Trang tiếng Việt

 Trang Nhà Quảng Đức

Trang tiếng Anh

Phật Giáo Việt Nam


...... ... .

 
Nhà Xuất Bản Văn Hóa - Thông Tin

Hà Nội - 1997

CHÙA HÀ NỘI

Nguyễn Thế Long

Phạm Mai Hùng

 

Mục Lục

 

PHẦN II 

 

1. Chùa Am Cây Đề (Thanh Ninh Tự)

2. Chùa Anh Linh* (Anh Linh Tự) 

3. Chùa Bà Đá

4. Chùa Bảo Tháp (Thượng Phúc Tự)

5. Chùa Bát Tháp (Bát Tháp Tự)

7. Chùa Bồ Đề 

8. Chùa Bộc (Sùng Phúc Tự)

9. Chùa Cầu Đông (Đông Môn Tự)

10. Chùa Chân Tiên (Chân Tiên Tự)

11. Chùa Châu Long

12. Chùa Chèm (Hàm Long Tự)

13. Chùa Cổ Linh (Cổ Linh Tự) 

14. Chùa Cổ Loa (Bảo Sơn Tự) 

15. Chùa Diên Phúc (Diên Phúc Tự)

16. Chùa Diên Phức (Diên Phức Tự)

17. Chùa Duệ (Quảng Khai Tự)

18. Chùa Đại Áng (Thiên Phúc Tự)

19. Chùa Đại Cát (Sùng Khang Tự)

20. Chùa Đại Lan (Đại Lan Tự) 

21. Chùa Đào Xuyên (Thánh Ân Tự)

22. Chùa Đông Ba* (Sùng Ân Tự) 

23. Chùa Đông Phủ (Minh Long Tự) 

24. Chùa Đồng Quang (Đồng Quang Tự)

25. Chùa Đức Hậu* (Linh Sơn Tự) 

26. Chùa Giáp Nhất (Phúc Lâm Tự)

27. Chùa Hà  (Thánh Đức Tự)

28. Chùa Hiển Quang* (Hiển Quang Tự)

29. Chùa Hòa Mã (Thiên Quang Tự)

30. Chùa Hòe Nhai (Hồng Phúc Tự) 

31. Chùa Hòe Thị*  (Hương Đỗ Tự)

32. Chùa Hộ Quốc (An Khánh Tự)

33. Chùa Huy Văn Điện Dục Khánh

34. Chùa Huỳnh Cung (Sùng Phúc Tự) 

35. Chùa Hưng Ký (Hưng Võ Thiền Am)

36. Chùa Ích Vịnh* (Phúc Long Tự)

37. Chùa Keo (Trùng Nghiêm Tự) 

38. Chùa Khương Hạ* (Phùng Lộc Tự) 

39. Chùa Khương Trung* 

40. Chùa Kiến Sơ* 

41. Chùa Kim Giang (Diên Phúc Tự) 

42. Chùa Kim Liên (Hoàng Ân Tự)

43. Chùa Kim Quan* (Ấn Quang Tự)

44. Chùa Kim Sơn  

45. Chùa Kỳ Vũ* (Kỳ Vũ Tự)

46. Chùa Lạc Thị* (Linh Quang Tự)

47. Chùa Lại Đà* (Cảnh Phúc Tự)

48. Chùa Láng (Chiêu Thiền tự)

49. Chùa Liên Phái (Liên Tôn Tự)

50. Chùa Linh Quang* (Linh Quang Tự)

51. Chùa Linh Quang Phòng* (Linh Quang Phòng Tự)

52. Chùa Linh Quang (Linh Quang Tự) 

53. Chùa Linh Ứng (Linh Ứng Tự) 

54. Chùa Linh Ứng* (Linh Ứng Tự)

55. Chùa Linh Ứng (Linh Ứng Tự)

56. Chùa Long Quang* (Long Quang Tự)

57. Chùa Lý Quốc Sư

58. Chùa Mai Phúc (Minh Tông Tự)

59. Chùa Mặt Dụng (Mặt Dụng Tự)

60. Chùa Mễ Trì Thượng (Thiên Trúc Tự)

61. Chùa Một Cột

62. Chùa Mỹ Quang (Linh Quang Tự)

63. Chùa Nam Dư Hạ (Thiên Phúc Tự) 

64. Chùa Ham Dư Thượng (Nghiêm Thắng Tự)

65. Chùa Nam Đồng (Càn An Tự)

66. Chùa Nành (Pháp Vân Tự) 

67. Chùa Nền (Đản Cơ Tự)

68. Chùa Nga My

69. Chùa Ngọc Hồ (Ngọc Hồ Tự)

70. Chùa Ngọc Hồ (Ngọc Hồi Tự)

71. Chùa Ngọc Quan 

72. Chùa Ngọc Trục (Đại Phúc Tự)

73. Chùa Ngũ Xã* (Thần Quang Tự)

74. Chùa Nguyên Xá* (Thanh Lâm Tự) 

75. Chùa Nhân Hòa* (Phúc Lâm Tự)

76. Chùa Nhổn (Càn Phúc Tự)

77. Chùa Phổ Giác (Phổ Giác Tự)

78. Chùa Phú Thị (Đại Dương - Sùng Phúc Tự)

79. Chùa Phú Xá (Phúc Lâm Tự)

80. Chùa Phúc Hậu (Phúc Thắng Tự) 

81. Chùa Phúc Lý (Liên Phúc Tự)

82. Chùa Phùng Khoang (Thanh Xuân Tự)

83. Chùa Phụng Thánh

84. Chùa Quán La* (Khai Nguyên Tự)

85. Chùa Quán Sứ 

86. Chùa Quang Minh (Quang Minh Tự) 

87. Chùa Quảng Bá (Hoàng Ân Tự) 

88. Chùa Quỳnh Đô* (Bạch Minh Tự)

89. Chùa Sen Hồ* (Vạn Xuân Từ)

90. Chùa Sở (Phúc Khánh Tự) 

91. Chùa Sùng Phúc* (Sùng Khánh Tự) 

92. Chùa Sùng Quang (Sùng Quang Tự)

93. Chùa Tàm Xá* (Linh Ứng Tự)

94. Chùa Tào Sách  

95. Chùa Thái Cam* (Tân Khai Linh Tự)

96. Chùa Thanh Am* (Đông Linh Tự) 

97. Chùa Thanh Nhàn  

98. Chùa Thánh Chúa

99. Chùa Thiên Niên (Trích Sài) 

100. Chùa Thiên Phúc (Thiên Phúc Tự)  

101. Chùa Thiên Phúc

102. Chùa Thiền Quang, Chùa Quang Hoa, Chùa Tháp Hoa (Thiền Quang Tự, Quang Hoa Tự, Pháp Hoa Tự) 

104. Chùa Thúy Lĩnh* (Diên Khánh Tự)

105. Chùa Thượng Đồng* (Hiền Ứng Tự)

106. Chùa Tiên Linh (Chung Linh Tự) 

107. Chùa Thiên Phúc (Tiên Phúc Tự) 

108. Chùa Tình Quang* (Tình Quang Tự)

109. Chùa Trấn Quốc   

110. Chùa Triều Khúc*

111. Chùa Triệu Khánh (Triệu Khánh Tự)

112. Chùa Trung Tự* (Phúc Long Tự) 

113. Chùa Trùng Quang* (Trùng Quang Tự)

114. Chùa Trường Lâm* 

115. Chùa Tự Khánh (Tự Khánh Tự)

116. Chùa Tự Khoát (Hương Phúc Tự)

117. Chùa Ứng Linh* (Ứng Linh Tự)  

118. Chùa Vạn Phúc* (Chung Linh Tự)

119. Chùa Văn Trì  (Bồ Đề Tự)

120. Chùa Văn Hồ (Tào Sách Tự)

121. Chùa Vĩnh Phúc* (Vĩnh Khánh Tự) 

122. Chùa Vĩnh Trù (Vĩnh Trù Tự)  

123. Chùa Vũ Thạch*  

124. Chùa Vua  (Hồng Khánh Tự)

125. Chùa Xã Đàn (Kim Yên Tự) 

126. Chùa Xuân Đồ Hạ (Sùng Phúc Tự)

127. Chùa Yên Hòa (Báo Ân Tự)

128. Chùa Yên Nội (Thanh Quang Tự) 

129. Chùa Yên Phú (Thanh Vân Cổ Tự)

130. Chùa Yến Xá (Thanh An Tự)

 


 

PHẦN II ^

Giới thiệu các ngôi chùa ở Hà Nội đã được xếp hạng di tích lịch sử văn hóa từ năm 1962 đến 1994 

1. CHÙA AM CÂY ĐỀ (THANH NINH TỰ)

Chùa Am Cây Đề ở số nhà 2 phố Lê Trực, phường Điện Biên, quận Ba Đình, Hà Nội. Thanh Ninh là tên làng được dùng để đọi tên chùa. Tên chùa Am Cây Đề xuất hiện năm Cảnh Hưng 7 đời vua Lê Hiến Tông (1746) khi một viên quan họ Trịnh cho xây một am nhỏ dưới gốc cây bồ đề trước cửa chùa.

Chùa thờ Phật, ngoài ra còn có đền Ngọc Thanh là nơi thờ Đức thánh Trần Hưng Đạo cùng các thân quyến. Tương truyền chùa được xây từ đời vua Lý Thái Tông niên hiệu Thiên Thành (1031) và là một trong 95 ngôi chùa nổi tiếng ở nước ta thời bấy giờ. Dấu tích khởi dựng không còn nữa, năm Cảnh Hưng nguyên niên (1739), chùa được dựng lại đơn sơ nên có tên gọi là “Chùa Cỏ”. Từ thời Lê về trước, khu vực quanh chùa là nghĩa trang của kinh thành vì thế nên viên quan họ Trịnh mới xây am nhỏ để thờ các cô hồn. Theo dân gian, vào đầu xuân Kỷ Dậu, một số thi hài của nghĩa quân Tây Sơn hi sinh khi giải phóng thành Thăng Long đã được an táng quanh chùa.

Chùa được xây trên một khu đất cao, trước đây là một khuôn viên rộng rãi, có nhiều cây cổ thụ. Hiện nay, chùa gồm cổng, sân, đền Ngọc Thanh và tòa tam bảo. Cổng chùa được xây kiểu tam quan có 3 cổng nhỏ, trên có 4 mái nhỏ. Đền Ngọc Thanh nằm theo hướng bắc, trông thẳng ra cổng. Đền có kiến trúc hình chuôi vồ gồm bái đường 5 gian, hậu cung 3 gian. Đền lợp ngói ta, hai đầu xây kiểu bít đốc, các vì làm kiểu kèo cầu quá giang, tường gạch quây quanh.

Tòa tam bảo của chùa cũng hình chuôi vồ gồm tiền đường 5 gian, hậu cung 3 gian. Chùa dựng trên nền cao, quay hướng đông - nam, xây kiểu tướng hồi bịt đốc. Các vì làm nhiều dạng khác nhau (có thể do đã sửa chữa nhiều lần). Ở tiền đường, vì kèo làm kiểu “thượng chồng giường giá chiêng, hạ kẻ”. Các vì kèo có chạm hoa lá, vân mây xoắn, tứ linh, tứ quý.

Chùa hiện còn giữ được 35 pho tượng tròn. 12 pho ở đền Ngọc Thanh, 3 đôi lọ lộc bình sứ, 1 đôi chóe sứ men trắng vẽ lam, 4 long ngai, 2 cửa võng, 5 hoành phi, 1 ống bút, 1 chuông đồng đúc niên hiệu Cảnh Thịnh 6 (1797) có tên là “Thanh Ninh tự hồng chung”.

Năm Gia Long 7 (1808) sư cụ Tịch Quang trụ trì tại chùa đã cho trùng tu, tô tượng và đúc chuông. Tấm bia “Thanh Ninh thiền tự bi kí” do tiến sĩ Phạm Quý Thích soạn năm 1779 có ghi: “Bên ngoài cửa tây thành Thăng Long nước ngọt mà đất thì hoang vu, chùa Thanh Ninh ở đó”.  Đến năm Khải Định 8 (1923) chùa lại được trùng tu. Trong những ngày đầu kháng chiến chống Pháp, chùa đã bị giặc đốt phá. Năm 1949 sư cụ Đàm Thìn đã cho xây lại chùa và đền Ngọc Thanh vì vậy dấu tích cũ không còn nữa.

Chùa đã được Bộ văn hóa và thông tin xếp hạng di tích kiến trúc nghệ thuật ngày 22.7.1981.

 

2. CHÙA ANH LINH * (ANH LINH TỰ)

Chùa Anh Linh thuộc xã Cổ Nhuế huyện Từ Liêm, ngoại thành Hà Nội, cách trung tâm thành phố vào khoảng 7 km về phía bắc. Đi theo đường Hoàng Hoa Thám đến chợ Bưởi, qua Nghĩa Đô, rẽ tay phải khoảng 3 km là đến di tích.

Tương truyền chùa Anh Linh được lập từ thời Trần, do công chúa Trần Khắc Hãn vâng lệnh vua cha là Trần Nhân Tông, chiêu mộ những người bị phiêu tán đến phía bắc kinh thành Thăng Long để khai hoang và lập ra xã Cổ Nhuế. Khi lập làng cũng đồng thời lập chùa để thờ Phật.

Chùa có mặt bằng hình chữ “đinh”, tiền đường gồm 3 gian xây kiểu “tường hồi bít đốc”. Hai bộ vì gian giữa làm kiểu “giá chiêng, con nhị”, phần cốn nách làm kiêu kể chuyền. Thượng điện gồm 5 gian. Một bên là nhà tổ, một bên là nhà Mẫu. Chùa đã bị phá hủy trong kháng chiến chống Pháp, đã qua nhiều lần sửa chữa. Tượng Phật trong chùa đầy đủ, có phong cách nghệ thuật cuối thời Nguyễn. Chùa còn lưu trữ được tấm bia Cảnh Trị đời Lê (1664) và bia năm Tự Đức 12 (1864).

Chùa Anh Linh (cùng với đền Bà Chúa) đã được Bộ Văn hóa và thông tin xếp hạng di tích lịch sử nghệ thuật ngày 21.1.1993. 

3. CHÙA BÀ ĐÁ

Chùa Bà Đá có tên chữ là Linh Quang tự (linh quang nghĩa là ánh sáng thiêng liêng), ở số 3 phố Nhà Thờ, cạnh bờ Hồ Hoàn Kiếm.

Chùa được xây từ đời Lê Thánh Tông (1460 - 1497) ở làng Báo Thiên.

Chuyện kể có một người dân làng Báo Thiên đã đào được một pho tượng bằng đá hình dáng một phụ nữ. Người ta cho rằng đây là tượng của Phật Đức Bà nên đã lập đền thờ bức tượng và gọi là đền Bà Đá. Sau đó dân làng xây thành ngôi chùa, đón sư về thờ cúng đức Phật. Chùa hiện nay đã được sửa chữa nhiều lần. Chùa không có tam quan như các chùa khác, lối vào là một ngõ hẹp sâu khoảng 9 m. Tiền đường xây kiểu chữ nhất (-), Trung đường xây kiểu chữ đinh (J), được nối liền với nhau, tạo nên một khối kiến trúc vuông vắn. Các bộ vì kèo được kết cấu theo lối chồng giường. Mặt chùa hướng về phía bắc. Pho tượng bằng đá đã bị mất trong một vụ chùa bị hỏa hoạn thời Pháp thuộc. Trong chùa có nhiều tượng gỗ sơn son thếp vàng. Trên cao có tượng Tam Thế, dưới là tượng Di Đà Tam Tôn. Sau đó là tượng Thích Ca Liên Hoan, có tượng Văn Thù và Phổ Hiền ở hai bên. Hàng dưới là tượng Thích Ca sơ sinh. Các tượng đều có kích thước lớn so với chùa. Nhà bái đường không có tượng hộ pháp như thường thấy. Chùa có nhiều đồ thờ, cũng không rõ năm chế tạo, chỉ có hai quả chuông được đúc vào năm 1823 và 1881, cùng một cái khánh đúc năm 1842.

Chùa Bà Đá nguyên là “chốn tổ” của thiền phái Lâm Tế, một trong hai phái lớn của Phật giáo ở miền bắc Việt Nam. Chùa Bà Đá hiện nay là trụ sở của thành hội Phật giáo Hà Nội.

 

4. CHÙA BẢO THÁP (THƯỢNG PHÚC TỰ)

Chùa Bảo Tháp còn được gọi là chùa Bồ Đề, hay chùa Bồ Tát, hoặc gọi theo địa danh của làng là chùa Thượng Phúc. Chùa Bảo Tháp thuộc địa phận thôn Thượng Phúc, xã  Tả Thanh Oai, huyện Thanh Trì, Hà Nội.

Theo truyền thuyết, chùa Bảo Tháp được xây dựng từ thời Trần bởi một vị cao tăng họ Hồ là dòng dõi hoàng thân đã tự bỏ quan tước về dây tu luyện. Vào đời vua Trần Hiến Tông, do gặp cơn binh biến bất ngờ, kinh đô rối loạn Minh Từ Hoàng thái hậu phải bỏ kinh thành về đây lánh nạn sau đó quy y niệm Phật và trở thành người trụ trì ở nạn sau đó quy y niệm Phật và trở thành người trụ trì ở đây. Dấu vết của giai đoạn này không còn gì ngoài một tấm bia đá mang niên hiệu Quang Thái thứ 3 (1390).

Chùa Bảo Tháp hiện nay có quy mô khá lớn, được trải dài trên khu đất thoáng mát bên sông Nhuệ. Chùa quay mặt nhìn ra sông, phía ngoài cùng là tam quan, ba gian đơn giản. Qua tam quan là một lối đi lát gạch dẫn thẳng vào sân rộng tới tiền đường. Tiền đường gồm 7 gian. Bộ vì mái làm theo kiểu “chồng giường kẻ chuyền” với 4 hàng chân cột. Trên các xà nách, kẻ nách chạm khắc hoa lá và hoa văn. Chỗ nối với thượng điện trên hai lá gió chạm khắc một hoạt cảnh được phỏng đoán là Đường Tam Tạng cùng 3 đồ đệ đi thỉnh kinh ở Tây Trúc, mảng chạm này khá đẹp và lạ. Sau tiền đường là thượng điện năm gian, bộ vì chủ yếu được bào trơn kẻ soi, không có chạm khắc gì đặc biệt. Sau thượng điện là một khoảng sân rộng với hai dãy hành lang. Giữa sân dựng phương đình làm kiểu nhà vuông. Bộ vì làm kiểu chồng giường giá chiêng. Các kết cấu gỗ đều được chạm nổi hoa lá, rồng lá, rồng mây, phượng khá tỉ mỉ và chau chuốt. Chùa còn có một số công trình khác như hậu cung, trên bộ vi mái, chạm hổ phù; cốn nách chạm trùng mai hóa long. Điện thờ Mẫu, nhà tổ, nhà trai, v.v… không có gì đặc biệt.

Chùa Bảo Tháp có nhiều di vật quí, ngoài tấm bia đã nói ở trên chùa còn có 1 khánh đồng (1,1 m x 1,36 m) làm năm 1843, chuông đồng (cao 1,15 m) làm năm 1813, bia gỗ (0,48 m x 1,63 m) khắc bài kí nói về việc tu sửa chùa làm năm Bảo Thái 7 (1726). Hệ thống tượng pháp có 75 pho gồm các bộ Tam Thế, Quan Âm Nam Hải, Di Đà Tam Tôn, Thập Điện Diêm Vương, tượng Đức Thánh Tổ… Các pho tượng này đều có niên đại thế kỷ 19, là những tác phẩm nghệ thuật đẹp.

Chùa Bảo Tháp là một công trình kiến trúc cổ nhưng đã bị mai một khá nhiều. Tuy nhiên với những di vật và những mảng chạm khắc còn lại, chùa Bảo Tháp vẫn là nơi ghi dấu nét nghệ thuật kiến trúc tài hoa của nhân dân.

Chùa đã được Bộ Văn hóa thông tin xếp hạng di tích kiến trúc nghệ thuật ngày 28.9.1990.

 

5. CHÙA BÁT THÁP (BÁT THÁP TỰ) ^

Chùa Bát Tháp (Bát Tháp tự) còn gọi là chùa Vạn Bảo ở phố Đội Cấn, phường Đội Cấn, quận Ba Đình, Hà Nội.

Chùa Bát Tháp xây dựng trên đoạn ngọn núi Vạn Bảo, một ngọn núi thấp ở kinh thành Thăng Long vào thời Lý Trần. Sau chùa đã khai quật được nhiều di vật thời Lý, Trần. Đến năm Gia Long thứ 2 (1803), dân làng Vạn Phúc hợp cả chùa trên núi Voi và chùa Vạn Bảo thành chùa Bát Tháp. Về tên gọi Bát Tháp, Biệt Lam Trân Huy Bá giải thích vì chùa có “ngọn tháp đế hình bát”. Chùa quay về hướng nam, có tam quan, tòa tam bảo, nhà tổ và khu vườn phía sau. Tòa tam bảo nằm trên vị trí cao nhất của ngọn Vạn Bảo Sơn, có mặt bằng hình chuôi vồ, gồm tiền đường 7 gian, 2 dĩ và hậu cung 3 gian.

Trong chùa còn giữ được nhiều pho tượng, di vật, chạm khắc mang phong cách thế kỷ 19, trong đó có quả chuông đúc năm Gia Long 2 (1803).

Chùa đã được Bộ Văn hóa và thông tin xếp hạng di tích kiến trúc, nghệ thuật ngày 5.9.1989.

 

6. Chùa Bắc Biên (Phúc Xá tự)^

Chùa Bắc Biên còn gọi là chùa An Xá, tên chữ là: Phúc Xá tự, thuộc xã Ngọc Thụy, huyện Gia Lâm, Hà Nội.

Chùa Bắc Biên có nguồn gốc từ chùa An Xá, một danh làm cổ tích ở thành Đại La có từ trước triều Lý  Thái Tổ. Năm 1010, dân làng chuyển chùa ra bãi giữa sông để nhường đất cho triều Lý xây dựng cung điện. Đến năm 1893, dân làng lại chuyển ngôi chùa từ hữu ngạn sang tả ngạn, sau lại lùi về phía chân đê vì bờ sông lở dần. Năm 1920 dân làng lại chuyển ngôi chùa đến vị trí hiện nay.

Chùa xây dựng trên một khu đất rộng 2880 m2, trước chùa có ao thả sen. Chùa có tam bảo bố cục hình chuôi vồ, tiền đường 5 gian, hậu cung 3 gian.

Chùa thờ Phật, trong chùa còn giữ được quả chuông ghi về Lý Thường Kiệt, một nhà quân sự, chính trị, ngoại giao tài giỏi trong lịch sử dân tộc thời nhà Lý. Minh chuông ghi rõ Lý Thường Kiệt sinh ở làng An Xá, ông có công đầu với dân làng nên được dân làng suy tôn là thổ địa (vị tổ có công đem lại ruộng đất cho dân làng).

Chùa đã được Bộ Văn hóa và thông tin xếp hạng di tích kiến trúc, nghệ thuật ngày 21.1.1989.

 

7. CHÙA BỒ ĐỀ ^

Chùa Bồ Đề thuộc xã Nhân Chính, huyện Từ Liêm, ngoại thành Hà Nội, cách trung tâm thành phố vào khoảng 7 km về phía Tây.

Chùa Bồ Đề là một ngôi chùa có quy mô kiến trúc vừa phải, đã qua nhiều lần sửa chữa. Chùa có tam quan đẹp, tòa tam bảo và nhà tiền đường, thượng điện được xây theo kiểu bít đốc, Chùa có đầy đủ hệ thống tượng Phật. Chùa có 1 quả chuông cũ và 1 chuông đúc năm 1814.

Tương truyền khi nghĩa quân Lam Sơn bao vây thành Đông Quan (Hà Nội) có đóng bản doanh tại chùa và đình Cự Chính.

Chùa Bồ Đề (cùng đình Cự Chính và gò Đống Thây) đã được Bộ Văn hóa và thông din xếp hạng di tích lịch sử kiến trúc nghệ thuật 28.9.1990.

 

8. CHÙA BỘC (SÙNG PHÚC TỰ)^

Chùa Sùng Phúc nằm ven đường Chùa Bộc, thuộc quận Đống Đa, Hà Nội. Theo tấm bia cổ nhất ở chùa có niên hiệu Vĩnh Thịnh năm Bính Thìn (1676) thì chùa được xây dựng từ thời Hậu Lê. Chùa đã bị đốt cháy trong cơn binh8 lửa của trận đại phá quân Thanh ở gò Đống Đa (1789). Ba năm sau, sư trụ trì chùa là Lê Dình Lượng đã quyên cúng và trùng tu lại. Từ đó đến nay, chùa đã qua nhiều lần tu sửa.

Kiến trúc chùa gồm cổng, tam bảo, nhà tổ, vường tháp, có khuôn viên rộng. Xung quanh chùa có hồ tắm voi, gò kéo cờ, gò đánh cồng là những dấu tích liên quan đến cuộc chiến đấu của vau Quang Trung ở vùng này vào ngày mồn 5 tết âm lịch năm Kỷ Dậu (1789). Chùa còn bảo tồn được nhiều di vật quý gồm các pho tượng Phật, 3 bia cổ (bia Vĩnh Trị nguyên niên thời Lê Hy Tông (1676), bia Chính Hòa, Bính Dần (1686) và bia Nhâm Tí niên hiệu Quang Trung (1792)), một quả chuông có niên hiệu Cảnh Thịnh. Đặc biệt trong chùa có pho tượng Đức Ông mà nhiều nhà sử học cho rằng đó chính là tượng vua Quang Trung. Ngày 22.4.1962 nhà sử học Trần Huy Bá khảo sát pho tượng “Đức Ông” lạ và thấy phía sau bệ gỗ có dòng chữ khắc: “Bình Ngọ tạo Quang Trung tượng” (1846). Phía trên tượng treo bức hoành phi khắc 4 chữ: “Uy Phong Lẫm Liệt”. Đôi câu đối treo 3 bên tượng Đức Ông viết:

“Động lý vô trân, đại địa sơn hà đống vũ.

Quang Trung hóa Phật, tiểu thiên thế giới chuyển phong vân.”

Có thể dịch nghĩa câu đối như sau:

“Trong động không bụi nhỏ, đất nước rộng lớn để lại một tòa lâu đài rưởng cột làm dấu vết.

Giữa ánh sáng thành Phật, thế giới cõi tiểu thiên, gió mây đều cảm động mà chuyển vần.”

Nghĩa ẩn ý:

Sau trận phá thánh, quét sạch quân xâm lược trên núi sông rộng lớn còn lưu lại tòa nhà cao rộng.

Vua Quang Trung đã tung ra ức vạn tinh binh làm xoay chuyển cả tình thế.

Cùng với 13 gò chôn xác quân Thanh xung quanh như gò Đống Đa, gò Đống Thiêng, gò Trung Liệt, núi Cây Cờ, gò Đầu Lâu, nghĩa địa Khâm Tử và chùa Đồng Quang và những dấu tích quanh hồ, chùa Bộc là một di tích lịch sử của cuộc chiến đấu giải phóng đất nước cuối thế kỷ 18.

Chùa đã được Bộ Văn hóa xếp hạng di tích kiến trúc, nghệ thuật ngày 13.1.1964.

 

9. CHÙA CẦU ĐÔNG (ĐÔNG MÔN TỰ) ^

Chùa ở số nhà 38B phố Hàng Đường, phường Hàng Đào, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội.

Chùa có tên chữ là Đông Môn tự, cũng gọi là Chùa Cửa Đông. Theo bia “Đông Mon tự ki” dựng năm Vĩnh Tộ 6 (1024) thì chùa do một người tên là Đạo Án và vợ, hiệu là Diệu Bi đem khu đất cúng và xây dựng chùa. Khi mọi việc làm xong, vợ chồng Đạo Án được chúa Trịnh Tráng ban khen.

Chùa đã được tu sửa và mở rộng nhiều lần vào những năm 1624, 1639, 1712 và 1817, vì vậy kiến trúc của chùa mang phong cách đầu thời Nguyễn, còn giữ vài dấu vết thời Lê. Các mảng chạm bong, kênh vênh, chạm nổi được thể hiện tập trung trên vì kèo ván mê và hai cốn, cửa gian tiếp giáp giữa tiền đường và hậu cung với những mặt hổ phù, rồng vờn mây, hoa lá…

Trong chùa có tới 60 pho tượng. Ba pho tượng Tam Thế có giá trị nghệ thuật cao, có bộ mặt nữ, có vòng đeo cổ, được tạc vào thế kỷ 18. Tượng Tuyết Sơn có áo buông trên vai, lộ tấm thân gầy, nét mặt thanh tao, thoát tục, có dáng gần với tượng Tuyết Sơn ở chùa Nành (Gia Lâm) và chùa Tây Phương (Hà Tây). Tượng Di Lặc to gần bằng người thực, bụng phệ, khuôn mặt có nụ cười rạng rỡ, viên mãn. Các pho tượng khác như Quan Âm Thiên Thủ Thiên Nhãn, Thích Ca Sơ Sinh… cũng có giá trị nghệ thuật. Đặc biệt ở chùa Cầu Đông còn có một bàn thờ có tượng Trần Thủ Độ và vợ là Trần Thị Dung là những người có công mở mang cơ nghiệp nhà Trần.

Chùa Cầu Đông còn lưu giữ tấm bia cổ, dựng vào những năm Vĩnh Tộ 6 (1624), Dương Hòa 5 (1699), Vĩnh Thĩnh 8 (1712). Chùa có quả chuông niên hiệu Cảnh Thịnh (1800).

Hiện nay do việc mở mang phố xá, chùa bị thu hẹp lại nhiều Trong việc giữ gìn khu phố cổ, việc giữ gìn bảo vệ chùa chùa Cầu Đông cần được quan tâm đặc biệt, chùa cần có “một không gian sinh tồn” và cảnh quan phù hợp.

Chùa đã được Bộ Văn hóa và thông tin xếp hạng di tích kiến trúc, nghệ thuật ngày  5.9.1989.

 

10. CHÙA CHÂN TÊN (CHÂN TIÊN TỰ) ^

Chùa Chân Tiên (Chân Tiên tự) ở số nhà 151 phố Bà Triệu, phường Lê Đại Hành, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội.

Chùa thờ Phật.

Theo truyền thuyết, chùa Chân Tiên dựngv ào đời vua Lý Thánh Tông (thế kỷ 12), hồi đó chùa có tên là chùa Báo Thiên ở thôn Tiên Thị (khu vực Nhà Thờ Lớn). Đến thế kỷ 18, chúa Trịnh Sâm đi chùa Báo Thiên nhằm giữ lại địa danh gốc của chùa ở thôn Tiên Thị, giáp thôn Chân Cầm. Khi thực dân Pháp xây trại giam Hỏa Lò đã chuyển chùa Chân Tiên về chỗ hiện nay. Chùa đã sửa chữa một số lần. Chùa quay hướng tây, cổng và tam quan sát phố Bà Triệu. Bên trong có tam bảo, điện Mẫu, nhà tổ, trai phòng, vường tháp. Tòa tam bảo hình chuông vồ, gồm tiền đường 5 gian, làm kiểu đầu hồi bít đốc, thượng điện 4 gian. Trong chùa còn giữ được một số mảng chạm khắc trên kiến trúc, tượng, di vật, đồ tự khí mang phong cách nghệ thuật thế kỷ 18, 19.

Chùa đã được Bộ Văn hóa và thông tin xếp hạng di tích kiến trúc, nghệ thuật ngày 2.3.1990.

 

11. CHÙA CHÂU LONG ^

Chùa hiện ở số 44 phố Châu Long, phương Trúc Bạch, quận Ba Đình, Hà Nội. Vào thế kỷ 19 chùa thuộc thôn Châu Long, tổng An Thành, huyện Vĩnh Thuận, phủ Hoài Đức.

Chùa thờ Phật. Theo sử liệu thư tịch cổ, chùa có từ lâu. Thời Trần đã có một công chúa đến tu là Khiết Cô. Chùa đã trừng tu nhiều lần, lớn nhất là các năm Mậu Thìn (1808) đời vua Gia Long, năm Tần Sửu đời Thanh Thái (1901) và năm Nhâm Thân (1932) đời Bảo Đại.

Chùa hiện còn tiền đưuờng 5 gian, chuôi vồ 3 gian. Kiến trúc có 8 cửa võng chạm trổ lộng lẫy, sơn son thép vàng, các hình chạm trổ rất tinh xảo. Bộ tượng thờ, khám thờ, bia đá, hoành phi câu đối, chuông đồng đều là những hiện vật Mỹ thuật có giá trị cao.

Chùa đã được Bộ Văn hóa và thông tin xếp hạng di tích kiến trúc, nghệ thuật ngày 5.2.1994.

 

12. CHÙA CHÈM (HÀM LONG TỰ)^

Chùa thuộc xã Thụy Phương, Từ Liêm, Hà Nội.

Chùa Chèm tên chữ là Hàm Long tự. Một tấm bia hưng công có niên đại Vĩnh Trị thứ 12 (1688) ghi rằng: cụ sinh đồ Nguyễn Đinh Ban, tên chữ là Pháp Trung cùng vợ là Nguyễn Thị Gái, hiệu là Từ Minh, người xã Thụy Phương đã hưng công làm các công trình ở chùa Hàm Long là tiên đường, thượng điện, nhà thiêu hương nội và ngoại, hậu phòng, gác chuông, hành lang bên tả, bên hữu, hai tòa tam quan nội, ngoại, 13 pho tượng và một quả chuông đồng… Vì thấy chùa chưa được đẹp, ông bà đã bỏ tiền nhà ra mua sắm gỗ lim, chọn tìm thợ giỏi xây dựng các công trình… như vậy chùa Hàm Long được xây dựng từ trước đó (trước năm 1688).

Chùa tọa lạc trên một khu đất cao ráo thoáng mát. Tòa tiền đường được bố cục hơi khác biệt so với các ngôi chùa trong vùng, gồm 2 dãy nhà song song. Nếp ngoài 5 gian mặt bằng, 6 hàng chân cột, các cột đều tạo bằng cột vuông xây bằng gạch, đỡ các vì kèo chồng giường, nếp nhà này làm kiểu chồng diêm hai tầng 8 mái. Mái thượng lợp ngói mũi hài, các cốn nách đều được chạm khắc.

Hậu cung, nhà giải vũ, tam quan (gác chuông) nhà Mẫu đều có kết cấu thanh thoát hài hòa.

Tượng Phật gồm 30 pho được làm bằng gỗ và đất sét, vào những thời kì khác nhau. Tượng Di Đà Tam Tôn. Thế Tôn, Quan ÂM Chuẩn Đề, Ca Diếp được làm vào thời Lê trung hưng. Một số pho tượng làm vào thế kỷ 18, 19 và 20.

Chùa Chèm hiện nay là một ngôi chùa còn khá nguyên vẹn theo bố cục và cấu trúc thời xưa. Các công trình kiến trúc của chùa được bố trí hài hòa trong một khuôn viên khép kín, ấn hiện dưới những cây cổ thụ. Những pho tượng trong chùa là một bộ sưu tập tượng tròn có giá trị cao. Nhiều pho tượng thực sự là những tác phẩm Mỹ thuật hoàn hảo. Trong chùa còn lưu giữ nhiều đồ thờ có giá trị.

Chùa đã được Bộ Văn hóa và thông tin xếp hạng di tích kiến trúc, nghệ thuật ngày 29.1.1993.

 

13. CHÙA CỔ LINH (CỔ LINH TỰ) ^

Chùa Cổ Linh thuộc xã Lĩnh Nam, huyện Thanh Trì, ngoại thành Hà Nội, cách trung tâm Hà Nội vào khoảng 15km về phía Nam đi theo bờ sông Hồng. Chùa Cổ Linh làm gần với đình Trung Lập tạo thành một cụm kiến trúc mang tính chất lịch sử và tôn giáo.

Chùa có quy mô kiến trúc lớn, nhiều tòa kế tiếp nhau gồm tiền đường, thượng điện, nhà thờ tổ và nhà thờ Mẫu. Tiền đường bao gồm 5 gian xây bít đốc tay ngai, trên bờ nóc có dắp mặt trời, phía trước 2 trụ xây vuông rên đỉnh trụ đắp phượng chụm đuôi thành hình quả giành. Tiền đường có cửa trước kiểu bức bàn bằng lim, vì kéo kiểu chồng giường giá chiêng, hạ kẻ chuyền với 6 đường cột. Trên kiến trúc chạm khắc đề tài tứ linh tứ quý với phong cách nghệ thuật cận đại. Thượng điện chùa gồm 3 gian nối với tiền đường, vì kéo theo kiểu chồng giường giá chiêng, xà nách. Trên thượng điện và tiền đường gồm đủ các pho tượng thờ theo kiểu bài trí thường gặp là các pho Tam Thế, Di Đà Tam Tôn v.v. Tượng của chùa đều được tạo tác công phu nghệ thuật, tuy về cỡ không lớn lắm. Bên cạnh những tượng pháp trong chùa còn có hệ thống cửa võng được chạm trổ sơn son thếp vàng tăng phần trang nghiêm lộng lẫy.

Chùa đã được Bộ Văn hóa và thông tin xếp hạng di tích kiến trúc, nghệ thuật ngày 13.3.1994.

 

14. CHÙA CỔ LOA (BẢO SƠN TỰ) ^

Chùa cổ Loa thuộc xã Cổ Loa, huyện Đông Anh, Hà Nội.

Chùa Cổ Loa có tên chữ là Bảo Sơn tự. Từ trung tâm Hà Nội đi qua cầu Chương Dương, thị trấn Gia Lâm, qua cầu Đuống theo quốc lộ số 3 đến cây số 17 rẽ tay phải 3 km đến chọ Sa, rẽ trái 300m đến ngã tư rẽ phải 100m là đến di tích.

Chùa thờ Phật, kiến trúc theo kiểu “nội công ngoại quốc” ở giữa chữ công, trước là nhà tiền tế, hai bên là hành lang. Chùa còn giữ được những bức cốn tứ linh thế kỷ 19, và nhóm di vật có giá trị gồm 134 pho tượng xếp đặt ở hậu cung, thiêu hương, tiền tế, hành lang và nhà Mẫu. Các pho Tam Thế, Di Đà, Quam Âm Chuẩn Đề, Quan Âm Tống Tử, Quan Âm Nam Hải, Ngọc Hoàng, Nam Tào, Bắc Đẩu, tòa Cửu Long, Hộ Pháp, Kim Cương, Thập bát La Hán, Liễu Hạnh, Trần Hưng Đạo, Thái Thượng Lão Quân… Chùa có 5 bia từ thế kỷ 17 - 19, hai chuông đồng Gia Long 2 (1803), một khánh đồng, bình hương đồng, đồ gốm sứ và đồ thờ cúng khá đẹp.

Chùa đã được Bộ Văn hóa và thông tin xếp hạng di tích kiến trúc, nghệ thuật ngày 21.6.1993.

 

15. CHÙA DIÊN PHÚC (DIÊN PHÚC TỰ)^

Chùa Diên Phúc thuộc thôn Mai Lâm, xã Mai Lâm, huyện Đông Anh, ngoại thành Hà Nội, cách trung tâm thành phố khoảng 10 km về phía bắc, cạnh đường đi đến thị trấn Đông Anh.

Tương truyền chùa Diên Phúc được xây dựng từ lâu đời. Chùa nằm cạnh đình  làng Thái Bình, quay về hướng nam. Chùa gồm tiền đường, thượng điện, nhà Mẫu và nhà tổ. Tiền đường gồm 3 gian, 2 chái. Thượng điện có 3 gian, nhà Mẫu có 3 gian: chái, nhà tổ có 3 gian. Chùa cồn giữ được nhiều mảng chạm gỗ và các di vật mang phong cách thế kỷ 18 và 19. Hệ thống tượng Phật trong chùa đầy đủ, cũng như các chùa khác, không có gì đặc sắc.

Chùa (và đình) đã được Bộ Văn hóa và thông tin xếp hạng di tích lịch sử, kiến trúc, nghệ thuật ngày 31.1.1992.

 

16. CHÙA DIÊN PHỨC (DIÊN PHỨC TỰ)^

Chùa Diên Phức ở thôn Gia Lâm, xã Lệ Chi, huyện Gia Lâm, ngoại thành Hà Nội. Di tích cách trung tâm Hà Nội khoảng 15 km. Từ Hà Nội qua cầu Chương Dương đến cầu Chui, rẽ theo đường 5, rẽ trái, đi khoảng 10km là đến di tích.

Chùa thờ Phật, quay hương nam, mặt bằng hình chuôi vồ. Tiền đường 3 gian 2 dĩ, hậu cung 2 gian, vì kiểu chống giường, trang trí văn hình học cách điệu.

Trong chùa có nhiều hiện vật quý như: các pho tượng gỗ, nhang án, bia đá, chuông đồng.

Các ngày lễ hội:

10 tháng 1: Lễ khai tạ, mổ lợn tế.

11 tháng 2: Sinh nhật Đức Thánh, mở hội 3 ngày, rước kiệu.

10 tháng 3: Đại hội mừng công, mở hội 10 ngày, làm bánh dầy, mía. Ăn mặc theo lối xưa, 22 người phù giá. 19 tháng 3: Rước lên chùa Xuân Quan (chợ Giàn - Hà Bắc), lễ đại thỉnh pháp, thỉnh Phật, hát cửa đình.

10 tháng 8: Ngày hóa nhật, tế lễ, gói bánh chưng đường mật.

2 tháng chạp: Tế lễ 3 ngày do 2 quan đám đảm nhiệm.

Chùa (và đình) đã được Bộ Văn hóa và thông tin xếp hạng di tích kiến trúc, nghệ thuật ngày 28.4.1994.

 

17. CHÙA DUỆ (QUẢNG KHAI TỰ) ^

Chùa Duệ thuộc thôn Tiền, xã Dịch Vọng, huyện Từ Liêm, ngoại thành Hà Nội, cách trung tâm thành phố vào khoảng 6km về phía tây - bắc. Chùa nguyên là của giáp Khánh Duệ nên được gọi là chùa Duệ.

Tương truyền chùa được xây từ đời Lý Nhân Tông (1172 - 1128) là nơi tu hành của nhà sư Lê Đại Điện, tên là Lê Nghĩa. Theo bản ngọc phả ghi năm 1579 và bản sao 1737 thì Lê Nghĩa, sau khi cha mẹ chết, liền biến nhà mình thành chùa để thờ Phật và cha mẹ. Đại Điên cùng học kinh Phật và pháp thuật với Từ Vinh người làng Yên Lãng. Từ Vinh dùng pháp thuật chống lại Diên Thành Hầu  nên đã bị Diên Thành Hầu nhờ Đại Điên giết chết, vứt xác xuống sông Tô Lịch. Sau đó con Từ Vinh là Từ Lộ đã đi tu và học pháp thuật giết chết Đại Điên để trả thù cho cha.

Chùa đã được tu sửa nhiều lần, nguyên dạng còn lại là của lần tu sửa năm 1936, 1985 và 1994.

Kiến trúc chùa gồm tam quan, tam bảo, điện Mẫu và nhà phụ. Tam quan chùa chia làm 3 gian, bộ vì mái làm kiểu quá giang, gian giữa là nơi treo quả chuông đúc năm Gia Long 14 (1815). Từ tam quan vào tòa tam bảo quan một sân gạch. Tòa tam bảo hình chuôi vồ, tiền đường gồm 5 gian, hậu cung 1 gian xây kiểu tường hồi bít đốc. Trên bờ nóc trang trí hình lưỡng long chầu nguyệt. Các vì kèo làm kiểu kèo cầu quá giang, bốn bức cốn chạm hình long phượng, sơn son thếp vàng.

Trong chùa còn giữ được một số pho tượng Phật mang phong cách nghệ thuật thế kỷ 18 - 19. Bên cạnh các tượng Phật lại có tượng Đại Điên to bằng người thật, ngồi trong khám. Bên cạnh có bia đá dựng năm Bảo Đại 16 (1941) chép 3 đạo sắc phong cho Đại Điện vào năm Gia Long 9 (1810), Duy Tân 9 (1915) và của Khải Định, nhân tứ tuần đại khánh.

Điện Mẫu ở bên trái tòa tam bảo, gồm 3 gian, các vì kèo kiểu cầu, bào trơn đóng bén đơn giản, ở đây có một quả chuông nhỏ đúc năm 1920.

Cùng với các chùa xung quanh vùng, chùa có lễ hội hàng năm cùng với chùa Láng vào mùa xuân.

Chùa đã được Bộ Văn hóa và thông tin xếp hạng di tích kiến trúc, nghệ thuật ngày 5.9.1989.

 

18. CHÙA ĐẠI ÁNG (THIÊN PHÚC TỰ) ^

Chùa Đại Áng thuộc xã Đại Áng, huyện Thanh Trì, ngoại thành Hà Nội. Từ Hà Nội đi theo đường số 1 đến thị trấn Văn Điển rẽ theo đường 70 rồi theo bờ sông, khoảng 7km nữa là đến di tích.

Chùa Đại Áng có 3 phần: Tiền đường, thiêu hương, thượng điện. Chùa còn giữ được hệ thống tượng pháp tương đối phong phú: Tuyết Sơn, Di Lặc, Quan Âm Chuẩn Đề, Cửu Lonh; tiêu biểu nhất là tượng Cửu Long và tượng Quan Âm Nghìn Mắt Nghìn Tay. Ở tòa Cửu Long, ngoài 9 con rồng phun nước và tắm cho đức Phật ta còn thấy cả một thế giới thần tiên: Ở chính giữa là hình đức Phật sơ sinh, xung quanh là một lớp tượng to nhỏ khác nhau tìm đến với Phật với ý nguyện từ bi hỉ xả cho mọi người được ấm no hạnh phúc. Tượng Quan Âm Nghìn Mắt Nghìn Tay cao 4m, tuy sao chép lại mẫu tượng Quan Âm ở chùa Bút Tháp vào cuối thế kỷ 19 nhưng khá đẹp và ít thấy ở Hà Nội. 60 pho tượng ở chùa được tạo tác rất tỉ mỉ có giá trị thẩm Mỹ cao, có thể coi phật điện của chùa như phòng trưng bày về nghệ thuật điêu khắc Phật giáo.

Chùa Đại Áng là một công trình kiến trúc gắn với đời sống văn hóa và tinh thần của cư dân nông nghiệp ngoại thành Hà Nội.

Chùa (và đình) đã được Bộ Văn hóa và thông tin xếp hạng di tích kiến trúc, nghệ thuật ngày 2.10.1991.

 

19. CHÙA ĐẠI CÁT (SÙNG KHANG TỰ)^

Chùa Đại Cát thuộc thôn Đại Cát, xã Liên Mạc huyện Từ Liêm, ngoại thành Hà Nội, cách trung tâm thành phố vào khoảng 17 km về phía tây - bắc, có thể đi theo bờ hữu ngạn đê sông Hồng.

Chùa được dựng cạnh đình trên một khu đất cao rộng cạnh làng. Chùa gồm có tam quan xây gạch, tòa tam bảo hình chuôi vồ. Tiền đường gồm một gian 2 chái, hậu cung 1 gian. Chùa còn có gác chuông có quả chuông đồng đúc năm Mậu Ngọ (?). Chùa cũng còn lưu giữ được nhiều di vật đồ gỗ chạm khắc có giá trị và một bia đá dựng năm Ất Hợi niên hiệu Cảnh Hưng (1789). Hệ thống tượng Phật của chùa khá đầy đủ.

Chùa (và đình) đã được Bộ Văn hóa và thông tin xếp hạng di tích kiến trúc, nghệ thuật ngày 31.1.1992.

 

20. CHÙA ĐẠI LAN (ĐẠI LAN TỰ)^

Chùa Đại Lan thuộc thôn Đại Lan, xã Duyên Hà, huyện Thanh Trì, ngoại thành Hà Nội, cách trung tâm thành phố vào khoảng 17 km về phía nam ven bờ sông Hồng.

Chùa Đại Lan trước ở bờ sông nên đã bị lở, dân làng chuyển các đồ thờ cúng và tượng Phật vào nghè vì vậy nghè của làng đã trở thành chùa. Chùa mới gồm 2 nếp nhà, nếp trước là nhà tiền tế dùng làm nơi hội họp và tế lễ, nếp sau dùng làm tam bảo. Tiền thế xây 5 gian xây kiểu “tường hồi bít đốc”. Tòa tam bảo hình chuôi vồ, gồm tiền đường 3 gian và thượng điện có 2 gian. Chùa còn đầy dủ hệ thống tượng Phật. Trong chùa có nhiều mảng chạm khăc trang trí, di vật có niên đại thế kỷ 19 - 20. Tượng Phật cũng có niên đại tương tự.

Chùa (và đình) đã được Bộ Văn hóa và thông tin xếp hạng di tích kiến trúc, nghệ thuật ngày 21.1.1989.

 

21. CHÙA ĐÀO XUYÊN (THÁNH ÂN TỰ)

Chùa Đào Xuyên tên chữ là “Thánh Ân tự”, ở thôn Đào Xuyên, xã Đa Tốn, huyện Gia Lâm, Hà Nội.

Chùa được xây dựng từ khá lâu, theo bia ở chùa cho biết thì năm 1635 chùa đã được tu tạo và được sửa chữa nhiều lần. Lần sau cùng vào năm Duy Tần 10 (1910) chùa đã được làm lại hoàn toàn.Chùa được kiến trúc theo kiểu “nội công ngoại quốc”, có quy mô khá lớn. Chùa gồm nhà thiêu hương, thượng điện, tòa tam bảo, nhà tổ và các công trình phụ. Tòa tam bảo quay hướng đông nam, có kiến trúc kiểu chuôi vồ. Tiền đường có 7 gian 2 dĩ. Nhiều Bộ phận được chạm khắc tinh tế.

Chùa còn giữa được pho tượng Quan Âm Thiên Thủ Thiên Nhân có niên đại thế kỷ 16. Tượng bằng gỗ mít, cao 1,35m (không kể bệ) ngồi trên bệ sen hình lục giác (nếu kể cả bệ thì cao 2,31m). Tượng có 42 tay lớn và 610 tay nhỏ. 42 tay lớn chìa ra phía trước và xung quanh với nhiều động tác, hình dáng khác nhau, tay thì cầm vật báu, tay thì bắt quyết, không tay nào giống tay nào. Còn 610 tay nhỏ thì xếp thành nhiều lớp hai bên sườn và phía sau, xếp vào nhau như những nan quạt, tạo nên một quầng tròn phía sau tượng, như một vòng hào quang tỏa sáng quanh người. Đầu tượng đội mũ pháp sư, được trang trí những hạt tròn, sơn son thếp vàng óng ánh góp phần làm tăng thêm uy linh và đức độ của Phật Bà Quan Âm. Mặt tượng đầy đặn, đôn hậu, mắt lim dim nhìn xuống như đang tập trung tinh thần vào điều gì đó. Mũi tượng thẳng, má bầu, miệng nhỏ, tai dài đeo hoa, tóc chảy dài ra phía sau. Dáng mặt của tượng là một phụ nữ Việt Nam. Tấm áo cà sa khoác trên người chảy dài xuống hai bên lẫn trong các nếp áo. Tượng trong tư thế ngồi yên tĩnh, thế “tham thiền nhập định” nhưng vẫn toát lên vẻ động của một tâm hồn sôi nổi. Những cánh tay sinh động với nhiều dáng, những nếp áo mềm mại chạy dài, phủ trên một tấm thân cân xứng, nở nang… đã thể hiện sức sống của mỗi con người, có những nét gần gũi với bóng dáng hiền dịu của các cô gái nông thôn khỏe mạnh. Tượng được tạc ngồi trên một tòa sen do con rồng đội, nổi lên trên mặt biển sóng nhấp nhô. Tòa sen cao 0,50m gồm 13 cánh sen chính, 13 cánh sen phụ và 20 cánh cách điệu, bố trí xen kẽ thành 2 lớp trên, dưới. Rồng được thể hiện với bộ mặt dữ tợn, những cánh tay gân guốc với những chiếc móng sắc nhọn, mắt lồi nhìn thao láo ra phía trước, mồm rộng, mũi to căng phồng (Rồng ở dây tượng trưng cho loài ác quỷ ma vương, thế lực đen tối). Việc đội tòa sen của rồng biểu hiện sự quy phục Phật pháp. Về mặt thẩm mỹ, điều đó tạo nên sự tương phản giữa cái ác và cái thiện, góp phần làm tăng thêm vẻ nhân hậu, dịu dàng, thiện tâm và sự huyền diệu của Quan Âm. Bệ tượng cao 0,5m có mặt lục giác, được chia làm 3 phần, phần giữa thu hẹp. Trang trí trên bệ tượng là các hình mây lửa, sóng nước,… chính nhờ các trang trí này mà có thể đoán định tượng được tạo tác vào cuối thế kỷ 16.

Chùa cũng còn nhiều tượng tạo tác vào thế kỷ 18 - 19.

Chùa đã được Bộ Văn hóa và thông tin xếp hạng di tích kiến trúc, nghệ thuật ngày 9.1.1990.

 

22. CHÙA ĐÔNG BA* (SÙNG ÂN TỰ) ^

Chùa Đông Ba thuộc xã Thượng Cát, huyện Từ Liêm ngoại thành Hà Nội, cách trung tâm Hà Nội vào khoảng 20km về phía tây bắc.

Chùa nằm gần sát đê sông Hồng.

Chùa Sùng Ân còn gọi là chùa Đông Ba. Ở đây còn sót lại một số viên gạch thế kỷ 16 cho phép khẳng định chùa đã có lịch sử lâu đời. Theo tấm bia “Hậu Phật bi kí” ở chùa cho biết vào năm Bảo Thái 10 (1729), chùa Sùng Ân được mở rộng tam bảo, năm sau sửa chữa thêm gác chuông, tô tượng cũ và làm thêm tượng mới những dấu ấn của những lần trùng tu này không còn bao nhiêu. Chùa Sùng Ân được xây dựng sát đình. Chùa có mặt bằng chữ công gồm tiền đường, thiêu hương và thượng điện. Nhìn chung kiến trúc không có gì đặc biệt ngoài những mảng chạm hỏ phù trên các cốn mê của nhà thiêu hương. Hệ thống tượng pháp với bộ Tam thế, Di Đà Tam Tôn, Quan Âm Tống Tử, Thiện, Ác, Thập Điện Diêm Vương, Đức Ông, Thánh Tăng, tượng Mẫu, gồm 33 pho và một bức phù điêu đá tạc người có công đóng góp sửa chùa ở thế kỷ 17, là những tác phẩm nghệ thuật đẹp. Chùa còn 2 quả chuông đồng thời Lê và 14 tấm bia đá, 2 tấm có niên hiệu Bảo Thái và Vĩnh Khánh (1729 và 1773).

Chùa Đông Ba ngoài giá trị lịch sử còn có sưu tập nghệ thuật quý cần được bảo vệ.

Chùa đã được Bộ Văn hóa và thông tin xếp hạng di tích kiến trúc, nghệ thuật ngày 22.4.1992.

 

23. CHÙA ĐÔNG PHỦ (MINH LONG TỰ) ^

Chùa Đông Phủ ở xã Đông Mỹ, huyện Thanh Trì, Hà Nội. Chùa còn có tên là Hưng Long tự, tục gọi là chùa Nhót, hoặc theo sự tích chùa gắn với nhị vị vương bà nên còn gọi là chùa Đền.

Theo lời kể của dân làng, chùa có từ đời nhà Lý. Hai con gái vua Lý là Từ Thục (chị) và Từ Huy (em) đã rời bỏ kinh thành về tu ở chùa Đông Phù năm 1072. Hai bà được vua cha ban cho 3000 mẫu ruộng. Toàn bộ số ruộng này hai bà đem chia cho dân cả vùng gồm 9 làng thuộc tổng Nam Phù xưa và 10,5 mẫu cho Ninh Xá. Hai bà đã cho dựng điền trang, dạy dân khai khẩn ruộng đồng, đem giống mới về trồng cấy, dạy dân làm nghề thủ công.

Do công lao của hai bà đối với nhân dân phía đông nam Thăng Long, nhà vua đã phong sắc cho hai bà là “Đại Thánh bao phong đại bồ tát hồng liên toa hạ” và hai nàng hầu là Quỳnh Hoa và Quế Hoa được phong “Địa tăng trang vị dực bảo trung hưng thượng đẳng thần”.

Hiện nay chùa còn giữ được 2 đạo sắc phong cho Lý Liễu đoan trang công chúa năm Cảnh Hưng 44 (1785) và Chiêu Thống 1 (1787).

Chùa hiện còn tam quan, tiền đường, hành lang, thiêu hương, điện Mẫu, nhà tổ. Trong chùa có 42 pho tượng lớn nhỏ, tượng nhị vị vương bà và tượng nhị vị tiên cô. Ngoài ra trong chùa còn có hoành phí, kiệu bát công, kiệu rước, khám thờ và quả chuông Hưng Long thiên tự hồng chung bi kí, tấm bia đá khắc năm thứ 2 niên hiệu Vĩnh Tộ (1620).

Chùa đã được Bộ Văn hóa và thông tin xếp hạng di tích kiến trúc, nghệ thuật ngày 9.1.1990.

 

24. CHÙA ĐỒNG QUANG (ĐỒNG QUANG TỰ)^

Chùa Đồng Quang tên chữ Hán là “Đồng Quang tự” thuộc phường Quang Trung, quận Đống Đa, Hà Nội.

Theo tấm bia dựng năm thứ 8 niên hiệu Tự Đức (1856) khoảng niêm hiệu Thiệu Trị (1840 - 1847) quan tổng đốc Hà Nội là Đặng Hầu (Đặng Văn Hòa) sai thu táng những thi hài chết trong trận Đống Đa (1789) ở đầu đường, cuối ngòi thành 12 gò, lấy nhân công, tiền của 2 trại Thịnh Quang và Nam Đồng để làm mộ điện. Đến năm Tự Đức 4 (1851) quan kinh lược Nguyễn Đăng Giai khi Mở đường, mở chợ mới ở vùng này lại thấy nhiều xương khô nên sai đắp thêm một gò mộ nữa. Nguyễn Đăng Giai kêu gọi các nhà hảo tâm dựng thêm ở tự đàn 4 gian nhà nữa tức là chùa Đồng Quang. Tháng 2 hưng công, tháng 6 xong. Năm Bính Tuất niên hiệu Đồng Khánh. (1886) tri huyện Thọ Xương cải tạo lại chùa Đồng Quang, làm hai tòa tả hữu. Tới năm 1915 nhà sư trụ trì đã sửa chữa chùa, làm nhà hữu tu, xây cổng. Hiện nay kiến trúc của chùa chia làm hai phần, chùa thờ Phật và tự đàn. Chùa quay về hướng nam, phía ngoài có cổng, chùa hình chữ công (I) gồm tiền đường 5 gian, thượng điện 3 gian. Tự đàn hình chữ nhị (=) thờ người chết trong trận Đống Đa. Trong khuôn viên chùa còn có nhà tổ, tả vu, vườn tháp và các công trình phụ.

Chùa chính có kiến trúc hình chữ đinh gồm tiền đường và thượng điện.

Tiền đường có 5 gian, bờ nóc đắp hổ phù đội tòa sen, hai dầu hồi đắp rồng hướng vào giữa. Kiến trúc chùa theo kiểu chồng giường giá chiêng, hạ kẻ, phần trên của 2 vì hồi theo kiểu kẻ chuyền. Nền nhà lát gạch vuông.

Thượng điện gồm 3 gian dọc, vì kèo làm theo kiểu “chồng giường giá chiêng”. Ở 2 vì ngoài 2 vì giữa” thượng chồng giường giá chiêng, hạ kẻ”. Giữa 2 hàng cột của thượng điện xây bệ cao dần để đặt tượng.

Nghệ thuật trang trí chùa Đồng Quang được tập trung ở bộ khung nhà và các đồ gỗ, chủ yếu là ở mặt các cốn giường, kẻ và câu đầu. Đề tài trang trí là các hình hổ phù, rồng lá, mây lá, vân mây, được chạm nổi bong kênh. Diềm mái được chạm các hoa giấy, hổ phù. Các đầu kẻ, bẩy chạm hình rồng mai lão, trúc lão. Cốn hiên chạm hoa cúc, tùng lộc. Hai cốn nách trên vì giữa trang trí rồng mây chạm nổi, rồng có đầu nổi cao, thân ẩn hiện trong mây. Đây là đặc điểm chạm trổ của khoảng đầu thế kỷ này. Trong chùa còn có các cửa võng được chạm thủng với các hoa lá và xen kẽ những hình người đầu rồng, và các loài thủy tộc cua cá…

Chùa hiện có 37 pho tượng, trong đó có 19 pho trên tam bảo, 14 pho tượng Mẫu và 4 pho tượng ở đền thờ Quang Trung, ngoài ra còn 7 cửa võng sơn son thếp vàng, 5 khám thờ v.v…, 14 bia đá và 2 quả chuông.

Nhìn chung, chùa Đồng Quang được xây có niên đại muộn song nó găn  với lịch sử trận chiến thắng Đống Đa nên được coi như là một chứng tích - đánh dấu một vùng đất mà xưa kia đã làm trường thi, chọn những người có sức khỏe và sau là chiến trường năm 1789.

Chùa đã được Bộ Văn hóa và thông tin xếp hạng di tích kiến trúc, nghệ thuật ngày 27.12.1990.

 

25. CHÙA ĐỨC HẬU* (LINH SƠN TỰ) ^

Chùa Đức Hậu thuộc thôn Đức Hậu, xã Đức Hòa, huyện Sóc Sơn, ngoại thành Hà Nội. Di tích cách trung tâm Hà Nội khoảng 40km. Đường đi đến thị xã Sóc Sơn, rẽ tay phải qua núi đôi đến ngã tư Thó đi tiếp 1km nữa là đến di tích.

Chùa Đức Hậu cũng không ghi dựng năm nào. Mặt bằng chùa dựng hình chữ đinh, gồm tiền đường xây bít đốc tay ngai trụ trước và phần thượng điện; phía trước sân gạch và xây cổng một cửa.

Tiền đường gồm 7 gian 2 dĩ, gồm 16 cột gỗ - các cột ở gian giữa vuông, còn 4 cột sát tường tròn. Các cột hiên xây gạch. Phía trước 5 gian làm cửa bức bàn, gian đầu hổi có cửa sổ chữ nhật trổ hình chữ. Các vì kèo theo kiểu thượng chồng giường ở trên, chồng xà ở dưới ở hai vì đốc. Các vì giữa kiểu thượng giá chiêng, trụ kẻ đầu, xà con nhị đè quá giang gối cột, trung cốn ván đè xà nách gối tường cả trước sau.

Thượng điện nối liền tiền đường, bằng nóc với tiền đường, gồm 5 gian 4 vì kèo 8 cột gỗ vuông, đốc không có vì kèo mà gối tường. Các vì là kiểu quá giang, một trụ đỡ kèo suốt. Chỉ có vì giáp tiền đường làm kiểu gái chiêng gánh thượng lương, dưới là cốn ván trên xà gối tường. Hai bên thượng điện có hành  lang rộng, dọc hành lang có trụ đỡ mãi.

Phần trang trí nghệ thuật của chùa Đức Hậu chủ yếu ở tiền đường vào 2 vì giữa. Ở phần chính giữa nối với thượng điện có bức cửa võng được chạm trổ cầu kì, phía trên cửa võng có trạm hổ phù và triện cúc dây, hai cốn nách trạm hình tam li hóa hí cầu rất sinh động. Các vì khác có các họa tiết chạm nổi các đề tài hóa long v.v…

Chùa còn có nhà tổ, điện mẫu gồm 5 gian, xây bít đốc tay ngai trụ biểu nhỏ, kiến trúc đơn giản kiểu truyền thống chống cốn kẻ chuyền, tiện kẻ, hậu bẩy.

Chùa đã được Bộ Văn hóa và thông tin xếp hạng di tích kiến trúc, nghệ thuật ngày 10.3.1994.

 

26. CHÙA GIÁP NHẤT (PHÚC LÂM TỰ) ^

Chùa giáp Nhất ở thôn Giáp Nhất, xã Nhân Chính, huyện Từ Liêm, ngoại thành Hà Nội, cách trung tâm thành phố vào khoảng 7km về phía Tây.

Chùa gồm nhà tiền đường và thượng điện, nhà tổ, khuôn viên rộng rãi, có cây xanh. Tương truyền chùa được xây dựng từ khá sớm, đã bị hủy hoại bởi nhiều cuộc binh lửa. Hiện nay chùa còn hệ thống tượng Phật mới được tạo lại vào năm 1941. Chùa còn giữ tấm bia khắc năm 1892 ghi việc trùng tu chùa. Năm 1973 chùa đã sửa lại tòa tam bảo và dựng nhà tổ.

Chùa đã được Bộ Văn hóa và thông tin xếp hạng di tích kiến trúc, nghệ thuật ngày 31.1.1992.

 

27. CHÙA HÀ (THÁNH ĐỨC TỰ) ^

Chùa Hà trước đây thuộc xã Dịch Vọng huyện Từ Liêm, nay thuộc thị trấn Nghĩa Tân, huyện Từ Liêm Hà Nội; nằm cạnh đường 32 đi Sơn Tây.

Tương truyền chùa được làm từ lâu, đến đời vua Lê Hy Tông có 2 người làng  Thổ Hà sang ngụ để bán các hàng gốm. Hai người này làm ăn phát đạt đã cúng tiền để xây dựng chùa bằng gạch ngói vào năm Chính Hòa nguyên niên (1680). Từ đó 2 làng Thổ Hà và Dịch Vọng Trung kết nghĩa, đặt tên xóm và chùa  là Bối Hà nên cũng từ đó có tên là chùa Hà.

Chùa quay hướng tây, có kiến trúc chữ Đinh, tòa tam bảo có 5 gian, hậu cung có 3 gian. Phía sau là nhà tổ, hai bên là nhà hậu, mỗi nhà 3 gian. Bên cạnh là điện Mẫu, bên phải là đình Hà. Phía sau nhà tổ có một tháp thờ sư tổ.

Chùa đã bị giặc Pháp đốt phá vào năm 1947 nên các tượng Phật bị thiêu hủy không còn, phần lớn là mới được tạo tạc từ sau năm 1950, có thể chỉ có tượng Đức Ông và Phật Bà Quan Âm là cũ xưa. Chùa có một quả chuông đúc năm Cảnh Thịnh thứ 7 đời Tây Sơn, chuông cao 1,30m có khắc chữ Thánh Đức tự chung”. Chuông có bài văn chuông do Nguyễn Khuê viết nói về những người cúng tiền đúc chuông. Đến thời Nguyễn Gia Long có lệnh xóa các dấu vết thời Tây Sơn, dân Bối Hà đem chuông giấu xuống ao làng, sau đó khi xây lại tam quan mới vớt lên nên niên hiệu chuông không bị đục như nhiều chuông khác.

Chùa Hà còn là di tích cách mạng, từ năm 1944 đây là nơi gặp gỡ liên hệ công tác của thành ủy Hà Nội. Ngày 15.8.1945 đồng chí Nguyễn Quyết, bí thư thành ủy Hà Nội đã triệu tập cán bộ và đội viên tự vệ và thanh niên tuyên truyền xung phong để chuẩn bị tổng khởi nghĩa cướp chính quyền. Năm 1982 Sở Văn hóa và thông tin Hà Nội đã gắn biển di tích cách mạng.

Trong những năm gần đây chùa đã được xây dựng lại tam bảo, điện mẫu, tạc thêm tượng Phật, tu sửa xung quanh làm cho khuôn cảnh trí thêm đẹp đón tiếp nhiều người đến lễ bái.

 

28. CHÙA HIỂN QUANG* (HIỂN QUANG TỰ) ^

Chùa Hiển Quang thuộc xã Dương Hà huyện Gia Lâm ngoại thành Hà Nội cách trung tâm thành phố vào khoảng 15km về phía đông bắc. Đi qua cầu  Chương Dương, cầu Chui cầu Đuống đến thị trấn Yên Viên rẽ tay phải độ 1 km là đến di tích.

Theo văn bia còn lưu giữ chùa Hiển Quang xưa kia có quy mô lớn trong thời kì kháng chiến chống Pháp đã bị bom đạn phá hủy, chùa mới được làm lại. Chùa có kiến trúc mặt bằng hình chữ “đinh”. Tiền đường gồm 3 gian xây kiểu “tường hồi bít đốc” các vì kèo đơn giản bao trơn đóng bén. Các mảng chạm được thể hiện ở phần kẻ, bẩy hiên với đề tài tùng cúc. Thượng điện là 2 gian đọc, có vì kèo gióng lên tiền đường. Bên trong thượng điện xây bệ theo cấp cao dần từ ngoài vào trong để đặt tượng.

Hệ thống tượng của chùa còn lưu giữ được những pho có phong cách điêu khắc thế kỷ 19. Các đồ tế khí cũng có niên đại như vậy. Chùa còn giữ được một bia đá niên hiệu Chính Hòa đời Lê Hi Tông (1671 - 1675)

Chùa (và đình) đã được Bộ Văn hóa và thông tin xếp hạng di tích kiến trúc, nghệ thuật ngày 11.5.1993.

 

29. CHÙA HÒA MÃ (THIÊN QUANG TỰ) ^

Chùa Hòa Mã ở số 3 phố Phùng Khắc Khoăn, phương Ngô Thì Nhậm quận Hai Bà Trưng, Hà Nội.

Tương truyền chùa được xây dựng từ khi thành lập làng, chùa được xây cạnh đền, quay về hướng đông. Chùa gồm có tiền đường và tòa tam bảo, kiến trúc thành hình chuôi vồ. Tiền đường có 5 gian, hậu cung có 4 gian. Quy mô kiến trúc vừa phải. Chùa đã được sửa chữa nhiều lần. Hệ thống tượng Phật trong chùa đầy đủ, không có gì đặc biệt. Hiện nay chùa bị lấn chiếm nghiêm trọng, xâm phạm đến kiến trúc và cảnh quan của chùa ở tất cả các mặt.

Chùa mở hội hằng năm vào ngày mồng 8 tháng 4 âm lịch (ngày Phật đản), mang sắc thái của một làng quê nông nghiệp.

Chùa (và đền) đã được Bộ Văn hóa và thông tin xếp hạng di tích kiến trúc, nghệ thuật ngày 17.12.1986.

 

30. CHÙA HÒE NHAI (HỒNG PHÚC TỰ) ^

Chùa Hòe Nhai có tên chữ là Hồng Phúc tự, vì vậy cũng được gọi là chùa Hồng Phúc. Chùa thuộc địa phận phường Hòe Nhai, tổng Thượng, huyện Vĩnh thuận, kinh thành Thăng Long; này ở số 19 phố Hàng Than, phường Nguyễn Trung Trực, quận Ba Đình, Hà Nội.

Tương truyền chùa được xây dựng từ đời nhà Lý. Chùa đã sửa chữa và xây lại nhiều lần vào các năm 1699, 1703, 1812, 1894, 1920, 1946. Căn cứ vào tấm bia dựng năm Chính Hòa 24 (1703) do tiến sĩ Hà Tông Mục soạn có ghi rõ, chùa được dựng lại bến Đông Bộ Đầu, nên giới sử học nhờ đó xác định được trận đánh quân Nguyên ngày 29.1.1258 là ở gần chùa Hòe Nhai hiện nay.

Chùa gồm 2 bái đường trong và ngoài, chạy song song, mỗi tòa 5 gian; chính điện gồm 3 gian; nhà tổ gồm 7 gian ở phía sau, nằm song song với tiền đường, tạo nên bố cục kiểu chữ công (I). Bên phải nhà tổ là kinh viện (nhà để kinh), bên trái là nhà kho và nhà bếp. Tiền đường trong được làm thêm vào năm Thành Thái 11 (1899), được sửa chữa vào năm 1920. Tiền đường ngoài được làm thêm vào năm 1946. Trong thượng điện còn giữ được nhiều bức cốn chạn hình tứ linh và các cửa võng sơn son thếp vàng. Nhìn chung kiến trúc nhà chùa mang phong cách kiến trúc thế kỷ 19.

Chùa có nhiều tượng Phật, được bầy thành 6 lớp:

- Lớp 1: Bên phải tiền đường là nhóm tượng Đức Ông và 2 Hộ Pháp. Bên trái là tượng Thánh Hiền, hai bên là 2 vị Đại Si và Diệu Nhiên.

- Lớp 2: Tượng Cửu Long đứng trên tòa sen, hai bên là Đế Thiên, Đế Thích. Phía ngoài là Bồ Tát Phổ Hiền cưỡi voi 9 ngà và Văn Thù cưỡi thanh sư.

- Lớp 3: Giữa là tượng Phật “Dược Sư”, hai bên là Nhật Quang và Nguyệt Quang.

- Lớp 4: Giữa là tượng Thích Ca, tóc trên đầu xoắn hình ốc, tay bắt quyết. Hai bên là Bồ Tát Đại Ca Diếp và Át Nan Tôn Giả.

- Lớp 5: Giữa là tượng Phật A Di Đà ngồi trên tòa sen, chân xếp vòng tròn, hai tay để trước lòng bàn chân. Ngực khắc hình chữ Vạn. Hai bên là tượng Quan Thế Âm và Bồ Tát Đại Thế Chí.

- Lớp 6: Chính giữa thượng điện là 3 pho tượng Tam Thế: Vị Lai, Hiện Tại và Quá Khứ.

Ở hai bên tả, hữu thượng điện có pho tượng đặc biệt không chùa nào có là tượng Phật ngồi trên một ông vùa đang phủ phục, tượng Quan Âm Thị Kính, Hộ Pháp và 2 hàng Thập Điện Diêm Vương, mỗi bên 5 vị.

Ở nhà tổ và nhà Mẫu còn có tượng Mẫu trong khám thờ và tượng các sư tổ. Tổng số tượng ở chùa là 68 pho, được làm bằng nhiều chất liệu khác nhau như đồng hun, gỗ quý, đất nện. Hầu hết được sơn son thếp vàng, mang phong cách nghệ thuật thế kỷ 18.

Chùa có một quả chuông mang niên hiệu Tự Đức 17 (1864), một khánh đồng cao 1m, rộng 1,5m, đúc năm Giáp Dần niên hiệu Long Đức 3 (1734) đời Lề Thần Tông.

Sân chùa có 2 ngọn tháp cao 3 tầng. Chùa mới dựng một tháp vào năm 1963 tên là Ấn Quang để kỷ niệm hòa thượng Thích Quảng Đức đã tự thiêu để phản đối Ngô Đình Diệm đàn áp Phật giáo. Trong chùa có 28 chiếc bia. Qua những tấm bia này, chúng ta biết được chùa là trụ sở của một phái Phật giáo lớn ở miền Bắc là phái Tào Động. Phái Tào Động có sư tổ thứ nhất là hòa thượng Thủy Nguyệt, tổ thứ hai là thiền sư Chân Dung; tính đến năm Nhâm Thân (1932) thiền sư Tam Nghĩa Thích Nhân Từ, phái Tào Động đã trụ trì ở đây được 47 đời. Nhiều thiền sư đã được các vua phong sắc. Hiện nay chùa còn giữ một đạo sắc phong do vua Lê Hiển Tông phong cho thiền sư Trần Văn Chức năm Cảnh Hưng 11 (1750).

Trước đây chùa nằm trên một diện tích rộng, đến thời Pháp thuộc đã bị thu hẹp một phần để làm đường. Ngày nay khuôn viên của chùa vẫn còn bảo tồn được dáng dấp cổ kính. Tuy nhỏ nhưng “chùa Hồng Phúc ở Hà Thành, núi Nùng như vạt áo, sông nhị như giải lưng, Hồ Trúc Bạch chắn ngang, dòng Tô Lịch vòng lại, đây thật là chốn tùng lâm lâu đời của đất Thăng Long” (Văn bia 1703).

Chùa đã được Bộ Văn hóa và thông tin xếp hạng di tích kiến trúc, nghệ thuật ngày 21.1.1989.

 

31. CHÙA HÒE THỊ* (HƯƠNG ĐỖ TỰ) ^

Chùa Hòe Thị thuộc thôn Hòe Thị (tên nôm là Canh Chợ) xã Xuân Phương, huyện Từ Liêm, ngoại thành Hà Nội. Từ trung tâm thành phố đi qua Cầu Giấy, Cầu Diễn, qua làng Thị Cấm, gần tới Ngã tư Canh sẽ nhìn thấy đình và chùa làng Hòe Thị, tọa lạc trên một khu đất rộng có nhiều cây cổ thụ.

Tương truyền chùa Hòe Thị được xây dựng vào khoảng thế kỷ 17. Chùa đổ nát và đến năm 1928 đã được xây dựng lại. Chùa quay hướng tây nam. Chùa có tam quan ngoại bên lề đường 70. Tam quan nội được xây 2 tầng, có một quả chuông đúc năm 1932. Chùa xây trên một khu đất cao, tiền đường gồm 5 gian rộng, nhà hậu cung 3 gian. Chùa có đầy đủ các tượng Phật, có pho tượng Quan Âm Chuẩn Để có 24 tay. Phía trái chàu là nhà Tổ, điện Mẫu và nhà Tổ xây theo hình chữ môn. Ở đây có một quả chuông nhỏ đúc năm Thành Thái thứ 8 (1896).

Chùa (đã đình) đã được Bộ Văn hóa và thông tin xếp hạng di tích kiến trúc, nghệ thuật ngày 9.1.1990.

 

32. CHÙA H QUC (AN KHÁNH T)

Chùa H Quc còn có tên An Khánh t và chùa Thành Lương, phường Thanh Lương, qun Hai Bà Trưng, Hà Ni. Nguyên ban đầu gi là chùa An Khánh. Đến đời Lê do chùa đã có công ln trong vic giúp vua trđất nước, vì vy để nh ơn sâu, đời Lê Trung hưng đổi ra thành “H Quc t” còn Thanh Lương là gi theo địa danh phường hin nay.

Chùa ta lc trên mt khu đất khá cao so vi xung quanh, din tích khong 3 sào Bc B.

Theo bài minh trên chuông chùa H Quc thì chùa này do đức Linh Lang đại vương đời Lý Thánh Tông (1054 - 1058) xây nên cho dân có nơi th cúng, tng nim, dit tr thói xu, gây dng cái thin cho đời.

Đến thế k 16, nhà Mc cướp ngôi nhà Lê, vua Lê phi lánh ra chùa, vua Lê đi ri, quân Mc đến đốt phá c chùa. Sau khi nhà Lê Trung hưng, nghĩ đến ơn trước, cho lp li chùa tráng l hơn, ban tên là H Quc, cp cho nhiu rung ngoài bãi sông làm rung hương đăng cúng Pht. Sau này chùa được trùng tu sa cha nhiu ln, đáng k vào năm th 4 niên hiu Khi Định (1919) tu to li toàn b khu chùa. Mt bng chùa hình chuôi v gm tin đường 5 gian, thiên hương và chuôi v 3 gian. Trong chùa còn nhiu hin vt, tượng Pht có giá tr mang phong cách ngh thut Hu Lê.

Chùa đã được B Văn hóa và thông tin xếp hng di tích kiến trúc, ngh thut ngày 9.1.1990,

 

33. CHÙA HUY VĂN ĐIN DC KHÁNH ^

Chùa Huy Văn còn gi là chùa Dc Khánh được xây dng trên đất thôn Huy Văn, huyn Th Xương, Thăng Long (này là ngõ Huy Văn, qun Đống Đa, Hà Ni). Tương truyn xưa đây là mt gò đất, đêm thường phát ra ánh sáng l, có người Bc quc tên là Hoa Văn Cao ti ng cư, thy vy bèn đào lên và được mt khi vàng. Người này đem bán đi ly tin xây mt ngôi chùa và đặt tên là chùa Hoa Văn (đọc chch là Huy Văn). Theo các văn bia còn trong chùa, thì chùa được lp t đời vua Lê Thái Tông (1434 - 1442). Hi y mt phi tn ca Thái Tông là Ngô Th Ngc Giao b hoàng hu ghen ghét nên phi lánh ra chùa này. Ngc Dao nm mng thy thượng đế cho tiên đồng xung đầu thai, ri sinh được mt con trai đặt tên là Tư Thành. Tư Thành ngoài cung cm, là mt cu bé thông minh, đi hc t nh, lên sáu, by tui đã làm được thơ văn. Ti khi Lê Thái Tông mt, con c Nhân Tông lên ngôi, sau đó li b Nghi Dân giết chết và cướp ngôi. Các quan đại thn là Lê Xí và Lê Nim đem quân vào thành bt giết Nghi Dân và đón Lê Tư Thành vào triu lp lên làm vua, tc là vua Lê Thánh Tông. Sau khi lên làm vua, Lê Thánh Tông tôn m làm Quang Phc Hoàng thái hu và cho sa li chùa Huy Văn để k nim nơi sinh ca mình và dng ngay trước chùa mt ngôi đin để Hoàng thái hu , gi là đin Dc Khánh (ng ý trong đó chung đúc nhiu s tt lành). Thái hu được 30 năm thì mt. Lê Thánh Tông đúc tượng và chuông để th ngay ti đin. Tượng và chuông đã b k trm ly mt. Đến năm Vĩnh Tr 3 và 4 (1678 - 1679), sư chùa Huy Văn đã đứng lên khuyến hóa các nơi, đúc li tượng và chuông khác. Trong chùa ngoài tượng Pht, tượng thái hu còn có tượng Lê Thánh Tông. Tượng này nguyên trước đặt trên chùa Khán Sơn (trong vườn Bách Tho ngày nay) đến hi cui Lê, khi quân Tây Sơn kéo ra Bc, mt toán quân tha cơ phá chùa đó, dân chúng kinh thành bèn rước tượng Thánh Tông v th chùa Huy Văn.

Chúa b đổ nát nhiu, đã có nhng sa cha ln vào các năm 1822, 1823 và 1861, 1864. Bên ngoài đin th thánh, kiu nhà kép mái chng, đều 3 gian, bên trong th Pht, có dãy hành lang theo kiu ch công, đều 5 gian. Chùa còn lưu gi được 9 bia đá.

Chùa và đin hin nay có hình dáng kiến trúc ging vi ln sa cha thế k XIX. Khuôn viên ca chùa đã b thu hp rt nhiu do b xung quanh ln chiếm.

Chùa, đin và đền Huy Văn đã được B Văn hóa và thông tin xếp hng di tích lch s ngày 28.6.1996.

 

34. CHÙA HUNH CUNG (SÙNG PHÚC T)^

Chùa Hunh Cung thuc làng Hunh Cung, xã Tam Hip, huyn Thanh Trì, Hà Ni. T trung tâm thành ph đi theo quc l sô I v phía Nam, khong 10 km là đến làng và chùa.

Tương truyn chùa dng t lâu đời, tri qua nhiu ln trùng tu. Trong chùa còn ghi du vết kiến trúc đời Nguyn. Mt s pho tượng có phong cách ngh thut thế k 18. H thng tượng Pht có tòa Tam Thế, Di Đà Tam Tôn, Thích Ca… Trong chiến tranh chng pháp, tượng Pht b phá hy nhiu.

Chùa quay hướng đông nam, có kiến trúc kiu “ni công, ngoi quc”. Tin đường có 5 gian, nhà cu 3 gian, thượng đin 5 gian và hai bên hành lang. tin đường có mt s chân tng đá xanh kích thước ln 57 cm x 57 cm, vin xung quanh 15 cánh sen mp tròn có th là mang phong cách ngh thut Lê (thế k 15).

Chùa đã được B Văn hóa và thông tin xếp hng di tích kiến trúc, ngh thut ngày 5.9.1989.

 

35. CHÙA HƯNG KÝ (HƯNG VÕ THIN AM)^

Chùa Hưng Ký s nhà 38 B ph Minh Khai, phường Minh Khai qun Hai Bà Trưng, Hà Ni. Tên Hưng Ký là do nhân dân quen gi để ch ngôi chùa do ông Hưng Ký người Sài Gòn, ly v người làng Hoàng Mai, đứng ra xây dng.

Chùa được xây vào năm 1931, tam quan xây năm 1932. Phía sau chùa có đền Mai, khi chùa xây xong đền cũng được m mang to hơn. Chùa đã được tu sa nh vào nhng năm 1974, 1990.

Chùa được xây trên mt khu đất rng khong 300m2 gm tam quan, tòa tam bo, nhà bia, nhà t, nhà trai gii. Tòa tam bo hình chuôi v. Tin đường 7 gian, dài 12, 5 m, rng 6m, cao 4,5m, xây theo kiu “tường hi bít đốc”. Mái lp ngói ng, phn dim mái hiên là mt lot lá đề nh bng s màu có trang trí bên trong. B nóc mái được đắp va ni cao có trang trí nhiu tượng s màu vi các cnh như: bát tiên quá hi, thy trò Đường Tăng đi ly kinh… Nhà thiêu hương là mt bc gch có bàn th để tăng ni pht t cu kinh nim Pht. Thượng đin có hình chuôi v, dài 7m, rng 4m, mái cũng lp ngói ng, dim mái có hình lá đề bng s màu.

hai đầu tin đường là động Thp Đin Diêm Vương. Bên tay trái có bàn th Đức Ông, tượng Đức Ông gia, đầu đội mũ cánh chun, bên phi là bàn th Đức Thánh Hin. Tượng Đức Thánh Hin ngi gia, có khuôn mt đầy đặn, hin t, đôi mt lá răm dài, ming nh, đầu đội mũ có khc hình nh Quan Thế Âm B Tát ngi trên tòa sen. Tượng H Pháp là hai ông Thin và ông Ác.

 Trong nhà thượng đin, cách bài trí tượng Pht ca chùa khác vi nhiu chùa khác. chính gia có tượng A Di Đà, làm bng g, cao 3,2, chu vi 5,6m. Tượng ngi trên tòa sen, khuôn mt vi nhiu nét hin hu đôi mt dài và nh, mũi dc da thon, má bu bĩnh, đôi môi nh mím li, đoi tai to và dài, chy. Thân tượng ln có nhiu nếp áo tri t vai xung, có nhiu đường lượn to cm giác có nhiu tm áo mm mi. Tượng ngi theo li ta thin, hai chân khoanh tròn, lng vào nhau hai bàn tay lng vào nhau để nga.

bn góc thượng đin có 4 tượng: Đại Thế Chi, Quan Thế Âm, Quan Âm Chun Đề, Quan Âm Tng T.

Hai tượng Quan Thế Âm và Đại Thế Chí, cao 2,4m tc đứng trên tòa sen, đầu đội mũ tám cánh. Khuôn mt hin hu, vng trán cao, đôi mt lá dăm chy dài, mũi dc da nh, sng mũi gia hơi trũng xung để môi nh mn cht, tai to chy. Thân tượng nh thanh vi nhiu nếp áo tri dài t vai xung chân. Hai tay tượng chp li gia ngc trên trán tượng Quan Thế Âm có khc hình A Di Đà trên tòa sen.

hai góc trong cùng ca thượng đin là tượng Quan Âm Chun Đề và Quan Âm Tng T. Quan Âm Chun Đề có tư thế ngi trên tòa sen. Tượng có nhiu đôi tay, mi bàn tay trên các đôi tay đều có th khác nhau, các ngón tay bm vào nhau như đang bt quyết. Mt đôi tay chp trước ngc, mt đôi tay trong tư thế thin, hai bàn tay để nga, lng vào nhau phía trước bng, trong lòng bàn tay có mt viên ngc ln. Đây là chi tiết để phân bit vi Quan Âm Thiên Th Thiên Nhân.

Quan Âm Tng T được tc ngi da vào tng đá mt chân bt chéo ng vào tng đá, mt chân co vuông góc đặt chân tr ngi trên. Trên vai trái có tượng mt con vt.

Chùa Hưng Ký là mt ngôi chùa theo Tnh Độ Tông. Chùa đã được B Văn hóa và thông tin xếp hng di tích kiến trúc, ngh that ngày 22.4.1994.

 

36. CHÙA ÍCH VNH* (PHÚC LONG T)^

Chùa Ích Vnh còn gi lìa chùa Đống vì được xây dng trên gò Đống thuc thôn Ích Vnh, xã Vĩnh Qunh, huyn Thanh Trì, Hà Ni. Chùa cách trung tâm thành ph vào khong 17km, đi theo đường s I v phía Nam đến th trn Văn in ri r tay phi.

Tương truyn chùa Ích Vnh được xây dng vào thi Tây Sơn. Chùa quay v hương nam, gm tam quan, tòa tam bo. Tòa tam bo có hình chuông v gm tin đường 5 gian, xây kiu “tường hi bít đốc”, hu cung có 5 gian. Bên phi chùa có đin  Mu và nhà T.

Chùa có h thng tượng Pht có phong cách đời Nguyn.

Chùa Ích Vnh đã được B Văn hóa và thông tin xếp hng di tích kiến trúc, ngh thut ngày 9.1.1990.

 

37. CHÙA KEO (TRÙNG NGHIÊM T)^

Chùa Keo thuc xã Kim Sơn, huyn Gia Lâm, Hà Ni, cách trung tâm thành ph khong 20km. Làng Keo, có tên c là C Giao thuc huyn Long Biên qun Giao Ch. Làng Keo xưa có ngh truyn thng nu keo da trâu và ngh làm sơn g, đặc bit là sơn son thếp vàng.

Chùa Keo th bà Keo - Pháp Vân. Truyn thuyết k rng xưa kia đất Luy Lâu đã tc xong 4 pho tượng Pht; Pháp Vân; Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Đin nhưng còn vic to tượng chưa xong. Nhiu th các nơi đến nhưng không làm được vì sơn c chy tut đi khi quét lên. Đến lượt hip th Keo vào làm và công vic đã hoàn thành tt đẹp. Vic xong, hip th Keo thy mt khúc gc tha khi tc 4 pho tượng. Hip th Keo xin v, 4 tráng đinh Luy Lâu xin khiêng không ni, nhưng ch 2 người th làng Keo khiêng rt nh nhàng và đi thng v làng. Thy chuyn l, làng quyết định tc tượng và pho tượng Pháp Vân đã ra đời ging ht pho chùa Dâu, nhưng kích thước nh hơn.

Hin nay di tích ch còn li mt s kiến trúc: Tam quan được xây bng gch theo kiu nghi môn thi Nguyn. Tòa thượng đin là kiu nhà 4 mái, các góc đao nay ch còn trang trí đao đơn, hình cách điu. Kiến trúc m ca đầu hi (ít gp). B vì tòa thượng đin làm kiu chng giường, đầu các con giường đim xuyết chút hoa có phong cách ngh thut ca thế k 17. Tòa hu cung và tháp tam phm liên hoa xây trên đó, là sn phm ca thi Nguyn. Ngoài ra còn đin Mu và nhà T cũng là sn phm ca thi Nguyn. Đánh lưu ý là tượng Quan Âm Thiên Th Thiên Nhân, là sn phm ca thế k 17. Chùa còn lưu gi được tm bia thi Hoàng Định (1616).

Chùa đã được B Văn hóa và thông tin xếp hng di tích kiến trúc, ngh thut ngày 21.6.1993.

 

38. CHÙA KHƯƠNG H* (PHÙNG LC T)^

Chùa Khương H thuc thôn Khương H, xã Khương Đình, huyn Thanh Trì, ngoi thành Hà Ni, cách trung tâm thành ph vào khong trên 10km v phía Nam.

Theo truyn ming, chùa được xây dng t thế k 17, đến nay đã qua nhiu ln sa cha ln. Chùa có tam quan, tam bo, đin Mu, nhà t cùng các công trình ph. Tòa tam bo gm 5 gian được làm theo kiu “chng giường”. Tin đường có nhiu mng chm khc mang phong cách đầu Nguyn. Các tượng Pht trong chùa mang phong cách sáng tác Hu Lê, đầu Nguyn.

Chùa đã được B Văn hóa và thông tin xếp hng di tích kiến trúc, ngh thut ngày 18.1.1993.

 

39. CHÙA KHƯƠNG TRUNG*^

Chùa Khương Trung thuc thôn Khương Trung, phường Nguyn Trãi, qun Đống Đa, Hà Ni. Khương Trung là mt làng c ngoi thành Thăng Long trước đây.

Chùa Khương Trung nm sát bên trái đình. Trên các b mái ca chùa đều có đắp trang trí hình vân trin, hóa rng. Ngi chùa chính hình chuôi v. Chùa gm 3 gian, 2 chái, 3 gian hu cung. Kết cu vì kèo kiu chng giường, cn làm kiu k. đây trang trí không nhiu, song để làm tăng hiu qu ca kiến trúc người xưa đã chn nhng hình hoa sen, hoa dây, vân xon; phn cn mê ca hu cung được chm 2 hình rng cùng mây cun dày đặc.

Các hin vt còn li trong chùa là nhng pho tượng Pht, nhìn chung cũng đầy đủ so vi nhng ngôi chùa khác, song các tượng được to tác khá mun, khong thế k 19.

Đình, chùa Khương Trung nm sát nhau trong mt tng thế hoàn chnh. Tuy được trùng tu khá mun nhưng di tích xng đáng được xếp hng vì Hà Ni bâygi hiếm còn thy kiu kết cu g như vy.

Chùa (và đình) đã được B Văn hóa và thông tin xếp hng di tích kiến trúc, ngh thut ngày 16.12.1993.

 

40. CHÙA KIN SƠ*^

Chùa Kiến Sơ thuc xã Phù Đổng, huyn Gia Lâm, nm trong khu di tích Phù Đổng, cách trung tâm thành ph vào khong 15km v phía đông bc. T Hà Ni đi qua cu Chương Dương, cu Chui, cu Đung, r tay phi, men theo b t ngn sông Đung chng 5km là đến đi tích.

Chùa Kiến Sơ được xây dng t rt sm sau khi đạo Pht được truyn vào nước ta trung tâm Luy Lâu (làng Dâu - Bc Ninh). Sách s ghi năm 820 nhà sư Vô Ngôn Thông t Trung Hoa sang Vit Nam đã tr trì chùa này và sáng lp ra thin phái Vô Ngôn Thông.

Lý Công Un thu còn nh đã đến tu và hc kinh Pht chùa này. Tương truyn được Thánh Gióng báo mng s lên làm vua qua vic truyn tng bài thơ:

“Nht bát công đức thy,

Tùy duyên hóa thế gian,

Quang Quang trùng nh chiếu

Mt nh nhn đăng sơn.”

Bn câu thơ cha Hán báo mng có nghĩa là: triu Lý s lên làm vua được 8 đời, đem li hòa bình và thnh vượng cho đất nước. Nhà Lý s chm dt khi nào mt ông vua có tên gm ch Sơn (núi) trên có Nht (mt tri).

Vì vy sau khi Lý Công Un lên ngôi vua đã cho tu sa m mang chùa Kiến Sơđền Gióng. Chùa có nhiu tượng có giá tr ngh thut trong đó có các pho tượng truyn là tượng Vô Ngôn Thông và Lý Công Un, c tượng Khng T và Lão T. Dc hành lang có tượng 18 v La Hán. Sau chùa có đắp hang động.

Chùa Kiến Sơ cùng vi cm di tích Phù Đổng đã được B Văn hóa xếp hng di tích lch s, kiến trúc, ngh thut ngày 21.2.1975.

 

41. CHÙA KIM GIANG (DIÊN PHÚC T)^

Chùa Kim Giang có tên ch là Diêm Phúc t, thuc xã Đại Kim, huyn Thanh Trì, Hà Ni.

Chùa nm trên khu đất rng thoáng, quay hướng đông, trước mt là sông Tô Lch. Di tích gm: tam quan, tam bo, nhà T, đin Mu, vườn Tháp.

Tam quan chùa được xây dng bng gch, có niên đại mun, khong đầu thế k 20. Bên cnh tam quan hin còn cây đa c th.

Tam bo b trí mt bng kiu chuôi v, gm tin đường vài hu đin. Nn tam bo cao hơn mt sân khong 90cm, hai bên lan can tam cp chm mt đôi rng đã có niên đại đầu đời Nguyn khá đẹp, tôn thêm v uy nghi ca tam bo. Nhà tin đường gm 5 gian và hu đin gm hai gian.

Chùa xây kiu đầu hi bt đốc, vì làm kiu chng giường, giá chiêng. Kiến trúc được trang trí t linh, rng chu mt nguyt, hoa văn sóng nước, đao mác, chim hoa.

Trong chùa còn bo tn được 53 pho tượng tròn có giá tr như như: Tòa Tam Thế, Thích Ca Cu Long, Địa Tng B Tát, Thái Thượng Lão Quân…

Chùa còn mt qu chuông đồng c, đúc niên hiu Dương Đức th 5 (1674).

Nhà t ca chùa v trí bên trái tòa tam bo. Nhà T quy mô tương đối nh, gm 7 gian, 2 chái. Vì làm theo kiu chng giường, đấu kê; hoa văn trang trí ch yếu là văn, mây xon, sông nước và hoa dây mang nét ngh thut cui thế k 18 đầu thế k 19.

Sau khi tam bo là khu9 nhà th Mu và trai phòng, ch nghĩ ca các nhà sư.

Trong nhà th Mãu có tượng Tam Ph, Đức Thánh Trn.

(Đình, đền), chùa đã được B Văn hóa và thông tin xếp hng di tích kiến trúc, ngh thut ngày 21.1.1989.

 

42. CHÙA KIM LIÊN (HOÀNG ÂN T)^

Chùa được xây dng trên mt mnh đất ven H Tây, thuc địa phn làng Nghi Tàm, xã Qung An, qun Tây H, Hà Ni. Tương truyn nơi dng chùa là nn cũ mt cung đin ca công chúa T Hoa, con vua Lý Thn Tông (1127 - 1138), đem cung n ti khu vc này, trng dâu chăn tm, m ra tri Tm Tang. Đến đời Trn, đất này được gi là phường Tích Ma. Theo bia “Đại Bí t bi kí” dng năm Thái Hòa nguyên niên (1443) cho biết chùa được xây dng vào thi Lê Nhân Tông và có tên là Đại Bi. Chùa đã được sa cha và làm li nhiu ln vào nhng năm 1531, 1839, 1736, 1771, 1792. Năm 1771, chúa Trnh Sâm đã sai Phan Huy Đĩnh và Nguyn Khc Tuân d b ngôi chùa Bo Lâm phía tây thành v làm thêm vào chùa này. Vic m rng ngôi chùa dưới thi Tây Sơn được ghi rõ trong hàng ch khc trên thượng lương chùa H và chùa Thượng cùng tm bia đặt bên trái tin đường mang niên hiu Quang Trung ngũ niên: “Tháng trng thu năm Nhâm Tí, dân c phường cha li ngôi chùa và làm thêm nhà tin đường”. Như vy din mo ca chùa Kim Liên còn li như ngày nay là di sn ca kiến trúc ch yếu thi Tây Sơn.

Chùa Kim Liên có kiến trúc độc đáo. Tam quan chùa là mt hàng ct g tròn, bên trên có h con sơn đua ra tng dưới, thu hp dn tng trên, đỡ b vì mái vi nhng tàu đao vút cong thành thoát. Đôi ct cái gia to cao, nâng gii mái gia vươn lên to thành cng ln cao rng hơn hai bên. Nhìn t xa, tam quan chùa Kim Liên như mt cánh diu no gió đang vượt khi lũy tre làng bay lên tri cao. Trong tam quan chùa còn có nhng bc chm tr mt g hình rng, hoa lá hết sc tinh xo, uyn chuyn, huyn o. Tam quan chùa là mt dng kiến trúc độc đáo đượm dáng v cung đình. Tước đây các đòn by đủ sc đỡ các tàu mái không cn tr đỡ, đến đời sau, người ta mi xây thêm các tr gch để đỡ mái tam quan.

Chùa gm 3 dây nhà được b trí theo hình ch tam ().

C 3 dãy nhà đều được xây theo kiu chng diêm, mi dãy nhà có 2 tng mái, mi tng gm 4 mái. Kiu nhà chng diêm thường ch được dùng để xây các gác chuông vi din tích nh không có chùa nào đ, ch thy chùa Kim Liên. Các mái đều tn cùng góc bng các đầu đao hình un cong. Ba dãy nhà là chùa H, chùa Trung và chùa Thượng được xây trên mt mt bng gn gh theo mt li trc đối xng t tam quan đến nhà T. Chùa Hà, chùa Trung quay v hướng tây, riêng chùa Thượng quay v hướng đông. Chân các ct đều được kê trên các tng đá chm hình hoa sen cách điu. Ba dãy nhà được liên kết vi nhau bng tường xây gch để trn kết hp vi vic tr các ca s tròn hình “sc sc, không không” ca nhà Pht. Gia các nếp chùa có mt khogn trng để ánh sáng t nhiên chiếu ri vào, to nên mt không gian m o, thc hư làm cho cnh chùa thêm tôn kính huyn o.

Trang trí trong chùa thường dùng đề tài loi “lá thu du” là loi lá có 3 ch có gân ni. Đôi ch nhưđỡ thượng lương, đệm con sơn… được chm khc nhng bông sen n, hai đầu xà câu đầu được chm hình rng vi cái đầu gn nhng nét điêu khc ni rõ, uyn chuyn.

Trong chùa có nhiu tượng Pht đẹp, ni tiếng nht là tượng Quan Âm Thiên Th Thiên Nhãn (đã chuyn sang chùa Quán S) ngang hàng vi nhng pho tượng có giá tr ngh thut cao nht nước ta. Tượng Văn Thù thế đứng, hai ng tay ép sát ngc, hai bàn tay chp li, nét mat trm ngâm. Tượng Xá Li cao 1,59m, có nét mt đăm chiêu, khuôn mt kh, hàng xương sườn hai bên phơi l ra, có dáng dp như tượng Tuyết Sơn chùa Tây Phương. Trong chùa còn có mt pho tượng Tôn Ng Không, nhìn t phía nào cũng thy hình như không đứng im. Chùa còn cm pho tượng hình dáng mt trung niên, râu 3 chòm, mình mc áo cà sa, tay cm ht, đầu đội mũ min. Theo văn bia chùa thì đây có th là mt v hòa thượng giám t, nguyên là mt th ca chúa Trnh ngày xưa, đã tu chùa và vì có công vi chùa nên được tc tượng để th.

Gian gia có bc hoành phi “Hong un” (đạo lý sâu sc và rng rãi) được làm t năm 1870; còn bc hoành phi “Liên Hoan hi hi” (cnh sum vy vui đẹp nước Pht) thì mi được làm năm 1930.

Chùa còn gi được nhiu bia c, trong đó có tm bia dng năm Thái Hòa nguyên niên đời Lê Nhân Tông (1443) là tm bia c nht trên đất Hà Ni. Trang trí trên bia rt gn vi nhng bia cùng thi đó như bia Vĩnh Lăng.

Chùa Kim Liên đã b hư hng nng, t sau khi xép hng di tích lch s, kiến trúc, ngh thut đã được S Văn hóa thông tin Hà Ni trùng tu trong vòng gn 10 năm. Đến nay nó đã có b mt kiến trúc cũ ca thi Tây Sơn và là mt trong nhng ngôi chùa đẹp nht ca Hà Ni, có kiến trúc độc đáo trong các ngôi chùa c Vit Nam.

Chùa đã được B Văn hóa và thông tin xếp hng di tích kiến trúc, ngh thut ngày 26.4.1962.

 

43. CHÙA KIM QUAN* (N QUANG T)^

Chùa Kim Quan thuc xã Vit Hưng, huyn Gia Lâm ngoi thành Hà Ni, cách trung tâm thành ph vào khong 8km v phía bc. Đi qua cu Chương Dương, cu Chui khong 2km v phía cu Đung là đến di tích.

Trước đây chùa khá rng ln nhưng nay đã b thu hp nhiu. Chùa kiến trúc cũng bng g lim nhưng ít hoa văn chm khc, nng v bào trơn đóng hoa. Ca trong chùa là ca gió, chn song con tin, có đim chút hoa là hình cúc, tùng, mai, cun thư cùng mt s qu như đào, pht th.

Hai b vì kèo có chm rng mây lá cách điu. đầu con giường ni bt hình h phù và các hình rng, mây cách điu biu tượng s cu mong ngun nước di dào cho cư dân nông nghip.

Giá tr ca chùa là h thng tượng có t thi Lê - Nguyn gm 13 pho, cùng các c vt, đồ tế khi ca thế k 17, 18, 19.

Vi giá tr lch s - văn hóa nêu trên, li nm vùng có tim năng du lch, nhân dân có ý thc ung nước nh ngun, cũng tham gia vi nhà nước bo v di sn văn hóa t tiên để li, chàu s thu hút được nhiu khách tham quan.

Chùa đã được B Văn hóa và thông tin xếp hng di tích kiến trúc, ngh thut ngày 16.6.1992.

 

44. CHÙA KIM SƠN^

Chùa Kim Sơn còn có các tên gi Am Vn Linh, chùa Tàu Mã, chùa Kim Mã. Chùa s 223 đường Sơn Tây, qun Ba Đình, Hà Ni.

Chùa th Pht.

Thi Lý, vùng Kim Mã là pháp trường, nơi này tr thành nghĩa địa, người trong thôn Kim Mã lp ra mt am nh để th cúng. Sau này thi hài các chiến sĩ t trn Đống Đa (1789) trong kháng chiến chng gic Thanh được đưa vào t táng ti nghĩa địa Kim Mã. Am được gi là am Vn Linh. Năm 1831 người làng Kim Mã sa li am, bên trong dng tượng Pht, linh v th Vn Linh đặt ra hai bên, gi là chùa Tàu Mã. Năm 1897 đổi tên là chùa Kim Sơn. Năm 1932 xây dng li chùa, dng tòa tam bo, đền th Mu và đàn Vn Linh. Năm 1952 nghĩa địa Kim Mã chuyn lên Bt Bt, 1953 xây tam quan ngũ môn. Năm 1952 chùa Linh Sơn ph Nguyn Trường T b bom M tàn phá, toàn b tượng Pht ca chùa Linh Sơn được chuyn v chùa Kim Sơn và đặt trong gian th Vn Linh ca chùa Kim Sơn. Hin nay chùa Kim Mã có mt pho tượng Pht bng đồng, cao 76,8 cm nng khong 30kg. Tượng được th hin trong tư thế đứng thng vi tay n “vô y” trên mt b dng hình hp gn vuông đúc tin khi vi tượng. Mt trước chân b có khc chìm mt dòng ch Lào.

Tượng có mái tóc xon c, đỉnh đầu g cao như búi tóc, khuôn mt hình trái xoan, đôn hu. Mt dài, khép h, hơi xếch, cp lông mày thanh mnh ung cong xung đuôi mt. Sng mũi thng cao, cnh mũi n ming mm cười, môi mng, tai to và dài. Tượng có dáng thon th, lưng eo, vai rng, ngc và mông n. Hai chân đứng thng song song, bàn chân mp. Tượng mc áo cà sa bó sát thân, làm l rõ nhng hình khi n nang. Có mt di vi dài t thân trước vt qua vai sau. Mt áo choàng dài ph kín phía sau.

Đây có th là pho tượng Pht ca Lào đã du nhp các chùa Vit Nam trong s giao lưu văn hóa Pht giáo.

Trước đây vào ngày 5.1. âm lchngày gi trn Đống Đa chùa lp đàn chay tưởng nim các chiến sĩ đã hi sinh vì nước.

Chùa đã được B Văn hóa và thông tin xếp hng di tích kiến trúc, ngh thut ngày 1.4.1985.

 

45. CHÙA K VŨ* (K VŨ T)^

Chùa K Vũ thuc thôn Thượng Cát, xã Thượng Thanh, huyn T Liêm, ngoi thành Hà Ni, cách trung tâm thành ph vào khong 20 km v phía tây đi theo đường 32A.

Chùa K Vũ có quy mô kiến trúc ln vi nhiu lp nhà ngang dc, chùa chính nm phía trước, gác chuông và nhà T phía sau. Khép kín không gian ca chùa là 2 dãy hành lang nm song song để ni tin đường vi nhà T. Chùa chính có kết cu hình ch “công”, gm có tin đường, thiêu hương, thượng đin.

Tin đường có quy mô ln và làm theo dng nhà 4 mái vi các đao cong nh nhàng, các bđỡ mái làm theo 2 dng khác nhau, hai vì hi có kết cu “thượng chng giường h k”, các vì trong làm kiu “giá chiêng, tr trn, h k”, phn mái hi làm kiu “chng giường h by”. Mi vì nhà dng trên 6 hàng chân, mái phân thượng t h ngũ. Tin đường gm 7 gian 2 dĩ, phía trước có ca bc bàn, phía sau và hai hi có tường bao. Ni gia tin đường và thượng din là tòa thiêu hương gm 2 gian nhà dc, các b vì kèo đều làm kiu “chng giường giá chiêng h by”.

Thượng đin là kiến trúc c nht, gm 1 gian 2 chái. Góc mái vi các đao cong, đầu ca mi đao đắp ni đầu rng đang nhìn v nóc mái. B khung nhà làm theo kiu “chng giường giá chiêng h k”, các con giường chng khít lên nhau. K ăn mng qua ct cái và ct quân, bên trên có ván g dy để gi hoành. Do nhà thượng đin có nn cao 60 cm so vi thiêu hương nên khong cách gia các rui mái vi mt nn chi cao 1m 70. Mt nn để trơn không lát để cho âm dương giao hòa theo quan nim c xưa. Bao quanh 3 mt ca nhà thượng là h thng tường gch để trn, gch xây loi c ging gch chùa Bút Tháp và Tây Phương.

Dc theo nhà thiêu hương có 2 dãy gii vũ, mi dãy gm 7 gian đơn gin vì kèo kiu quá giang. Gian cui cùng ca mi dãy nhà làm kim phương đình, hai tng 8 mái, các góc đao cong ngược lên có trang trí đầu rng, đầu nghê.

Sau thượng đin là nếp nhà ngang, xây theo kiu tường hi bít đốc tay ngai. Sát phía sau gác chuông là nhà Mu gm 7 gian và cũng xây kiu tường hi bít dc tay ngai.

H thng tượng tròn có 51 pho tượng có giá tr thm M cao, các pho tượng được gia công t m, công phu. Ni bt là các pho tượng mang phong cách thế k 17, 18, như tam Thế, A Di Đà, Di Lc, T B Tát, Quan Âm Nam Hi, Công chúa h Lê. Hơn 50 pho tượng còn lưu gi đã biến ngôi chùa thành phòng trưng bày có giá tr v ngh thut điêu khc Vit Nam hai thi k Lê - Nguyn.

Chùa Thượng Cát còn bo lưu được b di vt văn hóa đồ s nhiu cht liu, chng loi khác nhau vi niên đại tri dài t thế k 17 đến thế k 20 như các y môn, bát hương, hoành phi câu đối.

Chùa đã được B Văn hóa và thông tin xếp hng di tích kiến trúc, ngh thut ngày 22.4.1992.

 

46. CHÙA LC TH* (LINH QUANG T)^

Chùa Lc Th thuc thôn Lc Th, xã Ngc Hi, huyn Thanh Trì, ngoi thành Hà Ni, cách trung tâm thành ph khong 20 km v phía Nam, đi theo quc l s I.

Chùa Lc Th được xây dng đã t lâu và được sa cha ln vào nhng năm 1753, 1825, 1935, 1954 và 1973. Chùa được xây trên mt gò đất cao nht trong làng. Chùa xây lin k vi đình làng, gm có tam quan và tòa tam bo.Tam bo hình chuôi v, gm có tin đường 3 gian, xây kiu “tường hi bít đốc”, hu cung 2 gian.

Chùa còn gi được nhiu hin vt c như tm bia dng năm 1716. Các tượng Pht trong chùa có phong cách điêu khc vào thế k 19.

Chùa đã được B Văn hóa và thông tin xếp hng di tích kiến trúc, ngh thut ngày 9.1.1990.

 

47. CHÙA LI ĐÀ* (CNH PHÚC T)^

Chùa Li Đà thôn Li Đà, xã Đông Hi, huyn Đông Anh, ngoi thành Hà Ni, cách trung tâm thành ph khong 20km v phía bc. Đường đến di tích qua cu Chương Dương, cu Chui, cu Đung r theo đường đến th trn Đông Anh.

Chùa đã được xây dng thì lâu đời trên mt khong đất rng. Chùa đã qua nhiu ln sa cha ln, dáng v hin nay là ca ln sa cha vào đầu thế k 20. Chùa có tam quan xây tách ri, nhà to mc và nhà T. Chùa có nhiu tượng Pht, đáng chú ý là 3 pho tượng Tam Thế: Quá Kh, Hin Ti và V Lai có phong cách ngh thut điêu khc thế k 18.

Chùa đã được B Văn hóa và thông tin xếp hng di tích kiến trúc, ngh thut ngày 5.9.1989.

 

48. Chùa Láng (Chiêu Thin t)^

Chùa được xây dng làng Yên Lãng (tên nôm là Láng), trước đây thuc huyn T Liêm, ph Hoài Đức, nay thuc phường Láng, qun Đống ĐA, Hà Ni. Chùa thường được gi tên là chùa Láng.

Chùa được xây vào thi Lý Thn Tông (1128 - 1138) trên mt khu đất rng khong 6 mu Bc B. Tương truyn chùa được xây dng để th Pht và ghi nh công ơn ca thin sư T Đạo Hnh đã giúp phép cho vua Lý Nhân Tông sinh thái t.

V T Đạo Hnh, sách “Lĩnh Nam chính quái” ca Vũ Qunh ghi:

“Ông h T tên là L, tĐạo Hnh, chùa Thin Phúc núi Pht Tích. Cha tên là Vinh, làm chc tăng quan đô sát triu Lý, thường qua chơi Yên Lãng, ly con gái h Tăng tên là Loan. L là con bà h Tăng, thu niên thiếu thích ngao du hào hip, phóng khoáng, có chí ln, ngôn ng không ai có th lường được. Thường cùng đạo sĩ Lê Toàn Nghĩa và người con hát là Phm t kết bn, đêm thì mi miết đọc sách, ngày thì thi sáo đánh cu, vui s chơi bi, cha m thường trách là tr ni. Nhưng mt đêm ghé qua khe ca vào trong phòng thy ngn đèn gn tàn, sách v chng cht, L gc xung án mà ng, tay vn không ri sách, t đó cha m không còn phi lo nghĩ gì na. Sau này L d thi Tăng hương thí, đỗ khoa Bch Liên (?). Không bao lâu cha L làm pht ý Diên Thành Hu, Diên Thành Hu sai Đại Điên dùng phép thut đánh chết và vt xác xung sông Tô Lch.

L nghĩ vic báo thù cho cha, mun sang chùa n Quc cu phép l để đánh li Đại Điên. Đường đi qua đất r Kim Xi (răng vàng) thy him tr, bèn quay v n cư núi Pht Tích, thường ngày đọc kinh Đại Bi Đà La, đọc trn mười vn tám nghìn ln. Sau mt thi gian dài tu luyn, T Đạo Hành tr v làng, ti cu Vu Quyết, cm gy ném xung sông Tô Lch, gy trôi ngược dòng như rng li đến cu Tây Dương thì dng li. Đạo Hnh đến nhà Đại Đin dùng gy để đánh. Đại Đin phát bnh chết. Thù cha đã tr xong, Đạo Hnh đi thăm các chn tùng lâm hc thêm pháp thut, k c vic cha bnh bng ma thut. Nơi tr trì ca thin sư là chùa Thiên Phúc núi Pht Tích”. “By gi vua Lý Nhân Tông không có con trai, xung chiếu tìm cháu ni ngôi. Em vua là Sùng Hin hu gp T Đạo Hnh xin cu t. Đạo Hành ha giúp, hn khi nào phu nhân tr d thì báo cho biết. Đến ngày Sùng phu nhân sp sinh hu báo tin cho Đạo Hnh. Đạo Hnh tm ra, thay áo ri vào núi hóa thân. Sùng phu nhân sinh con trai đặt tên là Dương Hoán. Dương Hoán lên hai tui được lp làm hoàng thái t, sau lên làm vua, hiu Lý Thn Tông. Do đó người sau cho rng Lý Thn Tông là kiếp sau ca T Đào Hnh”.

Vì vy trong chùa, ngoài tượng Pht, còn có tượng T Đạo Hnh mc áo cà sa và tượng Lý Thn Tông ngi trên ngai vàng, li có mt cái tráp đựng sách đồng khc ch Phn màu đỏ, tương truyn là di vt ca T Đạo Hnh, sách này đã b mt đêm 19.12.1946.

Có tài liu nói là chùa được xây dng dưới thi Lý Anh Tông (1138 - 1175). Anh Tông là con Thn Tông cho dng chùa Yên Lãng để th vua cha là Thn Tông và kiếp trước ca cha là T Đào Hnh. Tám thế k trôi qua, chùa đã được trùng tu nhiu ln. Thi Lê trung hưng, chùa được tu sa ln vào năm 1656, có văn bia do Diên Th bá Nguyn Văn Trc son và Tham tng, Bt qun công Thượng tr quc Dương Trí Trch hiu duyt. Din mo như ta thy hin nay là t ln sau dưới thi T Đức, gia thế k 19. Trước đây chùa bao gm đúng 100 gian. Được xây theo kiu “ni công ngoi quc”. Tam quan 3 gian, lu bát giác 4 gian, tin tế 1 gian, tà vu 9 gian, hu vu 9 gian, tin đường 9 gian, hành lang hai bên 18 gian, hu cung và trung cung 7 gian, nhà t 5 gian, hu đin 9 gian, nhà hu 10 gian, nhà khách 7 gian (không k nhà bếp). Đáng chú ý là các ngôi nhà chính đều có 9 gian to nên ngôi chùa to rng b thế.

Khuôn viên chùa rng rãi, cõi tc và cõi thin được phân chia bi lp tường gch bao quanh va quá tm mt. B cc mt bng đỗi xng theo mt đường trc đọc t ca tam quan đến nhà T phía sau. Kiến trúc tng tng lp lp vi chc năng khác nhau, hòa hp vi sân vườn và cây xanh to nên mt không gian hài hòa, sâu thm, tĩnh mch, c kính ca cnh chùa Vit Nam. Dn vào cõi Pht là ca Tam Triu, hình khi đường b thanh thoát, có v độc đáo, gia là 4 tr hoa biu bng gch, trên là 3 ô cng được liên kết bng 3 di mái cong mm mi. Mái gia cao rng hơn, được đỡ bng hai tr vuông to và cao. Qua cng tri ra mt vt sân được lát gch Bát Tràng, gia sân có sp đá vuông là nơi chng đòn rước kiu ngày hi. Tam quan là ngôi nhà 3 gian, hai hàng ct gia bng gch để trng thông thoáng, bên trên có 4 mái, hai lp song hàng theo kiu mái chng. Tiếp đến gia là mt thm c có hai hàng mum to cao ta bóng xung lòng đường. Qua mt lp na dn vào sân chính. Gia sân trước tòa nhà tin đường, t vu, hu vu là ngôi nhà Bo Cái, mt bng bát giác, nơi đặt kiu Thánh vào đêm trước ngày hi. Nhà Bo Cái đặt v trí trung tâm ca chùa, là công trình có giá tr kiến trúc ngh thut ni bt. Ct hiên bao quanh và tường bên trong đều bng gch nung già để trn. Mái lp kiu mái chng, hai tng, gm 16 mái mm mi thanh nhã.

Hai bên bc thm dn lên nhà tin đường có đôi rng đá cun khúc uyn chuyn đẹp đẽ. Tm bia to l dng năm Thnh Đức 4 (1656) cao 1,4m, rng 0,8m, có hoa văn rng chu mt nguyt, hai bên rim có phượng chu hoa sen và hai tiên n vi đôi cánh dướn bay lên tri xanh. Chùa có 15 bia, bên trái tin đường có mt tm bia Phúc Đin ghi vic thái úy Tây Quc công Trnh Tc (1657 - 1682) cùng v là công chúa Lê Th Ngc cúng hu mt mu rung vào chùa, gn đó có bc tượng công chúa thường được gi là tượng “Bà Hu”. Tòa tin đường và trung đường song song, cách nhau ch hơn mt mét, để to nên ánh sáng m o, được ni vi nhau bng mt nhà cu gia. Hu cung gn vi trung đường dng ch công. Khi kiến trúc được ni vi nhà t phía sau bng hai dây hành lang. Ti đây có lu chuông và lu khánh, chùa có hai qu chuông và mt khánh ln. Chuông được đúc năm 1740 và khánh đúc năm 1738. Dưới mái hành lang có hai dãy động Thp Đin Diêm Vương, đắp khá đẹp, miêu t nhưng hình pht vi k tàn ác dưới âm ti. hu cung, tượng vua bng g, tượng thánh bng mây đan ngoài phết sơn. Chùa có 198 pho tượng ln nh và 15 tm bia đá. Chùa có 30 bc hoành phi và 31 câu đối. Chùa còn lưu gi được 12 đạo sc phong ca các vua Lê, Tây Sơn và triu Nguyn, Sm nht là ca vua Lê Cnh Hưng (1790) và ca Quang Trung, sc cui là ca Khi Định. Trong hp sc còn có cun sách Lun tích ca tri ph Quc Oai viết năm Vĩnh Hu 3 (1737) phán xét vic khiếu ni ca dân tri Yên Lãng rước hi qua các làng Thượng Yên Quyết, Dch Vng Tin lên chùa Bà Lăng thăm m ca T Đạo Hnh. Ngoài ra còn hai cun sách bng ch Nôm din ca “S tích thánh đế h T” và “Ph lc s tích”, dài 464 câu.

Hi Láng hàng năm vào ngày 7 tháng 3 là ngày hóa thân ca T Đạo Hnh, dân làng m hi chùa. Ca dao cũ còn ghi:

Nh ngày mng 7 tháng 3,

Tr v hi Láng, tr ra chùa Thy.

Vào sáng ngày mng 7, dân làng trước hết làm l tm tượng, ri rước kiu lên chùa Bà Lăng (Hoa Lang) Dch Vng Tin để thăm m. Kiu phi li qua sông Tô Lch ch Cng Cót ri theo b sông bên đó mà lên làng trên. C qut rp đường, trng chiêng vang rn. Có c con đĩ đánh bng do nam gii đóng gi) va đi va đánh bng (trng cơm) vùa múa tay. Khi đám rước đến trước đền Thánh T (th Đại Điên) thì dng li đốt pháo thăng thiên bn vào chùa và múa gy (din li trò T Đào Hnh đánh Đại Điên). Sau đó đám rước đi tiếp đến đền Ba Lăng. Hi Láng còn có các trò vui khác như đánh đu, đánh vt… thc ra là cuc din xướng tng hp văn ngh th thao ca mt vùng quên ven sông Tô.

Chùa Láng còn là di tích cách  mng, đây đã có các cuc hp ca Thanh niên phàn để năm 1940 - 1941, ca Thanh niên cu quc nhng năm 1943 - 1945. Sauu cách mng Tháng 8 năm 1945, hi 9 gi sáng ngày mng 4 tết Bính Tut (5.2.1946) Ch tch H Chí Minh đã v chùa Láng khai mc ch phiên ca nhân dân ngoi thành Hà Ni ng h đồng bào Nam B kháng chiến chng Pháp xâm lược.

Chùa Láng cnh kinh thành Thăng Long xua, “Tht là danh lam bc nht thế gian chùa nào sánh kp, khí tt Phượng Thành bên hu ta khp, dòng sông  Tô Lch bên t lượn vòng. Nh hà nghìn dm quanh kinh đo un khúc như rng xanh lp lp chu v. Tn Viên dãy núi đầy thế đẹp hướng vào, như h trng đàn đàn đến hp” như văn bia 1656 đã ghi, còn đứng gia chùa.

Chùa đã được B Văn hóa và thông tin xếp hng di tích kiến trúc, ngh thut ngày 28.4.1962.

 

49. CHÙA LIÊN PHÁI (LIÊN TÔN T)^

Chùa trong ngõ Liên Phái, ph Bch Mai, qun Hai Bà Trưng, Hà Ni. Lúc mi xây dng, tên là Liên Hoa, năm 1733 đổi tên là chùa Liên Tông. Đến năm 1840 vì phi kiêng húy vua Thiu Tr nên đổi tên, gi là chùa Liên Phái. Chùa do Lân Giác Thượng Sĩ, tên tht là Trnh Thp là con ca Tn Quang Vương Trnh Bính, em rut chúa Trnh Cường, v là công chúa th 4 ca vua Lê Hi Tông (1676 - 1733), được lp ph đệ riêng phường Hng mai (sau đổi là Bch Mai) to dng. Mt hôm Trnh Thp sai quân lýnh đào đất phía sau nhà thì thy mt ngó sen rt ln, ông cho đó là đim áo phi xut gia, bèn cho sa ph đệ thành chùa, đặt tên chùa là Liên Hoa, để tham thin và đọc kinh Pht. Sau khi xut gia ông đến chùa Long Động núi Yên T hc đạo vi hòa thượng Tu Đăng. Lân Giác Thượng Sĩ mt năm 37 tui (1733), được các đệ t ha táng, dng tháp xá l để tôn th làm t th nht ca dòng Liên Tông (dòng hoa sen). T đó chùa có tên là chùa Liên Tông.

Chùa đã được tu sa nhiu ln, đợt sa cha ln nht vào năm t Mão (1855) sa nhà T, nhà tng, hành lang t hu, tô tượng Pht… hết mt ngàn quan tin công đức. Công vic làm trong 6 năm tri mi hoàn thành. Đến năm K T (1869) li làm thêm gác chuông, xây tường bao quanh quy mô rng ln.

Hai bên cng chùa là hai h rng. Trước chùa là ngôi tháp Diu Quang hình lc lăng cao 10 tng, có kíen trúc thanh nhã c kính. Nhà bia có 34 tm bia ghi s tích chùa và các ln tu sa, cùng ghi tên nhng người góp công đức. Qua sân rng đến nhà bái đường và tam bo là nơi th Pht. T tam bo đi qua mt sân nhđến nhà t. Sau chùa là khu vường tháp, trên mt gò đất cao có 9 ngôi tháp xây thành 3 hàng: Hàng th nht 2 ngôi, hàng th hai gia có 5 ngôi, hàng sau có 2 ngôi, hàng gia gm nhng ngôi tháp cao, có ngôi tháp Cu Sinh xây bng đá, tương truyn đây là nơi táng hài ct v sư t th nht Lân Giác Thượng Sĩ. Ngoài ra, chùa còn có mt ngn tháp cao 9 tng kiến trúc rt đẹp, được xây vào khong 1890.

Trong chùa, ngoài tượng Pht, còn có tượng Thượng Sĩ Lân Giác, mt qu chuông có ch “Liên Tông tc din” (Liên Tông kế tc sáng ngi), nét ch thi Lê Trung hưng. Theo bia dng năm T Đức 7 thì các đời sau ca Phái Liên Tông có: T th hai là sư t Khai Sơn, sư t th 3 là sư t Bo Sơn, đời th tư là sư t T Phong…

Chùa Liên Phái và tháp Cu Sinh đã trên 250 tui. Đây là ngôi tháp c nht trong khu vc ni thành Hà Ni. Quy mô hin nay ca chùa không khác gì my so vi ln sa cha gia thế k 19.

Chùa đã được B Văn hóa và thông tin xếp hng di tích kiến trúc, ngh thut ngày 28.4.1962.

 

50. CHÙA LINH QUANG* (LINH QUANG T)^

Chùa Linh Quang thuc thôn Công Đình, xã Đình Xuyên, huyn Gia Lâm, ngoi thành Hà Ni. Qua cu Chương Dương, cu Đung đến th trn Yên Viên r vào cách trung tâm thành ph khong gn 20 km.

Chùa Linh Quang gm chùa chính, nhà T, đin th Mu.

Tin đường 3 gian gia ca bc bàn, hai gian bên xây tường bao tr ca s, kết cu theo kiu “thượng giường h k” và “thượng giường h by”. Các đầu by con giường và xà trang trí đề tài vân xon ln, hoa lá là các yếu t t nhiên biu hin ngun nước.

Đin Pht b trí như các loi chùa ph biến khác nhưng đáng quan tâm hơn c là b tượng Tam Thế vi v đẹp t nhiên, đầu tóc kiu bt c, nhc khi ni cao, biu hin quý tướng thông minh sáng láng, phng pht khuôn mt n tính, áo cà sa mm mi vt qua vai, yếm chy thành hình vòng cung trước ngc, tòa sen 3 lp cánh. Pho A Di Đà má bu và x hơn, tai tượng ln dày biu hin s sang trng phú quý. Đẹp nht là pho tượng Quan Âm Thiên Th Thiên Nhãn có 12 đôi tay biu hin pháp lc vô biên ca đức Quan Âm, gn gũi phong cách thế k 17, áo cà sa nhiu vt chy qua vai, cánh tay rơi buông xung lòng đùi. Chùa có 40 tượng Pht, 1 chuông đồng đúc thi Minh Mnh ngũ niên (1824), bia hu niên đại Cnh Hưng 7 (1746).

Chùa xây dng vùng cnh quan thoáng đãng, cnh mt con sông, lưu nhiu di vt quí giá. Kiến trúc quy mô tuy không ln, mang du n thi Nguyn nhưng có nhiu mng chm đẹp.

Chùa đã được B Văn hóa và thông tin xếp hng di tích kiến trúc, ngh thut ngày 22.4.1992.

 

51. CHÙA LINH QUANG PHÒNG* (LINH QUANG PHÒNG T)^

Chùa Linh Quang Phòng thuc thôn Tế Xuyên, xã Đình Xuyên, huyn Gia Lâm, ngoi thành Hà Ni, cách trung tâm thành ph vào khong 15 km v phía đông - bc. Đi qua cu Chương Dương, cu Chui, cu Đung đến th trn Yên Viên r tay phi chng 3km là ti làng. Chùa được xây dng trên mt khu đất cao, sau miếu Tế Xuyên. Căn c vào ct hương thì chùa được dng năm Thái Bo 9 (1728) và đúc chuông năm 1800. Kiến trúc ca chùa có hình hcđinh”. Chùa chính gm 5 gian tin đường, xây kim “bít đóc tay ngai” trên b nóc có 3 ch Linh Quang T. Chùa nh được làm kiu “giá chiêng k chuyn” có 4 hàng chân, vt liu g đều bào trơn đóng bén. Thượng din gm 4 gian ni vi tin đường, kết cu kiu “thượng giường h k”. Các cn mê được trang trí rng phượng, rng, mây chm ni.

Chùa Linh Quang còn gi được các pho tượng Tam Thế, tượng Văn Thù và Ph Hin được to t cui Lê (thế k 17, và 18), s tượng còn li được to vào thi Nguyn (thế k 19). Chùa có cây hương đá và bia được dng vào khogn cui đời Lê - Tây Sơn.

Trong thi kì kháng chiến chng Pháp, chùa là cơ s ca du kích và các cán b hot động trong ni thành.

Chùa (và đình miếu) đã được B Văn hóa và thông tin xếp hng di tích kiến trúc, ngh thut ngày 23.6.1992.

 

52. CHÙA LINH QUANG (LINH QUANG T)^

Chùa Linh Quang thuc phường Thanh Lit, qun Đống Đa, Hà Ni. Tương truyn chùa được xây dng t khá lâu. Bia xây dng chùa chính gia có ch “BÁT NHÃN THIÊN” có niên đại 1725, phía dưới bia là phù điêu mt quan hcc ngi khoanh chân. Chùa có kiến trúc hình chđinh”. Tin đường gm 6 gian “bít đốc”, có 2 tr biu phía trước. Thượng đin có 3 gian dc ni vi tin đường.

Trong chùa có 25 pho tượng Pht. Nhà t có 3 pho, đều có niên đại to lp đầu thế k 20.

Trong nhng năm trước cách mng Tháng Tám 1945, chùa là nơi liên lc hi hp ca Thanh niên cu quc để chun b tng khi nghĩa. Trong kháng chiến chng Pháp, chùa là nơi liên lc ca bit động quan thành ph, được sư c Đàm Thanh che giu. Sư c Đàm Thanh đã được Chính ph tng thưởng Huân chương kháng chiến.

Chùa (và đình miếu) đã được B Văn hóa và thông tin xếp hng di tích kiến trúc, ngh thut ngày 18.1.1993.

 

53. CHÙA LINH NG (LINH NG T)^

Chùa Linh ng có tên ch là “Linh ng t”, nm sát mt đường Khâm Thiên, mang bin s nhà 290, thuc phường Th Quan, qun Đống Đa, Hà Ni.

Chùa th Pht và Trn Hưng Đạo.

Chùa xây dng vào thế k 19 và tiếp tc được tôn to vào nhng năm đầu thế k 20, được trùng tu ln vào năm 1951, xây thêm tam bo vi kiu mái chng dim như hin nay. Sau ln b bom B52 ngày 26.1.1972 chùa b thit hi nng. Cui năm 1973 chùa li có mt ln tôn to ln, gn đây, năm 1990, các hi ch li đem tâm sc tu b ngôi chùa sa sang Pht đin, lát nn nhà Mu, nhà T.

Chùa có các bc ca võng sơn son thếp vàng khá đẹp. Trong chùa còn bo tn được 2 tượng tròn có niên đại thế k 19 - 20 và nhiu tượng có giá tr như: A Di Đà, Di Đà Tâm Tôn, Cu Long. Tượng Trn Hưng Đại ngi trên long ngai du đội mũ bình thiên, mc áo long bào, ngai ca chm đầu rng sơn son thếp vàng, chm bong rt k lưỡng theo phong cách ngh thut thế k 19. Trong nhà th Mu, nhà t có tượng Tam Tòa Thánh Mu, Hoàng By, Hoàng Mười, cô, cu.

Chùa đã được B Văn hóa và thông tin xếp hng di tích kiến trúc, ngh thut ngày 21.6.1993.

 

54. CHÙA LINH NG* (LINH NG T)^

Chùa Linh ng thuc thôn Siêu Qun, xã T Thanh Oai, huyn Thanh Trì, ngoi thành Hà Ni, cách trung tâm thành ph vào khong 17 km v phía tây nam. Đi theo quc l s I, đến th trn Văn Đin, r phi đến Cu Bươu, men theo b sông Nhu, theo con đường đất là vào đến di tích.

Chùa Linh ng được xây dng cnh đền Siêu Qun. Chùa có tam quan, thượng đin và tin đường. Tin đường gm 5 gian, thượng đin gm 3 gian. H thng tượng Pht trong chùa đầy đủđược to tác khá M thut.

Chùa (và đình) đã được B Văn hóa và thông tin xếp hng di tích kiến trúc, ngh thut ngày 5.2.1994.

 

55. CHÙA LINH NG (LINH NG T)^

Chùa Linh ng (Linh ng t) thuc thôn Th Cm, xã Xuân Phương, huyn T Liêm, Hà Ni. Chùa được xây dng trên khu đất rng bên b tây sông Nhu.

Truyn thuyết dân gian trong vùng cho biết chà Linh ng được xây dng dưới đời Trn. Đến cui thế k 17, v chng bà Nguyn Th Ho bn thôn đã đem ca nhà tu sa cung đin, gác chuông, khánh. Đến năm niên hiu Cnh Thnh 2 (1795) li đúc qu chuông “Linh ng chung”. Sang đời Nguyn, chùa được sa cha ln vào năm Đinh T, niên hiu T Đức (1857), đến năm Quý Mão niên hiu Thành Thái (1903) dân làng li đúc qu chuông “Linh ng t” mi. Năm niên hiu Bo Đại 12 (1937) chùa được tu sa ln, xây 5 gian đin vũ, 1936 xây tòa Thánh Mu, tô tượng và sm đồ th, 1937 xây hu đường, tăng phòng 9 gian.

Hin chùa nm bên b sông Nhu gm có tam quan, nhà khách, nhà Mu và tam bo, tòa tam bo mt bng hình ch công (I), có tin đường 3 gian 2 dĩ, thiêu hương 2 gian, thượng đin 3 gian. Trên kiến trúc chùa còn gi được nhiu mnh chm khc c mang phong cách ngh thut thế k 19. Hin vt, tượng pháp trong chùa mang phong cách ngh thut thế k 18 - 19, có giá tr lch s ngh thut.

Chùa đã được B Văn hóa và thông tin xếp hng di tích kiến trúc, ngh thut ngày 2.3.1990.

 

56. CHÙA LONG QUANG* (LONG QUANG T)^

Chùa Long Quang thuc xã T Hip, huyn Thanh Trì, ngoi thành Hà Ni. Cách trung tâm thành ph khong 20 km v phía nam đi theo quc l s I.

Chùa Long Quang ta lc trên mt khu đất cao ráo, được xây dng theo kiu “tin thn hu Pht”. Ngôi chùa có quy mô kiến trúc ln vi nhiu nếp nhà bao quanh thượng din. T ngoài vào gm có tam quan, khu chùa chính, hai dãy hành lang chy song song, sau cùng là nhà th Mu.

Tam quan xây kiu 2 tng 3 chái. Hai bên là 2 ct tr biu cao to, đỉnh là hình 4 con chim phượng, chm đuôi vào nhau, tng trên các góc mái un cong đắp hình rng, là cách điu, chính gia là hình mt tri.

Khu chùa chính kết cu hình ch đinh bao gm tin đường và thượng din. Tin đường gm 5 gian làm theo kiu “đầu hi bít đốc tay ngai”. Kết cu b khung nhà làm theo kiu “chng giường ct trn”. Các mng chm khc thanh thoát vi các đề tài t linh, rng mây, hoa lá, v.v… mang đậm nét phong cách ngh thut thi Nguyên (thế k 19).

Thượng đin là ngôi nhà 5 gian, b khung làm theo kiu “chng giường giá chiêng”, xà nach đăng đối. H thng ca võng, y môn sơn son thếp vàng to v trang nghiêm lng ly ca ngôi chùa.

Trong chùa còn có lưu gi 52 pho tượng tròn, trong đó có các pho tượng Tm Thế, b Di Đà Tam Tôn, Pht thuyết pháp và Quan Âm Chun Đề, ra đời cui thế k 18, còn li các pho tượng khác mang phong cách ngh thut thế k 19.

Chùa đã được B Văn hóa và thông tin xếp hng di tích kiến trúc, ngh thut ngày 25.1.1994.

 

57. CHÙA LÝ QUC SƯ^

Chùa Lý Quc Sư (xưa gi là đền) s nhà 50 ph Lý Quc Sư, qun Hoàn Kiếm, Hà Ni. Nơi đây trước kia thuc thôn Tiên Nh, tng Tiên Túc, huyn Th Xương, kinh thành Thăng Long.

Theo s sách thì chùa được lp t năm 1131 theo lnh ca vua Lý để làm nơi tu hành cho các nhà sư cnh chùa Báo Thiên và gi là Lý Quc Sư t.

Chùa đã qua nhiu ln tu sa ln, đã b thc dân phá hy hi đầu kháng chiến chng Pháp 1946. Quy mô ca chùa như hin nay là do ln sa cha vào năm 1954.

Chùa th Pht và Thiên sư Minh Không. Ông tên là Nguyn Chí Thành quê Đin Xá, huyn Gia Vin, tnh Ninh Bình. Năm 1138 ông đã cha khi bnh mc lông, gm thét, hóa h cho vua Lý Thn Tông nên được triu đình phong là Quc Sư và cp p làng Tiên Th. Ông mt năm 1141, th 76 tui.

Chùa th Pht, có nhiu tượng Pht được to tác có phong cách ngh thut đời Lê. Đáng chú ý là nhóm tượng Long N Thin Tài, được tc bng đá trên ct cao 3 m có các trang trí hoa sen, hoa cúc dây hoa th, lá đề… vòng quanh ct. Nhóm tượng có cu trúc khác l, tượng tròn cân đối, mang du n phong cách ngh thut thế k 18.

Bên cnh các tượng Pht là tượng nhân thn, có tượng Thièn sư Minh Không, Giác Hi, T Đạo Hnh. Cũng có c tượng cha m T Đạo Hnh, nhng tượng này có phong cách ngh thut thế k 18, 19. Do va th Pht va th nhân thn nên chùa Lý Quc Sư đã th hin khá rõ tín ngưỡng ca người dân kinh thành Thăng Long.

Chùa đã được B Văn hóa và thông tin xếp hng di tích kiến trúc, ngh thut ngày….

 

58. CHÙA MAI PHÚC (MINH TÔNG T)^

Chùa Mai Phúc thôn Mai Phúc, xã Gia Thy, huyn Gia Lâm, ngoi thành Hà Ni, cách trung tâm thành ph khong 7 km v phía đông bc. Chùa gm có các kiến trúc tòa tam bo, nhà hu, nhà t, đin Mu và nhà tăng. Chùa đã được tu sa nhiu ln, nhng ln tu sa ln vào các năm T Đức 32 (1879) và năm 1910. Tòa tam bo có hình chuôi v, quay hướng tay - nam. Tin đường gm 5 gian và 2 trái làm kiu “bít đốc tay ngai”. Thượng đin gm 4 gian, 2 trái. Trong chùa có đầy đủ các tượng Pht được to tác xen k thế k 19 và đầu 20. Chùa còn lưu gi nhiu hin vt c trong đó có quyn thn tích bng đồng. Sách gm 12 lá đồ kh 18.34cm được đóng li bng dây đồng nng khong 1 kg. Trên lá đồng khc ch Hán, ch chìm, bia lp t đời Vĩnh Tr (1676).

Chùa đã được B Văn hóa và thông tin xếp hng di tích kiến trúc, ngh thut ngày 21.1992.

 

59. CHÙA MT DNG (MT DNG T)^

Chùa Mt Dng thuc thông Đổng, phường Bưởi, qun Tây H, Hà Ni.

Tương truyn chùa dng t trước đời Lê Sơ. Cùa dng trên mt khu đất cao gm tam quan, sân, tòa tam bo, hai dãy gii vũ, nhà t và vườn. Tòa tam bo b trí trên mt bng hình ch công, gm nhà tin đường, thiu hương 2 gian ni tin đường và thượng đin. Thượng đin 3 gian 2 chái.

Chùa thi Pht. Trong chùa có nhiu tượng Pht có giá tr. Chùa có qu chuông “Mt Dng hng chung” đúc năm Cnh Thnh 2 (1794). Tm bia đá hu Pht ghi vic sa cha chùa Mt Dng dng năm Minh Mnh 4 (1824) cho biết ngày trước nhân vì binh ha lâu ngày nên chùa hoang phế, năm Tân Mùi (1811) dân trong làng mi bàn nhau tu sa. Nhà sư h Trn tên là Chiếu Lim đã cùng vi thin nam tín n tu sa. Đến năm Canh Thìn (1820) Chiếu Lim li xin to thêm mt gác chuông, hành lang, tô v tượng Pht, lp bia và truyn thn mt bc tượng để truyn đến mai sau. Chùa có 2 bia đá, nhiu câu đối c.

Chùa đã được B Văn hóa và thông tin xếp hng di tích kiến trúc, ngh thut ngày 21.1.1989.

 

60. CHÙA M TRÌ THƯỢNG (THIÊN TRÚC T)^

Chùa còn có tên là Chùa Thiên Trúc, tên M Trì Thượng là gi theo tên làng, thuc xã M Trì, huyn T Liêm, Hà Ni.

Chùa M Trì Thượng được xây t lâu đời. Tương truyn khong thế k 18 - 19, có mt v sư pháp danh là Quang L Thích Đường, nhân đi qua đây thy thế đất đẹp, bèn xin vi dân làng lp chùa để m mang đạo Pht. Được dân ng h, nhà sư đã t chc xây dng và đặt tên là Thiên Trúc t, Quang L Thích Đường nhn v tr trì đây. Chùa thuc phái Tào Động (có liên quan đến chùa Hòe Nhai). Toàn b kiến trúc ca chùa gm có gác chuông (tam quan), tin đường, tòa thượng đin và hành lang chy dc hai bên thượng đin.

Gác chuông xây kiu 2 tng mái, vì kèo kiu “chng giường giá chiêng”, có sàn gác, trên treo mt qu chuông.

Tin đường gm 5 gian kiu bít đốc, phía trước có 2 lp mái để ánh sáng lt vào, khong gia 2 mái có 1 khong bt để đề ch tên chùa. B vì kèo theo kiu chng giường, trn ct, quá giang.

Tòa thượng đin ni vi gian gia tin đường to thành hình chuôi v. Thượng đin có 4 gian, b khung theo kiu chng giường thưa, trn ct.

Trong kiến trúc ca tin đường và thượng đin ch yếu là bào trơn, ch phn xếp giáp 2 tòa là có 2 bc cn chm t linh.

Hành lang 7 gian, kiu “đầu hi bít đốc”, vì kèo qu giang. Chùa còn có nhà T và nhà Mu, phía sau cách 1 khong sân, ngoài ra còn có mt s công trình ph và tháp m.

Chùa có 33 pho tượng Pht, 5 pho tượng Mu và 8 tượng T. Tượng ch yếu có phong cách ngh thut thế k 19, có 1 s lượng được to t thi cui Lê. Chùa có mt qu chuông thi Nguyn Sơ (1835), mt khánh đồng (1855) và mt đỉnh hương, có 2 bia đá thi Duy Tân và 1 s đồ g như nhang an, 4 ca võng, 8 hoành phi, 12 câu đói.

Chùa tuy không đồ s nhưng tng th kiến trúc hài hòa vi thiên nhiên. Các tượng Pht được to tác vi dáng vđường nét thanh thoát, đáng chú ý là ba pho tượng Tam Thế và b Di Đà Tam Tôn.

Chùa đã được B Văn hóa và thông tin xếp hng di tích kiến trúc, ngh thut ngày 22.4.1992.

 

61. CHÙA MT CT^

Tên thường gi là chùa Mt Ct, nm trong qun th chùa Diên Hu (kéo dài tui th). Chùa nm trên đất thôn Thanh Bo, huyn Qung Đức, phía tây hoàng thành Thăng Long thi Lý, nay thuc ph Chùa Mt Ct, qun Ba Đình, Hà Ni, bên phi lãng Ch tch H Chí Minh.

Theo Đại Vit s kí toàn thư, chùa được xây dng vào năm K Su, niên hiu Sùng Hưng Đại Bo 1 (1409) đời Lý Thái Tông. Vua Lý Thái Tông (1028 - 1054) chiêm bao thy Pht Quan Âm trên tòa sen đưa tay dt vua lên tòa. Khi tnh dy, vua k li cho các quan nghe, có người cho là đim không lành. Sư Thiên Tuế khuyên nhà vua làm chùa, dng ct đá gia h, làm tòa sen ca Pht Quan Âm như đã thy trong mng. Chùa xây xong, đài sen nghìn cánh đỡ tòa Pht sc hng, trong đặt tượng Pht vàng lp lánh. Các nhà sư đến làm l, đi vòng quanh chùa nim Pht cu chúc cho vua sng lâu, vì thế đặt tên là chùa Diêm Hu.

Theo văn bia dng năm Cnh Tr 3 do hòa thượng Lê Tt Đạt ghi, chùa được dng t thi thuc Đường: “Năm đầu niên hiu Hàm Thông thi Đường…, dng mt ct đá gia h, trên ct xây mt tòa lu ngc trong đó đặt tượng Pht Quan Âm để th cúng. Khí đất chung đúc anh linh, cu gì được ny. Đến khi triu Lý xây dng kinh đô đây, cũng noi theo du cũ, nên càng linh thiêng. Khi Lý Thánh Tông chưa có hoàng t, thường đến đó cu nguyn. Mt đêm nm mng thy Pht Quan âm mi lên trên lu, ôm mt đứa bé đặt vào lòng vua. Tháng đó hoàng hu có mang hoàng t. Vua bèn sa thêm ngôi chùa Diên Hu bên phi chùa Mt Ct để m rng vic th cúng…”.

Đời Lý Nhân Tông, năm Anh Vũ Chiêu Thánh 5 (1080) vua cho đúc chuông ln để treo chùa gi là “Giác Thế chung” (chuông thc tnh người đời) và mt tòa phương đình bng đá xanh cao 8 trượng, nhưng vì chuông quá nng không sao treo lên được, phi để dưới đất nên đánh không kêu. Ch rung để chuông thp, có nhiu rùa đến , được gi là rung Quy Đin và qu chuông cũng được gi là chuông Quy Đin. Khi quân Minh b bao vây Đông Quan, hết quân khí, Vương Thông đã cho phá qu chuông này để đúc súng đạn.

Quy mô chùa Mt Ct vào thế k 12 to ln lng ly hơn như hin nay rt nhiu. Văn bia tháp Sùng Thin Diên Linh chùa Long Đọi (Nam Hà), dng năm 1121, mười sáu năm sau khi chùa mi hoàn thành, cung cp cho ta hình nh chân thc nht v ngôi chùa Mt Ct thi Lý: “Lòng sùng kính đức Pht, dc lòng m đạo nhân qu, hướng v vườn Tây Cm ni danh, xây ngôi chùa Diên Hu. Theo du vết chùa cũ cùng vi ý mi ca nhà vua (Lý Nhân Tông). Sáng “Đào h thơm Linh Chiu, gia h vt lên mt ct đá, đỉnh ct n đóa sen nghìn cánh, trên bong sen đứng vng tòa đin màu xanh, trong đin đặt pho tượng vàng nhân đức, vòng quanh h là hai dãy hành lang; li đào ao  Bích Trĩ mi bên đều bc cu vng để đi qua. Phía sân cu đằng trước hai bên t hu, xây bo tháp Lưu Li.

“Hng tháng vào sm ngày mng mt (ngày sóc), hng năm vào dp du xuân, nhà vua ngi xe ngc, đến chùa m tic chay, làm l dâng hương hoa, cu cho ngôi báu lâu dài, bày chu thau làm l tm tượng Pht. Trang sc pho tượng tinh tế, biu l tướng mo ca năm loi chúng sinh…”.

Qua văn bia miêu t, rõ ràng Liên Hoa Đài thi Lý to hơn chùa ngày này nhiu. Chùa thi Trn cũng không phi là ngôi chùa thi Lý na. Như sách Toàn thư đã ghi li, năm 1249 “mùa xuân, tháng giêng, sa li chùa Diên Hu, xung chiếu vn làm nn cũ”. Chùa đã qua nhiu đợt tu sa. Đợt sa cha ln vào năm Thiên ng Chính Bình 18 (1249) gn như phi làm li toàn b. Thi Lê, triu đình nhiu ln cho tu sa, thu nh kích thước đài sen và ct đá. Năm 1838, tng đốc Hà Ninh Đặng Văn Hòa t chc quyên góp thp phương sa cha đin đường, hành lang t hu, gác chuông và ca tam quan. Năm 1852, b chính Tôn Tht Giao xin đúc chuông mi. Năm 1864, tng đốc Tôn Thâtá Hàm hưng công trùng tu, làm sàn g hình bát giác để đỡ tòa sen, chm tr thêm công phu tráng l. Năm 1954, trước khi rút khi Hà Ni, quân Pháp đã đặt mìn phá đổ chùa. Sau ngày tiếp qun th đô, B Văn hóa đã cho tu sa chùa Mt Ct theo đúng kiu mu cũ để li t thi Nguyên.

Tòa đài sen (Liên Hoa Đài), ta quen gi là chùa Mt Ct có hình vuông mi chiu 3 m, mái cong dng trên ct đá hình tr cao 4m (chưa k phn chìm dưới đất) có đường kính là 1,2m. Tr đá gm 2 khi, gn rt khéo, thot nhìn như mt khi đá lin. S độc đáo ca kiến trúc chùa Mt Ct là toàn b ngoi chùa được đặt trên mt ct đá. đây có s kết hp táo bo ca trí tượng lãng mn đầy thi v qua hình tượng bông sen và nhng gii pháp hoàn ho v kết cu kiến trúc g bng h thng móng ging; đặc bit là s dng các ct chng chéo ln t ct đến sàn, va to thế vng chc, va mang li hiu qu thm M, như đường lượn ca cánh sen, thiết lp s hài hòa gia mái và sàn bi mt đối xng o. Cùng vi ao hình vuông phía dưới có th là biu tượng cho đất (tri tròn, đất vuông), ngôi chùa như vươn lên cái ý nim cao c: Lòng nhân ái soi t thế gian. Khi kiến trúc g đá được phù tr bi cnh quan, có ao, có cây ci đã to nên s gn gũi, tinh khiết mà vn thanh lch. Cm giác thanh cao ca kiến trúc như chia x, hòa đồng vi tri nước, và màu xanh ca cây lá khiến con người rũ sch ưu phin, đạt ti s trong sáng ca tâm hn như nhà sư Huyn Quang (1254 - 1334) dưới thi Trn đã viết:

Vn duyên bt nhiu thành giã tc

Bán đim vô ưu nhãn phóng khoan.

Tm dch:

Mi duyên chng bn, ngăn lòng tc,

Phin nhiu khuy lâng, rng nhãn quang.

Chùa Mt Cđã được B Văn hóa và thông tin xếp hng di tích kiến trúc, ngh thut ngày 28.4.1962.

 

62. CHÙA M QUANG (LINH QUANG T)^

Chùa M Quang có tên ch là Linh Quang t còn gi là chùa Am, thuc ngõ Ch Khâm Thiên, phường Trung Phng, qun Đống Đa, Hà Ni.

Căn c vào tm bia “Bi kí lưu truyn” khc năm th 28, niên hiu Cnh Hưng (1767), chùa được m mang vào thế k 18. T đó đến nay chùa được trùng tu, sa cha nhiu ln: h đin thượng lương đề ngày 20.10.1936, trung đin thượng lương ghi tháng 2 năm 1936.

Chùa gm có tam quan, tòa tam bo, nhà t, nhà ngang, sân gch, vườn, h nước. Chùa quay v hướng đông nam. Tòa tam bo hình chuôi v, tin đường 3 gian làm kiu “đầu hi bít đốc”, hu cung 2 gian.

Tri qua cuc chiến năm K Du (1789) ti khu vc gò Đống Đa, trn ném bom B52 hy dit ca M năm 1972, chùa đã b phá hy nhiu. Nhân dân địa phương, tín đồ đã thu nht các hin vt và sa sang li. Trong chùa hin nay vn còn mt s tượng, bia, đồ t khí niên đại thế k 18.

Chùa đã được B Văn hóa và thông tin xếp hng di tích kiến trúc, ngh thut ngày 9.1.1990.

 

63. CHÙA NAM DƯ H (THIÊN PHÚC T)^

Chùa Nam D thuc xã Trn Phú, huyn Thanh  Trì, ngoi thành Hà Ni, cách trung tâm thành ph khong gn 20 km v phía nam, đi theo quc l s I.

Chùa có quy mô kiến trúc khá ln, gm tam quan, chùa chính, 2 dãy hành lang, đin th Mu, nhà T.

Tam quan xây bng gch, ca chính  dùng làm gác chuông. Hai ct tr chính đắp cao bng đỉnh gác chuông, đỉnh ct tr đắp hình búp sen. Mái gác chuông xây 2 tng 8 mái, các đầu đao cong vút, mi đầu đao là 1 con rng. Trên b nóc đắp ni hình đôi nghê chu mt quyt. Hai bên gác chuông là 2 cng nh; nay mt mt cng, cũng xây 2 tng 8 mái nhưng đơn gin.

Pht đin hình ch đinh (J) xây kiu “tường hi bít đốc”, mái lp ngói mùi hài. Pht đin gm 3 gian tin tế, 2 gian hu cung, kiến trúc kiu vì kèo g “thượng giường h k”, bào trơn đóng bén. Các đầu đốc có kèo c ngng cong vi xà nách, vì này chđôi nghê đội quá giang, không có đầu đốc. By thiên vi 6 hàng ct đều chm t quý. Hai đầu hiên có 2 tượng H Pháp. Ba gian tin tế được dng bng các ct g hình vuông, cao 5m.

Phía sau Pht đin là tòa nhà th Mu, nhà T, kiến trúc tương t Pht đin nhưng mái nhà thp hơn.

Hai bên chùalà hai dãy hành lang mi bên 7 gian, dùng làm nơi tiếp khách, ch . Sau chùa mt vườn thp gm 8 ngn n hin gia lùm cây làm tăng s tĩnh mch ca ngôi chùa làng c kính.

Hin nay chùa còn lưu gi được gn 52 pho tượng Pht có niên đại khác nhau ca thế k 18 - 19. Ngoài ra còn 4 tượng T, 3 tượng Mu, 4 tượng th gi; chùa có 13 bc hoành, 6 đôi câu đối, 6 bia đá, nhiu l bình, gm, s.

Chùa Nam D H mang nhng v đẹp c truyn, có phong cách ngh thut ging nhng ngôi chùa ni tiếng: Kim Liên, Trăm Gian, Nghi Tàm. Ngh thut to tác nhng hin vt, đồ th cúng mang giá tr đặc bit, có sc thuyết phc cao. S tn ti ca di tích đánh du s tn ti ca mt làng c quanh kinh thành Thăng Long xưa.

Chùa (và đình) đã được B Văn hóa và thông tin xếp hng di tích kiến trúc, ngh thut ngày 2.10.1990.

 

64. CHÙA HAM DƯ THƯỢNG (NGHIÊM THNG T)^

Chùa Ham Dư Thượng thôn Nam Dư Thượng, xã Lĩnh Nam, huyn Thanh Trì, ngoi thành Hà Ni, cách trung tâm thành ph vào khong 20 km v phía Nam bên b phi sông Hng.

Chùa th Pht và hai người ph n có công lao là: Lê gia hoàng thái hu Trương Th Niếu, nguyên soái thng quc chính Thanh Đô Vương Trnh Tráng vương phi chánh cung Nguyn Th Ngc Tú. Hoàng thái hu là người trung thành vi nhà Lê, b quân Mc đui theo lt thuyn giết chết. Chánh cung Nguyn Th Ngc Tú có công b tin ca ra thuê nhân công quai đê ln bãi sông Hng có trên 200 mu rung cho dân cày cy. Bà cũng là người b tin ca xây dng ngôi chùa này năm 1622.

Chùa hin nay quay v hướng tây nam, gm tam quan, sân, chùa chính, nhà Mu, ng mung, hu cung, nhà t, tăng phòng, bếp. Chùa còn gi 2 bn sc phong và 3 v hp phong, hơn 40 pho tượng các loi, 4 long ngai, bài v, 1 kiu võng, 16 hoàng phi, 10 đôi câu đối, 1 khánh đá không ch, 1 bia đá niên hiu Vĩnh T 10 (1628), 1 chuông đồng.

Chùa đã được B Văn hóa và thông tin xếp hng di tích kiến trúc, ngh thut ngày 31.1.1992.

 

65. CHÙA NAM ĐỒNG (CÀN AN T)^

Chùa Nam Đồng con có tên là chùa Càn An, thuc phường Nam Đồng, qun Đống Đa, Hà Ni.

Theo tm bia niên hiu Vĩnh T (1621) thì chùa được xây li năm 1612. Tm bia Chính Hòa 18 cũng ghi ni dung sa sang thượng đin, tin đường v.v…

Tam quan chùa xây kiu nghi môn, ca gia có 2 tng vi lp mái gi bng vôi va. Hai bc tường ni vói t hu nghi môn cũng có mái gi bng vôi va, ca bt kín.

Tin đường có 7 gian, xây kiu tường hi bít đốc, vì kèo kiu giá chiêng. Mt ngoài tin đường có mái hiên rng đè lên k cong c ngng ăn qua mng ct quân. Phn trang trí tp trung h thng k chm vi hình lão cúc hóa long độ cun thư. Ca vòng chm t linh tr thng trên nn hoa sen và mây cun rng chu mt tri.

Pht đin, đáng lưu ý nht là các pho tượng Tam Thế, nhc khi ni cao, mt phúc hu. Đài sen chm khc t m hoa cúc, sen và vân son, thân b tượng chm vân son cách điu và long mã đang phi trên dòng đại thy. Pho Quan Âm và Đại Thế Chí tc trong thế đang đứng, đầu đội mũ tì lư, trên nn cúc mãn khai, tượng dáng t nhiên, thun hu. Ngoài ra chùa còn có 5 b ca võng rt trau chut và mt c kiu, đều sơn son thếp vàng, mang phong cách cui thế k 18.

Chùa đã được B Văn hóa và thông tin xếp hng di tích kiến trúc, ngh thut ngày 22.4.1992.

 

66. CHÙA NÀNH (PHÁP VÂN T)^

Chùa Nành còn có tên ch là Pháp Vân t thuc xã Ninh Hip, huyn Gia Lâm, Hà Ni.

Chùa cách trung tâm thành ph vào khong 17km v phía đông bc. Đường đi qua cu Chương Dương càu Chui, cu Đung, đến th trn Yên Viên, r tay phi khong 2 km là đến làng và chùa.

Tương truyn chùa được xây dng t đời nhà Lý. Hin nay chùa còn quay mô khá ln: Gm thy đình, tam quan, tin đường, nhà cu, tam bo, t vu, hu vu, nhà t, đin Mu, khu ph. Tri qua nhiu ln trùng tu, kiến trúc trong chùa ch yếu mang phong cách thi Nguyn. Đáng chú ý trong chùa còn nhiu di vt quý: B tượng pháp ca chùa rt phong phú có gn như đầy đủ các tượng Pht các ngôi chùa khác trên đất nước ta. Trong đó b Tam Thế va có giá tr ngh thut cao va có niên đại sm (thế k 16). Chùa còn gi được nhiu bia đá, niên đại sm (t thế k 16 đến thế k 20). Chuông đồng đức năm 1653, khánh đồng đúc năm 1733. Bên cnh h thng tượng Pht, chùa Nành còn có tượng bà Nành, du tích ca s du nhp Pht giáo vào nước ta.

Chùa đã được B Văn hóa và thông tin xếp hng di tích kiến trúc, ngh thut ngày 21.1.1989.

 

67. CHÙA NN (ĐẢN CƠ T)^

Chùa cách Ngã Tư S 500m, phường Láng Thượng, qun Đống Đa, Hà Ni.

Chùa Nn còn có tên chĐản Cơ t và C Sơn t. Nguyên trước là đền th song thân ca nhà sư T Đại Hnh. Tương truyn v trí ca đền làm trên nn nhà ca T Đạo Hành, khi T Đạo Hành tr thành nhà sư ni tiếng thì đền tr thành chùa.

Chùa Nn gm có tin đường và thượng đin theo hình ch đinh (J). Phía sau có nhà T, nhà Mu, nhà vng và tnh xá. Kiến trúc chùa đơn gin, trên các bc cn ca chùa chính và nhà t được chm khc h phù, hoa lá cách điu. Chùa còn gi được khám th chm thng đề tài t linh ca thế k 17. Ngoài các pho tượng Pht, chùa Nn còn có tượng T Đạo Hnh và song thân.

Chùa Nn cùng vi chùa Láng và đình ng Thiên gn bó vi vic thành lp kinh đô Thăng Long t thi Lý.

Chùa đã được B Văn hóa và thông tin xếp hng di tích kiến trúc, ngh thut ngày 22.4.1992.

 

68. CHÙA NGA MY^

Chùa Nga My thuc phường Hoàng Văn Th qun Hai Bà Trưng, Hà Ni. Tương truyn chùa Nga My thi xưa được xây dng to ln. Căn c vào bia đá còn lưu gi ti chùa thì chùa đã được trùng tu ln vào năm Hng Đức 28 (1479), gm có tin đường, nhà thiêu hương và thượng đin. Chùa đã qua tu sa nhiu ln và b phá hy (trong chiến tranh). Hin nay chùa đã được xây dng li nh hơn trước. Chùa có gác chuông 8 mái, khá đẹp, có phong cách kiến trúc thi Nguyn.

H thng tượng Pht khá đầy đủ được to thành thế k 19 (Hu Lê và đầu Nguyn), có pho tượng A Di Đà vi phong cách ngh thut thế k 17 - 18, pho tượng Tam Thế thuc thế k 19. Các tượng và đồ th t đều có giá tr.

Chùa Nga My (và đình Hoàng Mai) đã được B Văn hóa và thông tin xếp hng di tích kiến trúc, ngh thut ngày 5.2.1994.

 

69. CHÙA NGC H (NGC H T)^

Chùa Ngc H thuc phường Văn Miếu, qun Đống Đa, Hà Ni.

Chùa Ngc H có tên ch là Ngc H t hoc gi là chùa Bà Ngô, là người đã có công đức tu b chùa.

Chùa th Pht, Lê Thánh Tông (người có nhiu công ln trong lch s dân tc) và b Ngô.

Chùa gm có tam quan, gác chuông, sân, tòa tam bo gm tin đường và hu cung. Trên kiến trúc trm lng, bong kênh. Nhà t có 8 gian, đin Mu và đền. Di tích được xây dng t rt sm, đã qua nhiu ln trùng tu. Trong di tích còn nhiu hin vt có giá tr như 35 pho tượng trên chùa chính là: Tam Thế, Đi Đà Tam Tôn, Quan Âm Thiên Th Thiên Nhân, Tuyết Sơn, Di Lc, Ngc Hoàng, Nam Tào, Bc Đẩu, tòa Cu Long, Thp Đin… Chùa còn có tượng bà Ngô, tượng Lê Thánh Tông, tượng Mu, tượng Đức thánh Trn, Yt Kiêu, Dã Tượng. Chùa còn gi được ca võng, y môn, khám th, nga th, chuông đồng, bia đá, hoành phi câu đối.

Chùa đã được B Văn hóa và thông tin xếp hng di tích kiến trúc, ngh thut ngày 18.1.1993. 

 

70. CHÙA NGC H (NGC HI T)^

Chùa Ngc H làng Ngc Hi, xã Ngc Hi, huyn Thanh Trì, Hà Ni, cách trung tâm thành ph khong 17 km v phía nam, đi theo quc l s I.

Tương truyn đời Trn Ngc Hi có  Bo Công và 2 nàng công chúa cùng nhân dân hưởng vương triu, tham gia cuc kháng chiến chng xâm lược Nguyên Mông, sau được tôn làm thành hoàng làng. Chùa Ngc Hi có l được xây dng vào thi gian đó. Sau chiến dch Ngc Hi - Đống Đa (1789) b chiến tranh tàn phá, chùa được phc hi tôn to vào đời Nguyn.

Chùa hin nay được dng trên mt khong đất rng ven sông Tô Lch gn đường quc l I. Tam quan chùa đã b bom M phá hoi, hin còn tòa tam bo nm theo hướng tây nam. Tòa tam bo hình chuôi v gm tin đường, thiêu hương và thượng đin.

Trong chùa hin có 42 pho tượng, 2 phù điêu, phn ln là tượng thế k 18 - 19, 1 qu chuông “Ngc Hi t chung”, 6 tm bia đá, 2 bia ch Hán, 4 bia ch quc ng, 3 đôi câu đối, 4 bước hoành phi và nhiu đồ t khí. Trong thi kì cách mng và kháng chiến chng Pháp chùa còn là nơi hot động ca chi b đảng, nơi che giu, n np ca các đồng chí đảng viên, cán b Vit Minh.

Chùa đã được B Văn hóa và thông tin xếp hng di tích kiến trúc, ngh thut ngày 9.1.1990.

 

71. CHÙA NGC QUAN^

Chùa Ngc Quan còn gi là chùa Ct, thuc thôn H Yên Quyết, xã Yên Hòa, huyn T Liêm, Hà Ni.

Chùa th Pht.

Chùa dng vào khong thi Lê Trung hưng, đến đời  Tây Sơn có trùng tu sa cha, đúc chuông đồng. Sang thi Nguyn li sa hành lang, tam bo, dng li gác chuông và tòa hu đin, hay dãy hành lang, nhà T, nhà Mu.

Hin nay chùa gm có tam quan, tòa tam bo được xây dng kiu ch đinh gm tin đường và hu cung.

Trang trí trên các cn nách đề tài t linh, t quý; đầu dư chm rng. Chùa có các pho tượng Pht Đế Thích, Thích Ca Cu Long, Thế Tôn, Quan Âm Nam Hi, Quan Âm Thế Chí, Át Nan, Ca Diếp, Tam Thế, H Pháp, Đức Ông, Quan Âm Th Kính, Th Thn.

Chùa còn gi được qu chuông đời Cnh Thnh 8 (1800) bia đá đời Dương Hòa 8 (1642), hoành phi, câu đối, b tam s, bát hương, đồ gm s, bát nhang, lc binh, chóe…

Chùa đã được B Văn hóa và thông tin xếp hng di tích kiến trúc, ngh thut ngày 10.3.1994.

 

72. CHÙA NGC TRC (ĐẠI PHÚC T)^

Chùa Ngc Trc có tên chĐại Phúc t, thông Ngc Trc, xã Đại M, huyn T Liêm, Hà Ni.

Theo các tài liu, hin vt chùa, cho thy chùa Đại Phúc được xây dng t khá lâu. Đến thế k 18, chùa được tu b sa li. Chùa nm trên mt khu đất cao ráo gia thôn. Kiến trúc gm có cng tam quan, phương đình, tòa tam bo, có mt bng hình chuôi v gm tin đường và hu cung. Tin đường 5 gian 2 dĩ, hu cung 2 gian. Hai bên tam bo là hai dãy hành lang. Sau hu cung là nhà Mu, nhà thi T.

Trong chùa còn lưu gi được nhiu mnh chm khc và 50 pho tượng có giá tr v kiến trúc và ngh thut.

Chùa đã được B Văn hóa và thông tin xếp hng di tích kiến trúc, ngh thut ngày 31.1.1992.

 

73. CHÙA NGŨ XÃ* (THN QUANG T)^

Chùa Ngũ s nhà 44 ph Ngũ Xã phường Trúc Bch, qun Ba Đình Hà Ni.

Chùa Ngũ Xã do nhng người th th công thuc 5 xã huyn Siêu Loi tnh Bc Ninh cũ (nay là Hà Bc) cùng nhau kéo ra kinh đô Thăng Long mđúc đồng, xây dng đình th ông t ngh đúc đồng và dng chùa phc v cho tín ngưỡng. Chùa đã được xây dng sau đình. Sau đó chùa đã b ha hon, năm 1949 dân li và đến năm 1651 mi hoàn thành… Kiến trúc ca chùa có tam quan, chùa chính gm 5 gian và đin th. Gia đin chính có pho tượng A Di Đà cao 3,95m. Tượng được đúc vào khong năm 1950 - 1952. Tượng có tư thế ngi bng vi nhng hình khi đơn gin mà hài hòa. Riêng phn tượng ngi cao 3,95 hai đầu gi cách nhau 3,60m chu vi tượng 11,60m. Pho tượng nng 10 tn. B ca pho tượng ngi là mt tòa sen có 96 cánh, đúc hết 1600 kg đồng. Đây là mt pho tượng có giá tr M thut cao ca ngh th công đúc đồng Ngũ Xá.

Chùa còn lưu gi được 16 bia đá dng t 1919 đến 1947.

Chùa đã được B Văn hóa và thông tin xếp hng di tích kiến trúc, ngh thut ngày 11.5.1993.

 

74. CHÙA NGUYÊN XÁ* (THANH LÂM T)^

Chùa Nguyên Xá, thuc xã Phú Minh, huyn T Liêm, ngoi thành Hà Ni, cách trung tâm thành ph vào khong 20km v phía tây bc.

Chùa Nguyên Xá, theo truyn thuyết, được xây dng rt lâu đời. Thi Lê, Trnh b cướp phá, đến đời Tây Sơn được tu to, đúc chuông, tc tượng, sa sang th cúng. Qu chuông đúc niên hiu Cnh Thnh 7 hin vn còn chùa. Chùa quay hướng đông, có cng, sân vườn, nhà ngang, đin Mu, vườn tháp, tam bo. Tam bo hình chuôi v gm tin đường 5 gian, thượng đin 3 gian.Chùa th Pht, trong chùa và miếu còn nhiu di vt quí. Miếu Đồng C Nguyên Xá qui mô rng rãi b thế hơn nhiu so vi miếu Đồng C Hà Ni. Miếu thi thn Đồng C, theo dã s thi vua Hùng, thn đã giúp đánh gic, đến đời Lý li giúp nhà Lý gip gic. Quc s cho biết thn Đồng C là nơi chng giám cho tm lòng ca tôi tng, con hiếu tho qua nghi l minh th đền Đồng C vào 4 tháng 4 âm lch hàng năm. Thn được ghi danh: Đường cnh thành hoàng giám th đại vương Đồng C sơn thn.

Chùa đã được B Văn hóa và thông tin xếp hng di tích kiến trúc, ngh thut ngày 21.1.1989.

 

75. CHÙA NHÂN HÒA* (PHÚC LÂM T)^

Chùa Nhân Hòa thuc thôn Nhân Hòa, xã T Thanh Oai, huyn Thanh Trì, ngoi thành Hà Ni. T trung tâm thành ph đi theo đường s I đến th trn Văn Đin r phi độ 5km là đến di tích, hoc đi vào đường Hà Đông r qua Đại Kim cũng đến di tích được.

Chùa Nhân Hòa có tên là Phúc Lâm t, được dng trên khonh đất thoáng đãng, trước sau có cây c th, có tam quan cao đẹp. Chùa gm có tam quan, hu cung, nhà Mu, nhà th T, nhà tăng và vương tháp.

Kiến trúc chùa theo kiu “ni công ngoi quc”. Chùa gm 7 gian, vi ct lim cao. Hu cung ni vi tin đường. C tin đường và hu cung đều làm theo kiu chng giường, có bc cn chm rng.

Chùa còn gi được đầy đủ các tượng Pht, được to tác t thi Lê và sau này, tng c 41 pho, trong đó có nhiu pho ln và đẹp.

Chùa còn gi được nhiu đồ th t có giá tr ngh thut bng g, sđồng, chùa còn có bia đá, cây hương đá và 1 chuông, đó là nhng đồ vt có giá tr ngh thut và lch s.

Chùa (và đình) đã được B Văn hóa và thông tin xếp hng di tích kiến trúc, ngh thut ngày 22.4.1992.

 

76. CHÙA NHN (CÀN PHÚC T)^

Chùa Nhn (nm ngay cnh ch Nhn) thuc xã Xuân Phương, huyn T Liêm, Hà Ni.

Chùa Nhn có tên ch là Càn Phúc t. Kiến trúc ca chùa bao gm tin đường, thượng đin, nhà t, nhà hu. Tin đường gm 5 gian, thượng đin 2 gian ni vi gian gia ca tin đường. B vì mái kiu “thượng chng giường h k by”. Các kết cu g ch  yếu bào trơn đóng bén hoc chm khc hoa lá đơn gin. H thng tượng pháp ca chùa khá phong phú và độc đáo. Đáng chú ý trong s tượng ca chùa là b Di Đà Tam Tôn và Hoa Nghiêm Tam Thánh. Các pho tượng được tc trong tư thế ngi bán kiết già trên tòa sen, áo vi nhiu nếp mm mi. Trên ngc, bng, vai và mũ được chm ni các bông cúc mãn khai ln hết sc cu kì. V mt các pho tượng t bi to nên cm giác n cha nhng sc mnh siêu hình.

Chùa Nhn ngoài h thng tượng pháp còn lưu gi được nhiu hin vt quý như nga g, chuông đồng…

Chùa đã được B Văn hóa và thông tin xếp hng di tích kiến trúc, ngh thut ngày 22.4.1992.

 

77. CHÙA PH GIÁC (PH GIÁC T)^

Chùa Ph Giác nm cui ph Ngô Sĩ Liên, và ch cách đầu đường Quc T Giám khong 30m, thuc phường Văn Miếu, qun Đống Đa, Hà Ni. Có người gii thích tên chùa Ph Giác có nghĩa là ph cp và giác ng Pht giáp cho các pht t. Chùa còn có tên na là chùa  Tu, vì nơi đây trước vn là Tu Voi, nơi hun luyn các voi chiến ca triu đình.

Chính vì vy, ngoài th Pht, th Mu như chùa khác, chùa này còn th c Phan Cnh Đip, mt người luyn voi gii thi vua Lê, chúa Trnh. Tương truyn Phan Cnh Đip là người x Ngh, cháu 17 đời đạo sĩ Vinh qun công nhà Tin Lê. Đời Lê Hin Tông có 1 con voi xng chung, chy ti Trường Thi phá phách lung tung, làm dân s hãi. Chúa Trnh bèn ra lnh ai có tài bt được voi quay v chung s trng thưởng. Lúc y Cnh Đip lin ti ngay, nhy lên lưng voi, dùng búa st đánh vào đầu, t rõ uy lc, buc voi phi quay v trước đin Kinh Thiên. Chúa Trnh thy thế mng lm, trng thưởng, thăng làm đội trưởng, phong hàm lc phm. Sau này, ông còn cưỡi voi xông vào phá gic nhiu trn nên được phong qun công. Ông nhn tước nhưng không làm quan mà li vào chùa th gii và nim Pht. Tm bia chùa dng năm Cnh Hưng 3 (1770) có đon nói rt rõ v vai trò ca voi trong chiến trn và vai trò ca qun công trong vic luyn voi gii ra sao…

Ngoài tượng Pht, chùa còn lưu gi được mt s hoành phi, câu đối rt phong phú c v ni dung và hình thc (ti gn 20 bc). Đặc bit bên trong hu cung li là mt pho tượng chân dung ca qun công Phan Cnh Đip.

Các di vt trong chùa cũng rt phong phú, như chuông, bia đá, nga đá, bài v, khám th, mang án. Tng s tượng tròn chùa chính, nhà Mu, nhà t là 37 pho, 13 bia đá, 3 chuông đồng cùng nhiu đồ quý giá khác.

Chùa đã được B Văn hóa và thông tin xếp hng di tích kiến trúc, ngh thut ngày 2.10.1991.

 

78. CHÙA PHÚ TH (ĐẠI DƯƠNG - SÙNG PHÚC T)^

Chùa Phú Th thôn Phú Th (còn gi là làng Si) xã Phú Th, huyn Gia Lâm, ngoi thành Hà Ni, cách trung tâm thành ph vào khong 15km v phía đông. Đường đi qua cu Chương Dương, cu Chui r tay phi theo quc l s 5, qua Trâu Qu khong 3km là đến di tích. Theo truyn thuyết, chùa Phú Th được xây dng t rt sm, vì năm 1066, nguyên phi Lan đã v cu t ti chùa này. Khi mi xây chùa đã ni tiếng là đẹp và đến sau khi nguyên phi Lan v cu t li cho tu sa, tô đim đẹp đẽ hơn.

Chùa đã được trùng tu nhiu ln, vào các năm 1633, 1636, 1701, 1821. Chùa được xây dng cùng vi đền và đình trên mt khu đất cao rng thành mt cm kiến trúc, thông vi nhau bng các ca ngách nh bên trong, chùa được xây sau đình, gm 2 tòa nhà song song vi hu cung đình. Tòa tam bo hình chuôi v, gm 5 gian tin đường và 3 gian hu cung.

Chùa có đầy đủ các tượng Pht, được to tác gn đây do chiến tranh đã tàn phá và làm hư hng.

Chùa (và đình, đền) đã được B Văn hóa và thông tin xếp hng di tích kiến trúc, ngh thut ngày 21.1.1989.

 

79. CHÙA PHÚ XÁ (PHÚC LÂM T)^

Chùa Phú Xá thuc thôn Phú Xá Đoài, xã Phú Minh, huyn Sóc Sơn, ngoi thành Hà Ni, cách trung tâm thành ph vào khong 35 km v phía bc. Đường đến di tích: qua cu Chương Dương, cu chui, cu Đung, đến th trn Đông Anh, Ph L, đến th trn Đa Phúc thì r vào khong 3km.

Chùa có tam quan, tòa tam bo. Kiến trúc chùa theo hình ch “công” (I). Chùa còn gi được nhng mng chm khc trên g hoa dây thc vt, t linh và t quý. H thng tượng Pht ca chùa còn đầy đủ. Các pho tượng như Kim Cương, Đức Ông, Thánh Tăng, Khuyến Thin, Trng Ác, Cu Long, Phm Thiên, Đế Thích đều có phong cách M thut thế k 19.

Chùa (và đình) đã được B Văn hóa và thông tin xếp hng di tích kiến trúc, ngh thut ngày 16.11.1991.

 

80. CHÙA PHÚC HU (PHÚC THNG T)^

Chùa Phúc Hu thuc thôn Phúc Hu, xã Dc Tú, huyn Đông Anh, ngoi thành Hà Ni, cách trung tâm thành ph vào khong 30 km v phía tây bc.

Chùa Phúc Hu được dng bên phi đình Phúc Hu, chùa được xây trên nn cao hơn nn đình nhưng quy mô kiến trúc nh, có tường bao quanh. Chùa kiếm trúc theo kiu chđinh”. Tin đường và thượng đin cùng có 3 gian 2 chái, 4 góc mái có đao cong đẹp. Các vì kèo theo kiu quá giang, ct vuông bng gch, kiến trúc đơn gin. Sau tin đường là mt khong sân hp đến thượng đin được xây kiu “bít đốc tay ngai”, tường hu xây kín, phía trước có k hiên gác tr xây, bên trong có vì kèo quá giang đỡ tr và kèo sut. Chùa có mt s mng g có giá tr M thut.

Tượng Pht trong chùa còn đầy đủ. Các pho tượng đều có niên đại to tác thế k 19.

Chùa (và đình) đã được B Văn hóa và thông tin xếp hng di tích kiến trúc, ngh thut ngày 5.2.1994.

 

81. CHÙA PHÚC LÝ (LIÊN PHÚC T)^

Chùa Phúc Lý thuc xã Minh Khai, huyn T Liêm, ngoi thành Hà Ni, cách trung tâm thành  ph vào khong 17 km v phía tây - bc. Đi đến di tích theo quc l s 32 qua Cu Giy đến Cu Din thì r vào.

Chùa Phúc Lý trước đây có quy mô to ln nhưng trong kháng chiến chng Pháp đã b thc dân phá hy. Chùa hin nay gm thượng đin và nhà Mu. Kiến trúc chùa do làm li sau này nên không có gì đặc sc. Chùa còn lưu gi được 15 pho tượng c có phong cách ngh thut thế k 18 - 19, có 3 bc ca võng chm tr hoa cúc, rng và mt chuông đồng h.

Chùa (và đình) đã được B Văn hóa và thông tin xếp hng di tích kiến trúc, ngh thut ngày 21.6.1993.

 

82. CHÙA PHÙNG KHOANG (THANH XUÂN T)^

Chùa còn  tên ch là Thanh Xuân t, hoc gi theo tên hành chính là chùa Phùng Khoang trên mnh đất s 351 din tích 5880m2. Di tích này thuc xã Trung VĂn, huyn T Liêm, Hà Ni. Thi Lê gi Phùng Quang thuc xã Nhân Mc Môn, huyn Thanh Trì, trn Sơn Nam Thượng. Năm 1723 cho l vào huyn T Liêm ph Quc Oai, trn Sơn Tây. Thi Nguyn đổi là xã Ngc Trc, tng Đại M ph Hoài Đức tnh Hà Đông. Năm 1964 nhp vào huyn T Liêm, Hà Ni.

Theo 2 tm bia khc năm Đồng Khánh 2 (1887) và Bo Đại 19 (1944) thì bà Nguyn Ngc Nha công chúa đã to dng ngôi chùa ven đường để th Pht. Bà cũng có công xin cho Phùng Khoang có 1 phiên ch riêng vào ngày 28 tết hàng năm, do vy ch đó cũng có tên là ch Chùa.

Tm bia đá c nht còn dng chùa khc năm Chính Hòa 13 (1692) đã nói: “Thường xem đất Pht tri Nam x nào cũng có. Duy ch có chùa Thanh Xuân, thôn Phùng Khoan, xã Nhân Mc là danh lam thng cnh lâu đời”. Đến đời T Đức năm Đinh Su (1853) ông trưởng mc Nguyn Huy Trâm cùng dân thôn đời chùa v phía nam thôn, tu to 5 gian chính đường, 5 gian bái đường, 3 gian tam quan, tt c đều lp ngói, xung quanh có tường lũy. Nay chùa còn đủ tam quan, gác chuông, tòa tam bo, nhà T, nhà khách, nhà Mu, nhà hu và nhiu hin vt, hoành phi câu đối thi Nguyn, 24 pho tượng Pht, T, Mu và tượng bà chúa là nhng tượng ngh thut khá tiêu biu ca thế k 19. Chùa có 6 tm bia đá, 7 hoanh phi, 3 chuông đồng ln nên hiu Gia Long 12 (1813), T Đức 31 (1879), T Đức 34 (1881).

Chùa đã được B Văn hóa và thông tin xếp hng di tích kiến trúc, ngh thut ngày 2.10.1991.

 

83. CHÙA PHNG THÁNH^

Chùa Phng Thánh hin ngõ Cng Trng, ph Khâm Thiên, phường Trung Phng, qun Đống Đa, Hà Ni.

Chùa Phng Thánh cũng như làng Phng Thánh được lý gii bng truyn thuyết rt xưa liên quan đến vương triu Lý (1010 - 1225).

Theo truyn thuyết vào thế k 12, dưới triu Lý, có mt công chúa rt xinh đẹp, nàng quan tâm đến đời sng ca nhân dân và phong cnh đất nước. Mt hôm nàng xin phép vua cha cho đi du ngon trên mt chiếc thuyn. Khi con thuyn đưa nàng công chúa đến mt chiếc h ln thì gp mt cơn giông, làm thuyn b đắm chết. Nhà vua bèn sai quân lýnh vt xác, nhưng công chúa đã làm nhiu điu thin giúp dân nên được hóa Pht. Để tưởng nh công lao ca nàng, dân quanh vùng đã chn mnh đất quanh h để xây miếu th. Sau đó dân làng li đóng góp công sc xây dng nên ba gian nhà g phía sau miếu để th Pht. Đó là tin thân ca di tích chùa Phng Thánh.

Sau mt thi gian tn ti lâu dài, đến thi Tây Sơn, di tích nm trong khu vc chiến trường Đống Đa, nên chùa b hy hoi. Sau cơn bin hòa, đến thi Nguyn, chùa được phc hi vào năm t Mão (1855) và năm t Su (1865). Đến đêm 26-12-1972 chùa b bom B52 M phá sp khu chùa chính. Năm 1973 nhà sư Đàm Ánh tr trì ti chùa đã tiến hành xây dng li di tích như hin nay.

Di tích được dng trên mt khu đất bng phng và có mt khuôn viên rng ln bao quanh. Chùa quay mt v hướng nam, trông ra h nước rng. Trước đây, đi tích bao gm tam quan, chùa chính, nhà t, nhà ngang, sân sch và khu vườn rng bao quanh. Do s phát trin dân cư, tam quan chùa không còn, nên li vào chùa hin nay là mt li nh, ca g dn vào hành lang nhà t và nhà Mu.

Các b phn kiến trúc chùa Phng Thánh được xếp đặt trên trc bc - nam. Sau chùa chính là sân gch vuông dn ti nhà T, hai dãy di vì nm song song vi hu cung chùa và và sân gch ti hiên trước nhà T.

Chùa chính th Pht, trong chùa lưu gi 29 pho tượng tròn, trong s đó có 21 tượng h Pht đin, 8 pho tượng Mu, 2 qu chuông đồng, đồ gm s, đồ g, các bc đại t, câu đối sơn son thếp vàng, bia đá.

Chùa vn bo lưu được nhiu nét đẹp ca kiến trúc truyn thng, đó là s hài hòa gia kiến trúc và cnh quan, gia các b phn kiến trúc vi nhau. Các pho tượng c có giá tr là nhng tác phm ngh thut đin hình ca thi Nguyn.

Chùa đã được B Văn hóa và thông tin xếp hng di tích kiến trúc, ngh thut ngày 16.11.1988.

 

84. CHÙA QUÁN LA* (KHAI NGUYÊN T)^

Chùa Quán La thuc thôn Quán La, xã Xuân La, qun Tây H, Hà Ni.

Chùa cũng có tên là chùa Hang, vì đây có mt hang c. Theo sách “Vit Đin u linh tp” ca Lý Tế Xuyên thì chùa và quán được xây dng t niên hiu Khai Nguyên đời Đường (715). Đến năm Thiên Long đời Trn (1258) thin sư Văn Thao dng li thành chùa th Pht, các tăng ni và pht t các nơi đến l Pht và ngon cnh rt đông.

Chùa có tam bo, nhà Mu và nhà bia. Tòa tam bo hình chuôi v có tin đường và thượng đin. Tin đường gm 5 gian xây kiu “tường hi bít đốc”. Thượng đin gm 3 gian. Chùa còn lưu gi được nhng mnh chm khc c thế k 19. H thng tượng Pht đầy đủ, mi xen cũ.

Chùa (và đình) đã được B Văn hóa và thông tin xếp hng di tích kiến trúc, ngh thut ngày 31.1.1992.

 

85. CHÙA QUÁN S^

Chùa Quán S thông An Tp, huyn Th Xương, nay là s nhà 73 ph Quán S, Qun Hoàn Kiếm, Hà Ni.

Vào khong thi Trn D Tông (1341 - 1369), cnh khu vc này có nhà công quán ca triu đình dùng để đón tiếp s gi ca các nước ngoài như Chiêm Thành, Vn Tượng, Nam Chưởng (Lào và bc Lào hin nay). Các s thn đều theo đạo Pht nên cnh công quán có lp mt ngôi chùa để các s thn đến l Pht, vì thế nên chùa có tên là chùa Quán S. V sau nhà công quán b hy b nhưng ngôi chùa vn còn được gi li.

Trong chùa tin đường th Pht, hu đường th quc sư triu Lý và thin sư Không L… Chùa có 12 bia đá, theo bia “Quán S t công đức bi ký” dng năm t Mão (1855) do tiến sĩ khoa Mu Tut (1838), đốc hc Thanh Hóa Lê Hy Vĩnh son thì: Vào đầu triu Gia Long, quân lýnh đóng đồn Hu Quân cnh chùa, nh có phó tướng Vĩnh Tài lưu tâm đến đạo Pht nên chùa không b phá hy. Đến năm 1822 chùa được sa sang làm ch l bái cu đạo cho quân nhân. Sau lýnh rút đi, khu đất trng được tr li cho dân làng s ti. Nhà sư Thanh Hương đến tr trì, làm hành lang, đúc tượng, đúc chuông. Hc trò là Văn Nghiêm kế nghip, khuyến hóa mười phương, tu b nhng ch hư hng, tô tượng và đắp thêm 27 pho na.

Đến năm 1934, hi Pht giáo Bc K ly chùa làm hi quán. Năm 1942, chùa được xây li theo quy mô kiến trúc và trang trí ni tht như ta thy ngày nay. Năm 1958, hi Pht giáo thng nht Vit Nam được thành lp, đã ly chúa Quán S làm tr s.

 

86. CHÙA QUANG MINH (QUANG MINH T)^

Chùa Quang Minh hin nay thuc s nhà 13, ph 224, phường Văn Miếu, qun Đống Đa, Hà Ni.

Theo tư liu hin còn như 3 tm bia “Tao t bi kí”, “K nim bi kí” và “Hu Pht bi kí”, thì chùa trước kia (thi Thành Thái 1893) thôn Văn Tân (ph Sinh T, nay là ph Nguyn Khuyến), đến năm 1908 (Duy Tn 2), nhn thy chùa cũ đất cht khó có th làm nơi mi quy mô “khai quang nht nguyt” nên nhà sư tr trì đây đã chuyn đến ch hin nay. Cũng như nhng ngôi chùa khác, chùa Quang Minh th các chư v Pht, song cnh đó còn có đin th Mu.

Chùa Quang Minh gm mt s lp kiến trúc: Ngoài cùng là tam quan xây bng gch, tiếp đến là tin đường ni vi tam bo thành hình ch đinh, cnh đó có đin Mu và nhà T.

Kiến trúc tòa tin đường b có vì nóc làm kiu giá chiêng, tiếp đến phn cn nách kiu chng giường nm gia ct cái và ct quân và gia ct quân vi ct hiên được liên kết bng chiếc k. Phn chuôi v kết cu gin đơn theo kiu giá chiêng. tòa này không có trang trí gì, cu kin được bào trơn đóng bén. Nếp nhà Tđin Mu có mt bng ch đinh, kiến trúc đơn gin bào trơn đóng bén, không chm khc gì. Chùa có nhiu tượng Pht. Đáng chú ý là b Di Đà Tam Tôn mang du n ngh thut thi Lê Trung hưng. Ngoài ra các tượng khác đều được to tác dưới thi Nguyn. Chùa còn có vài b ca võng, khám th, y môn, hoành phi và 13 tm bia.

Chùa đã được B Văn hóa và thông tin xếp hng di tích kiến trúc, ngh thut ngày 21.6.1993.

 

87. CHÙA QUNG BÁ (HOÀNG ÂN T)^

Chùa Qung Bá thuc xã Qung An, qun Tây H, Hà Ni.

Chùa Qung Bá là mt ngôi chùa được xây dng t lu đời. Văn bia ghi tên cũ ca chùa là Long Ân, do công chúa tin triu tên húy Ngc Tú dng nên, vào năm Mu Thìn đời vua Lê Vĩnh T (1628). Đời vua Minh Mng năm th hai, Thánh t đổi tên là Sùng Ân, đời Thiu Tr 2 đổi tên là Hoàng Ân và hin nay mang tên “Hoàng Ân t”.

Hin nay chùa chưa tìm được du vết khi dng t xa xưa. Căn c vào tm bia có niên hiu Vĩnh Tr 2 nói rng chùa xây dng năm 1628. Cùng vi kiu dáng kiến trúc, ngh thut tc tượng, hoa văn trang trí, ta có th biết chùa được xây dng vào thế k 17. Chùa được tu sa ln vào nhng năm 1844, 1923.

Chùa Qung Bá do các thin sư thuc thin phái Tào Động tr trì.

Chùa Qung Bá gm có: Vườn, chùa chính, nhà Mu, hành lang, tăng phòng, nhà t, gác, khu ph, vườn tháp.

Chùa chính (tin đường và hu cung) gm 5 gian, lp ngói ta, b nóc và b di chy thng, chính gia đắp h phù đội mt tri. Trước hiên là hai ct tr biu, trên nóc đắp hình búp sen. Kiến trúc chùa ch yếu làm theo li bào trơn đóng bên vi hình thc chng giường con nh kèo ngi xa nách. Gian gia có h thng ca bc bàn. Các mng chm k lưỡng vi vi nhng mnh chm đin hình ca Huế. Nn chùa và hu cung lát gch Bát Tràng. Hu cung 3 gian xây lin vào tin đường, to cho mt chùa chính có dng chuôi v. Nhà Mu, nhà khách, nhà t kết cu đơn gin, vùa phi, không rườm rà.

Chùa Qung Bá còn lưu gi được nhiu hin vt quý. Gm có chuông đồng, ( Qu chuông ln cao 1,50 mét, đường kính 0,80 m đúc thi vua Lê Hin Tông (1743). Vai chuông khc 4 ch ni “Long Ân t chung”. Thân chuông chia làm 4 múi, mi múi có 3 tượng ni, cng có 12 tượng tiêu biu cho 12 tháng trong mt năm. Chuông được treo góc phi nhà đại bái); 33 tm bia t thế k th 19 đến thế k 20; 30 pho tượng có niên đại t thế k 17 đến thế k 20. H thng tượng tròn ca chùa khá đầy đủ vi nhng pho tượng có giá tr ngh thut cao, như: Quan Âm Nam Hi tc vào thế k 17 - 18, các pho tượng Tam Thế, A Di Đà được làm vào thế 17 - 18. Tượng Di Lc là mt trong nhng tượng đẹp nht ca chùa, tượng ngi t nhiên, nét mt tươi cười hoan h, v.v…

Vường tháp ca chùa là nơi an táng các v hòa thượng. Đặc bit có tháp ca hòa thượng Phm Ngc Đạt, hiu Bình Lượng Giác Minh, viên tch 3 - 1968 ti Hà Ni, là ân nhân ca H Ch tch khi người còn hot động bí mt Thái Lan. Trong thi k kháng chiến chng Pháp, chùa là cơ s cách mng, nhà t còn du vết ca hm bí mt, gác cao ca nhà chùa là địa đim quan sát rt thun li trong nhng ln cán b hi hp, các nhà sư hết lòng giúp đỡ cán b.

Chùa đã được B Văn hóa và thông tin xếp hng di tích kiến trúc, ngh thut ngày 2.10.1991.

 

88. CHÙA QUNH ĐÔ* (BCH MINH T)^

Chùa Qunh Đô thuc thôn Qunh Đô, xã Vĩnh Qunh, huyn Thanh Trì, ngoi thành Hà Ni, cách trung tâm thành ph khong 12km v phía tây nam. Đường đi theo Quc l s I, đến th trn Văn Đin, r tay phi chng 2 km là đến di tích.

Chùa Qunh Đô được xây dng khá lâu đời, trên mt khu đất cao nhìn ra hướng đông nam. Chùa có tam quan, tòa tam bo, nhà khách và nhà T. Tòa tam bo có mt nhà mt bng hình chuôi v. Tin đường gm 5 gian, thượng đin gm 3 gian. Chùa Qunh Đô còn gi được nhiu mng chm khc và mt s di vt mang phong cách ngh thut thế k 18 - 19. H thng tượng Pht đầy đủ, mt s được tc vào thế k 19.

Chùa (và đình) đã được B Văn hóa và thông tin xếp hng di tích kiến trúc, ngh thut ngày 5.9.1989.

 

89. CHÙA SEN H* (VN XUÂN T)^

Chùa Sen H làng Sen H, xã L Chi, huyn Gia Lâm, ngoi thành Hà Ni, cách trung tâm thành ph vào khong 20 km v phía đông bc. Đi qua cu Chương Dương, đến cu Chui, r tay phi theo đường s 5, đến Phú Th, r trái độ 5km là đến cm di tích.

Chùa Vn Xuân ta lc ngay sát cnh bên phi ca ngôi nghè. Chùa có quy mô nh, xinh xn, kiến trúc kiu ch đinh. Trước tin đường là mt sân gch nh, sát phía ngoài ca sân là cây hương đá thi Lê Trung hưng (thế k 18).

Nhà Tin đường xây theo kiu “tường hi bít đốc tay ngai”. Phía trước ca đầu tường hi xây 2 tr biu cao gn ngang vi nóc mái. Tr biu cũng như các kiến trúc c khác, hình vuông, trên đỉnh có đắp 4 chim phượng chm đuôi vào nhau thành mt trái dành. Chùa lp ngói ta. B nóc đắp dng b đinh, chính gia là mt mng tường nh ghi tên chùa là “Vn Xuân t”.

Kiến trúc chùa đơn gin hơn đình và nghè, phn ln là bào trơn, bào xoi, không có chm khc cu kì. Giá tr ch yếu ca chùa tp trung vào h thng tượng tròn, có khá nhiu tượng đẹp, kích thước ln bng người tht và đặt trên b cao dn t ngoài vào trong. Các pho tượng Tam Thế, A Di Đà, Thế Tôn, Quan Âm Nam Hi, T B Tát, Kim Đồng, Ngc N được to tác t thi Lê Trung hưng, s còn li làm vào thi Nguyn. Tt c 39 pho tượng là mt sưu tp quý giá nht ca chùa.

Ngoài ra, chùa còn có mt qu chuông đồng mang tên “Vn Xuân t chung”, cao 1,13m, đường kính 0,48m, đúc năm 1845, tiếng kêu m và vang xa.

Chùa (và đình, nghè) đã được B Văn hóa và thông tin xếp hng di tích kiến trúc, ngh thut ngày 22.4.1992.

 

90. CHÙA S (PHÚC KHÁNH T)^

Chùa có tên ch Phúc Khánh t. Chùa hin s nhà H171, t 1, phường Thnh Quang, qun Đống Đa, Hà Ni.

Theo truyn thuyết ca dân làng thì chùa S được xây dng t cui đời Trn do vic m mang vùng ngoi vi thành Thăng Long, vào thi Lê sơ là nơi dy d, đào to các pht t để tu thành chính qu. V sau chùa Quán S được dng lên thì chùa S mt đi v trí đào to tăng ni, pht t.

Theo bài minh trên qu chuông đúc ti chùa đề năm 1796 thì chùa S, tri Thnh Quang bng nhiên gp cơn binh ha, pht đài, tnh xá, nn móng đổ nát. Có v tăng đồ chùa Trn Quc đi qua, được dân thôn ái m mi li để tr trì. Dân đã b sc, cúng tin, khuyến cáo thp phương hp sc xây li chùa. Năm Bính Thìn, đô đốc Trn Văn L cúng thí ca, đúc chuông to và pho tượng Cu Long để làm s tích truyn mãi đời đời.

Tam quan chùa S làm kiu hai tng, ca gia ln, ca bên nh hơn, phía bên trên làm kiu gác chuông. Hai bên tam quan xây hai tr biu, phía bên trên mi biu đắp hình con su chu vào nhau. Thân tr trang trí ô hc, đắp ch Hán.

Quan tam quan đến sân chùa lát gch và tam bo. Tam bo gm có nhà tin đường và hu cung, kết cu mt bng kiu chuôi v.

Tin đường 5 gian làm theo kiu “đầu hi bít đốc”. Chính gia b nóc đắp ni mt hình cun thư, bên kiếm, bên bút lông. Mt bng tin đường theo kiu 4 hàng chân, vì kết cu k chuyn giá chiêng. Các bc cn nách trang trí chm khc t quý; hin có 6 ct đá vuông, xung quanh chm đề tài t quý.

Hu cung 3 gian, vì làm kiu chng giường.

Nhà t 4 gian, vì làm kiu kè chuyn.

Đáng chú ý trong chùa còn gi được hin vt rt quý là qu chuông đúc t thi Tây Sơn, do đô đốc Trn Văn L hiến. Hai mươi pho tượng trong chùa, có nhiu pho được làm t thi Tây Sơn có giá tr cao trong kho tàng ngh thut Vit Nam. Bên cnh các pho tượng chùa, còn gi được nhng hin vât ngh thut giá tr như ca võng, bia đá…

Chùa đã được B Văn hóa và thông tin xếp hng di tích kiến trúc, ngh thut ngày 16.11.1988.

 

91. CHÙA SÙNG PHÚC* (SÙNG KHÁNH T)^

Chùa Sùng Phúc thuc xã Long Biên, huyn Gia Lâm, ngoi thành Hà Ni. Qua cu Chương Dương đi theo b đê sông Hng v phía dưới khong 5 km là đến di tích.

Chùa Sùng Phúc được xây dng trên mt khu đất cao, đẹp, các b phn kiến trúc theo quy hoch to thành qun th hoàn chnh, hp lý, thanh u, tĩnh mch ca ca thin.

Chùa chính có kết cu kiu ch đinh, bao gm tin đường, thiêu hương và thượng đin. Ging như các ngôi chùa được quy hoch li vào thi Nguyn, tòa thiêu hương và thượng đin ca nhà chùa được nhp li thành mt nếp nhà dc gn vi tin đường. Các nếp nhà đó được xây dng bao quanh để to ra không gian khép kín cho chùa.

Nhà tin đường gm 5 gian xây gch, kiu tường hi bít đốc, tay ngai, mái lp ngói ta.Chính gia b nóc, có xây  mng tường ghi tên chùa “Sùng Phúc t” bng ch Hán. Nn nhà trên cao hơn mt sân 30 cm, gian giưũa để trng thông vi thượng đin. Các gian bên xây b th các nhân vt. Trên các xà đại trước b tượng được treo các hoành phi, y môn, ca võng sơn son thếp vàng lng ly.

Thượng đin gm 4 gian, cu trúc đơn gin, bào trơn, bào soi. Ch mt s con giường, đầu k có chm ni bong kênh văn mây, rng lá. Giá tr ch yếu v ngh thut điêu khc chùa tp trung h thng tượng tròn được to tác t thế k 18 - 19. Tng s có 26 pho, trong đó có các pho A Di Đà, Quan Âm Thế Chí, Quan Âm Chun Đề, Thế Tôn, Văn Thù, Ph Hin có niên đại cui thế k 18, s còn li là cui thế k 19. Tượng Thích Ca trên ca võng là mt tác phm điêu khc có giá tr cao. Tượng A Di Đà ngi trên tòa sen cũng là mt tác phm đẹp ca thế k 17 - 18, được nhiu người ca ngi.

Chùa đã được B Văn hóa và thông tin xếp hng di tích kiến trúc, ngh thut ngày 2.10.1991.

 

92. CHÙA SÙNG QUANG (SÙNG QUANG T)^

Chùa Sùng Quang thuc xã C Nhuế, huyn T Liêm, Hà Ni.

Chùa Sùng Quang tương truyn do công chúa Minh Hin, con vua Lý Thái T, cúng tin xây dng, nhưng đến nay không còn du vết gì. Trong tâm bia ghi niên đại Cnh Hưng th 6 (1745) chùa thì người đứng ra xây dng chùa li là bà Ngô Th Hu, v mt người h Chu làm chánh tng. Tri qua thi gian chùa đã được sa cha nhiu ln.

Chùa Sùng Quang được xây dng ti xã C Nhuế. Chùa quay hướng tây. Ngoài cùng là tam quan to dng kiu nhà vuông hai tng tám mái. Trang trí điêu khc tp trung đậm đặc 16 cn nách vi đề tài t linh, t quý. Chùa chính gm tin đường 5 gian, hu cung 3 gian và sau hết là nhà hu quay hướng đông, nhà Tđin th Mu.

H thng tượng Pht ca chùa gm 30 pho, tiêu biu là b Tam Thế, Quan Âm Chun Đề và Bát B Kim Cương. Tượng đều có niên đại thế k 19. Bia đá có 11 tm, sm nht có niên đại Cnh Hưng th 6 (1745). Đồ g có rt nhiu, như: 10 câu đối, 15 bc hoành phi, mt khám th và 2 kiu đồ đồng, có 2 qu chuông niên đại Thành Thái và Duy Tân.

Vi nhng mng trang trí điêu khc tiêu biu tam quan và rt nhiu c vt quý, chùa Sùng Quang đã được B Văn hóa và thông tin xếp hng di tích kiến trúc, ngh thut ngày 21.6.1993.

 

93. CHÙA TÀM XÁ* (LINH NG T)^

 Chùa Tàm Xá thuc thôn Tàm Xá, xã Tàm Xá, huyn Đông Anh, ngoi thành Hà Ni. Chùa cách trung tâm thành ph 30km v phía tây bác.

Qua tm bia mi tìm thy thì chùa đã được xây dng t thế k 17 và là nơi cnh đẹp trong vùng. Chùa chính có mt bng xây dng hình ch đinh trên nn cao 40cm so vi sân, xung quanh có tường vây kín. Tin đường gm 3 gian, các vì kèo kiu quá giang, gian gia chùa ni lin vi thượng đin. Ngoài ra còn nhà T và nhà khách. Trong thượng đin được xây b cao, gia để đặt tượng Pht. Dc hai tường bên có b hp và li đi trong khi hành l và chy đàn. V kiến trúc, chùa Linh ng rt đơn gin. Chùa có 40 pho tượng (trong đó có 10 pho tượng được làm t thi Lê). Hu hết tượng được to tác khá công phu, vi nhiu nét dân gian và truyn thng điêu khc Vit Nam. Chùa còn có bc võng chm t linh (thế k XIX), long ngai va mt chuông đồng “Linh ng t chung” cao 118 cm, đúc thi T Đức. Chùa có mt bia đã cao 1,60 m, rng 82 cm, được to dng t cui Lê, có nét ngh thut trang trí thi Lê.

Chùa đã được B Văn hóa và thông tin xếp hng di tích kiến trúc, ngh thut ngày 11.3.1992.

 

94. CHÙA TÀO SÁCH^

Chùa Tào Sách thuc xã Nht Tân, qun Tây H, Hà Ni. Chùa Tào Sách có tên nôm là chùa thôn Nam theo cách gi phân chía địa lý ca xã Nht Tân gm 4 thôn: Nht Tân Bc, Nht Tân Đông, Nht Tân Tây và Nht Tân Nam.

Cũng như nhiu ngôi chùa khác, chùa Tào Sách là kiến trúc tôn giáo th Pht nm trên mt vùng mang nhiu du án lch s xa xưa. Niên đại khi dng ngôi chùa hin nay chưa tìm thy c liu chínhh xác, nhưng theo dòng ch khc trên câu đối đài k nim thì chùa có th làm vào thi Tin Lê:

Đài k nim thành năm Quý T, (1943)

Chùa Tào Sách sáng và ca Tin Lê”.

Và hàng ch na được tc trên bia thi Bo Đại: “Hà Đông tnh, Hoàng Long huen, thượng tng Nht Tân xã, Tào Sách t - t Tin Lê chi s kiến lp”. Đáng lưu ý là chùa Tào Sách - sơn môn ca thin phái Tào Động, mà chn t khai sơn là chùa Hng Phúc (Hòe Nhai), cùng các sơn môn khác như chùa Qung Bá, chùa Châu Long, chùa Ph Giác, chùa Ngũ Xá ( Gia Lâm), chùa B Đề, chùa Mc (chùa Quan Nhân), chùa Trung Kính, chùa M Trì Thượng, chùa Quán La (T Liêm).

Chùa Tào Sách ng trên di đất cao, lin k nước H Tây. Chùa gm mt s công trình kiến trúc: Tòa tin đường và tam bo có mt bng hình ch đinh, đài k nim, nhà Mu, nhà t

Tòa tin đường là kiến trúc có 6 hàng chân ct, xây kiu tường hi bít đốc. B vì nóc kết cu kiu “giá chiêng k ngi”, phn cn cũng là k ngi. Liên kết ct hiên và ct quân bng chiếc k chuyn to đáng c ngng. Phn chuôi v b vì kéo có kết cu tương t. Tòa nhà này ít được trang trí, ngoi tr mt vài mô típ hoa lá cách điu chiếc k hiên và đầu by, phong cách xây dng thi Nguyn.

Đài k nim là kiến trúc nh xây k tam bo làm kiu phương đình vi 2 tng 8 mái li chng diêm. Vt liu ct bng gch vi mái gi ngói ng. B vì này làm vào thi Bo Đại (1927).

Nhà Mu và nhà t làm kiu “tường hi bít đốc”. Kết cu vì kèo đơn gin, ch yếu là bào trơn, đóng bén, không có trang trí các cu kin.

Hin vt còn li ca di tích khá phong phú vi 29 tm bia, sm nht mang niên hiu Cnh Hưng, s còn li thi Nguyn. Chùa còn gi được mt s tượng Pht, tượng Mu. Nhìn chung các pho tượng phn ln có phong cách ngh thut thế k 19 - 20. Trong s đó 3 pho Tam Thế được làm na cui thế k 18 là sm hơn c.

Chùa đã được B Văn hóa và thông tin xếp hng di tích kiến trúc, ngh thut ngày 23.7.1993.

 

95. CHÙA THÁI CAM* (TÂN KHAI LINH T)^

Chùa Thái Cam s nhà 44 ph Hàng Vi, phường Hàng B, qun Hoàn Kiếm, Hà Ni. Chùa cũng có tên là Thái Can.

Theo bia “Bn t chân chuyn bi ký” dng năm 1845 thì chùa Thái Cam được xây dng cùng vi đình Thái Cam vào năm 1822, là năm thành lp thôn Tân Khai trên khu đất hoang ven đường phía đông thành cũ đời Lê. Chùa đã được tu sa nhiu ln.

Chùa gm tin đường và hu cung, có quy mô kiến trúc va phi cho mt làng. Chùa có đầy đủ tượng Pht, ngoài ra có tượng Đức Thánh Trn Hưng Đạo để cùng th cúng.

Chùa (và đình) đã được B Văn hóa và thông tin xếp hng di tích kiến trúc, ngh thut ngày 9.1.1990.

 

96. CHÙA THANH AM* (ĐÔNG LINH T)^

Chùa Thanh Am thôn Thanh Am, xã Thượng Thanh, huyn Gia Lâm, ngoi thành Hà Ni. Chùa cách trung tâm thành ph vào khong 8km v phía tây bc. Đường đi qua cu Chương Dương, cu Chui.

Chùa Thanh Am được xây dng t khá lâu đời cùng vi đình Thanh Am. Làng Thanh Am do Nguyn Bnh Khiêm, khi làm quan kinh đô dưới triu Mc, đã đưa con cháu và dân làng ti định cư đây và xây dng thành. Lúc mi thành lp làng có tên là Hoàng Am.

Chùa Thanh Am có tin đường và hu cung, nhà T, đều đã được sa cha mi trong nhng năm gn đây. Chùa có đủ tượng Pht mang phong cách điêu khc thế k 19 và mt qu chuông đúc năm Cnh Thnh nguyên niên (1793).

Chùa (và đình) đã được B Văn hóa và thông tin xếp hng di tích kiến trúc, ngh thut ngày 9.1.1990.

 

97. CHÙA THANH NHÀN^

Chùa Thanh Nhàn có tên ch là “Thanh Nhàn t ph Đê La Thành, phường Ô Ch Da, qun Đống Đa, Hà Ni.

Theo tm bia “Nghĩa Phê to điình bi ký” (Bài kí v vic dng đình Nghĩa Phê) dng năm Nhâm Thân, niên hiu Chính Hòa 13 (1692), nay là tr s công an phường Ô Ch Da, cho biết: “đình Nghĩa Phê nm ngang Đàn Xã Tc”. Trên tm bai tr 4 mt “Cao sơn Hưng miếu” (miếu Cao Sơn và Tây Hưng) dng ngày 5 - 5 âm lch đời vua Chính Hòa (1680 - 1705) có đon: “Đình Đông  Các bên hu v phía Bch H, dãy núi bao bc, đình cao ngang xp x chùa Thanh Nhàn”. Như vy vào khong thế k 17 đã có chùa Thanh Nhàn. Sang thế k 18 chùa b hư hi, tướng quân h Đô làm thái bo triu Lê đã đứng ra sa cha chùa, hin còn bia và tượng quan thái bo chùa. Đầu thế k 19, năm 1810, tu sa chùa, đúc chuông, năm 1895 cha tòa tam bo, 1901 cha tòa hu đường, năm 1946 sa t vũ. Chùa hin nay còn tòa tam bo hình chuôi v, tin đường 3 gian 2 chái, tượng Pht có giá tr. Trong chùa còn có 2 phù điêu chân dung 2 v tướng dòng h Đỗ có công tu sa.

Chùa đã được B Văn hóa và thông tin xếp hng di tích kiến trúc, ngh thut ngày 21.1.1989.

 

98. CHÙA THÁNH CHÚA^

Chùa gi là Thánh Chúa hoc Thánh Ch thôn Hu, xã Dch vng, huyn T Liêm, Hà Ni. Chùa cách trung tâm thành ph vào khong 7km v phía tây, trên đường t Hà Ni đi Sơn Tây. Chùa nm gia khuân viên trường Đại hc Sư phm I (Đại hc Quc gia).

Chùa được xây dng t lâu. Sách  Đại Vit s kí toàn thư, k nhà Lý - Lý Thánh Tông, có chép rng: “Vào năm Quý Mão (1064), vua Lý Thánh Tông by gi xuân thì đã nhiu, tui 40, mà chưa có con trai ni dõi, vua sai chi hu ni nhân Nguyn Bông làm l cu t chùa Thánh Chúa, sau đó Lan phu nhân có mang, sinh hoàng t Càn Đức, tc Lý Nhân Tông. Tương truyn rng, vua cúng khn, cu t khp các chùa quán. Xa giá đến đâu, con trai, con gái đổ đến xem. Duy có người con gái đứng ta trong bi c lau, vua trông thy, gi đưa vào cung,được vua yêu phong làm Lan phu nhân. Lúc dó sư Đại Điên tu chùa Thánh Chúa, người có tài pháp thut đã xui tên quân hu Nguyn Bông dùng pháp thut đầu thai hóa. Bông nghe theo, nhưng vic b phát giác, Nguyn Bông b điu ra cánh đồng trước chùa chém đầu”.

Ngày nay chùa cón cnh quan khang trang, thanh tnh. Tam quan gch xây hai tng, tng trên có 3 ca tò vò treo chuông, khánh.

Chùa xây hình ch đinh, tin đường 7 gian, đầu hi bít đốc, b vì nóc kiu “chng giường giá chiêng”. Trên kiến trúc trang trí các hình rng, phượng, h phù.

Chùa th Pht vi h thng tượng khá phong phú (77 pho) gm c tượng g và tượng đất nung, trong đó có nhiu pho tượng phong cách thế k 17. Các hin vt g sơn son thếp vàng, chm tr tinh tế. Đin Mu còn mt s pho tượng mang phong cách ngh thut thế k 19 có giá tr cao. Trong chùa còn có các đồ th t như hoành phi, câu đối, bia đá, chuông đồng phn ánh phong cách ngh thut ca các thế k 17 - 20.

Chùa Thánh Chúa còn nhiu viên gch v ln ging như gch v xây dng Văn Miếu, rt có giá tr v mt nghiên cu.

Chùa đã được B Văn hóa và thông tin xếp hng di tích kiến trúc, ngh thut ngày 21.1.1989.

 

99. CHÙA THIÊN NIÊN (TRÍCH SÀI)^

Chùa Thiên Niên thuc thôn Trích Sài, phường Bưởi, qun Tây H, Hà Ni.

Theo truyn thuyết chùa được xây dng t thi Lý Nam Đế (544 -548) cho hai công chúa phng l tr trì. Dưới triu Lý, hai mùa xuân thu, chùa và miếu đều có l quc tế, giao cho dân địa phương trông coi phng th. Đến đời Lê Thánh Tông chia mt na rung đất thôn Trích Sài cho các cung phi làm thái địa, hưởng hoa li, đặt tên là Thiên Niên trang, lp miếu và đin cho các cung phi đó phng th. Nhân trước miếu có chùa 8 tháp bèn đời đến ch đất cao hơn phía trên H Tây và dng li chùa. Vì trang này gi là Thiên Niên trang, nên chùa cũng gi là Thiên NIên t để th Pht và tu hành. Cui đời Lê có quan thái bo Đà Quc Công sa li chùa và cúng rung, nay còn bia. Đến niên hiu Thành Thái 5 (1893) tr v sau, dân làng mi nhà sư đến m rng phòng , sa mi li chùa, tô thêm tượng Pht, đúc li chuông đồng.

Kiến trúc chùa gm tam quan, sân, vườn, tam bo, nhà Mu, nhà t, tăng phòng, bếp và vườn tháp. Tam quan vn gi dáng v xưa, ca gia chiếu thng vào tin đường. Tin đường là mt nếp nhà 5 gian “đầu hi bít đốc”. Các vì làm kiu “chng giường giá chiêng”, vì nóc trang trí h phù, rng, hoa lá bng th pháp chm khc. Thượng đin gm 4 gian. Nhà T trước đây 3 gian nay ch còn nn móng. Nhà Mu cũng mi làm, gm 5 gian.

Chùa còn nhiu di vt có giá tr: 34 pho tượng tròn có niên đại t thế k 18 đến 20, 6 hoành phi, 10 câu đối, 2 ca võng, 2 nhang án, 1 khám g, 5 ngai th, 1 chuông đồng, 1 lư hương đồng, 7 bia đá, bia đá có niên hiu sm nht là Vĩnh Thnh 5 (1709).

Chùa (và đình) đã được B Văn hóa và thông tin xếp hng di tích kiến trúc, ngh thut ngày 31.1.1992.

 

100. CHÙA THIÊN PHÚC (THIÊN PHÚC T)^

Chùa Thiên Phúc có tên là chùa An Trung, là tên gi theo thôn An Trung, còn có tên là chùa Tây Cú. S dĩ dân gian gi là chùa Tây Cú vì vào khong nhng năm 20 ca thế k này có bà Nguyn Th Bn, v mt người Pháp đứng ra sa cha chùa, đền và đình An Trung. Chùa hin s nhà 94 ph Hai Bà Trưng, phường Ca Nam, qun Hoàn Kiếm, Hà Ni.

Tài lêu thư tch cũ không còn nên không xác định được niên đại c th ca ln xây dng đầu tiên. Truyn thuyết địa phương k rng chùa và đền Lý Quc Sư đã được đặt móng xây dng cùng ngày. Nhng tư liu đó gi ý rng chùa Thiên Phúc được xây dng t rt sm. Bng và kiến trúc hin còn có th được xây dng vào thế k 19.

Chùa Thiên Phúc quay hướng nam  vi tam quan sát hè đường Hai Bà Trưng, tiếp đến là mt sân nh chy ti chùa chính, hai bên là hai dãy nhà và đin th Mu.

Tam quan chùa được xây bng gch vi 6 hàng ct tr có khong cách không đều xung quanh, các ca vào được xây gch cun ni hai ct vi nhau. Phn trên cùng ca chính đắp ni hình lưỡng long chu nguyt, bên dưới trang trí cun thư vi 3 ch Hán “Thiên Phúc t”. Qua tam quan là sân chùa lát gch Bát Tràng, rng 60 mét vuông, trên sân xây bn hoa đắp gi sơn, chếch v phía trái là 3 am nh để th thn. Hai bên là hai dãy nhà ngang song song vi nhau.

Đin Thiên Phúc nm theo hướng đông trông ra sân chùa, đin xây gch, hai đầu bít đốc. Đền lp ngói ta, b nóc đắp va kiu b đinh, chính nóc mái bng hình ch đinh vi 3 gian tin tế, và 2 gian hu cung. Các b vì làm kiu “thượng giường h k” by hiên, sáu hàng ct.

Chùa chính gm 5 gian tin đường và hu cung to thành hình ch đinh. Chùa được xây bng gch, mái lp ngói tan, các vì làm kiu “thượng chng giường giá chiêng h k”. Hai b vì gian gia làm theo kiu trn hai ct cái, to không gian thoáng rng ch tin đường.

Trong tòa tam bo còn có mt h thng tượng Pht và chư v. Trong đin Mu đặt tượng Mu cùng cô, cu. Các tượng được chế tác tinh xo, sơn son thếp vàng lng ly.

Chùa đã được B Văn hóa và thông tin xếp hng di tích kiến trúc, ngh thut ngày 31.1.1992.

 

101. CHÙA THIÊN PHÚC^

Chùa thôn Đình Công Thượng, xã Đình Công, huyn Thanh Trì, Hà Ni. Chùa cách trung tâm thành ph khong 13 km v phía Nam. Chùa th Pht và các môn đồ. Theo truyn thuyết và văn bia 1832 thì chùa có t đời thượng c.

Chùa gm tam bo, nhà T, nhà Mu, nhà khách, nhà trai, vườn tháp. Tam bo hình chuôi v, tin đường 5 gian, vì kiu thượng giường. Kiến trúc: Chm khc t quý, t linh. Ca võng chm hình hoa lá, lưỡng long chu nguyt. Chùa còn nhiu di vt đẹp như câu đối, hoành phi, tượng A Di Đà phát quang, Tam Thế, Văn Thù, Quan Âm, Cao Diếp, Quan Âm Chun Đề, Thánh Hin, Đức Ông, Thích Ca Sơ Sinh, Thp Đin, Ông Thin, Ông Ác, phù điêu đá thế k 18, chuông đồng, b tam s… chùa còn tm bia đá niên hiu Cnh Hưng 24 (1763).

Chùa đã được B Văn hóa và thông tin xếp hng di tích kiến trúc, ngh thut ngày 20.7.1994.

 

102. CHÙA THIN QUANG, CHÙA QUANG HOA, CHÙA THÁP HOA (THIN QUANG T, QUANG HOA T, PHÁP HOA T)^

Cm di tích h Thin quang, chùa Thin Quang, chùa Quang Hoa, chùa Pháp Hoa thuc phường Nguyn Du, qun Ha Bà Trưng, Hà Ni.

Theo tm bia “Quang Hoa t thp phương bi” hin dng chùa Quang Hoa thì chùa xưa vn thôn Quang Hoa, phía tây thôn Thin quang (hai thôn này nm trong công viên Lênin hin nay). Tm bia khc năm th 12 niên hiu T Đức (1860) ghi vic dân làng Pháp Hoa góp tin ca dng chùa vào năm 1860. Khong 1933 - 1934 thc dân Pháp đã di 3 làng Quang Hoa, Thin Quang đi nơi khác để m đường và quy định cho dân các làng đời chuyn v vi trí hin nay.

Chùa Quang Hoa quay v hướng nam, có tam quan, tam bo hình chui v, gm tin đường 7 gian, hu cung 5 gian, nhà t 10 gian, hai dãy nhà ngang, mi dãy 10 gian, vườn tháp.

Chùa Thin Quang nm bên trái chùa Quang Hoa, phía sau là chùa Pháp Hoa. Tòa tam bo 5 gian, hu cung 3 gian, bên phi là nhà khác, bên trái có bếp, sau cùng là nhà Mu, nhà ngh và khu vườn tháp có 2 tháp nh.

Chùa Pháp Hoa phía sau chùa Thin Quang có tin đường 3 gian, thượng đin 3 gian, mt bng hình chui v, chùa nh, cht hp.

Các chùa bo tn được nhiu di vt, tượng có mang phong cách ngh thut thế k 19 có giá tr. Các ngôi chùa k nhau trên b h Thin quang t lâu đã là nơi vãn cnh ngh mát ca người Hà Ni.

Cm di tích đã được B Văn hóa và thông tin xếp hng di tích kiến trúc, ngh thut ngày 6.11.1989.

 

103. CHÙA THÔN NHA* (C LINH T)^

Chùa Thôn Nha thuc thôn Nha, xã Long Biên, huyn Gia Lâm ngoi thành Hà Ni. Qua cu Chương Hương đi theo b đê sông Hng v phía dưới độ 5 km s đến di tích.

Chùa thôn Nha còn có tên gi là chùa C Linh. Chùa được xây dng trên mt khu đất cao, quay mt v hướng bc. Kiến trúc chùa theo kiu ch đinh (J) gm tin đường, thiêu hương, thượng đin. Thiêu hương và thượng đin được ni lin thành mt nếp nhà dc gn vi tin đường. Bao quanh các nếp nhà có tường gch.

Nhà tin đường gm 5 gian 2 dĩ. Tin tế là mt nhà gch 7 gian, đều được xây kiu “tường hi bít đốc tay ngai”. Kết cu các vì kèo chính “thượng chng giường giá chuyn h k”, các vì bên có dng “chng giường by hiên”, nhng vì hi làm kiu kèo cu quá giang. Trên các b khung nhà được trang trí các loi hoa văn rng lá, cây ci, vân mây, đài sen được chm ni, chm bong kênh trên các câu đầu, giường, k, by hiên.

Chùa có 25 pho tượng Pht, trong s này có 11 pho tc t thi Lê (thế k 18) và 14 pho thi Nguyn (thế k XIX). Các pho tượng thi Lê Trung hưng có khuôn mt dt, ngc n, eo tht, tư thế thoi mái, đài sen n rng theo ghế ngi, cánh sen dy mp. Các pho tượng thi Nguyn có khuôn mt dy mp, to, mũi cao, tư thế gò bó, các mô típ trang trí trên mũi, áo, qun rt ph biến trong ngh thut điêu khc thế k 19. Tuy các pho tượng có niên đại to tácsm mun khác nhau song các pho tượng Pht ca thôn Nha đều mang nhng nét chung ca điêu khc dân gian.

Chùa thôn Nha cũng lưu gi được nhiu di vt quý bng đồng, g, men s

Chùa (và đình) đã được B Văn hóa và thông tin xếp hng di tích kiến trúc, ngh thut ngày 28.9.1990.

 

104. CHÙA THÚY LĨNH* (DIÊN KHÁNH T)^

Chùa Thúy Lĩnh thuc thôn Thúy Lĩnh, xã Lĩnh Nam, huyn Thanh trì, ngoi thành Hà Ni. Thúy Lĩnh là mt làng c đất bãi ven sông Hng, trước đây có tên là Thúy Ái sau mi đổi là Thúy Lĩnh. Chùa cách trung tâm thành ph khong 15km v phía nam.

Chùa Thúy Lĩnh có tên là “Diêm Khánh t”. Chùa được cu trúc vi nhiu lp nhà có tường bao quanh thành mt công trình khép kín. Chùa chính được cu trúc theo hình ch đinh (J). Tin đường gm 5 gian, xây tường hi bít đốc, tay ngai, mái lp ngói mũi hài. Kiến trúc vì kèo theo kiu “chng giường giá chiêng k chuyn”. Trong chùa được chm khc trang trí đề tài t linh, t quý. Thượng đin 5 gian ni lin vi tin đường gia, kiến trúc kiu chng giường giá chiêng, xà nách. Trang trí trong chùa là h thng ca võng sơn son thếp vàng to nên v trang nghiêm lng ly ca chùa. Trong khu vc chùa còn có nhà T, đin Mu và hai dãy hành lang chy hai bên. Chùa Thúy Lĩnh còn gi được nhiu tượng Pht (32 pho) mang phong cách to tác ca thế k 19. Ngoài tượng Pht, chùa còn 2 chuông đồng và các hoành phi câu đối, bát hương và các đồ gm s để th.

Chùa Thúy Lĩnh tuy quy mô không to ln nhưng nhng công trình kiến trúc còn hoàn chnh, mang phong cách kiến trúc dân tc truyn thng, được nhân dân địa phương quan tâm bo qun nhng hin vt có giá tr ngh thut.

Chùa đã được B Văn hóa và thông tin xếp hng di tích kiến trúc, ngh thut ngày 28.1.1993.

 

105. CHÙA THƯỢNG ĐỒNG* (HIN NG T)^

Chùa thông Thượng Đồng, xã Hi Xá, huyn Gia Lâm, ngoi thành Hà Ni. Chùa cách trung tâm thành ph khong 15 km v phía đông bc.

Chùa th Pht. Chùa gm gác chuông 2 tng 8 mái, sân gch, tin đường 7 gian, kiến trúc đơn gin; thượng đin 5 gian, thiêu hương. Chùa ít có trang trí, ch yếu là k thut bào trơn. Di tích còn lưu gi được mt s di vt giá tr như: cân đối, chuông đồng, 3 bia đá thi Lê. Chùa còn có các tượng Đức Ông, Thánh Tăng, Cu Long, Ngc Hoàng, Nam Tào, Bc Đẩu, A Di Đà, Văn Phù, Ph Hin, Quan Âm Tng T.

Chùa đã được B Văn hóa và thông tin xếp hng di tích kiến trúc, ngh thut ngày 18.1.1993.

 

106. CHÙA TIÊN LINH (CHUNG LINH T)^

Chùa Tiên Linh nm phía nam Hà Ni, thuc xã Vn Phúc, huyn Thanh Trì, Hà Ni. Đây là ngôi chùa có t lâu đời nhưng đã b thc dân Pháp phá hy trong chiến tranh. Sau hòa bình nhân dân xã  Vn Phúc đã góp công sc tin ca xây dng li trên nn chùa c. Di tích cách trung tâm thành ph khong 17 km v phía nam.

Chính ti mnh đất lch s này, ngay cnh chùa có mt cái đầm tên gi là Vn Xoan. Đó là du tích địa danh kinh đô Vn Xuân thi Lý Nam Đế. Ti đây đã tìm được mt s di vt kho c thế k 6, phù hp vi thi di nước Vn Xuân độc lp.

Truyn thuyết đây còn nói ti vic Lý Thái T vào thế k 11, cho đắp đe Cơ Xá ln nht thi đó. Để lưu nim s kin này, vua cho xây dng chùa Thiên Linh dưới đê Vn Phúc. T đó v sau, các vua Lý thường v chùa cu cúng.

Cũng ti đây vào năm 1426, nghĩa quân Lê Li đã đóng quân để bao vây thành Đô Quan do quân Minh chiếm, sau đó tiến vào gii phóng. Con đê Vn Xuân được đắp thi y là mt chiến lũy quan trng trong chiến dch gii phóng thành Đông Quan.

Mnh đất y cũng còn chng kiến hai ln Nguyn Hu tiến quân ra Bc Hà: năm 1786, dit nhà Trnh phò vua Lê và năm 1789 dit Mãn Thanh gii phóng Thăng Long. Truyn thuyết k rng chính ti chùa Tiên Ling, Quang Trung đã đích thân kim tra vic chun b tn công đồn Ngc Hi.

Sau cách mng tháng tám, cnh chùa Tiên Linh là nơi din ra cuc mít tinh chào mng chính ph lâm thi. Trong kháng chiến, đây tr thành bàn đạp ca các chiến sĩ bit động khi tiến công vào ni thành và là ch huy sđịa đim liên lc vi trung ương.

Ngoài ý nghĩa lch s, chùa còn gi được nhiu di vt c có giá tr ngh thut cao, như: khám th sơn son thếp vàng (thế k 18), bát hương đồng, chuông cùng hàng chc pho tượng tròn. Có pho tượng rt đẹp như A Di Đà, Quan Âm Tng T, Quan Âm Nghìn Mt Nghìn Tay, Tòa Cu Long… được to tác t thế k 18, 19 và đầu thế k 20.

Chùa li nm trên mt địa thế đẹp, ta lc trên gò cao vi nhiu cây c th bao quanh, có vườn cây ăn qu, có h nước, phía sâu có dòng sông un khúc nên là mt nơi có kh năng thu hút khách du lch.

Chùa đã được B Văn hóa và thông tin xếp hng di tích kiến trúc, ngh thut ngày 22.4.1992.

 

107. CHÙA THIÊN PHÚC (TIÊN PHÚC T)^

Chùa Thiên Phúc (Tiên Phúc t) còn gi là chùa Bà Nành s nhà 27 ph Văn Miếu, qun Đống Đa, Hà Ni.

Theo truyn thuyết thì chùa dng để th mt bà bán hàng. Bà c trước kia thường bán nước, chè đậu nành cho các hc trò Quc T Giám. Li có truyn thuyết  cho rng chùa dng đầu triu Lê (thế k 15) trên nn quán hàng nước ca bà già. Có ln vua Lê Thánh Tông (1460 - 1497) đến thăm Quc T Giám ghé li chùa. Chùa được tu sa ln vào năm Đinh Hi đời vua Đồng Khánh (1887). Chùa phía ngoài có tam quan bên trong hình chui v chia làm nơi tiếp khách và nơi bày tượng Pht.

Chùa th Pht và th bà Nành, trong chùa còn mt phiến đá hình ch nht, tương truyn là nơi bà c bày hàng để bán. Chùa bà Nành ngoài giá tr lch s văn hóa t thân, còn được coi là mt di tích nm trong qun th di tích Văn Miếu - Quc T Giám.

Chùa đã được B Văn hóa và thông tin xếp hng di tích kiến trúc, ngh thut ngày 12.12.1988.

 

108. CHÙA TÌNH QUANG* (TÌNH QUANG T)^

Chùa Tình Quang thuc thôn Tình Quang, xã Giang Biên, huyn Gia Lâm, ngoi thành Hà Ni, cách trung tâm thành ph vào khong 12 km v phía đông - bc. Đường đi qua cu Chương Dương, cu Chui đến cu Đung thì r phi theo b hu ngn sông Đung chng 3km.

Theo truyn thuyết chùa được xây dng t khá sm, đã được trùng tu ln vào đầu thế k 19. Chùa quay hướng đông nam, có kiến trúc kiu ch nh (=). Tin đường và thượng đin gm 3 gian song song. Chùa có nhiu mng chm khc g vào khong thế k 17, 18. H thng tượng Pht ca chùa khá đầy đủ. Chùa có mt qu chuông “Tình Quang chung” được đúc năm T Đức th 2 (1849).

Chùa (và đình) đã được B Văn hóa và thông tin xếp hng di tích kiến trúc, ngh thut ngày 11.5.1993.

 

109. CHÙA TRN QUC^

Chùa Trn Quc thuc phường Yên Ph, qun Tây H, Hà Ni.

Đây là ngôi chùa c nht Hà Ni và nước ta vì chùa được xây dng t thi Lý Nam Đế (541 - 547), có tên là Khai Quc. Chùa được dng ti thôn Yên Hoa (sau được đổi là Yên Ph) trên mt bãi cnh sông Hng. Đến đời Lê Thái Tông (1440 - 1442) được gi là chùa An Quc. Đến thi Lê Kinh Tông (1600 - 1618) do bãi sông b l, chùa được di vào mt hòn đảo nh trong H Tây gi là Kim Ngư (đảo c Vàng) là địa đim ngày nay. Nơi này đã được các vua nhà Lý dng cung Thúy Hoa và đời Trn dng đin Hàn Nguyên dùng làm nơi hóng mát, xem đua thuyn đánh cá. Đời Lê Hy Tông (1680 - 1705), chùa được đổi tên gi là Trn Quc. Năm 1842 vua Thiu Tr ti thăm và đổi tên là Trn Bc nhưng dân vn quen gi là Trn Quc.

Vào khong đời Lê Thn Tông (1619 - 1643), dân hai làng Yên Ph và Yên Quang đắp dp C Ngư (ngày nay là đường Thanh Niên) chn ngang H Tây (năn thành h nh gi là Trúc Bch hin nay) nhân đó mi đắp luôn con đường t đập C Ngư đi vào chùa. Chùa đã được tu sa vào nhng năm 1624, 1628. Đến năm 1639 được dng thêm hu đường, cng lu, hành lang t hu, quy mô to rng, chm tr tinh khéo. Trng nguyên khoa Đinh Su (1637) Nguyn Xuân Chính đã son bia ghi: “Nay đắp cao nn chùa cũ, m rng quy mô, trước tiên dng các tòa thượng đin, đài đốt hương, tin đường và cu hu… Trước hết dng hu đường, cng có gác, tiếp theo dng luôn t hu hành lang, định ra tng ãy, chia ra tng tòa… huy hoàng tượng Pht, sáng ngi nơi rường chm ct sơn, rc r hoa hng, ánh chiếu khp tòa sen, ca biếc…”. Đến năm Gia Long 14 (1815) chùa được trùng tu, đúc chuông, đắp tượng, quy mô tráng l. Phm Quý Thích, đậu tiến sĩ khoa 1779, son văn bia ghi: “Trước hết làm nhà th Pht, nhà thp hương, tin đường, c thy 3 tòa. Sau đó làm 2 hành lang, gác chuông, hu đường, c thy 4 nếp, tt c đều cao ln hơn trước, đồng thi đúc tượng Pht và đúc chuông ln”. Năm 1821 vua Minh Mng ra Bc Thành đến thăm chùa, ban 20 lng bc để tu sa. Năm 1842 vua Thiu Tr cũng đến thăm chùa, ban mt đồng tin vàng ln và 299 quan tin để tu sa.

Chùa hin còn gi được li kiến trúc độc đáo khác vi nhiu chùa: phía trước là nhà bái đường, ri đến nhà tam b, phía sau mi là 2 dãy hành lang Thp Đin và gác chuông. Trong chùa có mt s tượng đẹp như b Tam Thế, Pht Thích Ca nhp Niết Bàn, bng g sơn son thếp vàng. Trong chùa có 14 bia. Chùa có mt vườn tháp có nhiu tháp.

Chùa vào mt nơi phong cnh đẹp nên các đời chúa Trnh đã biến nơi đây thành hành cung (nơi ca vua chúa khi chúng đi chơi). Khi chúa Trnh b dit, vua Lê Chiêu Thng h lnh đốt hết nhng nơi chúa Trnh đã . Nh s bo v ca dân trong phường nên lýnh ca vua Lê ch đốt nhng phòng dng trên bè ni quanh chùa do chúa Trnh làm cho bn hon quan và cung n, còn chùa vn gi được nguyên vn.

Chùa Khai Quc vào thi Lý là trung tâm Pht giáo ca kinh thành Thăng Long, là nơi th lý giáo hun ca nhiu thin sư thuc dòng thin Vô Ngôn Thông. Thái hu Lan cũng m tic chay đãi các thin sư kê cu kinh Pht nơi đây. T thi Ngô Quyn, thin sư Văn Phong thuc thế h th 4 dòng thin Vô Ngô Thông đã tr trì chùa Khai Quc. Hc trò ca thin sư Văn Phong là thin sư Khuông Vit, th nghip chùa Khai Quc, đã ni tiếng trong c nước, được vua Đinh Tiên Hoàng và Lê Đại Hành mi v Hoa Lư làm c vn ti cao ca triu đình.

Chùa Trn Quc là cnh đẹp ca H Tây. “Lên cao ngm cnh, mây nước mênh mang, nước h óng ánh trong sut khiến lòng người không hư, tiếng chuông chùa gi tnh mng trn tc… tm bia rêu phong còn đó, li xưa c nay đâu? Ngày tháng là bao bng tr thành du cũ, khiến cho con người chnh lòng cm khái vi cnh vt xưa nay”. (Văn bia 1815).

Chùa Trn Quc là mt danh lam thng cnh, mt di tích văn hóa ca th đô và c nước. Chùa đã được B Văn hóa xếp hng di tích lch s, văn hóa ngày 28.4.1962.

 

110. CHÙA TRIU KHÚC* (Hương Vân t)^

Chùa Triu Khúc thuc xã Tân Triu, huyn Thanh Trì, ngoi thành Hà Ni, cách trung tâm thành ph vào khong 13 km v phía tây, trên đường đi Hà Đông, r trái cây s 10 (cnh Nhà máy ô tô Hòa Bình).

Chùa Triu Khúc còn có tên ch là “Hương Vân t”.

Chùa có quy mô ln bao gm các công trình t ngoài vào là tam quan, tam bo, tin đường, thượng đin, hai bên thượng đin là 2 dãy hành lang, sau cùng là nhà T. Xung quanh chùa có nhng cây c th xum xê. Tam quan xây theo kiu hai tng mái c ca chính và hai ca ph, có 4 ct xây. Qua tam quan đến mt khong sân trong đó là vườn cây cnh. Phn chùa chính là cu trúc hình ch đinh là tin đường và thượng đin. Tin đường gm 5 gian xây tường bít đốc tay ngai vi tr phía trước, b nóc đắp cun thư. Trong chùa có b vì kèo kiu chng giường, trn ct. tin đường có chm tr nhưng đơn gin vi đề tài t linh và văn mây, hoa lá, trúc mai, hóa rng.

Phn thượng đin có 5 gian dc ni vi tin đường, to hình chuôi v (ch đinh). Cu trúc vì kèo “chng giường giá chiêng”, xà nách, ch yếu đóng bén, bào trơn. Chùa có các ca võng chm, sơn son thếp vàng gn vi ct làm cho phn kiến trúc thêm mm mi hơn và tăng v tôn nghiêm ca chùa. Ngoài chùa chính còn có nhà T phía sau chùa và hai ngôi nhà bên cnh bao ly sân nhà T.

Chùa còn có hai ngôi nhà th Tam Thanh và th ông t ngh kim hoàn, hai nhà này nm bên phi và bên trái tam bo.

Trong chùa có 52 pho tượng Pht, có pho được to tác t thế k 18 và nhng pho được to t thi Nguyn. Nhìn chung có nhiu tượng đường nét chm rt thanh thoát và dáng dp rt thoi mái.

Chùa đã được B Văn hóa và thông tin xếp hng di tích kiến trúc, ngh thut ngày 29.1.1993.

 

111. CHÙA TRIU KHÁNH (TRIU KHÁNH T)^

Chùa Triu Khánh nm xã Thanh Trì, huyn Thanh Trì, ngoi thành Hà Ni, cách trung tâm thành ph vào khong 13km, cnh th trn Văn Đin, đi theo quc l s I v phía nam.

Chùa Triu Khánh được xây dng trên mt khu đất cao ráo, chùa quay hướng tây. Tam quan ca chùa đã b phá hy t lâu. Kiến trúc chính ca chùa ch còn mt bng hình ch đinh, gm tin đường và thượng đin. Tin đường gm 7 gian, 2 dĩ. Hu hết các b vì làm bng kiu chng giường, riêng b bên trái làm kiu giá chiêng. Chùa còn có mt tm bia đá niên hiu Cnh Hưng 11 (1750) ghi li vic sa chùa và làm tượng A Di Đà. Căn c vào ngh thut chm khc có th đoán định chùa có th được xây dng vào cui thế k 17. Toàn b các đầu dư, giường ct, by, câu đầu ca tin đường đều được chm khc t linh vi các đao mác dài, nhiu nếp sóng. Đặc bit có mt hot cnh 2 người ôm nhau. Đây là mt đề tài hu như không thy các chùa.

H thng tượng ca chùa khá phong phú vi b Tam Thế, Di Đà Tam Tôn, Hoa Nghiêm Tam Thánh, Quan Âm Thiên Th Thiên Nhãn, Thp Đin Diêm Vương. Riêng tượng A Di Đà được làm niên đại 1750 còn các tượng khác đều là sn phm ca đầu thế k 19. Chùa còn có cây hương đá niên hiu Bo Thái 4 (1723), mt qu chuông đồng niên hiu Cnh Thnh 2 (1794), khánh đồng niên hiu Thiu Tr 2 (1840).

Chùa Triu Khánh là mt công trình kiến trúc hiếm li tn ti ngay sát ni thành Hà Ni. Chùa đã được B Văn hóa và thông tin xếp hng di tích kiến trúc, ngh thut ngày 22.4.1992.

 

112. CHÙA TRUNG T* (PHÚC LONG T)^

Chùa Trung T thuc phường Phương Lit, qun Đống Đa, Hà Ni. Chùa gn đình, có th được cùng xây dng vào thế k 17, đầu thế k 18.

Chùa Trung T (Phúc Long t) do con gái chúa Trnh lp ra và giao cho dân làng Trung T trông coi. Tm bia g còn gi được chùa hin nay khc vào năm Tân Du, Cnh Hưng 2 (1741) ghi rõ vic xây dng chùa và nói đến ni th cung tn Trnh Th Thun.

Chùa Trung T tuy có t lâu, nhưng đã qua nhiu ln tu sa, nên kiến trúc hin nay ch còn mang phong cách ngh thut thi Nguyn.

Chùa có ngoài là tam quan, trong là tin đường và Pht điên, kết cu theo kiu ch đinh. Tin đường là ngôi nhà 3 gian được xây dng gn đây, kiến trúc mang phong cách ca đầu thế k 20 thi Nguyn. Các chm tr trong chùa có đề tài hoa, cây và các đường trin. Ngh thut chùa ch yếu là ngh thut điêu khc và các tượng Pht. Trong 17 tượng còn li có b tượng Tam Thế, tượng Quan Âm Chun Đề, tượng A Di Đà và tòa Cu Long là nhng tác phm ngh thut có giá tr. Chùa có 1 bia hình vuông thi Lê, 1 chuông đồng và mt s bia hu. Nhìn chung, chùa Trung T không ni bt nhưng cũng đáng được lưu ý v v trí, lch s xây dng và nhng phn ngh thut còn li hin nay.

Chùa đã được B Văn hóa và thông tin xếp hng di tích kiến trúc, ngh thut ngày 23.6.1992.

 

113. CHÙA TRÙNG QUANG* (TRÙNG QUANG T)^

Chùa Trùng Quang thuc xã Đại M, huyn T Liêm, ngoi thành Hà Ni, cách trung tâm thành ph khong 17km.

Chùa Trùng Quang được xây dng t khá sm, đến năm 1700 đã được tham tng Nguyn Quý Đức trùng tư ln, có quy mô b thế, nhưng t đó đến nay đã qua nhiu ln sa cha nên không còn din mo như xưa. Chùa có tam quan, tòa tam bo gm nhà tin đường và thượng đin. Kiến trúc chùa theo li c truyn, còn lưu được nhng mng chm khc có giá tr.

Chùa còn 42 pho tượng vi các b Tam Thế và Di Đà Tam Tôn được chm khc khá công phu, có niên đại vào thế k 18 - 19. Chùa có 2 qu chuông đồng và 1 khánh đá niên hiu Vĩnh Thnh 7 (1765), 4 tm bia dá, tm c nht có niên hiu Cnh Hưng.

Chùa (và đình Đại M) đã được B Văn hóa và thông tin xếp hng di tích kiến trúc, ngh thut ngày 21.6.1993.

 

114. CHÙA TRƯỜNG LÂM*^

Chùa Trường Lâm thuc thôn Trường Lâm, xã Vit Hưng, huyn Gia Lâm, ngoi thành Hà Ni, cách trung tâm thành ph khong 7km v phía đông bc. Đường đi qua cu Chương Dương, cu Chui khong 2 km là đền di tích.

Tương truyn chùa được xây dng t đời Lý và đã qua nhiu ln sa cha. Chùa hin nay có quy mô va phi, gm tin đường và thượng đin, có phong cách kiến trúc thế k 19.

Chùa có đầy đủ tượng Pht được to tác vào đầu thế k 20.

Chùa (và đình) đã được B Văn hóa và thông tin xếp hng di tích kiến trúc, ngh thut ngày 21.1.1992.

 

115. CHÙA T KHÁNH (T KHÁNH T)^

Chùa còn có tên nôm là chùa V, chùa C và gi theo địa danh là chùa Đông Ngc. Chùa thuc xã Đông Ngc, huyn T Liêm, Hà Ni. Chùa cách trung tâm thành ph vào khong 10km v phía đông bc. có th đi theo b đê hu ngn sông Hng qua Yên Ph, Nht Tân là đến nơi.

Chùa T Khánh có th được xây dng t thi Hu Lê. Theo bia Thnh Đức (1655 - 1661) đời Lê Thn Tông ghi rõ công đức ca ông Nguyn Phúc Ninh và bà Trn Th Ngc Luân đã có công tu b chùa rt ln và dân làng bu là hu Pht ca chùa.

Chùa T Khánh là ngôi chùa duy nht ca thành ph Hà Ni được phong tng “Toàn gia kháng chiến” trong cuc kháng chiến chng Pháp. Thượng ta Thích Thanh Lc chùa tng làm ch tch lâm thi xã C Nhuế. Chùa là trm giao thông, là tr s ca y ban Liên Minh huyn, là nơi nuôi giu cán b hot động cách mng bí mt. Thượng ta Thích Thanh Lc đã b Pháp bt giam 2 ln Ha Lò và Liu Giai, mc dù b tra tn dã man vn không khai báo. Thượng ta còn giác ng 2 sư bác trong chùa tam gia kháng chiến.

Chùa T Khánh được xây dng trên mt khuđất rng, thoáng mát, rìa thôn Đông Ngc. Qun th kiến trúc gm có cng, tam quan, gác chuông, nhà vuông, tin đường, hu cung, nhà T.

Chùa chính có kết cu hình ch đinh. Tin đường gm 3 gian, 2 chái, xây kiu “tưởng hi bít đốc”. Mái lp ngói mũi hài, b nóc đắp kiu b đinh, hai b đốc xây tr vuông nh, bn đầu đao un cong, không trang trí, 6 hàng ct g được đặt trên tng đá mt tròn, hai vì gia kết cu kiu “thượng chng giường h k chuyn”, hai vì hi làm kiu v rui. Trang trí kiến trúc đơn gin, ch yếu là bào trơn, đóng bén, k soi.

Tòa hu cung có mái làm theo kiu chng diêm, 2 tng nhưng có 7 mái, trn mt mái nói vi tin đường. Mái lp ngói mũi hài, b nóc đắp kiu b đinh, bn đầu đao đắp hình rng, ming ngm b di. Phía dưới v rui sau đắp 2 hình nghê, hướng vào nhau.

Hai dãy di vũ xây kiu tường hi bít đốc, vì kèo kết cu kết kèo cu quá giang và chng giường.

Chùa có 5 pho tượng được to tác công phu mang phong cách ngh thut thế k 18 - 19. Nhng pho tượng Di Lc, Quan Âm Chun Đề, B Tát, Thích Ca Liên Hoa v.v… có giá tr thm M cao. Chùa còn lưu gi được nhiu đồ th t quý bng g, đồng, s.

Chùa đã được B Văn hóa và thông tin xếp hng di tích kiến trúc, ngh thut ngày 16.12.1993.

 

116. CHÙA T KHOÁT (HƯƠNG PHÚC T)^

Chùa T Khoát có tên ch là “Hương Phúc t đầu thôn T Khoát, xã Ngũ Hip, huyn Thanh Trì, Hà Ni. Chùa cách trung tâm thành ph vào khong 13km v phía nam theo quc l s I, cnh th trn Văn Đin.

Truyn thuyết k li, vào thi Lý có hai bà công chúa chuyên đi các nơi xây dng chùa chin, khi v đến T Khoát, thy địa thế đây cao đẹp, hai bà bèn b tin ca ra xây dng chùa Hưng Phúc. Sau đó hai bà li tu ti chùa. Trong thi gian tu ti chùa T Khoát, h thy ai bán rung, hai bà lin b tin ra mua, sau đó giao li cho dân làng t 18 tui tr lên cày cy thu li ly tin tu sa chùa. Tương truyn hai bà công chúa nhà Lý mt ti chùa ngày 15 - 3 âm lch.

Trong chiến dch Quang Trung đại phá quân Thanh 1789, các v sư tr trì chùa lúc by gi đã góp nhiu công sc giúp đỡ nghĩa quân Tây Sơn n náu trong chùa, góp phn làm nên chiến thng Ngc Hi - Đống Đa. Tương truyn M Ngô gn chùa chiính là nơi chôn xác quân xâm lược Thanh.

Chùa ta lc trên gò đất cao ráo và quay v hướng nam. Phía tây nam chùa là quc l s I, phía bc, sau chùa là th trn Văn Đin, phía đông chùa là nhà th đạo Ki tô, phía nam trước chùa có quc l 70 cùng dòng sông Tô Lch un lượn.

Kiến trúc chùa T Khoát bao gm tam quan, nhà tin đường, nhà thiêu hương, hu cung, nhà t, nhà khách. Toàn th công trình kiến trúc được b trí hài hòa trong mt tng th chung thng nht trong khuôn viên khép kín. Tin đường, thiêu hương và hu cung b trí trên mt bng hình ch công (II). Tam quan chùa có kết cu khá độc đáo và đẹp, chính gia tam quan là mt ngôi nhà vuông bn mt m bn ca ln. Phía trên bn góc ca ngôi chùa này có bng hình bông sen đắp bng va và mt tháp xây gch hình bát giác, tháp gm 4 tng, càng lên cao càng nh dn. Tin đường 5 gian, các bc cn, đầu dư trang trí chm thng kết hp bong kênh hình rng, đao mác mang phong cách ngh thut thi Lê Trung hưng. Thiêu hương 2 gian, hu cung 5 gian, trang trí chm khc theo phong cách thi Nguyn.

Trong chùa th Pht, có 52 pho tượng mang phong cách ngh thut thế k 18 - 19. Ngoài ra còn có các chuông đồng, bia đá, hoành phi câu đối, tượng đá.

Chùa T Khoát là ngôi chùa có giá tr ngh thut cao, bo lưu được nhiu mng chm khc trang trí vi s lượng tượng tròn ln có giá tr.

Chùa đã được B Văn hóa và thông tin xếp hng di tích kiến trúc, ngh thut ngày 22.3.1988.

 

117. CHÙA NG LINH* (NG LINH T)^

Chùa ng Linh thuc thôn Vĩnh Trung, xã Đại Áng, huyn Thanh Trì, ngoi thành Hà Ni. Chùa cách trung tâm thành ph khong 22km v phía nam. Đường đi theo quc l s I qua th trn Văn Đin, ti Ngc Hi, r phi qua làng Ngc Hi, Lc Th, Vĩnh Thnh ri đến Vĩnh Trung.

Chùa ng Linh được xây bên cnh đình và miếu Vĩnh Trung. Chùa gm có tin đường, thượng đin, nhà T và nhà khách. Chùa còn lưu gi được nhiu đồ tế khi, bia đá và tượng Pht, có ngh thut diêu khc đẹp và l.

Trước cách mng tháng Tám năm 1945, chùa là nơi din ra nhiu hot động tuyên truyn giác ng cách mng chun b cho Tng khi nghĩa ca mt trn Vit Minh. Trong kháng chiến chng Pháp chùa là cơ s bí mt ca nhiu cán b hot động trong vùng dch hu. Hin nay dưới b tượng Đức Ông vn còn lưu gi mt cănt hm bí mt nuôi giu cán b ca các sư tr trì thi đó.

Chùa (và đình miếu) đã được B Văn hóa và thông tin xếp hng di tích kiến trúc, ngh thut ngày 29.1.1993.

 

118. CHÙA VN PHÚC* (CHUNG LINH T)^

Chùa Vn Phúc thuc xã Vn Phúc, huyn Thanh trì, ngoi thành Hà Ni, cách trung tâm thành ph khong 15 km v phía nam.

Chùa xây trên mt gò đất cao ráo gia làng, quay hướng tây nam. Tam bo chùa có kết cu hình chuôi v. Tin đường dài 15,5m, rng 5 m, b khung chu lc làm dưới dng “thượng giường h k”, vi 4 hàng chân ct, b mái chùa lp ngói ta. Trong chùa hin còn lưu gi được nhiu pho tượng quý như 3 pho tượng Tam Thế, Quan Âm, Đại Thế Chí và các chuông đồng có niên đại thế k 18. Đặc bit là tượng đá bia hu là pho tượng quý đặc sac làm dưới dng phù điêu trong mt khi đá hình chu nht cao 1,2m, rng 0,8m. Toàn b mt trước th hin chân dung người được th vi các mũ tròn trên đầu, khuôn mt trái xoan, đôi mt lá răm, sng mũi dc da, ming nh, đôi tai to, dài như  tai Pht, ngi trong tư thế xếp bng tròn, tay trái úp lên đầu gi, tay phi để nga úp lên phn bng, c đeo tràng ht. Đây là tư thế ngi thin ca các tín đồ đạo Pht. Hai bên cnh và mt sau ghi rõ tên tui người được th và tm bia cho biết niên hiu Chính Hòa nhà Lê (thế k 17).

Chùa đã được B Văn hóa và thông tin xếp hng di tích kiến trúc, ngh thut ngày 22.4.1992.

 

119. CHÙA VĂN TRÌ (B ĐỀ T) ^

Chùa Văn Trì nm cách trung tâm Hà Ni 16 km v phía tây (trên quc l 32A đi Sơn Tây) thuc xã Minh Khai, huyn T Liêm, Hà Ni.

Căn c vào tm bia còn li đặt bên đình làng thì chùa được xây dng vào năm Cnh Hưng th nht (1740), nhưng trong thc tế chùa cũng tri qua nhiu ln trùng tu, sa chùa, mà đợt gn nht là năm 1989.

Chùa ta lc trên mt khu đất cao, quay v hướng nam. Trước chùa là mt con ngòi chy t cánh đồng Ba na ti ca sông Nhu. Trước đây chùa có tam quan khá đẹp nhưng nay ch còn 1 cng. Qua cng ta thy ngay hai tòa tam bo và nhìn sang phi là nhà T, sang trái là đin Mu.

Kiến trúc ca chùa không có gì đặc sc lm như nhng ngoi chùa làng Bc B, nhưng có l giá tr ch yếu là còn gi được mt sưu tp tượng tròn khá phong phú, gm hơn 40 pho vi nhiu cht lượng khác nhau: đắp bng đất, tc bng g quý, đúc bng đồng, có tượng ch là tm phù điêu. Phn ln tượng có phong cách ngh thut thế k 19. Tượng th thn thì đường b, uy nghi, bng ph, béo tt, còn pho Thánh Tăng thì tương phn li: khc kh, gy gò…; tượng A Di Đà bng đồng thâm nghiêm, trm lng; tượng Tuyết Sơn ưu tư kh hnh; tượng Ông Sét d tn; tượng H Pháp oai phong; tượng Dĩ Lc vui cười thoi mái, tt c như phn ánh mi trng thái tinh thn ca nhiu lp người trong xã hi.

Ngoài s lượng ln tượng pháp ca thế k 19 k trên, chùa còn có nhiu đồ th mang ngh thut thế k 18 như: Hương án chm rng yên nga, nhc nh ta s kế tha ca ngh thut Lê sơ. Qu chuông ca chùa cũng là hin vt quý hiếm vì được đúc t thi Tây Sơn mc dù niên hiu đã b đục xóa đi do s nhà Nguyn tr thù bt phá. Chiếc khánh ln bng đồng đúc ni dòng ch “B Đề thanh t” cũng rt đẹp và quý giá. Núm khánh trang trí hình mt nguyt, xung quanh là đai la bc cao. Thân khánh có ghi niên hiu là: Minh Mnh thp ngũ niên tuế th Giác Ng, thp nh nguyt, thp nh nht kí (nghĩa là viết ngày 22 - 12 năm Giáp Ng, đời vua Minh Mnh th 15 (1834). Ngoài ra chùa còn có các đồ s c, đồ đá… cũng làm cho kho di sn văn hóa chùa thêm giá tr đối vi khách tham quan hoc l bái.

Chùa đã được B Văn hóa và thông tin xếp hng di tích kiến trúc, ngh thut ngày 22.4.1992.

 

120. CHÙA VĂN H(TÀO SÁCH T) ^

Chùa Văn H có tên ch là Táo Sách t và Linh Thông t, thuc phường Lê Đại Hành, qun Hai Bà Trưng, Hà Ni.

Theo tư liu ming, di tích chùa Vân H được xây dng t đời Trn trên nn cũ ca “Thư Vin”, nơi Linh Lang hc thin, tu nim. Hin nay di tích còn đôi rng đá thế k 17, nhng viên gch v thi hu Lê. Thi Pháp thuc, để xây dng đô th, chùa chính được chuyn v phía sau nhà Mu. Hin nay chùa có cng, tin đường 5 gian, hu cung 3 gian, nhà ngang 9 gian, đin th Mu 3 gian và khu tháp m.

Chùa th Pht và đức Uy Linh Lang sng dưới thi Trn, đã tham gia kháng chiến chng Nguyên Mông thế k 13.

Chùa đã được B Văn hóa và thông tin xếp hng di tích kiến trúc, ngh thut ngày 16.11.1988.

 

121. CHÙA VĨNH PHÚC* (VĨNH KHÁNH T) ^

Chùa Vĩnh Phúc tri Vĩnh Phúc phường Ngc Hà, qun Ba Đình, Hà Ni. Chùa Vĩnh Phúc còn được gi là chùa Vĩnh Phúc H để phân bit vi Vĩnh Phúc Thượng.

Tương truyn  chùa Vĩnh Phúc được xây dng t thi Tin Lê do mt bà công chúa dng lên, đặt tên là Vĩnh Khánh t. Hin nay chùa còn qu chuông “Vĩnh Khánh t chung” đúc vào thi Lê Trung hưng thế k 16 - 18. Chùa có 2 pho tượng đá cao khong 40 cm, mt tòa Cu Long đúc bng gang, cùng my pho tượng bng đất nung (chưa rõ niên đại). Chùa đã qua nhiu ln trùng tu, sa cha, hin nay kiến trúc ch yếu mang phong cách ngh thut thi Nguyn. Chùa xây trên mt hòn núi đất, chùa là mt nếp nhà dc 5 gian nm theo hướng bc nam, ca chính m đầu hi trước, phía sua là thượng din. Năm 1991 chùa đã được trùng tu li toàn b các dãy nhà, có phong cách kiến trúc c.

Chùa Vĩnh Phúc đã được B Văn hóa và thông tin xếp hng di tích kiến trúc, ngh thut ngày 5.3.1990.

 

122. CHÙA VĨNH TRÙ (VĨNH TRÙ T)^

Chùa ở số 59 Hàng Lược, phường Hàng Mã, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội.

Chùa được xây dựng vào khoảng thế kỷ 19, cùng thời với chùa Phổ Trì cùng phố. Nguyên xưa đây là đình Vĩnh Trù về sau đổi thành đền và sau lại đổi thành chùa. Thời Pháp thuộc có một phụ nữ Việt Nam là vợ của một sĩ quan Pháp xin tu sửa lại chùa thờ Phật, từ đó chùa còn dến ngày nay. Năm 1950 vị sư trụ trì ở đây cũng nhờ sự giúp đỡ của dân phố và phật tử đã trùng tu tam bảo.

Do xuất xứ của việc xây chùa từ đến cho nên ở chùa này, ngoài thờ Phật còn thờ tứ vị Hồng Nương. Theo truyền thuyết, tứ vị Hồng Nương là người đời Tống ở Trung Hoa chạy giặc Nguyên sang ta, bị chết ở biển và được dân vùng biển nhiều nơi thờ (đền Cờn, Nghệ An); ở Hà Nội, một số nơi dọc sông Hồng và sông Tô Lịch có đền thờ. Ngoài việc thờ từ vị Hồng Nương, chùa Vĩnh Trù còn thờ Tam Thánh Mẫu (Liễu Hạnh, Chúa Thượng Ngàn, Mẫu Thoải).

Trong những ngày đầu kháng chiến chống Pháp ở Hà Nội, chùa Vĩnh Trù là sở chỉ huy chiến đấu của tiểu đoàn 101, chiến đáu bảo vệ Liên khu I, về sau chùa đã gắn bia kỷ niệm những liệt sĩ trong trận tuyến này.

Từ ngoài vào là cổng chùa, xây hai tầng tám mái, có đề chữ “Vĩnh Trù tự”, với 4 trụ xây; qua một sân rộng, trong sân có cây cổ thụ, bia tưởng niệm các liệt sĩ và điện thờ. Phần chùa chính có kết quả hình chữ tam (º), giữa các nhà đều có máng nước, tạo ra cho chùa một không gian rộng có chiều sâu từ ngoài vào.

Kết cấu của ngôi nhà nói chung rất đơn giản về cấu tạo khung và không có chạm trổ gì trong kiến trúc - chỉ có các cửa võng ở chính giữa điện được chạm sơn son thếp vàng. Ngoài các chạm trổ, chùa Vĩnh Trù có những tượng Phật và tượng các vị thánh được thờ là những tác phẩm nghệ thuật điêu khắc. Trong số tượng thờ có tượng Quan Âm và tượng A Di Đà là những pho tượng đẹp; thêm vào số tượng Phật, các tượng tứ vị Hồng Nương cũng là những tượng có giá trị nghệ thuật.

Chùa Vĩnh Trù là ngôi chùa nhỏ nhưng với số tượng có giá trị nghệ thuật và nhất là tấm bia kỷ niệm các liệt sĩ thời kỳ đầu kháng chiến chống Pháp được quân khu thủ đô và lãnh đạo thành phó đặt ở đây là một địa điểm lịch sử.

Chùa đã được Bộ Văn hóa và thông tin xếp hạng di tích kiến trúc, nghệ thuật ngày 25.1.1994.

 

123. CHÙA VŨ THẠCH* ^

Chùa Vũ Thạch ở ngay đầu phố Bà Triệu, phường Tràng Tiền, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội.

Chùa và đền, đình cũng được xây trên một khoảnh đất hẹp. Tương truyền chùa được xây bên hồ Tả Vọng từ lâu đời và là một ngôi chùa nhỏ. Chùa đã qua nhiều lần trung tu, dấu ấn còn lại của chùa c ngày nay mang phong cách thời Nguyễn. Kiến trúc của chùa có mặt bằng hình chuôi vồ gồm tiền đường và thượng điện. Hệ thống tượng Phật khá đầy đủ. Nhiều pho tượng có tính nghệ thuật đặc sắc.

Chùa (và đền, đình) đã được Bộ Văn hóa và thông tin xếp hạng di tích kiến trúc, nghệ thuật ngày 12.12.1986.

 

124. CHÙA VUA (HỒNG KHÁNH TỰ) ^

Chùa Vua có tên chữ “Hưng Khánh tự”, lại gọi là “Thiên Đế điện”, điện thờ thần Thiên Đế, ở ngõ Chùa Vua, phố Thịnh Yến, phường phố Huế, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội.

Chùa Vua là tên gọi cả cụm di tích, gồm chùa Hưng Khánh và điện Thiên Đế. Tương truyền là do một ông hoàng đời Lê vì thấy Đế Thích là bậc cờ cao đem lòng hâm mộ bèn lập một ngôi đền thờ ở làng Thịnh Yến, tổng Hậu Nghiêm, huyện Thọ Xương, về phía đông đàn Nam Giao, tức là chỗ Chùa Vua ngày nay. Trước đó, nơi đây là cung Thừa Lương của nhà Lê, phía trước có hồ bán nguyệt tắm gội. Chùa Vua đã được trùng tu sửa chữa nhiều lần. Hiện nay chùa quay hướng đông nam gồm có tam quan, sân, điện thờ Đế Thích, khu nhà Mẫu và hành lang.

Điện Thiên Đế có tiền tế 5 gian xây kiểu đầu hồi bít đốc, thượng điện 4 gian.

Hàng năm tại chùa Vua diễn ra hội thi cờ trong 4 ngày, từ ngày 6 đến 9 tháng giêng. Lệ làng quy định ai thắng đoạt giải 3 năm sẽ được ghi tên vào tấm bia đã đặt tại nhà bia sát sân cờ. Hội cờ chùa Vua là nơi đọ tài của các kỳ thủ nước.

Chùa đã được Bộ Văn hóa và thông tin xếp hạng di tích kiến trúc, nghệ thuật ngày 21.1992.

 

125. CHÙA XÃ ĐÀN (KIM YÊN TỰ) ^

Chùa Xã Đàn có tên chữ là Kim Yên tự, gọi là Xã Đàn vì nơi đây có Đàn Xã Tắc lập từ đời Lý Thái Tông, năm 1048, để tế Hậu Thổ và Thần Nông. Đại Việt sử kí toàn thư, đã ghi: “Lập đàn xã tắc ở ngoài cửa Trường Quảng, bốn mùa cầu đảo mùa màng”. Hiện nay chùa còn những tấm bia hậu rất cổ khắc năm thứ năm niên hiệu Quang Chiêu (1520), năm đầu niên hiệu Vĩnh Trị (1676) ghi việc tu sửa gác chuông. Bia Chinh Hòa (1699) ghi việc tu sửa chùa.

Chùa chính hiện nay có bố cục mặt bằng chuôi vồ, quay ra hướng đông nam, gồm tiền đường và thượng điện. Tiền đường 5 gian làm kiểu đầu hồi bít đốc, chuôi vồ 4 gian. Bên cạnh tòa tam bảo còn có nhà Tổ, nhà Mẫu, nhà khách. Trong chùa lưu giữ một số hiện vật, kiến trúc vật có niên đại sớm thế kỷ 15 - 16.

Chùa thờ Phật và thờ Bảo Hào công chúa, có công trong cuộc kháng chiến chống Tống bình Chiêm ở thế kỷ 11.

Chùa đã được Bộ Văn hóa và thông tin xếp hạng di tích kiến trúc, nghệ thuật ngày 9.1.1990.

 

126. CHÙA XUÂN ĐỒ HẠ (SÙNG PHÚC TỰ) ^

Từ xa xưa dân làng Xuân Đỗ Hạ thường gọi là chùa Xuân Đỗ Hạ, tên chữ là Sùng Phúc tự, thuộc xã Cự Khối, huyện Gia Lâm, ngoại thành Hà Nội. Chùa cách trung tâm thành phố vào khoảng 7km về phía đông. Qua cầu Chương Dương, xuôi theo tả ngạn sông Hồng, qua xã Long Biên là đến di tích.

Chùa Sùng Phúc có niên đại ra đời sớm. Căn cứ theo tấm bia Cảnh Thịnh 8 (1800) và chuông đồng  Cảnh Thịn 3 (1793) thì chùa được xây dựng khoảng cuối thời Lê. Trước đây chùa có quy mô lớn và đẹp. Đến nay, chùa, về cơ bản, vẫn bảo lưu được phong cách nghệ thuật thời Nguyễn. Chùa tuy không lớn nhưng được bố cục hài hòa, có kết cấu hình chữ đinh.

Tiền đường gồm 5 gian, xây kiểu “tường hồi bít đốc tay ngai”, mái lợp ngói mũi hài cổ, dốc mái xây trụ kiểu chồng diêm, cuối bờ dải xây tay ngai, phía dưới tay ngai xây trụ biểu. Mặt bằng gồm 6 hàng chân, chân cột đặt trên tàng đá hình chữ nhật, nền lát gạch Bát Tràng. Vì kèo kết cấu kiểu “thượng chồng giường giá chiêng”, nền lát gạch Bát Tràng. Vì kèo kết cấu kiểu “thượng chồng giường giá chiêng hạ kẻ chuyền”, mái phân thượng tứ - hạ tam; cốn của vì hồi chạm hình hổ phù. Trang trí kiến trúc chủ yếu là bào trơn kẻ soi, các bức cốn nách chạm nổi đề tài “tùng lão hóa rồng”, “mai lão hóa rồng”, v.v…

Thượng điện là một nếp nhà 4 gian chạy dọc về phía sau, mặt bằng 4 hàng chân cột; mái phân thượng ngũ - hạ tam, vì kèo kiểu chống giường giá chiêng, mái lợp ngói mũi hài. Trang trí kiến trúc tập trung vào gian chính nối tiếp với tiền đường trên các bức ván nong khắc chạm đề tài tứ quý “tùng, cúc, trúc, mai lão hóa rồng”, v.v…

Giá trị nổi trội của ngôi chùa thể hiện quá khối lượng di vật còn lưu giữ. Đó là tấm bia đá và chuông Cảnh Thịnh là 2 di vật thời Tây Sơn. Bộ sưu tập tượng gồm 37 pho với nhiều niên đại tạo tác phong phú, tỉ mỉ, nét chạm trau chuốt, mạch lạc, thể hiện tính chất dân gian sâu sắc và rất gần gũi với đời thường, hầu hết mang phong cách nghệ thuật thế kỷ 18 - 19, như 3 pho tượng Tam Thế, tượng A Di Đà, tượng Thế Tôn, tòa Cửa Long.

Chùa đã được Bộ Văn hóa và thông tin xếp hạng di tích kiến trúc, nghệ thuật ngày 10.3.1994.

 

127. CHÙA YÊN HÒA  (BÁO ÂN TỰ) ^

Chùa Yên Hòa thuộc thôn Yên Hòa, xã Yên Hòa, huyện Từ Liêm, ngoại thành Hà Nội, cách trung tâm thành phố khoảng 7km. Đường đi đến Cầu Giấy rẽ trái theo bờ sông Tô Lịch là đến di tích.

Chùa được dựng trên một khoảnh đất cao và rộng cùng với đình. Chùa có kiến trúc hình chuôi vồ, gồm tiền đường, thượng điện và nhà thiêu hương. Tiền đường gồm 3 gian 2 chái. Thượng điện gồm 5 gian. Chùa cũng có nhà Mẫu, nhà Tổ. Chùa có quy mô kiến trúc vừa phải vì là chùa của một làng.

Hệ thống tượng Phật đầy đủ, có nhiều pho được tạo tác cuối thế kỷ 19 xen lẫn với đầu thế kỷ 20.

Chùa (và đình) đã được Bộ Văn hóa và thông tin xếp hạng di tích kiến trúc, nghệ thuật ngày 10.3.1994.

 

128. CHÙA YÊN NỘI (THANH QUANG TỰ) ^

Chùa Yên Nội thuộc xã Liêm Mạc, huyện Từ Liêm, ngoại thành Hà Nội, cách trung tâm thành phố vào khoảng 25km về phía tây bắc, có thể đi theo ngược bờ phải sông Hồng là đến nơi.

Theo truyền thuyết và sắc phong thì sau khi chiến thắng quân Nguyên xâm lược lần thứ nhất (1258), vua Trần Thánh Tông cho các vương công chiêu dân để khái hoang. Con gái thứ 4 của nhà vua là Túc Trinh đã về Yên Nội lập ấp. Khi đã thành làng, bà dựng chùa, tạc tượng, đặt tên là Sùng Quang tự. Khi bà mất dân làng thờ bà trong chùa và gọi là Thánh Quang tự. Như vậy chùa được xây dựng từ đời Trần, được tôn tạo năm 1420 và dựng gác chuông năm 1913. Chùa có quy mô kiến trúc bề thế.

Hàng năm dân làng vẫn cúng bà Túc Trinh vào ngày 1 và 2 tháng 8 âm lịch.

Bố cục chùa theo kiểu “nội công ngoại quốc”. Tiền đường gồm 5 gian 2 chái, tường hồi bít đốc. Phía trước có trụ biểu, trên nóc có đề “Thánh Quang tự”. Các cửa phía trước làm theo kiểu song ở gian giữa, các gian bên làm kiểu bức bàn. Các vì kèo theo kiểu “thượng chồng giường giá chiêng”, trụ trốn. Kẻ được đặt trên trụ gạch. Thượng điện nối liền với tiền đường ở gian giữa tạo thành chữ đinh (J). Gác chuông nối với thượng điện, kiểu chồng diêm. Trước đây gác chuông có sàn nhưng đã bị dỡ năm 1960.

Khu nhà thờ bà Túc Trinh nằm sau thượng điện, song song với tiền đường, trước đây là nơi thờ Mẫu, khi bà Túc Trinh mất được dân đưa bà vào thờ ở chùa. Thời Nguyễn có xây thêm chuôi vồ và tạc tượng. Về chạm khắc, chùa cũng có những mảng cốn chạm rồng, phượng và các loại hoa lá cách điệu.

Trong số tượng của chùa có một số được tạo tác từ thời Lê và số còn lại là thời Nguyễn sau này. Ngoài những tượng Phật còn một số tượng thời thánh Mẫu và một tượng bà Túc Trinh.

Chùa Yên Nội đã được Bộ Văn hóa và thông tin xếp hạng di tích kiến trúc, nghệ thuật ngày 22.4.1992.

 

129. CHÙA YÊN PHÚ (THANH VÂN CỔ TỰ) ^

Chùa Yên Phú có tên chữ là “Thanh Vân cổ tự” và “Khánh Hưng tự”, thuộc thôn Yên Phú, xã Yên Ninh, huyện Thanh Trì, ngoại thành Hà Nội, cách trung tâm thành phố vào khoảng hơn 20 km về phía nam.

Theo thần tích, chùa cổ Thành Vân có từ đầu công nguyên. Hiện nay chùa bảo tồn một số di vật, tượng cổ, sớm nhất là đạo sắc năm thứ 5 niên hiệu Dương Hòa (1640). Trải qua nhiều thay đổi, trong khu vực chùa hiện còn 2 công trình kiến trúc là tòa tam bảo và nhà Tổ. Tòa tam bảo có tiền đường 7 gian, hậu cung 3 gian, nhà Tổ 7 gian.

Chùa thờ Phật. Đặc biệt ở chùa còn có một bản thần tích nói đến lịch sử chùa và 23 đạo sắc phong.

Bản thần tích nói đến việc đầu thời kỳ Đông Hán có một người con gái tên Phương Dung đã đến tu ở chùa rồi sinh ra hai người con là Trung Vũ và Đại Liệu. Khi Hai Bà Trưng khởi nghĩa, ba người tuyển mộ dân binh cùng tham gia khởi nghĩa đánh đuổi Tô Định. Hai bà lên ngôi phong Phương Dung làm công chúa, Trung Vũ chỉ huy sứ tả tướng quân, Đài Liệu chỉ huy sứ hữu tướng quân. Sau khi họ mất, dân trong vùng đã lập đền thờ, riêng chùa cũng được thần phả sắc phong.

Chùa đã được Bộ Văn hóa và thông tin xếp hạng di tích kiến trúc, nghệ thuật ngày 22.3.1988.

 

130. CHÙA YẾN XÁ (THANH AN TỰ) ^

Chùa Yến Xá thuộc xã Tân Triều, huyện Thanh Trì, ngoại thành Hà Nội, cách trung tâm thành phố vào khoảng 15km về phía tây, trên đường đi Hà Đông rẽ tay phải vào khoảng 2km.

Chùa có quy mô kiến trúc vừa phải cạnh làng. Tương truyền chùa đã xây dựng từ lâu đời, đã qua nhiều lần sửa chữa. Chùa có tam quan xây theo kiểu tam quan chồng dạng tháp. Tòa tam bảo gồm tiền đường, thượng điện đã qua nhiều lần sửa chữa nên ít giá trị. Trong chùa còn giữa được nhiều mảng chạm khắc đẹp. Hệ thống tượng Phật còn đầy đủ. Pho tượng Tam Thế và tượng A Di Đà là những tượng đẹp có phong cách nghệ thuật cuối Lê đầu Nguyễn.

Chùa đã được Bộ Văn hóa và thông tin xếp hạng di tích kiến trúc, nghệ thuật ngày 27.12.1990.


* Các chùa nằm trong cụm di tích được xếp hạng có dấu *.

 

 

---o0o---

 

Mục Lục > Phần 1 > Phần 2 > Phần 3

 

---o0o---

Vi tính: Quảng Đại Tuấn Hùng – Quảng Khánh Kim Oanh

Trình bày: Anna
Cập nhật: 01-11-2005


Webmaster:quangduc@quangduc.com

Trở về trang Mục lục

Đầu trang

 

Biên tập nội dung : Tỳ Kheo Thích Nguyên Tạng
Xin gởi bài mới và ý kiến đóng góp cho Trang Nhà qua địa chỉ : quangduc@quangduc.com
Địa chỉ gởi thỈ?: Tu Viện Quảng Đức, 105 Lynch Road, Fawkner, Vic. 3060. Tel: 61. 03. 9357 3544