Trang tiếng Việt

 Trang Nhà Quảng Đức

Trang tiếng Anh

Truyện Tích Phật Giáo


...... ... .

 

 

 

TRUYỆN KỂ VỀ NHỮNG
BẬC THÁNH SIÊU PHÀM TRONG PHẬT GIÁO

 

NGÔ TRỌNG ĐỨC

TỪ NHÂN dịch

 

Mục lục

1. Lời tựa

2. Tín nữ chí thành đắc đạo

3. Thành tiên nhờ đức tin

4. Tảng đá lót cột chùa

5. Long vương qui phục

6. Nhân quả theo nhau như bóng theo hình

7. Khẩu nghiệp như núi

8. Nghiệp báo huỷ báng

9. Đời người vô thường

10. Hương thánh đức bay xa

11. Cản người xây chùa- quả báo vô biên

12. Nhờ phước sinh thiền

13. Lỡ lời làm chó

14. Cải tạo mạng vận

15. Thần thông xuyên đá

16. Cúng Phật trai tăng

17. Phước cúng dường tăng

18. Tâm tà thối đạo

19. Vu báng bị quả báo

20. Tôn sư trọng đạo

21. Giới đức hàng phục loài rồng

22. Nhúm muối thành núi

23. Lòng thành cúng Phật

24. Ác ý khinh tăng

25. Quốc vương được đạo

26. Nghiệp cũ khó tiêu

 

 

LỜI TỰA

 

Pháp Phật rộng lớn thâm sâu, nhưng không ngoài lý Duyên Khởi và lý Nhân Quả.

Duyên Khởi hay lý tánh của các pháp. Thật tướng của các pháp chính là không tướng.

Nhân Quả là sự tướng của các Pháp, đều do muôn đức trang nghiêm.

Tất cả các Pháp quá khứ, hiện tại, vị lai trên thế gian đều do duyên khởi, tánh không; ngay nơi một niệm khởi mà thấu nhân qủa rõ.

Duyên Khởi tức là tánh của tướng; Nhân quả tức là tướng của tánh.

Duyên Khởi tánh không, thật tướng tức là không tướng, sự tức lý; Ngay nhân rõ qủa, muôn đức trang nghiêm, lý tức sự.

Do vì tướng không ngại tánh, tức vô lượng pháp là một pháp. Mỗi mỗi pháp do duyên khởi sinh, dung thông lẫn nhau, thảy đều tự tại.

Lý tánh không ngại sự tướng, nên một pháp tức là vô lượng pháp. Từ tánh Chân như ứng hiện nhân quả, trùng trùng lớp lớp, niệm niệm không ngại.

Đây gọi là lý tuỳ sự biến, một và nhiều từ vô lượng Duyên Khởi sinh; Sự vô ngại, lý dung thông, ngàn sai muôn khác không ngăn ngại.

Quyển Phật Giáo Thánh Chúng Nhân Duyên Tập đã khéo léo giải thích rõ ý nghĩa này; Lý tướng viên dung, lý sự thông đạt; Nhân Duyên như thế, Quả báo như thế là điều kiện tốt để hành giả tu tập.

Nhiều năm trước, tôi đã từng nghe nói đến quyển sách này, lúc gần đây đủ duyên được cầm đọc, cảm ngộ được ý nghĩa thâm sâu trong sách, chính là “ Quả báo thiện ác, như bóng với hình; nhân quả ba đời, theo nhau không mất”. Từ lời văn cho đến nghĩa lý, thật đáng suy ngẫm.

Khi ấy, tôi lại nảy ra ý vẽ hình phác hoạ, với tâm nguyện mong truyền bá sách này rộng rãi để cứu vãn phần nào nhân tâm của con người hiện tại.

Tôi thỉnh cư sĩ Trần Chánh Hùng phát tâm vẽ hình và mời cư sĩ Chu Nguyên chuyển văn sách thành truyện đọc, tạo phương tiện cho những người không rảnh rỗi cũng có thể đọc hết quyển sách này.

Nhiều người đối với lý nhân quả báo ứng, thật chưa hiểu thấu đáo, thậm chí còn xem thường, buông lung tâm ý, khiến cho những phong tục tốt đẹp ngày càng đi xuống, mọi người phải thốt lời than thở không thôi.

Cầu mong quyển sách này sẽ giúp cho người đời, tin sâu nhân quả, làm lành lánh dữ, được tròn ý nguyện.

Hoa sen từ ngó sen

Ngó sen từ thân sen

Thân ít mà quả nhiều

Quả thấu suốt nguồn nhân”.

Kính mong các bậc cao minh từ bi chỉ dạy những điều thiếu sót.

Ngày Rằm tháng giêng năm 1995

Ngô Trọng Đức

Kính đề

 

TÍN NỮ CHÍ THÀNH ĐẮC ĐẠO

 

Chuyện kể, một vị Tỳ-kheo tuổi đời cao tuổi đạo thấp, lại chưa am hiểu giáo lý. Khi nhận người cung kính cúng dường và hỏi pháp thì lòng lo sợ, hồi hộp, khổ sở nên cất lên tiếng than. Người thí chủ nhân nghe lời than ấy, suy ngẫm thấu đáo mà được đắc thánh quả.

Kệ rằng:

Tuổi già, chậm hiểu đi xuất gia

Nhận người cung dưỡng, sao khổ tâm!

Tự than:” Vô tri sanh khổ não”

Người nghe suy ngẫm, rõ lẽ huyền. 

Ngoài thành Vương-xá, nước Ma-kiệt-đà thuộc miền Trung Ấn Độ, có ngôi chùa Tùng rất nổi tiếng, bình thường có hơn một trăm vị Tăng chúng ở đó. Chùa Tùng cách làng nọ không xa, trong làng có một vị tín nữ tu học Phật pháp rất thành tín.

Vị tín nữ này thông minh. Cô nghĩ:” Giáo lý hay kinh điển mà đức Phật đã dạy là đường lối cho người học Phật tu hành. Nếu hành giả học hỏi, thực hành thống suốt thì có thể thành tựu được đạo quả. Ngược lại, nếu người tu hành không học thì hiểu lời Phật dạy để ứng dụng công phu thì chỉ là tù mù”.

Tín nữ xin phép vị trụ trì sắp xếp cho cô mỗi ngày được cúng dường một vị Tỳ-kheo. Do đó, chúng tăng trong chùa theo thứ tự mỗi ngày có một thầy đến nhà cô cư sĩ thọ trai.

Mỗi khi cúng dường xong, cô liền thỉnh vị Tăng được cúng dường hôm ấy, thăng toà thuyết pháp hoặc cô xin thưa hỏi đạo lý.

Trong tăng đoàn, có một số Tỳ-kheo vẫn chưa thâm nhập được tam hụê” Văn, Tư, Tu”, nên không muốn đến nhà cô để nhận sự cúng dường.

Một hôm, đến phiên của vị Tỳ-kheo lớn tuổi còn tối dạ nhận lời thọ trai trưa nay. Tuy tuổi đời cao, nhưng thầy xuất gia chưa được bao lâu, đối với Phật pháp, thầy chưa am tường, thống suốt.

Biết mình chưa thâm nhập giáo lý, nên thầy Tỳ-kheo này rất hồi hộp, vì thầy thường nghe chư tăng trong chùa kể:” Vị nữ cư sĩ này là người hiếm có, không những có tâm chân thành cúng dường Tam Bảo, mà lại có trình độ Phật pháp uyên thâm”.

Thầy Tỳ-kheo này tiến thoái lưỡng nan, không thể nào mở lời từ chối được, phải đi đến nhà nữ cư sĩ mà trong lòng không vui. Nỗi hồi hộp hiện lên sắc mặt, đầy lo sợ, bước đi thật chậm nhưng cuối cùng rồi cũng đến nhà nữ thí chủ.

Khi nữ cư sĩ từ xa thấy oai nghi của thầy Tỳ-kheo lớn tuổi này đang từng bước đến nhà mình, liền tỏ ra hân hoan rất mực. Lòng nghĩ:” Vị trưởng lão này đúng là bậc đạo cao đức trọng, bươc đi từ tốn không giống như những vị thầy khác. Có lẽ thầy đã chứng được thánh quả, nếu thế thì lời nói của vị này nhất định là pháp vi diệu quý báu, ta hãy đặc biệt chú tâm lắng nghe, không nên để mất đi một cơ hội tốt cầu pháp nào cả”.

Khi ấy, nữ cư sĩ cúng dường thầy Tỳ-kheo thật đặc biệt. Sau khi thầy Tỳ-kheo thọ trai xong, cô liền trải toà ngồi, năm vóc gieo sát đất, cung kính thỉnh thầy Tỳ-kheo lên pháp toà nói pháp.

Thầy Tỳ-kheo ngu tối thăng toà mà lòng bối rối, hổ thẹn. Nhìn thấy nữ cư sĩ đang cung kính quỳ phía trước, bất giác thầy cất tiếng than khe khẽ:” Người ngu vô tri, thật là khổ não”.

Riêng nữ thí chủ do chú ý lắng nghe được câu nói này, liền cho là vô thượng quý báu, nên nhất tâm lắng nghe suy nghiệm, khiến thân tâm cô như đang nhập định, không hay biết cảnh bên ngoài. Thầy Tỳ-kheo thấy gia chủ lặng lẽ quỳ thời gian lâu mà không hỏi gì hết, nên đứng dậy, nhẹ nhàng nhanh bước trở về chùa.

Lúc này, vị nữ thí chủ vẫn ngồi yên lặng chú tâm quán xét nghĩa lý của câu nói ấy. Cô nghĩ” Ngu si vô tri”, ngu si chính là vô minh. Vô minh là pháp căn bản của mười hai nhân duyên. Từ cội gốc vô minh này khiến cho sinh tử tiếp nối không ngừng, do đó chúng sinh phải chịu khổ não, nên nói “ Thật là khổ não”. Nhân quán xét nghĩa lý ấy, mà tâm nữ thí chủ được thanh tịnh, phát sinh chánh kiến và chứng được quả Tu-đà-hoàn, là quả thánh thứ nhất trong bốn quả thánh.

Sau đó, nữ cư sĩ vì nghĩ đến ân khai đạo của thầy Tỳ-kheo, nên muốn đến kho báu lấy y quí để cúng dường, cảm tạ thâm ân của thầy. Nhưng khi nhìn lên thì không thấy vị Tỳ-kheo đâu cả. Cô tìm trong ngoài đều không thấy, thêm nữa cũng không thấy thầy từ giã trỏ về. Bất giác cô lại nghĩ có lẽ thầy đã dùng thần thông bay về chùa rồi.

Vị nữ cư sĩ liền cầm y báu đến chùa để tìm thầy Tỳ-kheo đảnh lễ, cảm tạ công ơn khai đạo và cúng dường. Song thầy Tỳ-kheo kia tuy trở về chùa mà trong lòng vẫn còn hổi hộp không thôi, lo là thí chủ sẽ đuổi theo nên về phòng đóng chặt cửa lại, lánh mặt không gặp ai cả.

Sư phụ của thầy Tỳ-kheo  ngu tối đã chứng quả A-la-hán. Khi nhìn thấy nữ cư sĩ đang vội vã đến chùa khác với mọi ngày, nên nghĩ không biết Tỳ-kheo này có làm phiền lòng thí chủ không, mà sao cô lại tìm đến chùa trông dáng thật vội. Ngài liền nhập định để tìm hiểu nguyên nhân. Khi biết được vì do tín tâm thuần nhất mà nữ cư sĩ  đã đắc quả Tu-đà-hoàn, nên liền họp chúng tăng, kể lại nguyên nhân sự việc về thầy Tỳ-kheo tối dạ nhận người cúng dường, nhân đó cũng nói rõ thầy Tỳ-kheo và nữ thí chủ đã gieo trồng pháp duyên từ đời trước đến nay được thành tựu.

Thầy Tỳ-kheo tối dạ ấy, khi nghe sư phụ nói rõ nhân duyên như thế, ngay đó liền chứng được quả Tu-đà-hoàn.

Kệ rằng:

Thật lòng buông bỏ niệm phàm phu

Tâm ý thanh lương thành bậc Hiền

Nghe pháp diệt trừ điên đảo tưởng

Niệm lự ngưng rồi đạo tự thành

Dốc chí hành trì điều cần thiết

Dự lưu thánh quả sẽ được vào.

 

THÀNH TIÊN NHỜ ĐỨC TIN

 

Người ngu muốn học phép thành tiên

Ý chánh tâm thành chẳng tính toan.

Không công lao nhọc chẳng nề khó

Chỉ mong thấy được nước cây thần.

Nông phu ích kỷ, tâm không chánh

Lừa gạt người hiền chẳng xót thương

Dẫn người vào núi toan cho chết

Cất tiếng kêu to được lên trời. 

Trong kinh Tạp Thí Dụ có kể rằng:

Trước kia, có một người quê dốt, nhưng tâm lại rất chân thành. Người ấy nghe lời đồn, bên nước láng giềng có một loại nước tiên, nếu người nào uống vào, liền được thành tiên.

Người kia so thâm cảm sâu sắc lẽ sanh, già, bệnh, chết của kiếp người, nên khởi niệm muốn cầu học đạo tiên, được an nhiên tự tại, thoát khỏi cảnh sống chết của trần gian nhiều đau khổ. Thế rồi người kia lần hỏi đường, quyết tâm đến xứ người, tìm cho được nước uống thành tiên.

Vượt qua bao gian khổ, người kia lần lần cũng đến ngay với địa phương đồn là đã sinh ra thứ nước tiên ấy. Song có một điều là khi người kia hỏi thăm chõ có nước tiên, thì mọi người đều tỏ vẻ lạ lùng và cười nhạo anh chàng khờ khạo, họ nói thầm:” Trên đời này làm gì có nước uống mà được thành tiên”. Nhưng người kia không thấy xấu hổ, cũng không thối chí, mạnh dạn tiến tới không màng đến sự chia bai, giễu cợt của mọi người. Người ấy dốc tâm phải tìm cho được nước tiên ấy.

Hôm ấy, đang còn lăn lội kiếm tìm nước tiên thì trời sắp tối, người kia dừng lại và xin ngủ tạm qua đêm nơi nhà của một điền chủ. Điền chủ hỏi:” Anh là người từ phương nào đến đây? Có việc gì?” Người kia thật tình nói lên cảm nghĩ của mình về cuộc đời đầy đau khổ và do nghe rao truyền là có một thứ nước tiên, người uống vào sẽ được thành tiên, nên cố tâm đi tìm thứ nước ấy để uống, mong được thoát khỏi sự sanh già bệnh chết.

Khi ấy, điền chủ gian xảo thấy người kia quá thật thà, chất phác, nên muốn lợi dụng. Ông liền nói:” Tôi không biết chỗ nào có nước tiên cả, song tôi lại biết chỗ có cây thần. Nếu người có tâm thành, chỉ cần leo lên ngọn cây cầu khẩn thì sẽ được bay lên trời”.

Người thật thà khi nghe chủ nhà nói thế, trong lòng vô cùng phấn khởi, nói:” Tốt quá, cây thần hay nước tiên gì cũng được, tôi chỉ muốn được lên trời là tốt rồi, xin ông hãy chỉ dùm tôi chỗ đến đó, tôi cám ơn nhiều lắm”.

Điền chủ nói:” Đâu dễ như thế, nếu như ông chịu ở nhà tôi làm việc không công trọn một năm, thì tôi mới chỉ cho ông biết chỗ, còn không thì dù ông có đi khắp nước cũng không thể nào tìm ra”.

Người kia chấp thuận nói:” Tôi bằng lòng. Để đáp trả lòng tốt của ông, tôi sẵn sàng làm việc giúp ông trong thời gian một năm”.

Bắt đầu từ đó, anh chàng thật thà kia phục vụ không công cho người điền chủ. Anh vui vẻ sốt sắng làm việc, không hề có chút so đo, tính toán nào. Còn người chủ nhà gian xảo kia, vì lòng ích kỷ lợi mình, đã lừa gạt người khác. Thật ra, trên đời này làm gì có nước tiên, cây thần.

Ngày qua tháng lại, một năm trời lao nhọc cũng trôi qua, người thật thà đến điền chủ yêu cầu giữ đúng điều lệ mà hai người đã giao ước.

Lúc ấy, người điển chủ dẫn người thật thà đi sâu vào rừng, chỉ một cây cổ thụ to lớn mọc lên ven vách núi và nói:” Đó chính là cây thần, anh hãy trèo lên ngọn cây cao nhất, rồi đợi ta nói tiếng BAY, lúc đó anh hãy buông tay, bảo đảm là anh sẽ được bay lên trời cho xem”.

Thương cho người thật thà kia, khi nghe người điền chủ kia nói thế cứ tưởng là thật, nên làm đúng theo lời chỉ vẽ, leo lên ngọn cây chờ đợi.

Dưới này, ông chủ liền cất tiếng gọi to” Bay đi”. Người ngu nghe tiếng ấy rồi, lập tức buông tay. Lạ một điều là khi buông tay rồi, người ấy không hề rơi xuống mà lại từ từ bay cao thậy sự, dần dần mất hút không còn thấy bóng dáng đâu cả. Người ấy đã thực sự thành tiên, không còn bị chói buộc trong cõi trần gian đau khổ nữa.

Dưới này, điền chủ chính mắt thấy sự kiện kia, lạ lùng, kinh dị thầm nghĩ:” Ta vì lợi dụng nó nên mới bịa ra chuyện cây thần, leo cao buông tay rớt xuống là tan thân, cho đáng đời ngu xuẩn, ai ngờ có linh nghiệm, hắn đã được thành tiên. À! Hay là cây cổ thụ đó chính là cây thần. Nếu thật là cây thần, thì ta cũng nên bắt chước hắn, bay về cõi trời sống sung sướng hơn không!”.

Thế là, người chủ nhà cứ mãi suy nghĩ về vấn đề cây thần suốt ngày đêm và quyết tâm thực hiện.

Vài ngày sau, người chủ nhà dắt theo đứa con trai yêu quí vào núi sâu, đến dưới gốc cây thần kia, hai cha con định lên trời một lượt. Đứa con nhường cho cha leo lên trước, rồi đứng dưới này cất tiếng nói to:” Cha ơi, bay đi!”. Người chủ nhà lập tức buông tay. Nhưng có điều mà hai cha con gian xảo kia không thể ngờ là thân người ông từ từ rơi xuống hố thẳm dưới chân núi và chỉ nghe được tiếng “Á” cuối cùng, trước khi tan xương nát thịt.

Tham lam chẳng hiểu gì đạo lý

Quả báo trả liền, đâu phải không.

Tâm ác hại người không ngờ nổi

Nghiệp báo như bóng, không rời hình.

 

TẢNG ĐÁ LÓT CỘT CHÙA

 

Hoan hỷ cúng dường đá trắng tốt

Được phước sinh thiên, phước cõi người

Chùa phế, nông phu cày đá cũ

Cung trời dao động bởi nhân xưa?

 

Thuở xưa, có vị trưởng giả, phát tâm kiến lập ngôi chùa Phật, trên cúng dường chư Phật, đồng thời có nơi chốn để tăng chúng an tu. Trưởng giả chuẩn bị vật liệu đầy đủ, song đến lúc dựng lên thì lại còn thiếu một tảng đá nhỏ để lót dưới chân cột chùa mới có thể xây tiếp tục, mọi người chạy kiếm khắp nơi, nhưng lúc cần thì không tìm được.

Bên cạnh ngôi chùa đang xây ấy, có nhà của một ông lão ngoại đạo, thấy ai nấy đang chạy tìm quýnh quáng, nên hỏi thăm, biết được chùa dựng cột còn thiếu tảng đá nhỏ là hoàn tất việc dựng mái chùa, nên ông vui vẻ phát tâm tặng một tảng đá tốt màu trắng mà ông thường dùng dặt y phục trong nhiều năm. Chuyện có thế. Vậy mà sau khi ông lão ấy mạng chung, lại được sinh lên cõi trời Đao-lợi, làm cung chủ điện thất bảo,có rất nhiều thiên nữ hầu hạ, an nhiên thọ hưởng phước lạc cõi trời.

Thời gian trôi qua rất lâu, ngôi chùa Phật trang nghiêm ngày nào, cũng nhân năm dài tháng rộng mà xuống cấp rồi sụp đổ trở thành một đống gạch vụn nơi đồng hoang cô quạnh, và tảng đá trắng lót cây cột ấy cũng theo đó mà bị vùi sâu dưới bùn lầy.

Không biết thời gian bao lâu…

Bấy giờ, có một người nông phu trong vùng, đến khai khẩn mảnh đất hoang, đây chính là nền của ngôi chùa sụp đổ. Đang khi dẫn trâu cày ruộng, cày trúng nhằm tảng đá. Vì sợ hư hại cày, nên người nông phu ấy kêu gọi nhiều người đến phụ dời tảng đá ấy sang nơi khác. Trong khi mọi người đang xúm xít tìm cách dời tảng đá, thì cõi trời Đao-lợi bị dao động.

Vị thiên chủ cõi trời thấy vô cớ mà thiên cung bị chấn động nên vô cùng kinh hãi, liền suy tìm nguyên nhân náo loạn ấy, Thiên chủ để tâm, rảo mắt xem xét khắp nơi thì thấy cõi trời không có điều chi lạ, bèn nhìn xuống thế gian, hoá ra tảng đá năm xưa ông cúng dựng chùa, đang nằm sâu dưới lớp bùn đất, hiện nay đang bị người tà đạo xới dời đi, do đó khiến cho cung trời của thiên chủ chấn động.

Khi ấy, thiên chủ mới hiểu ra, do trước kia hoan hỉ cúng dường một tảng đá lót cột chùa mà được phước sinh lên cõi trời, hưởng nhiều phúc báo như thế. Nếu tảng đá kia bị dời đi nơi khác, thì phước báo của thiên chủ sẽ không còn, cho nên phải nhanh chóng tự cứu lấy phước cho mình, tìm phương cách tốt hơn cho người nông phu kia đừng di chuyển tảng đá.

Tức thời, vị trời biến thành ông lão đến trước người nông phu kia hỏi:” Vì sao lại phải dời tảng đá này đi nơi khác vậy?” Nông phu đáp:” Tảng đá này cản trở việc cày bừa khai khẩn đất, khiến tôi không thể thực hiện được công việc sản xuất, cho kịp vụ mùa”.

Ông lão nói:” Anh khai khẩn đất hoang rất là cực nhọc, quanh năm vất vả cũng không thu hoạch được nhiều đâu! Bây giờ, tôi tặng anh 500 lượng vàng, với điều kiện là anh phải giữ gìn tảng đá cho kĩ, không cho bất cứ ai dời đi nơi khác, anh bằng lòng không?”

Người nông phu nghe thế, phần thì kinh ngạc, phần thì vui mừng, bởi từ trước nay, có bao giờ anh được món tiền lớn đến thế đâu; buộc miệng hỏi: Ông là người phương nào? Vì sao lại quan tâm đến miếng đá nhỏ này đến thế?”

Ông lão tức thời biến trở lại thân trời, nói với nông phu:” Xưa nơi mảnh đất này có một ngôi chùa, nhiều năm hoang phế, rồi đổ nát. Nhà tôi ở cạnh ngôi chùa, nhân chùa đang xây dựng lại thiếu một tảng đá lót cột, khi ấy tôi phát tâm cúng dường tảng đá trong nhà. Tôi thật không ngờ là chỉ nhân cúng dường một tảng đá nhỏ mà được hưởng phước cõi trời đầy đủ bấy lâu. Sáng nay, cung trời do tôi cai quản, bỗng nhiên chấn động, nên tôi xét nguyên nhân, thấy anh đang định dời tảng đá đi nơi khác. Vì thế tôi liền xuống đây trao đổi với anh về việc này, để phước đức của tôi không bị tiêu mất”.

Người nông phu nghe đầu đuôi sự việc, liền chắp tay thưa với thiên nhân rằng:” Hồi xưa, nơi đây vốn là chùa mà tôi không biết, chỉ nghĩ đến lợi ích cá nhân, gia đình mình nên suýt nữa làm hại đến phước của người khác, và còn dẫm lên nền của ngôi Tam Bảo, phạm tội rất lớn. Giờ đây tôi hiểu rồi, quyết định ngưng ngay việc làm này. Thiên nhân nghe người nông phu nói, rất đỗi vui mừng an lòng trở lại cung trời.

Còn lại một mình, người nông phu kia suy nghĩ, do cúng dường một tảng đá nhỏ mà được phước lớn như thế. Vị trời kia chỉ gieo một hạt giống mà thu hoặch được vô lượng quả lành, ta cũng cần phải tạo phước, để cuộc sống tốt đẹp hơn.

Khi ấy, người nông phu về kể lại sự kiện ấy cho bà con thân thuộc nghe. Mọi người đều tin nhận, lại còn phát tâm trùng tu lại ngôi chùa ngay nơi mảnh đất cũ năm nào.

Chẳng bao lâu, ngôi chùa Phật trang nghiêm được dựng lên, người người chăm lui tới kính lễ, quét dọn, tụng niệm, giữ gìn rất thành kính. Ngôi Tam Bảo được xán lạn huy hoàng.

Bản này được trích trong kinh LUẬT DỊ TƯỚNG VÀ PHƯỚC BÁO. BỐ THÍ XÂY CHÙA có phước báu lớn như thế, chúng ta cần phải tạo lập nhiều phước điền để cầu thành quả Phật.

 

LONG VƯƠNG QUI PHỤC

 

Vua A-dục muốn hàng phục Long vương, nhưng không được. Trưởng lão bày vua cân vàng chia đôi tạo tượng mỗi người đem cân, quả nhiên là lượng vàng của vua A-dục nhẹ hơn. Vua lập hạnh cúng dường bố th, xây dựng chùa chiền, cứu giúp người nghèo khổ…sau đó, đem hai tượng đi cân, thì tượng vua A-dục lại nặng hơn và từ đó Long vương qui phục A-dục.

Trong kinh có câu chuyện về vua A-dục và Long vương:

Cách nay khoảng 2000 năm, ở Ấn Độ vào thời vua A-dục. Khi ấy, Vua là bậc nhân quân tạo lập nhiều phước đức trên toàn cõi Ấn Độ.

Một hôm, vua A-dục triệu tập quần thần, tự mãn về những thành quả mà mình đã đạt được, nên nói:” Trên toàn cõi đất nước hiện nay, đâu có nơi nào không thuộc về Ta đâu? Có ai dám không phục Ta?”

Quần thần đồng thanh đáp:” Đúng thế! Thưa Đại Vương. Toàn cõi A-dục này trên dưới thảy đều quy phục đại vương”.

Khi ấy có một vị quan thần, bước ra tâu: “ Thần xin được nói, theo chỗ biết của thần, tuy cả nước đều qui phục, nhưng theo thần biết thì xưa nay Long Vương không hề đến hầu viếng Đại Vương, cũng không hiến tặng một vật báu nào, đủ biết là Long vương không qui phục”.

Vua A-dục  muốn nghiệm xét xem phước đức, oai lực của mình có thể qui phục Long vương hay không? Vua bèn truyền lệnh tụ họp ngàn vạn cỗ xe với nhiều binh tướng hùng mạng, trống chiêng vang trời, cờ xí giương cao, đi thẳng ra bờ biển. Bấy giờ, Nhà Vua hướng về mặt biển lớn cất giọng nói to: “ Long vương, Ông ở trong nước của Ta, vì sao lại không qui phục bồn vương?” Nhà vua lớn tiếng nói ba lần như thế, song mặt biển vẫn an nhiên bất động, như không có việc gì xảy ra.

Vua A-dục hỏi quần thần:” Có biện pháp nào có thể khiến cho Long vương xuất đầu lộ diện hay không?”.

Lúc ấy, có một vị Tôn giả, thưa với đức vua rằng:” Sở dĩ Long vương không xuất hiện là vì phước đức của Đại Vương còn kém xa Long vương, do vậy mà Long vương không đến qui phục. Nếu đại vương không tin lời tôi thì cứ cân vàng thành hai phần bằng nhau, tạo một tượng Long Vương, tạo một tượng Đại vương, rồi đem hai tượng đó cân thử so sánh, nếu tượng nào nặng hơn thì phước của người đó lớn”.

Vua A-dục y lời làm theo, đem hai tôn tượng cân so sánh, quả nhiên tôn tượng của Long vương nặng hơn. Tôn giả lại thưa:”Như thế rõ ràng là phước của Long vương hơn Đại vương nên không chịu đến triều phục. Nếu Đại vương phát tâm tạo lập chùa Phật, cúng dường bố thí khắp cùng, ủng hộ hoằng truyền chánh pháp thì phước đức tăng trưởng rộng lớn, khó ai sánh bằng, như vậy có thể Long vương không thể sánh được”.

Vua A-dục sau khi nghe lời tôn giả chỉ dạy, biết phước đức của mình còn cạn mỏng nên rất hổ thẹn, cũng nhân đây mà nhà vua tu trì Phật pháp rất nghiêm mật, siêng năng, lại còn mở kho báu cúng dường Tam-bảo, rộng bố thí xây viện dưỡng lão, Cô Nhi, giúp đỡ người nghèo không nơi nương tựa, giáo dục nhân dân làm lành lánh dữ, xây tháp kỷ niệm những nơi thánh tích của Phật, truyền bá phật pháp đến trong và ngoài nước v.v…làm các Phật sự tạo phúc nhiều không kể xiết. Đồng thời vua A-dục còn xây dựng bốn ngàn bảo tháp, tôn trí xá-lợi Phật đà tìm được trong kho tàng của Vua A-xà-thế, trên khắp cõi Diêm-phù-đề lưu truyền đời sau. Ngoài ra, vua còn cử các bậc cao tăng đi khắp nơi để tuyên dương Phật pháp được lưu truyền rộng khắp thế gian.

Ba năm tạo lập phước điền, sâu trồng Phật pháp không gián đoạn như thế, cuối cùng vua lại đem hai tôn tượng ra so sánh thì tôn tượng của Long vương lại cúi đầu đảnh lễ tôn tượng vua A-dục.

Bấy giờ vị tôn giả mới nói:” Hiện nay thì Đại Vương có thể hàng phục được Long vương rồi”.

Vua A-dục rất cao hứng, cũng như trước đó, vua mang ngàn vạn binh hùng tướng mạnh đến biển lớn. Vừa đến đã thấy Long vương biến thành một Bà-la-môn trẻ tuổi, quỳ trước vua A-dục thỉnh an thưa hỏi, tự xưng là tiểu thần.

Kệ rằng:

Bậc chánh pháp song tu phước huệ

Rộng truyền Phật pháp xiển uy quang

Tạo lập bảo tháp khắp Diêm-phù

Khuyên hết người đời tu Phật pháp.

Lời phụ: Phước đức và trí tuệ là hai pháp căn bản để thành tựu Phật pháp. Như đức Phật chúng ta là bậc thầy đủ phúc trí, nếu là người kính tin Phật pháp thì hãy tự mình gieo trồng hạt giống trí tuệ chân chánh.

Bố thí được phước lớn, tu trì mở mang trí tuệ, nếu người muốn gieo trồng phước huệ, cần phải thành tâm cúng dường Tam-bảo, bố thí người nghèo khổ, tinh tấn tu hành Phật pháp.

 

NHÂN QUẢ THEO NHAU NHƯ BÓNG THEO HÌNH

 

Chỉ vì tật đố với xan tham

Thiên thu khốn khổ hoạ ngục đày

Dư báo năm trăm đời bị huỷ báng

Thân tâm nào được phút an nhàn.

 

Ngày nọ, đức Thế Tôn bảo với chúng đệ tử :” Tỳ-kheo Thật Lực trong chúng đây, ở đời quá khứ đã từng cúng dường vị Bích Chi Phật, do trồng cội phước này, nên đời nay được sinh trong gia đình sang quí, đời sống vật chất và tinh thần đều được an vui. Tỳ-kheo lại được phát tâm xuất gia trong giáo pháp của Ta, tinh tấn hành đạo, chứng được quả A-la-hán. Tuy chứng thánh quả, song cũng một kiếp trong đời quá khứ, Tỳ-kheo này đã tạo nghiệp xấu huỷ báng người, nên sau khi chứng đạo, bị chiêu cảm lời gièm chê và huỷ báng của mọi người”.

Thế Tôn nói rõ nguyên nhân vì sao Tỳ-kheo Thật Lực lại bị quả báo khinh chê:

Cách nay đã lâu, tại thôn nọ, có vợ chồng phú hộ, sống chung với nhau, tình nghĩa rất là đầm ấm, không một chút nghi hiềm nào. Ngặt nỗi, kết hôn đã lâu mà vẫn chưa có con, nên hai người không được vui mấy.

Ngày nọ, người vợ nói với chồng:” Nay tôi không thể sinh con cho anh được, anh nên cưới thêm người vợ nữa, mới mong có con nối dõi được”.

Chồng đáp:” Từ xưa đến nay, gia đình nào có hai vợ, rất là phiền phức, có nhiều gia đình nhân đó mà bị tan nát, không được hạnh phúc”.

Người vợ lại nói:” Việc này tôi cũng đã suy nghĩ qua, nhưng tôi nghĩ nếu cả hai người vợ đều có lòng tương kính và thương yêu lẫn nhau, thì không có việc gì xảy ra đâu, tôi nói như thế anh nghe có đúng không? Trong lòng của tôi không cảm thấy buồn ngại điều gì hết”.

Đức Phật lại kể tiếp: Lúc ấy, làng kế bên cũng có một nhà phú hộ, sinh được ba con, hai nam một nữ, đều đã trưởng thành. Chẳng bao lâu, cha mẹ của người đó lần lượt qua đời, ba anh em cùng nhau nương sống.

Hai vợ chồng người kia nhờ mai mối đến dạm hỏi cô con gái nhà này. Sau nhiều lần suy tính, cuối cùng người anh lớn đồng ý gả em gái về nhà người làm vợ lẽ.

Nhưng không bao lâu, cô vợ lớn lại có thai, sinh ra một bé trai. Đứa bé càng lớn càng dễ thương, lại thông minh lanh lợi, từ nhỏ đã có tính đặc biệt là không hề nói dối. Nhân thấy đứa bé chân thật, mọi người đặt tên cho nó là Thật Ngữ.

Đến lúc Thật Ngữ được mười tuổi, mẹ của đứa bé khởi tâm tật đố, cô nghĩ:” Ta sinh được một bé trai kháu khỉnh, sao chồng ta cứ mãi thương cô vợ lẽ như thế”. Bởi tâm thật đố phát sinh, nên cô vợ lớn quyết tâm đuổi vợ lẽ đi. Cô nói với con trai:” Thật Ngữ! Con có biết nỗi khổ của người như mẹ không?”.

Thật Ngữ thưa:” Con còn nhỏ nên không biết gì cả”.

Người mẹ tố cáo cô vợ nhỏ đủ điều và nói:” Nỗi khổ của người nữ chính là tâm tật đố”.

Thật Ngữ nói:” Mẹ ơi! Tâm tật đố không tốt đâu, mẹ không nên giữ trong lòng”.

Người mẹ tiếp:” Thật Ngữ, bây giờ mẹ sẽ bịa đặt tội xấu cho mẹ kế của con, nhưng quan trọng là mẹ cần con làm chứng”.

-“ Mẹ cần làm chứng việc gì, mà điều mẹ nói là thật hay giả?”

-“ Đó chỉ là bịa đặt thôi”.

- Mẹ ơi, từ nhỏ mọi người đều biết con là người có lời nói chân thật, chưa từng lừa dối ai, nay đâu thể vì mẹ mà con nói lời vọng ngữ”.

Cũng chính do tâm tật đố của người mẹ, là mầm mống sinh ra những mưu kế xảo quyệt, gây rối tâm hồn trong sáng của đứa bé.

Người mẹ mãi nài nỉ:” Thật Ngữ, nếu cha của con có hỏi con điều gì đó, thì con cứ im lặng, chẳng cần nói lời nào hết, chỉ gật đầu là xong. Con ngoan của mẹ, hãy nghe lời mẹ dặn, mới thật là con có hiếu”.

Đứa bé mới mười tuổi, chưa hiểu biết gì cả, song nghe theo lời của người mẹ, mà trải qua vô lượng kiếp bị tội báo khốn khổ, mà chẳng hay biết tội báo đó do đâu.

Khi ấy, người vợ lớn bị tâm tật đố ràng buộc nên mách dối với chồng là vợ lẽ làm điều bất chánh, tư thông với người khác trong làng.

Người chồng nói:” Này em, đừng gieo tiếng xấu cho người, cô ta chẳng bao giờ làm việc như thế đâu”.

Người vợ nói:” Nếu anh không tin thì đến hỏi Thật Ngữ đi!”

Lời nói này đã khiến cho người chồng suy nghĩ:” Con ta mọi người đều biết là không hề nói dối. Đối với người ngoài mà nó còn nói thật như thế, thì đối với ta chắc chắn không bao  giò nói dối”.

Người cha liền đi đến hỏi con:” Thật Ngữ, con có thấy mẹ kế của con chơi thân với ông bạn nào không?”

Lúc đó người vợ lớn cũng đi theo sau, ra dấu cho Thật Ngữ và nói:” Cô ta cũng là mẹ của con, con đâu thể nói xấu mẹ mình được, nếu như việc đó có thật, con chỉ cần gật đầu”.

Đứa bé vì không biết mưu kế xảo quyệt của mẹ, nên liền gật đầu. Cũng từ việc làm chứng gian này mà đứa bé không còn mang danh Thật Ngữ nữa, lại được mệnh danh là Vọng Ngữ.

Lúc ấy, người chồng nói với người vợ nhỏ:” Cô đã làm việc xấu, chẳng nên ở lại nhà này” Rồi đuổi vợ lẽ đáng thương ấy trở về nhà anh em.

Cô vợ nhỏ sau khi trở về nhà, giải bày sự việc với anh lớn, đau buồn than khóc không thôi.

Hai người anh quá tức giận, nên đến nhà lân cận đính chánh cho em gái mình, và đem em gái về nhà an ủi.

Thôn làng có một vị xuất gia đã đắc đạo, ôm bát khất thực ngang nhà của ba anh em. Hai người anh chân thành cúng dường thánh tăng, sau khi cúng dường xong, người em gái lại cầu nguyện:” Đời này, tôi bị người phỉ báng khốn khổ, nếu đời sau được sinh làm người, xin nguyện xuất gia tu hành và tôi nhất định đòi lại nợ ác mà người đã làm tôi đau khổ”. Hai người anh đồng tình nói:” Nếu lúc đó, tôi gặp người đã làm cho em đau khổ, tôi sẵn sàng làm chứng”.

Đức Thế Tôn nói:” Các Tỳ-kheo, do đó mà những người này đời đời oan oan tương báo không dứt.

-Thật Ngữ nay chính là Tỳ-kheo Thật Lực, còn mẹ kế là Tỳ-kheo…, hai anh là Tỳ-kheo…

Tỳ-kheo Thật Lực do đời quá khứ đã phỉ báng mẹ kế mà phải chịu tội đoạ địa ngục thiêu đốt đến ngàn năm, chịu vô lượng thống khổ

 

KHẨU NGHIỆP NHƯ NÚI

 

Lời nói, là nguyên nhân gây khổ đau và tội lỗi.

Im lặng không nói lại giống như người gỗ.

Tướng sư tà kiến gây tai hoạ.

Lầm nhận điều tà, suýt giết con.

 

 Vào thời quá khứ, tiền thân của Phật Thích-ca khi còn tu hạnh Bồ-tát, có một kiếp đã từng làm Thái tử con vua Ba-la-nại tại Ấn Độ, tên là Mộ Phách.

Năm ấy, Thái tử được 13 tuổi, bỗng nhiên không nói chuyện, giống như người câm điếc hay pho tượng không khác.

Nhà Vua chỉ có một mình ngài là thái tử, được người trong cả nước đều yêu kính, không bao lâu nữa ngài sẽ là người kế thừa ngôi vua. Vua cha trông thấy thái tử, tuy có ăn cơm, mặc áo nhưng không hề biết kêu la lạnh đói; tuy mắt thấy tai nghe, song giống như không nghe thấy. Trước đây thái tử là một người bẩm tính thông minh, lanh lợi nhưng nay lại giống như người đá. Nhà vua âu sầu, lo lắng khôn cùng.

Bấy giờ, nhà vua mời các Bà-la-môn tướng số nổi tiếng, họ nói rằng:” Thái tử vì sao trước đây nói chuyện được, mà nay lại không biết nói?”

Các tướng sư thưa:” Tâu bệ hạ, tướng mạo thái tử tuy đoan chánh, nhưng thân bị bệnh khuyết tật. Mà người có khuyết tật như vậy, sớm muộn gì cũng hại cha mẹ, làm mất nước, nhà tan. Hiện nay, thái tử lại bị khuyết tật chắc không lâu sau, sẽ đem đến những hậu quả rất nghiêm trọng”. Tướng sư lại nói:” Sở dĩ bệ hạ không sinh được nhiều thái tử, đều do bệnh khuyết tật của thái tử đây làm trở ngại. Muốn tiêu trừ những tai ương này, chỉ có cách là đem chôn sống thái tử, mới có thể làm cho nước nhà cường thịnh, lại sẽ sinh thêm nhiều thái tử. Nếu không làm như vậy, thì bệ hạ cùng với quốc gia sẽ gặp nguy hiểm”.

Nhà vua nghe nói liền tin lời yêu mị của tướng sư, nên trong lòng lo buồn, ngồi đứng không yên. Khi ấy, vua liền triệu tập các đại thần thân tín để bàn luận việc này. Quan thần trong triều đề nghị đem thái tử bỏ vào rừng sâu, hay nhận chìm xuống sông biển? Có một vị quan thần đề nghị:” Chúng ta có thể tìm một nơi đồng trống, tạo một nhà mồ dưới lòng đất sâu, đem thái tử nhốt trong mộ ấy, phái năm người đi theo để trông coi việc ăn uống cho thái tử”. Nhà vua bất đắc dĩ phải chấp nhận lời đề nghị ấy, song nghĩ đến tình cha con sâu nặng, mà đau xé ruột gan.

Lúc ấy, trong lòng thái tử ngậm ngùi xót xa, chỉ vì không nói chuyện mà bị mọi người đối xử tàn nhẫn, nhưng không có niệm oán trách mọi người.

Hoàng hậu khi hay tin ấy, thương khóc khôn xiết đấm ngực nói:” Con ta mạng sống mong manh, tuổi đời chưa được bao nhiêu đã gặp phải tai ương!” Bà than thở phàm làm mẹ mà khi con mình gặp nạn cũng không có quyền giúp đỡ, đành lau lệ đi dọn quần áo, châu báu, anh lạc, vật dụng cá nhân mà hằng ngày thái tử thường dùng đưa người hậu cần mang theo đến mộ. Bà lại còn chọn lựa năm người hiền lành, chất phác dặn dò họ nhớ chăm sóc thái tử thật tốt.

Nhà vua cho xe chở thái tử đến ngôi mộ nơi đồng vắng, khi ấy, ngôi mộ vẫn chưa làm xong. Thái tử Mộ Phách đang ngồi trên xe, khởi nghĩ:” Phụ vương và mẫu hậu đều cho ta là người câm, giống như cây đá không khác. Nhưng họ không biết sở dĩ ta không nói, là vì muốn thoát khỏi tai hoạ của khẩu nghiệp, để được an ổn tu hành. Hiện nay, phụ vương bị người xấu lừa gạt, nếu ta không đính chính thì sau này còn nguy hại đến nhiều người có hoàn cảnh giống như ta”.

Bấy giờ thái tử ung dung đi xuống dòng suối tắm rửa, mặc y phục mới và đeo chuỗi anh lạc trang sức thân tướng thật đẹp. Sau đó, đi đến bên ngôi mộ đang xây, hỏi những người đang xây mộ:” Các ông đào hầm làm chi vậy?”

Công nhân đáp:” Nhà vua có một vị thái tử tên Mộ Phách, mới 13 tuổi mà bị điếc, câm, chúng tôi được lệnh xây mộ này, để nhốt thái tử vào trong đây”.

Thái tử nói:” Ta chính là Mộ Phách”.

Nhưng công nhân ấy không tin, nên chạy đến kiệu của thái tử cách đó không xa để xem xét, thì thấy trong kiệu không có ai cả. Mọi người đi trở lại ngôi mộ, nhìn kỹ tướng mạo, lời nói, cử chỉ của thái tử, đều giống như người thường, đâu phải như lời đồn đại, khiến cho họ cảm thấy lạ lùng.

Thái tử hỏi:” Các ngươi đã quan sát ta có phải là quỷ ma hay không? Tướng mạo đoan chánh, tinh thần bình tĩnh, hiền lành, có phải là đứa con hại cha mẹ, hại đất nước hay không? Vì sao mọi người lại dễ tin vào lời nói sai lạc của thầy tướng, đào xây nhà mồ này để chôn sống ta như thế?”.

Bằng lời nói hoà nhã, cử chỉ khoan thai, thái tử đã xoá tan hết lòng nghi kị của mọi người, họ sinh lòng hoảng sợ, quỳ xuống lạy cầu xin thái tử tha tội”.

Lúc ấy, mọi người đều khuyến thỉnh thái tử hồi cung. Thái tử nói:” Ta đã bị bỏ rơi, nên không còn muốn trở về hoàng cung nữa”.

Nhóm tuỳ tùng lập tức phi ngựa về cung bẩm báo. Quốc vương, hoàng hậu hay tin, tức khắc lên xe ngựa chạy nhanh ra ngôi mộ để tìm con. Vua đang trên đường đi tới, thì ở đây thái tử nghĩ:” Ta đã thoát ly được sự ràng buộc trong cung, đây là cơ hội tốt, để cho ta nhất tâm tu hành”.

Không bao lâu, xe kiệu của nhà vua và mẫu hậu đến. Từ xa, vua cha nhìn thấy thái tử ngồi ngay thẳng dưới gốc cây, lời nói nhẹ nhàng, trong lòng vua cảm thấy hân hoan vô kể, liền đi đến giục thái tử về cung.

Mộ Phách kinh sợ thối lui vài bước, chắp tay thưa với phụ thân và mẫu hậu:” Con sinh ra đời được 13 năm, biết được những việc lành dữ xảy ra trong nhiều kiếp trước, như xảy ra trước mắt, không hề quên xót dù là việc nhỏ nào. Sở dĩ con người phải chịu tội báo ở địa ngục là do nghiệp miệng gây ra. Trong cuộc sống nếu không khéo kiểm soát lời nói, khi duyên hội đủ, phải thọ lấy tội báo thống khổ cả ngàn vạn năm. Con nay rất sợ những thảm khổ nơi địa ngục, nên từ lúc sinh ra đến giờ, rất ít khi con nói chuyện. Trải qua 13 năm rồi, mỗi khi thốt ra lời nào, con đều nghĩ hoạ từ miệng mà sinh ra. Con giữ hạnh ít nói, nhưng thấy không có kết quả nhiều, chi bằng không nói có thể dứt được mầm tai hoạ. Sở dĩ con ngậm miệng không nói, là để bớt tạo nghiệp thị phi.

Mộ Phách nói tiếp:” Xưa kia, có một kiếp con đã từng làm Vua nước lớn, tên là Tu Niệm. Con dùng chánh pháp cai trị đất nước, tu tất cả điều lành. Những dụng cụ giết người hung cư sĩ, con cấm tuyệt không cho dùng; ban cho mọi người lòng nhân ái, cứu giúp kẻ gặp khốn cùng. Khi ấy có nhiều vua nước nhỏ thấy lòng từ bi rộng lớn, đức đại hỉ xả của Vua Tu Niệm, một lòng cảm ân mến đức, chân thành qui kính vua. Vua Tu Niệm mở một đại yến tiệc lớn để chiêu đãi vua các nước. Người đầu bếp chuẩn bị các món ăn cao lương mĩ vị, nên phải giết đến sáu loài súc vật khác nhau, bèn bẩm nên vua Tu Niệm. Vua Tu Niệm xưa nay vốn nhân từ không sát sinh, chỉ vì muốn đãi khách quí, đối với việc này chẳng dừng được nữa, nên đành phải gật đầu nói thôi được”.

Do một lời nói này, mà ngay sau đó biết bao nhiêu sinh mạng thú vật bị chết theo, do vậy sau khi mạng chung, vua bị đoạ xuống địa ngục, để đền lại nợ sát sinh ngày trước. Phải chịu tội bị chưng nấu hơn sáu vạn năm, đau khổ khó nhẫn nổi, kêu cứu cũng không có người giúp được, muốn chết cũng không được, không ai có thể chia sẻ nỗi khổ của con lúc ấy. Khi chịu tội địa ngục xong, trả hết quả báo, con mới được sanh làm người. Vì nhớ lại đời quá khứ, chỉ nhân một câu nói, mà con đã chịu vô lượng khổ sở.

Đời này, con vì mong cầu dứt tất cả mọi đau khổ, nên quyết tâm xuất gia học Phật. Bởi con luôn nhớ đến nghiệp báo đã thọ”chỉ vì một câu nói mà chịu bao thống khổ”, nên mới cấm khẩu không nói.

Vua cha hiểu được tâm chí dứt khoát của thái tử, cũng đồng ý cho xuất gia tu đạo.

Sau khi thái tử Mộ Phách xuất gia, do tinh cần chuyên niệm, nên sớm được chứng đạo, tự biết rõ đời trước của mình và tất cả những việc lành dữ, khổ vui, tốt xấu, sống lâu hay chết yểu sắp xảy ra đời vị lai, đều thấy biết rõ ràng, giống như sự việc xảy ra trước mắt vậy.

Cũng bởi nhân ấy mà thái tử thường sinh lòng sợ hãi, một bề giữ gìn khẩu nghiệp, ít nói những việc làm không cần thiết.

 

Hoạ từ miệng phát, nghiệp như núi

Chỉ một lời mà chịu khổ biết bao năm

Kêu cứu không ai, chết không được

Khiếp cả tâm can, bởi trả nợ xưa.

 

NGHIỆP BÁO HUỶ BÁNG

 

Trong 16 vị đại đệ tử của Phật Thích-ca, tôn giả Xá-lợi-phất là người có trí tuệ bậc nhất, ngài Mục-kiền-liên là bậc thần thông đệ nhất. Hai vị là bạn thân. Thông thường, hai đồng du hoá chung, ít khi tách rời đi đơn độc.

Một hôm, hai tôn giả đang đi du hoá, thấy trời chiều nên vội vã trở về tinh xá. Bỗng nhiên khí trời thay đổi, đổ cơn mưa lớn, hai tôn giả đi vào lò gạch để trú mưa. Mưa lâu lắm mà vẫn chưa tạnh, ngoài trời tối sầm mà mưa lại to hơn, cả hai đều không có áo đi mưa, nên không thể trở về, chỉ còn cách là ngủ qua đêm nơi lò gạch.

Khi ấy, phía sau lò gạch đã có một cô gái chăn bò đến trú mưa trước hai vị. Hai tôn giả không biết đã có người khác phải trú mưa tại đó, mặc dù các vị đã chứng quả thánh, nhưng Thanh Văn không nhập định thì không biết mọi việc, chẳng khác phàm phu.

Do nghiệp chướng sâu dày của cô gái, nên khi nhìn thấy hai tôn giả cùng trú ở qua đêm với mình, cô ấy khởi tà niệm, trong tâm vọng tưởng cùng hai tôn giả phạm tà hạnh.

Hai tôn giả vì không nhập định nên không biết mục nữ này đã khởi niệm tạo nghiệp tà dâm với hai Ngài.

Trời vừa sáng, hai tôn giả từ lò gạch đi ra.

Bấy giờ, có một người không tốt tên Cừu-kỳ-ly. Ông ta không sợ nhân quả, khinh chê các bậc thánh hiền, trong tâm đầy tà kiến, sân si, tật đố lại hay nói lời thô cư sĩ. Khi nhìn thấy hai tôn giả và cô gái có sắc mặt không đoan chánh từ lò gạch đi ra, ông liền khởi nghi và đem phao tin là:” Hai tôn giả Xá-lợi-phất và Mục-kiền-liên đã quan hệ bất chánh với cô gái chăn bò tại lò gạch đêm mưa hôm đó”.

Không những thế, người kia còn đi rộng phao tin thất thiệt cho các Tỳ-kheo nghe biết. Lúc ấy, các Tỳ-kheo lo ngại cho ông ta phải bị quả báo đoạ địa ngục vì tội nói xấu bậc thánh, nên hết lời khuyên can Cừu-kỳ-ly rằng:” Ông chớ nên nói lời huỷ báng hai vị tôn giả”. Các Tỳ-kheo vì thương xót người không biết rõ việc tội phước, nên khuyên can ba lần như thế, để giúp ông ta giảm bớt tội khổ. Nhưng Cừu-kỳ-ly không biết suy nghĩ, khi thấy các Tỳ-kheo khuyên can, chẳng những không nghe mà còn nổi cơn sân giận, càng mạ lỵ hai tôn giả giống như người điên.

Khi ấy, có thiên nhân Bạc-già-phạm trước kia chính là trưởng giả Già-bà là đệ tử của hai tôn giả, được hai tôn giả hướng dẫn tu học và đã chứng quả đến vị A-na-hàm. Vị ấy đã mạng chung và được sinh lên cõi trời Phạm thiên. Trời Bạc-già-phàm thấy Cừu-kỳ-ly huỷ báng hai vị tôn sư của mình, nên dùng thần thông, hiện xuống khuyên răn Cừu-kỳ-ly.

Cừu-kỳ-ly thấy bỗng nhiên có người xuất hiện trong nhà của mình, hốt hoảng hỏi:” Ông là ai? Từ đâu đến? Nhà đóng cửa tại sao ông lại vào đây được?”.

Vị trời đáp:” Ta từ cõi trời Phạm Thiên xuống đây, tên Bạc-già-phạm. Do vì ta nghe ông dùng lời phỉ báng hai vị tôn giả, cho nên mới xuống đây khuyên ông, hy vọng từ đây về sau, ông không tái phạm tội lỗi, gây ra khẩu nghiệp nữa”.

Dù đã hết lời khuyên bảo, nhưng Cừu-kỳ-ly một mực cố chấp, còn dùng lời giễu cợt:” Ông nói ông là Thiên Nhân Bạc Già- Phạm, chứng quả A-na-hàm. Đức Phật nói:” Bậc A-na-hàm là người không còn trở lại cõi dục”, sao ông còn đến phòng tôi? Nếu như thế thì lời của đức Phật là hư dối sao?”

Vừa nói dứt lời, thì trên thân của ông ta từ đầu đến chân tự nhiên mọc nhiều ghẻ độc lớn như hạt đậu. Bị như thế mà ông vẫn không hề hối hận, đi đến trước Phật kiện rằng:” Xá-lợi-phất và Mục-kiền-liên đã quan hệ bất chánh với cô gái chăn bò”.

Đức Phật dùng lời hoà nhã khuyên can, chớ nên huỷ báng hai vị tôn giả. Nghe lời Phật khuyên, ông ta nổi sân khiến cho các ghẻ độc trên người ông thêm lớn. Phật khuyên bao nhiêu thì Cừu-kỳ-ly càng phỉ báng hai vị tôn giả, khiến cho các mục ghẻ của ông to bàng nắm tay.

Cừu-kỳ-ly phỉ báng hai vị tôn giả trước Phật lần thứ ba, thì mục ghẻ trên thân ông lớn như trái bầu, bức nóng không chịu nổi.

Ông ta liền chạy xuống ao nước ngâm mình trong đó, thì nước trong ao biến thành nước nóng. Ông càng ngâm mục ghẻ càng lở loét và lớn thêm cho đến khi ông không chịu nổi tắt thở. Lập tức đoạ vào địa ngục chịu tội khổ đến hàng vạn kiếp.

Lúc ấy, các Tỳ-kheo thưa hỏi nguyên nhân vì sao hai tôn giả Xá-lợi-phất và Mục-kiền-liên lại bị người nói xấu như thế?

Đức Phật đáp:” Nhiều kiếp về trước, khi hai vị tôn giả còn là phàm phu, một hôm có một vị tăng từ lò gạch đi ra, lại có một cô gái chăn bò đi theo sau. Hai vị khởi tâm khinh khi nói:” Đã là người xuất gia mà còn quan hệ bất chánh với người nữ”. Do vì phỉ báng người xuất gia mà hai vị đã chịu quả khổ trong ba đường cư sĩ, tuy hiện tại hai tôn giả đã chứng quả thánh, nhưng vẫn còn phải trả tội báo của khẩu nghiệp đời trước, là bị người phỉ báng nặng nề đến như vậy”.

Trồng tre được tre, trồng sen được sen, trồng dưa được dưa, trồng đậu được đậu…Người gieo tạo nghiệp xấu, phải chịu quả báo xấu. Đạo lý nhân quả nhất định như thế, không hề sai lệch.

Kẻ ác mắng người hiền

Kẻ ác sầu khổ thêm

Nếu mắng  người tu hành

Nghiệp ác càng lớn hơn

 

ĐỜI NGƯỜI VÔ THƯỜNG

 

Có một vị đạo nhân tên Trường Thọ, gia tài vô lượng, lại là người nhân từ, thường bố thí cho người nghèo khổ thiếu thốn. Đạo nhân có một người bạn thân, đến thăm thấy bản thân ông tiết kiệm từng đồng, không dám xài phí, cực khổ lắm mới làm ra tiền của, có được gia sản như hôm nay thật không dễ. Vậy mà đạo nhân đem cúng dường Tam-bảo, cứu giúp người nghèo không hề tiếc nuối. Khi ấy, người bạn mới nói với ông:” Anh đem gia tài làm các việc phước đức, cúng dường Tam-bảo, bố thí người nghèo, công đức anh lớn lao khó ai bì kịp”.

Đạo nhân đáp:” Không nhiều! không lớn đâu! Theo lời Đức Phật dạy, thì tôi chưa chứa nhiều công đức đâu!”.

Phật dạy: Chúng sinh tử vô thuỷ kiếp đến nay, trôi năn trong sáu nẻo, không có ngằn mé”. Những việc bố thí của tôi nếu đem so sánh, bình quân mỗi ngày không đáng là bao, như thế so với năm tháng bị luân hồi đâu thể tính nhiều được?”

Đức Phật dạy:” Giả như có người đem của cải bố thí khắp thiên hạ, công đức không bằng người nghe được một câu kinh của Phật”. Do kính tin lòng từ bi dạy bảo của Phật, tôi đem của cải bố thí rộng khắp, cứu giúp người khốn khổ. Bởi vì nếu người chỉ lo tích chứa tài sản, không những không được giải thoát, mà còn có thể nhân của cải mà gây tai hoạ cho thân mình. Tuy nhiên nếu người biết sử dụng của cải đúng pháp, bằng cách đem cúng dường bố thí thì công đức rất lớn không thể nghĩ bàn”.

Đạo nhân nói tiếp:” Anh có nghe nói trong núi sâu có một loại chim Yết, lông đuôi của nó rất đẹp, nên nó đặc biệt thương tiếc bộ lông. Không may bị cỏ dại hoặc các thứ dơ tạp bay đến dính trên lông, nó không hề dám cử động vì sợ tổn thương đến bộ lông đẹp đẽ. Kết quả, vì không dám cử động, nên nó thường đậu trên đất hoặc chỗ thấp, thế nên hay bị thợ săn đánh bắt, chẳng những không giữ được bộ lông đẹp kia mà ngay đến tánh mạng cũng không thể giữ gìn.

Vì thương tiếc bộ lông nên bị hoạ hại thân. Con người thương tiếc tài vật cùng với loài chim Yết kia đâu có khác gì? Con trâu mao cũng vậy, chỉ vì mến tiếc cái đuôi xinh đẹp của nó, mà bị người sát hại. Trên đời này thật không ít người si mê, chỉ biết liều mạng để kiếm tiền của, lòng tham không chán, chẳng biết tai hoạ ngày một gần, còn không chịu tỉnh giác, một khi vô thường đến” tất cả đều không thể mang theo, chỉ có nghiệp theo mình mà thôi”.

Khi ấy, đạo nhân đem tất cả tài vật bố thí cho mọi người hưởng dụng. Ông nghĩ:” Nếu cuộc đời vô thường như thế, chi bằng hiện tại rộng tạo phước điền, để thoát khỏi tai hoạ về sau”.

Đạo nhân lại nói:” Có một số bằng hữu thân thích trách tôi tại sao đem của cải ra bố thí hết, không giữ lại một ít để dành cho con cháu. Thật ra, con cháu tự có cái phước của con cháu, đâu cần chúng ta phải bận tâm. Tôi đưa ra một thí dụ:” Hãy nhìn loài ong mỗi ngày phải bay đi hút mật hoa. thật cực khổ mới kết thành mật đường cho ong con làm thức ăn. Cuối cùng lại bị người đến dùng khói lửa đốt cháy, lấy hết mật ong ra khỏi tổ. Không những bị lấy hết mật , mà có thể liên tiếp bị con người sát hại. Tai hoạ của con ong từ mật mà ra, cũng như con người bị hoạn nạn là do của cải, có gì khác đâu?”.

Tôi sở dĩ đem của cải ra bố thí, xa lìa sắc dục, chính vì muốn tránh tất cả những tai nạn đưa đến. Người đời đêm ngày lo toan, lao tâm nhọc sức, tẩt cả chì vì tiền của. Nếu sớm biết được cuộc đời là vô thường, một khi tắt thở sang đời khác, những tài sản đã có, không thể đem theo dùng được. Nếu người đắm mê mong cầu tiền bạc, bất chấp mọi thủ đoạn để được tài vật bất chính là tạo tội, không thể nào trốn tránh được đâu. Người này sau khi chết, không những bị đoạ trong đường ác chịu khổ, đời sau sinh ra cũng phải đền nợ trước, phải trả đủ tài vật đã thiếu của người, theo ngày tháng mà tính thêm lợi tức. Nghiệp đã tạo ngày càng lâu, thì tội báo phải chịu càng nhiều”.

Đạo nhân trân trọng nói tiếp:” Người sống ở đời, giống như ngồi thuyền đi trên sông, Thuyền trở đồ nặng, rất dễ bị chìm, thật là nguy hiểm, phải khéo dùng sào tre chống phụ giúp qua sông. Thuyền trở đồ nặng, rất dễ bị chìm, thật là nguy hiểm, phải khéo dùng sào tre chống phụ giúp qua sông”. ( Sào che: Pháp lành của Phật dạy thoát khỏi sông mê, biển khổ).

Đạo nhân Trường Tọ nói với mọi người:” Thân người giống như chiếc thuyền, mạng người vô thường nguy hiểm, sáng còn chiều mất, nên sớm học Phật pháp, đem thân cúng dường Tam-bảo, bố thí, giúp đỡ mọi người, tạo nhiều phúc đức, thì mỗi ngày sống của người mới thật đáng quí”.

Tham lam quả báo khổ nghèo cùng

Cúng dường bố thí phước càng tăng

Thiện ác theo nhau như hình bóng

Nẻo xuống nẻo lên tự tâm thôi.

 

 

 

HƯƠNG THÁNH ĐỨC BAY XA

 

Tâm lành xé áo bó vết thương

Khuyên người tạo tội sửa lỗi lầm

Nhân lành sinh phước đời đời hưởng

Thân khoác y vàng, miệng thoảng hương.

 

Thành Vương-xá là thủ đô nước Ma-kiệt-đà (Ấn Độ), trước kia có một gia đình giàu có, lại còn vang danh là trưởng giả hiền đức. Ông nhờ người làm mai mối đem sính lễ đến cưới cô thiên kim tiểu thơ con trưởng giả khác về làm vợ. Kết hôn không lâu, phu nhân đã hoài thai.

Từ khi có mang, trong miệng của phu nhân trưởng giả thường phát ra mùi thơm lạ thường hiếm có, bay khắp cả nước. Người nào ngửi được mùi hương đó, đều có cảm giác an lạc. Họ đều nghĩ không biết muì hương nhiệm mầu như thế xuất phát từ đâu? Ai nấy đều bàn tán, suy lường về nguồn gốc phát sinh mùi hương kia.

Vua A-xà-thế cũng ngửi được mùi hương ấy, hạ lệnh cho tất cả các quan quân bí mật tìm ra nơi xuất phát mùi hương. Không lâu sau, tìm được mùi hương xuất phát ra từ miệng của phu nhân trưởng giả. Trước kia toàn thân của phu nhân không có mùi hương như thế, chỉ sau khi thọ thai mới sinh ra mùi hương kỳ lạ.

Lúc ấy, quan quân vội vàng về triều báo cáo cho quốc vương hay. Vua A-xà-thế vô cùng hoan hỉ, liền triệu trưởng giả vào cung nói:” Hiền khanh! Phu nhân của khanh, nếu sinh ra nam tử xin hãy tặng nó cho bổn vương”.

Sau mười tháng mang thai, phu nhân sinh ra một bé gái phúc tướng đoan trang. Đứa con gái này không giống như đứa bé gái khác, từ khi mới sinh ra đã có áo vàng che thân, mẹ của bé thấy việc kỳ lạ, liền cởi áo vàng ấy bỏ ra, song lại thấy hiện ra cái áo khác. Cứ thế, phu nhân không có cách nào cởi bỏ được chiếc áo ấy. Mọi người đều công nhân đứa bé gái kia có nhiều phước đức. Song cũng cho đây là việc kỳ lạ, nghĩ xét không biết đứa bé này đã tạo nhân gì ở đời quá khứ, mà đời này vừa sinh ra đã được mùi hương thơm và áo quí che thân như vậy?

Dân chúng tại thành Vương-xá đều cũng nghĩ như thế, nên cử người đến núi Linh Thứu thưa hỏi đức Phật, họ nói:” Chỉ có đức Thế Tôn mới hiểu rõ cội nguồn và có thể giải thích cho chúng ta hiểu mà thôi”.

Khi ấy, đức Thế Tôn đang diễn nói diệu pháp tại núi Linh Thứu ( Vương Xá), người đại biểu đi đến trước Phật đảnh lễ, cung kính trình thưa về sự việc đã xảy ra và xin đức Thế Tôn giải nghi cho tất cả mọi người.

Đức Phật đáp:” Thời quá khứ, có một người phụ nữ nghèo khổ sống trong thôn làng kia. Một hôm, cô đi ra cửa thì trời mưa lớn, cũng khi ấy có vị Tỳ-kheo già bị trọng thương đi tới, cô gái nghèo kia đã vì vị Tỳ-kheo chùi rửa bùn máu nhơ bẩn, rồi cho mượn y phục của mình để băng bó vết thương.

Người thiếu nữ nghèo ấy, tuy sinh sống nơi miền quê mùa không được sự giáo dục bao nhiêu, nhưng cô ta lại biết: Phật là bậc đại giác ngộ trên hết ở thế gian này, Pháp Phật sâu rộng vô biên, trên trời dưới thế không gì có thể bằng.

Cô thiếu nữ biết cung kính Tam Bảo, công đức cung kính người xuất gia  nhiều vô lượng. Cô cũng biết đối với Tam-bảo nếu không kính quí hoặc huỷ báng, quấy nhiễu, chê cười việc phải quấy của người xuất gia thì phạm phá” Hòa hợp Tăng” là phạm đậi tội( một trong năm tội phải đoạ địa ngục vô gián). Do đó, cô rất chí thành cung kính Tam Bảo lại còn tán dương công đức cứu đời của đức Phật.

Nếu cô thấy người nào không kính tin Tam-bảo, sinh tâm huỷ báng thì cô đều hết lời khuyên nhủ, khiến cho người kia bỏ ác tu thiện; cô lại còn nói rõ những tội nghiệp, nhân quả về việc huỷ báng Tăng Ni, khuyên người kia biết sám hối Tam-bảo. Những người phạm tội huỷ báng Phật pháp Tăng, sau khi nghe lời cô khuyên dạy, chỉ dẫn, được khỏi tội phước sinh, số đông không thể tính.

Cô gái hiền lương này có tâm thiện, đem y phục của mình cắt ra băng bó vết thương cho vị Tỳ-kheo già bị trọng thương; lại dùng lời lành khuyên bảo mọi người bỏ ác hành thiện, do nhân duyên hiền thiện như thế nên được nhiều phước báu có một không hai trên đời. Vì thế mà sau khi mạng chung, sinh làm thiên nữ trên cõi trời Đao-lợi, hưởng phước trời đến ngàn năm, sau khi hết phước trời ấy, sinh làm thân người, tự nhiên được y báu che thân luôn cả người mẹ cũng được phước báu có hương thơm hơi miệng”.

Tâm lành miệng thánh phát hương thơm

Kính giúp Tỳ-kheo bó vết thương

Cõi trời hưởng phúc vui vi diệu

Phước do hướng dẫn người làm lành.

Câu chuyện này được trích từ quyển đầu trong” Phật thuyết kinh Thí Dụ”.

-Tự cắt dọc y phục của mình để băng bó vết thương cho người xuất gia, được phước sinh cõi trời và có y báu cuốn thân. Khuyên người ác khẩu, bỏ dữ làm lành nên được phước báu trong miệng có mùi hương. Công đức này vô lượng vô biên.

-Người tạo tội nghiệp phỉ báng Tăng Ni sau khi chết đoạ vào địa ngục Bạt-Thiệt chịu tội cắt lưỡi, sau đó nếu có làm người phải chịu qủa khổ đui, điếc, câm , ngọng, đời đời chịu người phỉ báng. Miệng phát ra hơi hôi, lời nói ra không ai tin tưởng, thọ khổ nhiều vô lượng.

 

CẢN NGƯỜI XÂY CHÙA QUẢ BÁO VÔ BIÊN

 

Một hôm , Long vương A-nậu-bà-đạt-đa  thỉnh Đức Phật đến Long cung thiết trai cúng dường. Đức Phật dẫn 500 vị đệ tử cùng đến thọ trai. Phía trước cung điện có một ao lớn, gọi là ao A-nậu-đạt. Trong ao có nước bát công đức của ao Thất bảo liên nơi thế giới cực lạc Tây Phương. Phàm những người có duyên phước, chỉ cần uống vào một giọt, liền chứng trí túc mạng, có khả năng biết được tất cả việc quá khứ. Những vị đệ tử của Đức Phật phần nhiều đã chứng quả A-la-hán đủ sáu thần thông, chỉ còn một số ít chưa chứng quả. Từ khi uống bát nước công đức ấy thảy đều chứng trí túc mạng, thấy biết hết những việc đã xảy ra trên thế gian.

Đức Phật vì muốn cho mọi người thấy rõ sự nghiêm trọng của luật nhân quả nghiệp báo, ngài đứng bên ao A-nậu-bà-đạt-đa bảo 500 đệ tử sau khi uống bát nước công đức, mỗi người phải tự chân thật nói về nghiệp báo nhân quả của mình để cảnh giác tất cả chúng sinh.

Tôn giả A-bi-đề thưa trước:” Thuở xưa, sau khi Phật Câu-lâu-tôn nhập niết-bàn, có nhiều đệ tử phát tâm xây chùa rộng lớn để có chỗ cúng Phật và tăng chúng yên nghỉ. Khi đó, tôi là người ở gần chùa Phật, thấy nhiều người phát đại nguyện rộng lớn xây chùa, bỗng nhiên nảy tâm ngu si tật đố. Lúc đó tôi sinh ý xấu đến trước những người phát tâm xây chùa nói: “ Hoạch định một công trình to lớn, tháp cao tới mây, chánh điện rộng lớn như thế, chắc phải lao tâm phí sức, mà không biết đến bao giờ mới hoàn thành? Chỉ bằng xây nhỏ lại một chút, cũng có công đức vậy, vừa không hao tiền bạc mà lại không phí công sức nữa”. Đúng là “ hoạ từ miệng sinh” chỉ câu nói ấy mà đã chiêu cảm nghiệp xấu, phải chịu khổ không thể tính kể.

Không bao lâu, tôi mạng chung. Sau khi chết bị đoạ vào địa ngục, chịu lửa phiền não đốt cháy, sự đau đớn không thể nào chịu nổi, ngày đêm kêu gọi những người đến cứu, nhưng không ai có thể giúp được.

Lúc đó, tôi tự kiểm xét nỗi lầm của mình do nhân gì mà phải chịu quả đau khổ thế này. Khi hiểu ra, tôi rất xấu hổ, sám hối tội lỗi của miệng, ngay một niệm sám hối trồng được căn lành, thoát khổ địa ngục bỏn sẻn. Sau đó, lại tái sinh làm thân chim quạ, mang hình sắc đen xấu, là quả báo của người thô ác, mọi người trông thấy đều chán ghét, cười nhạo khinh chê, nhiều đời tôi phải chịu quả súc sinh khốn khổ như thế, trải qua một vạn năm không biết pháp giải thoát.

Về sau, đến thời Đức Phật Ca Diếp, tôi đầu thai làm người xấu xí, đoạ lạc trong đường xấu, lại sinh vào trong loài chim đáng ghét, đến đâu cũng bị người xua đuổi. Khi ấy, tuy tôi là một con chim nhỏ, đời quá khứ đoạ trong địa ngục xan tham, đã từng nhờ ánh sáng của một niệm sám hối nên cũng có căn lành, nhân đây tôi cũng nhớ được nghiệp ác khẩu đời trước. Mỗi ngày, tôi ở dưới gốc cây bên đường tại nước Ba-la-nại, từ xa thấy hào quang của Phật Ca-diếp sáng hơn cả ánh mặt trời, cùng rất nhiều thánh chúng Tỳ-kheo, vây quanh lễ bái cung kính nghe pháp âm. Tôi cũng theo đoàn người lễ bái, lắng nghe Phật thuyết pháp, trong miệng thường phát ra tiếng kêu bi ai hướng đến Phật thành tâm sám hối. Đức Phật Ca-diếp du hành giáo hoá chúng sinh nơi nước ấy, tôi vẫn theo sau Ngài kêu khóc, khẩn cầu Thế Tôn từ bi cho tôi được sám hối, giúp tôi sớm tiêu trừ tội nghiệp, giải thoát kiếp súc sinh đoạ đầy. Đến nay được gặp đấng chánh giác Thích-ca Mâu-ni là bậc đạo sư vô thượng, bấy giờ tôi theo Phật xuất gia học đạo, chứng quả A-la-hán đầy đủ sáu phép thần thông.

Nhớ lại thời quá khứ do một lời nói không ý thức mà phải chịu vô lượng khổ sở, khiến tôi còn kinh sợ. Cũng nhân đây tôi hiểu rõ tội khẩu nghiệp cao như núi, nếu không chân thành sám hối thì không biết đến bao giờ tôi mới sớm thoát khổ đây?”

Một lời nói ác khổ vạn năm

Thốt câu thô ác tội vô biên

Nếu hay phỉ báng người tu đạo

Muôn kiếp sầu buồn thật đáng thương.

1-Câu chuyên này cảnh giác chúng ta về tội đáng sợ của khẩu nghiệp. Chúng ta đã biết rõ “ Hoạ từ miệng ra” nên phải giữ miệng hộ tâm, chớ nói lời vô ích, càng không nên phỉ báng Tam Bảo, chiêu tội báo rất nặng.

2-Người đoạ vào  ba đường khổ súc sinh, ngạ quỷ, địa ngục phần nhiều đều là do đời quá khứ tạo khẩu nghiệp. Tội” khẩu nghiệp” nghiêm trọng như thế, không thể không dè dặt!

3-Trong cửa Tam Bảo phước đức có thể cầu, song cũng dễ tạo tội. Do vì không biết nên dễ tạo thành nghiệp ác, về sau nếu biết hối cải, hướng đến Phật cầu xin sám hối, phát tứ hoằng nguyện và nỗ lực tẩy trừ nghiệp chướng, tương lai ắt sẽ được thành tựu quả Phật.

 

NHỜ PHƯỚC SINH THIÊN

 

Năm dài tháng rộng quên tu phước

Chỉ lo buôn bán kiếm tiền nhiều

Duyên hết, phước không mang thân thú

Độ anh nói pháp thoát kiếp trâu.

Trước kia, có một gia đình cha mẹ đều qua đời, chỉ còn hai anh em sống nương tựa vào nhau. Người anh buôn bán giàu có. Người em xuất gia học phật chứng được quả thánh A-la-hán, đầy đủ sáu phép thần thông.

Tôn giả vì muốn cứu anh mình thoát khỏi biển khổ sinh tử, nên về nhà tha thiết khuyên anh tu phước tạo công đức, tôn giả nói:” Mạng người chỉ sống được vài mươi năm, mà anh lại tính làm sự nghiệp để đến ngàn năm. Kinh Phật dạy:” Đời người vô thường, tài sản rốt cuộc cũng chỉ là không”. Nếu một mai vô thường đến, dẫu anh có gia tài nhiều vô lượng, vàng chất như núi đi nữa thì cũng không thể đem theo dùng.

Như nay chỉ lo tích chứa của cải, sau này bị của cải ràng buộc không thể giải thoát, nhân đây còn tạo ra nhiều nghiệp xấu bị đoạ vào trong đường ác”.

“ Này anh! Đời sống con người vô thường, anh cũng đã có nhiều tiền bạc, không cần phải vì tiền bạc mà lao tâm khổ nhọc nữa, nên mau quy y Tam Bảo, tu học Phật pháp, trồng cội phúc để làm vốn liếng trí huệ cho đời sau”.

Người anh đáp:” Lời của em nói thật không sai, nhưng hiện nay anh phải lập thêm công xưởng, đẩy mạnh sản xuất, cực khổ lắm mới có miếng ăn, đâu có thời gian mà học Phật, làm các công đức “. Người anh của người tôn giả thì mỗi lần nghe em khuyên nhủ thì luôn nói” Công việc gấp”. Anh mượn cớ vì miếng ăn mà từ chối lời khuyên, khiến tôn giả nhiều lần thất vọng trở về, không còn nghĩ ra biện pháp nào để khuyên anh mình được hết.

Không lâu sau, người anh bỗng nhiên mang trọng bệnh qua đời. tôn giả thương nhớ anh khôn tả. Sau vì muốn biết anh mình đang ở chốn nào nên tôn giả dùng đạo nhãn quan sát cõi thuộc đường lành thì không thấy, tìm trong đường địa ngục, ngạ quỷ cũng không thấy. Cuối cùng lại thấy anh đang mang lông đội sừng, đầu thai làm một con trâu.

Một hôm, người phu xe trở một xe hàng hoá rất nặng đi trên đường núi, con trâu kéo xe rất lớn. Đường quanh co hiểm trở, con trâu kéo xe vất vả. Người phu xe chẳng những không thương xót, lại còn dùng roi đánh mạng, làm con trâu quá đau rống to, âm thanh nghe buồn thảm, giống như tiếng của người đang bị đau khổ mà không thể cứu giải được vậy”.

Tôn giả nhìn thấy anh mình đang bị đau khổ như thế, trong lòng xót xa không tả. Lúc ấy ngài dùng thần thông bay đến đứng bên đường trâu đang kéo xe, đem những lời anh đã nói lúc còn sống nói lại cho trâu nghe:” Ta không có thời gian để tu phước làm công đức”, sau đó lại nói tiếp:” Thử nghĩ vì tiền bạc mà phải bận rộn cả đời, kết quả lại nếm mùi như thế sao?”

Con trâu nghe tôn giả nói, liền cúi đầu chảy nước mắt, vô cùng hổ thẹn rồi nhịn ăn mà chết. Chủ con trâu biết được lấy làm kỳ lạ, nghĩ người xuất gia này đã dùng pháp thuật gì khiến cho con trâu của mình chết? Bấy giờ, mọi người trong gia đình ấy tìm kiếm tôn giả trách hỏi nguyên nhân. Tôn giả giải thích:

“ Con trâu này chính là anh tôi đã đầu thai. Bởi do trước đây anh tôi ham thích giàu có, dù tôi có đêm Phật pháp khuyên nhủ thế nào thì anh tôi cũng từ chối bảo mắc bận nhiều công việc. Do anh tôi không hiểu được đời người là vô thường, khổ, không, vô ngã nên cứ mãi lo làm ăn, bỗng nhiên bị bệnh rồi qua đời. Do kiếp trước không chịu làm phước tu công đức, chỉ làm thương tổn nhiều người để có nhiều tiền, nên sau khi chết theo nghiệp đầu thai làm trâu đền lại nợ trước. Tôi vì thương nhớ anh nên đã dùng đạo nhãn tìm kiếm thấy anh mình đang đoạ làm kiếp súc sinh, nên tôi mới giúp anh tỉnh ngộ và hướng công đức tu hành đến cho anh tôi”.

Mọi người nghe tôn giả trình bày, biết đây là bậc tu hành chứng quả nên rất mực cung kính và cũng nhân câu chuyện này đã khiến mọi người giác ngộ được cuộc đời vô thường, nhân quả nghiệp báo đáng sợ. Bấy giờ, họ cùng nhau làm lễ siêu độ cho trâu. Con trâu nhờ phước đức của tôn giả mà thoát được kiếp súc sinh, hưởng được phước trời.

Hết thảy sự vật đều vô thường

Của cải dù nhiều cũng về không

Nếu không làm phước tu điều thiện

Muôn kiếp mang thân phận nghèo cùng.

1-Con người luôn vì sự nghiệp mà bận rộn, không chịu reo trồng phước đức trí huệ. Sau khi mạng chung qua đời khác, kết quả vô phước phải đầu thai làm kiếp thú, chịu muôn phần đau khổ.

2-Kinh Phật dạy:” Con người chỉ có thể mang theo nghiệp lành dữ đến đời sau”. Nếu như con người chúng ta không thể quên ăn bỏ ngủ, thì cũng không thể không làm các việc phước đức tu trồng trí huệ.

3-Tu học Phật pháp, rộng làm phước điền, mới là gia tài pháp bảo giúp chúng ta dùng hoài không hết.

 

LỠ LỜI LÀM CHÓ

 

Tỳ-kheo trẻ mắng Tỳ-kheo già

Biết thành tâm sám hối nên tội giảm

Song năm trăm đời vẫn làm thân chó

Chỉ một lời nói, phải bị khổ khôn cùng.

Một thời, Đức Phật Thích Ca Mâu Ni ngụ tại tinh xá Kỳ Viên, khi ấy tôn giả Xá-lợi-phất mỗi ngày thường dùng thiên nhãn xem xét chúng sinh đang thọ khổ trong sáu đường luôn hồi, xem ai là người có nhân duyên đáng được độ, tức liền đến giáo hoá giúp chúng sinh ấy thoát khổ được vui.

Lúc ấy, có rất nhiều thương nhân, kết bạn đi buôn. Họ tìm đến nước lân cận buôn bán. Trong số đó có một thương buôn mang theo con chó để nó canh giữ hàng hoá ban đêm.

Trên đường đi, họ dừng ngủ ở một doanh trại bên đường. Con chó lẻn cắp thịt của những thương buôn khác. Sau đó, người chủ phát giác bị mất thịt, loan báo khiến mọi người trong đoàn hết sức tức giận, hè nhau lấy cây đánh chó gãy chân rồi đem nó vất ngoài đường.

Cũng lúc đó, tôn giả Xá-lợi-phất bằng thiên nhãn thanh tịnh thấy rõ hết sự việc, Ngài biết con chó không thể đi nổi, đau đớn rên la, chắc chắn bị đói lạnh mà chết.

Tôn giả đi xin thức ăn rồi vận dụng thần thông mang đến cho con chó. Con chó được cho ăn, nên mạng sống được kéo dài, nó vẫy đuôi lộ vẻ vui mừng.

Tôn giả Xá-lợi-phất vì con chó giảng nói Phật pháp vi diệu, sau khi được nghe pháp mầu, tội chướng của nó tiêu trừ, nó cảm tạ ân cứu mạng và chết ngay khi ấy.

Nói đến con chó chết rồi, chuyển kiếp sinh làm người, sinh gia trong một gia đình Bà-la-môn trong thành Xá-vệ.

Hôm ấy tôn giả Xá-lợi-phất cầm bát đi đến trước cửa Bà-la-môn khất thực, Bà-la-môn hỏi tôn giả:” Thưa tôn giả, Ngài đi một mình, không có thị giả theo hầu sao?”.

Tôn giả đáp:” Tôi không có thị giả. Nghe nói gia chủ có một đứa con trai, vậy gia chủ có bằng lòng cho đứa bé theo hầu tôi không?”

Gia chủ đáp:” Tôi có một đứa con tên Quần Đề, song tuổi còn rất nhỏ, chưa biết gì hết, nên không thể theo hầu ngài được. Đợi nó lớn một chút, thì tôi sẽ cho theo Ngài làm thị giả”.

Tôn giả bằng lòng.

Thời gian trôi qua, người con trai của Bà-la-môn ấy được 7 tuổi, tôn giả Xá-lợi-phất nhớ lời hứa cũ nên tìm đến nhà Bà-la-môn để xin cho đứa bé xuất gia. Bà-la-môn ấy vô cùng hoan hỉ, cho con trai Quân Đề xuất gia làm Sa-di.

Tôn giả dẫn Quân Đề đến tinh xá Kỳ Viên, thế phát cho làm sa-di Quân Đề sáng tâm hiểu đạo, chứng được quả A-la-hán được thần thông tự tại.

Sau khi chứng đạo, sa-di Quân Đề vận dụng trí túc mạng nhớ lại những kiếp trong đời quá khứ của mình đã làm gì? Ở đâu? Do đó nhớ duyên đời trước khi làm con chó được tôn giả Xá-lợi-phất từ bi cứu mạng, nói pháp tế độ, nên được làm thân người, đời này vẫn tiếp tục tế độ khiến cho ngài thoát khỏi đau khổ ràng buộc trong vòng luân hồi. Khi ấy sa-di Quân Đề rất đỗi vui mừng, muốn báo đáp ân trọng, nên phát nguyện trọn đời theo hầu tôn giả Xá-lợi-phất “.

Sa-di Quân Đề kể lại:” Đời trước sở dĩ ta phải mang thân chó là do kiếp xa xưa ta đã lỡ tạo khẩu nghiệp.

Vào thời Phật Ca-diếp, ta từng xuất gia tu học. Bấy giờ ta cùng với đại chúng tụng kinh. Trong ấy có một Tỳ-kheo già âm thanh tụng kinh khàn đục, rất khó nghe. Ta ỷ mình tuổi trẻ, âm thanh trong trẻo, nhiều người khen ngợi, nên khởi niệm chê tụng kinh của vị Tỳ-kheo già giống như chó sủa. Lúc đó, vị Tỳ-kheo đã chứng A-la-hán, Ngài bảo ta:” Tỳ-kheo kia, ngươi chê lầm ta rồi”.

Tỳ-kheo trẻ nói:” Tôi biết ngài là bậc Tỳ-kheo thượng toạ ở đây phải không?”

Tỳ-kheo già nói:” Ta tuy tụng niệm âm thanh khó nghe, song ta đã thoát ly sinh tử, không còn thân sau nữa”.

Lúc bấy giờ khi nghe vị Tỳ-kheo già nói thế, tâm ta kinh sợ, tự biết đã lỡ lời, vô cùng hổ thẹn, cầu xin sám hối.

Nhưng khi tội đã thành rồi thì không còn cách nào tiêu trừ, từ đó ta bị quả báo liên tiếp năm trăm đời mang thân chó, trả nợ cho câu nói chê bai bậc đã chứng thánh quả.

Song, cũng do nhân lành trước kia đã xuất gia học Phật pháp, giữ giới thanh tịnh, chính nhờ công đức ấy mà ngày nay ta được gặp tôn sư cứu mạng, còn tế độ giúp ta chứng được quả thánh. Ôi! Công đức của Thầy thật là thênh thang vô kể!

Khuyên tất cả mọi người, dè dặt từng tiếng nói, không để phạm lỗi lầm bị quả báo khổ như ta.

Chê người tụng kinh tiếng như chó sủa,

Phải bị năm trăm đời làm thân chó.

Nhân quả theo nhau nghìn muôn kiếp

Mảy may không sót phải răn dè.

 

CẢI TẠO MẠNG VẬN

 

Vợ chồng khốn khổ hiểu nguyên nhân

Nghĩ tột không tiền chịu bán thân

Hoan hỉ gieo trồng cây phúc đức

Vua khen, thưởng quả chuyển nghiệp nghèo. 

Kinh Phật chép:” Muốn biết nhân đời trước xem quả đời này đang thọ; muốn biết quả đời sau, xem nhân tạo đời này”. Sự giàu sang, nghèo cùng, khổ vui của con người đều có quan hệ nhân quả. Tuy nhiên, cái gọi là vận mệnh ấy, cũng có thể dùng tâm chúng ta mà sửa đổi.

Người xưa nói:” Tâm tốt thì mạng cũng tốt, được giàu sang cho đến tuổi già; mạng tốt mà tâm không tốt, phước bỗng chuyển thành hoạ. Tâm tốt, mạng không tốt, tai hoạ chuyển thành phước; người tâm, mạng đều không tốt, cảm quả nghèo cùng và nhiều tai nạn. Tâm có thể cứu vãn được số mạng, đó chính là lòng nhân từ; vận mạng được tạo từ tâm, hoạ phúc do người chiêu cảm”. Dưới đây, là câu chuyện chỉ dạy cho chúng ta cách” Cải tạo vận mạng”

Xưa, có hai vợ chồng tên Kế La Di, tâm ý rất hiền hoà và hay nhịn nhường mọi việc, cho nên cảnh gia đình chàng tuy có vẻ thanh bạch, nhưng đương nhiên không khỏi rơi vào trường hợp “ nghèo”, làm cho vợ chồng phải phấn đầu với hoàn cảnh, xông lưới giữa phong trần để tìm phương nuôi sống.

Đang trong tình huống ấy, nếu những hạng người tầm thường không đủ nghị lực, thì ắt không tránh khỏi sự nhớp nhơ tâm hạnh. Nhưng chàng Kế La Di đối với hoàn cảnh ấy xem như một trường học dạy về khoa cao thượng và cũng là lò thiên nhiên để cho chàng rèn đúc tâm hồn trở nên thuần tuý.

Một ngày, vợ chồng Kế La Di thức dậy sớm, chia nhau mỗi người một ngả đi làm mướn. Trong khi đi được nửa đường, Kế La Di có gặp nhiều ông trưởng giả y phục nghiêm trang, bộ dạng văn nhã, cùng nhau câu hội trong một ngôi chùa kia để tổ chức cuộc bố thí cầu phước thì tâm trí của chàng sinh ra nhiều trộm trách thầm than thân phận của mình không biết ngày sau sẽ có thể làm được những lợi ích cho loài hữu tình như vậy hay không, nên trọn ngày chàng cứ xốn xang trọng dạ.

Đến tối, mãn giờ làm công việc cho chủ, chàng liền cáo từ ra về. Tắm gội vừa xong thì trời cũng đã khuya, nên hai vợ chồng vào phòng an nghỉ.

Thấy chồng nằm ngủ không được mà lại thở dài nàng vội cất tiếng dịu dàng mà hỏi:” Đêm đã khuya, canh hầu tàn sao chàng cứ trằn trọc trở lăn, chưa ngon giấc nồng. Hay là tại dầm sương phơi nắng, làm ráng quá sức, mà sinh chứng nhức mỏi thương hàn, xin nàng vui lòng cho tỏ cho thiếp biết, đặng tiện việc thuốc thang điều trị”.

Tiếng oanh thỏ thẻ nghe có điệu âm nghĩa thâm trầm, làm cho Kế La Di càng thêm bồi hồi thổn thức và nước mắt nhỏ ra dầm dề, nhưng chàng cứ im hơi, không trả lời một tiếng.

Chàng chỉ thầm nghĩ trong trí rằng:” Đời trước ta không làm việc phước thiện, nên ta phải chịu cảnh nghèo, còn mấy nhà trưởng giả kia kiếp trước họ hay làm phước, nên nay được phong phú hơn người. Đó là lẽ tất nhiên theo luật nhân quả. Huống chi ta là kẻ hàn vi vô phước, nếu nay không sớm lo chứa đức tu nhân, thì kiếp sau không khỏi thống khổ hơn nữa”.

Nghĩ như vậy rồi chàng thêm sụt sùi rơi lệ, buồn bã không cùng.

Người vợ bèn mở lời hỏi nữa rằng:” Cớ sao thiếp thấy chàng có vẻ buồn bực dị thường, xin nghĩ tưởng tình chăn gối mà tỏ hết mọi lỗi cho thiếp nghe, hầu có chia đắng sớt bùi đôi chút với chàng, thì thiếp mới thoả dạ”.

- Hiền thê ơi! Đôi ta số phận nghèo nàn, thua sút hơn mọi người, là bởi kiếp trước không có tu phước. Vì nghĩ như vậy, nên ta quá đỗi ưu phiền, không ngăn nổi đôi mạch sầu ấy.

- Thưa lang quân! Theo ngu ý của thiếp xét nghĩ thì sự buồn rầu khóc tủi như thế chẳng có ích gì, mà ngồi lo suông cũng không có hiệu quả chi, không bằng lang quân mang thân thiếp đây bán cho người giàu, đặng lấy số tiền làm các việc Phật sự, thì hay biết bao nhiêu! Song không biết lang quân có đồng tình với thiếp chăng?

- Hiền thê ơi! Thế thường có câu “ sống thì đồng tịch đồng sàng, chết thì đồng quan đồng quách”. Tuy nghèo hèn rách rưới, song đôi ta lúc sơ giao cho đến bây giờ, mảnh ái tình rất nên trong sạch và đằm thắm như bát nước đầy. Nay bỗng nhiên bảo đem thân nàng mà bán cho nhà giàu là sao? Điều vô nhân đạo đó, ta không thể làm được!

- Thua lang quân! Thiếp tuy là phận nữ lưu kém thiếu về phần kiến thức, nhưng thiếp cũng biết rằng” thà tử biệt còn hơn sinh ly” là thứ bệnh chung của loài người sống trong trời đất, tất không ai làm được hết, chớ không riêng gì một mình chàng. Vậy thiếp xin tỏ thêm một ý kiến này nữa, hầu chàng thẩm xét và thực hành. Xin chàng nên biểu đồng tình với thiếp, cả hai đều đem thân đi bán cho một nhà giàu nào đó mà làm ở làm tôi tớ trai gái, đặng lãnh đồng tiền làm các việc công đức”.

Đến đây đã giải được vấn đề “ tác phước”, nên hai vợ chồng Kế La Di đều được toại lòng an giấc, rồi sáng ngày đồng dắt nhau đi đến nhà một phú hộ mà thưa rằng:” Nay chúng tôi đem cả hai thân nghèo nàn này đến xin ông đổi lấy ít đồng vàng đem về cúng Phật làm phước”.

Ông phú hộ nghe nói sự lạ như vậy thì vội hỏi rằng:” Hai vợ chồng ngươi đổi chừng mấy đồng?”.

Chàng Kế La Di đáp:” Thưa ông! Chúng tôi định đổi lấy mười đồng mà thôi”.

Ông phú hộ nói:” Ta hỏi thử hai vợ chồng ngươi chơi vậy, chớ ta không muốn bó buộc đâu. Bây giờ ta cho hai vợ chồng ngươi mượn trước mười đồng vàng, trong khoảng bẩy ngày phải lo cho đủ số mà đem trả cho ta. Nếu đúng kỳ hẹn mà không lo nổi, thì qua ngày thứ tám hai vợ chồng phải lại đây ở làm công việc cho ta đặng trừ nợ”.

Nội trong ngày thứ nhất, giấy tờ làm xong, lăn ray điểm chỉ giao kết đâu đó đoàng hoàng, hai vợ chồng Kế La Di lãnh được mười đồng vàng, rồi giã từ ông phú hộ, đi đến một ngôi chùa kia, vào ra mắt vị chủ Tăng xin nạp tất cả số tiền ấy, đặng nhờ ngài từ bi đến bữa thứ sáu mở hội làm chay bố thí giùm, rồi qua ngày thứ bảy thì hoàn kinh cúng ngọ.

Chủ Tăng thấy vợ chồng chàng tuy là nghèo nàn mà có dạ tin Phật khẩn thiết như vậy, thì trong lòng thương mến vô cùng, nên bảo người trong chùa lo treo phướng bắt bông, sửa soạn Phật điện nghiêm khiết và mua sắm các món đồ diệu cúng v.v…

Khi ấy vợ chồng Kế La Di quá đỗi vui mừng, dường như đã nhẹ mình bay theo ánh sáng của Phật, đặt chân trên mặt đất “kim sa bố địa” của đức Di-đà mà không còn nghe biết mùi tanh hôi thống khổ ở trần tục nữa vậy. Cho nên vợ lo giã gạo xay bột, chồng lo bửa củi ghánh nước, bảo lãnh hết các việc mệt nhọc trong việc làm chay.

Hai vợ chồng bèn dặn bảo nhau rằng:” Đôi ta chỉ được tự do hành động nội trong sáu ngày nữa mà thôi, vậy nên chớ nài cực nhọc, đừng nghỉ ban đêm, ráng thức mà làm công quả, đặng trồng giống phước để về ngày sau, chớ hết hạn bảy ngày, thì đôi ta sẽ làm nô lệ cho nhà người, không có quyền tự tại mà tạo nhân phước thiện được nữa”.

Trong lúc ấy lại có một vị quốc vương ở nước nọ, chọn ngày làm kỳ siêu cho tiên vong và bố thí cho dân nghèo cũng trùng một bữa với hai vợ chồng Kế La Di mà không hay, nên bảo kẻ thị vệ sửa soạn xe giá, chở bạc vàng gấm lụa và châu ngọc, rồi vua đồng ngự giá đến chùa, xin mở hội kỳ siêu đặc biệt.

Vị chủ Tăng tâu lại rằng:” Muôn tâu Thánh thượng! Bữa ấy bần tăng đã định là ngày làm chay cầu phước cho hai vợ chồng người nhà nghèo kia rồi. Nếu thánh thượng muốn thiết chay đặc biệt, không chung chạ với phàm dân thì xin rời qua ngày khác!”

Vua nghe nói mấy lời ấy thì lấy làm ngạc nhiên mà phán rằng:” Trẫm đây là đấng quân chủ, có lẽ đâu người kia là đứa tiểu dân mà dám không nhường ngày ấy cho Trẫm hay sao?”.

Nói như vậy rồi, tức thời Vua sai sứ giả ra nói với Kế La Di phải nhường ngày thứ sáu đó lại cho mình đặng làm chay trước, rồi qua ngày khác chàng sẽ mở cuộc trai đàn của chàng. Như vậy thì chẳng trễ nãi ngày giờ của Vua đã định, mà chàng cũng được trọn ơn nghĩa đối với bề trên.

Kế La Di nghe sứ giả dạy như vậy, bèn thưa rằng:” Bẩm cùng sứ quan! Ngày ấy tôi không có thể nhường đặng!”.

Đã ba lần sai sứ giả đến nói, mà ba lần chàng Kế La Di cũng như kiên chấp không chịu nhường, nên vua lấy làm lạ, bèn cho đòi chàng đến tận mặt mà hỏi rằng:” Sở dĩ làm sao mà ngươi không chịu dời ngày khác làm chay, đặng nhường ngày đó cho Quả nhân?”.

Kế La Di thưa rằng:” Muôn tâu lệnh Thánh thượng! Chỉ trong hai ngày ấy thì kẻ mạt dân này mới có phần tự do, chớ quá hai ngày đó thì phải làm nô lệ cho người, không còn hy vọng cúng Phật trai Tăng được nữa”.

Vua hỏi rằng:” Tại sao vậy? Ngươi khá tỏ thật cho Quả nhân rõ”.

Kế La Di đáp:” Muôn tâu thánh thượng! Kẻ mạt dân này nghĩ vì bần cùng là tại kiếp trước không biết tu phước, mà hay nếu không sớm liệu làm lành, ắt kiếp sau còn nguy khốn hơn nữa.

Vậy nên vợ chồng kẻ mạt dân này đành đem thân bán cho người, đặng lấy mười đồng vàng về làm phước và hẹn trong bảy ngày, nếu không có số tiền ấy mà hoàn lại, thì phải đến ở mướn mà trừ nợ.

Vì nguyên cớ ấy, nên hai vợ chồng kẻ mạt dân này, thà cam tấm nhắm mắt dưới lưỡi kiếm vô tình của thánh thượng còn được toại lòng hơn là sống là lỡ dở, không được làm theo ý nguyện.

Nghe đến câu chuyện này, vua động lòng thương chàng Kế La Di vô hạn, nên Ngài khen ngợi rằng:” Nhà ngươi bề ngoài tuy là đê hèn, mà tinh thần ở trong thật là cao thượng, hiểu lý bần cùng đã thấu đáo, biết lẽ nhân quả cũng tinh tường, nên quyết đem thân mềm bở mà đổi lấy thân cứng bền, biết đem của biến hiện mà đổi lấy thân thường trụ. Như thế thật là xưa nay chưa từng có, cho nên Quả nhân vui lòng để vợ chồng ngươi kiến thiết pháp hội trước”.

Vua nói vừa dứt bèn truyền lệnh lấy vàng bạc châu báu mà cho hai vợ chồng Kế La Di, và thảo ra một tờ chiếu chỉ dạy địa phương cắt mười bốn chục tụ lạc làm đất phong mà ban cho vợ chồng chàng hưởng huê lợi vĩnh viễn.

Nhờ vậy mà Kế La Di  có tiền đem hoàn lại mười đồng vàng cho ông phú hộ gia và tạ ơn ông.

Nếu người thật tâm tạo phước điền

Cúng một đồng lợi được vạn đồng

Phước chuyển nhiều đời vui hành thiện

Nhân lành quả chín phước huệ tăng

­1-Công đức phát tâm từ chân thành cúng dường Tam Bảo thật không thể nghĩ bàn. Hai vợ chồng Kế-la-di trước kia nghèo cùng khốn khổ, ý thức được nguyên nhân nghèo khổ nên đồng bán thân để có tiền cúng dường trong thời gian bảy ngày, chuyển nghiệp nghèo trở thành một đại phú gia.

2-Người mong cầu của cải, phát tâm cúng dường Tam bảo để được phước, nhất định sẽ được phước; người giàu có mong tạo thêm nhiều phước đức, đem tài vật của cải cúng dường Tam bảo thì đời đời tài bảo dùng không hết.

3-Đức Phật dạy:” Khởi một niệm lành, thốt một lời lành, cúng dường tăng chúng tứ sự theo nhu cầu, đều gọi là thí; Tuỳ phước lớn nhỏ được sinh lên sáu tầng trời, nếu sinh làm người thì được mười kiếp”. Bí quyết thay đổi mạng vận chính từ do phát tâm tu phước.

 

THẦN THÔNG XUYÊN ĐÁ

 

Phật pháp như nước rửa sạch cấu uế

Như lửa mạnh thiêu đốt hết vật tham sân

Nghèo giàu sang hèn từ một thể

Xuất gia chứng đạo đủ thần thông

Trời giải hoa, thân xuyên qua đá.

Bỏ nghiệp ghánh phân suốt năm trăm đời.

 Một thời, đức Phật Thích Ca đang ngự tại Kỳ Viên, thành Xá Vệ, thuộc nước Câu-tát-la. Tại đây nhiều người nhân nghe pháp Phật đều được giải thoát, nhờ đời trước đã gieo trồng thiện căn sâu dày. Cũng trong thành ấy, có một người thuộc giai cấp hạ tiện, thường gọi Ni-đề, hành nghề đổ phân để nuôi sống bản thân.

Một hôm, Phật quán sát căn cơ chúng sinhl, xem ai là người có duyên đáng được độ? Ngài thấy chàng Ni-đề kia, nghiệp tội đã giảm, đủ nhân duyên được độ thoát. Nhân đây, Thế tôn cùng tôn giả A-nan đi vào thành khất thực. Thế Tôn cố ý đi vào một đường hẻm chật hẹp, gặp Ni-đề đang cầm bình sành đựng đầy phân và nước tiểu đang từ đường hẻm đi ra. Thấy trước mặt mình là bậc giác ngộ cao quí, vì sợ phải đối mặt với đức Phật, Ni- đề xấu hổ quẹo đi ngõ khác, ông cũng lại gặp đức Phật. Ni-đề quýnh quáng định chạy trốn. Và vì không tự chủ, xoay tới xoay lui nên bình phân trên tay đụng mạnh vào tường. Thế là, khắp cả người ông đều thấm ướt phân và nước tiểu, khiến ông càng hổ thẹn, không dám nhìn đức Phật.

Thế Tôn đến trước Ni-đề nói:” Ni-đề, ông có muốn xuất gia tu hành để vĩnh viễn thoát khỏi đau khổ trong vòng sinh tử không?”

Ni-đề cúi mặt thưa:” Thế Tôn là bậc vua chúa, hàng tôn quí xuất gia, đệ tử đi theo đều là những người giàu có. Con xuất thân từ giai cấp hạ tiện, đâu thể được như mọi người mà xuất gia tu hành”.

Thế Tôn nói:” Giáo pháp của ta nhiệm màu thanh tịnh. Như nước trong có thể rửa sạch tất cả cấu uế. Phật pháp giống như ngọn lửa mạnh mẽ thiêu đốt tất cả, bất luận vật lớn hay nhỏ, sang hèn đều thành tro bụi. Phật pháp bình đẳng rộng khắp, không có sự khác nhau giữa bần tiện và sang quí. Bất cứ là nam nữ, già trẻ, sang hèn, trí ngu nếu thật tâm xuất gia tu hành, thì đều có thể chứng thánh quả”.

Ni-đề nghe Thế Tôn khai thịi, kinh ngạc và quá bất ngờ, liền phát tâm xin Phật xuất gia. Thế Tôn bảo A-nan dắt Ni-đề đến sông lớn ngoài thành tắm rửa, rồi hãy dẫn về tinh xá.

Phật dạy Ni-đề:” Tất cả chúng sinh đều phải chịu tám thứ khổ: Sanh, già, bệnh, chết, thương yêu xa lìa khổ, cầu không được khổ, ghét mà thường gặp khổ, năm ấm hưng thịnh là khổ”. Tám điều khổ này không luận bần cùng hay phú quí, thông minh hay ngu si đều khó thoát khỏi, ngoài ra còn các thứ khổ do thiên tai, chiến tranh gây ra… và cuối cùng còn có cái khổ lớn nhất là luân hồi traong sáu nẻo, mãi mãi không dừng. Người nào muốn thoát khỏi nỗi khổ như thế, thì phải lìa tục xuất gia, tinh tấn tu hành, mới có thể đạt được an vui thanh tịnh  Niết-bàn”.

Sau khi Ni-đề nghe Phật dạy về chân lý vô thường, khổ, không…bỗng nhiên tâm được khai ngộ chứng quả Tu-đà-hoàn, thấy rõ khổ đế. Ông tha thiết cầu xin Thế Tôn xuất gia trở thành vị Tỳ-kheo. Phật chấp thuận liền vì ông cạo râu bỏ tóc, cho mặc pháp y, hiện tướng Tỳ-kheo.

Phật lại dạy Tỳ-kheo Ni-đề pháp tứ thánh đế:

KHỔ ĐẾ: Chúng sinh có tám thứ khổ, vô lượng nỗi khổ…Những khổ nạn này đều do nghiệp ác của mỗi người đã tạo từ đời trước, nay phải chịu quả báo.

TẬP ĐẾ: Chúng sinh do không thấy biết đoạn trừ những cội gốc vô minh phiền não tham sân si…lại chìu theo đó mà tạo các nghiệp ác khiến kết thành quả khổ.

DIỆT ĐẾ: Nếu muốn hưởng được an lạc Niết-bàn thì phải đoạn trừ tất cả cội gốc vô minh phiền não.

ĐẠO ĐẾ: Con đường an lành giúp hành giả tu tập phát sinh trí huệ, đoạn trừ lậu hoặc, đạt được an vui vĩnh viễn.

Sau khi nghe Thế Tôn thuyết giảng về Tứ thánh đế, Ni-đề được đoạn trừ hết tất cả phiền não, thành tựu đạo quả A-la-hán, chứng được tam minh, lục thông.

Tin người ghánh phân Ni-đề xuất gia được loan truyền nhanh chóng đến tai đức vua. Nhiều người bất bình, bàn luận xôn xao:

“Thế Tôn sao lại cho cả người ghánh phân gia nhập vào hàng ngũ xuất gia cao quí? Chúng ta đâu thể lễ bái con người bần tiện đó được? Giả như chúng ta thỉnh Phật và chúng tăng cúng dường, nếu có cả Tỳ-kheo ghánh phân này thì sẽ làm ô uế chỗ ngồi trong nhà chúng ta sao?”

Vua Ba-tư-nặc nghe tin này, cảm thấy sầu muộn. Vua ngồi xe báu đi đến tinh xá Kỳ Viên thỉnh Phật về vấn đề này. Xe báu vừa đến cổng tinh xá, đang tạm dừng dưới gốc cây chờ thưa báo.

Ngoài cổng tinh xá có một hòn đá lớn, khi ấy Tỳ-kheo Ni-đề đang ngồi may áo trên tảng đá ấy. Chư thiên đang ở trên không trung cung kính rải hoa cúng dường tôn giả.

Vua Ba-tư-nặc thấy thầy Tỳ-kheo tướng mạo trang nghiêm, nên rất hoan hỷ, đến trước thầy Tỳ-kheo nói:” Thưa tôn giả! Nay con có việc đến lễ bái đức Thế Tôn, xin tôn giả vào thưa giùm con được không?”.

Thầy Tỳ-kheo liền đi xuyên qua đá vào tinh xá trình lên đức Phật.

Phật bảo:” Ông từ tảng đá đi vào đây thì bây giờ từ tảng đá đi ra mời đức vua vào đây”.

Tỳ-kheo Ni-đề làm theo lời Phật dạy từ trong đá bước ra mời đức vua:” Thế Tôn mời đức vua vào bên trong”.

Vua Ba-tư-nặc thấy việc phi thường ấy sinh lòng kính nể, hết nhìn tảng đá lại nhìn thầy Tỳ-kheo, rồi tự nghĩ: Ta hãy vào thưa hỏi Thế Tôn xem thầy Tỳ-kheo này là ai? Giới đức thế nào? Sao lại có thần lực như thế?

Vua Ba-tư-nặc sau khi thăm hỏi đức Thế Tôn xong, chắp tay hỏi Phật:” Vị Tỳ-kheo vừa rồi là ai? Thầy có thần thông quảng đại quá!”.

Phật cười nhẹ nói:” Đó là thầy Tỳ-kheo Ni-đề, người mà đức vua muốn đến hỏi Thế Tôn hôm nay đó. Thế Tôn đã hoá độ cho ông ấy xuất gia và thành Tỳ-kheo A-la-hán.

Vua Ba-tư-nặc nghe Phật nói xong, mọi hoài nghi sầu muộn đều tiêu tan hết, sinh tâm hoan hỷ.

Thế Tôn nói:” Phàm người sinh ra ở đời giàu nghèo, khổ vui…đều do quả báo lành dữ đã tạo từ đời trước của người ấy. Giả như có người lòng nhân từ, giữ gìn hoà khí, trên kính dưới nhường, do nhân thiện này sẽ được quả báo tốt, sinh trong giàu sang; ngược lại, người gieo nhiều nhân xấu thì quả xấu cũng theo đó chiêu cảm, cuộc sống nghèo cùng, bất an”.

Sau khi nghe Thế Tôn dạy, vua Ba-tư-nặc hoan hỷ cung kính hướng về Thế Tôn bạch:” Đức Thế Tôn xuất hiện ở đời làm lợi ích cho vô lượng chúng sinh. Ni-đề là người thuộc giai cấp thấp cũng được Thế Tôn hoá độ thành tựu đạo quả, huống chi là những người khác.

-Bạch Thế Tôn, vị Tỳ-kheo này do nhân duyên gì mà phải sinh trong nhà bần cùng khốn khổ như vậy? Và được phước đức gì mà lại được Thế Tôn hoá độ, chứng quả A-la-hán?”.

Thế Tôn đáp:” Vào đời quá khứ, sau thời Phật Ca-diếp, nơi ấy có ngôi chùa lớn, gồm cả 1.000 Tỳ-kheo tu hocj. Vị trụ trì của tăng đoàn này kiêu ngạo, ỷ quyền, lười biếng, bình thường hay sai đệ tử đổ phân tiểu cho mình. Song người đệ tử này đã chứng thánh quả, do nhân duyên sai khiến bậc thánh đổ phân uế nên nhiều kiếp bị quả báo, phải lang thang trong sinh tử, làm người hạ tiện đổ phân, không được giải thoát. Song do quá khứ, ông đã từng xuất gia tu học, giữ giới cấm của Phật, nên được Phật hoá độ thành Tỳ-kheo, khai tâm chứng đạo. Người trụ trì ấy chính là Ni-đề ngày nay vậy”.

Ngu trí, sang hèn hay giàu nghèo

Tất cả đều do nhân thiện ác

Phật pháp dạy người rất bình đẳng

Bần cùng xuất gia chứng thánh quả.

 

CÚNG PHẬT TRAI TĂNG

 

Thái tử cúng dường rõ nhân xưa

Không thỉnh tăng trước làm ăn xin

Phật dạy tân tăng dùng thần lực

Bắc-câu mỹ thực lấy đem về.

 

Thế Tôn vì chúng nói nhân duyên

Năm trăm đầu bếp hầu thánh hiền

Mệt nhọc lâu ngày sinh ý ác

Khởi tâm sám hối phước tăng theo.

Một thời, đức Phật Thích-ca Mâu-ni ngự tại tinh xá Kỳ Viên- Ấn Độ giáo hoá chúng sinh. Giáo pháp của Phật là rất bình đẳng. Mỗi ngày đức Thế Tôn đều thực hành pháp khất thực theo thứ lớp, không luận giàu nghèo sang hèn, thảy đều đối xử như nhau, giúp mọi người có cơ hội gieo trồng cội phước.

Mỗi khi Phật và chúng tăng vào thành khất thực, có chừng khoảng 500 người ăn xin theo. Số người ăn xin này nương oai đức của Phật nên cũng được no đủ qua ngày. Nhân đó, nhiều người ăn xin trong thành lại lũ lượt đến nhập đoàn, số tăng đến khoảng 500 người.

Nhiều lần núp bóng Phật và chúng tăng, một hôm người dẫn đầu đoàn ăn xin sinh tâm hổ thẹn, nói với người trong đoàn:” Chúng ta là những người mang nhiều tội khổ, hiện tại tuy được nương theo oai của đức Phật và chúng tăng nên mới được thí chủ cúng dường thức ăn, mạng sống được kéo dài đến hôm nay. Song, nghiệp khổ của chúng ta trong tương lai nhất định sẽ tăng thêm, bởi vì chứng thánh chúng ta trong tương lai nhất định sẽ tăng thêm, bởi vì chư thánh chúng đều là những bậc tu hành có nhiều phước trí, đủ công đức để hồi hướng cho thí chủ tiêu trừ tai hoạn, phát sinh trí huệ. Còn như chúng ta chỉ mỗi ngày ăn suông của thí chủ, thật qúa hổ thẹn.

Đoàn người ăn xin nghe nói trong lòng có ít nhiều tỉnh ngộ, sinh tâm hổ thẹn. Khi ấy, có người đưa ra đề nghị:” Nếu vậy thì chúng ta nên xin phép đức Phật từ bi thu nhận cho chúng ta xuất gia làm Tỳ-kheo để được như pháp tu hành, thế có tốt hơn không?” Tất cả mọi người đều nhất trí lời đề nghị này, đồng đến xin Phật cho phép xuất gia tu hành.

Đức Phật dạy: “ Giáo pháp của ta rất bình đẳng, không phân biệt người trí, kẻ ngu hoặc giàu nghèo sang hèn; giáo pháp của ta rất thanh tịnh, như nước sạch tẩy trừ được hết các cấu uế, bỏ nhơ thành sạch, phục hồi cội chơn mà từ lâu đã bỏ quên”. Những người ăn xin nghe Phật dạy rồi thảy đều vui mừng, phát tâm bền chắc, thiết tha cầu Phật độ cho xuất gia.

Đức Phật đồng ý, lại dạy:” Chí nguyện xuất gia tu hành của các ông rất tốt, không kể là trước đã tạo tội ác như thế nào, chỉ cần chí tâm sám hối, sửa lỗi làm lành, tuân thủ giới luật, Ta cho phép các ông được xuất gia thành Tỳ-kheo”.

Bấy giờ, 500 người ăn xin được cạo tóc xuất gia mặc pháp phục trở thành Tỳ-kheo. Đức Phật nói pháp khai đạo giúp những vị ấy tinh tấn dụng công diệt trừ cội gốc sinh tử phiền não tham, sân, si, chứng quả thánh, trở thành 500 vị A-la-hán.

Sau khi nhóm người ăn xin xuất gia, dư luận xã hội Ấn Độ lúc ấy xôn xao bàn tán, rất nhiều người sang quí cho đến dân chúng đều khởi tâm khinh khi, họ nói:” Vì sao Đức Phật lại cho phép những người bần cũng này gia nhập vào tăng đoàn? Như chúng ta muốn tạo phước cúng dường Phật và tăng chúng, làm sao có thể để họ ngồi trên, rồi quì dưới lễ bái cúng dường những người ăn xin này cho đươcj? Thật là việc vô lý!”

Ngày ấy, thái tử Kỳ-đà cung thỉnh Phật và toàn thể thánh chúng đến tư gia thiết trai cúng dường và thưa rõ là không đủ chỗ ngồi nên không thỉnh 500 vị Tỳ-kheo thuộc nhóm ăn xin.

Ngày sau, trước khi đến nhà thí chủ thọ trai, đức Phật bảo 500 vị tân Tỳ-kheo A-la-hán :” Hôm nay Ta cùng chúng tăng thọ trai tại tư gia thái tử Kỳ-đà, song thái tử không mời các ông. Các ông nên vận dụng thần thông đến Bắc-câu-lô-châu lấy gạo chín tự nhiên, rồi trở về nhà thái tử tìm chỗ ngồi phía sau, dùng gạo chín ấy”.

Các Tỳ-kheo y lời Phật dạy, sau khi lấy gạo quí, liền nương hư không giống như đàn chim ưng bay đến tư gia thái tử. Các vị đầy đủ oai nghi, theo thứ lớp ngồi dùng gạo quí, liền nương hư không giống như đàn chim ưng bay đến tư gia thái tử. Các vị đầy đủ oai nghi, theo thứ lớp ngồi dùng gạo quí hiếm có.

Thái tử Kỳ-đà thấy các thánh chúng thần thông quảng đại, oai nghi nghiêm túc, vô cùng hoan hỷ, cung kính hỏi Phật:” Bạch Thế Tôn! Các đại đức thánh chúng này tướng tốt trang nghiêm, oan thần vời vợi ở phương nào đến đây? Mong Thế Tôn vì chúng con nói rõ nguồn gốc của các vị?”

Phật đáp:” Thái tử! Ngài lắng nghe kỹ, chúng Tỳ-kheo này là những người ăn xin thuở trước, do vì ngài không mời nên các vị đi đến xứ Bắc-câu-lô-châu đem gạo quí chín tự nhiên về dùng”.

Trong tâm thái tử lúc ấy vô cùng xấu hổ, biết mình có tâm phân biệt sang hèn, cố chấp nặng nề nên tự trách:” Không biết vì sao tôi lại quá ngu như thế, thật là tội lỗi”.

Thế Tôn lại khen ngợi đức Phật:” Công đức của Thế Tôn thật là vô lượng! Những người ăn xin ngày trước cũng được độ thành tựu thánh quả, đạt được niềm an lạc vĩnh hằng. Những chúng sinh nhiều tội khổ, phát tâm quy y tam bảo, tinh tấn tu học Phật pháp, thành tựu được công đức vô lượng vô biên”.

Thái tử lại thưa tiếp:” Bạch Thế Tôn! 500 vị A-la-hán này đời trước đã gieo nhân gì mà nay được Thế Tôn cứu độ? Và các vị đã tạo tội thế nào mà phải chịu làm kiếp ăn xin nghèo hèn?”

Đức Thế Tôn đáp:” Vào một kiếp lâu xa ở quá khứ, có 2.000 vị Tỳ-kheo tu hành trong núi, tất cả đều là bậc thánh Duyên giác. Do địa phương ấy bị hạn hán, nên mùa màng thất bát, cuộc sống người dân thật khó khăn.

Nơi ấy có một vị trưởng giả giàu có dư dả, phát tâm cúng dường thực phẩm hành ngày cho 2.000 vị Tỳ-kheo. Trưởng giả phái 500 người làm công, mỗi ngày đều phải chuẩn bị thiết trai cúng chư Tỳ-kheo, lo lắng đầy đủ thức ăn uống.

Hàng ngày, trưởng giả hết lòng chuẩn bị món ngon cúng dường. Nhưng 500 người làm công của ông do ngày dài tháng rộng nên mệt mỏi, lần hồi sinh tâm chán ghét, thốt lời không hay tạo nên khẩu nghiệp. Họ thường cất tiếng than oán và khinh dễ các Tỳ-kheo.

Hôm ấy, các Tỳ-kheo bảo với trưởng giả:” Trời hạn hán đã lâu, nên không trồng trọt được thứ gì, nhưng bắt đầu từ hôm nay, xin trưởng giả hãy chuẩn bị hạt giống, sai người cày đât gieo mạ”. Trưởng giả y theo lời dặn, gieo giống trồng trọt. Quả nhiên, trời tưới mưa khắp nơi, tất cả cây cỏ đều thuận thấm tươi tốt, mọi người vui mừng khôn kể. thế là mùa này trưởng giả được bội thu, chứa đầy cả kho trong ngoài, còn dư đem ra bố thí cho người nghèo.

Bấy giờ, 500 người làm công biết đã phạm tội khinh chê người xuất gia nên sinh lòng hối hận. Bọn họ đoán chắc trưởng giả sẽ thiết trai lớn cúng dường như Tỳ-kheo, nên chờ ngày rồi cùng nhau đến trước chư vị thành tâm phát lồ sám hối, cầu xin tha tội. Chư Tỳ-kheo hoan hỷ cho bọn họ sám hối.

Năm trăm người lại thành tâm phát nguyện:” Nguyện cho chúng tôi sau này được gặp các bậc thánh hiền, thọ ân cứu độ, đồng được giải thoát”.

Bởi do nhân duyên đời trước khinh người như thế nên nhiều đời 500 người làm công phải chịu quả nghèo cùng ăn xin khốn khổ. Song, ngay khi ấy họ biết sám hối, sửa đổi lỗi lầm lại còn phát nguyện xuất gia tu hành thành đạo, do đó mà đời này được xuất gia chứng quả.

Thái tử Kỳ-đà! Ông biết không? Trưởng giả khí đó chính là thân ta đời trước. Năm trăm người làm công chính là những người ăn xin bây giờ cũng đã trở thành 500 A-la-hán.”

Bố thí tam luân đều không tịnh

Phát tâm cúng dường Phật và Tăng

Phàm phu không rõ chư hiền thánh

Phật biệt, chấp nê tội càng sanh.

1-Kinh Phật dạy chúng ta thường phải ứng dụng tam luân không tịnh cúng dường bố thí. Như: Người cho, người nhận, vật cho gọi là tam luân. Sau khi bố thí cúng dường, không để cho ba việc này tồn tại trong tâm, không hề chấp trước là ta đã bố thí, người kia đã nhận v.v…nếu đạt được tinh thần ấy thì mới là bố thí tam luân không tịnh.

2-Người phàm phu thông thường trong tâm còn chấp tướng, phân biệt bố thí nên thất bại. người có tâm phân biệt không những tổn phước và nhân đây lại tạo thêm các tội lỗi.

3-Câu chuyện cảnh giác chúng ta biết rằng”khẩu nghiệp” rất đáng sợ. Mắng chửi người xuất gia phải cảm quả báo 500 đời làm người ăn xin, chịu nhiều đói khổ. Song có điều tốt là sau đó biết nhận lỗi lầm, thành tâm sám hối phát nguyện, nhân đây được phước bảo gặp đức Phật cứu độ. Nếu không sám hối được sửa đổi thì đâu biết đến bao giờ mới được giải thoát.

 

PHƯỚC CÚNG DƯỜNG TĂNG

 

Cúng dường Sa-môn một bữa ăn

Tái sinh vương nữ mặt như trăng

Vì chồng rộng nói thân đời trước

Lễ Phật cúng dường phước huệ tăng.

 

Tâm phân mười cõi mặc đến đi

Sáu nẻo xưa nay mãi xuống lên

Học Phật làm lành, vượt ba cõi

Nhân ác đoạ đày tội càng sâu.

Bấy giờ, Phật giáo hình thành tại miền trung Ấn Độ, nơi ấy có một cư sĩ tín thành phát tâm cúng dường tăng chúng mỗi ngày. Trong tăng chúng lúc ấy, có vị Tỳ-kheo đã chứng qủa A-la-hán, ngày ngày đều đến nhà cư sĩ thọ nhận cúng dường.

Trong nhà vị cư sĩ này có một con chó cái, mỗi ngày đến giờ, nó đều đến ngồi bên cạnh, đưa mắt nhìn vị Tỳ-kheo thọ thực, mong được một ít thức ăn ngon.

Vị Tỳ-kheo biết tâm mong muốn của con chó, nên luôn để phần cho nó là một nắm cơm. Hàng ngày vị Tỳ-kheo thọ nhận sự cúng dường của thí chủ, con chó kia mỗi ngày được vị Tỳ-kheo cho thức ăn. Do đó, chó mỗi ngày đều hoan hỷ trông ngóng vị Tỳ-kheo, vị Tỳ-kheo cũng biết được tâm ý của con chó, nên luôn dành phần cho nó, từ đó nó thấy người xuất gia là vẫy đuôi vui mừng quấn quýt. Nhân tâm hoan hỷ cung kính vị Tỳ-kheo, nên chó tiêu trừ được nghiệp chướng cũ, thoát khỏi đường ác súc sinh.

Hai năm sau, con chó chết, thần thức đầu thai làm con gái Vua An Tức. Công chúa sinh ra đời, đã biết được đời trước của mình, bèn thưa với vua cha và mẫu hậu:

“Đời trước con đã từng làm con chó ở tại nhà cư sĩ kia thuộc nước Ấn Độ, mỗi ngày con đều được vị Tỳ-kheo dành cho phần thức ăn, nên khi thấy người xuất gia tâm con hoan hỷ, chính nhờ công đức hoan hỷ đó mà con được thoát thân đó lại được sinh làm công chúa”.

Lúc ấy, nước An Tức không có chùa Phật cũng không có người xuất gia. Một hôm, vua nước Nguyệt-thị phải một sứ thần đến nước An Tức giao hảo. Vua An Tức nhìn thấy vị sứ thần này hiền lành thông tuệ, liền gả công chúa cho vị sứ ấy. Công chúa theo chồng về nước Nguyệt Để, thấy trong nước có rất nhiều Tỳ-kheo, tâm vô cùng hoan hỷ. Nàng nhớ lại đời trước…bèn khởi  nghĩ:” Ta nên phát tâm cúng dường tăng chúng, để báo đáp đại ân đại đức đã cứu ta ra khỏi đường khổ súc sinh.

Bấy giờ, nơi đây Phật giáo rất hưng thịnh, nhiều người phát tâm theo Phật xuất gia. Hàng ngày công chúa đều cúng dường từ 400 đến 500 vị Tỳ-kheo, lại còn đích thân xắp xếp thức ăn, quét dọn sau khi mãn tiệc, không để cho người khác phải nhọc sức. Trong gia đình tất cả tôi tớ đều tán thán công hạnh của công chúa, họ nói:” Nữ chủ nhân là công chúa, mà lại thấp mình bòn phước cúng dường như thế, bọn chúng ta phải bắt chước công chúa tạo ít công đức mới được. Thế rồi tôi tớ đều giấu hết chổi quét, đến khi công chúa tìm chổi quét dọn không có, liền đi lấy y phục của mình cuộn tròn làm chổi quét. Phò mã thấy vậy nói: Tuy nàng cung kính chúng tăng rất tốt, nhưng lấy y phục quét nhà thì có lỗi rồi đó”.

Công chúa đáp:” Đời trước, thiếp nhờ tâm hoan hỷ, cung kính các vị Tỳ-kheo trong thời gian hai năm, nên đời nay mới được nhiều y phục thế này. Nay lấy y phục làm chổi, cũng đâu có lỗi gì? Đời trước thiếp không có vật gì để bố thí, thì dùng tâm hoan hỷ cung kính các vị Tỳ-kheo mà được phước lành, đời nay thiếp có phước sinh làm công chúa, chưa phải làm các việc khổ nhọc để kiếm tiền mà lại được nhiều y phục”.

Phò mã nói:” Nàng cung kính Tam-bảo tâm thành cúng dường tăng chúng, song ta không hề thấy các Tỳ-kheo cho nàng đồng bạc nào, y phục của nàng đều do công sức của ta mà có thôi”.

Công chúa liền giải thích:” Đời trước thiếp vốn sinh trong loài chó, nhân theo đệ tử Phật, được cho thức ăn mỗi ngày, nên tâm sinh cung kính các vị. Do công đức hoan hỉ cung kính đó, nay được thân chó, sinh làm công chúa. Thiếp được thoát khỏi thân chó, tất cả phước đức của đời này, hoàn toàn đều do thầy Tỳ-kheo ban tặng”.

Phò mã nói:” Nàng chỉ cung kính các thầy Tỳ-kheo, mà được các công đức, phúc đức lớn như thế, công đức cúng dường tam bảo thật không thể nghĩ bàn”.

Phò mã xưa nay ít phát tâm cúng dường, từ khi nghe công chúa kể chuyện nhân quả đời trước, liền phát tâm cúng dường bố thí rộng lớn. Phò mã xin quy y tam bảo, tinh tấn học Phật, kiến lập chùa tháp, giữ gìn trai giới, hoằng truyền Phật pháp khắp nhân gian.

Kính Tăng phước đức tựa hư không

Huỷ báng khinh chê tội cũng đồng

Phật pháp nếu hay tu phước trí

Phước lành, an lạc mãi theo nhau.

 

TÂM TÀ THỐI ĐẠO

 

Hai trẻ cùng chung quở trách mình

Khiến cho cha mẹ quá hãi kinh

Tìm củi đốt mong trừ dứt hoạ

Phật khuyên dạy rõ độ khổ nàn.

 

Sinh tử bao lần há biết chăng!

Nổi chìm cũng bởi niệm sinh thôi

Tâm tà bỏ đạo chiêu ác quả

Tính giác ăn năn đã muộn màng.

 

Vùng ngoại thành Xá-vệ thuộc nước Kiều-tát-la Ấn Độ có một thôn nhỏ ven núi, độ khoảng năm sáu chục gia đình cư ngụ. Trong thôn có một gia đình nghèo, lại sinh đôi hai cháu trai. Hai đứa bé này trông rất kháu khỉnh, sáng sủa ít có đứa trẻ nào bằng. Cha mẹ chúng rất vui, đặt tên cho cháu lớn là” Song Đức”, cháu nhỏ là “ Song Phước”.

Thấm thiát, chúng được hai tháng tuổi. Một hôm cha chúng chăn trâu ngoài đồng chưa về, mẹ thì vào núi hái củi nên đem hai bé đặt nằm trên giường.

Khi ấy, hai đứa trẻ đều biết nói và tự trách. Một đứa nói:” Hồi ấy, tôi quyết chí tu hành, lẽ ra sắp được đạo, đáng tiếc vì tâm si mê vọng tưởng ngỡ mạng người dài lâu, nên hoàn tục để hưởng thú vui ngũ dục ít lâu, độ năm, sáu mươi tuổi mới xuất gia tu hành cũng chưa muộn. Đâu biết đời người vô thường nên khi hoàn tục, việc nhà bận rộn không thể nào nhớ chuyện cũ mà lại xuất gia tu hành. Vì tâm lui sụt bỏ đạo mà tôi phải chịu trầm luân trong sinh tử, không được giải thoát.

Nếu như lúc ấy tôi quyết chí tu hành thì nay đâu bị khổ sở, sinh trong nhà nghèo khổ thế này, rau cháo qua ngày, ngủ không được ấm, chỉ đủ duy trì mạng sống mà thôi. Cứ thế trải qua biết bao nhiêu kiếp sống, làm sao biết rõ nỗi sầu khổ của cuộc sống quá khứ như thế nào? Nhưng đau khổ như thế, đều do đời trước ham mê giàu sang, buông lung thân ý để hưởng thọ khoái lạc trong chốc lát, từ đó đến nay phải chịu biết bao đau khổ, tự mình làm tự mình chịu, dẫu có đau buồn, đâu biết trách ai?”.

Đứa kia nói tiếp:” Khi ấy, tôi cũng xuất gia tu hành, nhưng không kham nhẫn được những khó khổ nhỏ cho đời tu, nên bỏ đạo hoàn tục, đến nay đã trải qua không biết bao nhiêu đời, nổi trôi trong sinh tử luân hặp toàn khổ nạn. Nay hồi tưởng lại các thứ đau khổ đã thọ đều do tự mình gây tạo, tự mình ngu si gây hoạ cho mình, nào phải ai khác? Việc đã như thế này rồi, chỉ còn biết nhẫn chịu những nghịch cảnh trái lòng, không biết phải làm sao?”

Trong lúc hai đứa bé cùng than thở tự trách với nhau, cha mẹ chúng trở về đứng bên ngoài nghe hết cuộc đối thoại. Cả hai người quá đỗi kinh sợ, khi nghe hai đứa bé này là ma quái đầu thai, cùng thương lượng với nhau: bây giờ nhân lúc chúng còn nhỏ phải sớm bỏ đi để tránh tai hoạ về sau”.

Tức thời, người chồng liền vào rừng tim củi khô về, người vợ hỏi lượm củi để làm gì?

Chồng nói:” Để thiêu sống hai đứa này trừ hậu hoạn”. Người vợ nghe nói lòng không nỡ, ngăn chồng không nên làm như thế”.

Ngày hôm sau, hai vợ chồng tiếp tục đi làm, lúc về nghe hai đứa bé tâm sự giống hôm qua, chúng đều tự trách giận bản thân mình rất nhiều. Lúc ấy người chồng quyết tâm lấy củi giết con chất thành đống, bồng hai đứa nhỏ đặt vào đống củi nổi lửa thiêu, cho là ma quỉ đầu thai phá hoại họ.

Bấy giờ, đức Phật Thích-ca Mâu-ni dùng thiên nhãn xem thấy hai đứa nhỏ sắp bị lửa thiêu chết, liền dùng thần thông bay đến thôn ấy, phóng hào quang sáng chói, đại địa chấn động. Ánh sáng giữa chặn mày của Phật chiếu khắp núi sông, cây cỏ…hết thảy đều biến thành màu bạch kim.

Đức Phật đến trước nhà của hai anh em song sinh, hai đứa trẻ vừa thấy thân sắc vàng chói của đức Phật, hết sức vui mừng. Hai vợ chồng hết sức kinh ngạc, mỗi người bế một đứa đến trước đức Phật kể hết sự việc và thưa hỏi nguyên nhân.

Đức Phật đáp:” Hai đứa trẻ này chẳng phải là ma quỉ mà là hai đứa bé có phước và có đức”. Đức Phật vì gia đình họ nói rõ nguyên nhân quá khứ của hai đứa trẻ.

“Quá khứ, vào thời Phật Ca-diếp, hai đứa trẻ này từ nhỏ đã là bè bạn với nhau, ý đồng giao hợp, nên cùng nhau xuất gia, tinh tấn dụng công tu hành. Khi chúng sắp được đạo, bỗng nhiên tâm tà giấy động, nhân đây bỏ đạo hoàn tục nên bị đoạ lạc không giải thoát, từ đó nhiều kiếp trôi nổi trong vòng sinh tử. Nhiều đời chúng sinh làm anh em song sinh với nhau. Lần này ra đời, do tội trước đã tiêu hết, lại nhờ đời trước đã từng tu hành cúng dường chư Phật nên có phước là đời này sinh ra biết được duyên nghiệp đời trước của chúng. Giờ đây chúng sắp được tiêu nghiệp giải thoát, nếu Ta không đến cứu, chúng nó ắt bị lửa thiêu đốt mà chết, Ta nay độ thoát hai đứa bé này”.

Tham luyến niềm vui ở thế gian

Trở về cam phận kiếp gian nan

Luân hồi nhiều kiếp trong sinh tử

Đều do động niệm khởi tâm tà.

1-Thân người khó được, Phật pháp khó nghe. Nếu như có nhân duyên được nghe Phật pháp, phải tinh tấn chớ thối chuyển, nỗ lực gìn giữ giới pháp, hẹn ngày giải thoát chứng Thánh quả. Nếu không, nhiều đời sẽ trầm luân trong sinh tử, vĩnh viễn không có ngày ra khỏi.

2-Trên đường tu hành, phải luôn nhớ:”Việc lớn chưa sáng như đưa ma mẹ, việc lớn đã sáng cũng như đưa ma mẹ”. Nếu tu hành chưa viên mãn, chúng ta không nên ỷ lại, phải luôn cố gắng tiến tu, chớ dần dà qua ngày để vọng tưởng khởi sinh rồi thối tâm bỏ đạo.

3-Trong vòng luân hồi muôn kiếp, được phúc duyên kỳ ngộ với Phật pháp cũng là do những công đức, phúc đức đã gây tạo từ trước. Thế nên, người khéo tu dù một chút phước nhỏ cũng bòn, một niệm lăng xăng cũng sợ, hằng tỉnh giác để đời tu luôn gặt hái nhiều duyên phước tốt.

4-Tăng chúng Phật giáo, lãnh thọ giới luật tu hành nhưng cũng có thể xả giới hoàn tục. Song thân phận người xuất gia cùng người tại gia không giống nhau, chúng ta cần phải biện rõ ràng, không nên lầm nhận. Chúng xuất gia là một bảo trong Tam Bảo, là người cư sĩ ủng hộ Phật giáo.

Người xuất gia tu hành, có chí nguyện làm lợi ích trời người thì chư Phật, chư Bồ-tát, chư Hiền Thánh Tăng, chư Hộ Pháp Long thần thảy đều hoan hỷ, có công đức vô lượng. Nếu như có người bày chuyện thị phi, huỷ báng người xuất gia, sẽ bị chư Hộ pháp Long thần quở trách, phải bị tội nặng khôn tính kể.

 

VU BÁNG BỊ QUẢ BÁO

 

Thân ghẻ kêu than xuất năm dài

Khổ sở không ngừng, thật khó phân

Do xưa sàm tấu người lương thiện

Dù cho sám hối nghiệp khó dời.

Xưa tại thành Xá-vệ-Ấn Độ có một gia đình trưởng giả đại phú, cưới con gái của trưởng giả khác là một vị khuê môn vọng tộc hiền đức xinh đẹp, thật là một gia đình trên đời ít có. Nhưng người ấy lại mang bệnh khổ ngồi nằm bất an. Nguyên nhân sau khi kết hôn, lại sinh hạ một hài nhi bất hạnh, tướng mạo của đứa trẻ này không giống như những đứa trẻ khác, nó bị chứng bệnh ngoài da nổi mụn nhọt khắp cả châu thân, mụn ghẻ trên miệng bị vỡ mủ chảy máu không lành.

Đứa trẻ này bị bệnh ghẻ làm đau đớn, ngày đêm kêu khóc, khó lòng kham nổi! Mọi người nghe tiếng kêu khóc của nó đều thương xót đau lòng.

Tuy trưởng giả đã mời nhiều danh y nổi tiếng trong nước đến chữa trị, nhưng bệnh không hề thuyên giảm. Đứa trẻ kia không ngày nào là không kêu khóc, đời sống của nó ngày đêm lo sầu muộn, mà những người chung quanh cũng bị tiếng kêu khóc của nó làm bứt rứt không yên. Nhân đó, những người chung quanh gọi tên nó là”Rên Khóc”. Cha mẹ đứa bé cũng gọi thế.

Năm tháng trôi qua, giờ đây đứa trẻ kia đã trở thành một thiếu niên. Nhưng những mụn nhọt trên thân của nó vẫn y nguyên không bớt và chàng thanh niên kia vẫn ngày đêm kêu than thống khổ. Người láng giềng hiền lành thấy thanh niên” Rên Khóc” đã nhiều năm đau khổ, nên khởi lòng thương xót chân thành, luôn cầu nguyện cho bệnh tình của thanh niên ấy mau chóng khỏi.

Người hiền lành kia nghĩ:” Chàng thanh niên này từ khi ra đời đã bị bệnh khổ như thế này chắc có nguyên nhân, đây nhất định là bệnh nghiệp”. Người kia dùng lời an ủi thanh niên:” Tôi nghe nhiều người thường xưng tán vị đại y vương là phật Thích-ca Mâu-ni đang ngự nơi rừng của thái tử Kỳ-đà vườn Cấp-cô-độc, ngài không những trị lành được những vết thương trên thân thể mà còn có khả năng làm tiêu hết những phiền muộn trong lòng người. Diệu được Cam Lồ của Phật có khả năng điều trị muôn bệnh tình của chúng sinh, tôi nghĩ em nên khởi tâm tìm đến yết kiến đức Phật, xin ngài điều trị bệnh đi?”

Chàng thanh niên nghe người mách như thế vui mừng, liền đi đến tinh xá kỳ viên xin diện kiến đức Phật. Khi thanh niên chiêm ngưỡng 32 tướng tốt và 80 vẻ đẹp của đức Phật cùng vô lượng ánh sáng chiếu khắp mười phương hơn hẳn ánh sáng của mặt trăng, mặt trời ngay đó tâm liền hoan hỷ không thể tả hết! Những bệnh khổ ưu sầu được giảm hết phân nửa. Anh thanh niên bèn đi đến quỳ trước đức Phật, năm vóc sát đất cung kính đảnh lễ. Đức Phật vì anh thanh niên nói pháp năm ấm hưng thịnh là khổ:

-“Chúng sinh mang thân này phải bị sinh, già, bệnh, chết; năm ấm là mụn nhọt vô hình; ba độc tham, sân, si trong lòng là căn rễ của mụn nhọt, giống như tên độc xuyên qua trái tim, nếu không nhổ bỏ thì nguy hiểm rất nhiều”.

Chàng thanh niên nghe lời Phật dạy trong lòng hết sức hoan hỉ biết rõ những bệnh nghiệp chướng của thân mình. Anh ở trước đức Phật chí tâm cầu xin sám hối những tội lỗi đã tạo đời trước. Sau khi chân thành sám hối, những mụn nhọt trên thân không còn lở loét nữa. Nỗi đau khổ suốt 20 năm, đến đây đã hoàn toàn không còn.

Chàng thanh niên thấy thế, quá đỗi vui mừng. Cảm tạ ân nặng của đức Phật và cầu xin đức Phật làm đệ tử cho phép xuất gia. Đức Phật hoan hỷ chấp thuận độ cho thanh niên làm Tỳ-kheo.

Sau khi thanh niên ấy xuất gia, nỗ lực dụng công tu hành, mỗi ngàu tinh tấn thực hành theo lời Phật dạy, không lâu sau chứng quả A-la-hán.

Khi ấy, trong tăng đoàn thắc mắc về chuyện phi thường của Tỳ-kheo” Rên Khóc” cho là việc hy hữu không thể nghĩ bàn. Chúng tăng đồng đến xin Phật nói rõ nhân duyên quá khứ của Tỳ-kheo”Rên Khóc”

Đức Phật kể:” Quá khứ tại nước Ma-kiệt-đà có hai đại phú gia, bình thường vì có tỵ hiềm nên thường sinh tâm đố kỵ tranh chấp. Phú gia Giáp xuất ra rất nhiều châu báu đến hiến tặng nhà vua. Sau khi nhà vua thu nhận nhiều châu báu của trưởng giả hiến tặng, đối với trưởng giả đặc biệt ưu ái. Lợi dụng cơ hội này trưởng giả Giáp nói xấu trưởng giả Ất với vua:” Người kia rất ác độc, bức bách nô tỳ, lại thường bày mưu kế hãm hại tôi. Mong đại vương chóng trị người ác, để bảo hộ chô trăm dân lương thiện”.

Nhà Vua vì bị vàng bạc châu báu che mờ nên không đủ trí quán xét, nhất thời không chịu tra xét minh bạch, hạ lệnh bắt trưởng giả Ất, dùng nhiều cực hình trị tội, dù người kia có biện minh thế nào cũng không nghe. Trưởng giả Ất bị tra đánh toàn thân bầm dập, máu chảy như nước, trăm bề khổ sở, không đứng nổi nữa. Về sau, gia đình trưởng giả Ất đem vàng bạc châu báu đến chuộc tội, trưởng giả mới được thả về.

Trưởng giả Ất sau khi về nhà lòng suy nghĩ: Có thân là có khổ, thân là nguồn gốc của mọi tội lỗi, sinh nhiều tai nạn thật đáng sợ. Ta với người kia vì có ác ý hãm hại khiến cho ta phải đau khổ thế này. Bấy giờ trưởng giả Ất quyết định xuất gia, vào núi sâu tu hành. Do quán lý 12 nhân duyên cùng tất cả sự vật trên cõi đời này đều là vô thường, khổ, không, vô ngã, tâm trí của vị ấy bừng sáng được lý Không. Chẳng bao lâu, chứng được quả Bích Chi Phật.

Sau khi vị ấy ngộ đạo, khởi lòng từ bi, xem tất cả kẻ oán người thân đều như nhau hết. Ngài nghĩ đến trưởng giả Giáp trước kia đã hãm hại người khác, tạo thành nghiệp ác, sợ trưởng giả Giáp đời sau sẽ bị đoạ vào địa ngục. Lúc ấy, ngài đến nhà của Giáp, bay lên hư không, làm các thứ thần biến, khiến cho người kia tỉnh ngộ.

Trưởng giả Giáp trông thấy người nghịch trước đây của mình có thần thông diệu dụng như thế, sinh tâm khát ngưỡng, kính tin khác thường. Rồi cung kính mời Phật Bích Chi vào nhà, đem tài vật quí giá dâng cúng dường, chân thành xin sám hối lỗi trước.

Đức Phật bảo các thầy Tỳ-kheo:” Trưởng giả kia đến quốc vương tấu hãm người hiền lành chính là Tỳ-kheo “Rên Khóc” này đó. Sự khổ đó không chỉ có một đời mà sau khi chết đi, đời đời phải mang thân đau khổ như thế, thầy thuốc bó tay, đây là tội mình làm quả mình chịu, tự thọ quả báo khổ kia.

Vị trưởng giả Giáp sau khi hướng trước Phật Bích Chi sám hối, do lòng chí thành và công đức phát tâm quy y Tam Bảo, nên ngày nay có nhân duyên được độ cho xuất gia, được chứng thánh quả.

Yêu ghét đấu tranh tạo nghiệp sầu

Tật đó rèm chê vô lượng tội

Quả báo không mất mình tự chịu

Gia tăng gấp bội lợi cho người.

1-Nội dung câu chuyện cũng nói” Hoạ từ miệng sinh”. Vu cáo hại người, tương lai chắc chắn bị quả khổ như thế, tự mình thọ quả báo mình làm.

2-Tật đó là chướng ngại cho người học p. Người có tâm tật đố, sớm muộn cũng tạo thành nghiệp ác, nhiều đời phải thọ quả khổ.

3-Miệng tạo tội huỷ báng, tự mình làm tự mình chịu, ngoài ra còn phải bị khổ báo vô lượng, đây gọi là “ một vốn ngàn lời”. Khi chúng ta tạo tội với một người, dẫn đến muôn người bị tạo nghiệp, tội báo vô lượng vô biên. Người đã từng tạo tội khẩu nghiệp hoặc hoan hỷ nói lỗi trái của người, nếu sớm nhận biết lỗi lầm, hướng về Tam Bảo chí tâm sám hối, nhờ đó sớm thoát khỏi các khổ báo đời vị lai.

 

TÔN SƯ TRỌNG ĐẠO

 

Phật nói pháp âm vang khắp nơi

Mười phương thế giới thảy nghe đồng

Phật dạy tâm thành, ân luôn nhớ

Tôn sư trọng đạo sẽ được về.

 

Pháp âm thuyết pháp của đức Thế Tôn vang khắp các cõi, khiến cho loài chúng sinh đồng nghe được pháp âm của Phật. Cho nên, mỗi lần đức Thế Tôn thuyết pháp, âm thanh vang khắp mười phương.

Tôn giả Mục-kiền-liên là một trong những đại đệ tử của đức Thế Tôn, là bậc thần thông đệ nhất. Một hôm, tôn giả suy nghĩ:” Mỗi khi đức Thế Tôn sắp nói Pháp thì thân Thế Tôn liền phóng ra ánh sáng lớn chiếu khắp cả mười phương, chúng Bồ-tát vây quanh nhiều vô kể, nghe nhận pháp âm. Ánh sáng ấy thì chiếu khắp mười phương, nhưng còn âm thanh của Thế Tôn ó được diệu dụng như thế không?”.

Khi ấy tôn giả Mục-kiền-liên lập tức dùng thần thông bay lên không trung, chỉ trong khoảng tích tắc đã đứng trên đỉnh cõi trời Đao-lợi, và nghe pháp âm của Thế Tôn vang vang bên tai.

Ngài lại bay lên xa hơn nữa, vượt qua ba ngàn thế giới và các châu: Tây-ngưu-hoá châu, Đông-Thắng-thần châu, Bắc-câu-lô châu v.v...vẫn nghe âm thanh thuyết pháp của đức Thế Tôn vang bên tai.

Đức Thế Tôn sớm biết được ý nghĩ của tôn giả mà muốn đo lường công đức giáo hoá qua âm thanh của Như Lai xa và cao đến bao nhiêu? Bấy giờ, đức Thế Tôn dùng thần lực hỗ trợ cho tôn giả Mục-kiền-liên, giúp ngài bay về hướng Tây của cõi Ta-bà. Nơi ấy có một cõi nước tên Quang Minh Tràng, hiện có Phật Quang Minh Vương Như Lai là giáo chủ đảng thuyết pháp giáo hoá chúng sinh. Khi tôn giả Mục-kiền-liên đến cõi ấy, chú ý lắng nghe âm thanh thuyết pháp của đức Thích-ca, ngài cũng nghe như là đang nói bên tai, từng tiếng rõ ràng. Cõi này, thân Phật rất cao lớn, Ngài ngồi trên toà sư tử cao đến ngàn sáu trăm dặm, dưới toà liên hoa toàn là chúng Bồ-tát, thân hình cũng rất cao lớn.

Tôn giả Mục-kiền-liên dùng thần thông bay lên đứng trên núi cao để chiêm ngưỡng toà báu và nghe Phật Quang Minh thuyết pháp. Bất chợt có âm thanh như điện rót vào bên tai:” Lạ thay! Có một con kiến không biết từ nơi nào đến, thân tướng là Tỳ-kheo, đang nhảy trên bát của chúng ta?”

Đức Phật Quang Minh bảo với Bồ-tát:” Các ngươi không nên sinh tâm khinh khi, người đó là đại đệ tử của Phật Thích-ca đang giáo hoá cõi nước ở về phương đông của cõi chúng ta, chính tôn giả Mục-kiền-liên, thần thông đệ nhất.

Khi ấy, đức Phật Thích-xa dùng thần thông bảo với tôn giả Mục-liên:” Mục liên!  Các Bồ-tát nơi cõi Quang Minh Tràng thân tướng cao lớn, trong khi người thân của ông qúa bé nhỏ, họ bảo ông là con kiến. Ông hãy dùng sức thần biến để lay chuyển tâm khinh mạn của các Bồ-tát ấy đi”.

Tôn giả Mục-kiền-liên liền đến trước toà của Phật Quang Minh Vương, thành kính đảnh lễ và nhiễu quanh Phật bảy vòng, sau đó y lời dạy của Phật Thích-ca vươn thân  cao đến hư không thật quá sức tưởng tượng, còn phóng ánh sáng chiếu khắp, trong ánh sáng có vô lượng đài sen báu, mỗi đài sen đều có đức Thích-ca ngồi diễn nói diệu pháp. Chúng Bồ-tát cõi ấy sau khi xem thấy sức thần thông của tôn giả rồi, vô cùng kinh ngạc, tất cả đồng chắp tay cung kính, đều sinh tâm hoan hỷ và bạch với đức Phật Quang Minhh:” Vị tôn giả này làm sao lại đến được cõi nước của chúng ta?”

Phật Quang Miunh Vương đáp:” tôn giả Mục-kiền-liên do vì muốn đo lường âm thanh thuyết pháp của Phật Thích-ca vang bao xa, nên mới đến đây”.

Tôn giả Mục-kiền-liên bạch với Phật Quanh Minh rằng:” Tôi từ thế giới phương xa đến, bây giờ không biết làm sao để trở về, cúi mong ngài từ bi giúp tôi nhanh chóng trở lại thế giới Ta-bà.”

Phật Quang Minh nói:” Nếu đem hết sức thần thông của ông cũng không thể trở về được. Song, có một điều hay là nếu ông không quên mất nguồn gốc, chí tâm nhớ tưởng vị thầy của ông, không quên lời dạy của thầy, một lòng đảnh lễ, xưng hiệu danh hiệu đức bổn sư là Phật Thích-ca thì sẽ được an ổn trở về”.

Tôn giả y theo lời dạy, mặt hướng về phương đông và thành tâm thực hành, lập tức trở về thế giới Ta-bà.

Trong đạo tôn sư Hiển-Mật đồng

Mười phương chư Phật thảy như đây

Đệ tử ngu si quên ơn lớn

Đoạ khổ muôn đời đoạ ngục sâu.

1-Câu chuyện này được chép ra từ “ Kinh Mật Ngữ”. Nội dung khuyên tất cả người tu hành học Phật, không được quên ân giáo dường của thầy tổ, tức phải” Tôn sư trọng đạo”.

2-Tất cả những Phật sự thành tựu của người đệ tử toàn bộ đều do thầy tổ truyền trao. Sự truyền dạy của thầy tổ giống như mối quan hệ của những ngọn đèn mồi ánh sáng với nhau. Nếu người đệ tử không kính trọng thầy tổ, thì những gì đã học đã mở tức sẽ bị quên, bị đóng, không thể đưa đến sự thành tựu viên mãn.

3-Quên ân, tức là người không kính trọng sư trưởng, không giữ giới luật, cho dù họ có nghe nhận hiểu Phật pháp ít nhiều, song hiện đời vẫn không được đạo, đời sau phải thọ quả khổ, nghiệp báo sâu nặng.

 

GIỚI ĐỨC HÀNG PHỤC LOÀI RỒNG

 

Nhớ nhân trước tôn giả cười mỉm

Bên cửa, quỷ con chờ quỷ mẹ

Đau khổ buồn thảm không có ăn

Thấy thành dựng, đổ đã bảy lần.

Đức Phật Thích-ca nhập Niết-bàn hơn 700 năm, tại nước Kế Tân phía Bắc Ấn Độ, bỗng xuất hiện ác long A-lợi-na quấy nhiễu gây tai kiếp cho nhân dân quanh vùng

Bấy giờ có hai ngàn vị A-la-hán được thỉnh đến để dẹp trừ tai hoạ. Mỗi vị đều dùng sức thần thông để hàng phục ác long, song đều thất bại.

Khi ấy, tôn giả Kỳ-dạ-đa có oai đức lớn, đi đến gần ao, khảy móng tay ba lần và nói: “Rồng kia, ngươi hãy đi khỏi nơi đây”. Ác long liền bỏ đi không dam trở lại.

Hai ngàn vị A-la-hán vô cùng ngạc nhiên hỏi:” tôn giả Kỳ-dạ-đa vì sao chúng tôi đến hai người dùng sức thần thông cũng không thể đánh đuổi được rồng, còn tôn giả chỉ khảy móng tay mà đuổi được rồng trở về biển lớn vậy?”

Tôn giả đáp:” Tôi từ khi chưa xuất gia đến nay một bề giữ giới Phật nghiêm mật, tôn sư trọng đạo, ba nghiệp thanh tịnh; đối với những giới nhỏ nhặt cũng giữ gìn không sót, vì thế mà đuổi được ác long. Đây là chỗ không thể nghĩ bàn của công đức giữ giới mà thần thông không đủ sức”.

Sau đó tôn giả Kỳ-dạ-đa cùng chúng đệ tử miền bắc thiên trúc, giữa đường thấy một con quạ đậu trên cây. Tôn giả nhìn nó mỉm cười. Chúng đệ tử thấy lạ nên hỏi nguyên do. Ngài đáp:” Ta sẽ kể cho các thày nghe sau vậy”.

Đi được một đoạn đường nữa, đoàn người đến trước cửa thành bằng đá, chúng đệ tử lại thấy sắc mặt tôn giả lại trở nên buồn bã, thấy đã đúng giờ khất thực, nên không tiện hỏi, mọi người đều cầm bát đi vào thành khất thực.

Thị trai xong, trên đường trở về chúng đệ tử lại thấy tôn giả biến sắc mặt lần nữa, nên thỉnh cầu Ngài hỏi nguyên nhân.

Tôn giả kể:” Thời qúa khứ cách 91 kiếp về trước, bấy giờ ta là con của một vị trưởng giả, chán lìa trần tục, rất muốn xuất gia. Nếu khi ấy ta xuất gia thì ắt đoạn hết các kiết sử chứng quả A-la-hán. Nhưng vì cha mẹ chẳng chiều theo ý nguyện, bắt ép cưới vợ mong có con nối dõi. Từ chối chẳng được nên đành lòng cưới vợ nên tìm đường xuất gia sau. Đứa bé lên sáu tuổi, cha mẹ ta lại dạy đứa trẻ là:” Cha ngươi muốn từ giã đi xuất gia, con nên đến ôm chân cha nói: Nếu cha bỏ đi thì ai sẽ nuôi sống con? Thà trước nên giết con rồi sau cha hãy đi”. Ta thấy đứa bé ôm chân liền sinh lòng quyến luyến nói với nó rằng:” Nay cha vì con nên chẳng đi xuất gia nữa”. Vì đứa bé ấy nên ta chẳng xuất gia tu hành, không chứng được đạo.

Sau đó, suốt 500 đời ta đều sinh làm thân chó đói khát khổ sở. Tuy trải qua nhiều kiếp chó, nhưng chỉ có 2 lần được no đủ. Một lần nhân có người say rượu ói mửa bên cạnh đường, ta đi ngang gặp nên được một bữa no. Lần khác, làm chó trong một nhà nghèo, 2 vợ chồng chủ nhà nấu cháo đựng đầy trong niêu rồi tạm có việc đi vắng. Ta vì đói nên chui đầu vào trong niêu mà ăn, tuy được no nhưng rút đầu ra chẳng được. Người chủ về thấy vậy, sinh tâm giận dữ lấy dao bén chặt đứt đầu ta.

Nói đến đứa con đã cản trở không cho ta xuất gia, vì phạm tội ngăn trở người xuất gia, nên sau khi chết đoạ vào ba đường ác. Trải qua 91 kiếp lưu chuyển trong năm đường, do thân sinh tử nên hai cha con chưa từng gặp nhau. Nay dùng đạo nhãn ta thấy nó sinh trong loài quạ. Thương xót cho sự ngu dại của nó, nên ta cười.

Lại còn nguyên nhân khác khiến cho ta buồn, là do khi đến bên thành gặp một quỷ con đói mệt lả, tự nó nói:” Khi mẹ sinh tôi rồi đi vào thành tìm thức ăn. Từ khi từ biệt đến nay đã 500 năm rồi, bụng đói trống trơn rất khốn khổ, mạng chẳng còn bao lâu nữa”. Đến khi vào thành gặp quỉ mẹ, ta thuật lại ý của quỉ con. Quỷ mẹ nói:” Tôi từ biệt vào thành đã lâu để tìm thức ăn mà chẳng được, giả như được chút ít đồ khạc nhổ thì lại bị các con quỉ mạnh cướp đi. Mới ngày hôm nay gặp người ói mửa mà không có con quỷ nào giành lấy, tôi định đem về cho quỷ con, nhưng ở dưới thành lại có nhiều quỷ thần, sợ bị giành đoạt mất nên chẳng dám đem ra. Nguyện tôn giả từ bi ngầm đem tôi ra khỏi thành để mang thức ăn về cho con tôi”. Ta lại hỏi rằng:” Từ khi ngươi sinh đến nay đã  được bao lâu rồi?” Quỷ mẹ nói:” Tôi đã thấy thành này bảy lần thành rồi bảy lần hoại”. Ta nghe nó nói rất đau buồn cho việc sinh tử không có bờ mé, do đó lộ vẻ buồn bã chẳng vui.

Xuất gia học Phật lợi trời người

Phước lớn nhu biển với hư không     

Vô lượng Thánh Hiền do đây được

Cản trở tu hành tội rất sâu.

 

NHÚM MUỐI THÀNH NÚI

 

Mượn muối chút ít không hoàn trả

Nợ ấy sau tăng dần thành núi

Một vốn ngàn lời sinh sinh mãi

Ngăn tâm quyết chẳng khởi lòng tham.

 

Trước kia, Tây Hồ thuộc Hàng Châu, tỉnh Triết Giang là thánh địa của Phật giáo Trung Quốc, không những Chùa Phật cất san sát lại thêm rất đông người tại gia tin học Phật pháp. Tại Hàng Châu, có một giai thoại đặc biệt lưu truyền về người cư sĩ tinh chuyên giữ giới. Đây là chuyện thật, chúng ta có thể lấy đó làm khuôn thước trên đường tu hành.

Theo lời kể, thời ấy có một nam cư sĩ tu tại gia, tánh tình điềm đạm, khí chất thanh cao, lại chuyên tâm tu học Phật pháp. Vị cư sĩ ấy lập một am tranh gần Tây Hồ-Hàng Châu tịnh tu. Mỗi ngày, trừ thời gian chuẩn bị cho bữa ăn ngọ, thời gian còn lại vị ấy dành hết để tu hành.

Có hôm, thấy trời đã trưa, vị ấy vội vã ra sau bếp nấu ăn. Khi trộn rau cải nấu thành một nồi kho đạm bạc để dành ăn trong nhiều ngày, nhưng khi coi lại thì muối đã hết. trong lúc gấp, vị ấy vội đi sang nhà bên cạnh mượn muỗng muối về dùng tạm.

Nhưng vắng chủ nhà lại đi vắng, vị ấy nghĩ nếu không có muối thì nồi kho không ngon, thôi mượn tạm muống muối trước, sau rồi hãy tính. Nghĩ rồi, vị ấy liền tự tìm muối lấy đem về thất nấu ăn.

Theo lệ thường ai cũng nghĩ muối là vật rẻ tiền không đáng giá bao nhiêu nên vị ấy cũng không chú trọng đến việc mượn muối và cũng quên đem trả cho nhà bên cạnh.

Song, muỗng muối truy nhỏ nhưng đây chính là” của không cho mà lấy” theo luật nhân quả lại là việc quan trọng. Đức Phật dạy:” Trong ba độc, tham là đứng đầu”. Trong luật cũng dạy:” Phàm một bông hoa, một ngọn cỏ không cho mà lấy là phạm tội trộm cắp”.

Một năm sau, khi đang hành thiền, vị ấy bỗng thấy một bóng đen to lớn như đồi núi che trước mặt, và từ đó mỗi ngày hành thiền đều thấy như vậy. Vị ấy để tâm quan sát kỹ bóng đen ấy, hoá ra lại là đồi muối. Cố suy xét cho kỹ hơn nữa, cuối cùng vị ấy cũng nghĩ ra là do năm trước đã mượn một muỗng muối của nhà bên cạnh chưa trả, đến nay nợ muối chồng chất cao đáng sợ. Vị ấy sợ hãi vô cùng, nghĩ:” Chí lấy của người một đồng tiền đến năm sau, không biết tiền lãi sẽ sinh như thế nào đây? Thiếu nợ người không trả thì một vốn sinh ra muôn lời. Ôi! Thật đáng sợ”.

Vị ấy đem rất nhiều tiền ra chợ mua cả ngàn bao muối. Sau khi trả tiền muối, tiền vận chuyển xong xuôi, vị ấy dặn người bán chở đến sau vườn ngôi nhà mà người ấy đã mượn muối và bảo với chủ nhà là lúc trước vì thiếu nên nay đem trả.

Từ đó, mỗi khi hành thiền, vị ấy không còn thấy núi muối hiện ra nữa. Cư sĩ ấy đã thấu tột được lý nhân quả nghiệp báo, nên thường cảnh giác bản thân và khuyên bảo mọi người nên tin sâu nhân quả. Nói rằng:

Chớ bảo khe nhỏ dễ đi qua

Phòng bị đá ngầm làm trở ngại.

Kinh Phật dạy:” Nghiệp báo nhân quả, như bóng với hình” một điểm cũng không sai chạy.

Vị ấy kể lại cho người nghe:” Chỉ sang nhà bên cạnh lấy muỗng muối quên không trả, một năm sau nợ muối cao như núi, một vốn ngàn lời, làm tôi sợ vỡ mật. May mà muối là vật thường dễ tìm, dễ mua mà còn phải tăng nhiều nợ như thế, nếu lấy vàng bạc, châu báu của người thật không biết tính sao đây?”

Vị cư sĩ trịnh trọng khuyên bảo mọi người:” Lấy một nhúm muối của người thế tục còn nghiêm trọng như thế, nếu như trộm của Tam Bảo thì tội nghiệp còn nặng như thế nào?”

Bồ-tát Địa Tạng Vương nói:” Nếu có chúng sinh sâm phạm hoặc làm hư hao của thường trụ ( khu vực chùa hay tăng chúng thường trụ, trộm cắp tài vật, thức ăn, y phục…) sẽ bị đoạ vào địa ngục Vô gián ngàn muôn ức kiếp, không ngày thoát khỏi”.

Vì sao lấy của thường trụ tội lại nặng như thế?

Bởi vì tài vật của chùa hay của tăng chúng đều do tín thí, nếu người lấy tài vật của người tu đem làm của riêng, thì tội này rất nặng, xâm phạm đến của cải của chúng sinh ở mười phương nên không thể sám hối. Sau khi chết, người này nhất định đoạ vào địa ngục vô gián, đau khổ khôn cùng, ngàn muôn ức kiếp mới được sinh vào loài súc sinh, làm thân trâu để đền trả nợ thiếu.

Tài vật tăng chúng thuộc mười phương

Tham lam chiếm đoạt khổ vô cùng

Địa ngục mãn rồi còn nghiệp cũ

Làm trâu muôn kiếp chịu sầu đau.

1-Không luận là người xuất gia hay cư sĩ tại gia, nếu tham cắp vật của Tam Bảo, theo luật cử tội là phạm tội khắp mười phương. Tội này phạm đến nhiều người. Bởi vì vật của Tam Bảo là vật của tín thí mười phương chúng cúng dường. Nếu phạm tội với một người thì có thể sám hối dễ dàng, nếu quấy nhiễu đến chúng khắp mười phương, thì không pháp sám hối, và nhất định rơi vào địa ngục.

Kinh Bảo Nhiễm chép:” Thà tự ăn thịt mình, không nên phạm vật của Tam Bảo”.

Thông thường, con người chúng ta do vô ý nên rất dễ phạm lỗi lầm lớn. Khi đến chùa, tinh xá, Phật đường…lạm dụng tài vật thường trụ hoặc lấy bừa hoa quả, nước…, hoặc ở trong chùa…tự ý quay điện thoại do thường trụ trả chi phí. Những việc trên đều là phạm tội” Lấy dùng vật Tam Bảo”.

2-Ngày xưa có một người không xét kỹ, bởi do tổ tiên, cha mẹ…là những vị đại họ pháp của chùa, những đại thí chủ cúng dường ruộng đất, tứ sự cho tăng chúng rất nhiều. Nhưng con cháu của họ lấy liêu chùa để làm nhà thờ tổ tiên, thậm chí còn tính chiếm đoạt của cải trong chùa. Lại sai người giữ cất tiền và tài vật do thiện tín cúng dường, chỉ cho người xuất gia làm thuê trong chùa…Tội này rất lớn.

Nên biết rằng: Sau khi cúng tài vật của mình cho chùa rồi thì đã thuộc về của thường trụ, không ai có thể dành lấy lại cho gia đình mình; nếu như tổ tiên đã cúng rồi mà con cháu giành lấy lại thì phạm tội rất nặng. Tại sao? Vì đây là công đức của tổ tiên tạo ra, còn con cháu thì không quan hệ gì. Người trước ăn cơm, người sau không thể no.

3-Trường hợp như có người nữ trung niên xuất gia, sau thời gian vị ấy làm ni sư trụ trì rồi chết. Con gái của ni sư lầm nhận của cải tài vật của chùa là tài vật kỷ niệm của mẹ để lại cho mình, giành lấy gây phiền não bất an cho mọi người đang tu trong chùa. Thật ra, di vật của người xuất gia đều thuộc về vật của Tam bảo, người tại gia ở ngoài không được chiếm hữu, chiếm hữu là phạm tội nặng. Hơn nữa, đời người vô thường, một khi nhắm mắt xuôi tay thì tất cả không thể đem theo được, cần gì chỉ một phút hưởng lạc rồi phải bị quả báo đau khổ đến muôn năm, đâu thể không suy ngẫm!?

 

LÒNG THÀNH CÚNG PHẬT

 

Chí thành cúng Phật sinh bốn con

Thương, nông học quả đều viên thành

Giàu sang, phú quý đồng thành đạt

Phát nguyện xuất gia độ hữu tình.

 

Tin Phật và học Phật, thì điều quan trọng là cần phải hành trì ba môn giải thoát Tín, Hạnh, Nguyện của Phật đã dạy.

1-Cần phải đầy đủ lòng tin kiên cố. Tin giáo pháp Phật đã nói chân thật không hư dối; tin Phật, Pháp, Tăng là ruộng phước vô lượng của chúng sinh; tin nghiệp báo nhân quả thiện ác, như bóng theo hình; tin học Phật tu hành, có thể thoát khỏi sự thống khổ trong luân hồi sinh tử, vĩnh viễn được niềm vui an lạc thanh tịnh Niết-bàn.

2-Phát thệ nguyện lâu dài không lui sụt. Phát nguyện tu học, hoằng dương Phật pháp; chí cầu thành tựu quả Phật, thệ nguyện rộng độ tất cả chúng sinh, đồng được thành Phật.

3-Tinh tấn hành trì giáo pháp của Phật. Phải là người thật tu thật học, thường gần gũi thầy sáng bạn lành, tu học theo sự hưỡng dẫn của bậc thiện tri thức theo chánh pháp.

Đoạn chuyện nhân duyên được truyền ghi sau đây, là câu chuyện có thật. Chuyện về người có tín tâm với Tam Bảo, khéo thực hành đúng lời Phật dạy về ba môn giải thoát: Tín Hạnh, Nguyện.

Cách nay khoảng 2500 năm khi ấy đức Phật Thích-ca đang giáo hoá khắp mọi khu vực vùng Trung Ấn Độ, Địa phương ấy có một tín nữ hết sức kính tín Phật pháp. Hàng ngày, cô thường đến cúng dường Phật và chúng tăng, không sót ngày nào.

Đức Phật biết rõ nguyện vọng trong tâm của cô ấy, một hôm Ngài cố ý hỏi:” Này nữ cư sĩ, con chân thành cúng dường Tam Bảo, có nguyện cầu nào không?”

Cô ấy cung kính quỳ lễ thưa:” Bạch Thế Tôn, nếu như việc làm của con được phước báo, thì con nguyện cho con sinh được bốn người con trai”.

Phật hỏi:” Vì sao con lại mong cầu như thế?”

Cô đáp:” Bạch Thế Tôn, nếu con có được bốn người con trai, con sẽ nuôi dưỡng chúng khôn lớn. Đứa con cả con sẽ cho nó đi buôn bán để kiếm được nhiều tiền; đứa thứ hai cho học cách làm ruộng, sản xuất lúa gạo và các thứ hoa mầu cần thiết; dạy đứa thứ ba dụng tâm cầu học đỗ quan, sau này có thể che chở cho dòng họ; còn đứa út, con sẽ hướng dẫn cho nó xuất gia tu hành học Phật pháp, sau khi đắc đạo sẽ cứu độ cha mẹ và tất cả chúng sinh. Đó là ước nguyện của con.

Đức Phật nói:” Tốt lắm, con sẽ được toại nguyện”.

Cô cư sĩ vui mừng khôn kể, lễ tạ Phật xong liền trở về nhà. Không lâu sau, cô có thai và sinh được một bé trai. Cậu bé thông minh lanh lợi, hơn hẳn những đứa trẻ đồng trang lứa.

Khi câu trai khôn lớn, một hôm hỏi mẹ:” Vì sao mẹ lại yêu thương con nhiều qúa như thế?”

Người mẹ đáp:” Mẹ vốn mong muốn sinh được bốn đứa con trai cho mỗi đứa học một nghề. Nhưng bây giờ chỉ có mình con, nên tình thương của mẹ dành hết cho con”. Rồi người mẹ kể về niềm mong ước của mình nếu sinh được bốn đứa con.

Người con trai nghe tâm sự của mẹ, ghi nhớ trong lòng không quên. Trước hết, cậu ấy đi học nghề buôn bán để có tiền nuôi sống gia đình. Nhờ thông minh lanh lẹ mà chỉ trong vòng một năm, cậu kiếm được nhiều tiền và trở thành người giàu có. Tiếp đó, cậu lại đổi sang làm nghề ruộng, trồng trọt nhiều cây nông nghiệp, do thông minh làm việc đúng pháp nên kết quả thu hoặch  rất cao, mọi người đều hâm mộ và thán phục cậu ấy. Nhưng rồi cậu lại chuyển sang con đường chữ nghĩa, tiến thân bằng con đường quan chức, và cũng được thành tựu ước nguyện.

Về sau, cậu trai ấy cưới vợ, không lâu sau sinh được một bé trai kháu khỉnh, gia đình hạnh phúc, phúc lộc thọ đầy đủ, giàu sang nổi tiếng một thời.

Thời gian trôi qua, người con trai thưa với mẹ:” Mẹ mong có bốn người con trai để làm đủ các việc. Nhưng nay chỉ có một mình con mà con đã thành tựu được ba nguyện rồi, nếu bây giờ con xuất gia tu hành thì bốn nguyện của mẹ đều được thành tựu cả”.

Người mẹ nghĩ:” Ta vốn muốn như vậy, nhưng nay tất cả việc làm của con đều vượt ra ngoài nguyện vọng của mẹ, bây giờ con hãy xuất gia học đạo, thế là nguyện vọng của mẹ được tràn đầy”.

Sau khi được sự đồng ý của cha mẹ, người con trai vô cùng hoan hỷ thắng đến xin phép Phật được học xuất gia.

Đức Phật cho phép người con trai xuất gia và nói pháp giáo hoá. Sau khi được nghe lời giảng dạy của Phật, người ấy tinh tấn tu hành, chẳng bao lâu chứng quả A-la-hán.

Sau đó, vị Tỳ-kheo liền trở về nhà vì cha mẹ nói pháp, độ song thân ra khỏi biển khổ. Thầy Tỳ-kheo lại còn vì mọi người rộng nói pháp phật, khiến mọi người đều có tín tâm với Phật pháp.

Ba môn giải thoát Tín, Hạnh, Nguyện là đảnh báu đẹp có ba chân, thiếu một chân không thể. Tất cả các bậc hiền thánh hay người đời đều do ba môn giải thoát này được thành tựu đạo quả. Sự tu học Phật pháp hoặc phát nguyện thành phước thành tựu hay không đều do tâm chí mà ra. Ý CHÍ là kim chỉ nam, người có chí thì được thành tựu.

Phật giáo có ba môn Tín Hạnh Nguyện

Tự, tha thánh quả đều trọn thành

Vô biên phước huệ do đây được

Tinh tấn tu hành tuệ giác sinh.

 

ÁC Ý KHINH TĂNG

 

Ngạ quỷ bụng to, thân bị thiêu cháy

Muôn kiếp ngàn đời, sống rất khổ đau

Vợ dốt, keo tham bày mưu kế độc

Cúng tăng vật uế, chịu khổ khôn lường.

Vua Tần-bà-sa-la quốc vương nước Ma-kiệt-đà ở miền nam nước Ấn Độ là vị đại hộ pháp của Phật giáo thời bấy giờ. Vua thường cung thỉnh đức Phật thuyết pháp, đặc biệt xây dựng giảng đường rộng lớn ở ngoại thành Vương Xá, đó là” Tinh xá Trúc Lâm. Tinh xá này là ngôi chùa được xây dựng sớm nhất thế giới, đức Phật thường ngự ở đây nói pháp độ sinh.

Tôn giả Xá-lợi-phất và Mục-kiền-liên là hai đệ tử thuộc hàng thượng thủ của đức Phật. Mỗi ngày trước khi thọ thực, hai vị thường khởi lòng từ bi dùng thần thông quán xét chúng sinh có nhân duyên cứu độ đang chịu khổ trong ba đường địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh, sau đó ngài mới thọ thực.

Một hôm, tôn giả Mục-kiền-liên quán xem thấy một ngạ quỷ bị nghiệp lực hành hạ rất đáng thương. Thân của nữ ngạ quỷ ấy giống như cây cột bị thiêu cháy, cái bụng giống như gò núi, cổ họng nhỏ như cây kim, không thể nuốt vật gì vào được. Do nghiệp lực nên bất cứ ăn thức ăn nào đưa đến miệng đều biến thành lửa than. Trong miệng lại luôn phát ra lửa đỏ, thiết đốt mặt mày cả ngày lẫn đêm. Tóc trên đầu sắc bén như dao kiếm cắt thân thể làm máu luôn chảy mãi, tứ chi đều phát lửa tự đốt, thật thống khổ không thể nào tả hết.

Tôn giả thấy cảnh ngạ quỷ thọ khổ kia, khởi tâm thương xót, dùng thần thông đến trước mặt quỷ ấy hỏi:” Trước kia bà tạo tội gì, mà nay phải chịu quả báo thảm thương như thế?”

Nữ ngạ quỷ đáp:” Nay tôi bị hành hạ khổ sở thế này, không còn chút khí lực nào để đáp lời hỏi của tôn giả, hiện nay có đức Phật ra đời, vì chúng sinh nói pháp giải thoát, trí của Ngài sáng như mặt trời, đối với tất cả nghiệp lành dữ phát xuất từ ba nghiệp thân khẩu ý của chúng sinh trong ba đời quá khứ, hiện tại, vị lai, Phật đều biết rõ, xin tôn giả hãy đến hỏi đức Phật”.

Bấy giờ, tôn giả Mục-kiền-liên trở về tinh xá nơi đức Phật đang ngự, thưa hỏi nguyên do nào mà ngạ quỷ kia lại bị tội khổ như thế?

Khi ấy, sau khi thuyết pháp xong, đức Thế Tôn nhìn thấy tôn giả Mục-kiền-liên đang có mặt trong pháp hội và đảnh lễ Phật, nên hỏi: “ Mục-Liên, hôm nay ông phát hiện ra điều gì mới lạ chăng?”

Tôn giả kể lại sự việc đã thấy nghe và thưa:” Bạch Thế Tôn, khi còn sống ngạ quỷ ấy đã tạo tội gì mà nay phải chịu vô vàn thống khổ như thế, cúi xin Thế Tôn từ bi nói rõ cho con cùng tất cả hội chúng đây biết rõ mà ngăn ngừa lỗi lầm về sau”.

Đức Thế Tôn nói:” Trước kia, trong thành Xá-vệ có một người giàu có nhiều phước đức, trong nhà mướn rất nhiều người làm công phụ giúp việc mua bán nước mía, nên trở thành người giàu có. Lúc ấy, có vị xuất gia tu hành chứng quả Bích-Chi-Phật, rộng độ chúng sinh. Vị Bích Chi Phật đang mang bênh nên thân thể mệt nhọc bất an, cần nước uống cho đỡ nhiệt. Có người mách chỉ, nên Vị Bích Chi mang bát đến trước cửa nhà phú gia bán nước mía , xin khất thực nước ấy. Vị chủ nhà đạo đức thấy vị xuất gia rất hoan hỉ và cung kính. Nhưng khi ấy, ông có việc phải đi gấp nên không kịp lấy nước mía cúng dường cho vị tăng, nên ân cần dặn vợ:” Phú-na-kỳ, bà thay tôi ép nước mía cúng dường vị sư này”. Người vợ trả lời:” Ông an tâm, tôi sẽ cúng dường thay ông”.

Sau khi chồng đi rồi, người vợ nghĩ thầm:” Nước mía nhà ta trước nay chỉ bán, nếu hôm nay phá lệ cho không thì e rằng sau này sẽ có nhiều người đến xin, lúc đó đâu không phải là phiền não sao!” Vì tâm bỏn xẻn, nên khi ấy người vợ sinh niệm xấu, đến lấy bát của vị sư đem ra sau tiểu vào đó rồi đổ một ít nước mía đem ra đưa cho vị sư.

Riêng  vị sư khi nhận ra bát nước nhơ uế ấy đi xa xa đổ ra đất trống và tẩy rửa bát thật sạch, rồi trở về chỗ ở.

Còn người vợ bỏn xẻn kia không lâu sau thì qua đời đoạ vào loài ngạ quỷ chịu đói khổ như đã thấy.

Chúng sinh sa vào đường ác

Do tâm bỏn sẻn phải mất thân người

Quả báo muôn đời nếu hết

Làm người hèn mọn, lại nghèo xác xơ.

-Kinh ghi:” Nếu người đối với Tam bảo sinh lòng cung kính thì phước đức vô lượng vô biên, ngược lại, nếu ai có tâm không cung kính thì tội báo cũng vô lượng vô biên”.

-Có người nói:” Do không biết nên không có tội”, câu nói này sai lầm. Bà Phú-na-kỳ vì không biết kính trọng người tu, ham tiền khinh người nên tạo nghiệp ác xấu, phải chịu quả khổ đến thế”.

-Cổ đức nói:” Có thể làm những việc khó như khiến cho muôn ngàn ánh trăng dưới mặt sông lay động, không những không nên khuấy nhiễu đạo tâm của người xuất gia, vì tội kia rất nặng”.

 

QUỐC VƯƠNG ĐƯỢC ĐẠO

 

Đắc đạo sinh thiên nhớ ước giao

Vì nhau nói rõ đời vô thường

Xuất gia học Phật nơi núi báu

Thành bậc ứng cúng thoát luân hồi.

 

Vua Ưu-đạt là quốc vương nước Bàn-đề Ấn Độ, đã từng xuất gia học Phật vào thời Phật Ca-diếp, do phúc duyên ấy mà đời nay được sinh làm vua. Đến nay lại được sự giáo hoá của đức Phật Thích-ca, tu hành chứng quả.

Vua Ưu-đạt có vị vương phi Nguyệt Minh, tài năng và phẩm hạnh đều rất tốt nên vua đặc biệt yêu mến.

Thời gian sau, tướng suy hiện trên gương mặt của phu nhân Nguyệt Minh, ứng điềm tuổi thọ sắp hết, trong lòng vua hết sức buồn rầu.

Phu nhân thưa:” Đại vương! Vì sao đại vương buồn rầu quá vậy?”

Vua nói:” Tuổi thọ của hậu sắp hết, ta nghĩ đến mạng người vô thường, đau khổ vì ân ái biệt ly nên không tránh khỏi sầu muộn”.

Phu nhân đáp lời:” Đức Phật từng dạy: “Cao ắt phải rớt, có đó rồi mất đó, hợp rồi phải ly tan, sinh rồi phải chết”. Đây là đạo lý nhất định, chết là việc mà mỗi người chúng ta đều không thể tránh khỏi. Thân người cũng giống như toà nhà, chết rồi cũng như toà nhà cũ hoại, nên phải tìm xây nhà mới, chỉ cần của cải thì có thể xây cất nhà mới. Nếu đại vương có tâm thương tưởng thiếp như vậy, thì xin hãy cho phép thiếp xuất gia tu hành, giúp thiếp sớm chuẩn bị được vốn liếng để cất nhà mới đẹp hơn.”

Quốc vương nói:” Nếu khanh xuất gia thì rất khó chứng đạo ngay, cũng không thể được sinh cõi trời, vì tu muộn. Nhưng khanh nhất quyết xuất gia thì trẫm cũng tuỳ hỷ, song nếu được sinh lên trời thì phải về cho ta biết. Nếu khanh làm được như vậy, ta sẽ cho khanh xuất gia tu hành”. Phu nhân Nguyệt Minh ưng thuận lời yêu cầu của Vua

Khi ấy, phu nhân lập một tinh xá trong cung, thỉnh quý đại đức Tỳ-kheo ni vào trong cung làm lễ phát truyền trao giới tướng Tỳ-kheo ni. Nhưng người xuất gia ở trong vương cung nên còn rất nhiều phiền toái, cung nhân lai vãng viếng an, hầu hạ v.v…khiến khó bề tinh tấn tu học, cho nên bà quyết định đến tinh xá ở xa để tu học.

Sau khi lìa vương cung, Tỳ-kheo ni Nguyệt Minh tinh tấn khổ hạnh, trải qua sáu tháng dụng công chứng được quả A-na-hàm. Không lâu sau, trong giờ tĩnh toạ Tỳ-kheo ni Nguyệt Minh đã viên tịch, lai sinh làm thiên nữ ở cõi trời sắc giới.

Sau khi được sinh thiên, thiên nữ dùng thiên nhãn quan sát nhân duyên đời quá khứ, biết mình có ước hẹn với vua Ưu-đạt liền trở về như lời hẹn. Khi ấy, thiên nữ thấy vua đắm say ngũ dục, khó lòng hoá độ, nghĩ cách trước tiên phải làm cho vua sợ hãi, bằng không chẳng còn cách nào làm cho  vua tỉnh ngộ. Tức thời, thiên nữ biến thành Vua Dạ-xoa tay cầm đao sáng ngời, giữa đêm vào ngự phòng đứng bên vua Ưu-đạt. Khi vua nhìn thấy con quỷ hung dữ kinh hồn kêu cầu cứu.

Quỷ nói:” Dầu có ngàn vạn quân lính hùng mạnh đến đây cũng không thể cứu được ông, giờ chết đã đến, ông làm sao đây?”

Vua nói:” Tôi không có làm việc gì ác đức, luôn giữ đúng phép của một vua hiền, tâm ngay thẳng, vậy sâu khi chết tôi sẽ đầu thai vào chỗ nào?”

Quỷ vương đáp:” Nếu ngươi giữ tâm thanh tịnh là điều thiện, đúng như nguyện mà làm thì sẽ chuyển sinh đến nơi tốt đẹp. Còn ông thì không được như vậy?”

Khi đó, vua thấy lời kỳ lạ, tại sao mình làm thiện mà không được sinh cõi lảnh? Chắc là quỷ này muốn chọc ta, nhưng quỷ là ai mà lại oán thù ta như vậy? Vua hỏi:” Rốt cuộc ngài là ai? Sao lại dám đến đây để khủng bố ta?”.

Đáp:” Tôi chính là phu nhân Nguyệt Minh, nhờ xuất gia tinh tấn tu hành nên được sinh lên cõi trời sắc giới, nay giữ đúng hẹn trở về báo cho đại vương hay”.

Vua nói:” Trông khanh thật đáng sợ nên ta không tin. Nếu thật là ái phi của ta lúc trước thì phải hiện nguyên hình ta mới tin”.

Tức thời quỷ vương hiện lại nguyên hình của phu nhân Nguyệt Minh ngày trước. Vua Ưu đạt thấy rồi khởi niệm ái luyến với người vợ cũ. Thiên nữ tức thời bay lên hư không nói pháp cho vua nghe:

-Đại vương! Sắc thân con người là vô thường tạm bợ. Phật dạy:” Mạng người chỉ sống trong hơi thở, một khi thở ra không trở lại là đã qua đời khác; giống như hạt sương trên đầu ngọn cỏ, khi mặt trời lên thì tan mất không còn.

Đại vương! Ngài đã từng chính mắt thấy những trang tuyệt sắc giai nhân, thoáng chốc đã trở thành người mặt nhăn chân yếu. Khi tuổi già thì thêm nhiều nỗi khổ, như hai mắt lòa tối thấy không rõ ràng, tai cũng không nghe rõ, bụng đau lưng khòm, tay chân run rẩy, muốn đi tới lui phải nhờ phương tiện. Thân người giống như bình rượu, lấy hết rượu rồi thì bình không chỗ dùng. Tướng già yếu như thế thì ngày chết cũng gần kề đâu có đáng tham luyến? Con người từ sinh đến tử, tất cả đều là vô thường.

Đại vương! Ngài đã thấy đời người vô thường, đâu phải chỉ có người già mới chết, tử thần không hẹn với bất cứ lứa tuổi trẻ thơ, thanh niên, tráng niên nào cả, và trên thế gian này không ai mà không phải chết. Một mai giờ chết đến, tất cả tài sản đều không thể mang theo, đến như thân mạng quý giá của con người còn phải bỏ, huống chi là tài vật?

-Ngài là người có trí, thấy rõ đời người vô thường nhiều đau khổ, thì tại sao không phát tâm xuất gia học đạo?”

Vua Ưu-đạt nghe những lời khuyên thống thiết của vợ cũ liền tỉnh giác phát tâm xuất gia tu hành. Thiên nữ còn ân cần khuyên nhủ:

“Đại vương! Nếu xuất gia rồi phải tha thiết cầu chánh pháp; được chánh pháp rồi thì ngày đêm chuyên cần tu niệm, chớ có giải đãi, luống uổng thời gian quý báu còn lại”. Nói xong, thiên nữ tức thời biến mất

Vua Ưu-đạt nhường ngôi cho con, bái tôn giả Ca-chiên-diên làm thầy, quyết tâm xuất gia học đạo. Việc xuất gia của nhà vua đã làm ảnh hưởng lớn đến quan dân trong nước, tất cả đều phát tâm cúng dường thừa sự. Vì ngại thương tổn đến đạo nghiệp, nên vua lánh tu trên núi Linh Thứu, tham gia pháp hội Linh Sơn nghe đức Phật thuyết pháp. Chỉ thời gian ngắn, vua Ưu-đạt đã chứng được đạo quả A-la-hán đủ sáu phép thần thông.

Một hôm, ngài vào thành khất thực, khi trở về đến bên bìa rừng để thọ trai. Lúc đó, có vua Bình Sa đang du ngoạn đến bên bìa rừng, thấy vị tăng tướng hảo nên đến cùng vua trao đổi:

“ Ngài vốn là bậc đế vương cao sang, lại đi xuất gia thọ nhận những vật thừa của thí chủ. Tôi thấy ngài thật đáng thương! Nếu ngài bỏ đạo hoàn tục, tôi sẽ đem phân nửa nước của tôi cho ngài cai trị, ngài thấy thế nào?”

Tỳ-kheo đáp:” Cảm ơn ý tốt của đại vương! Sau khi tôi xuất gia, trong lòng thảnh thơi an lạc. Tôi từng bị ngũ dục sai xử như con tằm nhả tơ rồi chết; chết trong dục lạc, thật là đáng thương!

Vua Bình Sa nghe Tỳ-kheo nói thế im lặng trở về.

Vạn vật trên đời đều vô thường

Mạng sống như sương chẳng bền lâu

Dòn bở, khổ, không mau xả bỏ

Gấp tu Phật pháp góp tư lương

1-Câu chuyện được trích từ “Kinh Tạp Bảo Tạng”

2-Mục đích xuất gia học Phật là giải thoát mọi phiền não chói buộc, sinh tử vô thường của đời người, chóng thoát khỏi sáu đường luân hồi, chứng quả an lạc Niết-bàn.

3-Sinh thiên. Còn ở trong thiên tử nên chưa giải thoát, vẫn luân hồi trong sáu đường. Chứng được quả thánh A-la-hán mới thật là giải thoát hết khổ đau, được đến được bờ an lạc vĩnh cửu.

 

NGHIỆP CŨ KHÓ TIÊU

 

Đời trước ác tâm huỷ báng người

Tội kia trả gấp tám ngàn lần

Tâm miệng xấu xa gieo tai hoạ

Chẳng nên kết oán với người tu

Ba đường chịu khổ không ngừng dứt

Đời sau trả nợ chồng chất thêm

Ngày nay chứng quả A-la-hán

Đền trả nghiệp xưa mười hai năm

 

Thuở xưa, tại nước Kế Tâm thuộc miền bắc Ấn Độ có một vị thánh tên Ly-việt vang danh là bậc tu hành chứng qủa. Khi tuổi còn thơ, ngài đã biết được mạng sống mong manh tạm bợ, cuộc đời vô thường, khổ, không, vô ngã nên xin xuất gia học đạo. Khi trưởng thành, lại tìm vào núi sâu ẩn mình tu tập khổ hạnh, chẳng bao lâu chứng được quả A-la-hán, đủ sáu phép thần thông.

Tuy chứng đạo, song ngài vẫn ẩn tu nơi núi rừng, nhiều người hay biết tìm đến cầu xin học đạo. Ngài thường quán xét căn cơ đệ tử rồi tuỳ bệnh cho thuốc. Hàng trăm đệ tử của ngài cũng chứng quả A-la-hán và đi khắp nơi để giáo hoá độ sinh; chỉ còn ngài, vị A-la-hán già ẩn tu trong núi.

Một hôm, vị A-la-hán Ly-việt làm vệ sinh nơi khu hang động, thây chiếc y-bá-nạp của mình đã bạc màu trắng. Ngài vào núi tìm vỏ cây, lá cỏ về để nhuộm chiếc y màu xám trước, sau đó đem y bỏ vào nồi nấu nhuộm. Giây lát lão La-hán mở nồi dùng hai cành cây nhỏ trở chiếc y cho đều, hoá ra y ấy đã trở thành da trâu; dễ cây, lá cỏ lại biến thành thịt trâu; nước nhuộm trở thành máu; thịt trâu phát ra mùi vị lạ lùng. Lão la-hán thấy vậy thở dài:” Nghiệp chướng của ta đã tới rồi! Luật nhân quả không thể nghĩ bàn. Người sống để thân khẩu ý buông lung tạo ác, nhân quả báo ứng đuổi theo không bao giờ mất.

Bất chợt, lúc ấy có người nông dân dưới núi chạy đến la lối quát tháo:” Này lão hoà thượng! Ông là người xuất gia sao lại phạm giới sát? Trong núi có nhiều chó, heo rừng ăn không đủ sao mà lại giết con trâu cày của ta nữa? Mới sáng nay, ta vừa dắt con trâu nhà lên đây ăn cỏ, chốc lát lại không thấy đâu, tìm khắp nơi, thì ra ông đã bắt giết nó để làm thịt ăn”.

Nông dân kia mang nồi thịt trâu đi và bắt buộc lão Tỳ-kheo phải theo ông đến trình diện với vua.(Ngày xưa, đời sống con người chưa đủ tiện nghi nên chưa có quan đường như sau này, nếu ai cần minh oan điều gì thì đến cầu xin thỉnh vua xét xử).

Vua nước Kế Tân hỏi nguyên nhân sự việc thưa kiện. Người nông dân trình bày việc mất trâu. Nhà vua hỏi lão Tỳ-kheo có đúng là bắt trâu của người giết ăn thịt không? Lão Tỳ-kheo thưa:” Đại vương! Đây là oan khúc của tôi, thật khó dùng lời biện minh cho được”.

Nhà vua phán quyết:” Bị cáo không biện minh, lại thêm chứng cớ rõ ràng, tội trộm khó tha. Đã là người xuất gia mà còn tạo tội sát sinh lại thêm phạm giới trộm cắp, cả hai đều là giới căn bản của đạo. Đứng về mặt pháp luật cũng như giới luật đều không cho phép, nên tội này nhất định không tha”.

Cuối cùng, lão Tỳ-kheo Ly-việt bị xử án ngồi tù 12 năm

Mười hai năm trôi qua, tính ra cả thảy 4.380 ngày. Trong nhà giam, lão Tỳ-kheo luôn an ổn, siêng năng lao tác và tinh tấn tu hành. Sự khoan hoà, nhân nhục và định lực do công phu tu hành toả ra từ âm thanh tịnh của người đạt đạo đã khiến cho quân lính cai ngục đều khâm phục và hết lời tán thán.

Ngày mãn hạn đã đến, tất cả các đệ tử trước kia đồng tưởng nhớ đến sư phụ. Một trăm vị đệ tử La-hán nhờ sức thần thông nhận biết ân sư vì nghiệp quả nên đã ngồi tù suốt 12 năm, giờ đây cả thảy dùng thần thông bay đến cung vua, đứng trên không đánh trống chờ đón sư phụ.

Nhà vua thấy có nhiều người thần thông quảng đại đứng trên không phía trước nhà lao, nên trong lòng kinh sợ, vội đến ngục thả lão Tỳ-kheo ra. Sau khi ra khỏi ngục, lão Tỳ-kheo bay lên hư không, phóng ra ánh sáng lớn cùng các thứ thần biến một thân biến thành nhiều thân…

Lúc đó, ai nấy đều trách nhà vua xét xử không rõ ràng, song lão Tỳ-kheo ngăn cản:” Không nên oán trách như thế, đây chính là nghiệp báo mà ta phải trả cho xong”.

Lão Tỳ-kheo Ly-việt liền kể lại nhân duyên tạo nghiệp của mình cho đại chúng nghe:” Thời quá khứ, một kiếp tôi sinh làm nông dân. Ngày kia tôi bị mất trâu nên tìm kiếm khắp nơi. Khi ấy, trong rừng không có ai ngoài một người xuất gia đang ẩn tu. Tôi vì mất trâu nên cũng mất khôn, cứ đổ thừa đại cho người bắt trâu của mình dẫn đi dấu. Do tâm ngu khởi nên tôi đã dùng nhiều lời ác độc quấy nhiễu người tu kia trong 12 giờ liền, rồi đánh đuổi vị ấy ra khỏi núi, đem giao cho nhà vua giam cầm trong ngục. Thuở trước tôi tạo nghiệp 12 giờ, nay phải ngồi tù 12 năm, giống như mượn tiền sinh lãi, để càng lâu thì càng lãi tăng. Ngày nay tôi phải trả nợ nhiều gấp tám ngàn lần. Nếu như có ai hết lòng tu thiện tạo công đức, nên nhớ là tuy mất một nhưng lại được muôn ngàn phước báo và nếu buông lung tâm ý chỉ cần một chút sai lầm thôi, khi hội đủ duyên phải chịu đền nợ trước”.

Mắng người tội ấy ngày càng tăng

Tâm ác ngu si điên đảo sanh

Một vốn ngàn lời sinh sôi mãi

Hối hận đến đâu, tội phải đền.

1-Dùng lời huỷ báng, hoặc dùng giấy bút mắng chửi người xuất gia, quyết định người này phải đoạ địa ngục Vô Gián. Nếu tạo một khẩu nghiệp thì quả khổ gấp đôi, chúng ta không nên tạo nghiệp để phải thiếu nợ mọi người như thế.

2-Khẩu nghiệp là một nghiệp ác trong thập ác, tội này thật không gì sánh bằng. Rất nhiều kinh Phật được nói về tội ác khẩu. Nếu người đối với Phật, pháp, tăng tạo khẩu nghiệp, nên phải mau chí hướng tâm về Tam bảo thành tâm sám hối, bằng không về sau tội nặng không tính được.

3-Con người rất dễ gây tạo khẩu nghiệp, tạo nhiều nghiệp miệng như núi lớn, chúng sinh ngu si thường đùa giỡn với khẩu nghiệp. Người tin học Phật pháp, hiểu lẽ thật ấy, đâu thể tạo nghiệp rồi chuốc hoạ vào thân.

 

---o0o---

Vi tính: Quảng Tuệ Hương
Trình bày: Vĩnh Thoại

Cập nhật: 01-02-2008

 


Webmaster:quangduc@quangduc.com

Trở về Mục Lục Truyện Tích 2

Đầu trang

 

Biên tập nội dung: Tỳ Kheo Thích Nguyên Tạng
Xin gởi bài mới và ý kiến đóng góp cho Trang Nhà qua địa chỉ: quangduc@tpg.com.au
Địa chỉ gởi thư: Tu Viện Quảng Đức, 105 Lynch Road, Fawkner, Vic. 3060. Tel: 61. 03. 9357 3544