Nhà Xuất Bản Văn Hóa - Thông Tin
Hà Nội - 1997
CHÙA HÀ NỘI
Nguyễn Thế Long
Phạm Mai Hùng
LỜI NÓI ĐẦU
^
Phật giáo từ khi được truyền vào Việt Nam hồi đầu
công nguyên đã hòa nhập với tín ngưỡng bản địa và có sức sống mạnh mẽ. Đã
có thời kì Phật giáo là quốc giáo và quốc học. Phật giáo đã góp phần củng
cố ý thức tự chủ độc lập dân tộc trong thời kỳ đầu và góp phần xây dựng
nền văn hóa Việt Nam trước và cùng với Nho giáo trong hàng chục thế kỷ
qua. Chùa là nơi thờ Phật đã có ở khắp làng quê Việt Nam từ mấy ngàn năm
nay là hình ảnh đã in sâu trong tâm thức của mỗi người dân Việt Nam.
Lên chùa
lễ Phật hay văng cảnh vào các ngày lễ, ngày rằm, mồng một là sinh hoạt
tinh thần của văn hóa Việt Nam, đã được đông đảo các tầng lớp nhân dân đón
nhận. Cuốn sách này sẽ giúp bạn đọc những hiểu biết sơ lược về Phật giáo,
quá trình phát triển ở nước ta và ở kinh đô Thăng Long, nội dung triết lý
với các thiền phái, các lễ và quan niệm Phật giáo của dân gian. Bên cạnh
đó, cuồn sách cũng giúp hiểu biết tổng quát về kiến trúc của các ngôi
chùa, giá trị Mỹ thuật của các pho tượng Phật. Nói tóm lại cuốn sách giúp
bạn hiểu biết cái Chân, cái Thiện, cái Mỹ của Phật giáo và các ngôi chùa
Việt Nam.
Ở thành
phố Hà Nội, trừ nội thành, ở ngoại thành có bao nhiều làng thì gần như bấy
nhiêu chùa, cuốn sách mới chỉ giới thiệu được hơn 120 ngôi chùa đã được Bộ
văn hóa và thông tin xếp hạng di tích lịch sử nhà nước cùng với ngôi chùa
quen thuộc. Trong việc giới thiệu các ngôi chùa đã được xếp hạng ở Hà Nội,
có những ngôi chùa được miêu tả khá đầy đủ, đó là những ngôi chùa được
nhiều người quen biết vì giá trị lịch sử, kiến trúc hay nghệ thuật, còn
những ngôi khác chỉ được giới thiệu những nét tiêu biểu, đặc sắc. Nội dung
giới thiệu các chùa được căn cứ chủ yếu vào hồ sơ xếp hạng các di tích của
Cục bảo tồn bảo tàng thuộc Bộ Văn hóa và thông tin và Ban quản lý di tích
và danh thắng Hà Nội, có tham khảo các sách cổ, các sách viết gần đây và
các bài viết trên các báo Thủ Đô, Thủ đô Hà Nội, Hà Nội Mới, Người Hà Nội,
Văn Hóa… Nhân đây chúng tôi cũng xin bầy tỏ lòng cảm ơn các đồng chí ở Cục
bảo tàng Bộ Văn hóa và thông tin đã nhiệt tình cung cấp cho những tư liệu
một số chùa để giới thiệu với đông đảo bạn đọc được biết vẻ đẹp của các
ngôi chùa ở thủ đô Hà Nội.
Giáo lý
Phật giáo cao siêu, thâm diệu, vi tế, mênh mông được diễn tả trong mấy vạn
pho sách kinh khổng lồ, các bậc cao tăng nghiền ngẫm cả đời cũng chỉ lĩnh
hội được phần nào; nay vì mục đích chủ yếu là giới thiệu các chùa ở Hà
Nội, không thể không nói mấy lời rất sơ lược về đạo Phật ở Việt Nam để bạn
đọc dễ nhận biết đạo Phật và các ngôi chùa thời phật là văn hóa Việt Nam
đậm đà bản sắc dân tộc. Do sự hiểu biết rất hạn chế, do tư liệu về các
chùa hầu hết trước đây đều truyền miệng và khác nhau nên cuốn sách chắc
chắn không tránh khỏi những thiếu sót. Rất mong bạn đọc bổ khuyết và xin
chân thành cảm ơn.
Ngày Phật đản, năm Ất Hợi (1995)
Các tác giả
PHẦN I
^
CHƯƠNG MỞ ĐẦU
^
- Giữ
gìn bản sắc văn hóa dân tộc là một phương châm cần được quán triệt trong
mọi hoạt động văn hóa trên đất nước ta hiện nay. Bản sắc văn hóa dân tộc
mang một nội dung ý nghĩa rộng rãi đó là một tổng thể những đặc trưng diện
mạo về tinh thần và vật chất, về lối sống, phong tục tập quán, tín ngưỡng,
tôn giáo, đạo đức và tình cảm, văn học và nghệ thuật… nó cũng biểu hiện
trong các di sản vật chất hữu thể như kiến trúc, đình chùa, miếu mạo, nhà
cửa. Hai phần hữu thể và vô thể đó gắn bó hữu cơ với nhau, khó có thể tách
rời, đã tạo nên cái riêng biệt của dân tộc ta trong trường kì lịch sử và
tồn tại mãi cho đến ngày nay. Hiểu biết, nhận rõ, giữ gìn và phát huy bản
sắc dân tộc trong công cuộc hội nhập vào cộng đồng thế giới ngày nay không
phải là việc làm của riêng những nhà hoạt động văn hóa mà là của mỗi người
Việt Nam trên mọi lĩnh vực trong đời sống hàng ngày. Hiểu biết về đạo Phật
và những ngôi chùa đã được xây dựng từ bao đời trên đất nước ta và ở thủ
đô Hà Nội cũng chính là hiểu rõ thêm bản sắc dân tộc Việt Nam ta vậy.
Pháp
lệnh bảo vệ và sử dụng di tích lịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnh ban
hành năm 1984 nhằm: “Bảo vệ và sử dụng có hiệu quả di tích lịch sử văn hóa
và danh lam thắng cảnh trong việc giáo dục truyền thống dựng nước của nhân
dân Việt Nam, góp phần giáo dục tinh thần yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội
và lòng tự hào dân tộc, nâng cao kiến thức, phục vụ công tác nghiên cứu
khoa học, đáp ứng nhu cầu thẩm Mỹ và văn hóa của nhân dân…” Trong danh
sách các di tích đã được xếp hạng từ năm 1962 đến nay, bên cạnh các đình
đền… đã có rất nhiều chùa thờ Phật được nhà nước xếp hạng. Ở thủ đô Hà Nội
những chùa được xếp hạng ngay từ đầu như chùa Một Cột, chùa Trần Quốc,
chùa Láng, chùa Hòe Nhai, chùa Liên Phái… tính đến nay (4 - 1994) đã có
tới 128 chùa đã được xếp hạng.
- Từ rất
xa xư, các mái chùa cổ kính đã góp phần tô điểm cho làng quê Việt Nam. Cây
đa bến nước, mái đình, mái chùa không tách rời trong tâm trí kỷ niệm của
mỗi người dân xe quê hương, nhớ tới nơi chôn rau cắt rốn, nhớ tới tổ tiên
ông bà, họ hàng, làng xóm. - Tiếng chuông chùa thu không vang lên trong
những buổi hoàng hôn đã đi vào nhịp sống thường nhật của mỗi người dân. Đã
có một thời kì dài trong lịch sử dân tộc, Phật giáo là quốc giáo, dù sau
này không còn giữ địa vị độc tôn nhưng tinh thần từ bi bác ái của Phật
giáo vẫn thấm sâu trong tâm hồn người Việt. Lên chùa lễ Phật, vãng cảnh,
không phải chỉ là việc làm của các Phật tử mà là của đông đảo các tầng lớp
nhân dân và thật sự là một nét đẹp trong việc giữ gìn bản sắc dân tộc.
Không thể nào coi việc lên chùa vãng cảnh lễ Phật là lạc hậu hay mê tín
như có một người, trước hết nó giúp người ta gác lại mọi lo toan nhọc nhằn
của đời thường hoặc những sầu não về tinh thần hay vật chất trong cuộc đấu
tranh kiếm sống… “Thế gian là một bể khố”, nhưng lần lên chùa lễ Phật đã
đem lại cho con người những giây phút thanh thản, hướng tới cái Thiện, cái
Chân, cái Mỹ của cuộc sống. Tâm hồn con người khi được tiếp xúc với điều
thiện sẽ có những khát khao trong sáng hơn để làm cho bản thân vươn lên
những biểu hiện nhân tình. “Con người là tổng hòa của các quan hệ xã
hội”, nhưng con người cũng là một sinh vật, một sinh vật cao cấp hơn tất
cả các sinh vật khác. Để khác và trên tất cả các sinh vật khác, bên cạnh
việc vươn lên nắm lấy tri thức khoa học tự nhiên và xã hội, phục vụ cho
đời sống con người ngày càng văn minh hơn, còn một mặt nữa mà con người
cần phải cố gắng vươn tới để hoàn thiện mình, đó là lĩnh vực tinh thần,
tâm hồn, đạo đức, tình cảm. Trong mỗi lĩnh vực việc vươn lên là vô tận,
không giới hạn. Chỉ có sự hài hòa giữa trí thức với tâm hồn, đạo đức và
tình cảm, con người mới dần dần tự hoàn thiện mình, tách xa khỏi loài thú
và vườn lên thánh thiện hơn như những Bồ Tất và Phật Thích Ca… Lên chùa lễ
Phật có thể khẳng định là sinh hoạt văn hóa mang bản sắc dân tộc cần được
bảo tồn, tôn trọng, tùy theo nhận thức nhu cầu cần thiết thuộc cõi tâm
linh của mỗi người. Đó cũng là quyền tự do tín ngưỡng mà hiến pháp đã ghi
nhận và cũng là quyền con người của xã hội văn minh.
Trong
một xã hội văn minh phát triển, luật lệ dù hoàn chỉnh đến đâu cũng không
thể ngăn ngừa được tội phạm, vả lại có biết bao nhiêu điều ác mà chưa là
tội phạm thì điều gì có thể giúp cho con người Việt Nam ta đẩy lùi điều ác
dù nó rất nhỏ bé để làm điều thiện, tại sao ta không khuyến khích cổ vũ
nhất là điều đó đã được cả dân tộc tin theo trong quá trình lịch sử. Một
vấn dề cơ bản của nhân sinh là tính người ta vốn “bản ác” hay “bản thiện”.
Ngày nay, chúng ta hiểu con người có quan hệ chặt chẽ với giáo dục và hoàn
cảnh môi trường, vai trò chủ động của con người trong việc hình thành nhân
cách, tại sao chúng ta lại không thừa kế những di sản thành tựu của mấy
ngàn năm lịch sử để làm cho con người có điều kiện vươn lên hoàn thiện
trên nhiều bình diện của cuộc sống muôn mầu muôn vẻ? Việt Nam là một xã
hội ở phương Đông, từ mấy chục thế kỷ nay dân tộc ta đã chịu ảnh hưởng sâu
sắc của Phật giáo và Nho giáo. Những yếu tố tích cực của Phật giáo và Nho
giáo còn tồn tại lâu dài trong đời sống văn hóa dân tộc, là di sản văn hóa
dân tộc, đã có tác dụng không nhỏ đến việc thúc đẩy xã hội phát triển.
Chúng ta
không quan niệm một xã hội văn minh phát triển chỉ có vẻ mặt vật chất kỹ
thuật, về tổng sản lượng quốc dân, về mức thu nhập bình quân… mà một xã
hội phát triển văn minh cần phải phát triển cả về mặt tinh thần với những
giá trị nhân bản cao quý với cuộc sống văn hóa tốt đẹp. Trong nhiều thế
kỷ, ở Việt Nam ta những giá trị nhân bản của Phật giáo đã thấm sâu trong
nhân dân cần được khơi dậy, phát huy trong đời sống thường ngày. “Người
người làm việc thiện, nhà nhà làm việc thiện, ngày ngày làm việc thiện”,
đó là điều xã hội ta mong ước. Có biết bao nhiêu việc thiện cần khuyến
khích làm. Có biết bao nhiêu điều ác dù nhỏ li ti trong đời sống thường
ngày như trong quan hệ với bạn bè, với hàng xóm láng giềng, với đồng
nghiệp, cấp trên, cấp dưới trong cơ quan ở mọi nơi, mọi chỗ, trên đường
đi, trong chợ búa, trong buôn bán giao dịch… dưới muôn hình vạn trạng, cần
được đẩy lùi, ăn năn, hối hận, triệt tiêu. Tất cả những cái xấu, cái ác đó
chỉ có thể bị đẩy lùi nếu như chúng ta biết phát huy tổng hợp những di
sản, bản sắc văn hóa tinh thần của dân tộc, những yếu tố tích cực của Phật
giáo trong cuộc sống hiện nay. Trong mỗi con người Việt Nam ta, cần được
khơi dậy tính thiện một cách tự giác tích cực, điều đó thì khó một ai có
thể “lên lớp” cho người khác, chỉ khi nào nó trở thành nhu cầu của mỗi
người. Lên chùa lễ Phật hướng tới điều thiện vốn dĩ là bản sắc văn hóa dân
tộc, cần được nhìn nhận đúng đắn và khuyến khích.
Lên chùa
lễ Phật để hướng tới điều thiện là nhu cầu của cõi tâm linh, hướng tới
cái Chân, cái Thiện cũng còn là để hướng tới cái Mỹ, để cảm nhận vẻ đẹp
của các ngôi chùa. Chùa Việt Nam nào cũng có vẻ đẹp, mỗi chùa có một vẻ
đẹp riêng. Như trên đã viết, cái đẹp của ngôi chùa trước hết gắn liền với
cái nhân, cái thiện mà kiến trúc của chùa biểu hiện cái nội dung đó. Mỗi
ngôi chùa gắn liền với lịch sử xa xưa của một vùng, một làng xóm, ở đó
những người sống trong chùa và ngoài chùa đã bằng công sức mồ hôi và trí
tuệ của mình, xây dựng nên những giá trị tinh thần và vật chất của mỗi
miền và của cả đất nước. Có người đã góp phần tích cực vào việc xây dựng
nhà nước Đại Việt ngay từ buổi đầu dựng nước như Pháp Thuận, Ngô Chân Lưu,
Vạn Hạnh, Huyền Quang… Nhiều người đã dốc cả cuộc đời vì cái thiện, là
những tấm gương về điều thiện cho dân chúng trong vùng noi theo. Đã có
thời kì trong hàng trăm năm, chùa là trường học, là nơi truyền bá cái
thiện, truyền bá văn hóa. Ngày nay ở vùng đồng bào Khơ me Nam Bộ, chùa vẫn
còn là trường học cho thanh thiếu niên trong vùng, chùa và trường là một
đủ cho thấy ý nghĩa văn hóa của ngôi chùa trong lịch sử dân tộc.
Cái đẹp
mà người lên chùa còn tìm thấy nữa là ở kiến trúc của ngôi chùa, mỗi chùa
được xây dựng có một vẻ đẹp riêng bởi bàn tay khéo léo của những nhà kiến
trúc dân tộc tài tình: nhà sư và dân chúng. - Cái đẹp của ngôi chùa còn
thể hiện rất rõ ở những pho tượng Phật với nhiều tư thế khác nhau. Vẻ đẹp
nhân bản của những pho tượng Phật đã thể hiện tâm hồn của những người đã
hi sinh cả cuộc đời cho sự cứu vớt chúng sinh người đã hi sinh cả cuộc đời
cho sự cứu vớt chúng sinh ra khởi bể khổ, đã được những nghệ nhân dân gian
sáng tạo, dù họ có phải tạo tác theo một công thức nào đó. Người lên ngôi
chùa sẽ tìm thấy ở trong hàng chục Pho tượng vẻ đẹp tinh thần tùy theo cảm
hứng tư tưởng và nghệ thuật của mỗi người.
Cái đẹp
bên trong của ngôi chùa kết hợp với cái đẹp bên ngoài của hình dáng kiến
trúc cụ thể, với cảnh quan môi trường xung quanh sẽ được cảm nhận tăng lên
ở mỗi người tùy theo sự lĩnh hội, cái hữu thế và cái phi vật chết của văn
hóa Việt Nam. Lên chùa lễ Phật để cảm nhận cái Chân, cái Thiện, cái Mỹ,
góp phần nâng tâm hồn nhân văn của con người Việt Nam, chính là giữ gìn và
phát huy bản sắc văn hóa dân tộc.
CHƯƠNG II
^
VÀI
NÉT VỀ ĐẠO PHẬT Ở VIỆT NAM VÀ HÀ NỘI
Đạo Phật
hình thành ở Ấn Độ vào khoảng thế kỷ thứ 5 trước công nguyên. Người sáng
lập lại ra đạo Phật là Siddharha (Tất Đạt Đa), họ là Gautama
(Cổ Đàm) là con vua Suddhodama, trị vì bộ tộc Sakya ở miền
Bắc Ấn Độ. Ông sinh ngày mồng 8 tháng 4 âm lịch của Trung Hoa và Việt Nam.
(Các sách viết về lịch sử Phật Thích Cau Mâu Ni viết đức Phật sinh “ngày
trăng tròn”, tháng Vaiskha, tức ngày 30 tháng 2 âm lịch Ấn Độ, tức ngày 15
tháng 4 âm lịch Trung Hoa và Việt Nam. Khi các nhà sư Ấn Độ truyền bá đạo
Phật ngày mồng 8 tháng 4 âm lịch), vào khoảgn năm 563 trước công nguyên và
mất khoảng năm 438 trước công nguyên, thọ 80 tuổi.
Xã hội
Ấn Độ thời đó theo đạo Bàlamôn (Brahmanisme) và được phân chia thành 4
đẳng cấp:
1. Giới
tu sĩ Bàlamôn (Brahmas) là người da trắng, dòng Aryan, chịu trách nhiệm về
tôn giáo, là đẳng cấp tối cao của xã hội.
2. Giới
vương tướng (Kshatryas) gồm các vương công quý tộc (tướng lĩnh) là những
người bảo vệ trật tự, xã hội, công lý.
3. Giới
thực nghiệp (Vaishyas) gồm các tiểu chủ công nghiệp và thương nghiệp, có
nhiệm vụ quản lý và làm tăng của cải xã hội.
4. Giới
lao động (Shudras) gồm những người lao động chân tay ở nông thôn và đô
thị, sản xuất ra của cải và lương thực.
Ngoài
những người được xếp trong 4 đẳng cấp trên còn một loại nữa là lớp người
cùng khổ gọi là Parias.
Thái tử
Siddhartha đã nhận thấy nỗi khổ của con người với kiếp sống sinh, lão,
bệnh tật; bất bình trước sự phân chia đẳng cấp và kì thị mầu da, nên đã từ
bỏ đạo Bàlamôn, đến năm 29 tuổi, sau khi sinh trưởng một con trai tên là
Rahula, đã quyết chí bỏ nhà ra đi tu hành tìm con đường giải thoát cho
loài người khỏi mọi đau khổ trên đời.
Từ đó
Siddaharth được mọi người gọi là Sakya Muni (Thích Ca Mầu Ni), có nghĩa là
hiền nhân của dòng họ Sakya. Sakya Muni đã đi tìm nhiều nhà tu hành để hỏi
nguyên nhân và cách giải thoát nỗi khổ cho con người nhưng không ai trả
lời cho ngài được thỏa mãn. Ngài đã rút 5 người bạn cùng chí hướng đến
vùng núi chân dãy Himalaya (núi Tuyết Sơn) để tu theo lối khổ hạnh, mỗi
ngày chỉ ăn một hạt kê, một hạt vừng là uống một ngụm nước trong 6 năm
liền, nhưng không thấy kết quả. Nhận thấy lối tu hành đó đã không đạt được
kết quả, ngài đã ăn uống cho lại sức và đã đến ngồi dưới một gốc cây pipai
để tập trung suy nghĩ trong 49 ngày đêm. Ngài đã tìm ra nguyên nhân nỗi
khổ của chúng sinh, quy luật của cuộc sống và cách giải thoát khỏi mọi khổ
đau.
Trong
suốt 49 năm sau khi đã thành Bụt (bậc Giác Ngộ), ngài đã đi khắp lưu vực
sông Hằng để truyền bá tư tưởng của ngài mà ta quen gọi là đạo Phật. Đạo
Phật đã nhanh chóng được truyền bá sang khắp châu Á xung quanh Ấn Độ.
Đạo Phật
từ Ấn Độ được truyền sang Việt Nam vào buổi đầu công nguyên do các thương
gia và tăng sĩ Ấn Độ đến Việt Nam bằng đường biển. Trong thời gian lưu lại
Giao Châu (Việt Nam), các thương gia Ấn Độ có các tăng sĩ đi theo, đã đốt
trầm, đọc kinh, thờ Phật. Lúc đầu các nhà sư Ấn Độ giảng kinh và làm các
nghi lễ cho thương gia Ấn, sau đó họ truyền bá cho nhân dân Giao Châu con
đường giải thoát, theo đạo Phật. Trị sở của quận Giao Chi lúc đó là Luy
Lâu (còn gọi là Dâu, nay ở Thuận Thành, Hà Bắc) đã sớm trở lại một trung
tâm đạo Phật đầu tiên ở nước ta vào cuối thể kỷ thứ 2. Hai nhà sư Ấn Độ là
Maha Ksudra (Khâu Đà La) và Mada Jivaka (Kỳ Vực) đã đến vùng
Luy Lâu vào khoảng năm 168 - 189. Theo các sách sử thì chính từ Luy Lâu,
các nhà sư Ấn Độ đã đi lên phương Bắc và truyền đạo Phật sang Bành Thành
(kinh đô của nước Sở ở hạ lưu sông Trường Giang, thuộc tỉnh Giang tô ngày
nay) rồi từ đó truyền lên Lạc Dương (kinh đô nhà Đông Hán, trên bờ sông
Lạc, phía nam sông Hoàng Hà, thuộc tỉnh Hà Nam ngày nay). Khi vua Tùy Văn
Đế Châu, làm chùa để thờ Phật thì lúc đó nhà sư Đàm Thiên đã nói với vua
Tùy: “Giao Châu có đường thẳng thông với Thiên Trúc. Khi Phật pháp mới tới
Giang Đông (đất Ngô) chưa đầy đủ gì thì ở Luy Lâu của Giao Châu đã có tới
20 ngôi bảo sát (chùa), độ được hơn 500 vị tăng và dịch được 15 cuốn kinh
Phật rồi. Thế là đạo Phật truyền đến Giao Châu trước khi đến Giang Đông”.
Mẩu đối thoại này đã được quốc sư Thông Biện thuật lại cho thái hậu Ỷ Lan
nghe tại cuộc họp các sư tại nhà chùa Trần Quốc nào năm 1096.
Chính do
đạo Phật được truyền vào nước ta từ Ấn Độ trước tiên nên trong ngôn ngữ
Việt Nam xuất hiện tiếng Bụt là do phiên âm tiếng Bouddha và nhiều truyện
cổ dân gian Việt Nam đã chịu ảnh hưởng của đạo Phật như chuyện Tấm Cám… Từ
Phật để phiên âm Bouddha cũng được dùng là do sau này khi các nhà sư Trung
Hoa sang dùng để giảng kinh Phật, phiên âm qua tiếng Hán.
Tại Giao
Châu khi đó một người Trung Hoa tên là Mâu Bác, cũng gọi là Mâu tử,
sinh vào khoảng 165 - 170, chạy sang lánh nạn, từ chối làm quan với thái
thú Sĩ Nhiếp, đã học đạo Phật cùng tiếng Phạn (Sanscrit) với các nhà sư Ấn
Độ và tinh thông Phật pháp. Ông đã viét sách Lý Hoặc Luận (bàn luận
về cách xử lý những điều mê hoặc, sai lầm) gồm 37 câu hỏi và đáp để giới
thiệu về đạo Phật. Sách viết bằng chữ Hán, lời tựa có đoạn viết: “Sau khi
Hán Linh Đế mất (189), trong nước (Trung Hoa) rối loạn, chỉ có đất Giao
Châu tạm yên, những bậc dị nhân phương bắc đều đến ở đây, nhiều người theo
thuật tịch cốc trường sinh của thần tiên. Thời ấy có nhiều bậc học giả đến
đây, tôi (Mâu Tử) thường đem Ngũ Kinh ra vấn nạn, nhiều đạo gia và thuật
sĩ không làm sao đối đáp được”. Sách cũng cho biết đạo Phật ở Giao Châu
được trực tiếp truyền từ Ấn Độ sang chứ không phải từ Trung Hoa sang, các
nhà sư Giao Châu khi đó mặc áo cà sa đỏ, học kinh Phật bằng tiếng Phạn,
khi giao tiếp không quỳ.
Đạo Phật
đã phát triển mạnh ở Ấn Độ từ khoảng thế kỷ thứ 3 trước công nguyên đến
thế kỷ thứ 5 sau công nguyên rồi sau đó lu mờ dần trước sự phát triển của
Ấn Độ giáo. Trong quá trình phát triển đạo Phật đã phân chia ra làm 2
phái: phái Tiểu Thừa (Hinayâna) và phái Đại Thừa (Mahayâna). Tiểu Thừa có
nghĩa là “cỗ xe nhỏ”, ngụ ý chỉ chở một người. Phái Tiểu Thừa chủ trương
tuân theo sát những giáo lý của Phật Thích Ca Mâu Ni, giữ nghiêm giác ngộ
(Phật hóa) cho bản thân mình. Phái Tiểu Thừa phát triển xuống phía nam như
Sry Lan ca, sang Thái Lan, Cămpuchia và Đông Nam Á nên cũng gọi là Nam
Tông. Đại Thừa nghĩa là “cỗ xe lớn”, ngụ ý chở được nhiều người. Phái Đại
Thừa chủ trương không câu nệ, cố chấp vào giáo lý, rộng rãi trong việc
thựchiện giáo luật, thu nạp tất cả những ai muốn quy y, giác ngộ, thờ
nhiều Phật kể cả các Bồ Tát (Boddhisattva). Phái Đại Thừa phát triển lên
phương bắc như Trung Hoa, Triều Tiên, Nhật Bản… nên còn gọi là Bắc Tông.
Do đạo
Phật được truyền vào Việt Nam đầu tiên và trực tiếp từ Ấn Độ nên đạo Phật
ở Việt Nam ban đầu là đạo Phật Tiểu Thừa, Nam Tông. Sau này khi các thiền
sư Trung Hoa sang truyền đạo Phật ở Việt Nam lại mang mầu sắc Đại Thừa và
dần dần sau này xu hướng Đại Thừa là chủ yếu.
Khi đạo
Phật được truyền đến Giao Châu thì tín ngưỡng của dân bản địa là đa thần
giáo, thần linh ở mọi chỗ: thần Sấm, thần Sét, Mưa, thần Núi, thần Sông
(Sơn Tinh, Thủy Tinh) thần cây Đa, thần ông Táo, người chết còn linh hồn
tại cùng người sống và che chở cho họ. Khổng giáo và Lão giáo chưa xâm
nhập vào Giao Châu mạnh mẽ và sau này khi được phổ biến rộng rãi thì người
Giao Châu coi đó là phương tiện của kẻ đi áp bức đô hộ nên đã không được
tiếp nhận bởi đông đảo dân chúng. Đạo Phật truyền vào trên mảnh dất Giao
Châu không có sự cản trở của Khổng giáo và Lão giáo, lại dung hợp với tín
ngưỡng bản địa nên dã được tiếp thu dễ dàng như “nước thầm vào lòng đất”.
Thuyết nhân quả, nghiệp báo phù hợp với quan niệm Ông Trời trừng phạt kẻ
ác, cứu giúp người hiền lanh. Thuyết luân hồi phù hợp với quan niệm về
linh hồn tồn tại ssau khi xác chết đã tan biến… Kho tàng truyện cổ tích
Việt Nam đã thu nhập nhiều yếu tố từ Phật giáo Ấn Độ, truyện Tấm Cám là
một truyện nhân quả nghiệp báo trong đó Bụt (lấy từ chữ Buddha của chữ
Phạn) đóng vai Ông Trời, thấy được những bất công trên đời cứu giúp người
hiền lành, kiếp luân hồi được thể hiện trong nhiều lần hóa kiếp của cô
tấm. Trong dân chúng, đạo Phật chỉ là một tín ngưỡng bình dân.
Quan
niệm về Phật (Bụt). Dân Giao Châu coi Phật như một đấng có phép thần
thông hiểu biết mọi chuyện trên đời như ông Trời nhưng không ở trên cao
nhìn xuống, mà rất gần gũi con người. Bụt có thể hiện ra để cứu giúp những
người bị oan ức bất công nhưng khác với ông Trời ở chỗ không trừng trị kẻ
tàn ác. Bụt là đấng tối cao không mất đi, có thể biến hiện, không gì có
thể làm mất hoặc tan biến được.
Quan
niệm về Pháp. Người dân Giao Châu quan niệm về phép Bụt biến hiện thần
thông để cứu đời giúp người, dân chúng thường đọc để tỏ lòng quy kính Bụt
và cầu mong Bụt che chở. Theo phép Bụt dân chúng đọc tam quy (lúc đầu có
thể là tiếng Phạn sau đó là tiếng mẹ đẻ hoặc Hán Việt), cúng đường tăng
sĩ, bố thí cho người nghèo cho kẻ đói ăn. Phép Bụt cũng tin ở nghiệp báo
luân hồi và linh hồn bất diệt.
Quan
niệm về Tăng. Người Giao Châu cho đó trước hết là những SA Môn Ấn Độ,
là những tu sĩ khoác áo vàng, đầu cạo trọc từ bỏ đời sống gia đình, của
cải, thờ Bụt. Đọc kinh chữ Phạn, sống trên sự cúng dường của những người
theo Bụt. Ngoài Tăng Môn người Ấn Độ có Tăng Môn là người đã sinh sống tại
Giao Châu, còn người bản địa chưa thấy ghi lại.
Quan
niệm về nghiệp báo và luân hồi. Người Giao Châu quan niệm làm thành
thì gặp lành, ở ác thì sẽ gặp ác. Tín ngưỡng về linh hồn tồn tại ngoài thể
xác sau khi chết và vẫn tồn tại dễ dàng chấp nhận thuyết luân hồi, dẫn
người ta đến chỗ lo ăn ở nhân từ hiền lành, thương người và tu tạo phúc
đức. Muốn vậy phải từ bi bác ái cứu giúp và tu tạo phúc đức. Muốn vậy phải
từ bi bác ái cứu giúp người ốm đau hoạn nạn, bố thí kẻ nghèo nàn, cho cơm
ăn, nước uống, không trả thù người khác. Người dân phải làm công đức, dâng
thức ăn cho Tăng Môn, cho on người đói ăn. Kinh Tứ Thập Nhị Chương
có nói đến việc bố thí: “Cho một trăm người ác ăn cơm, có công đức, nhưng
công đức ấy không nhiều bằng cho một người hiền ăn cơm”.
Đạo Phật
đã thâm nhập vào đời sống của dân Giao Châu một cách tự nhiên không gặp
phản ứng và trở ngại vì những giáo lý của Phật giáo không chống đối lại
tín ngưỡng bản địa mà lại hòa nhập cùng những tín ngưỡng đó. Nay đối với
Khổng giáo và Lão giáo do những người Hán cai trị và tị nạn chiến tranh
phương bắc truyền sang thì Phật giáo cũng tìm cách hòa đồng mà không chống
đối. Chính sách “Lý Hoặc Luận” của Mâu tử đã sử dụng kho tàng giáo
lý của Khổng, Lão để phiên dịch kinh Phật và truyền đạt Phật giáo làm cho
nhiều người theo Khổng, Lão thấy được chiều sâu và giá trị của đạo Phật
một cách dễ dàng. Mâu Tử đã trả lời: “Ngũ Kinh ngày xưa đối với tôi chỉ là
hoa mà chưa là trái…”, “Không chắc là đất Hán nằm giữa. Tôi kính trọng đạo
Phật và tôi học Phật, không phải vì vậy mà tôi bỏ Nghiêu, Thuấn, Chu,
Khổng. Vàng ngọc không gây tì vết cho nhau, bích ngọc và mã não để chung
không sao cả. Khi ông cho người khác là lầm lạc có nghĩa là chính ông đã
lầm lạc không?…”, “Xe và thuyến không đi cùng một lối, nhưng đều đưa người
tới chốn”.
*
* *
Để thành
Phật (bậc Giác Ngộ) các Phật tử về sau lại có nhiều biện pháp để đạt tới
(tu hành). Đạo Phật bao gồm 3 tông phái là Thiền Tông, Mật Tông và Tịnh Độ
Tông. Đạo Phật khi vào Việt Nam cũng bao gồm 3 tông phái là Thiền Tông,
Mật Tông, và Tịnh Độ Tong.
THIỀN TÔNG
Thiền
(rút gọn của từ Thiền Na là phiên âm của tiếng Phạn Dhyna) có nghĩa là
tĩnh tâm, tập trung trí tuệ để suy nghĩ (thiền) tự mình tìm ra chân lý để
trở thành Phật. Tu theo Thiền Tông đòi hỏi khả năng trí tuệ, công phu tĩnh
tâm suy nghĩ nên chỉ thích hợp với tầng lớp thượng lưu có học.
Nhà sư
Khương Tăng Hội (gốc người Sogdiane vùng Trung Á) sinh ở đất Giao
Chỉ là người khởi thủy Thiền Tông tại nước ta trước tiên từ nửa sau thế kỷ
thứ 3. Theo Khương Tăng Hội, Thiền học không chỉ là những phương pháp hành
đạo mà còn là một căn bản triết học về tâm học. Khương Tăng Hội viết: “Tâm
là không có hình, không có tiếng, không có trước, không có sau, thâm diệu,
vi tế, không có tóc tơ, hình thức…” Thiên là phương pháp để chính tâm,
nhật ý, tập trung điều thiện duy trì trong tâm, ý thức những ý niệm nhơ
bẩn để thử diệt. Thiền có 4 trình tự:
- Nhất
thiền là khử bỏ tham ái, ngũ yêu là sự (như sắc, thanh, hương vị, xúc)
diệt trừ 5 sự ngăn che là tham dục, giận dữ, mê ngủ, dâm lạc, hối hận,
nghi ngờ.
- Nhì
thiền là đã thoát li oán thù, tiến tới diệt trừ quan niệm thiện ác chống
nhau, ý niệm vui sợ đều bị triệt, mười điều ác tuyệt dứt, không còn gì xâm
nhập tới tâm.
- Tam
thiền là giữ gìn tâm một cách kiên cố, cả thiện và ác không thâm nhập
được.
- Tứ
thiền là cả thiện và ác đều bỏ, tâm yên và sáng như ngọc.
Đạt được
tứ thiền thì muốn là gì cũng được.
Khương
Tăng Hội cũng chính là người đã truyền Thiền học sinh đất Đông Ngô (Trung
Hoa). Khi các nhà sư Vinitaruci, Vô Ngô Thông… đến Việt Nam vào thế kỷ thứ
VI, IX thì các chùa ở Việt Nam đã là những Thiền viện rồi. Tiếc rằng những
sách sử Phật học không còn ghi chép sự phát triển của Thiền học trong các
thế kỷ thứ 4 và 6, vì vậy khi nói tới Thiền Tông Việt Nam là người ta chỉ
thấy ghi chép các Thiền phái là Thiền phái Vinitaruci, Thiền phái Vô Ngôn
Thông, Thiền phái Thảo Đường, Thiền phái Trúc Lâm, Thiền phái Lâm Tế, Tào
Động, Liên Tông.
1. Thiền phái Vinitaruci.
Vinitaruci (Tì ni đa lưu chi) là người Ấn Độ qua Trung Hoa truyền bá đạo
Phật rồi đến chùa Pháp Vân ở làng Cổ Châu, Long Biên vào năm 580 và mấy
năm 594. Khi ông đến chùa Pháp Vân thì ở đó có Thiền sư Quán Duyên
đang dạy Thiền học cho Phật tử. Thiền phái Vinitaruci gồm 19 thế hệ, thiền
sư Y Sơn thuộc thế hệ 19, mất năm 1213.
2.
Thiền phái Vô Ngôn Thông. Năm 820 nhà sư Trung Hoa Vô Ngô Thông từ
Quảng Châu qua Việt Nam tu ở chùa Kiến Sơ, làng Phủ Đổng, huyện Tiên Du,
Bắc Ninh (nay là Gia Lâm, Hà Nội). Kiến Sơ là một chùa mới được thành lập
đã có một vị tăng là Lập Đức trụ trì. Vô Ngôn Thông mất vào năm 826. Thiền
phái Vô Ngô Thông gồm 17 thế hệ đến thế kỷ XIII. Thiền phái Vô Ngô Thông
chịu ảnh hưởng của Phật giáo Trung Hoa sâu đậm hơn trong việc trình bầy
lịch sử Thiền, trong tổ chức tự viện, trong sử dụng thoại đầu và ở chỗ ảnh
hưởng Tịnh Độ giáo. Các thiền sư trong Thiền phái này thay vì chỉ dùng các
kinh Bát Nhã, đã sử dụng rất nhiều các kinh Viên giác,
Pháp Hoa, nhấn mạnh đến chủ trương Đốn ngộ và Vô Đắc vốn rất gần gũi
với Thiền phái phương nam của Trung Hoa, nhưng Thiền phái này cũng rất gần
gũi với đời sống xã hội, tham dự vào đời sống nhập thế trong khi vẫn duy
trì sinh hoạt tâm linh độc lập.
Thiền
phái Vô Ngô Thông nhấn mạnh thuyết đốn ngộ, chủ trương con người có
thể trong giây lát đạt được giác ngộ, khỏi cần đi qua nhiều giai đoạn tiệm
tiến. Thiền phái Vô Ngôn Thông nhấn mạnh nguyên tắc vô đắc, có
nghĩa là sự giác ngộ không thể do một ai khác trao truyền cho mình mà phải
tự thực hiện lấy. Phương pháp “thoại đầu” được sử dụng giữa thế kỷ IX, là
một câu nói hay một mẩu đối thoại có tác dụng thúc dẩy hay phát khởi sự
đạt ngộ nơi tâm tư người thiền. Thiền phái Vô Ngô Thông cũng chịu ảnh
hưởng của Mật giáo, được kế truyền với các thiền sư Không Lộ (Minh Không),
Giác Hải và Nguyện Học.
3.
Thiền phái thảo Đường. Năm 1069 vua Lý Thánh Tông đem quân đi đánh
Chiêm Thành có bắt được một nhà sư Trung Hoa sang đó truyền đạo Phật là
Thảo Đường. Khâm phục sức học và đạo đức của Thảo Đường, vùa đã phong làm
quốc sư. Thảo đường trụ trì tại chùa Khai Quốc (Trấn Quốc ngày nay) ở kinh
thành Thăng Long. Thiền phái Thảo Dương có khuynh hướng tri thức và văn
học, dung hợp Phật giáo và Nho Giáo. Khuynh hướng này cũng đã ảnh hưởng
đến các thiền phái Vinitaruci và Vô Ngô Thông và thiền phái Trúc Lâm đời
Trần. Thiền phái Thảo Đường gồm có 19 người trong 6 thế hệ, có tới 9 người
là cư sĩ gồm vua và quan như Lý Thành Tông, Lý Anh Tông, Lý Cao Tông.
Dưới
thời Đinh, Lê, Lý, Phật giáo đã đóng một vai trò quan trọng trong đời sống
tinh thần của dân tộc. Năm 971, vua Đinh Tiên Hoàng phong thiền sư Ngô
Chân Lưu làm Tăng thống. Các thiền sư tham gia cố vấn chính trị cho
các vua được gọi là quốc sư. Vạn Hạnh, Khô Đầu, Thông Biện, Viên Chiếu
là những tăng sĩ được ban danh hiệu quốc sư. Năm 1010 khi Lý Thái Tổ lên
ngôi đã chọn những người xuất sắc cho đi xuất gia. Năm 1016 ở kinh đô
Thăng Long có tới 1000 người đã được tuyển chọn để xuất gia làm tăng sĩ và
đạo sĩ. Cuối đời Lý số tăng sĩ quá nhiều, những tệ lậu đã nẩy sinh, vua Lý
Cao Tông đã cho khảo hạch các tăng quan và sa thải bớt. Dưới thời Lý, vua
đã sàin sang Trung Hoa lấy kinh Tam Tạng nhiều lần và cho xây dựng các nhà
tàng kinh như Bát Giác, Đại Hưng, Trùng Hưng, chép và khắc lại kinh.
Các nhà
sư thiền phái Vinitaruci như Lá Quý An, Pháp Thuận, Vạn Hạnh còn sử dụng
sấm vĩ học và phong thủy học để củng cố ý thức độc lập ổn định tình hình
triều đình phong kiến tự chủ những khi có tranh chấp lộn xộn. Sấm truyền
đã có tác động ổn định nhân tâm nhanh chóng. Khi Lê Ngọa Triều tàn ác bị
mọi người ghét bỏ thì thấy xuất hiện chuyện một con chó trắng trên lưng có
hai chữ thiên tử bằng lông đen, để nói lên vào năm Tuất (chó) sẽ xuất hiện
một người tuổi Tuất lên làm thiên tử (Lý Công Uẩn). Chuyện sét đánh chết
cây gạo thành một bài thơ có những câu như sau:
Chữ Hán:
Thụ căn điều điểu
Mộc biểu thanh thanh
Hòa đao mộc lạc
Thập bát tử thành
Đông a nhập địa
Dị mộc tái sinh
Chấn cung kiến nhật
Đoài cugn ấn tinh
Lục thất niên gian
Thiên hạ thái bình.
Dịch
nghĩa:
Gốc cây thăm thẳm
Ngọn cây xanh xanh
Cây hoa đào rụng
Mười tám hạt thành
Cành Đông xuống đất
Cây khác lại sinh
Đông mặt trời mọc
Tại sao ẩn hình
Sáu bảy năm nữa
Thiên hạ thái bình.
Sách
Đại Việt sử kí toàn thư viết: “Nhà sư Vạn Hạnh tự đoán riêng rằng:
Trong câu “Thụ căn điểu điểu”, chữ căn là gôc, gốc tức là
vua, chữ điểu đồng âm với chữ yểu, có nghĩa là nhà vua
chết yểu (Lê Ngọa Triều sẽ chết sớm). Trong câu “Mộc biểu thanh
thanh”, chữ biểu là ngọn, ngọn là bầy tôi, chữ thanh là
xanh đồng âm với chữ thanh là thịnh, nghĩa là một trong số quân
thần sẽ lên nắm chính quyền. Ba chữ hòa, đao, mộc viết lại thành
chữ Lê, lạc là rớt, tức là nhà Lê sẽ đổ. Ba chữ “Đông a nhập
địa” thì chữ đông và chữ a gộp lại thành chữ Trần
(nhà Trần sẽ nối tiếp nhà Lý. “Nhập địa” để chỉ người phương bắc sẽ
vào cướp (nhà Minh sang cướp nước). Trong câu “Dị mộc tái sinh” để
chỉ một cây khác lại nổi lên (chỉ nhà Hậu Lê)… Mấy câu sau ý nói vua thì
thứ nhân ở phương Tây lặn mất trong vòng sáu bảy năm nữa, nhà Lê hiện ra
thì nhà Lý sẽ mất.
4.
Thiền Phái Trúc Lâm
Đến đầu
thế kỷ XIII, 3 thiền phái Vinitaruci, Vô Ngôn Thông và Thảo Đường dân hòa
nhập thành một. Do ảnh hưởng lớn của Trần Thái Tông và Tuệ Trung
thượng sĩ sự sáp nhập của 3 Thiền phái đã đưa tới sự phát triển của
Thiền phái Yên Tử thành Thiền phái Trúc Lâm tức là Thiền phái duy nhất đời
Trần. Thiền phái này với người mở đầu là Thiền sư Huyền Quang, xuất
phát từ núi Yên Tử. Tổ thứ 2 là Thiền sư Viên Chứng hiệu là Trúc
Lâm, được phong quốc sư, là thầy của vua Trần Thái Tông. Thiền phái Trúc
Lâm gồm 23 thế hệ. Vua Trần Thái Tông và Thánh Tông, cư sĩ thuộc thế hệ
thứ 3, 4. Vua Trần Nhân Tông xuất gia, lấy hiệu là Trúc Lâm Thiền
sư thuộc thế hệ thứ 6.
Năm 1236
vua Trần Thái Tông bỏ ngôi vua lên núi Yên tửu định đi tu, Viên Chứng là
đệ tử của Huyền Quang đã nói với vua: “Trong núi vốn không có Phật, Phật ở
trong tâm ta. Nếu tâm ta lắng lại và trí tuệ xuất hiện thì đó chính là
Phật. Nếu bệ hạ giác ngộ được tâm ấy thì tức khắc thành Phật ngay tại chỗ,
không phải đi tìm được cực nhọc bên ngoài”. (Tựa “Thiên Tông Chỉ Nam”).
Thiện sư cũng khuyên vua trở về trị dân: “Đã làm vua thì không còn có thể
làm theo ý thích của mình được nữa. Phải lấy ý muốn của dân làm ý thích
của mình được nữa. Phải lấy ý muốn của dân làm ý muốn của mình. Phải lấy
lòng dân làm lòng của mình. Nay dân đã muốn vua về thì vua không làm sao
được”?
Trần Thủ
Độ đem các quan lên núi Yên Tử đón vua về, đã nài nỉ nhiều lần, vua vẫn
không nghe liền nói: “Vua ở đâu thì lập triều đình ở đó”. Và: “Tôi dám nói
rằng bệ hạ vì sự tự tu cho riêng mình mà làm vậy thì được, nhưng còn sơn
hà xã tắc thì sao. Nếu để lời khen suông cho đời sau thì sao bằng láy ngay
thân mình làm người dẫn đạo cho thên hạ”.
Trần
Thái Tông đã viết: “Trẫm cùng mọi người trong triều trở về kinh, miễn
cưỡng lên ngôi báu. Ròng rã trong mười năm trời mỗi khi việc nước nhàn
rỗi, trẫm lại tụ họp các bậc kì đức để học hỏi đạo thiền. Các kinh điển
của hệ thống giáo lý chính, không kinh nào là trẫm không nghiên cứu”.
Trong bài tựa kinh “Kinh Cương Tam Muội”, Trần Thái Tông viết:
“Trẫm lo việc chăn dân, mỗi lúc gian nan thường lăn lóc trong công việc
quên cả sớm chiều. Công việc thì có hàng vạn thứ mà thời gian nhàn rỗi
không có được bao nhiêu. Siêng công việc, tiếc ngày giờ, trẫm cố học hành
thêm. Chữ nghĩa thì chưa biết được bao lăm cho nên ban đêm đến giờ khuya
vẫn còn phải thức để đọc sách, học sách Nho rồi học kinh Phật”.
Trần
Thái Tông sau khi ở núi Yên Tử về được 2, 3 năm đã lập Viện Tả Nhai
để làm nơi học tập đạo Phật và mời các bậc kì đức đến đàm đạo về thiên
học. Các thiền sư đó là: những người đang giảng dạy Phật giáo tại kinh đô
Thăng Long: Tức Lự, Ứng Thuận, Đại Đăng; Thiên Phong và Đức Thành
là 2 thiền sư từ Trung Hoa sang cũng có đến đàm đạo với vua.
Trần
Thái Tông đã viết các sách: Thiền Tông Chỉ Nam, Kinh Cương Tam Muội Kinh
chú giải, Lục Thì Sám Hối Khoa Nghi, Bình Đẳng Lễ Sám Văn, Khóa Hư Lục,
Thi tập. Những sáng tác đó đã thể hiện nhu yếu của một tâm hồn muốn
luôn luôn tự đánh thức mình trong cuộc đời, muốn thực hiện một cái gì có
giá trị vĩnh cửu cho con người, đó là sự ngộ đạo. Vua không phải là một
người tầm thường chỉ muốn hưởng thụ những lạc thú cuộc đời, muốn vươn tới
và tự nhủ đừng đánh mất mình trong ham thú hình sắc, thanh âm, hương vị,
cảm xúc.
Thái
Tông ở ngôi vua 32 năm, sau đó nhường ngôi cho con là Trần Thánh Tông, lên
làm Thái thượng hoàng, lui về ngự ở cung Thiền Trường.
Một ông
vua đời Trần đã xuất giai là Trần Nhân Tông, Trần Nhân Tông tên tục là
Trần Khâm, là con của Trần Thánh Tông, sinh năm 1258, lên ngôi vua năm 20
tuổi, ở ngôi 14 năm, làm Thái thượng hoàng 5 năm, đến năm 41 tuổi (1299)
xuất gia; mất năm 1308, lúc 51 tuổi. Năm 1299 Trần Nhân Tông cho xây một
thiền am trên núi Yên Tử gọi là Ngự Dược Am vào tháng 7, đến tháng
8 thì xuất gia, đặt pháp hiệu là Trúc Lâm. Từ đó trở đi Thiền phái Yên Tử
trở thành nổi tiếng, thế lực lan rộng trong triều đình và dân gian. Một
ông vua đã đánh bại cuộc xâm lăng của nhà Nguyên đem lại hòa bình cho đất
nước, khi xuất gia đã làm cho cả nước hướng về Yên Tử. Đạo Phật trở thành
yếu tố tâm lý liên kết toàn dân trong mục đích xây dựng vào bảo vệ đất
nước, có vai trò lớn trong đời sống tinh thần của nhân dân.
Trúc Lâm
đã góp phần tích cực cho việc xây dựng một xã hội trên nền tảng luân lý
Phật giáo, lấy giáo lý Thập thiện làm cơ bản cho đạo đức xã hội. Cuối năm
1304 vua Trần Anh Tông mời vua cha về cung và xin làm Bồ Tát tâm giới tại
gia, Nhiều quan lại trong triều thấy vua Anh Tông xin thụ giới tại gia
cũng đã phát nguyện xin theo và trở thành phật tử, Truyền thống Phật giáo
Yên Tử đến đời của Trúc Lâm đã mang nặng tính xã hội và nhập thế và được
gọi là Phật giáo Trúc Lâm, một thiền phái liên hệ mật thiết với chính trị
và phong hóa xã hội. Tháng 3 năm 1301 Trúc Lâm đi Chiêm thành để quan sát
Phật giáo tại đây, đã đàm đạo với vua Chiêm Thành là Chế Mân củng
cố tình hữu nghị và hòa bình giữa hai nước. Trong cuộc viếng thăm này vua,
“Trúc Lâm thiền sư” đã hứa gả công chúa Huyền Trân cho vua Chiêm.
Vua Chiêm dâng hai châu Ô và Lý làm sính lễ vào năm 1305 (4 năm sau). Đến
năm 1307 hai châu này được đổi thành Thuận và châu Hóa.
Năm 1308
Trúc Lâm mất, thiền sư Pháp Hoa nối pháp, trụ tì ở chùa Siêu Loại.
Trúc Lâm đã để lại những sách: Thièn Lâm Thiết Chủy Ngữ Lục, Trúc Lâm
Hậu Lục, Thạch Nhất Mị Ngữ, Đại Hương Hải Ấn Thi Tập và Tăng Già Toái Sự.
Thiền
phái Trúc Lâm phát triển nhanh chóng. Năm 1313 Pháp Loa trụ trì tại chùa
Vĩnh Nghiêm ở Lương Giang, quy định chức vụ tăng sĩ, làm sổ tăng
tịch kiểm tra tự viện. Pháp Loa thấy số lượng tăng sĩ quá đông nên quyết
định 3 năm mới có một lần độ tăng, số người bịi thải ra có đến hàng ngàn
người. NGăm 1239 số tăng sĩ xuất gia trong giáo hội của Trúc Lâm đã đến
trên 15.000 người, Số tự viện là trên 100 ngôi. Tính đến năm 1329 Pháp Loa
đã xây 5 cây bảo tháp, hai cơ sở hành đạo Quỳnh Lâm và Báo Ân với trên 200
tăng đường, đúc tới 1300 tượng Phật lớnn nhỏ bằng đồng. Vua Trần Anh Tông
nhân ngày lên làm Thái thượng hoàng đã cho đúc 3 tượng đồng Phật Di Đà,
Thích Ca và Di Lặc, mỗi tượng cao 17 thước ta, Vua Anh Tông cũng đã cúng
(năm 1308) 100 mẫu ruộng của riêng, năm 1313 cúng 5 vạn quan tiền để bố
thí, sau đó cúng 500 mẫu ruộng, bảo vật thờ tự, vật liệu xây dựng vào chùa
Bảo Ân. Các vương công quý tộc trong triều đình cũng đua nhau cúng hiến
tiền và ruộng. Chùa Quỳnh Lâm có tới 1000 mẫu ruộng và 1000 tá điền.
Nối tiếp
Pháp Loa là Huyền Quang. Ông sinh năm 1254, nhiều hơn Pháp Loa tới
30 tuổi. Ông đã đi thi hương, thi hội, làm quan trong triều khoảng 20 năm
rồi xuất gia, trụ trì tại chùa Vân Yên trên núi Yên Tử. Sách “Tổ Gia
Thực Lực” có ghi lại chuyện hàm oan của ông với một cung nữ là Điểm
Bích.
Sau
Huyền Quang, Thiền phái Trúc Lâm không còn hưng thịnh nữa. Huyền Quang ở
trên núi Côn Sơn, ít giao du liên lạc với quan trong triều. Do quá dựa vào
triều đình không biết tìm thế đứng trong dân gian, khi sự ủng hộ của triều
đình không còn, do sự phát triển của Nho giáo đang lấn tới nên Phật giáo
tất sẽ suy. Phật giáo đời Trần hưng thịnh đến cực độ, đã liên kết nhân tâm
trong việc xây dựng và bảo vệ đất nước. Tinh thần từ bi và khoan dung của
đạo Phật trong lúc đất nước bị ngoại xâm đã dẫn đến sự đoàn kết nhất trí,
nêu cao ý thức độc lập quyết đánh tại Hội nghị Diên Hồng. Phật học trong
đời Trần đã phát triển mạnh mẽ ở triều đình và giới trí thức trẻ ở kinh đô
Thăng Long, việc họcp Phật Trúc Lâm là một nền phật giáo độc lập, là xương
sống của nền văn hóa quốc gia phục vụ cho người Việt Nam, chính vì vậy nên
khi nhà Minh sang xâm chiếm đã tìm cách thu hết các sách vở đem về Kim
Lăng và năm 1419, chúng đã chở các sách của chúng sang thay thế.
Theo các
sách còn lại, đời Trần có khoảng 30.000 tăng sĩ, 15 quốc tự, chùa do vương
hầu và người giàu có tạo dựng là 330 chùa, chùa do quần chúng tạo dựng là
9.000 chùa, tổng số vào khoảng 9.500.
* Do sự
phát triển mạnh mẽ của đạo Phật dưới thời Lý - Trần, nền văn hóa Phật giáo
đã tạo nên 4 công trình nghệ thuật lớn mà các sách thường nói tới là An
Nam tứ đại khí.
1.
Tượng Phật chùa Quành Lâm. Chùa Quỳnh Lâm được xây dựng vào khoảng thế
kỷ II ở Đông Triều (Quảng Ninh), có pho tượng Di Lặc bằng đồng cao 6
trượng (1 trượng vào khoảng 4 mét, cao gần 24m) được đặt trong một Phật
điện cao 7 trượng. Đứng cách xa 10 dặm vẫn còn trông thấy nóc điện.
2.
Tháp Báo Thiện, Tháp Báo Thiên do vua Lý Thánh Tông cho xây vào năm 1057
trong khuôn viên chùa Sùng Khánh ở phía tây Hồ Lục Thủy (Hồ Gươm ngày
nay). Tháp gồm 12 tầng cao 20 trượng, xây bằng gạch và đá, riêng tầng thứ
12 đúc bằng đồng. Năm 1914 quân Minh xâm chiếm nước ta đã cho phá tháp
đồng để đúc súng. Đến khi Pháp xâm chiếm Hà Nội đã cho xây nhà thờ trên
nền tháp cũ.
3.
Chuông Quy Điền. Năm 1011 vua Lý Nhân Tông sau khi cho xây dựng chùa
Diên Hựu, Một Cột đã cho xuất hàng vạn cân (ta) đồng để đúc chuông treo
trong một tháp chuông cao 8 trượng. Nhưng khi đúc xong, chuông to và nặng
quá (tương truyền chuông cao 3 trượng (12m), đường kính 1,5 trượng (6m)
nên không treo lên được đành để ằm ở ngoài ruộng, là tổ cho loài rùa đến ở
nên gọi là chuông Quy Điền.
4.
Vạc Phổ Minh. Được đúc vào thời Trần Nhân Tông (1279 - 1293( và đặt
tại chùa Phổ Minh, làng Tức Mạc, Nam hà, (quê hương vua Trần). Tương
truyền vạc sâu 4 thước ta (1,6m), rộng 10 thước (4m) nặng trên 7 tấn. Vạc
to có thể nấu được cả một con bò mộng. Trẻ con có thể chạy nô đùa rên
thành miệng vạc. Đến nay vẫn còn trụ đã kê chân vạc trước sân chùa Phổ
Minh.
Tất cả
các thành tựu khoa học kỹ thuật đó đều dã bị quân Minh sang xâm chiếm nước
ta phá theo lệnh của vua Minh Thành Tổ năm 1406 và 1407.
Dưới đời
Trần, đạo Phật không còn được độc tôn như các thời trước, Nho giáo đã phát
triển, bên cạnh các kì thi Tam giáo (Phật, Lão, Nho) đã có tổ chức các kì
thi Nho học riêng đào tạo tầng lớp trí thức Nho học, một số đã công kích
đạo Phật như Lê Bá Quát, Trương Hán Siêu.
Lê Bá
Quát viết trong bia chùa Thiện Phúc ở Bắc Giang phê phán việc tôn sùng
đạo Phật quá mức trong triều đình và dân chúng.
“Đạo
Phật lấy phúc, họa cảm động người ta mà sao được lòng người sâu xa bền
chặt đến thế? Trên từ vương công dưới đến dân thường, hễ đối với đạo Phật
dâng hết của cũng không tiếc. Nếu được ủy thức trông coi làm chùa thì hớn
hở như đã nắm chắc tả khoán để được báo lại ngày mai. Cho nên từ trong
kinh thành đến ngoài châu phủ, thôn cùng ngõ hẽm, không có lệnh mà theo,
không phải thề mà tin, chỗ nào có người ở là có chùa, rồi lại dựng, nát
rồi lại sửa, chuông trống lâu đài so với nhà dân đã chiếm phần nửa, xây
dựng rất dễ mà tôn sùng cũng rất rộng…”.
Trương Hán Siêu cũng viết văn bia chùa Khai Nghiêm, Bắc Giang:
“Chùa đã đổ lại đựng, đó không phải là ý của ta, bia dựng và khắc thì việc
gì ta nói. Hiện nay thánh triều đem giáo hóa nhà vua như cơn gió thổi lên
để chấn chỉnh phong tục đồi bại, thì dị đoan cần bỏ chính đạo nên theo.
Phàm kẻ sĩ phu không phải đạo Nghiêu Thuần không nên tâu ở trước vua.
Không phải đạo Khổng mạnh không nên chép thành sách, thế mà nhiều kẻ không
làm thế, cứ chăm chăm lầm rầm niệm Phật thì hòng nói dối ai?”
Dưới
thời Lê, không còn các kì thi Tam giáo nữa, Nho giáo đã trở thành quốc
giao. Nhà nước phong kiến Việt Nam đã tìm thấy ý thức hệ để củng cố chế độ
phong kiến là Nho giáo. Năm 1429, vua Lê đã bắt các tăng sĩ và đạo sĩ phải
đến dự khảo thi, ai thi hỏng bắt hoàn tục. Vì khảo hạch này theo lối từ
chương của Nho giáo làm cho chỉ có những người hay chữ mới được gọi là
tuâhnfh chân chính còn dù những người mộ đạo và tâm thành nếu không diễn
đạt được đức tin và kiến thứuc của mình bằng văn chương cũng bị hoàn tục.
Nhà sử
học Ngô Sĩ Liên đã công kích các kì thi tam giáo đời Trần.
Ngô
Sĩ Liên, trong Đại Việt sử ký toàn thư đã phê phán: “Đạo chỉ là
một, nogài đạo tu nhân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ, không còn có gì
gọi là đạo nữa… Do thế người đời mê tín, uống thuốc ăn quả để cầu thành
tiên, ăn chay tụng kinh để hòng thành Phật nhưng hỏi đến tôn chỉ của Tiên,
Phật đều không biết gì. Chính như lời Cổ Hoan đã nói, tín đồ Phật giáo là
sa môn đánh dấu thuyền, tín đồ Lão giáo là đạo sĩ ôm gốc cây (ý nói cố
chấp) có gì là thông mà đáng thi, (thi Tam giao đời Trần) mà là cũng cho
đỡ giáp khoa với ất khoa?”.
Vào thế
kỷ 15 chỉ có nhà nho Lương Thế Vinh, đậu trạng nguyên năm 1463, đã viết
“Thiền Môn Khoa Giáo” và đề tựa “Nam Tông Tự Pháp Đồ”.
5.
Thiền phái Lâm Tế, Tào Động, Liên Tông
Vào
khoảng giữa thế kỷ XVII, một số cao tăng từ Trung Hoa sang Đại Việt hành
đạo. Sau gần một thế kỷ rưỡi loạn lạc đầy bạo động, lòng tin vào Tống Nho
đã lung lay, bất lực và suy thoái. Các chúa Trịnh và Nguyễn tuy không hành
đạo, chỉ là tín đồ Phật giáo nhưng đã tìm thấy ở Phật giáo chỗ dựa tinh
thần là một nguyên nhân dẫn đến sự phục hưng Phật giáo. Thiền phái Lầm
Tế từ Trung Hoa được truyền sang, ở Đàng Ngoài do các thiền sư
Chuyết Chuyết và Minh Hành, ở Đàng Trong do thiền sư Nguyễn
Thiều và Minh Hoằng. Đồng thời thiền phái Tào Động cũng
được truyền sang Đại Việt lần đầu, ở Đàng Ngoài do thiền sư Thủy Nguyệt
sang du học đem về, Đàng Trong do các thiền sư Hưng Liên và Thạch Liêm đưa
tới.
Chuyết Chuyết sinh năm 1590 tại Phúc Kiến. Năm 1630 ông đi thuyền qua
Miên rồi qua Chiêm Thành và đến Đại Việt. Năm 1633 đến Thăng Long, giảng
dạy Phật pháp ở chùa Khán Sơn, sau đó dời về chùa Phật Tích. Chúa Trịnh
Tráng và vua Lê Huyền Tông rất kính trọng. Hoàng hậu Trịnh Thị Ngọc Trúc
và công chúa Trịnh Thị Ngọc Duyên xuất gia tại chùa Phật Tích. Chúa Trịnh
Tráng cho trùng tu chùa Ninh Phúc ở Bút Pháp. Chuyết Chuyết sang trụ trì ở
đó mà mất năm 1644, thọ 55 tuổi. Chuyết Chuyết thuộc về thế hệ thứ 34 dòng
Lâm Tế. Khi Chuyết Chuyết mất thì Minh Hành trở thành viện chủ chùa Ninh
Phúc. Ông mất năm 1659, được dựng tháp ở chùa để thờ.
Vào thế
kỷ XVII Thiền phái Tào Động được truyền vào Đại Việt cả ở Đàng Trong lẫn
Đàng Ngoài. Thiền sư Thủy Nguyệt quê ở Hưng Nhân, Thái Bình đã sang
học tại Hồ Châu 3 năm, sau khi về nước đã trụ trì ở Đông Triều, Hải Dương.
Thiền Phái Tào Động được tịnh hành cuối thế kỷ XVII và thế kỷ XVII, các
chùa Hàm Long, Hòe Nhai và Trấn Quốc đều thuộc Thiền phái Tào Đọng.
Thiền
phái Liên do Lân Giác thượng sĩ sáng lập. Ông tên là Trịnh Thập
là con của Trịnh Bình em ruột chúa Trịnh Cương, được lập phủ đệ ở phường
Hồng Mai (nay là Bạch Mai), sau đó biến thành chùa để tham Thiền và đọc
kinh Phật, đặt tên là chùa Liên Hoa. Lân Giác thượng sĩ đã đến Yên Tử học
đạo với nhà sư Tuệ Đăng. Ông là tổ thứ nhất của dòng Liên Tông.
Chùa Liên Tông đến đời Thiện Trị đổi tên là chùa Liên Phái (vì phải
kiêng húy vua). Thiền sư Phúc Điền, thuộc thế hệ sau đã trụ trì ở
chùa Liên Tông (Liên Phái, Bạch Mai) đã biên soạn sách Đại Nam Thiền
Uyển Truyền Đăng Tập Lục, được khắc và in vào năm 1859.
MẬT TÔNG
Mật Tông
là giai đoạn phát triển thứ 3 của Phật giáo Đại Thừa ở Ấn Độ. Giai đoạn
thứ nhất là Bát Nhã, giai đoạn thứ 2 là Duy Thức. Mật Tông
bắt nguồn từ tư tưởng của Bát Nhã và tín ngưỡng dân gian Ấn Độ. Mật Tông
chấp nhận sự có mặt của các thần linh được thờ cúng trong dân gian, do đó
đạo Phật được phát triển sâu rộng trong sinh hoạt quần chúng. Ở Việt Nam
khuynh hướng này rất phù hợp với phong tục tín ngưỡng của người Việt nên
Mật Tông trở thành một yếu tố khá quan trọng trong sinh hoạt thiền môn.
Theo Mật Tông, trong vũ trụ có tàng ẩn những thế lực siêu nhiên, nếu ta
biết sử dụng những thế lực siêu nhiên kia thì ta có thể đi nhanh trên con
đường giác ngộ thành đạo khỏi phải đi tuần tự từng bước. Sự sử dụng thế
lực thần linh thần chú, ấn quyết… có thể hỗ trợ cho thiền quán hành đạo.
Chính vì khuynh hướng này của Mật Tông nên Phật giáo đã bao trùm mọi tín
ngưỡng dân gian trong lòng nó ở Ấn Độ cũng như ở Việt Nam. Các thiền sư
Vạn Hạnh, Thiền Nham, Đạo Hạnh đều thể hiện những yếu tố này.
Vào năm
1963, phát hiện ở Trường Yên, kinh đô Hoa Lư có một bia trụ đá tám mặt
khắc bài kệ của kinh Tổng Trì của Mật Tông do vua Đinh Liễn
tạo dựng, điều đó cho ta thấy Mật Tông được phổ biến dưới triều Đình và
Tiền Lê. Một nhà sư Mật Tông là Mahamaya người gốc Chiêm Thành giỏi
cả tiếng Phạn lẫn tiếng Hán, làm quan dưới thời Lê Đại Hành, đã thoát ra
khỏi ngục khi bị vua giam, khuyên dân chúng Thanh Hóa không nên giết hại
súc vật để thờ cúng. Sách Đại Việt sử kí toàn như có ghi chép một
nhà sư Mật Tông Tây Tạng tên là Du Chi Bà Lam đến Việt Nam
vào thời Trần Nhân Tông: “Ông dung mạo đen sạm, tự nói là 300 tuổi, có thể
xếp bằng nổi trên mặt nước, lại có thể thu cả ngũ tạng lên trên ngực, làm
cho bụng lép đi như không có gì…” Đồi Trần Minh Tông cũng có một nhà sư từ
Ấn Độ sang, cũng có thể nổi trên mặt nước.
Yếu tố
Mật giáo trong đạo Phật ở Việt Nam trong buổi đầu thời kì độc lập tự chủ
cũng đã dựng nên chuyện thiền sư Minh Không sang Trung Hoa xin
đồng, vác hết cả kho đồng trong một tay nải mang về nước.
Ông tự
là Không Lộ, họ Nguyễn, tên là Chí Thành sau khi đi Tây Trúc học kinh, đã
về quê dựng chùa Diên Phúc, muốn đúc tượng Phật nhưng không đủ đồng nên đã
đi sang Trung Hoa để xin vua cho đồng. Minh Không mặc áo cà sa, chống tích
trượng vào triều, ngỏ ý xin đồng. Vua Trung Hoa thấy Minh Không đi một
mình, đường về Đại Việt xa xôi ngàn dặm, bèn nói là cho Minh không tùy ý
lấy bao nhiêu thì lấy.
Không
ngờ Minh Không với một chiếc tay nải trên vai đã lấy hết đồng trong kho
của vua. Vua tiếc mà không làm sao lấy lại được vì đã chót nói lấy bao
nhiêu tùy ý rồi. Mang đồng về đúc xong đỉnh tháp Báo Thiên (Hà Nội),
chuông chùa Diên Phúc (huyện Giao Thủy) nơi Minh Không trụ trì, vạc Phổ
Minh và tượng Phật. Minh Không đọc bài kệ:
“Nổi trên mặt đại cương
Cánh tay nặng ngàn cân
Kho đồng trong một túi
Giây phút vượt ngàn trùng”.
Sau đó
vua Lý Nhân Tông đã phong Minh Không là quốc sư. Đến khi vua Lý Thần Tông
bị bệnh, mọc long đầy người và rống lên như mãnh hổ, triều đình đã sai sứ
đến chùa Diên Phúc đón Minh Không về kinh chữa. Minh Không nói đã biết
trước chuyện đó cách đây 30 năm, lấy một nồi cơm nhỏ nấu cơm thết đãi sứ
và quân lýnh, nhiều người ăn mà vânhững không hết. Đến khi xuống thuyền
lên kinh đô thì thiền sư đã làm phép cho thuyền đi nhanh như tên bắn, mọi
người thức dậy thì đã nhìn thấy tháp Báo Thiên. Vào đến triều đình thấy
vua đang lồng lộn gầm thét, Minh Không nói to thì vua sợ, không dám lồng
lộn nữa. Minh Không sai nấu một chảo dầu sôi, bỏ vào đấy 100 cây đinh sắt
rồi lấy tay khoắng đầu, với đinh ra và ném lên người vua. Tự khắc lông lá
trên người vua rụng hết và khỏi bệnh!
Minh
Không sinh năm Bính Thìn, ngày 14 tháng 6 năm Giáp Tuất, được tạc tượng
thờ trong chùa Lý Quốc Sư huyện Thọ Xương (nay ở phố Lý Quốc Sư).
Câu
chuyện nhà sư Đạo Hạnh (để báo thù cho cha, đã tu ở chùa Thầy, tụng
kinh Mật giáo dù một vạn tám nghìn lần, đã đắc đạo, và dùng pháp thuật
đánh chết Đại Điên) đã cho thấy Mật Tông là một dòng của Phật giáo dưới
thời Lý (theo Thiều Uyển Tập Anh ngữ lục). Hiện nay các chúa Láng, Thánh
Chúa (Hà Nội) và chùa Thầy (Hà Tây) bên cạnh việc thờ Phật, đều có thờ Đạo
Hạnh.
TỊNH ĐỘ TÔNG
Theo một
số tài liệu Trung Hoa thì các nhà sư Samghavaman (Kha Tăng Khải) ở
thế kỷ thứ II, Kumarijiva (Cựu Ma La Thập) ở thế kỷ thứ 4 và
Kalyâcn (Cửu Lương Đa Xá) ở thế kỷ thứ V đã đặt nền móng cho Tịnh Độ Tông
ở Ấn Độ. Tịnh Độ Tông được truyền vào Việt Nam từ sớm qua câu chuyện viết
vào năm Tống Vĩnh Sơ (420 - 422) như sau:
“Sư Đàm
Hoàng đi về phương nam, đến Phiên Ngung dừng lại ở chùa Đài, sau đến chùa
Viên Sơn ở Giao Chỉ tụng Vô Lượng Thộ kinh và Quán Kinh, lòng nguyện vãng
sinh Tịnh Độ…”.
Khác với
Thiền Tông, Tịnh Độ Tông với phương pháp tu hành đơn giản, chủ trương dựa
vào sự giúp đỡ từ bên ngoài (tha lực). Các tín đồ Phật tử nhờ luôn niệm
danh “Phật A Di Đà” nên được sự giúp đỡ của ngài sẽ đạt được chính quả. Sự
giúp đỡ từ bên ngoài rất quan trọng, Phật Thích Ca đã có lần thuyết giảng
rằng: “Một viên đá dù nhỏ đến mấy mà ném xuống nước thì nó cũng chìm.
Nhưng một hòn đá dù to đến mấy, nếu đặt trên bè thì nó vẫn nổi” Thực ra
Tịnh Độ Tông là biện pháp tu hành đáp ứng nguyện vọng của đa số quần chúng
thất học, chính vì thế nên sau khi ra đời, Tịnh Độ Tông đã phát triển
nhanh chóng. Theo Tịnh Độ Tông cái tâm hơn cái học vấn. Phật tử thành tâm
tin vào Phật A Di Đà, ngày ngày niệm Phật thì sẽ được an cư lạc nghiệp,
khi chết (giải thoát) sẽ được về cõi Tịnh Thổ. Tịnh Độ Tông gợi cho Phật
tử hướng về cõi Tịnh Độ, nơi yên tĩnh trong sáng, không có khổ đau, đó
cũng là chốn Tây Phương cực lạc, là nơi do công đức của Phật đã kiến tạo
trải qua nhiều kiếp. Theo Tịnh Độ Tông thì không có phân biệt người thông
kinh sử với người không có thuộc kinh, người ngay với kẻ dữ, người tu hành
với kẻ sống trần tục, mọi người đều bình đẳng trước Phật A Di Đà trong
những lúc tưởng niệm đến Ngài, sẽ được ngài giúp đỡ, lúc từ giã cõi đời sẽ
được Phật A Di Đà tiếp dẫn về cõi Tịnh Thổ. Nhờ cách tu đơn giản như vậy
nên trong dân gian người ta tin Phật ngày càng đông và tượng A Di Đà ở
chùa nào cũng có và được tạc to, mỹ thuật.
Đối với
đại đa số dân Việt Nam trước đây, số người biết chữ Hán để đọc kinh Phật
rất hiếm, người có điều kiện đi học thì nhằm mục đích để thi đỗ ra làm
quan, vì vậy biện pháp tu theo tâm, hướng về Phật và niệm danh Phật A Di
Đà của Tịnh Độ Tông là một cách thu hút dễ dàng đông đảo người dân. Vì
vậy, từ sau đời Trần, khi Phật giáo bị các nhà nho công kích, không còn
được triều đình nâng đỡ nữa thì đạo Phật vẫn được phổ biến trong dân chúng
với Tịnh Độ Tông.
Tuy đạo
Phật phân chia ra thành 3 tông phái Thiền Tông, Mật Tông và Tịnh Độ Tông
nhưng khi được truyền bá và thâu nhận ở Việt Nam thì không có sự tách biệt
rạch ròi mà là một tổng hợp các tông phái cùng với tin ngưỡng bản địa,
không có tông phái nào thuần khiết. Tuy Thiền Tông chủ trương: “Tâm là
không có hình, không có tiếng, không có trước, không có sau, thâm điệu, vi
tế, không có tóc tơ hình thức”, nhưng các Thiền sư ở Việt Nam đã để lại
rất nhiều trước tác về đạo Phật và văn học có giá trị. Thiền phái
Vinitaruci lại pha trộn với Mật Tông, nhiều thiền sư tham gia chính trị
góp phần củng cố nền độc lập tự chủ, đánh đuổi ngoại xâm. Mật Tông cũng có
một vị trí trong đạo Phật ở Việt Nam do phục vụ cho những nhu cầu chữa
bệnh, ước muốn của người dân trong khi chưa làm chủ được các hiện tượng xã
hội và tự nhiên, đã kết hợp với tín ngưỡng bản địa, nên vẫn tồn tại trong
dân chúng cho đến ngày nay. Đạo Phật ở Việt Nam không có sự tách bạch giữa
các phương pháp tu hành để giải thoát, chủ trương dung hợp giữa tự lực và
tha lực, có sự cố gắng của bản thân và sự giúp đỡ từ bên ngoài, kết hợp
Thiền Tông với Tịnh Độ Tông.
Sự kết
hợp giữa các tông phái đã được thể hiện ngay trong các chùa trong việc thờ
Phật. Chùa ở Việt Nam có rất nhiều tượng Phật, Bồ Tát, La Hán, A Di Đà,
Quan Âm, mỗi loại tượng cũng lại có nhiều dạng như Thích Ca Thuyết Pháp,
Thích Ca Sơ Sinh, Thích Ca Tuyết Sơn, Thích Ca ngồi tòa sen, Thích Ca nhập
Niết Bàn. Quan Âm có Phật Bà Quan Âm, Quan Âm Tống Tử, Quan Âm Nam Hải,
Quan Âm Thị Kính…
* * *
Vào thế
kỷ XVIII trong nước có nhiều cuộc chiến tranh, loạn lạc, chùa chiền bị đổ
nát, đạo Phật cũng không có điều kiện phát triển. Sau khi nhà Tây Sơn dẹp
được chúa Nguyễn và chúa Trịnh, đã quan tâm chấn hưng đạo Phật, xuống
chiếu chỉ xây cất các chùa lớn đẹp (chùa Kim Liên, chùa Tây Phương…) cho
chọn các nhà sư có học thức và đạo đức trông coi chùa và giảng kinh Phật
cho dân chúng.
Đến thế
kỷ XIX các vua triều Nguyễn cũng cho tu bổ các chùa. Năm 1830 vua Minh
Mệnh giao cho bộ Lễ triệu tập cao tăng các tỉnh về kinh để xem xét, cấp
giới đạo và độ điệp, cả thấy được 53 người. Nhiều thiền sư đã viết các
sách kinh Phật.
Cuối thế
kỷ XIX đầu thế kỷ XX, nước ta trở thành thuộc địa của thực dân Pháp, đất
nước có nhiều biến động do tiếp xúc vưói văn hóa phương Tây, đạo Phật đã
có những chấn hưng, với những tổ chức Phật giáo 3 kì, có báo chí để phổ
biến giáo lý. Những cuộc tranh luận về đạo Phật đã nổi ra xoay quanh những
vấn đề như Phật giáo vô thần hay hữu thần, linh hồn và thể xác, phật tử
xuất thế hay nhập thế…
Đạo Phật
đã thâm nhập trong đời sống của người Việt Nam như vào trong máu thịt, có
thể nói là phần lớn người Việt Nam không theo đạo Thiên Chúa thì đương
nhiên theo đạo Phật dưới nhiều hình thức như tu tại gia, lên chùa lễ Phật
ngày lễ và ngày rằm và mồng một, treo trong nhà ảnh Phật hoặc lúc đau khổ
gặp nạn niệm “Na Mô A Di Đà Phật”… Theo số liệu năm 1993 của Ban tôn giáo
chính phủ thì số tín đồ Phật từ xuất gia vào khoảng 3 triệu người, số
thường xuyên đến chùa lễ Phật vào khoảng 10 triệu người, số chịu ảnh hưởng
của đạo Phật vào khoảng vài chục triệu người.
CHƯƠNG III
^
GIÁO LÝ
ĐẠO PHẬT - ĐẠO PHẬT DÂN GIAN
Đạo Phật
là một tôn giáo lớn ở Ấn Độ cổ đại, đã trở thành một tôn giáo thế giới,
ảnh hưởng mạnh mẽ tới đời sống tinh thần của nhiều dân tộc phương Đông
trong đó có Việt Nam chúng ta. Với mục đích nhằm giải phóng con người khỏi
mọi khổ đau bằng chính sự giác ngộ của con người với cuộc sống đức độ, đạo
Phật đã nhanh chóng chiếm được niềm tin và tình cảm của đông đảo dân
chúng. Vấn đề chính và cấp bách nhất đối với Phật Thích Ca là giải thoát
nhân loại, Người đã nói: “Cũng như nước của tất cả các đại dương chỉ có
một vị, vị mặn của chất muối, tất cả đạo lý của ta chỉ có một hướng, hướng
giải thoát” hay: “Ta chỉ dạy một điều: KHỔ và DIỆT KHỔ”.
Giáo lý
đạo Phật được thể hiện trong các thuyết pháp về Tứ Diệu Đế (bốn chân lý kì
diệu) và Thập Nhị Nhân Duyên (12 mối quan hệ trong sự tồn tại của con
người).
Tứ
Diệu Đế là:
1.
Khổ Đế. (Dukhha) là chân lý về bản chất nỗi khổ của loài người. Đạo
Phật cho cuộc đời là bể khổ, những đau khổ đó là sinh, lão, bệnh, tử. Con
người triền miên trong ngũ trọc, cũng gọi là ngũ uẩn thì
không sao dứt ra khỏi khổ. Ngũ uẩn là: sắc uẩn (hình thể con
người), thụ uẩn (sự cảm giác), tưởng uẩn (sự tưởng tượng),
hành uẩn (các hành vi), thức uẩn (ý thức).
2.
Tập Đế hay Nhân Đế. (Samudaya) là chân lý về nguyên nhân nỗi
khổ. Con người khổ là do ái dục và vô minh (do ham muốn và
kém sáng suốt), do tham, sân, si (tham lam, giận dữ và ngu dốt).
Con người ta vướng vào tham muốn sống, tham sướng, tham mạnh… tìm mọi cách
thỏa mãn lòng tham, lòng ham không thỏa mãn sẽ gây đau khổ.
3.
Diệt Đế (Nirodha) là chân lý về cách diệt khổ. Nỗi khổ của con người
sẽ bị diệt khi nguyên nhân gây ra khổ bị loại trừ là cái dục và vô mình.
Sự tiêu diệt khổ đau trong con người đạt được, được gọi là Niết Bàn
(Nirvana) nghĩa là dập tắt ngọn lửa phiền não.
4.
Đạo Đế (Magga). Là chân lý chỉ ra con đường diệt khổ. Con đường diệt
khổ, giải thoát đòi hỏi phải rèn luyện đạo đức (giới), phải rèn luyện tư
tưởng (định) và phải khai sáng trí tuệ (tuệ). Việc rèn luyện giới, định,
tuệ được cụ thể hóa trong BÁT CHÍNH ĐẠO (tám con đường chân chính). Bát
chính đạo là:
a.
Chính kiến là cần hiểu biết đúng đắn, kiến giải chính xác, thành thực
mà tin tin theo.
b.
Chính tư duy là suy nghĩ đúng đắn.
c.
Chính ngữ là nói năng thành thật, hòa ái.
d.
Chính nghiệp là làm những việc tốt.
e.
Chính mệnh là nuôi sống mình bằng nghề nghiệp chính đáng, lương thiện,
làm mà sống, không ăn bám, bóc lột.
g.
Chính niệm là luôn luôn nghĩ đến những điều lành, điều thiện.
h.
Chính tịnh là nỗ lực làm cách tiến bộ nhanh chóng.
i.
Chính định là định tâm trí, tập trung tư tưởng vào một vấn đề đã được
cho là chính đáng.
Trong 8
con đường vạch ra thì chính ngữ, chính nghiệp, chính mệnh thuộc về lĩnh
vực rèn luyện đạo đức (GIỚI), chính niệm, chính định thuộc về lĩnh vực rèn
luyện tư tưởng (ĐỊNH), chính kiến, chính tư duy, chính tính tiến thuộc về
lĩnh vực khai sáng trí tuệ (TUỆ).
Bát
chính đạo là con đường trung đạo dắt dẫn chúng sinh đang mê muội tham lam,
trầm luân trong bể khổ đi vào con đường sáng suốt, dẫn tới cõi Niết Bàn.
Mỗi người đều có Phật tính (giác ngộ) đều có thể nỗ lực làm được theo
được.
Thập nhị nhân duyên
^
Triết lý
Phật giáo quan niệm con người ta sinh, tử trong vòng luân hồi không ngừng
trong 6 cõi là Địa ngục, Ngạ quỷ, Súc sinh, A-tu-la, Sa bà (trần thế) và
cõi Tịnh (Tây Phương cực lạc). Nhân duyên quả báo là 2 trạng thái nối tiếp
và tương quan mật thiết với nhau, nghĩa là phải có nhân mới có quả, không
có quả thì cũng không có nhân. Có thể gieo nhân gặt quả ngay tức thời, có
thể gieo nhân đời này gặt quả ngay tức thời, có thể gieo nhân đời này gặt
quả đời này, có thể gieo nhân đời trước gặt quả đời sau, có thể gieo nhân
từ các đời trước, gặt quả các đời sau. Trong quan hệ nhân quả thì nhân
duyên là những tác động giúp cho nhân sinh quả. Nhân và quả có 12 quan hệ
gọi là thập nhị nhân duyên, đó là: Con người có thân thì có khổ
(ốm đau, già nua, bệnh tật). Gốc cửa khổ là sinh (tức sự chuyển
trong luân hồi). Gốc của sinh là hữu (tức ý thức về sự tồn tại của
mình). Gốc của hữu là thủ (tức ham muốn kéo dài đời sống). Gốc của
thủ là ái (tức dục tính làm người ta đam mê). Gốc của ái là thụ
(tức cảm giác). Gốc của thụ là xúc (tức xúc giác). Gốc của xúc
là lục nhập (mắt nhập sắc, tai nhập thanh, mũi nhập hương lưỡi nhập
vị, thân nhập xúc, ý nhập pháp) gốc của lục nhập là hình danh (tức
hình thái và tên gọi). Gốc của hình danh là thức (ý thức về bản
thân). Gốc của thức là hành (chỉ những khái niệm làm cho ta muốn
hàng động). Cuối cùng gốc của hành là vô minh (tức là không sáng
suốt).
Luật
Nhân quả chỉ có tác dụng trong vòng luân hồi. Về mặt xã hội, nó chỉ ra sự
khổ não của con người có nguyên nhân từ ngũ uẩn (sắc, thụ, tưởng, hành,
thức). Từ ngũ uẩn mà xuất hiện sự đối lâp: ác và thiện, tốt và xấu, đau
khổ và hạnh phúc. Lòng tham, sân, si gây ra nghiệp chướng và luân hồi là
vòng luẩn quẩn từ trần gian đến địa ngục. Nghiệp chướng phụ thuộc vào bản
thân cuộc sống tu luyện đạo đức của mỗi người. Cuộc đời mỗi người đều do
tiền kiếp quyết định. Con người sẽ có thể tránh được do cuộc sống đức hạnh
của mình. Muốn từ bỏ vòng luân hồi con người phải tu nhân tích đức, từ bi
bác ái. Đó là biện pháp để giải thoát của con người cũng đồng thời là vấn
đề đạo đức xã hội, đó cũng chính là giá trị nhân bản cao quý chủ yếu của
giáo lý đạo Phật.
Do sự
phát triển, Phật giáo có 2 khuynh hướng Phật giáo Đại Thừa và Phật giáo
Tiểu Thừa, Phật giáo Tiểu Thừa nhấn mạnh do vô minh mà tạo nghiệp
(do không sáng suốt nên tạo nên nghiệp khổ), muốn diệt nghiệp phải cầm
được để sáng suốt không lầm lẫn. Phật giáo Đại Thừa chủ trương vô ngã:
nghĩa là đối với bản thân phải nghiêm khắc sửa mình bằng thiên định, tự
kiểm điểm, phát triển trí tuệ và nhẫn nhịn, đối với mọi người phải từ bi
bác ái vị tha, ngăn ngừa điều ác, khuyến khích điều thiện có nghĩa là phải
bố thí và tích đức.
GIỚI
PHÁP (những điều ngăn cấm trong tu hành)
Tăng ni
trong chùa được phân chia thành sa di (sramanera) ta quen gọi là chú tiểu,
nữ được gọi là sa-di-ni (sramanekira); tì khưu, nữ là tì khừu ni, hòa
thượng và thượng tọa, ta quen gọi là sư ông, sư cụ.
Sa-di có
10 giới là:
1. Không
sát linh.
2. Không
trộm cắp.
3. Không
nói dối, nói thêu dệt, nói lưỡi hai chiều và chửi mắng.
4. Không
dâm dục.
5. Không
uống rượu.
6. Không
dùng nước hoa và trang điểm bằng hoa.
7. Không
được dùng giường nệm lớn sang trọng.
8. Không
được khiêu vũ hát xướng.
9. Không
được sử dụng vàng bạc.
10.
Không được ăn ngoài giờ ăn.
Tì khưu
có 250 điều giới. Tì Khưu ni có 348 điều giới.
Những
người tu tại gia được gọi là cư sĩ. Họ theo 10 điều giới:
1. Không
giết hại sinh mạng, phải tìm cách bảo vệ sinh mạng.
2. Không
trộm cướp,phải thực hành bố thí.
3. Không
tà dâm, phải bảo vệ danh dự và hạnh phúc kẻ khác.
4. Không
nói dối, phải nói thật.
5. Không
nói lời li gián, phải nói lời xây dựng và hòa giải.
6. Không
chửi rủa, phải nói lời nhẹ nhàng dễ mến.
7. Không
nói lời thêu dệt, phải nói lời tạo nên sự tín nhiệm kính yêu.
8. Không
để tâm tham dục điều khiển mình, phải sống giản dị.
9. Không
để tâm giận dữ oán thù, phải phát triển tâm từ bi.
10.
Không níu chặtt thành kiến, phải cởi mở để trao đổi.
Tinh
thần từ bi là một đặc điểm lớn trong triết lý của Phật giáo. Từ bi là lòng
thương yêu bao la khiến người ta vận dụng tất cả khả năng tâm tư và mọi
phương tiện để làm cho mọi người, mọi sinh vật thoát khỏi khổ đau và được
an vui. An vui cho chúng sinh có nghĩa là tất cả mọi sinh vật trên thế
gian không chỉ riêng loài người. Không chỉ xóa cái khổ hiện tại mà phải
diệt trừ tận gốc mọi nguyên nhân gây nên nỗi khổ. Dứt khổ và được vui là 2
khía cạnh của cuộc đời. Người thực hiện từ bi là hoàn toàn tự nguyện hiến
dâng tình thương, làm vơi nỗi đau khổ trên thế gian, không chịu một áp lực
nào, một điều kiện nào, người từ bi tự thấy được tinh thần yên vui hạnh
phúc. Người từ bi được chết trong yên lành và sẽ tái sinh vào cảnh đời tốt
đẹp.
VIỆC ĐỌC KINH VÀ
NIỆM PHẬT^
Kinh
Phật là hệ thống giáo lý của Phật giáo được ghi trong 3 bộ: Tạng Kinh
(bộ Kinh), Tạng Luật (bộ Luật), Tạng Luận (bộ Luận). Kinh
Phật ghi những lời Đức Thích Ca giảng dạy lúc sinh thời là hệ thống lý
luận về vũ trụ và nhân sinh, về sự giải thoát con người ra khỏi khổ cảnh
của vòng sinh tử luân hồi. Mục đích của sự tu hành là giải thoát. Những
phương pháp tạo dựng công đức được gọi là tu Phúc. Tu Phúc chưa đủ
để giải quyết vấn đề sống chết mai sau, vì vậy phải tu Huệ. Tu huệ
là đọc kinh, niệm Phật và ngồi thiền. Niệm Phật là một lối ngồi thiền dễ
thực hành hơn hết vì niệm Phật cũng đưa tới sự định tâm.
Việc đọc
kinh, nhắc lại lời dạy của đức Phật một cách đều đặn giúp người tu hành
nhớ lại và suy ngẫm về lời Phật dạy, tĩnh tâm, cảm hứng về trí tuệ và tâm
linh nhằm dồn tới sự đồng nhất thế với vũ trụ bao la. Với sự tập trung và
điều khiển hoàn toàn bằng tâm và ý, ngồi theo thế thiền định tĩnh lặng,
nhà tu hành cầu giải thoát để nhất thế hóa với vũ trụ, để tiến tới cái
KHÔNG kì diệu cao siêu theo lời dạy của Phật. Con người ta ai cũng có phật
tính, trong đời sống đấu tranh sinh tồn đã làm mờ đi phật tính sẵn có, đẩy
con người biệt lập với cái KHÔNG, với vũ trụ, với thế giới xung quanh cho
đến lúc chết. Muốn phá bỏ các lớp bao quanh Phật tính, đạt tới khả năng
đồng nhất thể với cái KHÔNG của vũ trụ thì việc đọc kinh Phật theo một số
lượt nhất định bằng cách đếm, đánh dấu các hạt trong tràng hạt (108 hạt)
là việc làm để đạt tới cái Tầm Vô Tâm, cí Không. Việc đọc kinh niệm Phật.
Việc đọc kinh niệm Phật, về thực hành không có gì phức tạp, có thể làm
được ở mọi nơi mọi lúc, song đòi hỏi tấm lòng, sự tĩnh lặng, suy ngẫm, cầu
tới sự giải thoát, sẽ giúp cho người đọc những khả năng kì diệu.
Với
người dân bình thường, niệm Na Mô A Di Đà Phật cũng là một phương pháp tu
hành đạt được chính quả. Tuy đơn giản nhưng phải có sự suy nghĩ sâu mới có
thể hiểu được. Na Mô A Di Đà Phật nguyên là tiếng Brahama (Ấn Độ) được
phiên âm ra chữ Hán.
Na Mô
nghĩa là quy mệnh, quy lễ, kính lễ.
A Di Đà
nguyên âm là Amitabha có nghĩa là vô lượng thọ, vô lượng quang, vô lượng
công đức.
Phật
chính âm là Buddha có nghĩa là giác ngộ, chính giác, đại giác, “Niệm A Di
Đà Phật” có nghĩa là niệm cả danh và hạnh của ngài… Một người biết đem
sinh mạng của mình quay về kính lễ, tin theo đức Phật A Di Đà với cái tâm
“bồ đề” hẳn là người đã biết hối lỗi. Người đó sẽ không còn tham, sân,
si, mạn, nghi, tà kiến, gian dối với mọi người. Người đó biết phục
thiện, biết phục tùng chính đạo, biết cứu nhân độ thế, biết thương cha mẹ,
thương vợ, thương chồng cùng người quyến thuộc. Vì vậy mà ở chỗ nào và lúc
nào ta cũng nên niệm “Na Mô A Di Đà Phật”.
Về pháp
môn niệm Phật, có tài liệu cho rằng, các đệ tử mỗi ngày niệm 500 lần, niệm
liên tục cho đến khi chết mới được siêu thoát về Tây Phương cực lạc. Có 4
hình thức niệm Phật:
-
Tụng niệm là niệm danh Phật trước bàn thờ Phật.
- Mật
niêm là danh Phật ở nơi không có bàn thờ Phật.
-
Quán niệm là vừa niệm danh vừa tưởng nhớ đến công đức của Phật.
-
Chuyên niệm là khi đi, khi đứng, khi ngồi, khi làm, lúc nào cũng niệm
danh và tưởng nhớ đến công đức của Phật.
Để đến
được cõi Tây Phương cực lạc, miền Tịnh Thổ, khi niệm Phật, các đệ tử phải
có đủ 3 điều kiện sau đây:
- Đức
tin chắc chắn và mạnh mẽ.
- Lập
nguyện vững vàng.
- Thực
hành theo đúng chí nguyện.
Phật A
Di Đà là giáo chủ của cõi Tây Phương cực lạc vì vậy tượng Phật A Di Đà có
rất nhiều trong các chùa Việt Nam. Theo kinh Phật thì A Di Đà là hóa thân
của Phật Thích Ca thời quá khứ. Phật Thích Ca chỉ sống có 80 năm để truyền
giáo và sau đó nhập Niết Bàn. Trong khi chờ Phật Vị Lai và Di Lặc tiếp dẫn
chứng sinh ra khỏi kiếp luân hồi xuất hiện thì Phật A Di Đà làm nhiệm vụ
đó. Trong các chùa Việt Nam, tượng Phật A Di Đà làm nhiệm vụ đó. Trong các
chùa Việt Nam, tượng Phật A Di Đà khi thì ngồi bên trái Phật Thích Ca, khi
thì ngồi chính giữa thượng điện trong bộ Di Đà Tam Tôn.
Cõi Tây
Phương cực lạc hay miền Tịnh Thổ là miền đất thanh tịnh, trong sạch, đối
lập với thế giới Sa Bà là thế giới trần gian đang sống đầy khổ ải. Thế
giới cực lạc đã được Phật Thích cA nói đến cách đây 25 thế kỷ, cách thế
giới Sa Ba chúng ta đang sinh sống hơn mười muôn ức cõi Phật. Ở nơi dân
chúng hết mọi khổ đau, sống an vui.
ĐẠO PHẬT DÂN GIAN
VIỆT NAM
^
Xét ngay
từ yếu tố nội sinh, Phật giáo đã mang tính thích ứng. Khi truyền vào một
nước nào, miền nào cũng đã thích ứng ngay với phong tục tập quán của địa
phương và những tín ngưỡng bản địa. Do sự thích ứng ấy mà các thần linh
bản địa đều có vị trí trong chùa như thần Khuyến Thiện, Trừng Ác, Thổ Địa…
Tín ngưỡng dân gian đã “Phật hóa” và “hóa Phật” ngay ở giai đoạn đầu tiên
và trong suốt quá trình. Ở Việt Nam một nước nông nghiệp, người ta tôn thờ
những hiện tượng thiên nhiên như Mưa, Sấm, Chớp nên khi đạo Phật du nhập
voà Việt Nam người dân đã lấy ngay các vị thần đặt vào Việt Nam người dân
đã lấy ngay các vị thần đặt cho chùa, thành: Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi,
Pháp Điện. Tục lễ bái tín ngưỡng của dân địa phương được thực hành ngay
trong phạm vi nhà chùa ngay tại chánh điện cùng với nơi thờ Phật.
Những
hiện tượng mê tín dị đoan, đồng bóng… cũng được kết hợp với lễ Phật như
trên đã viết là do ảnh hưởng của Mật giáo nhưng cũng có nguyên nhân là
người dân cần tới sự che chở, cầu mưa, cầu khỏi bệnh, tai qua nạn khỏi;
những bài kinh, bài chú, sớ dâng sao, giải hạn đã tồn tại là vì vậy. Trong
một số chùa người dân thờ Phật Dược Sư, còn gọi là Dược Sư Lưu Li Q
uang Phật với biểu tượng thờ cúng đèn 4 ngọn với ý mong được cứu độ qua
khỏi bệnh tật. Đèn Dược Sư là một cây đèn cao gồm một trù hình bát giác có
7 tầng, mỗi tầng tỏa ra 7 nhánh, mỗi nhánh là một ngọn đèn (49 ngọn).
Đạo Phật
ở Việt Nam cũng như Trung Quốc, do thích ứng với tin ngưỡng bản địa, với
việc thờ cùng tổ tiên nên trong chùa cũng thường có các tượng thành hoàng
hoặc anh hùng dân tộc như Đức Thánh Trần hoặc Quan Công và ở các nhà hậu
đường thường có thờ hậu. Vì vậy nhiều chùa thờ Phật thường có dạng “Tiền
Phật hậu Thánh”.
Trong
quan niệm đạo Phật dân gian, mục đích gần nhất của sự tu hành là tạo thêm
công đức (punya), là sự tập hợp của những hành động tốt, là một kho tàng
vô hình đảm bảo cho hạnh phúc của tương lại. Nếu có nhiều công đức người
ta sẽ được sống an lành trong kiếp này và trong những kiếp sau, không
những cho mình mà còn cháu mình cũng có thể được thừa hưởng. Muốn tạo công
đức phải làm công quả. Công quả là một danh từ bình dân có có nghĩa là có
công thì có quả. Giữ giới, ăn chay, tụng kinh, làm chùa, đúc tượng, cúng
chùa, chẩn tế cho người nghèo khổ, cho cô hồn đòi lạnh là những việc làm
tạo nên công đức. Nếu không có điều kiện vật chất thì dùng sức lực là
những công việc thiện để giảm nỗi khổ đau cho người nghèo đói, bệnh tật…
Trong
quá trình Phật giáo du nhập vào nước ta ở giai đoạn sau, đã có sự thâm
nhập và tiếp thu ảnh hưởng lẫn nhau giữa đạo Phật và đạo Mộu. Thoát thai
từ tín ngưỡng thờ thần, chịu ảnh hưởng sâu sắc của đạo Giao Trung Quốc,
đạo Mẫu với thần chủ là Liễu Hạnh đồng thời cũng là một vị Tiên tiểu biểu
của Việt Nam, có thể là dạng phóng đại của mô thức gia đình và thờ cúng tổ
tiên. Người dân Việt lễ Phật để tu nhân tích đức cho đời sau được lên cõi
Niết Bàn cực lạc, thờ Mẫu để mong được mẹ phù hộ độ trì mang lại cho sức
khỏe, tài lộc, may mắn cho đời sống thường ngày. Không chỉ có sự kết hợp
một chiều mà là cả hai chiều, giữa đạo Phật và đạo Mẫu, chùa ở Việt Nam có
dạng thờ “tiền Phật, hậu Mẫu”. Người dân đi chùa vừa lễ Phật vừa cúng Mẫu,
nhưng có nơi phủ thờ Mẫu cũng thờ Phật Bà Quan Âm. Truyền thuyết về Liễu
Hạnh khi dang trong thế nguy kịch ở Sòng Sơn được Phật Thích Ca cứu độ, từ
dó Mẫu Liễu Hạnh đã quy y chuyển hóa từ bi theo gương Phật là một biểu
hiện của sự kết hợp giữa đạo Phật và đạo Mẫu ở Việt Nam.
Đối với
đại đa số dân chúng thì những triết lý của Phật, giáo thực sự là cao xa
khó hiểu, con người muốn giải thoát đến cõi không thứcự là khó khăn. Người
ta có thể tin được khuyết luân hồi quả báo với khía cạnh luân lý đạo đức.
Răn đe, khuyên bảo nhau không làm điều ác, cổ vũ khuyến khích nhau làm
điều thiện làm cho mọi người đỡ đau khổ, mong muốn bản thân đến kiếp sau
được sung sướng, đó là những ước mơ tin tưởng của người lao động khi tin
theo Phật. Hầu hết những người này không biết giáo lý, phật pháp, không
thuộc các kinh Phật ngoài mấy chữ “A Di Đà Phật”, “Nam mô Quan Thế Ân Bồ
Tát…”. Họ vẫn sống một đời thường và cũng chỉ tuân theo một số điều giới
như không trộm cắp, không nói càn, chửi bậy, không điêu toa, không làm
điều ác, không gian âm, giết người. Người dân lên chùa lễ Phật vào ngày
rằm và mồng một là muốn cầu những thế lực siêu nhiên Phật Thích Ca hay
Phật Bà Quan Âm phù trợ cho cặp điều may mắn, được tai qua nạn khỏi, không
ốm đau bệnh tật… Chính vì vậy nên ở Việt Nam, một đạo Phật dân gian đã
hình thành trong dân chúng bất nguồn từ đạo Phật chính thống nhưng gạt bỏ
phần triết lý xa xôi khó hiểu, trở về với cuộc sống trần thế hàng ngày. Nó
kết hợp với tín ngưỡng bản địa, với tục thời cúng tổ tiên, với những
nguyện vọng ước mơ của những người lao động. Đạo Phật dân gian đã thấm sâu
trong dân chúng qua nhiều đời, thực sự có tác dụng tích cực trong đời sống
của người lao động.
CÁC NGÀY LỄ PHẬT GIÁO
^
Phật
giáo có 3 lễ trong một năm: Lễ Phật đản (Phật sinh), lễ Phật thành đạo, lễ
Vu Lan.
- Lễ
Phật Đản. Các sách về lịch sử Thích Ca Mâu Ni viết Đức Phật giáng sinh
ngày trăng tròn tháng Vaiskha tức ngày 30 tháng 2 lịch Ấn Độ, tức là ngày
15 tháng 4 lịch Trung Quốc và Việt Nam cũ. Theo Phật giáo thì trên cõi thế
cứ một triệu năm mới có một đức Phật ra đời. Thích Ca Mâu Ni là đức Phật
thứ tự và là đức Phật hiện tại, sinh năm 563 trước Công nguyên. Từ hồi còn
nhỏ, người đã để tâm suy xét các hiện tượng trong đời sống khổ cực, chán
ghét cảnh tranh giành cướp đoạt. Người đã đi tu khổ hạnh 6 năm liền nhưng
vẫn chưa tìm được lối giải thoát. Người thay đổi cách tu hành, ngồi dưới
gốc cây bồ đề tĩnh tâm suy nghĩ suốt 49 ngày về phép Tứ diệu đế, Thập nhị
nhân duyên và cuối cùng đã trở thành bậc giác ngộ (Phật). Lúc đó người đã
35 tuổi, sau đó đi khắp bốn phương để giáo hóa và cứu độ chúng sinh.
Trong lễ
Phật đản sau khi tụng kinh và làm các thủ tục, người ta đem tắm Phật bằng
nước thơm rồi lau bằng một khăn lựa đổ, sau đó xé ra chia cho mỗi người
một mảnh.
- Lễ
Phật thành đạo. Lễ Phật thành đạo theo lịch Ấn Độ vào ngày trăng tròn
tháng Paosa (tức tháng 10), ứng với lịch Trung Quốc và lịch ta là ngày 15
tháng Chạp.
Các lễ
Phật đản và Phật thành đạo kỷ niệm những mốc lớn trong đời Phật Thích Ca
để mọi người cùng nhận rõ ai cũng có tính Phật trong người, ai cũng có thể
thành Phật nếu tu hành tịnh tiến.
- Lễ
Vu Lan. Là lễ cúng cô hồn và phổ độ chúng sinh. Theo Phật thoại, Mục
Liên là đệ tử của đức Phật, muốn báo công sinh thành của cha mẹ bèn dùng
nhỡ tuệ soi xuống âm phủ thấy mẹ đang bị giam cẩm, chịu cực hình quả báo.
Mục Liên đến dâng cơm cho mẹ nhưng cơm đó biến thành đá, bèn trở về xin
Phật chỉ bảo. Phật phóng hào quang xuống, các chúng sinh bị giam cầm được
giải thoát. Mẹ Mục Liên vừa ra khỏi ngục này lại phải vào ngục hắc ám. Mục
Liên lại bạch với đức Phật, lòng hiếu thảo động cả trời đất vẫn không đủ
giải thoát cho mẹ, phải nhờ đến lòng từ bi của tăng chúng mười phương. Do
đó vào ngày 15 tháng 7 âm lịch hàng năm, phải lập hội Vu Lan thỉnh cầu
chúng tăng cứu nguyện giải thoát cho mẹ khỏi chốn địa ngục về với thiên
giới, nhiều chúng sinh khác cũng nhân dịp này được khoát khỏi chốn ngục
tối.
Trong lễ
hội Vu Lan, các phật tử diễn lại các trò về Mục Liên nêu gương hiếu thảo,
vạch ra con đường tội lỗi và cách diệt trừ, đều do chữ Tâm, nhân duyên quả
báo. Muốn gỡ tội như mang một khối đá to, một người dù tài giỏi cũng không
làm nổi, phải nhờ mười phương chúng tăng độ trì.
Ở Việt
Nam, ngày lễ Vũ Lan trùng với ngày Địa quan xá tội, người dân đến
lễ để được giác ngộ, bỏ ác theo điều thiện. Đó là tín ngưỡng bản địa.
Ngoài ra
ở các chùa Việt Nam cũng còn có lễ Thiên quan tích phúc, được tổ
chức vào 15 tháng 1 âm lịch để cầu trời ban phúc lành, chăm lo cho cuộc
sống con người.
Lễ
Thủy quan giải ách được tổ chức vào 15 tháng 10 âm lịch để hi vọng lấy
nước rửa hết mọi tai ương trong cuộc sống.
Ba lễ
sau được gọi là lễ Tam nguyên (được tổ chức vào ngày rằm tháng 1, 7, 10).
Ngày rằm mỗi tháng là ngày trăng tròn, trăng sáng biểu hiện sự viên mãn,
gắn với ngày ra đời và ngày thành đạp của đức Phật. Nó cũng gắn với ngày
báo hiếu cha mẹ, ngày cưu mang các cô hồn của các tầng lớp chúng sinh nên
mang ý nghĩa thiêng liêng mầu nhiệm.
Các ngày
lễ Phật giáo được tổ chức trong chùa đều có những nghi thức tiến dâng, đi
đứng theo nhịp điệu, nâng thành nghệ thuật múa trang trọng, nhằm chuyển
tải Phật pháp, thắp sáng đuốc tuệ để sua đi những u tối trong con người
trên cõi thế gian. Trong lễ Phật, người ta chỉ dâng hương với nghi thức
lục cúng: hương, hoa, đăng (đèn nến), trà (nước chè), quả, thực (xôi,
oản), hoàn toàn chay, kể cả những lễ tam nguyên trong chùa.
Bên cạnh
các lễ trong năm phật tử còn có Mùa báo hiếu gọi là “Tứ ân”, có
nghĩa là đền đáp 4 ân nghĩa lớn. Trước hết là làm tròn chữ hiếu:
nuôi dưỡng cha mẹ, cung kính chăm nom, làm rạng rỡ cho gia đình. Sau đó là
kính trọng ông thầy đã giáo dục mình nên người, đã truyền nghề
nghiệp cho mình làm ăn sinh sống. Với người thầy lớn là Phật Thích Ca thì
phải làm theo lời dậy của người là diệt ác hành thiên. Ân thứ 3 phải báo
là yêu quê hương đất nước, ghi nhớ công ơn những người đã hy sinh
vì đất nước, phải ra sức làm cho đất nước càng ngày càng vẻ vang hơn. Điều
thứ 4 là báo ơn với đai chúng, phải yêu thương hết thảy mọi người,
cứu giúp mọi người đau khổ, kể cả các vong linh cô hồn.
Mùa
“Tứ ân” của Phật giáo thực sự là một nét cao quý của đạo đức làm
người, giúp cho người ngày càng tốt đẹp hơn và xã hội ngày càng văn minh
hơn.
Bên cạnh
những lễ hội thuần túy Phật giáo, như trên đã viết, Phật giáo khi truyền
vào Việt Nam đã kết hợp với tín ngưỡng bản địa nên đã nhanh chóng đi vào
lòng dân, một số tín ngưỡng này đã được “Phật hóa”. Vốn là một nước nông
nghiệp nên nước là yếu tố hàng đầu cho mùa màng, những nghi thức cầu mưa
đã được Phật hóa thành Phật Vân (Mây), Pháp Vũ (Mưa), Pháp Lôi (Sấm), Pháp
Điện (Chớp). Man Nương được tôn thành Phật Mẫu. Ngày Phật đản được xem là
ngày sinh của các bà Phật; được lễ ở chùa và mở hội làng. Người dân rước
kiệu rồi múc nước giếng, làm nghi thức cầu mưa khi hạn hán và cầu tạnh khi
mưa nhiều quá kết hợp với các trò dân gian như đánh vật, múa trống, múa
gậy, múa sư tử, đánh cờ người, đốt pháo bông… Ở các nơi gần sông nước có
tổ chức bơi trải, đua thuyền, thi thổi cơm các kiểu. Các chùa Tứ Pháp ở
Dâu, Thuận Thành, Hà Bắc hay ở Hải Hưng cũng đều tổ chức gần giống như
nhau.
Lễ hội
chùa cũng thường là hội làng, có những sinh hoạt văn nghệ, các làng quan
họ ở Hà Bắc tổ chức hát quan họ, các chùa ở vùng núi thường là dịp để chơi
núi, chơi hang như chùa Hương, chùa Thầy…
Ở Hà Nội
có hội chùa Nành (xã Dương Hà, huyện Gia Lâm) cũng là hội làng. Hội chùa
Nành tổ chức từ mồng 4 đến mồng 6 tháng 2 hằng năm. Mồng 4 đón sư sãi và
khách thập phương để lễ Phật, nghe giảng 10 điều răn giới trong kinh Phật.
Sáng mồng 5 lễ Phật ở chùa rồi rước kiệu Pháp Vân ra đặt tại bãi Cây Vông,
có rước nước từ chùa ra đấy, cũng rước ngựa từ đình làng ra bãi Cây Vông.
Ngày mông 6 rước cờ và cúng hương hoa từ nhà Tổ thờ Pháp Vân sang Tam Bảo,
có nghi thức múa đăng, lễ ngoạn mục. Trong khi ở chùa dâng lễ thì ở ngoài
tổ chức nhiều trò chơi như bơi thuyền, nấu cơm thi và nâng cây phan. Cây
phan là một bó chừng 60 cây tre để nguyên cả thân và ngọn, trên treo một
lá cờ đỏ, đặt trong một hố sâu chừng 1 mét. Trò được diễn ra như sau: mở
đầu đám rước ngựa và 36 nữ tướng diễu quanh cây phan một vòng, sau đó ông
tổng cán đánh 3 hồi 8 tiếng trống thì 20 trai đinh cầm gậy có buộc chạc ba
nhỏ ở đầu giơ lên reo hò rồi thọc vào nâng cây phan từ từ đứng thẳng, lá
cờ ở trên bay phấp phới, không ai được chạm tay vào. Dân chúng tin rằng
cuộc sống ấm no bình yên của cả làng trong năm phụ thuộc vào nghệ thuật
nâng cây phan. Vì vậy các trai làng thường phải tập luyện nâng cây phan
trước. Đằng sau các nghi lễ Phật giáo, các nghi thức khác cùng các trò
chơi đẫ thể hiện tín ngưỡng cầu mưa cầu nước, cầu phồn thực của cư dân với
nền nông nghiệp lúa nước ở đồng bằng sông Hồng.
CHƯƠNG IV^
KIẾN TRÚC CÁC
NGÔI CHÙA VIỆT NAM
^
Không
chỉ đẹp trong những ngày xuân ki búp lộc đâm chồi, khi hoa đào, hoa mai
đua nở, những ngôi chùa Việt Nam trong bốn mùa đều mang một vẻ đẹp kín đáo
thầm lặng, lắng động sâu trong tâm hồn người hướng về điều thiện. Người
lên chùa sẽ cảm nhận được vẻ đẹp trong sáng, sâu sắc hơn khi được hiểu
biết thêm về lịch sử, kiến trúc, xây dựng ngôi chùa và cuộc đời của những
con người được thể hiện qua những pho tượng với nghệ thuật điêu khắc, chạm
trổ kỳ diệu của những bàn tay Việt Nam.
Trên
khắp đất nước ta, gần như ở nơi nào cũng có chùa, to hay nhỏ. Có lẽ ngôi
chùa cổ nhất nước ta được xây dựng từ đầu thế kỷ thứ 2 ở Trung tâm Phật
giáo Luy Lâu (Thuận Thành, Hà Bắc) thường được gọi là chùa Dâu. Trong
thờikì Đinh, Lê, Lý, Trần, chùa được xây dựng ở khắp nơi. Sách Đại Việt sử
ký toàn thư đã ghi lại: “Chỗ nào có người ở tất cả chùa Phật, bỏ rồi
lại dựng lai, đổ nát rồi lại sửa lại… Đạo Phật thinh rất dễ mà được rất
mực tôn sùng” (Tập II, tr.161). Chùa được xây dựng nhiều dưới thời
Đinh, Lê, Lý, Trần như trên dã nói nhưng suốt trong các thế kỷ sau, chùa
vẫn được tiếp tục xây dựng. Chùa được xây dựng gần đây nhất, có thể là
chùa Vĩnh Nghiêm, được xây dựng từ năm 1964 đến năm 1971 ở quận 3 thành
phố Hồ Chí Minh. Mật độ chùa chiền và mức độ cổ kính nhất vẫn là ở trung
du và đồng bằng Bắc Bộ. Trải qua nhiều thế kỷ tồn tại, qua nhiều lần trùng
tu, dáng vẻ bên ngoài của ngôi chùa đã thay đổi nhiều, nội thất và ngay cả
đến các pho tượng cũng không còn nguyên thủy, chỉ còn những vật thể bằng
đá hay đồng mới không bị huỷ hoại mà thôi. Ngày nay chỉ còn rất ít chùa
mang phong cách kiến trúc và điêu khắc thời Lý, Trần, Lê phần lớn được tu
sửa dưới thời Nguyễn và gần đây đầu thế kỷ XX, nên đã mang phong cách kiến
trúc thời Nguyễn. Chùa ở Việt Nam không cao to, đồ sộ, không lộng lẫy như
ở một số nước xung quanh. Điều đó có thể hiểu được, trước hết là do những
điều kiện khách quan của thời tiết khí hậu khắc nghiệt, mưa bão ngập lụt,
không khí luôn ẩm thấp, mà nhân dân lại chỉ dùng những vật liệu xây dựng
truyền thống như gỗ, gạch ngói. Các chùa xây dựng ở đồng bằng không gần
các núi đá nên đã không sử dụng thứ vật liệu này, hơn nữa nhân công trước
đây ở các làng mạc không có nhiều. Thường thường mỗi làng xây một chùa
riêng, ít có chùa to chung cho cả một vùng, vì vậy không thể huy động một
số nhân công đông đúc được. Các vật liệu vĩnh cửu trong xây dựng như sắt
thép, xi măng chưa được sử dụng (kể cả các cung điện vua chúa). Các chùa
còn lại đều được xây dựng dưới thời trong kiến nhi Nho giáo đã có địa vị
chính thống nên việc xây dựng có thể đã không được sự khuyến khích của các
quan lại, không được phép huy động nhiều tài lực, vật lực của cả một vùng
rộng, lại phải tuân theo những hạn chế của luật lệ như không được xây to,
cao hơn những dinh thự của quan lại và cung điện của vua chúa. Một lý do
nữa có thể là do các nhà sư khi đứng ra gây dựng, do thấm nhuần giáo lý
nhà Phật: mỗi chúng sinh đều bình đẳng, Phật không muốn đứng trên các sinh
linh, cùng với mọi người chia sẻ những đau khổ trên thế gian này.
Vẻ đẹp
của ngôi chùa Việt Nam trước hết ở chỗ hài hòa với cảnh quan môi trường
xung quanh. Hầu hết các chùa ở vùng trung du đều được xây trên các triền
núi hoặc lấy núi làm chỗ dựa. Chùa Thầy được xây dựng trên núi Thầy, chùa
Tây Phương được xây dựng trên núi Câu Lởu, chùa Phật Tích được xây dựng
trên triền núi Lạn Kha, chùa Dạm trên núi Dạm, chùa Quỳnh Lâm trên núi
Tiên Du. Chính cảnh quan của những ngôi chùa vung Kinh Bắc trước đây đã
được dùng làm nền phong cảnh cho những cuốn tiểu thuyết như “Hồn bướm mơ
tiên”, “Tiêu Sơn tráng sĩ”… đã làm rung động tâm hồn yêu thiên nhiên của
những người đọc. Chùa Hương Tích là một quần thể gồm nhiều chùa đã được
xây dựng trên dãy núi Hương Sơn thuộc huyện Mỹ Đức, Hà Tây, là một sự kết
hợp tuyệt vời giữa chùa và cảnh quan, đã góp phần nâng cao ý nghĩa thiêng
liêng của chốn thờ Phật và gợi lên trong tâm hồn người vãng cảnh chùa một
cảm giác tôn kính ngưỡng mộ và tin tưởng. Chùa Côn Sơn ở Chí Linh, Hải
Hưng cũng là một danh lam thắng cảnh nổi tiếng; trên dọc đường dài từ chân
núi đá đi lên đã có tới hơn 20 kiến trúc hòa hợp với thiên nhiên, có núi
cao, hồ rộng, suốt trong, có thông reo vi vu quanh năm, có thảm rêu mịn
mượt, có ghế đá tự nhiên, có bàn cờ tiên huyền thoại…
Nhiều
chùa khác nữa chùa Linh Xứng trên núi Ngưỡng Sơn, chùa Hướng Nghiêm trên
núi Càn Ni ở Thanh Hóa, chùa Hương Tích trên núi Hồng Lĩnh ở Hà Tĩnh, chùa
Bà Đen trên núi Bà Đen ở Tây Ninh… Chùa và núi hình như không thể tách
rời. Có lẽ vì vậy nên chúng ta thường nói: “Lên chùa”.
Một điều
nữa cũng dễ nhận thấy là các chùa Việt Nam thường gắn bó với sông nước, hồ
ao. Ở vùng đồng bằng, không có núi, chùa thường được xây dựng trên một gò
cao ở cạnh làng, cách nhà dân một chút để phân biệt cõi Phật với cõi trần,
bên cạnh chùa thường là những đầm sen, hồ ao hoặc sông đào. Chùa Đọi được
xây dựng trên núi Đọi ở Duy Tiên, Nam Hà có “mặt chùa trông ra sông Kinh,
gió lặng, mặt sông như lựa biếc trải ra. Lưng chùa quay về núi Điệp, mưa
tan, dáng núi như gấm xanh thêm sáng. Bên hữu chùm lên bình nguyên, trông
tới lũy xưa Càn Hưng, bên tả men theo sông quanh hàn thủy để ra khỏi…”
(Thượng thư Nguyễn Công Bật) Trên đất Thăng Long khi xưa, chùa Hòa Nhai
được xây dựng bên bờ sông Hồng, cạnh bến Đông Bộ Đầu, chùa Trấn Quốc cũng
ở bãi ven sông Hồng, sau được chuyển đến trên một hòn đảo nhỏ của Hồ Tây,
bốn bề nước bao bọc, quanh năm sóng vỗ. Chùa Một Cột ở tây bắc kinh thành,
không gần sông nước, cũng được xây trên ao thiêng Linh Chiểu. Tháp Báo
Thiên được xây trên một gò cao bên hồ Lục Thủy (Hoàn Kiếm)…
Núi non,
sông nước và chùa chiền như không thể tách rời, cảnh “sơn thủy hữu tình”
tôn giá trị ngôi chùa và gắn bó với chùa như hình với bóng. Phải chăng
quan niệm thẩm mỹ của người Việt Nam là cảnh quan không trách rời bàn tay
con người, con người điểm xuyết làm tôn vẻ đẹp của thiên nhiên; vẻ đẹp sẵn
có của thiên nhiên làm tôn thêm ý nghĩa của kiến trúc. Đã mấy ngàn năm,
cảnh chùa in sâu trong tâm trí mỗi người Việt Nam và gợi lên biết bao
nhiêu kỷ niệm ấm cúng thân thương của quê hương non sông gấm vóc!
Trước
khi vào chùa lễ Phật, khách thường phải qua cổng Tam quan.
Theo
triết li của đạo Phật, Tam quan còn có nghĩa là ba điều nhìn, ba điều xem,
ba điều quan sát. Ba điều ấy như sau:
- Không
quan là xét bất kì vật gì đừng có chép vật đó vào thực tướng (hình dạng)
là thực tính (tính chất). Vật là nó, không sinh, không diệt, không hoại,
không hết… vật tức không.
- Đả
quan là khi xem xét một vật gì, phải xét đủ hết thảy các phép trong sự
biến hóa vô thường, tức là đủ cả.
- Trung
quan là quan sát và xem xét không phải là không, cũng không phải đả, trung
tính ở giữa, có cả không và đả. Đó là chỗ chính yếu của con đường vào cửa
Phật (con đường trung đạo), do đó người ta xây cổng vào chùa có ba cửa là
để hiểu thị ba cái lẽ chân thực.
Tam quan
có thể chỉ gồm 2 cột gạch ở giữa, xây to hơn và hai cột 2 bên xây nhỏ hơn,
tạo nên 3 lối đi vào chùa, lối giữa to, hai lối hai bên nhỏ. Bên trên tam
quan có thể có mái nhỏ, phía trước ở những hàng cột, thường có những đối
câu đối viết về cảnh chùa. Ở những chùa lớn, tam quan là một công trình
kiến trúc nghệ thuật. Khách bước qua tam quan vào đến đất chùa, coi tục và
cõi trần như đã được phân chia. Trước khi vào đến khu vực chùa, khách
thường phải qua một khoảng sân rộng hoặc ao sen. Sân trồng những cây như
thông, hoàng lan, muỗm…
Bố cục
mặt bằng của các ngôi chùa thường lấy sự cân xứng đăng đối làm phương thức
chủ đạo. Các chùa thời Lý thường lấy sự đăng đối quy tụ về một điểm ở
giữa, trong một quần thể kiến trúc, có một kiến trúc lấy làm trọng tâm,
các kiến trúc khác quay quanh điểm giữa. Ở chùa Đọi, tháp Sùng Thiện Diên
Linh ở giữa, hai bên tả hữu là chùa, phía trước là đài. Chùa Một Cột là
một điển hình của lối bố cục này, chùa ở giữa ao ngoài và ao trong, như
một đóa sen mọc nổi lên giữa hồ nước. Lối bố cục quy tụ về một điểm trung
tâm có tác dụng phân biệt được kiến trúc chính và phụ rõ ngay của quần
thể. Các chùa được xây dựng từ thời Trần về sau thường được bố cục đăng
đối theo một trục dải tử cổng tam quan vào đến nhà Tố phía sau cùng. Quân
thể kiến trúc được xây dựng trên một mặt bằng nếu là trên đỉnh núi thấp
hay đồi, gô; nếu là xây ở triền núi thì thường được xây trên hai hay ba
mặt bằng. Các nhà thường được xây dàn hàng ngang một dãy (dân quen gọi là
chữ nhất (-), hai bàng ngang (dân gọi là chữ nhị (=) có ba hàng nang (dân
gọi là chữ tam (º). Chùa Giác
Lâm, chùa Tây Phương được xây theo kiểu chữ tam. Có chùa được bố cục theo
kiểu chữ đinh (J) (như chữ T), theo kiểu chữ công (I) (như chữ H nằm
ngang), hoặc kiểu “nội công ngoại quốc” (I) (bên trong là chữ H nằm ngang
và bên ngoài gồm các nhà bao bọc tạo nên một hình vuông hay chữ nhật).
Chùa Láng ở Hà Nội và chùa Phật Tích ở Hà Bắc được xây theo kiểu “nội công
ngoại quốc”. Các chùa ở Nam Bộ thường được xây theo kiểu chữ nhất (gồm một
tòa nhà dàn hàng ngang). Các dãy nhà gồm một số gian, thường theo số lẻ,
gồm 3, 5, 7, 9 gian… tùy theo sự đóng góp tiền của và thiết kế, nhưng con
số gian tổng cộng có thể là số chẵn gồm 100 gian như cùa Trăm Gian ở Hà
Tây, Hà Bắc. Chùa Keo ở Thái Bình gồm 21 tòa nhà, gồm 154 gian (theo bia
năm 1632). Chùa Báo Ân được xây dựng vào năm 1842 ở phía đông hồ Hoàn
Kiếm, trên khu đất rộng gần 100 mẫu, gồm 180 gian, đã bị thực dân Pháp phá
hủy để xây các công sở, nay chỉ còn lại tháp Hòa Phong bên bờ hồ Hoàn
Kiếm. Một điều cũng cần lưu ý là các chùa Việt Nam đều quay về hướng nam,
hoặc tây không biết có phải là theo một quy ước nào đó không nhưng với ý
nghĩa thực dụng thì hướng này rất phù hợp với khí hậu nhiệt đới của nước
ta. Các chùa cổ ở đồng bằng Bắc Bộ thường được xây dựng với những bộ cột
kèo bằng gõ lim chịu lực, các cột gỗ được bào tròn hình trụ, để mộc hoặc
sơn. Tường bao quanh thường được xây kín, chỉ để hở những cửa thông khí ở
hai bên có hình chữ thọ tròng hoặc hình tượng sắc không không (bán âm, bán
dương). Bộ vì xà có thể có côn “là đề”, đầu bẩy chạm rồng như chùa Bối
Khê, hoặc chạm khắc tứ linh, hoa lá, mây nước như chùa Tây Phương. Mặt
trước của nhà tiền đường thường là cửa bức bàn cho cả 3 gian hay 5 gian.
Mái chùa được lợp bằng ngói ta (ngói lá đề), mái có thể được cấu thành
theo kiểu chồng diêm hai tầng, các đầu đao cong vút kết hợp điêu khắc
trang trí trồng phượng rất đẹp mắt như chùa Tây Phương. Kiến trúc chùa đặc
sắc nhất là chùa Một Cột, toàn bộ ngôi chùa hình vuông mỗi cạnh dài 3 mét,
được dựng trên cột đá hình tròn đường kính 1,20m.
Các chùa
Việt Nam đều có những trang trí trên các bộ phận bằng gỗ rất đặc sắc.
Trước hết bản thân những hình dáng góc cạnh, hình khối lồi lõm của các bộ
vì kèo là những trang trí khối đẹp mắt. Ở đây những người thợ, nghệ nhân
xây dựng chùa đã chạm trổ các phù điêu, hoa văn, trang vẽ để điểm tô chi
kiến trúc, nâng công trình lên mức nghệ thuật. Ở một số chùa thời Trần,
các ván lưng giữa khung giá chiêng đều được chạm hình quầng lửa, hai mặt
thường được chạm đôi rồng cuốn khúc từ trên xuống dưới, uốn vào giữa rồi
ngẩng đầu lên, chầu đỡ viên ngọn sáng. Ở các trụ người ta chạm mỗi mặt một
tiên nữ uốn người giơ tay đỡ bệ sen phía trên, phía dưới là sông nước dập
dờn. Các ván nong ở chùa Thái Lạc đời Trần được chạm nhiều cảnh về đề tài
tiên nữ, người cưỡi phượng, người thổi tiêu, người kéo nhị, người thổi
sáo, người đánh đàn. Có tiên nữ đầu người mình chim, đang giơ tay dâng
hoa. Đó là những tác phẩm nghệ thuật trên gỗ tuyệt đẹp. Có chùa còn trang
trí trên cả cánh cửa như chùa Phổ Minh ở Nam Hà. Bộ cánh cửa từ đời Trần
còn lại gồm bốn tấm bằng gỗ lim, mỗi tấm cao 1,92m, rộng 0,76m được lắp ở
nhà bái đường vào lối đi chính giữa chùa. Cánh cửa được chạm trỗ những
hình rồng cuốn khúc, những hoa văn sông nước và hoa lá. Các hoa văn được
bố cục cân xứng, lúc đóng cửa lại nên một cảnh trọn vẹn sinh động, gợi cho
khách hàng hương những cảm giác trang nghiêm trước lúc bước vào chiêm
ngưỡng Phật tổ.
Các ngôi
chùa đều được thiết kế và xây dựng do các nhà sư trụ trì ở chùa đó đề ra
và chỉ huy, mỗi ngôi chùa được xây dựng vào thời nào đều mang theo dấu ấn
rõ rệt của thời kì đó. Các ngôi chùa thời Lý phần lớn đều có quy mô bề thế
hơn các đời sau do Phật giáo dưới thời Lý rất thịnh, được coi là quốc
giáo. Triều đình đã bỏ tiền ra để xây chùa, Lý Thái Tổ đã “phát tiền kho
hai vạn quân thuê thợ làm chùa Sở ở phủ Thiên Đức “Hoàng thái hậu Ỷ Lan đã
đứng ra xây dựng 100 ngôi chùa. Năm 1031, triều đình đã phát tiền kho làm
950 chùa, quán ở các nơi. Năm 1041 phát 7560 cân đồng để đúc tượng và
chuông… Phần lớn những chùa xây thời Lý ngày nay đều đã bị đổ nát, chỉ còn
lại là những di tích. Kiến trúc các ngôi chùa cũng phụ thuộc các nhà sư
chịu ảnh hưởng của các nền văn hóa. Phần lớn những ngôi chùa ở miền Bắc
trước đây chịu ảnh hưởng phần nào của kiến trúc Trung Quốc từ thời Bắc
thuộc. Nhiều chùa ở miền Nam chịu ảnh hưởng của nghệ thuật kiến trúc chùa
chiền Ấn Độ. Chùa Xá Tôn của đồng bào Khơ Me ở An Giang có chính điện là
một góc nhọn, hai mái cong gợi hình ảnh uốn cong của rắn thần Naga; mái
chùa được dựng cao dần theo tam cấp, lợp ngói xanh, đỏ, vàng rực rỡ. Các
ngôi chùa được xây từ sau 1945, bên cạnh dáng dấp kiến trúc cổ truyền còn
mang phong cách hiện đại, nhất là các chùa xây ở các thành phố như chùa
Vĩnh Nghiêm. (Thành phố Hồ Chí Minh).
Quần thể
kiến trúc chùa ngoài việc bao gồm những dẫy nhà, còn có những kiến trúc có
giá trị nghệ thuật cao như các tháp, chuông và gác chuông, lầu khánh và
các bia cùng nhà bia. Các tháp được dựng lên cũng là nơi thờ Phật, có tính
chất kỷ niệm như tháp Phật Tích (Hà Bắc), tháp Phổ Minh (Nam Hà) tháp Bình
Sơn (Vĩnh Phú), tháp Bảo Thắng (Quảng Ninh) v.v… hoặc để làm mộ cho các sự
tăng đã viên tịch như tháp Trần Nhân Tông, Pháp Loa, Huyền Quang ở núi Yên
Tử và một số chùa ở Hà Nội như chùa Liên Phái, chùa Hòe Nhai… Số tháp ở
mỗi chùa cũng tùy theo các đời thiền sư đã trụ trì ở đây: chùa Liên Phái
hiện có 9 tháp, chùa Phật Tích có một vườn tháp gồm 32 ngôi xây bằng gạch
và đá; trước đây có một tháp cao vào khoảng 42 mét, châm móng Bảo Nghiêm,
xây bằng đá xanh, gồm 5 tầng, cao trên 13 m. Tháp chùa Phổ Minh (Nam Hà)
được xây dựng từ thời Trần, hiện nay còn tương đối nguyên vẹn, gồm 14
tầng, cao 21,2m. Mặt bằng đáy tháp hình vuông, mỗi cạnh dài 5,21m, tầng
dưới cũng cao 2,2m, có cửa ra vào để thắp hương; các tầng trên nhỏ dần, có
cửa bốn phía theo lối cuốn tò vò. Mái của các tầng được uốn cong, kết thúc
bằng một chỏm nhọn hình bầy rượu có nhiều cạnh. Tháp Bình Sơn chùa Vĩnh
Khánh (Lập Thạch, Vĩnh Phú) cũng được xây dựng dưới thời Trần ở ngay giữa
sân chùa. Mặt đáy tháp hình vuông, mỗi cạnh dài 4,45m, tháp cao 14 tầng,
được xây bằng gạch nung, có đánh dấu từng tầng để lúc lắp được dễ dàng,
gồm một lớp gạch mỏng ở trong để xây trụ và gạch ngoài để xây ốp. Tháp
Bình Sơn là niềm tự hào của kiến trúc chùa cổ Việt Nam, với chất liệu sẵn
có là đất nung nhưng với kỹ thuật khéo léo, chạm khắc công phu, đã đứng
vững trong hơn 600 năm nay trong điều kiện khí hậu nhiệt đới khắc nghiệt ở
nước ta. Tháp Phước Duyên ở chùa Thiên Mụ được xây dựng dưới thời Nguyễn
có đáy hình bát giác, cao 7 tầng, (21, 24 m), bên trong tháp, xưa đặt 7
tượng Phật bằng vàng ở 7 tầng để thờ (nay không còn). Tháp Phước Duyên
được coi như một biểu tượng của cố đô Huế. Chùa Cổ Lễ (Nam Hà) có tháp Cửu
Phẩm Liên Hoa gồm một chân đế và 12 tầng, cao tới 32m, được xây vào khoảng
những năm 30 đầu thế kỷ XX, là công trình kiến trúc độc đáo hiếm thấy.
Các tháp
gắn liền với chùa, cao vút lên như một biểu tượng của quần thể kiến trúc
chùa, đánh dấu cho khách hành hương từ xa về dễ nhận biết, gợi lên cho dân
chúng quanh vùng sự tồn tại của đức Phật tổ trên thế gian, luôn vẫy gọi
chúng sinh hãy làm điều từ bi, bác ái. Cùng với tháp, chùa nào cũng có
chuông to hay nhỏ và gác chuông.
Chùa Một
Cột trước đây có chuông còn được gọi là “Giác thế chung” (chuông thức tỉnh
người đời), do vua Lý Nhân Tông cho đúc năm 1080, nhưng vì quá nặng nên
không treo được, phải để ở ruộng “quy điền”, đã bị quân Minh xâm lược phá
để đúc súng đầu thế kỷ XV. Chuông chùa Thiên Mụ ở Huế có tên là “Đại hồng
chung”, cao 2,5m, đường kính miệng rộng 1,4m, nặng 2052 kg, là một tác
phẩm điêu khắc tiêu biểu cho kỹ thuật đúc đồng Việt Nam thế kỷ XVIII, chùa
Vĩnh Nghiêm (thành phố Hồ Chí Minh) cũng có một quả chuông lớn, do giáo
hội Phật giáo Nhật Bản hiến cúng. Gác chuông chùa Keo ở Thái Bình là một
kiến trúc nghệ thuật có giá trị, gác chuông được xây trên một mặt bằng
hình vuông, mỗi cạnh 10 m, trên nền cao 0,50 m, có kết cấu cột và kèo bằng
gỗ lim, gồm 3 tầng với 3 mái lầu, cong 4 góc, tạo nên một cảm giác cổ
kính. Gác chuông có chiều cao là 11,60 m. Gác chuông chùa Xá Lợi (quận 3
thành phố Hồ Chí Minh) cao 7 tầng, được xây dựng vào năm 1958.
Các bia
ở chùa tuy ít liên quan đến việc thờ Phật nhưng lại giúp ích cho người đời
sau rất nhiều trong việc tìm hiểu ngôi chùa. Bia ở chùa thường kể về lai
lịch của chùa qua các lần khởi công xây dựng và trùng tu, ca ngợi lẽ huyền
diệu của đạo Phật và cảnh đẹp của chùa. Bia cũng ghi tên những nam nữ tín
thí thạp phương đã góp phần công đức vào việc tu tạo chùa. Chùa Trần Quốc
có 14 bia, chùa Láng có 15 bia, chùa Hòe Nhai có 47 bia, chùa Một Cột có
26 bia… Chùa nào cũng có bia dựng từ lâu hoặc mới dựng. Bia chùa Trấn Quốc
dựng năm 1639 cho ta biết chùa được dời vào phía trong đê, “chiếm gò đất
Kim Ngư, nơi có phong cảnh đẹp” vào năm Hoằng Định thứ 16 (1615). Cảnh
chùa: “Phía bắc có sông Nhi, phía nam giáp đế thành. Nơi cảnh trí thiêng
liêng sinh ra người hào kiệt. Thật là cõi tiến trên thế giới, danh thắng
đất kinh kì, làm vẻ vang cho hiện tại, lưu truyền tới ngày sau”. Bia tháp
Sùng Thiện Diên Linh dựng năm 1105 ở chùa Đọi cho ta biết việc tu tạo chùa
Một Cột ở Thăng Long: “Mở chùa Diên Hựu ở tại vườn Tây. Dấu vết theo quy
mô thuở trước, lo toan do ý thánh ngày này. Đào ao thơm Linh Chiểu. Giữa
ao trồi lên một cột đá. Trên cột có một đóa hoa sen nghìn cánh xòe ra.
Trên hoa dựng ngôi đền đỏ thắm trong đền đặt pho tượng sắc vàng. Ngôầi có
hành lang bao bọc. Ngoài hành lại đào tạo Bích Trí, bắc cầu cong để đi
lại. Ở sân trước cầu, hai bên tả hữu xây tháp bảo Lưu Li…” Ngoài ra, bia
chũng ghi lại việc xây tháp Sùng Thiện Diên Linh và nhiều sự kiện lịch sử,
văn hóa đời Lý, trong đó có ghi cả trò chơi rối nước… Bia chùa Láng cho ta
biết cảnh đẹp của chùa: “Thật là danh lam bậc nhất, thế gian không chùa
nao sánh kịp. Khi tốt Phượng Thành bên hữu tỏa khắp, dòng sông Tô Lịch bên
tả lượn vòng Nhị Hà nghìn dặm quanh kinh đô uốn khúc, như rồng xanh lớp
lớp chầu về, Tản Viên dãy núi đầy khi đẹp hướng vào như hổ trắng đàn đàn
đến họp”… Bia cũng cho biết nhà sư Từ Đạo Hành đã tu ở chùa này và kiếp
sau đã hóa thân thành Lý Thần Tông. Bia chùa Hòe Nhai (Hồng Phúc Tự) cho
ta biết các vị sư tổ phái Tào Động đã tu ở chùa này tính đến năm dựng bia
(1932) là đời thứ 47. Bia chùa Linh Xứng ở núi Ngưỡng Sơn Thanh Hóa cho ta
biết chùa do Lý Thường Kiệt xây dựng, bia ca ngợi công đức của Lý Thường
Kiệt đã có công đánh Tống và dẹp Chiêm Thành, được vua nhận làm em nuôi.
Bia chùa Quốc Ân, xã An Cựu, huyện Hương Thủy (Thừa Thiên - Huế) do vua Lê
Bảo Thái soạn dựng năm 1729, ca ngợi thiền sư Hoán Bích. Bia chùa Thiên Mụ
ở xã An Ninh huyện Hương Trà do vua Thiệu Trị soạn, dựng năm 1846 ghi rõ
lý do việc dựng tháp Phước Duyên là do trời làm hạn hán khiến dân lo lắng
việc nông tang. Vua cho dựng tháp, các hoàng tử lên tháp thắp hương, đọc
kinh cầu mưa, lập tức được ứng nghiệm. Bia còn khắc 6 bài thơ vịnh cảnh
chùa Thiên Mụ. Bia chùa Phước Lâm (Quảng Nam - Đà Nẵng) dựng năm 1869 ghi
tiểu sử hòa thượng Minh Giác, sau 10 năm tu hành đã trở về tuyển binh đi
đánh giặc Sơn Man, lập được nhiều công, được lên làm chỉ huy, rồi sau đó
lại đi tu, đã trùng tu lại chùa Phước Lâm thành chốn Thiên Lâm tráng lệ.
Bia chùa Đại Giác thị xã Biên Hòa (Đồng Nai) cho biết môn đệ thứ 40 phái
Lâm Tế là thiền sư Hoàng Tín đã trụ trì ở đây. Có bia chùa cho ta biết sự
kiện văn hóa rất quan trọng như bia chùa Báo Ân ở xã Tháp Miếu đề niên
hiệu Trị Bình, Long Ứng thứ 5 cho biết đến đời Lý Cao Tông (1176 - 1210)
chữ Nôm đã được viết theo quy cách đầy đủ mà các đời sau vẫn dùng theo.
Bia ở chùa thực sự là những trang sử viết bằng đá vậy.
CHƯƠNG V^
CÁC PHO
TƯỢNG TRONG CHÙA VIỆT NAM
^
Chùa thờ
Phật, do đó chùa này cũng có tượng Phật, Chùa ít nhất cũng có khoảng 10
tượng, chùa nhiều có hàng trăm. Chùa Giác Lâm, quận Tân Bình, thành phố Hồ
Chí Minh có tới 113 pho tượng, chùa Trăm Gian (Quảng Nghiêm Tự) huyện Hoài
Đức, tỉnh Hà Tây có tới 153 pho tượng, chùa Mýa (Sùng Nghiêm Tự) huyện Ba
Vì, tỉnh Hà Tây có tới 287 pho tượng lớn, nhỏ. Theo kinh Phật thì Phật và
số đồ đệ có hạn, sở dĩ nhiều tượng trong một chùa như vậy là do trong các
dịp lễ, trùng tu, tôn tạo, các phật tử lại cúng thêm tượng, nhà chùa cứ
bày biện thêm những pho tượng mới cúng đó, chứ không quan tâm đến nhiều
pho tượng chỉ mang một nội dung và hình thức tạo tác cũng chỉ là những mẫu
tương tự.
Tượng
Phật thường được tạc bằng gỗ mít, mầu vàng, thớ nhỏ và mịm mềm, dễ đúc
đẽo, không bị cong vênh. Tượng to thường được tạc từng bộ phận rồi được
phép với nhau nhờ các mộng và sơn ta, sau đó người thợ lấy đất sét trắng
trộn với sơn ta sống để hàn bịt những chỗ nối, nứt và khuyết. Người thợ
cũng phủ lên toàn bộ bề mặt pho tượng thứ hỗn hợp này, rồi lấy bọt biển và
mai mực mài cho hết những chỗ xù xì. Họ làm như vậy nhiều lần để tạo dáng,
nét cho pho tượng, cho đến lúc nào ưng ý thì phủ sơn then lên nhiều nước,
nước trước để khô mới phủ nước sau, sau mỗi nước sơn lại mài bằng mai mực
cho thật nhẵn. Lần cuối cùng, người thợ phủ lên một lớp vàng lá dát rất
mỏng và sau đó quét một lớp sơn quang dầu bên ngoài. Những tượng được tạc
và sơn kỹ nếu không bị mưa nắng hủy hoại có thể tồn tại mấy trăm năm.
Cũng có
chùa có tượng được tạc bằng đá. Tượng tác bằng đá có giấ trị tồn tại vĩnh
cửu, đòi hỏi nhiều công phu từ khi chọn khối đá đến những đường nét đục.
Tượng đá khó trang trí và cũng lại dễ bị vỡ. Các chùa ở Việt Nam ít có
tượng đá. Chùa Phật Tích, huyện Tiên Sơn, tỉnh Hà Bắc có tượng A Di Đà
được tạc bằng đá là một tác phẩm nghệ thuật quý hiếm ở nước ta. Trong vài
chùa ở miền Bắc cũng có tượng nhục thân. Thượng nhục thân là tượng bằng
người thật. Người tu hành sau nhiều năm tu luyện thấy đã giác ngộ đạt tới
cõi KHÔNG, ngồi tụng kinh, niệm Phật hàng tháng trời cho đến khi “hóa”,
lúc đó da thịt đã biến hết, chỉ còn bộ xương đó dùng làm cốt và phủ ra bên
ngoài những lớp bột và sơn cho giống hình dáng của nhà sư lúc còn sống. Ở
Việt Nam tại chùa Phật Tích, Hà Bác, có tượng thiền sư Chuyết Chuyết, chùa
Pháp Vũ tỉnh Hà Tây có tượng nhục thân hai thiền sư Vũ Khắc Trường và Vũ
Khắc Minh.
Tượng
Phật cũng được đúc bằng đồng hay vàng. Các sách sử còn ghi lại vào năm
1036 vua Lý Thái Tông làm lễ khánh thành tượng Phật Đại Nguyên vừa đúc
xong bằng đồng, năm 1041 cho đúc tượng Phật Di Lặc bằng đồng nặng 7.560
cân (cân ta) đặt tại Viện Thiên Phúc. Năm 1057 đúc 2 tượng Phạm Thiên và
Đế Thích bằng vàng để thờ ở 2 chùa Thiên Phúc và Thiên Thọ. Năm 1134 khánh
thành ba tượng Tam Tôn bằng vàng. Đời Trần vào năm 1329 nhà sư Pháp Loa đã
cho đúc được 1.300 tượng Phật lớn nhỏi bằng đồng. Năm 1324 từ đồ Văn Huệ
Vương và công chúa Thượng Trân đã cúng tơi 900 lạng vàng để đúc tượng Phật
Di Lặc. Qua đó ta thấy việc đúc tượng Phật bằng đồng (có pho tượng nặng
tới 7560 cân ta) ngay từ thế kỷ 11, 12 đã đạt kỹ thuật khá cao. Hầu hết
những pho tượng Phật bằng đồng này đã bị giặc Minh cướp đem về nước cuối
thế kỷ 14. Hiện nay ở chùa Ngũ Xá, quận Ba Đình, Hà Nội có pho tượng Phật
A Di Đà bằng đồng, nặng 10.000 kg, cao tới 3,95m, bệ là tòa sen gồm 96
cánh đúc hết 16 tạ đồng.
Vào các
thế kỷ sau, có thể do khan hiếm đồngv à cả gỗ mít để tạo tác các pho tượng
Phật to nên các nghệ nhân đã dùng đất sét để làm. Các chùa như chùa Giám,
chùa Kim Liên, chùa Tây Phương, chùa Mýa, chùa Dâu, chùa Sủi, chùa Trăm
Gian… đều có khá nhiều tượng bằng đất sét. Đất sét được trộn với nước vôi,
nhựa cây, mật, mùn cưa, giấy bồi, vỏ trấu rễ si hoặc sợi lá cây dứa lại. Ở
chùa Mýa, mỗi pho tượng nặng tới 4 tấn, nguyên liệu gỗ mít không đủ để
thực hiện. Tượng đất sét phải có một bộ khung bằng tre, bên ngoài được phủ
dần các lớp đất, sau cùng bả sơn nhiều lần lên bề mặt, sau đó được thếp
bạc hay vàng rồi quang dầu. Tượng Phật bằng đất sét không chịu được mưa
nắng ngật lụt.
TƯỢNG BÀY Ở NHÀ
TIỀN ĐƯỜNG^
Bước
chân vào nhà tiền đường (còn gọi là bái đường), ở hai gian bên cạnh, chúng
gặp ngay hai tượng Hộ Pháp, một bên là ông Thiện (Thiện Hữu) và một bên là
Ông Ác (Ác Hữu). Hai tượng Hộ Pháp thường được đắp to, bằng dất, vôi trộn
bản, có khi liền vào tường, được tô vẽ màu sắc sỡ. Tượng Hộ Pháp cầm khí
giới trong tay, mặc áo giáp, đội mũ trụ, có dáng võ tướng uy nghi lầm
liệt. Hộ Pháp là những thần hộ trì canh gác cửa Phật và bảo vệ Phật pháp.
Tượng Thiện Hữu được đặt ở bên phải còn tượng Ác Hữu được đặt ở bên trái
của nhà tiền đường. Trong nhà tiền đường, bên phải của tượng Thiện Hữu còn
có bàn thờ và tượng thần Thổ Địa để coi sóc giữ gìn đất đai thuộc khu vực
nhà chùa. Bên trái tượng Ác Hữu có bàn thờ và tượng Giám Chai là thần
trông coi các lễ vật mà phật tử đâng lên cùng trông coi việc nấu nướng ăn
uống của các nhà tu hành.
Cũng có
chùa, ở vị trí tượng Thổ Địa người ta đặt tượng Đức Ông cùng làm nhiệm vụ
bảo vệ tài sản cho chùa. Đối xứng với tượng Đức Ông là tượng Thánh Tăng.
Hai bên
của nhà tiền đường còn có động Thập Điện Diêm Vương hoặc tượng 10 vị vua
cai quản dưới âm phủ. Theo quan niệm của nhà Phật người chết xuống dưới âm
phủ cứ 7 ngày phải qua một cửa điện âm ti để cho một Minh Vương xét hỏi
những việc thiện, ác đã làm khi sống trên trần thế. Mười vị Diêm Vương
cùng các phán quan và lũ quỷ sứ đã dùng nhiều hình phạt tàn khốc để trừng
trị những người đã gây tội ác, Mười điện Diêm Vương là:
1. Trần
Quảng Vương coi điện thứ nhất, tuần 7 ngày thứ nhất.
2. Sở
Giang Vương coi diện thứ hai, tuần 7 ngày thứ hai.
3. Tống
Đế Vương coi điện thứ ba, tuần 7 ngày thứ ba.
4. Ngũ
Quan Vương coi điện thứ tư, tuần 7 ngày thứ tư.
5. Diêm
La Vương coi điện thứ năm, tuần 7 ngày thứ năm.
6. Biến
Thành Vương coi điện thứ sáu, tuần 7 ngày thứ sáu.
7. Thái
Sơn Vương coi điện thứ bảy, tuần 7 ngày thứ bảy.
8. Bình
Đẳng Vương coi điện thứ tám, tuần 7 ngày thứ tám.
9. Đô
Thị Vương coi điện thứ chín, tuần giỗ đầu.
10. Ngũ
Đạo Chuyển Luân Vương coi điện thứ 10, tuần giỗ hết.
Đến tầng
thứ 10 các tội nhân được Mạnh Bà cho uống thuốc lú để quên quá khứ và cho
hóa kiếp thành súc vật, cây cỏ hay thành người tùy, theo lúc ở trên trần
làm nhiều hay ít điều ác.
Cũng có
chùa tượng và động Thập Điện Diêm Vương được thay bằng tranh vẽ trên gỗ,
trên vải hoặc trên giấy, nhưng thông thường là vẽ trên ván gỗ. Có thể vẽ
riêng mỗi điện một bức hoặc gộp lại thành 5 bước. Nhân vật chính là Diêm
Vương được vẽ to ở phía trên, chính giữa đang ngồi phán xử, hai bên có các
hình quan giúp việc. Phía dưới vẽ các quỷ sứ đầu trâu mặt ngựa đang thi
hành án với các tội nhân bị tra tấn như thời Trung cổ, các tội nhân vẽ
nhỏ, tiều tụy. Những tranh Thập điện phần lớn được vẽ vào thế kỷ 19, quan
điểm thẩm Mỹ được gắn liền với quan niệm về đạo đức nhằm mục đích khuyến
thiện trừng ác, làm cho những phật tử khi vào chùa thấy ngay được những
hình ảnh cụ thể của thuyết nhân quả, nó có tác dụng trực tiếp và hiệu quả
hơn những lời rao giảng về đạo đức.
Có tranh
bên cạnh hình vẽ còn có thơ lục bát như ở hcùa Vọng Cung, Nam Định.
Điện
1: Sống thác là lẽ tự nhiên
Nhưng
khi đã thác thuộc quyền Diêm Vương.
Điện
2: Đây là địa ngục khiên lao,
Xui
nguyên giục bị phải vào chịu xiên.
Điện
3: Ai mà tranh vợ cướp chồng,
Chết
xuống âm phủ cột đồng phải ôm,
Những
người ăn bậy nói xằng,
Quỷ
sứ lấy kẹp vặn răng hàng ngày.
Điện
4: Người nào chửi mẹ mắng cha,
Chết
xuống âm phủ leo qua cầu vồng.
Điện
5: Hễ ai nham hiểm ác tâm,
Diêm
Vương hạ lệnh móc trần tim đen.
Lòng
tham ích kỷ hại người
Bàn
chân đặt sẵn phải ngồi ngày đêm.
Điện
6: Ai hay báng Phật, chửi Trời,
Minnh Vương phán quyết chặt người làm đôi.
Điện
7: Ngồi lê mách lẻo điêu toa,
Quỷ
sứ móc lưỡi trông mà sợ ghê.
Những
người đong đầy bán vơi,
Thác
xuống âm phủ phải rơi vạc dầu.
Điện
8: Hình phạt cưa xẻ làm đôi,
Sống
ở trên dời có tính gian dâm.
Ăn
gian, nói dối, ác ngầm
Moi
gan móc ruột muôn phần khổ đau.
Điện
9: Ác tâm chia rẽ người ta,
Phải
chịu hình phạt hỏa xa nát nghiền.
Điện
10: Đến đây cửa điện thứ mười,
Tùy
tội nặng nhẹ đợi thời thác sinh.
Chùa
Hưng Ký, quận Hai Bà Trưng mô tả cảnh Thập Điện Diêm Vương với 3 tầng thế
giới: bên trên là cõi Cực lạc, cảnh sắc thần tiên. Ở giữa là điện các Diêm
Vương. Dưới cùng là cảnh địa ngục với cái vạc dầu, quỷ sứ cùng các vong
hồn tội lỗi đang bị khảo tra.
Theo
Paul Lðvy, nguyên Giám đốc Trường Viễn Đông Bác Cổ, ý nghĩa các tượng Thập
Điện Diêm Vương như sau: “Theo vũ trụ quan Phật giáo, linh hồn con người
không phải là bất diệt, không phải là vô thủy, vô chung, nó sinh sinh hóa
hóa qua nhiều kiếp khác nhau, có thể khi là người, khi là vật, khi là cây
cỏ… Chỉ khi con người giác ngộ những giáo lý của Phật, hiểu rõ nỗi khổ của
chúng sinh, biết được căn do biến hóa không ngừng từ kiếp này sang kiệp
khác, lúc đó con người sẽ bỏ hết dục vọng, trở về với cuộc sống khắc khổ
đạm bạc để hồn người trở về với vũ trụ, với đại khí, với cõi hư vô, lúc đó
là lúc con người sắp đến cõi Nát Bàn và hình hài hoàn toàn tan biến thêm
giáo lý”.
Ở một số
chùa bên cạnh bàn thờ thần Thổ Địa còn có bàn thờ Long Thần. Long Thần
chính là Long Vương lúc đầu định hãm hại Phật tổ, không cho thành chính
giác nhưng sau đó đã quy Phật và hộ trì cho Phật.
Trong
nhà tiền đường các pho tượng được bày ở đây đều mang ý nghĩa bảo vệ hộ trì
cho Phật pháp.
TƯỢNG BÀY Ở NHÀ HÀNG
LANG ^
Nhà hành
lang có thể là hai dãy nhà chạy song song với nhà Thiêu hương dẫn vào nhà
thượng điện (chính điện) hoặc là hai lối đi hai bên của nhà thiêu hương. Ở
hai dây hành thường bày các tượng La Hán (Arhat), mỗi bên có 9 pho, tổng
cộng là 18 pho. Theo kinh Phật, La Hán là những nhà tu hành đã thoát khỏi
cảnh luân hồi, không sinh, không tử, đã rũ sạch được mọi phiền não, được
thế gian tôn sùng, các vị này đã tu hành đắc đạo, được lên cõi Nát Bàn
song còn ở lại trên thế gian để phổ biến kinh Phật và cứu vớt chúng sinh,
hướng loài người theo chính đạo để giải thoát họ. Số lượng La Hán cũng tùy
theo mỗi nước, ở Tây Tạng chỉ có 16, ở Trung Quốc và Việt Nam là 18.
Mười tám
vị La Hán trong các chùa Việt Nam là: (xếp theo thứ tự cao xuống thấp).
1. Ma ha Ca Diếp (Mahakasyapa)
2. A nan đà (Ananda)
3. Tần đầu la bạt la dọa chà (Piondola Bharadvaja)
4. Ca nạc ca phát ta (Kanakavatsa)
5. Ca nặc ca Batla đạo chà (Kanaka Bharadvaja)
6. Tôn tân đà (Suvinda)
7. Nằc cư la (Nakula)
8. Ca lý ca (Karika)
9. Bạt đà la (Bhadra)
10. Phạt chà là Phất đà la (Vajraputra)
11. Tuất bác ca (Svaka)
12. Bán thác ca (Panthaka)
13. La
hầu la (Rahula)
14. Na
gia tè na (Nagasena)
15. Nhận
yết đà (Ingata)
16. Phạt
na bà tư (Vanavasin)
17. A
thị da (Ajita)
18. Chú
đồ bán thác ca (Cudapanthaka)
Cũng có
sách xếp Rahula (là con của Thích Ca) vào thứ XVI.
Ở nhiều
chùa, các pho tượng La Hán có kích thước như người thật. Mỗi vị được tạc
theo một tư thế khác nhau, ngồi trên tảng đá hay gốc cây.
Nhiều
pho tượng La Hán được tạc rất đẹp, mỗi vị có một tư thế khác nhau, nhưng
tất cả đều nói lên được sự trong sáng của tâm hồn, sự thanh khiết của trí
tuệ, sự trầm ngâm suy nghĩ về nỗi đau của chúng sinh. Tính nhân văn được
thể hiện rất rõ trong từng pho tượng đã gợi lên sự chú ý của khách lên
chùa. Vượt lên những công thức gò bó khi tạc các pho tượng Phật, người
nghệ nhân điêu khắc đã có những suy nghĩ sáng tạo làm cho mỗi khuôn mặt
của mỗi pho tượng La Hán biểu lộ một chân dung tâm lý riêng, một tâm
trạng, một tính cách thể hiện hơi thở của thời đại và nỗi niềm nhân sinh.
Những
pho tượng La Hán ở chùa Phật Tích mặc dù bị hủy hoại bởi thời tiết khắc
nghiệt (được trùng tu vào khoảng 1686) vẫn là những pho tượng có giá trị
nghệ thuật cao. Những pho tượng La Hán ở chùa Tây Phương (Hà Tây) là những
thành tựu xuất sắc của nghệ thuật điêu khắc cổ Việt Nam. Nhà thơ Huy Cận
đã viết bài thơ “Các vị La Hán chùa Tây Phương”, trong đó có những câu:
“… Có vị xương trần, chân với tay,
Có chi thiêu đối tấm thân gầy,
Trầm ngâm đau khổ sâu vòm mắt,
Tự bấy ngồi yên cho tới nay.
Có vị mắt giương mày nhíu xệch
Trán như nổi sóng biển luân hồi
Môi cong chua chát tâm hồn héo
Gân vặn bàn tay mạch máu sôi.
Mỗi người một vẻ mặt con người,
Cuồn cuộn đau thương cháy dưới trời,
Cuộc họp lạ lùng trăm vật vã,
Tượng không khóc cũng đổ mồ hôi”.
…………
(HUY CẬN - Các vị La Hán chùa Tây Phương).
Tượng ở
nhà thiêu hương
Qua nhà
tiền đường đến nhà thiêu hương, ở đây ta thấy có xây một bệ hình vuông,
thường trải chiếu, là nơi nhà sư ngồi tụng kinh, trước mặt là sách kinh,
bên phải là một mõ gỗ, bên trái là một chuông nhỏ. Trước mặt nhà sư là một
bàn thờ bằng gỗ được sơn son thiếp vàng hoặc là một bệ xây cao, ở trên đó,
các phật tử đến lễ, đặt hoa quả và bánh trái cúng Phật. Phía sau bàn thờ
bày đồ thờ cúng, trên một bệ xây cao hơn bàn thờ là tượng Phật Thích Ca,
thường được gọi là Thích Ca Cửu Long hoặc Thích Ca Sơ Sinh. Sở dĩ được gọi
như vậy vì đây là tượng Phật Thích Ca lúc mới sinh ra đời. Tương truyền,
lúc Thích Ca mới sinh, có 9 con rồng hiện đến phun hơi nước tắm cho người,
và tạo nên một vòng hào quang rực rỡ. Sau khi tắm xong, Thích Ca đứng dậy
đi 7 bước về 4 hướng đông, tây, nam, bắc, tay trái chỉ lên trời, tay phải
chỉ xuống đất mà nói: “Thiên thượng, địa hạ, duy ngã độc tôn” (trên trời,
dưới đất, chỉ có mình ta là đáng tôn quý). Vì là tượng liên quan đến lễ
Phật đản, nên chùa nào cũng có tượng này, có nhiều chùa lại có đến 5,6
tượng do các phật tử cúng tiến.
Hai bên
tượng Thích Ca Sơ Sinh, bên phải là tượng Ngọc Hoàng, có nơi gọi là Phạm
Thiên hoặc Phạm Vương, bên trái là tượng Đế Thích, theo kinh Phật là chủ
tế của cõi thế giới Sa-bà, khi Thích Ca chưa thành Phật, hai ngài luôn ở
bên cạnh hộ trì.
Ở những
chùa lớn, bốn phía xung quanh tượng Thích Ca Sơ Sinh, người ta bày tượng
Tứ Bồ Tát (Bodhisattva). Bồ Tát là tên gọi rộng rãi của các nhà tu hành
theo Phật giáo Đại Thừa, họ là những người có chí nguyện lớn lao, muốn
giải thoát bản thân và cứu vớt chúng sinh, luôn theo tư tưởng vị tha,
nguyện ước cho mọi người đều được lên cõi Nát Bàn. Tứ vị Bồ Tát đó là:
- Kim
Cương ái Bồ Tát, tượng có tay cầm cái tên biểu thị yêu thương chúng
sinh bền vững và trong sáng như kim cương.
- Kim
Cương sách Bồ Tát, tượng có tay cầm một cái dây chão. Sợi dây chão nói
lên sự bền bỉ của tấm lòng từ bi lôi kéo chúng sinh qua bề khổ.
- Kim
Cương ngữ Bồ Tát, tượng có tay cầm một cái lưỡi. Ngài chủ tụng niệm
không thành tiếng để suy nghĩ, như có cái lưỡi bằng kim cương.
- Kim
Cương quyền Bồ Tát, tượng có hai tay nắm chặt để vào ngực như đã chứng
định được uy linh cảm ứng, vững chắc như nắm tay bằng kim cương.
Các vị
Bồ Tát Kim Cương đều có dáng võ tướng, mặc binh phục trang nghiêm dữ dội
nhằm bảo vệ Phật pháp.
Cũng có
những chùa lớn thường bày 8 vị Kim Cương, gọi là Bát Bộ Kim Cương. Tên của
8 vị Kim Cương đó là:
1. Thanh
Trừ Tai Kim Cương.
2. Tích
Độc Thần Kim Cương.
3. Hoàng
Tùy Cầu Kim Cương.
4. Bạch
Tĩnh Thủy Kim Cương.
5. Xích
Thanh Hỏa Kim Cương.
6. Định
Trừ Tai Kim Cương.
7. Tử
Hiền Kim Cương.
8. Đại
Thần Lực Kim Cương.
Theo
Phật học đại từ điển thì tám vị Bồ Tát hiện làm tám vị Kim Cương để họ
trì Phật pháp là:
1. Giáng
Tam Thế Kim Cương.
2. Đại
Uy Đức Kim Cương.
3. Đại
Tiến Kim Cương.
4. Đại
Luận Kim Cương.
5. Mã
Đầu Kim Cương.
6. Vô
Năng Tháng Kim Cương.
7. Bất
Động Kim Cương.
8. Bộ
Trịch Kim Cương.
Cũng có
chùa ở vị trí tượng Tứ Bồ Tát, người ta bày tượng Tứ Thiên Vương là những
người cai quản 4 phía vùng trời. Phía đông là Trị Quốc Thiên Vương, phía
nam là Tăng Trưởng Thiên Vương, phía tây là Quảng Mục Thiên Vương, phía
bắc là Đa Văn Thiên Vương.
Cũng có
chùa, ở hai bên tượng Ngọc Hoàng và Đế Thích có bày hai tượng Nam Tào và
Bắc Đẩu. Nam Tào là vì sao ở phương nam coi giữ sổ sách những người sinh,
còn Bắc Đẩu là vì sao ở phương Bắc giữ sổ ghi tên những người chết. Hai
tượng này không liên quan gì đến Phật nhưng cũng được thờ ở trong các chùa
Việt Nam.
TƯỢNG PHẬT Ở THƯỢNG
ĐIỆN ^
Ở một
chùa hoàn chỉnh thường có 4 bệ thờ đặt tượng Phật. Trên bệ tận trong cùng,
cao nhất, bày 3 pho tượng Tam Thế. Tượng Tam Thế đều tượng trưng cho Phật
về 3 thời là: Phật Quán Khứ, Phật Hiện Tại và Phật Tương Lai. Tượng Phật
Hiện Tại được đặt ở giữa, tượng phật Quá Khứ đặt ở bên phải, tượng Phật
Tương Lai đặt ở bên trái (cũng gọi là Phật Vị Lai). Ba tượng Tam Thế có
kích thước và hình dáng giống nhau, đều ngồi trên tòa sen, có kích thước
không lớn, trên đỉnh đầu có những gò thịt nổi cao như búi tóc xoắn ốc nên
dân chúng quen gọi là “ông bụt ốc”. Mặt hình mặt nguyệt, dái tai dào, tay
dài, trước ngực có vết chữ “vạn” (…). Chữ vạn tượng trưng cho trí tuệ và
lòng tự bi của Phật đồng thời cũng biểu hiện sự vận động vô hạn của Phật
lực tới bốn phương mở rộng để tế độ chúng sinh. Kinh Phật cho rằng tương
ứng với Tam Thế ở thời Hiện Tại là Phật Thích Ca, với Quá Khứ là Phật A Di
Đà (Amitâbha) với Tương Lai là Phật Di Lặc (Maitreya).
Cũng có
chùa lớn có thêm hai bệ tượng nữa. Trước bệ tượng Tam Thế có bệ tượng Tam
Thân bày 3 tượng: tượng Báo Thân (Sambhogakâya) ở giữa ứng với Hiện Tại,
tượng Pháp Thân (Dhamarkâya) ở bên trái, ứng với Tương Lai. Trước bệ tượng
Tam Thân là bệ tượng Tam Bào (3 thứ quý) đó là Dharma, Samhha, Buddha
(Kinh, Chùa, Phật). Các hàng tượng Tam Thế, Tam Thân, Tam Bảo đều tương
ứng với nhau, thể hiện 3 thời, 3 thân, 3 của quý của Phật theo lý thuyết
của nhà Phật.
Bệ tượng
thứ hai trước bệ tượng Tam Thế là bệ tượng Di Đà Tam Tôn. Tượng A Di Đà
(Amitâbha) đặt ở chính giữa, tượng Đại Thế Chí đặt ở bên phải
(Mahâsthâmaprâpta), tượng Quan Thế Âm (Avalokitecvara) đặt ở bên trái.
Theo kinh Phật con người đang sống trong cõi Sa bà, nơi không trong sạch,
phải chịu nhiều sầu não đau khổ. Ở phía tây cõi Sa bà là thế giới Tây
Phương cực lạc, nơi không có điều tham, điều xấu, điều ác, do đó khi lên
chùa lễ Phật các phật tử thường niệm “Nam Mô A Di Đà Phật” là mong mỏi bỏ
điều ác làm điều thiện để được tới cõi cực lạc.
Tượng A
Di Đà được tạc theo một số công thức nhất định: ngồi tọa thiền hay thuyết
pháp trên tòa sen. Đầu để lộ đỉnh, không đội mũ, tóc xoắn ốc, khuôn mặt
đôn hậu, mắt nhìn xuống. Chân ngồi xếp bằng tròn hai bàn tay đặt giữa lòng
đùi, tay trái đặt lên trên tay phải. Trong các pho tượng A Di Đà ở chùa
Việt Nam thì có lẽ pho tượng A Di Đà chùa Phật Tích Hà Bắc là có giá trị
lịch sử và nghệ thuật vào bậc nhất, đã tồn tại từ đời Lý đến ngày nay. Pho
tượng được tạc bằng đá, cao 1,87m, nếu kể cả bệ cao 2,77m. Tượng ngồi kiểu
thuyết pháp, hai chân xếp bằng gọi là kiết già, hai bàn tay để ngửa trong
lòng. Những quý tướng của Phật được thể hiện ở khối u nổi trên đầu, tóc
xoắn hình ốc, tai to và dài chảy, cổ cao ba ngấn. Pho tượng có mjv ẻ thanh
tứ dịu dàng, đôi mắt nhìn xuống, dốc mũi thẳng, cao mà thanh, miệng hơi
mỉm cười làm cho bộ mặt vốn đã thanh tú lại có vẻ vừa trầm tư vừa rạng rỡ.
Mặc dù dây là một tác phẩm nghệ thuật tôn giáo nhưng không có vẻ thần bí,
ngược lại tính hiện thực trần thế được thể hiện trong hình dáng của một
người đàn bà thế tục với biểu hiện nội tâm sâu sắc. Tấm áo rất rộng khoác
trên người có vẻ mỏng manh buông rủ và dính sát thân thể, những đường nếp
áo rất mảnh đặt gần lên như song song, cách đều với những khoảng rộng vừa
đủ. Các đường nếp lại được luôn đổi chiều, vừa diễn tả được sự chồng chất
cửa các lớp vải vừa làm mất đi sự đơn điệu. Những nếp áo được diễn tả dụng
công là những đường trang trí duy nhất trên tượng, đạt hiệu quả thẩm Mỹ
cao góp phần tạo nên vẻ đẹp dịu dàng của bậc tu hành.
Nhiều
nhà nghiên cứu đã cho rằng pho tượng A Di Đà chùa Phật Tích đã chịu ảnh
hưởng của nghệ thuật Trung Quốc đời Đường và nghệ thuật Chiêm Thành ở
phương Nam. Đây thực sự là một quá trình đồng hóa những yếu tố văn hóa du
nhập từ nước ngoài. Ảnh hưởng này thể hiện õ ở cách tạo những nếp áo khiến
cho lớp vải có vẻ mỏng ra, buông rủ chùng và dinh sát thân thể, ở cặp mày
thanh, dọc mũi thẳng và miệng như hơi mỉm cười. Những chi tiết này có thể
đã từ Ấn Độ qua Trung Á đến Trung Quốc và được nghệ thuật điều khắc đời
Đường biến đổi và sau đó đến Việt Nam. Nói pho tượng A Di Đà này chịu ảnh
hưởng phong cách nghệ thuật đời Đường song phong cách bản địa Việt Nam đã
tạo nên hiệu quả khác hẳn vì những pho tượng đời Đường có những đường nét
và hình khối tròn trặn đã làm cho tượng trở nên phì nộn, bề thế còn tượng
A Di Đà chùa Phật Tích cũng những đường nét trên khối nhưng lại thanh
thoát và mềm mại. Một đằng chuộng nhiều chi tiết cầu kì rắc rối hơn thì
một đằng lại bằng lòng với sự giản dị trong sáng thanh mảnh khéo léo và
sống động hơn.
Pho
tượng được đặt trên một bệ tám cạnh hình tháp, trên là đài sen loe rộng.
Bệ được trang trí những hình rồng, hình hoa dây và hình sóng nước, những
con rồng mình tròn nhẵn nhụi và thanh tú với những uốn khúc mềm mại, các
dây hoa cúc tinh vi với những hình phỗng bé tí xen lẫn. Đây là pho tượng
Phật duy nhất còn lại gần như nguyên vẹn của nền nghệ thuật thời Lý và đây
cũng là mẫu mực điển hình về vẻ đẹp của các pho tượng Phật trong chùa ở
Việt Nam.
Tượng
Đại Thế Chí ở bên phải Phật A Di Đà, theo kinh Phật là một hoàng tử đã tu
phép niệm Phật, thuc cả lục căn là nhãn, nhĩ, thiệt, tị, thân (5 giác quan
là mắt, tai, lưỡi, mũi, cảm giác của thân thể) và ý (hoạt động trí não)
nên đã khai tâm, ngộ đạo viên thông, nguyện làm Bồ Tát để cứu độ chúng
sinh. Ngài đem ánh sáng trí tuệ soi khắp, làm cho chúng sinh khoát khỏi 3
nơi ác đạo là Súc sinh, Ngã quỷ và A tu la, để có sức mạnh vô thường.
Bên trái
của Phật A Di Đà là tượng Quan Thế Âm Bồ Tát, Quan Thế Âm là một Bồ Tát đã
dầy công tu luyện hàng triệu năm nên có thể nghe thấy tiếng kêu than nhỏ
nhất của chúng sinh đau khổ ở khắp mọi nơi, với lòng từ bi hay cứu khổ cứu
nạn, ngài có thể hiện ra với những sắc tướng khác nhau khi người ta tụng
niệm đến danh hiệu. Theo kinh Phạt, ngài thường xuất hiện ra dưới những
sắc tướng như:
Quan
Thế Âm Vô Úy (không sợ hãi) thường dùng phép bố thí vô úy để cứu vớt
chúng sinh trong cơn sợ hãi.
Quan
Thế Âm Nam Hải là vị Bồ Tát ở miền Nam Hải tìm những nơi có những lời
than khổ mà cứu vớt khỏi tai nạn.
Quan
Thế Âm Thiên Thủ Thiên Nhãn (nghìn tay nghìn mắt) là vị Bồ Tát có sắc
tướng nghìn tay nghìn mắt, có thể nhìn thấu suốt mọi việc trong dân gian,
không việc gì không làm được.
Phật
Bà Quan Âm là Quan Thế Âm dưới hình tượng phụ nữ, rất gần gũi với
chúng sinh đau khổ.
Quan Thế
Âm đã có lời nguyện rằng: “Hễ ở đâu có đến con ruồi con muỗi phải đau khổ
là có ta ở đó”. Ngài truyền lại câu thần chú linh diệu: “Ám ma ni bát minh
hồng” (Om mani padme hum).
Còn
những sắc tướng nữa của Quan Thế Âm là Quan Âm Thị Kính, được diễn tả
trong chuyện Quan Thế Âm Thị Kính, cũng được đem ra hét chèo, kể lại
chuyện một nhà tu hành đã được 9 kiếp, đến kiếp thứ 10 là kiếp chót, để
thành Phật, đã được thác sinh làm con gái nhà họ Mãng với tên là Thị Kính.
Bị án oan với nhà chồng, lại bị án oan với dân làng, nàng vẫn nhẫn nhục
chịu đựng cho đến lúc chết và sau đó đến khi siêu sinh tịnh độ đã được
Phật cho thành Phật Quan Âm.
Trong
các chùa Việt Nam ở bên trái của 3 pho tượng Tam Thế cũng có khi bày tượng
Quan Âm Tống Tử hay Quan Âm Tọa Sơn. trong kinh Phật thì Quan Thế Âm không
có nói đến giới tính, nhưng khi vào đến Trung Quốc và Việt Nam thì Quan
Thế Âm là nữ. Gọi là Quan Âm Tống Tử là vì các phật tử coi Quan Thế Âm sẽ
giúp cho họ được hạnh phúc làm mẹ, có con, thường cầu xini và chỉ có Quan
Âm mới thông cảm và đem lại niềm vui cho họ là một bé gái hay trai. Trước
tượng Quan Âm Tống Tử có hai tượng Kim Đồng và Ngọc Nữ hay hai tượng Thiện
Tài và Long Nữ.
Tượng
Kim Đồng tức Kim Điện Đồng Tử, từ nhỏ đã theo Phật xuất gia. Ngọc Nữ tức
Ngọc Gia Nữ là con dâu ông Cấp Cô Độc trưởng giả, đã bếit nghe lời Phật,
biết sám hối quy Phật.
Thiện
Tài là người đã kiên nhẫn theo học 53 thầy để đắc đạo thành Phật. Long Nữ
là con vua Long Vương mới 8 tuổi nghe Văn Thù Bồ Tát thuyết pháp đã ngộ
đạo, thoát bỏ lốt long thần mà hiện lên thành người lên Linh Sơn quy Phật
và đắc đạo.
Tượng
Quan Âm Tống Tử thể hiện Phật bà ngồi trên tảng đá, bế một em bé, bên cạnh
có hình một con vẹt. Ở Việt Nam và Triều Tiên người ta thường cho tượng
Quan Âm Tổng Tử chính là thể hiện chuyện Thị Kính và con vẹt chính là
chàng Thiện Sĩ. Tượng Quan Âm Tống Tử cũng có thể được bày ở nhà hậu đường
mà không bày ở nhà trên đường.
Tượng
Quan Âm Tọa Sơn được gọi như vậy là do tượng tạc ngồi trên mỏm đá.
Ở Việt
Nam có rất nhiều tượng Quan Âm có giá trị nghệ thuật cao. Tượng Quan Âm
Thiên Thủ Thiên Nhân (Phật Bà nghìn tay nghìn mắt) ở chùa Bút Tháp là một
trong những pho tượng đẹp nhất. Tượng cao 3,70m, được tạc năm 1656, đã
được dập mẫu bày ở Bảo tàng Lịch sử Việt Nam. Bệ tượng hình chữ nhật, được
trang trí bốn phía rồng và hoa lá diễn tả một mặt biển sóng nhấp nhô, có
một đầốuồng nhô lên khỏi mặt nước, hai tay đỡ một bệ hoa sen trên đó có
tượng Quan Âm Thiên Thủ Thiên Nhãn ngồi, ngoài ra có rất nhiều cánh tay
khác ở xung quanh trong vòng hào quang quanh mình. Trên mỗi bàn tay vẽ
hình một con mắt. Đầu của tượng có thêm 2 đầu nữa quay về 2 bên, trên đội
mũ, trên mũ lại có 8 đầu nữa xếp thành hai hàng.
Bệ tượng
thứ ba, trước bệ tượng Phật A Di Đà là bệ tượng Phật Thích Ca Mâu Ni,
tượng trưng cho Phật Hiện Tại. Tượng Phật Thích Ca bày ở giữa, cũng có
chùa gọi tượng này là tượng Thế Tôn. Tượng Phật Ca Diếp (Kacyapa) đặt ở
bên trái, tượng A Nan Đà (Ananda) đặt ở bên phải. Tượng Thích Ca Mâu Ni
đang thuyết pháp, ngồi trên tòa sen, tượng để lộ viên đỉnh, mặc áo pháp,
để hở vai bên phải, tay cầm hoa sen, do đó tượng ucngx được gọi là Thế Tôn
niệm hoa. Cũng có chùa gọi là tượng thuyết pháp. Có chùa lại tạc tượng lúc
Thích Ca mới thành Phật, tay phải chỉ xuống đất nói với Ma Vương, tay trái
chỉ lên trời, tượng này cũng là tượng thuyết pháp nhưng không đặt ở hàng
thứ ba.
Tượng
Thích Ca Mâu Ni thường được tạc ở 4 tư thế dựa theo cuộc đời của Người:
1. Tượng
Cửu Long diễn tả khi mới giáng sinh.
2. Tượng
Tuyết Sơn diễn tả khi đang tu hành khổ hạnh ở núi Tuyết Sơn.
3. Tượng
thuyết pháp diễn tả lúc đang ngồi thuyết pháp khi đã đắc đạo.
4. Tượng
Niết Bàn diễn tả khi đang vào cõi Niết Bàn.
Ca Diếp
ở bên trái tượng Thích Ca là người đứng đầu các đệ tử của Phật Thích Ca tu
theo phép khổ hạnh. Ngài hiểu rõ giáo lý của Phật hơn cả nên khi Phật
Thích Ca sắp viên tịch đã truyền lại cho Ca Diếp y và bát (áo cà sa và bát
tộ) biểu thị truyền lại cho Ca Diếp đạo thống. Tượng Ca Diếp được diễn tả
trong tư thế đứng, nét mặt già gầy, hơi hốc hác, mặc áo nhà chùa, tay khum
trước ngực.
Tượng A
Nan Đà ở bên phải tượng Phật Thích Ca. A Nan Đà là em họ Phật Thích Ca,
xuất gia theo Phật, luôn chầu chực bên Thích Ca nên được nghe nhiều lời
của Phật tổ, sau được Ca Diếp truyền cho y bát làm tổ thứ 2 của phái Thiền
Tông. Tượng của A Nan Đà được diễn tả trong tư thế đứng, nét mặt trẻ hơn,
hai tay chắp trước ngực, mặc áo pháp.
Bệ tượng
thứ tư, trước tượng Thích Ca là bệ tượng Tương Lai. Ở giữa là tượng Phật
Di Lặc, bên trái là Văn Thù Bồ Tát (Manjucri) bên phải là Phổ Hiền Bồ Tát
(Samantabhadra).
Phật Dĩ
Lặc là Phật Vị Lai, người nối tiếp sau Phật Thích Ca Mâu Ni. Khi Thích Ca
đã thành Phật và còn ở cõi thế gian để thuyết pháp, Di Lặc thường xuống
nghe giảng đạo. Tượng Di Lặc ngồi để vai và mình trần bụng to béo, hở rốn,
thân hình đẫy đà nét mặt rạng rỡ, miệng cười thỏa mãn, lạc quan toát lên
dáng thư thái, thanh thản, không lo nghĩ, vì thế dân gian thường gọi là
“ông vô lo” hay “ông nhịn mặc để ăn”. Cũng có chùa tạc đủ 3 tượng Di Lặc,
cùng bày một hàng, gọi là Di Lặc Tam Tôn. Bên phải là tượng Pháp Hoa Lâm
Bồ Tát, bên trái là Đại Diệu Tướng Bồ Tát.
Văn Thù
Bồ Tát hiểu biết rất sâu xa chỗ cùng tận của Phật pháp. Sau khi Thích Ca
nhập Nát Bàn, Văn Thù cùng với A Nan Đà làm ra kinh Hoa Nghiêm. Văn Thù
tiêu biểu cho trí tuệ của Phật. Trong quá trình tu tập theo Bát chính đạo,
các chư vị Phật đều được Văn Thù Bồ Tát dẫn dắt để đạt tới cái Giác Tuệ,
từ đó đạt tới Giác Ngộ, chứng quả Nát Bàn, ra ngoài vòng luân hồi sinh tử
trờ thành Phật. Tượng Văn Thù được tạc ngồi trên lưng một con sư tử màu
xanh, sư tử tượng trưng cho sức mạnh của trí tuệ. Trên đầu tượng có 5 búi
tóc biểu thị 5 cái trí của Phật, tay nắm thanh gươm để biểu thị lợi hại
của trí tuệ. Cũng có nơi người ta tạc tượng của Văn thù có tướng diện là
một nhi đòng để biểu thị cái nghĩa còn nguyên thiên tính (tức là Như Lai,
là Không).
Đứng bên
phải Thích Ca là Phổ Hiền Bồ Tát, chủ về chân lý. Tượng Phổ Hiền được tạc
theo sách “Bi tạng kí”, đầu đội mũ Phật, sắc da mặt trắng, tay phải cầm
hoa sen trên có lưỡi kiếm, tay trái nắm chặt và giơ lên, cưỡi trên một con
voi trắng. Voi trắng biểu thị cho sự thuần khiết và uyên bác của chân lý.
Ý nghĩa sâu xa của việc bài trí bệ tượng thứ tư này là có Trí Tuệ và có
Chân Lý mới có Phật. Phật sở dĩ thành được chính quả đắc đạo là nhờ có Trí
Tuệ và Chân Lý.
Trước 4
bệ tượng đó, ở nhiều chùa còn có một pho tượng gọi lìa Nhập Nát Bàn, thể
hiện cảnh hóa của Phật Thích Ca Mâu Ni. Phật được tạc trong thế nằm dài
nghiêng về bên phải, chân nọ gác lên chân kia, đầu gối lên tay phải, đó là
tư thế lúc hóa, khi Thích Ca đã 80 tuổi, xung quanh có các đồ đệ, trong đó
có đồ đệ gần gũi nhất là A Nan Đà.
Trong
các chùa lớn ở Việt Nam còn có tượng Thích Ca tu khổ hạnh gọi là tượng
Tuyết Sơn, dân chúng quen gọi là tượng “nhịn ăn để mặc”. Tượng Tuyết Sơn
thể hiện Phật Thích Ca tu khổ hạnh ở núi Tuyết Sơn (trong dãy Himalaya)
thời kỳ đầu trong 6 năm trời, mỗi ngày ngài chỉ ăn một hạt gạo và một hạt
vừng để cầm hơi, không nghĩ gì đến thể xác. Dù khổ hạnh ngài vẫn không tìm
thấy đạo và suýt chết. Theo truyền thuyết, Vua trời hóa ra một người chăn
bò đến gần bên ngài, gẩy một cây đàn có 3 dây. Dây quá chùng thì gẩy không
thành tiếng. Dây quá căng nên vừa gẩy đã đứt. Chỉ có dây giữa, lên vừa
phải mới phát ra tiếng đàn. Thích Ca sực tỉnh ngộ, hiểu rằng tu khổ hạnh
cũng giống như sợi dây căng quá sẽ đứt, còn xuất gia mà vẫn quyến luyến
trần tục cũng như sợi dây đàn chùng không tiếng, sẽ không đắc đạo. Chỉ có
con đường trung đạo, thuận theo tự nhiên, mới thành chính quả, vì thế ngài
trở lại khất thực nuôi thân, theo con đường trung đạo. Ngài bèn ra khỏi
Tuyết Sơn, tắm rửa và ăn cho đủ sức để tìm đạo. Để ghi nhận con đường của
Phật Thích Ca mò tìm đạo, đời sau đã tạc tượng hình thù của ngài gầy gò,
chỉ còn da bọc xương. Ở nhiều chùa, tượng Tuyết Sơn là một tác phẩm nghệ
thuật đặc sắc (chùa Tây Phương, chùa Mýa…).
Trong
thượng điện, ngoài 4 bộ tượng và tượng Nát Bàn, tượng Tuyết Sơn về phía
bểnp của bệ tượng, nếu chùa được xây theo kiểu chữ công, còn có một bên
thờ A Nan Đà. Tượng A Nan Đà còn được gọi là tượng Thánh Tăng tạc trong tư
thế ngồi, mặc áo cà sa, có 2 tượng hộ vệ là Tiểu Diện và Bà La Sát. Tượng
Tiểu Diện được vẽ mặt xanh hoặc đen, còn tượng Bà La Sát thì có bộ mặt
trắng hay hồng. Trước tượng A Nan Đà có bầy pho tượng Bồ Đề Đạt Ma
(Bodhidharma) dân chúng gọi là Đức Tổ Tây. Đó là đệ tử thứ 28 của Phật
Thích Ca, ngài đã đem đạo Phật đến Trung Quốc vào khoảng năm 520 đến 530,
được coi là sư Tổ thứ nhất của Thiền Tông Trung Quốc. Tượng Bồ Đề Đạt Ma
được tạc có mắt tròn và xếch, lông mày đen, to rậm, mũi cao, tóc quăn có
râu quai nón (tượng duy nhất có râu). Tượng Bồ Đề Đạt Ma và Thánh Tăng (A
Nan Đà) cũng có khi được bày trong tăng đường ở sau chính điện.
Bên phải
chính điện, trước bệ tượng Quan Âm Tống Tử còn có bệ tượng Địa Tạng
(Kshitigarbha). Địa Tạng là một Bồ Tát được biết đến rất nhiều vì đã cứu
vớt những người đã biết ăn năn hối hận và hay làm phúc để thoát khỏi địa
ngục. Địa Tạng cũng có một đồ đệ thường đi bên cạnh là Mục Liên
(Maugalyayana), là người đã giúp việc giải thoát các chúng sinh trong địa
ngục.
Trên đây
chỉ kể một cách đại đại cương những pho tượng Phật được bày trong ngôi
chùa. Cũng tùy theo từng vùng, việc bày các tượng Phật có thay đổi xê dịch
từ bệ tượng thứ hai trở đi và các bệ xung quanh nhà bái đường và nhà chính
điện.
TƯỢNG CHÙA Ở TĂNG
ĐƯỜNG
^
Nhà tăng
đường cũng gọi là hậu đường thường nằm ở phía sau chính điện. Ở đây bày
tượng của các vị sư tổ đã tu hành tại chùa, có chùa có hàng chục tượng
các thế hệ sư. Ở nhiều chùa Việt Nam, nhà tăng đường còn có các bàn thờ
các vị thánh của đạo Lão, đạo Nho, như: Thái Thượng Lão Quân (Lão Tử),
Khổng Phu Tử, Quan Vân Trường, có Quan Bình và Châu Xương đứng hầu. Sở dĩ
như vậy là do người Việt Nam quan niệm “tam giáo hòa đồng”. Nhà tăng đường
ở nhiều nơi cũng có bàn thờ Mẫu: Liễu Hạnh, Mẫu Thoải, bà Chúa Thượng
Ngàn, thờ Tứ phủ chư vị: Thiên phủ, Địa phủ, Thủy phủ và Nhạc phủ. Những
tín ngưỡng ngày nay không liên quan gì đến Phật giáo nhưng như trên đã
viết Phật giáo khi vào Việt Nam đã kết hợp với tin ngưỡng bản địa, để thu
hút rộng rãi nhiều đệ tử, nên chùa đã có bàn thờ tất cả, theo dạng “tiền
Phật hậu Mẫu” hay “tiên Phật hậu Thánh”.
---o0o---
Mục Lục > Phần 1 > Phần 2 >
Phần 3
---o0o---
Vi tính: Quảng Đại Tuấn Hùng –
Quảng Khánh Kim Oanh
Trình bày: Anna
Cập nhật: 01-11-2005