc,
sau chùa là thị trấn
Văn
Điển,
phía đông chùa là nhà thờ
đạo Ki tô, phía nam trước
chùa có quốc lộ
70 cùng dòng sông Tô Lịch
uốn lượn.
Kiến
trúc chùa Tự Khoát bao gồm
tam quan, nhà tiền
đường, nhà thiêu hương,
hậu cung, nhà tổ,
nhà khách. Toàn thể công
trình kiến trúc
được bố
trí hài hòa trong một tổng
thể chung thống
nhất trong khuôn viên
khép kín. Tiền
đường, thiêu hương
và hậu cung bố
trí trên mặt bằng
hình chữ công (II). Tam
quan chùa có kết cấu
khá độc
đáo và
đẹp, chính giữa
tam quan là một ngôi nhà
vuông bốn mặt
mở bốn
cửa lớn.
Phía trên bốn góc của
ngôi chùa này có bống
hình bông sen đắp bằng
vữa và một
tháp xây gạch hình bát
giác, tháp gồm 4 tầng,
càng lên cao càng nhỏ dần.
Tiền
đường 5 gian, các bức
cốn,
đầu dư
trang trí chạm thủng
kết hợp
bong kênh hình rồng,
đao mác mang phong cách
nghệ thuật
thời Lê Trung hưng.
Thiêu hương 2 gian, hậu
cung 5 gian, trang trí chạm
khắc theo phong cách thời
Nguyễn.
Trong chùa thờ
Phật, có 52 pho tượng
mang phong cách nghệ thuật
thế kỷ
18 - 19. Ngoài ra còn có các chuông
đồng, bia
đá, hoành phi câu
đối, tượng
đá.
Chùa Tự
Khoát là ngôi chùa có giá trị
nghệ thuật
cao, bảo lưu
được nhiều
mảng chạm
khắc trang trí với
số lượng
tượng tròn lớn
có giá trị.
Chùa
đã
được Bộ
Văn hóa và thông tin xếp
hạng di tích kiến
trúc, nghệ thuật
ngày 22.3.1988.
117. CHÙA
ỨNG LINH* (ỨNG
LINH TỰ)^
Chùa
Ứng Linh thuộc
thôn Vĩnh Trung, xã
Đại Áng, huyện
Thanh Trì, ngoại thành
Hà Nội. Chùa cách trung
tâm thành phố khoảng
22km về phía nam.
Đường
đi theo quốc
lộ số
I qua thị trấn
Văn
Điển,
tới Ngọc
Hồi, rẽ
phải qua làng Ngọc
Hồi, Lạc
Thị, Vĩnh
Thịnh rồi
đến Vĩnh
Trung.
Chùa
Ứng Linh
được xây bên cạnh
đình và miếu
Vĩnh Trung. Chùa gồm
có tiền
đường, thượng
điện,
nhà Tổ và nhà khách.
Chùa còn lưu giữ
được nhiều
đồ tế
khi, bia đá và tượng
Phật, có nghệ
thuật diêu khắc
đẹp và lạ.
Trước
cách mạng tháng Tám năm
1945, chùa là nơi diễn
ra nhiều hoạt
động tuyên truyền
giác ngộ cách mạng
chuẩn bị
cho Tổng khởi
nghĩa của
mặt trận
Việt Minh. Trong kháng
chiến chống
Pháp chùa là cơ sở
bí mật của
nhiều cán bộ
hoạt
động trong vùng dịch
hậu. Hiện
nay dưới bệ
tượng
Đức Ông vẫn
còn lưu giữ
một cănt
hầm bí mật
nuôi giấu cán bộ
của các sư
trụ trì thời
đó.
Chùa (và
đình miếu)
đã
được Bộ
Văn hóa và thông tin xếp
hạng di tích kiến
trúc, nghệ thuật
ngày 29.1.1993.
118. CHÙA VẠN
PHÚC* (CHUNG LINH TỰ)^
Chùa Vạn
Phúc thuộc xã Vạn
Phúc, huyện Thanh trì,
ngoại thành Hà Nội,
cách trung tâm thành phố
khoảng 15 km về
phía nam.
Chùa xây trên
một gò
đất cao ráo
ở giữa
làng, quay hướng tây
nam. Tam bảo chùa có kết
cấu hình chuôi vồ.
Tiền
đường dài 15,5m, rộng
5 m, bộ khung chịu
lực làm dưới
dạng “thượng
giường hạ
kẻ”, với
4 hàng chân cột, bộ
mái chùa lợp ngói ta.
Trong chùa hiện còn lưu
giữ
được nhiều
pho tượng quý như
3 pho tượng Tam Thế,
Quan Âm, Đại Thế
Chí và các chuông đồng
có niên đại thế
kỷ 18.
Đặc biệt
là tượng
đá bia hậu
là pho tượng quý
đặc sứac
làm dưới dạng
phù điêu trong một
khối
đá hình chữu
nhật cao 1,2m, rộng
0,8m. Toàn bộ mặt
trước thể
hiện chân dung người
được thờ
với các mũ
tròn trên đầu, khuôn mặt
trái xoan, đôi mắt
lá răm, sống
mũi dọc
dừa, miệng
nhỏ,
đôi tai to, dài như
tai Phật, ngồi
trong tư thế
xếp bằng
tròn, tay trái úp lên đầu
gối, tay phải
để ngửa
úp lên phần bụng,
cổ
đeo tràng hạt.
Đây là tư
thế ngồi
thiền của
các tín đồ
đạo Phật.
Hai bên cạnh và mặt
sau ghi rõ tên tuổi người
được thờ
và tấm bia cho biết
niên hiệu Chính Hòa nhà
Lê (thế kỷ
17).
Chùa
đã
được Bộ
Văn hóa và thông tin xếp
hạng di tích kiến
trúc, nghệ thuật
ngày 22.4.1992.
119. CHÙA VĂN
TRÌ (BỒ
ĐỀ TỰ)
^
Chùa Văn
Trì nằm cách trung tâm
Hà Nội 16 km về
phía tây (trên quốc lộ
32A đi Sơn
Tây) thuộc xã Minh Khai,
huyện Từ
Liêm, Hà Nội.
Căn
cứ vào tấm
bia còn lại
đặt bên
đình làng thì chùa
được xây dựng
vào năm Cảnh
Hưng thứ
nhất (1740), nhưng
trong thực tế
chùa cũng trải
qua nhiều lần
trùng tu, sửa chùa, mà
đợt gần
nhất là năm
1989.
Chùa tọa
lạc trên một
khu đất cao, quay về
hướng nam. Trước
chùa là một con ngòi chảy
từ cánh
đồng Ba na tới
cửa sông Nhuệ.
Trước
đây chùa có tam quan khá
đẹp nhưng
nay chỉ còn 1 cổng.
Qua cổng ta thấy
ngay hai tòa tam bảo và
nhìn sang phải là nhà Tổ,
sang trái là điện
Mẫu.
Kiến
trúc của chùa không có
gì đặc sắc
lắm như
những ngoi chùa làng Bắc
Bộ, nhưng
có lẽ giá trị
chủ yếu
là còn giữ
được một
sưu tập
tượng tròn khá phong
phú, gồm hơn
40 pho với nhiều
chất lượng
khác nhau: đắp bằng
đất, tạc
bằng gỗ
quý, đúc bằng
đồng, có tượng
chỉ là tấm
phù điêu. Phần
lớn tượng
có phong cách nghệ thuật
thế kỷ
19. Tượng thổ
thần thì
đường bệ,
uy nghi, bụng phệ,
béo tốt, còn pho Thánh Tăng
thì tương phản
lại: khắc
khổ, gầy
gò…; tượng A Di
Đà bằng
đồng thâm nghiêm, trầm
lặng; tượng
Tuyết Sơn
ưu tư
khổ hạnh;
tượng Ông Sét dữ
tợn; tượng
Hộ Pháp oai phong; tượng
Dĩ Lặc
vui cười thoải
mái, tất cả
như phản
ánh mọi trạng
thái tinh thần của
nhiều lớp
người trong xã hội.
Ngoài số
lượng lớn
tượng pháp của
thế kỷ
19 kể trên, chùa còn có
nhiều
đồ thờ
mang nghệ thuật
thế kỷ
18 như: Hương
án chạm rồng
yên ngựa, nhắc
nhở ta sự
kế thừa
của nghệ
thuật Lê sơ.
Quả chuông của
chùa cũng là hiện
vật quý hiếm
vì được
đúc từ
thời Tây Sơn
mặc dù niên hiệu
đã bị
đục xóa
đi do sợ
nhà Nguyễn trả
thù bắt phá. Chiếc
khánh lớn bằng
đồng
đúc nổi
dòng chữ “Bồ
Đề thanh tự”
cũng rất
đẹp và quý giá. Núm
khánh trang trí hình mặt
nguyệt, xung quanh là
đai lửa
bốc cao. Thân khánh có
ghi niên hiệu là: Minh Mệnh
thập ngũ
niên tuế thứ
Giác Ngọ, thập
nhị nguyệt,
thập nhị
nhật kí (nghĩa
là viết ngày 22 - 12 năm
Giáp Ngọ,
đời vua Minh Mệnh
thứ 15 (1834). Ngoài ra
chùa còn có các đồ sứ
cổ,
đồ
đá… cũng
làm cho kho di sản văn
hóa chùa thêm giá trị
đối với
khách tham quan hoặc lễ
bái.
Chùa
đã
được Bộ
Văn hóa và thông tin xếp
hạng di tích kiến
trúc, nghệ thuật
ngày 22.4.1992.
120. CHÙA VĂN
HỒ (TÀO SÁCH TỰ)
^
Chùa Văn
Hồ có tên chữ
là Táo Sách tự và Linh
Thông tự, thuộc
phường Lê
Đại Hành, quận
Hai Bà Trưng, Hà Nội.
Theo tư
liệu miệng,
di tích chùa Vân Hồ
được xây dựng
từ
đời Trần
trên nền cũ
của “Thư
Viện”, nơi
Linh Lang học thiền,
tu niệm. Hiện
nay di tích còn đôi rồng
đá thế
kỷ 17, những
viên gạch vồ
thời hậu
Lê. Thời Pháp thuộc,
để xây dựng
đô thị,
chùa chính được chuyển
về phía sau nhà Mẫu.
Hiện nay chùa có cổng,
tiền
đường 5 gian, hậu
cung 3 gian, nhà ngang 9 gian,
điện thờ
Mẫu 3 gian và khu tháp mộ.
Chùa thờ
Phật và
đức Uy Linh Lang sống
dưới thời
Trần,
đã tham gia kháng chiến
chống Nguyên Mông
ở thế
kỷ 13.
Chùa
đã
được Bộ
Văn hóa và thông tin xếp
hạng di tích kiến
trúc, nghệ thuật
ngày 16.11.1988.
121. CHÙA VĨNH
PHÚC* (VĨNH KHÁNH TỰ)
^
Chùa Vĩnh
Phúc ở trại
Vĩnh Phúc phường
Ngọc Hà, quận
Ba Đình, Hà Nội.
Chùa Vĩnh Phúc còn
được gọi
là chùa Vĩnh Phúc Hạ
để phân biệt
với Vĩnh
Phúc Thượng.
Tương
truyền chùa Vĩnh
Phúc được xây dựng
từ thời
Tiền Lê do một
bà công chúa dựng lên,
đặt tên là Vĩnh
Khánh tự. Hiện
nay chùa còn quả chuông
“Vĩnh Khánh tự
chung” đúc vào thời
Lê Trung hưng thế
kỷ 16 - 18. Chùa có 2
pho tượng
đá cao khoảng
40 cm, một tòa Cửu
Long đúc bằng
gang, cùng mấy pho tượng
bằng
đất nung (chưa
rõ niên đại). Chùa
đã qua nhiều
lần trùng tu, sửa
chữa, hiện
nay kiến trúc chủ
yếu mang phong cách nghệ
thuật thời
Nguyễn. Chùa xây trên một
hòn núi đất, chùa là một
nếp nhà dọc
5 gian nằm theo hướng
bắc nam, cửa
chính mở
ở
đầu hồi
trước, phía sua là thượng
diện. Năm
1991 chùa đã
được trùng tu lại
toàn bộ các dãy nhà, có
phong cách kiến trúc cổ.
Chùa Vĩnh
Phúc đã
được Bộ
Văn hóa và thông tin xếp
hạng di tích kiến
trúc, nghệ thuật
ngày 5.3.1990.
122. CHÙA VĨNH
TRÙ (VĨNH TRÙ TỰ)^
Chùa ở
số 59 Hàng Lược, phường Hàng Mã, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội.
Chùa
được xây dựng vào khoảng thế kỷ 19, cùng thời với chùa Phổ Trì cùng phố.
Nguyên xưa đây là đình Vĩnh Trù về sau đổi thành đền và sau lại đổi thành
chùa. Thời Pháp thuộc có một phụ nữ Việt Nam là vợ của một sĩ quan Pháp
xin tu sửa lại chùa thờ Phật, từ đó chùa còn dến ngày nay. Năm 1950 vị sư
trụ trì ở đây cũng nhờ sự giúp đỡ của dân phố và phật tử đã trùng tu tam
bảo.
Do xuất
xứ của việc xây chùa từ đến cho nên ở chùa này, ngoài thờ Phật còn thờ tứ
vị Hồng Nương. Theo truyền thuyết, tứ vị Hồng Nương là người đời Tống ở
Trung Hoa chạy giặc Nguyên sang ta, bị chết ở biển và được dân vùng biển
nhiều nơi thờ (đền Cờn, Nghệ An); ở Hà Nội, một số nơi dọc sông Hồng và
sông Tô Lịch có đền thờ. Ngoài việc thờ từ vị Hồng Nương, chùa Vĩnh Trù
còn thờ Tam Thánh Mẫu (Liễu Hạnh, Chúa Thượng Ngàn, Mẫu Thoải).
Trong
những ngày đầu kháng chiến chống Pháp ở Hà Nội, chùa Vĩnh Trù là sở chỉ
huy chiến đấu của tiểu đoàn 101, chiến đáu bảo vệ Liên khu I, về sau chùa
đã gắn bia kỷ niệm những liệt sĩ trong trận tuyến này.
Từ ngoài
vào là cổng chùa, xây hai tầng tám mái, có đề chữ “Vĩnh Trù tự”, với 4 trụ
xây; qua một sân rộng, trong sân có cây cổ thụ, bia tưởng niệm các liệt sĩ
và điện thờ. Phần chùa chính có kết quả hình chữ tam (º),
giữa các nhà đều có máng nước, tạo ra cho chùa một không gian rộng có
chiều sâu từ ngoài vào.
Kết cấu
của ngôi nhà nói chung rất đơn giản về cấu tạo khung và không có chạm trổ
gì trong kiến trúc - chỉ có các cửa võng ở chính giữa điện được chạm sơn
son thếp vàng. Ngoài các chạm trổ, chùa Vĩnh Trù có những tượng Phật và
tượng các vị thánh được thờ là những tác phẩm nghệ thuật điêu khắc. Trong
số tượng thờ có tượng Quan Âm và tượng A Di Đà là những pho tượng đẹp;
thêm vào số tượng Phật, các tượng tứ vị Hồng Nương cũng là những tượng có
giá trị nghệ thuật.
Chùa
Vĩnh Trù là ngôi chùa nhỏ nhưng với số tượng có giá trị nghệ thuật và nhất
là tấm bia kỷ niệm các liệt sĩ thời kỳ đầu kháng chiến chống Pháp được
quân khu thủ đô và lãnh đạo thành phó đặt ở đây là một địa điểm lịch sử.
Chùa đã được Bộ Văn hóa và thông tin xếp hạng
di tích kiến trúc, nghệ thuật ngày 25.1.1994.
123. CHÙA VŨ THẠCH*
^
Chùa Vũ Thạch ở ngay đầu phố Bà Triệu, phường
Tràng Tiền, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội.
Chùa và
đền, đình cũng được xây trên một khoảnh đất hẹp. Tương truyền chùa được
xây bên hồ Tả Vọng từ lâu đời và là một ngôi chùa nhỏ. Chùa đã qua nhiều
lần trung tu, dấu ấn còn lại của chùa c ngày nay mang phong cách thời
Nguyễn. Kiến trúc của chùa có mặt bằng hình chuôi vồ gồm tiền đường và
thượng điện. Hệ thống tượng Phật khá đầy đủ. Nhiều pho tượng có tính nghệ
thuật đặc sắc.
Chùa (và
đền, đình) đã được Bộ Văn hóa và thông tin xếp hạng di tích kiến trúc,
nghệ thuật ngày 12.12.1986.
124. CHÙA VUA (HỒNG KHÁNH TỰ)
^
Chùa Vua
có tên chữ “Hưng Khánh tự”, lại gọi là “Thiên Đế điện”, điện thờ thần
Thiên Đế, ở ngõ Chùa Vua, phố Thịnh Yến, phường phố Huế, quận Hai Bà
Trưng, Hà Nội.
Chùa Vua
là tên gọi cả cụm di tích, gồm chùa Hưng Khánh và điện Thiên Đế. Tương
truyền là do một ông hoàng đời Lê vì thấy Đế Thích là bậc cờ cao đem lòng
hâm mộ bèn lập một ngôi đền thờ ở làng Thịnh Yến, tổng Hậu Nghiêm, huyện
Thọ Xương, về phía đông đàn Nam Giao, tức là chỗ Chùa Vua ngày nay. Trước
đó, nơi đây là cung Thừa Lương của nhà Lê, phía trước có hồ bán nguyệt tắm
gội. Chùa Vua đã được trùng tu sửa chữa nhiều lần. Hiện nay chùa quay
hướng đông nam gồm có tam quan, sân, điện thờ Đế Thích, khu nhà Mẫu và
hành lang.
Điện
Thiên Đế có tiền tế 5 gian xây kiểu đầu hồi bít đốc, thượng điện 4 gian.
Hàng năm
tại chùa Vua diễn ra hội thi cờ trong 4 ngày, từ ngày 6 đến 9 tháng giêng.
Lệ làng quy định ai thắng đoạt giải 3 năm sẽ được ghi tên vào tấm bia đã
đặt tại nhà bia sát sân cờ. Hội cờ chùa Vua là nơi đọ tài của các kỳ thủ
nước.
Chùa đã
được Bộ Văn hóa và thông tin xếp hạng di tích kiến trúc, nghệ thuật ngày
21.1992.
125. CHÙA XÃ ĐÀN (KIM YÊN TỰ)
^
Chùa Xã
Đàn có tên chữ là Kim Yên tự, gọi là Xã Đàn vì nơi đây có Đàn Xã Tắc lập
từ đời Lý Thái Tông, năm 1048, để tế Hậu Thổ và Thần Nông. Đại Việt sử
kí toàn thư, đã ghi: “Lập đàn xã tắc ở ngoài cửa Trường Quảng, bốn mùa
cầu đảo mùa màng”. Hiện nay chùa còn những tấm bia hậu rất cổ khắc năm thứ
năm niên hiệu Quang Chiêu (1520), năm đầu niên hiệu Vĩnh Trị (1676) ghi
việc tu sửa gác chuông. Bia Chinh Hòa (1699) ghi việc tu sửa chùa.
Chùa
chính hiện nay có bố cục mặt bằng chuôi vồ, quay ra hướng đông nam, gồm
tiền đường và thượng điện. Tiền đường 5 gian làm kiểu đầu hồi bít đốc,
chuôi vồ 4 gian. Bên cạnh tòa tam bảo còn có nhà Tổ, nhà Mẫu, nhà khách.
Trong chùa lưu giữ một số hiện vật, kiến trúc vật có niên đại sớm thế kỷ
15 - 16.
Chùa thờ
Phật và thờ Bảo Hào công chúa, có công trong cuộc kháng chiến chống Tống
bình Chiêm ở thế kỷ 11.
Chùa đã
được Bộ Văn hóa và thông tin xếp hạng di tích kiến trúc, nghệ thuật ngày
9.1.1990.
126. CHÙA XUÂN ĐỒ HẠ (SÙNG PHÚC TỰ)
^
Từ xa
xưa dân làng Xuân Đỗ Hạ thường gọi là chùa Xuân Đỗ Hạ, tên chữ là Sùng
Phúc tự, thuộc xã Cự Khối, huyện Gia Lâm, ngoại thành Hà Nội. Chùa cách
trung tâm thành phố vào khoảng 7km về phía đông. Qua cầu Chương Dương,
xuôi theo tả ngạn sông Hồng, qua xã Long Biên là đến di tích.
Chùa
Sùng Phúc có niên đại ra đời sớm. Căn cứ theo tấm bia Cảnh Thịnh 8 (1800)
và chuông đồng Cảnh Thịn 3 (1793) thì chùa được xây dựng khoảng cuối thời
Lê. Trước đây chùa có quy mô lớn và đẹp. Đến nay, chùa, về cơ bản, vẫn bảo
lưu được phong cách nghệ thuật thời Nguyễn. Chùa tuy không lớn nhưng được
bố cục hài hòa, có kết cấu hình chữ đinh.
Tiền
đường gồm 5 gian, xây kiểu “tường hồi bít đốc tay ngai”, mái lợp ngói mũi
hài cổ, dốc mái xây trụ kiểu chồng diêm, cuối bờ dải xây tay ngai, phía
dưới tay ngai xây trụ biểu. Mặt bằng gồm 6 hàng chân, chân cột đặt trên
tàng đá hình chữ nhật, nền lát gạch Bát Tràng. Vì kèo kết cấu kiểu “thượng
chồng giường giá chiêng”, nền lát gạch Bát Tràng. Vì kèo kết cấu kiểu
“thượng chồng giường giá chiêng hạ kẻ chuyền”, mái phân thượng tứ - hạ
tam; cốn của vì hồi chạm hình hổ phù. Trang trí kiến trúc chủ yếu là bào
trơn kẻ soi, các bức cốn nách chạm nổi đề tài “tùng lão hóa rồng”, “mai
lão hóa rồng”, v.v…
Thượng
điện là một nếp nhà 4 gian chạy dọc về phía sau, mặt bằng 4 hàng chân cột;
mái phân thượng ngũ - hạ tam, vì kèo kiểu chống giường giá chiêng, mái lợp
ngói mũi hài. Trang trí kiến trúc tập trung vào gian chính nối tiếp với
tiền đường trên các bức ván nong khắc chạm đề tài tứ quý “tùng, cúc, trúc,
mai lão hóa rồng”, v.v…
Giá trị
nổi trội của ngôi chùa thể hiện quá khối lượng di vật còn lưu giữ. Đó là
tấm bia đá và chuông Cảnh Thịnh là 2 di vật thời Tây Sơn. Bộ sưu tập tượng
gồm 37 pho với nhiều niên đại tạo tác phong phú, tỉ mỉ, nét chạm trau
chuốt, mạch lạc, thể hiện tính chất dân gian sâu sắc và rất gần gũi với
đời thường, hầu hết mang phong cách nghệ thuật thế kỷ 18 - 19, như 3 pho
tượng Tam Thế, tượng A Di Đà, tượng Thế Tôn, tòa Cửa Long.
Chùa đã
được Bộ Văn hóa và thông tin xếp hạng di tích kiến trúc, nghệ thuật ngày
10.3.1994.
127. CHÙA YÊN HÒA (BÁO ÂN TỰ)
^
Chùa Yên
Hòa thuộc thôn Yên Hòa, xã Yên Hòa, huyện Từ Liêm, ngoại thành Hà Nội,
cách trung tâm thành phố khoảng 7km. Đường đi đến Cầu Giấy rẽ trái theo bờ
sông Tô Lịch là đến di tích.
Chùa
được dựng trên một khoảnh đất cao và rộng cùng với đình. Chùa có kiến trúc
hình chuôi vồ, gồm tiền đường, thượng điện và nhà thiêu hương. Tiền đường
gồm 3 gian 2 chái. Thượng điện gồm 5 gian. Chùa cũng có nhà Mẫu, nhà Tổ.
Chùa có quy mô kiến trúc vừa phải vì là chùa của một làng.
Hệ thống
tượng Phật đầy đủ, có nhiều pho được tạo tác cuối thế kỷ 19 xen lẫn với
đầu thế kỷ 20.
Chùa (và
đình) đã được Bộ Văn hóa và thông tin xếp hạng di tích kiến trúc, nghệ
thuật ngày 10.3.1994.
128. CHÙA YÊN NỘI (THANH QUANG TỰ)
^
Chùa Yên
Nội thuộc xã Liêm Mạc, huyện Từ Liêm, ngoại thành Hà Nội, cách trung tâm
thành phố vào khoảng 25km về phía tây bắc, có thể đi theo ngược bờ phải
sông Hồng là đến nơi.
Theo
truyền thuyết và sắc phong thì sau khi chiến thắng quân Nguyên xâm lược
lần thứ nhất (1258), vua Trần Thánh Tông cho các vương công chiêu dân để
khái hoang. Con gái thứ 4 của nhà vua là Túc Trinh đã về Yên Nội lập ấp.
Khi đã thành làng, bà dựng chùa, tạc tượng, đặt tên là Sùng Quang tự. Khi
bà mất dân làng thờ bà trong chùa và gọi là Thánh Quang tự. Như vậy chùa
được xây dựng từ đời Trần, được tôn tạo năm 1420 và dựng gác chuông năm
1913. Chùa có quy mô kiến trúc bề thế.
Hàng năm
dân làng vẫn cúng bà Túc Trinh vào ngày 1 và 2 tháng 8 âm lịch.
Bố cục
chùa theo kiểu “nội công ngoại quốc”. Tiền đường gồm 5 gian 2 chái, tường
hồi bít đốc. Phía trước có trụ biểu, trên nóc có đề “Thánh Quang tự”. Các
cửa phía trước làm theo kiểu song ở gian giữa, các gian bên làm kiểu bức
bàn. Các vì kèo theo kiểu “thượng chồng giường giá chiêng”, trụ trốn. Kẻ
được đặt trên trụ gạch. Thượng điện nối liền với tiền đường ở gian giữa
tạo thành chữ đinh (J). Gác chuông nối với thượng điện, kiểu chồng diêm.
Trước đây gác chuông có sàn nhưng đã bị dỡ năm 1960.
Khu nhà
thờ bà Túc Trinh nằm sau thượng điện, song song với tiền đường, trước đây
là nơi thờ Mẫu, khi bà Túc Trinh mất được dân đưa bà vào thờ ở chùa. Thời
Nguyễn có xây thêm chuôi vồ và tạc tượng. Về chạm khắc, chùa cũng có những
mảng cốn chạm rồng, phượng và các loại hoa lá cách điệu.
Trong số
tượng của chùa có một số được tạo tác từ thời Lê và số còn lại là thời
Nguyễn sau này. Ngoài những tượng Phật còn một số tượng thời thánh Mẫu và
một tượng bà Túc Trinh.
Chùa Yên
Nội đã được Bộ Văn hóa và thông tin xếp hạng di tích kiến trúc, nghệ thuật
ngày 22.4.1992.
129. CHÙA YÊN PHÚ (THANH VÂN CỔ TỰ)
^
Chùa Yên
Phú có tên chữ là “Thanh Vân cổ tự” và “Khánh Hưng tự”, thuộc thôn Yên
Phú, xã Yên Ninh, huyện Thanh Trì, ngoại thành Hà Nội, cách trung tâm
thành phố vào khoảng hơn 20 km về phía nam.
Theo
thần tích, chùa cổ Thành Vân có từ đầu công nguyên. Hiện nay chùa bảo tồn
một số di vật, tượng cổ, sớm nhất là đạo sắc năm thứ 5 niên hiệu Dương Hòa
(1640). Trải qua nhiều thay đổi, trong khu vực chùa hiện còn 2 công trình
kiến trúc là tòa tam bảo và nhà Tổ. Tòa tam bảo có tiền đường 7 gian, hậu
cung 3 gian, nhà Tổ 7 gian.
Chùa thờ
Phật. Đặc biệt ở chùa còn có một bản thần tích nói đến lịch sử chùa và 23
đạo sắc phong.
Bản thần
tích nói đến việc đầu thời kỳ Đông Hán có một người con gái tên Phương
Dung đã đến tu ở chùa rồi sinh ra hai người con là Trung Vũ và Đại Liệu.
Khi Hai Bà Trưng khởi nghĩa, ba người tuyển mộ dân binh cùng tham gia khởi
nghĩa đánh đuổi Tô Định. Hai bà lên ngôi phong Phương Dung làm công chúa,
Trung Vũ chỉ huy sứ tả tướng quân, Đài Liệu chỉ huy sứ hữu tướng quân. Sau
khi họ mất, dân trong vùng đã lập đền thờ, riêng chùa cũng được thần phả
sắc phong.
Chùa đã
được Bộ Văn hóa và thông tin xếp hạng di tích kiến trúc, nghệ thuật ngày
22.3.1988.
130. CHÙA YẾN XÁ (THANH AN TỰ)
^
Chùa Yến
Xá thuộc xã Tân Triều, huyện Thanh Trì, ngoại thành Hà Nội, cách trung tâm
thành phố vào khoảng 15km về phía tây, trên đường đi Hà Đông rẽ tay phải
vào khoảng 2km.
Chùa có
quy mô kiến trúc vừa phải cạnh làng. Tương truyền chùa đã xây dựng từ lâu
đời, đã qua nhiều lần sửa chữa. Chùa có tam quan xây theo kiểu tam quan
chồng dạng tháp. Tòa tam bảo gồm tiền đường, thượng điện đã qua nhiều lần
sửa chữa nên ít giá trị. Trong chùa còn giữa được nhiều mảng chạm khắc
đẹp. Hệ thống tượng Phật còn đầy đủ. Pho tượng Tam Thế và tượng A Di Đà là
những tượng đẹp có phong cách nghệ thuật cuối Lê đầu Nguyễn.
Chùa đã
được Bộ Văn hóa và thông tin xếp hạng di tích kiến trúc, nghệ thuật ngày
27.12.1990.
---o0o---
Mục Lục > Phần 1 > Phần 2 >
Phần 3
---o0o---
Vi tính: Quảng Đại Tuấn Hùng –
Quảng Khánh Kim Oanh
Trình bày: Anna
Cập nhật: 01-11-2005